1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực tiễn về hòa giải trong luật tố tụng dân sự tại tòa án nhân dân tỉnh kon tum một số giải pháp và kiến nghị

45 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm Trong tố tụng dân sự TTDS, nếu xét theo nghĩa rộng thì hòa giải không những chỉ là một thủ tục tố tụng bắt buộc do tòa án cấp sơ thẩm tiến hành trước khi có quyết định đưa vụ

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TẠI KON TUM

NGUYỄN HỮU LUÂN

BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

THỰC TIỄN ÁP DỤNG VỀ HÒA GIẢI TRONG TỐ

TỤNG DÂN SỰ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH

KON TUM – MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TẠI KON TUM

BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

THỰC TIỄN ÁP DỤNG VỀ HÒA GIẢI TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM – MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN : LÊ ĐÌNH QUANG PHÚC

SINH VIÊN THỰC HIỆN : NGUYỄN HỮU LUÂN

LỚP : K915 LHV-KT

Kon Tum, tháng 06 năm 2019

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 1

3 Mục tiêu của đề tài 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Kết cấu 2

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HÒA GIẢI VỤ ÁN DÂN SỰ TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ 3

1.1 Khái niệm, đặc điểm, ‎ý nghĩa của hòa giải vụ án dân sự 3

1.1.1 Khái niệm 3

1.1.2 Đặc điểm 3

1.1.3 Ý nghĩa 4

1.2 Một số quan niệm về hòa giải, đối thoại trong hệ thống pháp luật tố tụng Việt Nam 4

1.2.1 Khái niệm hòa giải trong hệ thống pháp luật tố tụng Việt Nam 4

1.2.2 Khái niệm về đối thoại trong hệ thống pháp luật tố tụng Việt Nam 5

1.2.3 Đặc điểm hòa giải, đối thoại 5

1.2.4 Vai trò của Thẩm phán trong quá trình hòa giải, đối thoại 6

1.3 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của chế định hòa giải 7

1.3.1 Giai đoạn từ 1945 đến 1989 7

1.3.2 Giai đoạn từ 1989 đến 2004 8

1.3.3 Giai đoạn 2005 đến 2015 8

1.3.4 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 9

1.4 Nguyên tắc tiến hành hòa giải vụ án dân sự 9

1.5 Phạm vi hòa giải vụ án dân sự 10

1.5.1 Những vụ án dân sự không được hòa giải 10

1.5.2 Những vụ án dân sự không tiến hành hòa giải được 11

1.6 Thành phần và trình tự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải 11

1.6.1 Thành phần phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải 11

1.6.2 Trình tự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải 12

1.7 Các quyết định của Tòa án dựa trên kết quả hòa giải 14

1.7.1 Quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự 14

1.7.2 Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự 14

1.7.3 Quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự 15

1.7.4 Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự 15

Trang 4

1.8 Những điểm mới về hòa giải trong BLTTDS 2015 17

1.8.1 Những vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án (Mục 1 từ Điều 26 đến Điều 34 ) 17

1.8.2 Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ 17

1.8.3 Về hòa giải và chuẩn bị xét xử (Chương 13) 18

1.8.4 Thời hạn và nhiệm vụ quyền hạn của Thẩm phán trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm 18

1.8.5 Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải 18

1.8.6 Thủ tục công nhận hòa giải thành ngoài Tòa án ( Chương XXXIII ) 19

CHƯƠNG II THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI TAND TỈNH KON TUM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT 21

2.1 Giới thiệu khái quát về tòa án nhân dân Tỉnh Kon Tum 21

2.1.1 Vị trí, chức năng của Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum 21

2.1.2 Thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum 21

2.1.3 Cơ cấu tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum 22

2.2 Những kết quả đạt được và tồn tại trong công tác hòa giải trong TTDS tại TAND Tỉnh Kon Tum 24

2.3 Nội dung về quy định của luật tố tụng dân sự về hòa giải vụ án dân sự và Tồn tại trong công tác hòa giải trong TTDS 31

2.3.1 Các quy định về các chủ thể trong hoà giải vụ án dân sự 31

2.3.2 Các quy định về phạm vi hoà giải vụ án dân sự 32

2.4 Các quy định về thủ tục hoà giải vụ án dân sự 33

2.4.1 Thủ tục thông báo về phiên hoà giải 33

2.4.2 Thành phần tham gia phiên hoà giải 33

2.4.3 Thủ tục áp dụng trong trường hợp hoà giải thành 33

2.5 Kiến nghị, đề xuất nâng cao hiệu quả công tác hòa giải trong TTDS tại tỉnh Kon Tum 34

2.5.1 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật 34

2.5.2 Kiến nghị về thực hiện pháp luật 35

KẾT LUẬN 39 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sự vận động hối hả của cuộc sống cuốn ta vào guồng quay với vô vàn các mối quan

hệ phức tạp và tất yếu sẽ dẫn đến những va chạm, mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên trong gia đình, trong họ tộc hoặc giữa cá nhân với nhau trong cộng đồng dân cư Những mâu thuẫn, tranh chấp nếu không được giải quyết kịp thời thì từ những mâu thuẫn nhỏ sẽ trở thành mâu thuẫn lớn, từ tranh chấp thuần túy dân sự có thể trở thành vụ án hình sự, gây mất đoàn kết trong nội bộ nhân dân Chính vì vậy, hòa giải là cách để giữ các mối quan hệ đó trở nên cân bằng Hòa giải góp phần hạn chế các tranh chấp dân sự, vận động nhân dân sống và làm việc theo pháp luật, củng cố tình làng, nghĩa xóm; tăng cường đoàn kết trong cộng đồng dân cư Mặt khác, góp phần quan trọng trong việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội Theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, hòa giải đã trở thành hoạt động tố tụng có tính chất bắt buộc đối với các vụ án dân sự trừ những vụ án không được hòa giải và những vụ án không hòa giải được

Ngay từ khi Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời pháp luật về hòa giải đã được quy định thông qua hai Sắc lệnh 13 và Sắc lệnh 51 năm 1946 về trách nhiệm hòa giải của Ban Tư Pháp xã; cùng với chế định này là chế định hòa giải của Tòa án sơ cấp (trước 1950) và của Tòa án nhân dân Huyện (sau 1950) Hiến pháp 1980 và Hiến pháp

1992 đã thể chế hóa hoạt động hòa giải tuy nhiên do đặc điểm của xã hội Việt Nam mà pháp luật vẫn chỉ chú trọng và qui định về hoạt động hòa giải tại cơ sở Chỉ khi BLTTDS

2004 và BLTTDS 2015 ra đời và Điều 10 Bộ luật này khẳng định rằng hòa giải vụ án dân

sự tại Tòa án là một nguyên tắc bắt buộc trừ những trường hợp không hòa giải được hoặc không tiến hành hòa giải được

