Phạm vi nghiên cứu Về lý luận, tác giả tập trung làm rõ quy định về thời hiệu khởi kiện thừa kế trong BLDS 2005, BLDS 2015 và trong các văn bản khác có liên quan, bao gồm 04 loại thời h
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TẠI KON TUM
NGUYỄN THỊ MINH THU
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
THỜI HIỆU KHỞI KIỆN VỀ THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM - THỰC TRẠNG
VÀ KIẾN NGHỊ
Kon Tum, tháng 8 năm 2019
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TẠI KON TUM
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
THỜI HIỆU KHỞI KIỆN VỀ THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM - THỰC TRẠNG
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Được sự đồng ý của Trường Đại học Đà Nẵng - Phân hiệu Đại học Đà Nẵng tại Kon
Tum và Giảng viên hướng dẫn, tác giả chọn và thực hiện đề tài: “Thời hiệu khởi kiện về
thừa kế theo pháp luật dân sự Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị”
Để hoàn thành báo cáo thực tập này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tác giả xin chân thành gửi lời cảm ơn của mình đến các quý Thầy, Cô đã tận tâm giảng dạy trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại trường Đại học Đà Nẵng - Phân hiệu Đại học Đà Nẵng tại Kon Tum
Xin chân thành cảm ơn Giảng viên hướng dẫn: Ths Nguyễn Thị Trúc Phương đã luôn quan tâm, tận tình hướng dẫn tác giả thực hiện Báo cáo này
Và cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các anh, chị tại Tòa án nhân dân Huyện Ngọc Hồi- Tỉnh Kon Tum đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong quá trình thực tập, xây dựng Báo cáo
Bản thân tác giả đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách tốt nhất, hoàn chỉnh nhất Tuy nhiên tác giả vẫn nhận thấy mình còn hạn chế về kiến thức cũng như kinh nghiệm thực tế, không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định mà tác giả chưa thấy được Tác giả rất mong nhận được sự góp ý của các quý Thầy, Cô giáo, các anh/chị trong Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hồi để Báo cáo được hoàn chỉnh hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Kon Tum, ngày tháng năm 2019
Sinh viên
Nguyễn Thị Minh Thu
Trang 4i
MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 1
3 Phạm vi nghiên cứu 1
4 Phương pháp nghiên cứu 1
5 Kết cấu của báo cáo 2
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỜI HIỆU KHỞI KIỆN THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM 3
1.1 Khái niệm, cơ sở pháp lý và một số vấn đề liên quan đến thời hiệu khởi kiện về thừa kế 3
1.1.1 Một số khái niệm 3
1.1.2 Cơ sở pháp lý 11
1.1.3 Một số vấn đề liên quan đến thời hiệu khởi kiện về thừa kế 11
1.2 Thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế theo quy định của BLDS 2005 và BLDS 2015 15
1.2.1 Quy định của Bộ luật Dân sự 2005 15
1.2.2 Quy định của Bộ luật Dân sự 2015 16
1.2.3 So sánh thời hiệu yêu cầu về thừa kế theo quy định của Bộ luật dân sự 2005 và Bộ luật dân sự 2015 17
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG THỜI HIỆU KHỞI KIỆN THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM 20
2.1 Giới thiệu Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hồi tỉnh Kon Tum 20
2.1.1 Sơ nét về lịch sử hình thành, tồn tại và phát triển của Tòa án huyện Ngọc Hồi 20 2.1.2 Lĩnh vực hoạt động, chức năng, nhiệm vụ của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hồi 20
2.2 Thực trạng áp dụng thời hiệu khởi kiện thừa kế theo pháp luật tại Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hồi tỉnh Kon Tum 23
2.2.1 Thực trạng chung đối với việc áp dụng thời hiệu khởi kiện thừa kế trong việc giải quyết tranh chấp tại tòa án nước ta hiện nay 23
2.2.2 Thực trạng việc áp dụng thời hiệu khởi kiện thừa kế trong việc giải quyết tranh chấp tại tòa án nhân dân huyện Ngọc Hồi tỉnh Kon Tu 23
2.3 Đánh giá thực trạng áp dụng thời hiệu khởi kiện thừa kế theo quy định của pháp luật tại Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hồi tỉnh Kon Tum 26
2.3.1 Thuận lợi 26
2.3.2 Khó khăn 28
Trang 5ii
CHƯƠNG 3 KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM ĐỐI VỚI THỜI HIỆU KHỞI KIỆN THỪA KẾ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN
NGỌC HỒI TỈNH KON TUM 32
3.1 Kiến nghị sửa đổi quy định của pháp luật dân sự Việt Nam 32
3.1.1 Nâng thời hiệu yêu cầu chia di sản là động sản lên thành 30 năm như đối với bất động sản 32
3.1.2 Nên quy định thời gian quản lý cần thiết để người thừa kế đang quản lý di sản trở thành chủ sở hữu di sản sau khi hết thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế 32
3.1.3 Rà soát, hệ thống hoá thường xuyên và có chất lượng các văn bản pháp luật hiện hành liên quan đến thừa kế 33
3.2 Kiến nghị thực hiện một số giải pháp khác 34
3.2.1 Giải pháp cụ thể 34
3.2.2 Giải pháp cụ thể đối với Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hồi 36
KẾT LUẬN 37 TÀI LIỆU THAM KHẢO
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
Trang 6iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT BLDS 2005: Bộ luật Dân sự năm2005
BLDS 2015: Bộ luật Dân sự năm 2015
Nghị quyết
02/2004/NQ-HĐTP
Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình
TAND Tòa án nhân dân
Trang 7Với lý do đó, tôi chọn “Thời hiệu khởi kiện về thừa kế theo pháp luật dân sự Việt
Nam - thực trạng và kiến nghị” để thực hiện đề tài Báo cáo thực tập của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
Làm rõ những vấn đề lý luận của quy định thời hiệu khởi kiện về thừa kế nhằm đem lại cái nhìn cụ thể hơn, chi tiết hơn trong cách xác định thời hiệu và những vấn đề thực tiễn phát sinh Bên cạnh đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định thời hiệu khởi kiện về thừa kế trong pháp luật dân sự Việt Nam, nâng cao hiệu quả giải quyết các tranh chấp về thừa kế của các cơ quan tư pháp, nhằm bảo vệ ngày càng tốt hơn quyền thừa kế tài sản
3 Phạm vi nghiên cứu
