Điều này được thể hiện ở chỗ họ đưa ra quan điểm sự giàu có không phải là giá trị sử dụng mà là giá trị tiền.Mục đích hoạt động của kinh tế hàng hoá thị trường là lợi nhuận.. Ông cho rằn
Trang 1ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
-*** -TIỂU LUẬN MÔN LỊCH SỬ CÁC HỌC THUYẾT KINH TẾ
LỢI NHUẬN TRONG NỀN KINH TẾ
THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM
Sinh viên thực hiện: Đỗ Quang Anh
Mã sinh viên: 1911150007 Lớp: Anh 06 – Khối 2 - CLC Kinh tế Khóa: 58
Lớp tín chỉ: KTEE301.2 Giáo viên hướng dẫn: TS Hoàng Hải
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU···3
NỘI DUNG 4
I NGUỒN GỐC VÀ BẢN CHẤT CỦA LỢI NHUẬN 4
1 Quan điểm của trường phái trọng thương về lợi nhuận 4
2 Quan điểm của trường phái cổ điển về lợi nhuận 4
3 Học thuyết của Mác-Lênin 6
II VAI TRÒ CỦA LỢI NHUẬN 11
1 Lợi nhuận trong nền kinh tế 11
2 Lợi nhuận trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam 17
KẾT LUẬN 22
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Năm 1986, Việt Nam chuyển cơ chế kinh tế từ kinh tế tập trung baocấp sang nền kinh tế thị trường Cùng với sự chuyển đổi sang cơ chế thịtrường một loạt những phạm trù mới xuất hiện khác hẳn với nền kinh tế tậptrung bao cấp trước đây đặc biệt là vấn đề lợi nhuận Chúng ta đã một thờicoi lợi nhuận là một cái gì đó xấu xa, là một phạm trù hoàn toàn xa lạ vớinền kinh tế xã hội chủ nghĩa Hiện nay nước ta đang vận hành nền kinh tếtheo cơ chế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước thì lợi nhuận làvấn đề trung tâm Nhà nước, doanh nghiệp, cá nhân khi bắt tay vào sảnxuất kinh doanh đều muốn thu lợi nhuận Lợi nhuận là mục đích của mọingành nghề, mọi nhà kinh doanh Lợi nhuận là phần thưởng cho sự laođộng, sáng tạo, năng động của con người trong qúa trình sản xuất kinhdoanh Lợi nhuận có vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế hiện nay.Yêu cầu đặt ra là chúng ta phải nắm rõ nguồn gốc, bản chất của các yếu tốđóng vai trò quyết định trong nền kinh tế hiện nay, đặc biệt là lợi nhuận
Xuất phát từ mục đích trên, em xin phép chọn đề tài: “Lợi nhuận
trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” Vì thời gian hoàn thành có
hạn cũng như vốn hiểu biết còn nông cạn và ít ỏi của mình, bài tiểu luậncủa em khó tránh khỏi những sai sót và khuyết điểm còn phải sửa đổi và bổsung Vì vậy em rất mong và trân trọng mọi ý kiến đóng góp của thầy để từ
đó em có thể củng cố được vốn hiểu biết của mình Em xin chân thành cảm
ơn thầy!
Trang 4NỘI DUNG
I NGUỒN GỐC VÀ BẢN CHẤT CỦA LỢI NHUẬN
1 Quan điểm của trường phái trọng thương về lợi nhuận
Chủ nghĩa trọng thương ra đời vào thời kỳ quá độ mà nền kinh tếphong kiến bước vào thời kỳ suy đồi và nền kinh tế tư bản chủ nghĩa bắtđầu hình thành Nó ra đời phản ánh những quan điểm kinh tế của chủ nghĩa
tư bản vào thời kỳ đầu tư bản vào thời kỳ tiền tư bản và nó được phát triểnrộng rãi ở các nước Tây âu Mặc dù thời kỳ này chưa biết đến quy luật kinh
tế trọng thương đã tạo ra nhiều tiền đề về kinh tế xã hội cho các lý luậnkinh tế thị trường sau này phát triển Điều này được thể hiện ở chỗ họ đưa
ra quan điểm sự giàu có không phải là giá trị sử dụng mà là giá trị tiền.Mục đích hoạt động của kinh tế hàng hoá thị trường là lợi nhuận “Họcthuyết kinh tế trọng thương cho rằng lợi nhuận là do lĩnh vực lưu thôngmua bán, trao đổi sinh ra Nó là kết quả của việc mua ít bán nhiều, mua rẻbán đắt mà có” Nhưng trong giai đoạn này các nhà kinh tế học chưa hiểuquan hệ giữa lưu thông hàng hoá và lưu thông tiền tệ Vì đó ở giai đoạn đầucủa thời kỳ này, các nước tư bản đã đưa ra các chính sách làm tăng của cảitiền tệ, giữ cho khối lượng tiền không ra nước ngoài, tập trung buôn bán đểnhà nước dễ kiểm tra, bắt buộc các thương nhân nước ngoài tập trung buônbán phải dùng số tiền mà họ có mua hết hàng hoá mang về nước họ, ở giaiđoạn sau họ dùng chính sách xuất siêu để có thêm chênh lệch, mang tiền ranước ngoài để thực hiện mua rẻ bán đắt
Với những chính sách đưa ra nhằm đạt được lợi ích như trên của cácnước tư bản chỉ mang tính chất bề mặt nông cạn Chứng tỏ quan điểm vềlợi nhuận cũng như kinh tế chưa có “chiều sâu” thực chất Chính điều này
đã dẫn đến nhiều mâu thuẫn trong nền kinh tế Đòi hỏi phải thoát khỏiphương pháp kinh nghiệm thuần tuý Phải phân tích kinh tế xã hội với tưcách là một chỉnh thể