Tuy nhiên trên thực tế công tác hòa giải cũng đặt ra nhiều vướng mắc cần được giải quyết một cách triệt để nhằm mục đích nâng cao hiệu quả của công tác hòa giải trong quá trình xét xử Nhận thức được tầm quang trọng của vấn đề này đồng thời muốn nghiên cứu

về thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam nên tôi đã quyết định lựa chọn đề tài “Thực

tiễn áp dụng pháp luật về hòa giải trong Tố Tụng Dân Sự tại TAND tỉnh Kon Tum – Một số giải pháp, kiến nghị”

2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

a Đối tượng nghiên cứu

Hòa giải trong tố tụng dân sự và thực tiễn áp dụng pháp luật về hòa giải trong Tố Tụng Dân Sự tại TAND tỉnh Kon Tum

b Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu được bao quát trong phạm vi liên quan đến hòa giải trong tố tụng dân sự Trên cơ sở đó, bài viết sẽ nêu lên những vấn đề chung và đi sâu vào nghiên cứu những vấn đề cụ thể

Từ đó đề ra các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật và nâng cao

Trang 6

3 Mục tiêu của đề tài

Trên cơ sở nghiên cứu, đề tài hướng đến hai mục tiêu lớn nhất:

- Làm rõ những vấn đề lý luận về hòa giải trong tố tụng dân sự

- Thực tiễn về hòa giải trong tố tụng dân sự tại TAND tỉnh Kon Tum

- Một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hòa giải các vụ án dân

sự

4 Phương pháp nghiên cứu

Việc nghiên cứu đề tài dựa trên phương pháp phân tích, tổng hợp các quy định về hòa giải của pháp luật tố tụng dân sự; đồng thời thống kê số liệu, đánh giá, để giải quyết các vấn đề liên quan đến hòa giải trong tố tụng dân sự

Trang 7

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HÒA GIẢI VỤ ÁN DÂN SỰ TRONG

PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ

1.1 Khái niệm, đặc điểm, ‎ý nghĩa của hòa giải vụ án dân sự

1.1.1 Khái niệm

Trong tố tụng dân sự (TTDS), nếu xét theo nghĩa rộng thì hòa giải không những chỉ

là một thủ tục tố tụng bắt buộc do tòa án cấp sơ thẩm tiến hành trước khi có quyết định đưa vụ việc ra giải quyết bằng một phiên tòa xét xử hoặc một phiên họp theo qui định của pháp luật mà còn là một thủ tục do tòa án tiến hành nhằm giúp đỡ các bên đương sự hiểu

rõ quyền và nghĩa vụ của mình theo qui định của pháp luật

Hòa giải trước hết phải là sự thỏa thuận của đương sự, và cơ sở của việc hòa giải là bắt buộc phải gồm ba yếu tố cơ bản:

+ Giữa các bên liên quan phải có tranh chấp xảy ra

+ Trong quá trình giải quyết phải có sự thống nhất ý chí của các bên tham gia để tiến hành hòa giải

+ Trong quá trình hòa giải bắt buộc phải có sự tham gia của một bên gọi là bên thứ

ba không có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (bên trung lập) để giải thích, tư vấn và công nhận sự hòa giải thành của các bên trong tranh chấp

Từ những phân tích ở trên, ta có thể hiểu khái niệm hòa giải trong tố tụng dân sự

ngắn gọn như sau: “Hòa giải vụ án dân sự là hoạt động tố tụng do tòa án tiến hành nhằm

giúp đỡ các đương sự thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ án dân sự”

1.1.2 Đặc điểm

Thứ nhất, hòa giải là một nguyên tắc cơ bản trong quá trình giải quyết vụ án dân

sự, được quy định tại Điều 10 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) 2015 Theo đó, hòa giải

là trách nhiệm của Tòa án nhằm giúp đỡ đương sự thỏa thuận với nhau

Thứ hai, hòa giải là hoạt động do Tòa án tiến hành nhằm giải quyết vụ việc dân sự

một cách có hiệu quả nhất Với tư cách cơ quan xét xử của Nhà nước, tòa án phải chủ động trong việc hòa giải để giúp đỡ các đương sự thỏa thuận với nhau Điều này được thể hiện qua việc, sau khi thụ lý vụ án, tòa án chủ động triệu tập các đương sự đến để hòa giải; khi hòa giải, tòa án chủ động giải thích để các đương sự hiểu pháp luật về vấn đề họ tranh chấp, giải quyết vướng mắc giữa đương sự để họ thỏa thuận với nhau giải quyết các vấn đề vụ án Như vậy, Tòa án chính là bên trung gian đứng ra giúp đỡ các bên thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ án

Thứ ba, hòa giải là sự thương lượng, thỏa thuận của chính các đương sự về quyền,

lợi ích của mình Cơ sở của hòa giải vụ án dân sự là quyền tự định đoạt của đương sự Tòa án chỉ đóng vai trò trung gian, giúp đỡ hai bên đi đến được thỏa thuận với nhau, từ

đó công nhận sự thỏa thuận này Sự thỏa thuận giữa các đương sự phải trên cơ sở là sự tự nguyện và ý chí của các đương sự Đây chính là đặc trưng cơ bản của hòa giải, đồng thời

là điểm khác biệt giữa hòa giải và xét xử Khi xét xử, Tòa án sẽ ra phán quyết và đương

Trang 8

1.1.3 Ý nghĩa

Ý nghĩa về mặt tố tụng: Việc hòa giải thành giúp tòa án giải quyết vụ án mà không

phải mở phiên tòa, tránh được việc kháng cáo, kháng nghị, khiếu nại, góp phần giảm bớt việc kéo dài những giai đoạn tố tụng phức tạp như phúc thẩm, tái thẩm, giám đốc thẩm Hòa giải thành còn giúp cho việc thi hành án được thuận lợi Đối với những vụ án được đưa ra xét xử, những phán quyết của Tòa án không phải là những cam kết tự nguyện của đương sự, do đó nhiều người đã cố tình chống đối, kéo dài việc thi hành Đối với những

vụ án hòa giải thành, các đương sự tự nguyện thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ án, nên họ tự giác thi hành cam kết, mà không cần có sự tác động từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Trong trường hợp hòa giải không thành thì công tác hòa giải cũng giúp cho thẩm phán nắm vững hơn về vụ án, hiểu rõ hơn tâm tư tình cảm và những khúc mắc của đương

sự, từ đó có thể thiết lập hướng giải quyết vụ án đúng đắn hơn, rút ra những kinh nghiệm trong quá trình xét xử

Ý nghĩa về mặt kinh tế: Đối với Tòa án, việc hòa giải thành công sẽ giúp tòa án có

thời gian giải quyết các vụ việc dân sự khác đồng thời bảo vệ quyền lợi cho nhân dân bởi nếu hòa giải không thành, vụ án phải đưa ra xét xử, kinh phí tổ chức một phiên tòa là rất lớn Còn đối với các đương sự, hòa giải thành sẽ tiết kiệm cho họ thời gian và những chi phí không cần thiết, nhất là đối với những đương sự ở xa trụ sở của tòa án, việc đi lại có khó khăn và tốn kém