Về lý luận, tác giả tập trung làm rõ quy định về thời hiệu khởi kiện thừa kế trong BLDS 2005, BLDS 2015 và trong các văn bản khác có liên quan, bao gồm 04 loại thời hiệu khởi kiện thừa kế: (i) thời hiệu khởi kiện yêu cầu thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại, (ii) thời hiệu khởi kiện yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình, (iii) thời hiệu khởi kiện yêu cầu bác bỏ quyền thừa kế của người khác và (iv) thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế
Nghiên cứu thực tiễn xét xử về thừa kế, nhận thấy 3 loại thời hiệu đầu không làm phát sinh nhiều bất cập nên sẽ không bàn luận ở đây Tuy nhiên, loại thời hiệu thứ tư nêu trên gây ra nhiều khó khăn trong thực tiễn xét xử nên tác giả sẽ tập trung nghiên cứu hoạt động giải quyết tranh chấp có liên quan đến loại thời hiệu này thông qua những bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân trên địa bàn tỉnh Kon Tum
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài “Thời hiệu khởi kiện về thừa kế theo pháp luật dân sự Việt Nam
tại Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hồi tỉnh Kon Tum - Thực trạng và kiến nghị”, tôi sử
dụng phương pháp luận kết hợp với nhiều phương pháp, thao tác nghiên cứu khác như: thu thập thông tin, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp,…
Trang 82
5 Kết cấu của báo cáo
Ngoài phần mở đầu và kết luận, báo cáo thực tập gồm 3 chương sau:
Chương 1: Lý luận chung về thời hiệu khởi kiện thừa kế theo pháp luật dân sự Việt
Nam
Chương 2: Thực trạng áp dụng thời hiệu khởi kiện thừa kế theo pháp luật dân sự
Việt Nam của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hồi tỉnh Kon Tum
Chương 3: Kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật dân sự Việt Nam đối với thời hiệu
khởi kiện về thừa kế
Trang 93
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỜI HIỆU KHỞI KIỆN THỪA KẾ THEO PHÁP
LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM 1.1 Khái niệm, cơ sở pháp lý và một số vấn đề liên quan đến thời hiệu khởi kiện về thừa kế
Ở nước ta, vấn đề thừa kế đã sớm được ghi nhận, ban hành các quy định pháp luật
về thừa kế nhằm bảo hộ quyền lợi của người dân ở các triều đại phong kiến như: Triều đại Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hậu Lê,… Pháp luật về quyền thừa kế ở nước ta lần đầu tiên được quy định trong Bộ luật Hồng Đức dưới triều đại của Vua Lê Thái Tổ và vấn đề này nằm trong chương Điền Sản của Bộ luật Trải qua quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước, chế định này đã được quy định, mở rộng và được quy định rất cụ thể trong các bản Hiến pháp của Nhà nước ta, cụ thể: Điều 19, Hiến pháp 1959 quy định: “Nhà nước chiếu theo pháp luật bảo vệ quyền thừa kế tài sản tư hữu của công dân”; Điều 27 Hiến pháp 1980: “ Nhà nước bảo hộ quyền thừa kế tài sản của công dân”; Điều 58 Hiến pháp 1992:
“ Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế công dân”; Khoản 2, Điều
32, Hiến pháp 2013: “ Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được nhà nước bảo hộ” Thừa kế theo nghĩa chung nhất, là việc chuyển dịch tài sản của người chết cho người còn sống Thừa kế với ý nghĩa là một phạm trù kinh tế có mầm mống và xuất hiện ngay trong thời kỳ sơ khai của xã hội loài người Ở thời kỳ này việc thừa kế nhằm di chuyển tài sản của người chết cho những người còn sống được tiến hành dựa trên quan hệ huyết thống
và do những phong tục, tập quán riêng của từng bộ lạc, thị tộc quyết định Ph.Ăngghen viết:
“Theo chế độ mẫu quyền nghĩa là chừng nào mà huyết tộc chỉ kể về bên mẹ theo tập tục thừa kế nguyên thuỷ trong thị tộc mới được thừa kế những người trong thị tộc chết Tài sản phải để lại trong thị tộc, vì tài sản để lại không có giá trị lớn, nên lâu nay trong thực tiễn có lẽ người ta vẫn trao tài sản đó cho những bà con thân thích nhất, nghĩa là trao cho những người cùng huyết tộc với người mẹ”
Như vậy, ngay dưới chế độ mẫu quyền trong thời kỳ Công xã Nguyên thuỷ của xã hội loài người, khi mà xã hội chưa có sự phân chia giai cấp, chế độ sở hữu còn dưới dạng cộng đồng Nguyên thuỷ, chỉ là những công cụ lao động thô sơ và những vật phẩm tự
Trang 104
nhiên thì vấn đề thừa kế đã được đặt ra Lúc đó thừa kế được phát sinh dựa trên quan hệ huyết thống theo dòng máu của người mẹ Bởi vì xã hội này con người sống quần hôn cho nên không thể xác định được cha của đứa trẻ là ai và con sinh ra hoàn toàn phụ thuộc vào người mẹ
Theo tiến trình phát triển của xã hội cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, năng suất lao động ngày càng được nâng cao, từ đó xuất hiện sự dư thừa sản phẩm Những người có quyền hành trong thị tộc, bộ lạc tìm mọi thủ đoạn để chiếm hữu số của cải dư thừa đó làm của riêng Chế độ tư hữu xuất hiện, chế độ thị tộc, chế độ Công xã Nguyên thuỷ dần dần bị phá vỡ và nhường chỗ cho một chế độ xã hội mà trong đó đã có sự phân hoá giai cấp
Khi giai cấp đã xuất hiện các giai cấp có quyền lợi đối lập nhau (giai cấp thống trị
và giai cấp bị trị), luôn luôn mâu thuẫn và đấu tranh gay gắt để bảo vệ lợi ích của giai cấp mình Trước bối cảnh đó, dĩ nhiên tổ chức thị tộc trở thành bất lực trước xã hội, không thể phù hợp nữa Lúc này "xã hội đó đòi hỏi phải có một tổ chức mới đủ sức để dập tắt cuộc xung đột công khai giữa các giai cấp ấy hoặc cùng lắm là để cho cuộc đấu tranh giai cấp diễn ra trong lĩnh vực kinh tế, dưới một hình thức gọi là hợp pháp Tổ chức đó là Nhà nước và Nhà nước đã xuất hiện"
Nếu trước đây, thừa kế trong xã hội thị tộc được dịch chuyển theo phong tục tập quán thì khi nhà nước xuất hiện, quá trình dịch chuyển di sản từ một người đã chết cho một người còn sống đã có sự tác động bằng ý chí của Nhà nước, phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị Giai cấp thống trị thông qua bộ máy Nhà nước, ban hành các quy định
để điều chỉnh các quan hệ trong việc xác định phạm vi chủ thể, nội dung, hình thức, điều kiện chuyển dịch tài sản và những vấn đề khác có liên quan đến việc thừa kế tài sản