2 Quan điểm của trường phái cổ điển về lợi nhuận.
Trong thời kỳ chủ nghĩa trọng thương, sự hoạt động của tư bản chủyếu là trong lĩnh vực lưu thông Các nhà kinh tế học của trường phái nàylần đầu tiên chuyển đối tượng nghiên cứu lĩnh vực lưu thông sang lĩnh vựcsản xuất Lần đầu tiên họ xây dựng một hệ thống các phạm trù và quy luậtcủa nền kinh tế thị trường như phạm trù lợi nhuận, địa tô, lợi tức trong đó
có một số quan điểm về lợi nhuận, nổi bật là quan điểm của Kene, A.DSmith, Ricacdo
Trang 5a Quan điểm của Kene.
Kene được C Mác đánh giá là cha đẻ của kinh tế chính trị học cổ điển
và ông có công lao to lớn trong lĩnh vực kinh tế Kene đã đặt nền tảng choviệc nghiên cứu sản phẩm tức là nền móng cho việc nghiên cứu quan hệthặng dư sau này Ông đã đưa ra những quan điểm kinh tế để tiến hành phêphán chủ nghĩa trọng thương Kene cho rằng trao đổi thương mại chỉ đơnthuần là việc đổi giá trị này lấy giá trị sử dụng khác theo nguyên tắc nganggiá cả Hai bên không có gì để mất hoặc được cả Bởi vậy thương nghiệpkhông thể đẻ ra tiền được Theo ông lợi nhuận thương nghiệp có được dotiết kiệm các khoản chi phí về thương mại và của cải chỉ có thể tạo ra trongviệc sản xuất nông nghiệp Chính quan điểm này đã chuyển việc nghiêncứu của cải từ lĩnh vực lưu thông sang lĩnh vực sản xuất Ngoài ra ông còn
có lý luận về sản phẩm thặng dư Ông cho rằng sản phẩm thặng dư chỉđược tạo ra sản xuất nông nghiệp kinh doanh theo kiểu tư bản chủ nghĩabởi vì trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp đã tạo ra được chất mới nhờ cóđược sự giúp đỡ của tự nhiên Đây là một quan điểm sai lầm Nhưng ôngcũng manh nha bước đầu tìm ra được nguồn gốc của giá trị thặng dư Ôngcho chi phí sản xuất là tiền lương, sản phẩm thuần tuý là số chênh lệch giữathu hoạch và tiền lương đó chính là phần do lao động thặng dư tạo ra
b Quan điểm của A.D.Smith
Ông cho rằng lợi nhuận là khoản khấu trừ thứ hai vào sản phẩm củangười lao động, chúng đều có chung nguồn gốc là lao động không được trảcông của công nhân Ông chỉ ra lợi tức là một bộ phận của lợi nhuận mànhà tư bản hoạt động bằng tiền đi vay phải trả cho chủ của nó để được sửdụng tư bản Ông đã nhìn thấy xu hướng bình quân hoá tỉ suất lợi nhuận và
xu hướng tỉ suất lợi nhuận giảm sút do khối lượng tư bản đầu tư tăng lên.Xuất phát từ sự phân tích giá trị hàng hoá do người công nhân tạo ra.A.D.Smith thấy một thực tế là công nhân chỉ nhận được một phần tiềnlương, phần còn lại là địa tô và lợi nhuân tư bản Theo ông địa tô cộng vớilợi tức tư bản đầu tư cải tạo đất bằng tiền tô Điều này tiến bộ hơn các họcthuyết trước đây Tuy nhiên ông còn cho rằng sở dĩ nông nghiệp có địa tô,
vì lao đông nông nghiệp có năng suất lao động cao hơn công nghiệp và ôngphủ nhận địa tô tuyệt đối Ông cho rằng nếu thừa nhận địa tô tuyệt đối là viphạm qui luật giá trị
c Quan điểm của Ricacdo:
Nếu như A.D.Smith sống trong thời kì công trường thủ công phát triểnmạnh mẽ thì David Ricacdo sống trong thời kì cách mạng công nghiệp Đó
Trang 6là điều kiện khách quan để ông vượt được ngưỡng giới hạn mà A.D.Smithdừng lại Ông là người kế tục xuất sắc của A.D.Smith Theo C.mác,A.D.Smith là nhà kinh tế của thời kì công trường thủ công còn Ricacdo lànhà tư tưởng của thời đại cách mạng công nghiệp Ông sử dụng phươngpháp khoa học tự nhiên, sử dụng công cụ trừu tượng hoá, đồng thời ápdụng các phương pháp khoa học chính xác, đặc biệt là phương pháp suydiễn để nghiên cứu kinh tế chính trị học.