Ý nghĩa về mặt xã hội: Việc giải quyết vụ án nhanh chóng, hợp tình, hợp lý sẽ củng

cố niềm tin của nhân dân vào cơ quan nhà nước; là tiêu chí để đánh giá năng lực của các cán bộ tòa án Bên cạnh đó, công tác hòa giải sẽ giúp đương sự hiểu biết hơn về pháp luật, về quyền và nghĩa vụ của mình; biết thông cảm, sẻ chia cho nhau, khôi phục lại tình đoàn kết giữa họ, giúp họ giải quyết tranh chấp với tinh thần cởi mở, ngăn chặn kịp thời những hành vi phạm tội

1.2 Một số quan niệm về hòa giải, đối thoại trong hệ thống pháp luật tố tụng Việt Nam

1.2.1 Khái niệm hòa giải trong hệ thống pháp luật tố tụng Việt Nam

Trong hệ thống pháp luật về tố tụng Việt Nam, thuật ngữ “hòa giải” được sử dụng trong tố tụng dân sự và tố tụng trọng tài, còn thuật ngữ “đối thoại” được sử dụng trong tố tụng hành chính

Theo Từ điển tiếng Việt của Nhà xuất bản Khoa học Xã hội “hòa giải” là hành vi thuyết phục các bên đồng ý chấm dứt xung đột hoặc xích mích một cách ổn thỏa Pháp luật Việt Nam không đưa ra định nghĩa về “hòa giải” nhưng theo một số nhà nghiên cứu thì “hoà giải” là một quá trình có giá trị xã hội cao để điều chỉnh quan hệ giữa các bên có tranh chấp ngay cả khi các tranh chấp đó liên quan đến quyền và nghĩa vụ pháp lý Hòa giải là phương pháp để tăng cường sự hòa hợp lẫn nhau chứ không làm tăng thêm sự căng thẳng, đối đầu giữa họ; “hòa giải” (Conciliation) là một phương thức giải quyết tranh chấp với sự giúp đỡ của một bên thứ ba trung lập, các bên tranh chấp tự nguyện

Trang 9

thỏa thuận giải quyết tranh chấp phù hợp với quy định của pháp luật, truyền thống đạo đức xã hội Mặc dù có nhiều điểm giống nhau với “hòa giải”, nhưng “trung gian” (Mediation) thuộc nhóm biện pháp hỗ trợ do một bên thứ ba đứng độc lập đóng vai trò là chất xúc tác, kết nối các bên tranh chấp, định hướng giao tiếp tích cực giữa các bên tranh chấp Còn “hòa giải” mang tính chỉ dẫn tuân thủ pháp luật và can thiệp nhiều hơn vào giải quyết về mặt nội dung tranh chấp so với “trung gian” Hòa giải viên có thể còn tư vấn cho các bên về các vấn đề pháp lý liên quan đến tranh chấp và thậm chí có thể đi xa hơn bằng đề xuất phương hướng giải quyết Từ đó có thể hiểu “hòa giải” trong pháp luật

tố tụng dân sự Việt Nam là việc Thẩm phán nhân danh Nhà nước tự mình hoặc phối hợp với tổ chức, cá nhân khác giúp đỡ các bên tranh chấp thỏa thuận giải quyết tranh chấp một cách tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội

1.2.2 Khái niệm về đối thoại trong hệ thống pháp luật tố tụng Việt Nam

Pháp luật Việt Nam hiện hành cũng không đưa ra định nghĩa về “đối thoại” Theo

Từ điển Tiếng Việt thì “đối thoại” là nói chuyện qua lại giữa hai hay nhiều người với

nhau Cuốn đại từ điển Tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên định nghĩa “đối thoại” là bàn bạc, thương lượng giữa hai bên hoặc các bên có vấn đề tranh chấp Ngoài thuật ngữ

“đối thoại” thì trên thế giới hiện nay còn tồn tại khái niệm “điều đình” như trong hệ thống pháp luật dân sự Nhật Bản “Điều đình” có nhiều điểm tương đồng với “đối thoại”, như

“điều đình” được xem như là một phương pháp giải quyết vụ việc dân sự tại Tòa án bên cạnh phương pháp tố tụng Trong “điều đình” việc nghe đương sự hai bên trình bày là tất nhiên Ngoài ra, có thể điều tra chứng cứ nếu cần thiết, qua đó dựa vào đối thoại và lý giải giữa các bên, có thể giải quyết rắc rối một cách êm thấm, phù hợp với tình thế

Như vậy, có thể hiểu “đối thoại” trong pháp luật tố tụng hành chính Việt Nam là việc Thẩm phán nhân danh Nhà nước tự mình hoặc phối hợp với tổ chức, cá nhân khác cùng hoặc hướng dẫn các bên tranh chấp bàn bạc, thương lượng để các bên thống nhất với nhau về việc giải quyết tranh chấp một cách tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội

1.2.3 Đặc điểm hòa giải, đối thoại

Từ những quan điểm nhìn nhận về hòa giải, đối thoại nêu trên, chúng ta có thể rút ra một số đặc điểm cơ bản về hòa giải, đối thoại trong tố tụng như sau:

Hòa giải: Là một biện pháp giải quyết tranh chấp; chủ thể trung tâm của hòa giải là

Thẩm phán giúp cho các bên tranh chấp thỏa thuận với nhau về giải quyết tranh chấp; Thẩm phán phải độc lập với các bên và hoàn toàn không có lợi ích liên quan đến tranh chấp; Thẩm phán không đại diện cho quyền lợi của bất cứ bên nào và không được đưa ra phán quyết trong quá trình hòa giải; sự điều chỉnh, thỏa thuận về giải quyết các tranh chấp phải do chính các bên tranh chấp quyết định[8]; các thỏa thuận, thống nhất từ kết quả của quá trình hòa giải là sự tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội

Đối thoại: Là một biện pháp giải quyết tranh chấp; chủ thể trung tâm của đối thoại

Trang 10

trong đối thoại, nhưng Thẩm phán không đại diện cho quyền lợi của bất cứ bên nào và không được đưa ra phán quyết trong quá trình đối thoại; Thẩm phán là người cùng các bên bàn bạc hoặc hướng dẫn các bên bàn bạc, thương lượng; sự điều chỉnh, thỏa thuận về giải quyết các tranh chấp phải do chính các bên tranh chấp quyết định; các thỏa thuận, thống nhất từ kết quả của quá trình đối thoại là sự tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội

1.2.4 Vai trò của Thẩm phán trong quá trình hòa giải, đối thoại

Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm Thẩm phán tiến hành hòa giải, đối thoại để các đương sự thỏa thuận, thống nhất với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án không được hòa giải/đối thoại hoặc không tiến hành hòa giải/đối thoại được Thẩm phán

là người được Nhà nước giao giải quyết các vụ việc dân sự, hành chính và nhân danh Nhà nước tiến hành hòa giải, đối thoại Khi tiến hành hòa giải, đối thoại Thẩm phán có vai trò trung gian Thẩm phán phân tích cho các đương sự biết mục đích, ý nghĩa của hòa giải, đối thoại để họ vận dụng vào trường hợp cụ thể của mình Hòa giải, đối thoại thành giúp giải quyết triệt để, hiệu quả các tranh chấp, khiếu kiện hành chính mà không phải

mở phiên tòa xét xử; tiết kiệm chi phí, thời gian, công sức của đương sự và Nhà nước; tạo thuận lợi cho việc thi hành án, vì phần lớn quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự được tự nguyện thi hành; hạn chế việc kháng cáo, kháng nghị; nâng cao tỷ lệ và rút ngắn thời gian giải quyết vụ án Kết quả hòa giải còn có ý nghĩa làm rõ yêu cầu, tình tiết, quan hệ tranh chấp giữa các đương sự nhằm giải quyết đúng đắn vụ án trong trường hợp phải mở phiên tòa xét xử; từ đó nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Tòa án Đồng thời, hòa giải góp phần hàn gắn những rạn nứt, ngăn ngừa các tranh chấp trong tương lai giữa các đương sự; nâng cao ý thức pháp luật của người dân; giữ gìn ổn định trật tự xã hội, tạo sự đồng thuận và xây dựng khối đoàn kết trong nhân dân

Vì vậy, khi hòa giải Thẩm phán đóng vai trò là “hòa giải viên”, khi tiến hành đối thoại Thẩm phán đóng vai trò là “đối thoại viên” Trong giai đoạn hiện nay, thực hiện Chỉ thị số 04/2017/CT-CA, ngày 03 tháng 10 năm 2017 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về tăng cường công tác hòa giải tại Tòa án nhân dân, vai trò của Thẩm phán trong hòa giải, đối thoại lại càng được đề cao hơn nữa Tuy nhiên, không vì áp lực chỉ tiêu hòa

giải: Phấn đấu số lượng vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao

động được hòa giải thành so với số lượng vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động mà Tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết trong một năm đạt tỷ

lệ từ 60% trở lên; 01 vụ án hòa giải thành được tính chỉ tiêu thi đua bằng 02 vụ án đã xét

xử mà Thẩm phán lại bằng “mọi cách” để vụ án hòa giải thành Thẩm phán là người chủ

trì các buổi hòa giải, đối thoại nhưng không đồng nghĩ với việc ý kiến, quan điểm của Thẩm phán trong khi hòa giải, đối thoại là quan trọng và bắt buộc với các đương sự vì ý kiến, quan điểm đó nếu không được các đương sự chấp thuận thì không thể đạt được hòa giải, đối thoại thành Do vậy, Thẩm phán phải giúp các bên tranh chấp hiểu biết lẫn nhau, thông cảm, ngồi lại với nhau để cùng thiện chí giải quyết vấn đề của họ, làm sao để các bên cùng cố gắng điều hòa những ý kiến bất đồng, giữ gìn cục diện ổn định

Trang 11

1.3 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của chế định hòa giải

1.3.1 Giai đoạn từ 1945 đến 1989

Trong thời kỳ này do chúng ta chưa thể xây dựng được các văn bản pháp luật mới nên Sắc lệnh ngày 10/10/1945 quy định: cho đến khi xây dựng được bộ luật mới thì những luật lệ cũ vẫn tạm thời được sử dụng nếu không trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính thể Cộng hòa Như vậy, trong giai đoạn này, vấn đề hòa giải vẫn

áp dụng theo các quy định của chế độ cũ

Văn bản pháp luật đầu tiên quy định về hòa giải là Sắc lệnh số 13 ngày 21/1/1946

về tổ chức Tòa án, trong đó quy định “ Ban tư pháp xã có quyền hòa giải tất cả các việc dân sự và thương mại Nếu hòa giải được Ban tư pháp xã có thể lập biên bản hòa giải có

ủy viên và những đương sự ký”

Điều 4 Sắc lệnh số 51/SL ngày 17/4/1946 quy định rằng biên bản hòa giải thành chỉ

có hiệu lực tư chứng thư Tại điều 12 Sắc lệnh số 51/SL quy định “ những việc kiện dân

sự và thương mại thuộc thẩm quyền của Tòa án đệ nhị cấp đều phải giao trước về ông thẩm phán sơ cấp hòa giải”

Điều 9 Sắc lệnh 85/SL ngày 22/5/1950 về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng quy định “ Tòa án nhân dân hoà giải tất cả các vụ kiện về dân sự và thương mại kể cả việc xin ly dị trừ những vụ kiện mà theo luật pháp đương sự không có quyền điều đình” Theo điều 10 của Sắc lệnh này biên bản hòa giải thành là một công chứng thư có thể đem chấp hành ngay Tuy nhiên cho đến lúc biên bản hòa giải được chấp hành xong nếu Biện

lý xét thấy biên bản ấy xâm phạm đến trật tự chung thì có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền sửa đổi hoặc bác bỏ điều hai bên thỏa thuận hạn kháng cáo là 15 ngày tròn kể từ ngày phòng Biện lý nhận được biên bản hòa giải thành

Như vậy, các văn bản pháp luật quy định về hòa giải trong giai đoạn này chúng ta thấy nổi bật một số vấn đề sau:

Thứ nhất, về thẩm quyền hòa giải Cơ quan có thẩm quyền hòa giải là Ban Tư pháp

xã và Tòa án nhân dân cấp Huyện các vụ án phải hòa giải là tất cả các vụ án về dân sự, thương mại và ly hôn, trừ những việc không được hòa giải

Thứ hai, về hiệu lực của hòa giải Biên bản hòa giải do Ban Tư pháp xã lập có hiệu lực tu chứng thư Biên bản hòa giải thành do Tòa án có hiệu lực là một công chứng thư,

có thể đem ra thi hành ngay Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được biên bản hòa giải thành, phòng biện lý có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án sửa đổi hoặc bác bỏ những điều hai bên đã thỏa thuận, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Như vậy, đặc trưng của pháp luật về hòa giải trong giai đoạn này là Tòa án không ra quyết định mà chỉ lập biên bản hòa giải thành, đồng thời chỉ có phòng Biện lý và người

có liên quan có quyền kháng cáo còn nguyên đơn không có quyền này

Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 1960 và thông tư số 1080 ngày 25/9/1961 đã quy định Tòa án nhân dân huyện ngoài nhiệm vụ hòa giải thì còn có nhiệm vụ xây dựng và hướng dẫn các tư pháp xã thực hiện hòa giải, dàn xếp các đương sự và nhân dân

Trang 12

Có thể thấy rằng, trong giai đoạn này thành tựu đạt được là hòa giải đã được coi là một thủ tục bắt buộc trong quá trình giải quyết vụ án dân sự Nhưng do đất nước trong tình trạng chiến tranh, chế định hòa giải chưa có điều kiện hoàn thiện nên vẫn còn bộc lộ rất nhều hạn chế, bất cập lớn nhất là Tòa án chỉ lập biên bản hòa giải thành mà không ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự nên kết quả hòa giải không có hiệu lực bắc buộc các bên phải thi hành, dẫn đến nhiều trường hợp Tòa án vẫn phải mở phiên tòa xét xử sau khi đã lập biên bản hòa giải thành do các bên không tự nguyện thi hành thỏa thuận hoặc các bên tự ý thay đổi thỏa thuận