Như vậy, thừa kế được hình thành từ khi xã hội chưa phân chia giai cấp, nhưng khái niệm pháp luật về thừa kế thì chỉ ra đời và tồn tại trong những xã hội đã phân chia giai cấp và có Nhà nước Tuy nhiên, mỗi một xã hội khác nhau sẽ có sự khác nhau trong quy định về thừa kế Thậm chí, trong cùng một chế độ xã hội của một Nhà nước, ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, thì pháp luật về thừa kế cũng được quy định khác nhau cho phù hợp với sự phát triển
Ở Việt Nam, trong các triều đại phong kiến trước đây, pháp luật về thừa kế đã được hình thành và dựa trên cơ sở lễ giáo phong kiến Các quy định về thừa kế trong Bộ luật Hồng Đức của thời Lê và Bộ luật Hoàng Việt luật lệ của thời Nguyễn đều nhằm mục đích duy trì, bảo vệ những truyền thống chế độ gia đình phụ quyền và hiếu nghĩa của con cháu trong dòng tộc Những quan niệm về gia đình lễ giáo, tín ngưỡng và chuẩn mực đạo đức thờ cúng tổ tiên thời phong kiến đều có sự tác động mạnh lên quan hệ thừa kế Vì vậy, thừa kế ở thời kỳ này thể hiện rõ nét sự bất bình đẳng giữa vợ và chồng, giữa nam và nữ Đối với tài sản của cha mẹ, con trai con gái đều có quyền được chia, nhưng đất hương hoả thì nhất quyết phải dành cho con trưởng nam và cháu đích tôn
Cha mẹ với tư cách là người chủ sở hữu cũng không có quyền làm khác, không thể
để cho một người con gái hưởng hoa lợi, hương hoả dù người con gái ấy sống độc thân
Trang 115
đến khi chết Đối với tài sản vợ chồng, nếu vợ chết trước, chồng tiếp tục làm chủ tài sản
ấy với tư cách là chủ sở hữu Nhưng trong trường hợp chồng chết trước người vợ không được quyền thừa kế, chỉ tiếp tục hưởng hoa lợi trên tài sản của chồng Nếu người vợ tái giá thì người goá phụ mất hết quyền hưởng hoa lợi, bị bên chồng trưng bằng cớ để lấy lại ruộng đất
Khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, chế độ phong kiến ở Việt Nam hoàn toàn sụp đổ, cùng với chế độ thực dân Pháp, những quan niệm lạc hậu về chế độ hôn nhân gia đình "Tam tòng tứ đức", "Quyền huynh thế phụ", "Nữ sinh ngoại tộc", "Chồng chúa vợ tôi" cũng dần dần bị xóa bỏ Quyền bình đẳng về thừa kế và sở hữu dưới chế độ mới đã được pháp luật bảo vệ theo nguyên tắc "Đàn bà ngang quyền với đàn ông" và đã được cụ thể hoá bằng quy định của pháp luật "Trong lúc sinh thời người chồng goá hay người vợ goá, các con đã thành niên có quyền xin chia tài sản quyền sở hữu người chết sau khi đã thanh toán tài sản chung con trai, con gái đều có quyền thừa kế di sản của cha mẹ Kể từ đó đến nay pháp luật về thừa kế ở nước ta ngày càng được mở rộng, phát triển và được thực hiện, trên thực tế tại Thông tư 81/TANDTC của Toà án nhân dân tối cao năm 1981, Pháp lệnh thừa kế 1990 Đặc biệt là BLDS 1995, 2005, 2015 ghi nhận một cách tương đối đầy
đủ chế định thừa kế công dân
Trên cơ sở nghiên cứu nội dung pháp luật về thừa kế ở Việt Nam, có thể phân loại quy định thừa kế thành 5 nhóm chính:
Nhóm thứ nhất gồm các quy định về vấn đề chung của thừa kế mà khi chia di sản
theo di chúc và theo pháp luật, phải căn cứ vào đó như nguyên tắc chia thừa kế, di sản thừa kế, thời điểm, địa điểm mở thừa kế, thời hiệu khởi kiện thừa kế…
Nhóm thứ hai các quy định thừa kế theo di chúc Để công nhận di chúc có hiệu lực
thì di chúc phải được lập theo một trình tự do pháp luật quy định Nếu di chúc vi phạm trình
tự, thủ tục đó thì vô hiệu Ngoài ra, trong nhóm này còn có các quy định về hiệu lực của di chúc, các hình thức di chúc
Nhóm thứ ba các quy định về thừa kế theo pháp luật, nhóm này bao gồm các quy
phạm pháp luật quy định về các trường hợp thừa kế theo pháp luật, diện và hàng thừa kế, thừa kế thế vị
Nhóm thứ tư các quy định về thừa kế quyền sử dụng đất bao gồm các quy định về
người thừa kế, trình tự thủ tục thừa kế quyền sử dụng đất
Nhóm thứ năm các quy định các thủ tục đảm bảo thực hiện quyền thừa kế của công
dân bao gồm các quy phạm về thủ tục hành chính, thủ tục tố tụng Ngoài ra còn có quy phạm quy định về thanh toán, phân chia di sản
Như vậy có thể nói rằng: Pháp luật về thừa kế là tổng thể các quy phạm pháp luật
do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh việc chuyển dịch tài sản của người chết cho cá nhân, tổ chức theo di chúc hoặc theo pháp luật, cũng như quy định phạm vi quyền, nghĩa vụ, phương thức bảo vệ các quyền và nghĩa vụ của người thừa kế và được thực hiện theo những trình tự thủ tục nhất định
Trang 126
Tóm lại, pháp luật về thừa kế ở Việt Nam được cấu thành bởi nhiều quy phạm,
trong nhiều văn bản khác nhau Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật về thừa kế
ở Việt Nam có sự biến đổi theo hướng ngày càng mở rộng và có sự phụ thuộc vào thành quả phát triển kinh tế - xã hội qua các thời kỳ Các quy định pháp luật về thừa kế ở nước
ta luôn bảo đảm quyền tự do cá nhân trong việc thể hiện ý chí của mình và kết hợp hài hoà với truyền thống tốt đẹp của dân tộc Không ngừng củng cố, mở rộng phù hợp với đời sống thực tế, nhằm bảo vệ có hiệu quả hơn quyền thừa kế công dân
* Đặc điểm:
Từ những phân tích nêu trên về nội dung và qua nghiên cứu pháp luật về thừa kế Việt Nam từ khi hình thành cho đến nay, chúng tôi rút ra một số đặc điểm cơ bản pháp luật về thừa kế như sau:
Thứ nhất: Pháp luật về thừa kế ra đời rất sớm
Thời kỳ La Mã Cổ Đại đã có pháp luật về thừa kế, pháp luật về thừa kế thời kỳ này được khắc trên phiến đá để mọi người cùng hiểu mà làm theo Khi nghiên cứu về vấn đề này các nhà khoa học pháp lý đã nhận định: “thừa kế là sự di chuyển tài sản của người chết cho một hoặc một số người sống khác Quyền thừa kế với tư cách là một chế định pháp luật của Nhà nước, xuất hiện trên cơ sở chấm dứt quyền sở hữu của một người đã chết và sự chuyển giao mang tính tổng thể tài sản của người đó cho những người còn sống …