Về lợi nhuận, Ricacdo cho rằng: “Lợi nhuận là số còn lại ngoài tiềnlương mà nha tư bản trả cho công nhân” Ông đã thấy xu hướng giảm sút tỉsuất lợi nhuận và giải thích nguyên nhân của sự giảm sút nằm trong sự vậnđộng, biến đổi thu nhập giữa ba giai cấp: địa chủ, công nhân và nhà tư bản.Ông cho rằng quy luật màu mỡ đất đai ngày càng giảm, giá cả nông phẩmtăng lên làm cho tiền lương công nhân tăng và địa tô tăng lên còn lợi nhuậnkhông tăng Như vậy, theo ông, địa chủ là người có lợi, công nhân không
có lợi cũng không bị hại, còn nhà tư bản thì có hại vì tỉ suất lợi nhuận giảmxuống Nhưng hạn chế của ông là không phân biệt thặng dư
3 Học thuyết của Mác-Lênin
a Nguồn gốc của giá trị thặng dư
Theo Mác sở dĩ hàng hoá có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trịlao động vì lao động sản xuất hàng hoá có tính hai mặt là lao động cụ thể
và lao động trừu tượng Ông cho rằng lao động cụ thể là lao động hao phídưới một hình thức cụ thể của một nghề nghiệp chuyên môn nhất định, cómục đích riêng, đối tượng riêng thao tác riêng phương tiện riêng và kết quảriêng Kết quả của lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng của hàng hoá Laođông cụ thể càng nhiều loại thì giá trị sử dụng càng nhiều loại Tất cả cáclao động cụ thể hợp thành hệ thống phân công lao động xã hội ngày càngchi tiết Lao động cụ thể là một phạm trù vĩnh viễn, là một điều kiện khôngthể thiếu được trong mọi điều kiện của xã hội
Lao động bao giờ cũng là sự hao phí sức óc, sức thần kinh và bắp thịtcủa con người Nhưng bản thân sự hao phí lao động về mặt sinh lý đó chưaphải là lao động trừu tượng Chỉ trong xã hội có sản xuất hàng hoá mới có
sự cần thiết khách quan phải qui các loại lao động cụ thể khác nhau vốnkhông thể so sánh được với nhau thành một thứ lao động đồng nhất có thể
so sánh với nhau được tức là phải quy lao động cụ thể thành lao động trừutượng Vì vậy lao động trừu tượng là một phạm trù lịch sử Lao động trừutượng tạo ra giá trị hành hoá là một phạm trù lịch sử Lao động trừu tượng
nó tạo ra giá trị của hàng hoá
Trang 7Trong nền sản xuất hăng hoâ giản đơn, tính chất hai mặt của lao độngsản xuất hăng hoâ lă sự biểu hiện của mđu thuẫn giữa lao động tư nhđn vălao động xê hội của những người sản xuất hăng hoâ Đó lă mđu thuẫn cơbản của sản xuất hăng hoâ giản đơn Mđu thuẫn năy còn biểu hiện ở laođộng cụ thể với lao động trừu tượng, ở giâ trị sử dụng với giâ trị của hănghoâ “Tính chất hai mặt của lao động sản xuất hăng hoâ lă điểm mấu chốt
để hiểu biết kinh tế chính trị học” Nó lă sự phât triển vượt bậc so với câchọc thuyết kinh tế cổ đại