Để khắc phục những bất cập trên, ngày 30/11/1974, TANDTC đã ra Thông tư số 25-TATC hướng dẫn việc hòa giải trong tố tụng dân sự Thông tư đã quy định thẩm quyền, trình tự, phương pháp hòa giải các vụ án dân sự Thông tư này đã đánh dấu một bước phát triển quan trọng của chế định hòa giải, đáp ứng được yêu cầu cấp thiết cho Tòa

án tiến hành hòa giải để giải quyết vụ án đạt hiệu quả cao

Năm 1975, đất nước hoàn toàn thống nhất các văn bản pháp luật trong giai đoạn này đã được nâng cao không chỉ về mặt nội dung mà cả về hình thức, hiệu lực pháp lý

Về lĩnh vực hòa giải các vụ án dân sự cũng được hướng dẫn cụ thể trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật như:

Thông tư số 81-TAND ngày 24/7/1981 của TANDTC hướng dẫn Tòa án địa phương giải quyết các tranh chấp về thừa kế

Thông tư số 02-TTLT ngày 02/10/1985 hướng dẫn thực hiện thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân về một số việc trong lao động

Thông tư số 06-TTLN ngày 30/12/1986 của TANDTC, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp hướng dẫn về thẩm quyền và thủ tục giải quyết ly hôn giữa công dân Việt Nam và một bên công dân nước ngoài chưa có hiệp định tương trợ tư pháp về vấn đề hôn nhân và giai đình với Việt Nam Theo hướng dẫn thông tư này thì đối với những việc

ly hôn, Tòa án không hòa giải

1.3.2 Giai đoạn từ 1989 đến 2004

Ngày 29/12/1989 Nhà nước ta ban hành PLTTGQCVADS, đây là văn bản pháp luật quy định cụ thể, chi tiết nhất từ trước đến nay về thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, trong đó hòa giải được ghi nhận là một nguyên tắc, một hoạt động bắt buộc mà Tòa án phải tiến hành trong quá trình giải quyết vụ án

Bên cạnh đó, TANDTC và các cơ quan có liên quan đã ban hành nhiều văn bản để hướng dẫn việc thực hiện các quy định trong pháp lệnh:

Nghị quyết 03/HĐBT ngày 19/10/1990 của TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của PLTTGQCVADS, trong đó hướng dẫn về thủ tục, phạm vi hòa giải

Công văn số 130/NCPL ngày 18/4/1991 của TANDTC về giải thích hiệu lực thi hành của pháp lệnh; công văn số 124/KHXX ngày 31/10/1997 của TANDTC trả lời về thủ tục hòa giải; công văn số 43/KHXX ngày 21/4/1988 của TANDTC trả lời về tố tụng dân sự

1.3.3 Giai đoạn 2005 đến 2015

Trang 13

Với các văn bản pháp luật quy định về hòa giải đã nêu thì các quy định này chưa có tính hệ thống, nằm rải rác ở nhiều văn bản, nhiều điều khoản khác nhau của các văn bản

Do vậy, trước yêu cầu phát riển của đời sống kinh tế xã hội, việc hoàn thiện và hệ thống các quy định của hòa giải nói riêng và của pháp luật tố tụng dân sự nói chung là một đòi hỏi cần thiết

Ngày 15/06/2004, BLTTDS đã được thông qua khắc phục những tồn tại và bất cập của các quy định về hòa giải các vụ án dân sự, thống nhất về trình tự và thủ tục hòa giải các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động

1.3.4 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015

Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 số 92/2015/QH13 được Quốc hội trong kỳ họp Khóa

10 thông qua ngày 25/11/2015 và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/07/2016 (trừ các quy định cụ thể hóa các quy định mới có liên quan của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì có hiệu lực từ ngày 01/01/2017) Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 bao gồm các quy định những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự; trình tự, thủ tục khởi kiện để Tòa án nhân dân giải quyết các vụ án về tranh chấp dân sự và nhiều điểm mới cập nhật thay cho Bộ luật

Tố tụng Dân sự số 24/2004/QH11 và Luật Tố tụng Dân sự số 65/2011/QH12 sửa đổi năm

2011

Và cho đến nay, BLTTDS 2015 ra đời góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; giáo dục mọi người nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật

1.4 Nguyên tắc tiến hành hòa giải vụ án dân sự

Căn cứ theo Khoản 2, Điều 205 BLTTDS 2015, hòa giải bao gồm hai nguyên tắc sau:

Thứ nhất, Tôn trọng sự tự nguyện thoả thuận của các đương sự, không được dùng

vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thoả thuận không phù hợp với ý chí của mình

Sự tự nguyện của các đương sự là nguyên tắc cơ bản về hòa giải các vụ án dân sự nguyên tắc này xuất phát từ nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự Chỉ các đương

sự là người có quyền và lợi ích tranh chấp mới có quyền tự định đoạt về tranh chấp của

họ sự tự nguyện của đương sự về hòa giải là sự tự nguyện tham gia hòa giải và thỏa thuận về giải quyết vụ án Pháp luật tố tụng dân sự quy ðịnh trách nhiệm hòa giải của Tòa

án để giúp các đương sự thỏa thuận với nhau giải quyết vụ án, nhưng không có nghĩa là bắt buộc các đương sự phải hòa giải mà chỉ tạo các điều kiện để các đương sự hòa giải với nhau Trong quá trình hòa giải, Tòa án với vai trò trung gian giúp các đương sự hiểu

về quyền và nghĩa vụ liên quan tới các tranh chấp, tự nguyện thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ án Tòa án không được can thiệp vào thỏa thuận của các đương sự nếu nội dung thỏa thuận đó không trái pháp luật, đồng thời cũng không được để các đương sự biết về phương hướng giải quyết vụ án nếu phải đưa ra xét xử

Trang 14

Thứ hai, Nội dung thoả thuận giữa các đương sự không vi phạm điều cấm của luật,

không trái đạo đức xã hội

Nhà nước chỉ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, do đó mọi sự thỏa thuận trái pháp luật đều không có giá trị pháp lý Tòa án nhân danh nhà nước chỉ có thể công nhận những thỏa thuận đó không phù hợp với quy định của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội thì thỏa thuận đó cũng không được công nhận mặt khác là một hoạt động tố tụng, hòa giải chỉ được tiến hành trên cơ sở của pháp luật và mọi sự thỏa thuận về giải quyết vụ án phải phù hợp với quy định của pháp luật

1.5 Phạm vi hòa giải vụ án dân sự

Khoản 1, Điều 205 BLTTDS 2015 quy định: “Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ

thẩm vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được quy định tại Điều 206 và Điều 207 của Bộ luật này hoặc vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn.”