Ở nước ta, trong gần 10 thế kỷ đô hộ, nhà nước phong kiến Trung Hoa luôn tìm cách xoá những truyền thống của dân tộc ta để thể hiện mưu đồ đồng hoá rất thâm hiểm của họ Theo sử gia lỗi lạc Phan Huy Chú “thì trong thời kỳ giặc Minh đô hộ nước ta vào đầu thế kỷ XV, họ đã tịch thu sách vở của ta đem về làm với mục tiêu triệt xoá nền văn hoá dân tộc Việt để dễ bề cai trị Tiếp đó đầu nhà Lê gặp “giặc loạn”, một lần nữa sách luật của ta thời kỳ này trở về trước cùng chung số phận” Vì thế, khi nghiên cứu cổ pháp
về thừa kế, chúng ta thiếu hẳn những cứ liệu trực tiếp, nên phải lấy bộ luật cổ xưa nhất còn lưu giữ là bộ Quốc triều hình luật làm mốc
Tuy nhiên, dựa vào những ghi chép của các sử gia trong các tài liệu về lịch sử cũng như sự suy đoán pháp lý có thể thấy được pháp luật về thừa kế hình thành và phát triển cùng với sự hình thành Nhà nước Việt Nam cổ đại, ở thời Hùng Vương nước ta có thể đã
có pháp luật về thừa kế “về luật dân sự chủ yếu và tranh chấp dân sự dưới thời Hùng Vương đã có quy định bắt buộc… thời Hùng Vương đã có quy định việc chia tài sản” Ngày nay, các sử gia và các nhà luật học khi nghiên cứu về cổ pháp, đa số đều nhất trí rằng: “ Pháp luật nước ta đã có từ trước thời Lê và đã được điển chế đến thời Lý, Trần” ,
“Với bộ luật Quốc triều hình luật dù được xem là một thành tựu có giá trị đặc biệt trong lịch sử pháp luật Việt Nam, nhưng chắc chắn khi biên soạn các luật gia Lê Triều cũng đã thừa kế các thành tựu của các bộ luật của các triều đại trước”
Với sự phân tích trên, chúng ta thấy rằng pháp luật về thừa kế Việt Nam đã xuất hiện từ lâu, nó trở thành một chế định quan trọng của pháp luật thời bấy giờ Điều đó được thể hiện qua các tài liệu về lịch sử của các sử gia, Bộ luật Quốc triều hình luật, dân
Trang 13Nếu sở hữu và thừa kế là hai vấn đề liên quan mật thiết với nhau song song tồn tại bên nhau thì pháp luật về thừa kế với pháp luật về quyền sở hữu cũng có mối quan hệ hết sức mật thiết với nhau Thông qua việc quy định hình thức sở hữu về tài sản của cá nhân
và theo đó pháp luật quy định cho họ các quyền năng trong lĩnh vực thừa kế Hay nói cách khác, pháp luật về sở hữu là cơ sở cho việc ban hành các văn bản pháp luật về thừa
kế Vì vậy, pháp luật về thừa kế luôn mang một bản chất giai cấp sâu sắc, nó luôn là phương tiện để duy trì, củng cố quyền sở hữu ở những xã hội mà chính bản thân nó đang tồn tại Trong xã hội phong kiến hoặc trong xã hội chủ nô, những xã hội dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, thì pháp luật về thừa kế là một trong những công cụ pháp
lý quan trọng để duy trì sự bóc lột sức lao động người khác và củng cố địa vị xã hội của những người thừa kế Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, một chế độ dựa trên nền tảng công hữu hoá tư liệu sản xuất Thừa kế là sự kế thừa thành quả lao động của cá nhân gia đình
và các giá trị văn hoá của thế hệ này đối với thế hệ khác, nên pháp luật về thừa kế, trước hết nhằm bảo vệ quyền lợi cho người lao động, thành quả lao động của họ được chuyển sang cho những người thừa kế của họ Mặt khác, pháp luật về thừa kế còn là một trong những phương tiện để củng cố và phát triển các quan hệ hôn nhân gia đình, bảo vệ quyền lợi chính đáng của các chủ thể trong lĩnh vực thừa kế, qua đó góp phần bảo đảm quyền sở hữu chính đáng mọi cá nhân trong xã hội
Như vậy, cùng với sự hình thành và phát triển Nhà nước và pháp luật của chế độ tư hữu thì sở hữu và thừa kế đều là những phạm trù pháp luật và giữa chúng có mối quan
hệ mật thiết với nhau
Thứ ba: Pháp luật về thừa kế tập trung chủ yếu trong BLDS, ngoài ra còn được quy định ở một số văn bản liên quan
Thừa kế là một chế định của pháp luật dân sự, do đó nó cũng mang những đặc điểm chung của BLDS, như đều là xuất phát từ quan hệ tài sản, đều phản ánh một cách sinh động phong tục, tập quán, đạo đức của người Việt Nam, là công cụ pháp lý quan trọng bảo đảm sự bình đẳng tự nguyện và an toàn pháp lý của các chủ thể, đáp ứng nhu cầu vật chất, và tinh thần của các thành viên trong xã hội… Do đó, đa số các quy phạm pháp luật
về thừa kế được quy định chủ yếu trong Bộ luật Dân sự Tuy nhiên, do quan hệ thừa kế cũng có mối quan hệ chặt chẽ với quan hệ về sở hữu, quan hệ hôn nhân huyết thống và
Trang 148
quan hệ nuôi dưỡng, quan hệ đất đai cho nên các quy định pháp luật về thừa kế còn được quy định rải rác trong một số văn bản liên quan như Luật Đất đai, luật đầu tư, luật doanh nghiệp, luật hôn nhân gia đình
Thứ tư: Pháp luật về thừa kế thường xuyên có sửa đổi bổ sung và ngày càng hoàn thiện phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của từng giai đoạn
Kể từ khi Thông tư 81/TANDTC được ban hành cho đến nay, pháp luật về thừa
kế ở nước ta đã trải qua nhiều lần sửa đổi bổ sung vào các năm 1990, 1995, 2005,
2015 Nếu so sánh với các lĩnh vực pháp luật khác như pháp luật về hình sự, pháp luật hôn nhân và gia đình, pháp luật về lao động… thì các lĩnh vực pháp luật này ít sửa đổi
bổ sung Trong khi đó pháp luật về thừa kế được sửa đổi bổ sung nhiều hơn Sở dĩ pháp luật về thừa kế có đặc điểm này, bởi lẽ bên cạnh những nhân tố ảnh hưởng tới việc sửa đổi bổ sung mà lĩnh vực pháp luật nào cũng có như do sự thay đổi các quan
hệ xã hội mà nó điều chỉnh, nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và xu thế toàn cầu hoá… thì việc sửa đổi, bổ sung pháp luật về thừa kế, còn phụ thuộc vào thành quả phát triển kinh tế xã hội qua các thời kỳ Nhìn lại tiến trình hình thành và phát triển pháp luật về thừa kế Việt Nam chúng ta thấy rằng, pháp luật về thừa kế được xây dựng và hoàn thiện phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội qua từng giai đọan lịch sử theo
đó quyền thừa kế của công dân được chú ý bảo vệ triệt để Điều này được thể hiện trong việc ghi nhận và bảo vệ quyền thừa kế công dân trong các bản Hiến pháp của Việt Nam: 1946, 1959, 1980, 1992 và sửa đổi 2001, 2013 và BLDS 1995, 2005, 2015…
Thứ năm: Pháp luật về thừa kế được quy định tương đối toàn diện và có kết cấu chặt chẽ
Khi xây dựng pháp luật về thừa kế chúng ta đã học tập nhiều kinh nghiệm của các nước tiên tiến trên thế giới như Pháp, Đức, Nga do vậy, pháp luật về thừa kế ở Việt Nam tương đối toàn diện có cấu trúc chặt chẽ Pháp luật về thừa kế được chia thành 5 nhóm Ngoài nhóm (1) quy định vấn đề chung về thừa kế, làm cơ sở để dẫn chiếu các nhóm quy định cụ thể Trong mỗi nhóm cụ thể đều có các quy định chung quy định các vấn đề cơ bản có tính nguyên tắc của phần đó, sau đó mới quy định các vấn đề chi tiết, các cấu trúc này thuận tiện cho việc tra cứu và áp dụng pháp luật về thừa kế
b Khái niệm thừa kế:
Thừa kế tồn tại và phát triển cùng với xã hội loài người, thừa kế được hiểu là việc chuyển dịch tài sản (của cải) của người chết cho người còn sống theo truyền thống, phong tục tập quán của từng dân tộc Người hưởng tài sản có nghĩa vụ duy trì, phát triển giá trị vật chất, giá trị tinh thần và truyền thống, tập quán mà thế hệ trước để lại Trong xã hội có giai cấp, quan hệ thừa kế là đối tượng điều chỉnh của pháp luật, Nhà nước điều chỉnh quan hệ thừa kế nhằm đạt được những mục đích nhất định
Quan hệ thừa kế tồn tại song song với quan hệ sở hữu và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người Mặt khác, quan hệ sở hữu là quan hệ giữa người với người về việc chiếm hữu của cải vật chất trong xã hội, trong quá trình sản xuất, lưu thông phân
Trang 159
phối của cải vật chất Sự chiếm hữu vật chất này thể hiện giữa người này với người khác, giữa tập đoàn người này với tập đoàn người khác, đó là tiền đề để làm xuất hiện quan hệ thừa kế Sở hữu cũng là một yếu tố khách quan xuất hiện ngay từ khi có xã hội loài người
và cùng với thừa kế, chúng phát triển cùng với xã hội loài người
c Về người thừa kế
Người thừa kế (người được hưởng di sản của người đã chết theo di chúc hoặc theo
qui định của pháp luật), Điều 613 BLDS qui định: "Người thừa kế là cá nhân phải là người
còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế"
d Về thời hiệu thừa kế:
Bộ luật Dân sự hiện hành quy định: " Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu
chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác
là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế" (điều 645, BLDS) Quy định trên đang tồn tại một bất cập là có nhiều tài sản thừa kế
bị tranh chấp nhưng do hết thời hiệu khởi kiện nên người thừa kế tài sản không thể đăng
ký quyền sở hữu Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này như người thừa kế không nắm rõ các quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện chia thừa kế, xuất phát từ tình cảm gia đình, họ tộc, do điều kiện khách quan, hay xuất phát từ sự ràng buộc về đạo lý, truyền thống của dân tộc Việt Nam, con cái không dám yêu cầu chia thừa kế khi cha hoặc
mẹ còn sống hoặc cha, mẹ qua đời trong thời gian ngắn
Khắc phục bất cập này, điều 623 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định như sau:
" 1 Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản,
10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý
di sản thì di sản được giải quyết như sau:
a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;
b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này
2 Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác
bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế
3 Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế "
e Pháp luật về thời hiệu:
Theo quy định tại BLDS 2015 thì: “Thời hiệu là thời hạn do luật quy định mà khi
kết thúc thời hạn đó thì phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo điều kiện do luật quy định.” Trong đó, thời hạn được hiểu là một khoảng thời gian xác định từ thời điểm
Trang 16niệm về thời hiệu của PGS.TS Đỗ Văn Đại: “ Thời hiệu là một cách thức, biện pháp làm
chủ thể có được hoặc bị mất đi quyền của mình, thông qua một khoảng thời gian nhất định với những điều kiện do pháp luật quy định”
f Thời hiệu khởi kiện:
Theo quy định tại Điều 150, BLDS 2015:“ Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ
thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện ” Luật Tố
tụng hành chính 2015 cũng có khái niệm tương tự, theo đó: “ Thời hiệu khởi kiện là thời
hạn mà cơ quan, tổ chức, cá nhân được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ
án hành chính bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện ”
Trong dân sự, lợi ích của các bên là ngọn ngành dẫn đến việc tranh chấp Tranh chấp pháp lý sẽ không thể xảy ra nếu không có hành vi khởi kiện của các bên Khởi kiện
là cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ tố tụng dân sự Quyền khởi kiện của chủ thể sẽ mất đi khi hết thời hiệu mà pháp luật quy định và lúc này chủ thể không thể bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm
g Thời hiệu khởi kiện thừa kế:
Hiện tại, pháp luật chỉ quy định về thời hiệu nói chung và thời hiệu khởi kiện trong quan hệ dân sự, chưa có khái niệm cụ thể về thời hiệu khởi kiện thừa kế Có thể hiểu thời hiệu khởi kiện về thừa kế là thời hạn mà chủ thể được hưởng quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp thừa kế, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện
h Thời điểm mở thừa kế:
Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết Trong trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được Tòa án xác định là ngày chết của người đó (Khoản 1, Điều 611, BLDS 2015)
i Quyền thừa kế:
Về mặt pháp lý, quyền thừa kế là quyền của chủ thể lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật hoặc quyền được hưởng di sản do người khác để lại (Điều 609, BLDS 2015)
j Người quản lý di sản:
Người quản lý di sản là người được chỉ định trong di chúc hoặc được những người thừa kế thỏa thuận lựa chọn để quản lý di sản của người chết để lại Trường hợp di chúc không chỉ định người quản lý di sản và những người thừa kế chưa cử được người quản lý