Do vậy, hòa giải được tiến hành với hầu hết các vụ án dân sự, trừ những trường hợp không hòa giải được hoặc pháp luật quy định không được hòa giải

1.5.1 Những vụ án dân sự không được hòa giải

Những trường hợp tòa án không được hòa giải được quy định tại Điều 206 BLTTDS 2015

Yêu cầu đòi bồi thường gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước: Theo đó, mọi

hành vi gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước đều là trái pháp luật và buộc phải bồi thường Người gây thiệt hại không có quyền điều chỉnh, thương lượng với Nhà nước về mức độ bồi thường và bồi thường như thế nào Mặt khác, pháp luật cũng phòng ngừa trường hợp những cá nhân đại diện cho Nhà nước đang quản lý, sử dụng tài sản của Nhà nước, lợi dụng quyền đó để tùy tiện thương lượng với bên gây thiệt hại hoặc móc ngoặc với bên gây thiệt hại làm thất thoát tài sản của Nhà nước

Phần II mục 2.1 Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối caosố 02/2006/NQ-HĐTP (Nghị quyết 02/2006) ngày 12/5/2006 hướng dẫn thi hành một số

quy định của BLTTDS về “Thủ tục giải quyết vụ án tại toà án cấp sơ thẩm” đã có những

hướng dẫn cụ thể về phạm vi hòa giải đối với yêu cầu bồi đòi bồi thường gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước Theo đó, khi thi hành quy định tại khoản 1 điều 206 của BLTTDS 2015 cần phân biệt như sau:

Trường hợp tài sản của Nhà nước giao cho cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang quản

lý, sử dụng hoặc đầu tư vào doanh nghiệp nhà nước do Nhà nước thực hiện quyền sở hữu thông qua cơ quan có thẩm quyền thì khi có yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại đến loại tài sản này, tòa án không được hòa giải để các bên đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án;

Trường hợp tài sản của Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp nhà nước, góp vốn trong

các doanh nghiệp liên doanh có vốn đầu tư của các chủ sở hữu khác theo quy định của Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư mà doanh nghiệp được quyền tự chủ chiếm hữu, sử dụng

Trang 15

hoặc định đoạt tài sản và chịu trách nhiệm trước Nhà nước đối với tài sản đó trong hoạt động sản xuất kinh doanh thì khi có yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại đến tài sản đó, Tòa

án tiến hành hòa giải để các bên đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án theo thủ tục chung

Những vụ án dân sự phát sinh từ giao dịch trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội Đây chính là các giao dịch dân sự vô hiệu nên khi giải quyết vụ án này tòa án sẽ giải

quyết theo hướng tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu và giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu vì khi giao dịch dân sự vô hiệu thì về mặt pháp lý quyền và nghĩa vụ của các bên không được Nhà nước thừa nhận và bảo vệ nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải được

1.5.2 Những vụ án dân sự không tiến hành hòa giải được

Về nguyên tắc, Tòa án phải hòa giải vụ án dân sự trước khi đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 207 BLTTDS 2015 đối với những vụ án không tiến hành hòa giải được thì Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử Những vụ án không tiến hành hòa giải được bao gồm những trường hợp như sau:

Trường hợp thứ nhất, Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa

án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt

Trường hợp thứ hai, đương sự không thể tham gia hòa giải vì có lý do chính đáng Trong hai trường hợp trên, bị đơn là chủ thể bị động tham gia tố tụng và thường có ý thức trốn tránh Nếu bị đơn vắng mặt lần thứ nhất thì Tòa án sẽ phải hoãn phiên hòa giải Nếu triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì dù có lý do chính đáng hay không, Tòa án sẽ quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung Trong trường hợp phiên hòa giải có đơn yêu cầu Tòa án hoãn phiên tòa để tiến hành hòa giải thì Tòa án không chấp nhận, nhưng cần tạo điều kiện cho các bên thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án Những đương sự khác được pháp luật cho phép không tiến hành hòa giải nếu có lý do chính đáng Như vậy, việc có lý do chính đáng chỉ đặt ra đối với đương sự không là bị đơn Quy định này xuất phát từ vị trí tố tụng của mỗi đương sự trong vụ án

Trường hợp thứ ba, đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lực hành vi dân sự

Đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lực hành vi dân sự thì họ không thể thể hiện được ý chí của mình nên Tòa án cũng không tiến hành hòa giải Trường hợp thứ tư, Một trong các đương sự đề nghị không tiến hành hòa giải

Như vậy, những trường hợp không hòa giải được là trường hợp liên quan đến vắng mặt của đương sự và liên quan đến năng lực hành vi của đương sự Trong những trường hợp này nếu Tòa án cố tình hòa giải thì việc hòa giải cũng không đạt kết quả và mục đích của hòa giải

1.6 Thành phần và trình tự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải

1.6.1 Thành phần phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ

Trang 16

Theo Điều 209, Bộ luật TTDS 2015 quy định:

1 Thành phần tham gia phiên họp gồm có:

a) Thẩm phán chủ trì phiên họp;

b) Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên họp;

c) Các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của các đương sự;

d) Đại diện tổ chức đại diện tập thể lao động đối với vụ án lao động khi có yêu cầu của người lao động, trừ vụ án lao động đã có tổ chức đại diện tập thể lao động là người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho tập thể người lao động, người lao động Trường hợp đại diện tổ chức đại diện tập thể lao động không tham gia hòa giải thì phải có ý kiến bằng văn bản;

đ) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (nếu có);

e) Người phiên dịch (nếu có)

2 Trường hợp cần thiết, Thẩm phán yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan tham gia phiên họp; đối với vụ án về hôn nhân và gia đình, Thẩm phán yêu cầu đại diện

cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam tham gia phiên họp; nếu họ vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành phiên họp

3 Trong vụ án có nhiều đương sự mà có đương sự vắng mặt, nhưng các đương sự

có mặt vẫn đồng ý tiến hành phiên họp và việc tiến hành phiên họp đó không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì Thẩm phán tiến hành phiên họp giữa các đương sự có mặt; nếu các đương sự đề nghị hoãn phiên hòa giải để có mặt tất cả các đương sự trong vụ án thì Thẩm phán phải hoãn phiên họp Thẩm phán phải thông báo việc hoãn phiên họp và việc mở lại phiên họp cho đương sự

Những chủ thể này sau khi được thẩm phán hướng dẫn và nghe giải thích pháp luật

có liên quan đến vụ án đang tranh chấp thì họ sẽ tiến hành lần lược phát biểu quan điểm của mình về vấn đề đang tranh chấp và đưa ra định hướng giải quyết So với quy định của pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, chủ thể tham gia hòa giải được quy định trong BLTTDS đầy đủ và hợp lý hơn Ngoài các bên đương sự như quy định tại pháp lệnh, bộ luật đã quy định cụ thể về việc tham gia của người đại diện hợp pháp trong hòa giải Quy định này của Bộ luật xác định chính xác địa vị pháp lý của người đại diện, mang tính thống nhất với các quy định về người đại diện của những phần khác trong Bộ luật Bên cạnh đó, sự tham gia của người phiên dịch khi cần thiết là một quy định mới, hợp lý thể hiện sự khái quát hóa từ thực tế thành quy định trong luật