di sản thì người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản tiếp tục quản lý di sản đó cho
Trang 1711
đến khi những người thừa kế cử được người quản lý di sản Trong đó, người đang chiếm hữu được hiểu là người đang nắm giữ, chi phối một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản (Điều 616, BLDS 2015)
1.1.2 Cơ sở pháp lý
Bộ luật Dân sự 2015 quy định rõ 04 loại thời hiệu khởi kiện về thừa kế là thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế, thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình, thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu bác bỏ quyền thừa kế của người khác và thời hiệu khởi kiện yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ
về tài sản của người chết để lại (Điều 623)
- Thời hiệu khởi kiện yêu cầu thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại
được xác định theo quy định tại Khoản 3, Điều 623, BLDS 2015: “Thời hiệu yêu cầu
người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.”
- Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác được xác định theo Khoản 2, Điều 623, BLDS
2015: “Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình
hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.”
- Thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế được xác định theo Khoản 1, Điều
623, BLDS 2015 như sau: “Thời hiệu để người thừa kế chia di sản là 30 năm đối với bất
động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế” Cũng tại khoản này,
BLDS 2015 đã quy định rõ hướng giải quyết một cách triệt để di sản thừa kế trong trường
hợp hết thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản: “Hết thời hạn này thì di sản thuộc về
người thừa kế đang quản lý di sản đó Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý
di sản thì di sản được giải quyết như sau:
a Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này
b Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.”
1.1.3 Một số vấn đề liên quan đến thời hiệu khởi kiện về thừa kế
a Phân loại thời hiệu trong pháp luật về thừa kế
Về thời hiệu khởi kiện thừa kế, Điều 623, BLDS 2015 và Điều 645, BLDS 2005 có cùng cách phân loại khi chia thời hiệu khởi kiện thừa kế thành 04 loại là thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế, thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình, thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu bác bỏ quyền thừa
kế của người khác và thời hiệu khởi kiện yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại
- Thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế
Di sản thừa kế bao gồm tài sản, các quyền tài sản được xác lập dựa trên những căn
cứ hợp pháp mà người chết để lại cho những người thừa kế
Trang 1812
Pháp luật thừa kế ràng buộc người có quyền thừa kế phải thực hiện quyền của mình trong một khoảng thời gian nhất định, cụ thể tại Khoản 1, Điều 623, BLDS 2015 quy định thời hiệu để người thừa kế chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế Quá thời hạn này, những người thừa kế sẽ không thể thực hiện được việc phân chia di sản nếu không thể thỏa thuận được với nhau
- Thời hiệu yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình
Quyền thừa kế là một chế định của ngành luật dân sự bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh quá trình dịch chuyển vật chất từ người chết cho những người còn sống Việc ghi nhận và xác định quyền này là quyền năng cụ thể của mỗi một cá nhân trong việc để lại thừa kế, quyết định việc để lại thừa kế như thế nào? ai là người được hưởng di sản? tước quyền hưởng di sản của ai?…
Quyền thừa kế của chủ thể không phải lúc nào cũng được bảo đảm, trong nhiều trường hợp vì những lý khác nhau như do ý chí của người để lại di sản hoặc do việc xác định thiếu sót của cơ quan có thẩm quyền,… mà quyền này không được thừa nhận Để bảo vệ quyền lợi của mình, chủ thể bị xâm phạm phải thực hiện hành vi khởi kiện yêu cầu tòa án xác nhận quyền thừa kế của mình để có thể trở thành người thừa kế, được thừa hưởng di sản do người chết để lại Tương tự như việc phân chia di sản thừa kế, chủ thể sẽ phải thực hiện quyền này trong khoảng thời gian luật định, mà cụ thể tại Khoản 2, Điều
623, BLDS 2015: “Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình
hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.” Như
vậy, sau 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế, chủ thể không thể thực hiện quyền yêu cầu của mình để có thể trở thành người được hưởng di sản thừa kế
- Thời hiệu yêu cầu bác bỏ quyền thừa kế của người khác
Về nguyên tắc, khi có càng nhiều người có quyền thừa kế thì phần di sản mà mỗi người được hưởng sẽ càng ít đi, sẽ khó có thể chấp nhận khi di sản mà mình được hưởng
bị chia nhỏ hơn vì một người mà mình cho rằng không có quyền hoặc không đáng được hưởng di sản thừa kế Trong trường hợp này, có thể yêu cầu tòa án bác bỏ quyền thừa kế của những người này Thời hạn để một người có thể yêu cầu tòa án loại bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế Quá thời hạn nêu trên thì những người có quyền thừa kế sẽ mất quyền yêu cầu của mình (Khoản 2, Điều 623, BLDS 2015)
- Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại Nghĩa vụ tài sản của người chết để lại là món nợ của người đó phát sinh từ những hành vi pháp lý của họ, các nghĩa vụ này phát sinh từ giao dịch dân sự, hành vi gây thiệt hại hoặc từ quan hệ pháp luật khác mà khi chết người này chưa kịp thực hiện Điều 615,
BLDS 2015 quy định: “Những người thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản
trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.” Quy định
này có nghĩa là việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết là trách nhiệm bắt buộc của những người thừa kế dùng chính di sản của người chết để lại để thực hiện Tuy nhiên, dù cho nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại có lớn hơn di sản thừa kế thì những người
Trang 1913
thừa kế cũng chỉ có trách nhiệm thực hiện trong phạm vi di sản này, trừ trường hợp những người thừa kế tự nguyện thực hiện toàn bộ nghĩa vụ do người chết để lại, kể cả phần nghĩa vụ vượt phạm vi di sản thừa kế
Thời hạn để người được thực hiện nghĩa vụ yêu cầu những người thừa kế thực hiện nghĩa vụ đối với mình thay cho người quá cố là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế (Khoản 3, Điều 623, BLDS 2015)
b Ý nghĩa của việc xác định thời hiệu
- Việc pháp luật quy định thời hiệu nói chung, thời hiệu thừa kế nói riêng có ý nghĩa rất lớn trong việc ổn định, thúc đẩy các mối quan hệ dân sự diễn ra một cách thuận lợi, minh bạch và nhanh chóng1
- Việc pháp luật quy định thời hiệu thừa kế còn tạo điều kiện thuận lợi cho Tòa án,
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong việc giải quyết tranh chấp thừa kế Một giao dịch dân sự được xác lập, thực hiện trong một khoảng thời gian quá lâu sẽ gây không ít khó khăn cho Tòa án trong việc xác minh, thu thập chứng cứ để giải quyết tranh chấp, dẫn đến có thể đưa ra những quyết định thiếu chính xác, xâm phạm đến quyền lợi của đương
sự
c Cách tính thời hiệu
Theo quy định tại Điều 151, BLDS 2015, thời hiệu được tính từ thời điểm bắt đầu ngày đầu tiên của thời hiệu và kết thúc vào thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hiệu
Riêng thời hiệu thừa kế thì tùy vào yêu cầu của những người thừa kế mà thời hiệu
sẽ là khác nhau Cụ thể, đối với yêu cầu chia sản thừa kế, đương sự sẽ có thời hiệu yêu cầu là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế Thời hiệu yêu cầu thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế (Điều 623, BLDS 2015)
Chúng ta có thể bắt gặp khái niệm về thời điểm mở thừa kế trong quy định nêu trên Thời điểm mở thừa kế là thời điểm mà người để lại di sản qua đời Trong trường hợp Tòa
án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được Tòa án xác định
là ngày chết của người đó Vì vậy, khi muốn tòa án giải quyết các yêu cầu liên quan đến thừa kế, chủ thể cần phải xuất trình các giấy tờ chứng minh rằng người để lại di sản đã
1
Nguyễn Hải An (2006), “Một số vấn đề về thời hiệu khởi kiện thừa kế trong pháp luật dân sự Việt
Nam”, Đại học quốc gia Hà Nội, địa chỉ:
http://text.123doc.org/document/2598020-mot-so-van-de-ve-thoi-hieu-khoi-kien-ve-thua-ke-trong-phap-luat-dan-su-viet-nam.htm
Trang 2014
chết như giấy chứng tử, quyết định của tòa án tuyên bố một người đã chết Lúc này, tòa
án sẽ xác định thời điểm mở thừa kế dựa vào thời điểm người để lại di sản chết được ghi nhận trong những giấy tờ hợp pháp trên Thời hiệu thừa kế bắt đầu vào thời điểm mở thừa kế nên cũng sẽ kết thúc vào thời điểm tương ứng của ngày cuối cùng của thời hiệu Với cách xác định thời hiệu như vậy, việc cần làm của những người thừa kế là tìm hiểu quy định của pháp luật và bảo đảm rằng yêu cầu của mình còn nằm trong thời hiệu được quy định
d Thời gian không tính vào thời hiệu
Thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu có thể bị gián đoạn bởi những sự kiện pháp
lý được pháp luật dự liệu Khi xảy ra những sự kiện này thì thời hiệu sẽ bị tạm dừng Khoảng thời gian xảy ra những sự kiện này sẽ không tính vào thời hiệu
Theo quy định tại Điều 156, BLDS 2015, thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự là khoảng thời gian xảy ra một trong các sự kiện sau:
- Sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan làm cho chủ thể có quyền khởi kiện, quyền yêu cầu không thể khởi kiện, yêu cầu trong thời gian luật định
Những sự kiện này là không thể lường trước và cũng không thể khắc phục được mặc dù chủ thể đã thực hiện những biện pháp cần thiết trong khả năng của mình
- Chưa có người đại diện trong trường hợp người có quyền khởi kiện, yêu cầu là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, không làm chủ hành vi hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự
Những chủ thể thuộc trường hợp nêu trên sẽ không thể nhận thức được quyền và lợi ích của mình hoặc nhận thức một cách không đầy đủ Vì vậy, pháp luật quy định phải có người đại diện thay họ thực hiện quyền khởi kiện, yêu cầu cũng như tham gia vào quan
hệ tố tụng Trong trường hợp chưa có người đại diện, pháp luật cho phép có một khoảng thời gian để tìm người đại diện cho họ và khoảng thời gian này sẽ không tính vào thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu
- Người chưa thành niên2, người mất năng lực hành vi dân sự3, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi dân sự chưa có người đại diện khác thay thế trong trường hợp sau đây:
+ Người đại diện chết nếu là cá nhân, chấm dứt tồn tại nếu là pháp nhân
+ Người đại diện vì lý do chính đáng mà không thể tiếp tục đại diện được
Sự kiện này xảy ra khi người đại diện của những đối tượng trên không thể tiếp tục việc đại diện của mình vì những lý do được pháp luật quy định Khi đó, sẽ phải tìm người
2
Người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên (Điều 21, BLDS 2015)
3 Người mất năng lực hành vi dân sự là một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình (Điều 22, BLDS 2015)
Trang 211.2.1 Quy định của Bộ luật Dân sự 2005
Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 10 năm, kể từ thời điểm
mở thừa kế Điều đó có nghĩa sau thời hạn 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế (thời điểm người để lại di sản chết), người thừa kế không còn quyền khởi kiện yêu cầu chia di sản (Điều 645, BLDS 2005)
Để giải quyết vấn đề về phân chi di sản thừa kế sau khi hết thời hiệu khởi kiện, điều
mà BLDS 2005 chưa có quy định, tòa án áp dụng Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP:
“Trường hợp trong thời hạn 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc khi kết thúc thời hạn 10 năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế
và đều xác nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế Khi có tranh chấp và yêu cầu tòa án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung
để giải quyết.”