1.6.2 Trình tự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải

Theo Điều 210, Bộ luật TTDS quy định:

1 Trước khi tiến hành phiên họp, Thư ký Tòa án báo cáo Thẩm phán về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên họp đã được Tòa án thông báo Thẩm phán chủ trì phiên họp kiểm tra lại sự có mặt và căn cước của những người tham gia, phổ biến cho các đương sự về quyền và nghĩa vụ của họ theo quy định của Bộ luật này

Trang 17

2 Khi kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Thẩm phán công bố tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, hỏi đương sự về những vấn đề sau đây:

a) Yêu cầu và phạm vi khởi kiện, việc sửa đổi, bổ sung, thay đổi, rút yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập; những vấn đề đã thống nhất, những vấn đề chưa thống nhất yêu cầu Tòa án giải quyết;

b) Tài liệu, chứng cứ đã giao nộp cho Tòa án và việc gửi tài liệu, chứng cứ cho đương sự khác;

c) Bổ sung tài liệu, chứng cứ; yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ; yêu cầu Tòa án triệu tập đương sự khác, người làm chứng và người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa;

d) Những vấn đề khác mà đương sự thấy cần thiết

3 Sau khi các đương sự đã trình bày xong, Thẩm phán xem xét các ý kiến, giải

quyết các yêu cầu của đương sự quy định tại khoản 2 Điều này Trường hợp người được Tòa án triệu tập vắng mặt thì Tòa án thông báo kết quả phiên họp cho họ

4 Thủ tục tiến hành hòa giải được thực hiện như sau:

a) Thẩm phán phổ biến cho các đương sự về các quy định của pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án để các đương sự liên hệ đến quyền, nghĩa vụ của mình, phân tích hậu quả pháp lý của việc hòa giải thành để họ tự nguyện thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án;

b) Nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trình bày nội dung tranh chấp, bổ sung yêu cầu khởi kiện; những căn cứ để bảo vệ yêu cầu khởi kiện và đề xuất quan điểm về những vấn đề cần hòa giải, hướng giải quyết vụ án (nếu có);

c) Bị đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, yêu cầu phản tố (nếu có); những căn cứ để phản đối yêu cầu của nguyên đơn; những căn cứ để bảo vệ yêu cầu phản tố của mình và đề xuất quan điểm về những vấn đề cần hòa giải, hướng giải quyết vụ án (nếu có);

d) Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn; trình bày yêu cầu độc lập của mình (nếu có); những căn cứ để phản đối yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn; những căn cứ để bảo vệ yêu cầu độc lập của mình và đề xuất quan điểm về những vấn đề cần hòa giải, hướng giải quyết vụ án (nếu có);

đ) Người khác tham gia phiên họp hòa giải (nếu có) phát biểu ý kiến;

e) Sau khi các đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trình bày hết ý kiến của mình, Thẩm phán xác định những vấn đề các đương sự đã thống nhất, chưa thống nhất và yêu cầu các đương sự trình bày bổ sung về những nội dung chưa rõ, chưa thống nhất;

g) Thẩm phán kết luận về những vấn đề các đương sự đã thống nhất, chưa thống nhất

Tất cả những vấn đề trên được thư ký tòa án ghi vào biên bản hòa giải với những

Trang 18

chỉ của các đương sự có mặt trong phiên hòa giải, chữ ký của thư ký Tòa án và của thẩm phán chủ trì phiên tòa

1.7 Các quyết định của Tòa án dựa trên kết quả hòa giải

1.7.1 Quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự

Theo (Điều 212, Bộ luật TTDS 2015) quy định:

1 Hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đương

sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó thì Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công phải ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự, Tòa án phải gửi quyết định đó cho các đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp

2 Thẩm phán chỉ ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự nếu các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án

3 Trong trường hợp quy định tại (khoản 4 Điều 210) của Bộ luật này mà các đương

sự có mặt thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án thì thoả thuận đó chỉ có giá trị đối với những người có mặt và được Thẩm phán ra quyết định công nhận nếu không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt Trường hợp thoả thuận của họ

có ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì thoả thuận này chỉ có giá trị và được Thẩm phán ra quyết định công nhận nếu được đương sự vắng mặt tại phiên hòa giải đồng ý bằng văn bản

Trong trường hợp các đương sự chỉ thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết một phần vụ án, còn phần khác không thỏa thuận được thì Toà án ghi những vấn đề mà các đương sự thỏa thuận được và những vấn đề không thỏa thuận được vào biên bản hòa giải theo qui định tại (điều 211 của BLTTDS 2015) và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, trừ trường hợp có căn cứ để tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án

1.7.2 Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự

Theo (Điều 214, Bộ luật TTDS 2015) quy định:

1 Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Đương sự là cá nhân đã chết, cơ quan, tổ chức đã hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể mà chưa có cơ quan, tổ chức, cá nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó;

b) Đương sự là cá nhân mất năng lực hành vi dân sự, người chưa thành niên mà chưa xác định được người đại diện theo pháp luật;

c) Chấm dứt đại diện hợp pháp của đương sự mà chưa có người thay thế;

d) Cần đợi kết quả giải quyết vụ án khác có liên quan hoặc sự việc được pháp luật quy định là phải do cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước mới giải quyết được vụ án;

Trang 19

đ) Cần đợi kết quả thực hiện ủy thác tư pháp, ủy thác thu thập chứng cứ hoặc đợi cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án mới giải quyết được vụ án;

e) Cần đợi kết quả xử lý văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên mà Tòa án đã có văn bản kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ;

g) Theo quy định tại Điều 41 của Luật phá sản;

h) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật

2 Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết

vụ án dân sự, Tòa án phải gửi quyết định đó cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện và Viện kiểm sát cùng cấp

1.7.3 Quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự

Theo Điều 216, Bộ luật TTDS 2015 quy định:

Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày lý do tạm đình chỉ giải quyết vụ án quy định tại (Điều 214 của Bộ luật này) không còn thì Tòa án phải ra quyết định tiếp tục giải

quyết vụ án dân sự và gửi quyết định đó cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi

kiện, Viện kiểm sát cùng cấp

Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự hết hiệu lực kể từ ngày ban hành quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án kể từ khi ban hành quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự

1.7.4 Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự

Theo (Điều 217, Bộ luật TTDS 2015) quy định:

1 Sau khi thụ lý vụ án thuộc thẩm quyền của mình, Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong các trường hợp sau đây:

a) Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế;

b) Cơ quan, tổ chức đã bị giải thể, phá sản mà không có cơ quan, tổ chức, cá nhân nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó;

c) Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trường hợp họ đề nghị xét xử vắng mặt hoặc vì

sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan;

d) Đã có quyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã

là một bên đương sự trong vụ án mà việc giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa vụ, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó;