Có sự chuyển hóa về quan hệ dân sự trong trường hợp giải quyết tranh chấp về chia
di sản thừa kế theo quy định của Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP, từ yêu cầu chia thừa kế sang yêu cầu chia tài sản chung Khi có tranh chấp và yêu cầu tòa án giải quyết, thì không
áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết Cần phân biệt như sau:
- Trường hợp có di chúc mà các đồng thừa kế không có tranh chấp và thỏa thuận việc phân chia di sản sẽ được thực hiện theo di chúc khi có nhu cầu chia di sản
- Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa kế thỏa thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia di sản thì việc chia di sản đó được thực hiện theo thỏa thuận
- Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thỏa thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia di sản thì việc chia di sản đó sẽ được thực hiện theo quy định về chia tài sản chung.4
Đối chiếu với quy định trên, có hai khả năng có thể xảy ra:
- Nếu các đồng thừa kế gửi đơn khởi kiện đến tòa án mà nội dung khởi kiện về thừa
Trang 2216
Trong trường hợp này, tòa án sẽ áp dụng quy định về chia tài sản chung để giải quyết Nhưng không phải lúc nào cũng có thể giải quyết việc chia di sản bằng quy định này Trên thực tế đã có không ít tranh chấp được giải quyết êm xuôi nhờ Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP Tuy nhiên, cũng có rất nhiều vụ việc không thể giải quyết được cũng từ quy định này, mà lý do đơn giản là một bên đương sự (Thông thường là người quản lý, chiếm hữu di sản) không thừa nhận đây là tài sản chung và cũng không yêu cầu tòa án phân chia giúp Để áp dụng quy định về chia tài sản chung, phải đáp ứng được các điều kiện mà Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP quy định, mà một trong số đó là không có tranh chấp về quyền thừa kế, về hàng thừa kế giữa các đồng thừa kế, đồng thời, những người này phải cùng xác nhận mình là những đồng thừa kế hoặc xác nhận tài sản chung chưa chia Những điều kiện trên khó được đáp ứng một khi đã xảy ra tranh chấp Chưa kể những di sản không thuộc trường hợp quy định tại Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP thì “số phận” vẫn còn bỏ ngỏ
Rõ ràng việc áp dụng quy định về chia tài sản chung chỉ có thể giải quyết một phần những tranh chấp về chia di sản sau khi hết thời hiệu khởi kiện, bấy nhiêu là chưa đủ để khắc phục những thiếu sót trong quy định về thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế của BLDS 2005, khi mà Bộ luật này quy định còn nhiều thiếu sót và không có văn bản hướng dẫn thi hành
1.2.2 Quy định của Bộ luật Dân sự 2015
Có thể nói những thiếu sót trong BLDS 2005 phần lớn đã được sửa đổi, bổ sung trong BLDS 2015 vừa mới được ban hành Quy định tại khoản 1, Điều 623, BLDS 2015
về thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế: “Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản
là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người đang quản lý di sản đó Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:
- Di sản thuộc sở hữu của người đang chiếm hữu di sản theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;
- Di sản thuộc về nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.”
Hai điểm khác biệt lớn có thể thấy ở quy định của BLDS 2015 về thời hiệu thừa kế
đó là chia di thừa kế thành 02 loại, bao gồm động sản và bất động sản với thời hiệu yêu cầu chia thừa kế khác nhau đối với từng loại và điểm khác biệt thứ hai là hậu quả pháp lý đối với việc hết thời hiệu thừa kế
Việc chia di sản thừa kế thành động sản và bất động sản, trong đó bất động sản có thời hiệu thừa kế dài hơn, theo tác giả có thể do một số lý do nhất định Thực tế, trong nhiều trường hợp sau khi người có di sản là bất động sản chết, những người thừa kế vẫn đang sử dụng chung di sản này (Ví dụ như anh em ruột sống chung trong một ngôi nhà là
di sản thừa kế của cha mẹ để lại) Vì vậy, thường thì việc phân chia di sản thừa kế là bất động sản cần nhiều thời gian hơn so với động sản, nên tác giả cho rằng việc quy định thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản là
Trang 2317
hợp lý đứng trên góc độ vừa phân tích
Với điểm mới thứ hai của quy định về thời hiệu yêu cầu chia di sản, hệ quả của việc hết thời hiệu khởi kiện sẽ được giải quyết một cách dứt điểm Theo quy định tại khoản 1, Điều 623, BLDS 2015, sau khi hết thời hiệu khởi kiện, di sản sẽ thuộc về một trong ba chủ thể sau: người thừa kế đang quản lý di sản, người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236, BLDS 2015 hoặc là nhà nước, tùy từng trường hợp luật định Đối với di sản chưa chia, thông thường nếu không có điều kiện cùng nhau quản lý, những người thừa kế
có thể giao lại cho một người trong số họ quản lý di sản Với quy định mới này, những người thừa kế phải yêu cầu chia di sản thừa kế trong thời hiệu luật định Quá thời hiệu trên, di sản thừa kế đương nhiên thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó Nếu di sản không do những người thừa kế quản lý mà do người không có quyền thừa kế chiếm hữu theo quy định tại Điều 236, BLDS 2015, tức chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục công khai trong thời hạn 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu di sản thì sau khi hết thời hiệu thừa kế người này sẽ trở thành chủ sở hữu đối với di sản đang chiếm hữu Ngoài hai trường hợp trên, khi hết thời hiệu thừa kế, di sản sẽ thuộc về nhà nước
1.2.3 So sánh thời hiệu yêu cầu về thừa kế theo quy định của Bộ luật dân sự
2005 và Bộ luật dân sự 2015
Bộ luật dân sự 2005 Bộ luật dân sự 2015
Điều 645 Thời hiệu khởi kiện về thừa kế
Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu
chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình
hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là
mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế
Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế
thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để
lại là ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế
Điều 623 Thời hiệu thừa kế
1 Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:
a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;
b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này
2 Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể
từ thời điểm mở thừa kế
3 Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế
Qua bảng trên, cho ta thấy:
- Ngay từ cách đặt tên giữa Điều 623, BLDS 2015 (so với Điều 645, BLDS 2005
“Thời hiệu khởi kiện về thừa kế”) cũng ngắn gọn hơn, súc tích và bao hàm đầy đủ ý nghĩa đúng như tên gọi của nó: “Thời hiệu về thừa kế”