đ) Nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này

Trường hợp bị đơn có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có

Trang 20

theo quy định của Bộ luật này thì Tòa án đình chỉ việc giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

e) Đương sự có yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án,

quyết định giải quyết vụ án và thời hiệu khởi kiện đã hết;

g) Các trường hợp quy định tại( khoản 1 Điều 192) của Bộ luật này mà Tòa án đã thụ lý;

h) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật

2 Trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc đã được triệu tập hợp

lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, không đề nghị xét xử vắng mặt và trong vụ án đó có bị đơn yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

có yêu cầu độc lập thì giải quyết như sau:

a) Bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan rút toàn bộ yêu cầu độc lập thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án;

b) Bị đơn không rút hoặc chỉ rút một phần yêu cầu phản tố thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; bị đơn trở thành nguyên đơn, nguyên đơn trở thành bị đơn;

c) Bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không rút hoặc chỉ rút một phần yêu cần độc lập thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trở thành nguyên đơn, người nào bị khởi kiện theo yêu cầu độc lập trở thành bị đơn

3 Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, xóa tên vụ án đó trong sổ thụ lý và trả lại đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ kèm theo cho đương sự nếu có yêu cầu; trong trường hợp này, Tòa án phải sao chụp và lưu lại để làm cơ sở giải quyết khiếu nại, kiến nghị khi có yêu cầu

Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, Tòa án phải gửi quyết định đó cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện

và Viện kiểm sát cùng cấp

4 Đối với vụ án được xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm sau khi có quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm mà Tòa án quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án thì Tòa án đồng thời phải giải quyết hậu quả của việc thi hành án, các vấn đề khác có liên quan (nếu có); trường hợp nguyên đơn rút đơn khởi kiện hoặc đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì việc đình chỉ giải quyết vụ án phải có sự đồng ý của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

1.7.5 Quyết định đưa vụ án ra xét xử

Theo (Điều 220, Bộ luật TTDS 2015) quy định:

Khi việc hòa giải vụ án không đạt được kết quả và không có căn cứ để tạm đình chỉ hoặc đình chỉ giải quyết vụ án thì tòa án lập biên bản hòa giải không thành và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có thẩm quyền ra

Trang 21

quyết định này và quyết định đưa vụ án ra xét xử phải có các nội dung theo qui định tại (Khoản 1, Điều 220, BLTTDS 2015)

Đồng thời, theo (Khoản 2, Điều 220, BLTTDS 2015) thì Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải được gửi cho đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định

Trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa theo quy định tại (khoản 2 Điều 21 của Bộ luật này) thì Tòa án phải gửi hồ sơ vụ án cùng quyết định đưa vụ án ra xét xử cho Viện kiểm sát cùng cấp; trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Viện kiểm sát phải nghiên cứu và trả lại hồ sơ cho Tòa án

1.8 Những điểm mới về hòa giải trong BLTTDS 2015

Cho đến nay, BLTTDS 2015 khắc phục những tồn tại và bất cập của các quy định về hòa giải các vụ án dân sự, thống nhất về trình tự và thủ tục hòa giải các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động BLTTDS 2015 ra đời góp phần bảo vệ công lý, bảo

vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; giáo dục mọi người nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật Sau đây là một vài điểm mới của BLTTDS 2015:

1.8.1 Những vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án (Mục 1 từ Điều 26 đến Điều 34 )

Tất cả 9 điều ở mục này đều được sửa đổi bổ sung:

a) Sửa đổi bổ sung thẩm quyền vụ việc dân sự cho phù hợp với các luật và bộ luật khác đã quy định:

Những tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Trong đó bổ sung:

Yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án

Đối với tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động nói chung phải thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi khởi kiện; Tòa án chỉ thụ lý giải quyết khi: hòa giải thành nhưng các bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, hòa giải không thành hoặc không hòa giải trong thời hạn do pháp luật quy định

Riêng các tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động không bắt buộc hòa giải trước khi khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

1.8.2 Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ

Đối với vụ án dân sự thuộc thẩm quyền theo lãnh thổ cơ bản giữ nguyên như BLTTDS 2011, chỉ sửa đổi thẩm quyền đối với đối tượng tranh chấp là bất động sản “thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết” Việc sửa đổi này nhằm khắc phục hạn chế do BLTTDS 2011 quy định không rõ nên hiểu khác nhau về thẩm quyền Tòa án khi bị đơn ở “nơi này” bất động sản tranh chấp thì ở “nơi kia” thì thuộc về thẩm quyền của Tòa án nơi bị đơn cư trú hay Tòa án nơi có bất động sản là đối tượng tranh chấp;

Trang 22

năm 2015 đã quy định; so với BLTTDS năm 2011 có những điểm mới bổ sung như sau: Tòa án nơi người yêu cầu cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án;

1.8.3 Về hòa giải và chuẩn bị xét xử (Chương 13)

Có 19 điều (từ Điều 203 đến Điều 221); trong đó mới 2 điều, sửa đổi 17 điều

1.8.4 Thời hạn và nhiệm vụ quyền hạn của Thẩm phán trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm

Ngoài giữ nguyên thời gian chuẩn bị xét xử như BLTTDS 2011 quy định, BLTTDS năm 2015 đã bổ sung quy định như sau:

a) Trường hợp có quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án thì thời hạn chuẩn

bị xét xử được tính lại kể từ ngày quyết định tiếp tục giải quyết vụ án của Tòa án có hiệu lực pháp luật

b) Thẩm phán thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

Lập hồ sơ vụ án;

Xác định tư cách đương sự, người tham gia tố tụng khác;

Xác định quan hệ tranh chấp giữa các đương sự và pháp luật cần áp dụng;

Làm rõ những tình tiết khách quan của vụ án;

Xác minh, thu thập chứng cứ theo quy định ;

Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời ( nếu có);

Tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của Bộ luật này, trừ trường hợp vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn; Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của BLTTDS

1.8.5 Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải

Để bảo đảm mọi chứng cứ được công khai, các đương sự đều biết biết các tài liệu

chứng cứ của vụ án để thực hiện quyền tranh tụng, cho nên ngoài việc quy định nghĩa vụ của đương sự khi giao nộp tài liệu chứng cứ cho Tòa án thì phải gửi bản sao cho đương

sự khác, BLTTDS năm 2015 còn quy định phải có phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử Tuy nhiên để hạn chế việc phát sinh thêm thủ tục không cần thiết, nên đã ghép phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ với phiên hòa giải Trường hợp vụ án dân sự không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được thì Thẩm phán tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ mà không tiến hành hòa giải

Đối với vụ án hôn nhân và gia đình liên quan đến người chưa thành niên, để bảo đảm giải quyết vụ án thật sự “thấu lý, đạt tình”, bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ

và trẻ em, BLTTDS năm 2015 quy định trước khi mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải giữa các đương sự thì Thẩm phán, Thẩm tra viên được Chánh án Tòa án phân công phải thu thập tài liệu, chứng cứ để xác định nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp Khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán có thể tham khảo ý kiến của cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em về hoàn cảnh gia đình, nguyên nhân phát sinh tranh chấp và nguyện vọng của vợ, chồng,

Ngày đăng: 29/08/2021, 08:15

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w