Mâc vă Ăngghen cũng lă những người đầu tiín đê xđy dựng nín lýluận về giâ trị thặng dư một câch hoăn chỉnh, vì vậy lý luận giâ trị thặng dưđược xem lă hòn đâ tảng to lớn nhất trong toăn bộ học thuyết kinh tế củaMâc Qua thực tế xê hội tư bản lúc bấy giờ Mâc thấy rằng giai cấp tư bảnthì ngăy căng giău thím còn giai cấp vô sản thì ngăy căng nghỉo khổ vẵng đê đi tìm hiểu nguyín nhđn vì sao lại có hiện tượng năy Cuối cùngông phât hiện ra rằng nếu tư bản đưa ra một lượng tiền lă T văo quâ trìnhsản xuất vă lưu thông hăng hoâ thì số tiền thu về lớn hơn số tiền ứng ra Tagọi lă T’ (T’ > T) hay T’= T+ ΔT C.Mâc gọi ΔT lă giâ trị thặng dư Ôngcũng thấy rằng mục đích của lưu thông tiền tệ với tư câch lă tư bản khôngphải trả giâ trị sử dụng mă lă giâ trị Mục đích của lưu thông T-H-T’ lă sựlớn lín của giâ trị thặng dư nín sự vận động của T-H-T’ lă không có giớihạn Công thức năy được Mâc gọi lă công thức chung của tư bản
Qua nghiín cứu Mâc đi đến kết luận: “Tư bản không thể xuất hiện từlưu thông vă cũng không thể xuất hiện ở người lưu thông Nó phải xuấthiện trong lưu thông vă đồng thời không phải trong lưu thông” Đđy chính
lă mđu thuẫn chung của công thức tư bản Để giải quyết mđu thuẫn năyMâc đê phât hiện ra nguồn gốc sinh ra giâ trị hăng hoâ-sức lao động Quâtrình sản xuất ra hăng hoâ vă tạo ra giâ trị mới lớn hơn giâ trị của bản thđngiâ trị sức lao động Như vậy, quâ trình sản xuất ra tư bản lă quâ trình sảnxuất ra giâ trị sử dụng vă quâ trình sản xuất ra giâ trị thặng dư
Phần lớn giâ trị mới lớn hơn giâ trị sức lao động, nó được tính bằnggiâ trị sức lao động cộng thím giâ trị thặng dư Với giâ trị thặng dư (m) lăphần giâ trị mới dôi ra ngoăi giâ trị sức lao động do công nhđn tạo ra vă bịnhă đầu tư bản chiếm đoạt Qua đó chúng ta thấy tư bản lă giâ trị đem lạigiâ trị thặng dư bằng câch bóc lột công nhđn lăm thuí
Để nghiín cứu yếu tố cốt lõi tạo nín giâ trị thặng dư trong quâ trìnhsản xuất của tư bản thì C.Mâc đê chia tư bản ra lăm hai bộ phận : tư bản bấtbiến vă tư bản khả biến
Trang 8Bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thái tư liệu sản xuất mà giá trị đượcbảo tồn và chuyển vào sản phẩm, tức là giá trị không biến đổi về lượngtrong quá trình sản xuất được C.Mác gọi là tư bản bất biến và ký hiệu là(c) Còn bộ phận tư bản biểu hiện dưới hình thức giá trị sức lao động trongquá trình sản xuất đã tăng thêm về lượng gọi là tư bản khả biến và ký hiệu
là (v)
Như vậy, ta thấy muốn cho tư bản khả biến hoạt động được phải cómột tư bản khả biến đã được ứng trước với những tỉ lệ tương đương Vàqua sự phân chia ta rút ra tư bản khả biến tạo ra giá trị thặng dư vì nó dùng
để mua sức lao động Còn tư bản bất biến có vai trò gián tiếp trong việc tạo
ra giá trị thặng dư Từ đây, ta có kết luận: “Giá trị của một hàng hoá bằnggiá trị tư bản bất biến mà nó chứa đựng, cộng với giá trị của tư bản khảbiến đó (tức là giá trị thặng dư đã được sản xuất ra)
Sự phân chia tư bản thành tư bản bất biến và tư bản khả biến đã vạch
rõ thực chất bóc lột tư bản chủ nghĩa, chỉ có lao động của công nhân làmthuê mới tạo ra giá trị thặng dư của nhà tư bản (tư bản đã bóc lột một phầngiá trị mới do công nhân tạo ra) Nó được biểu diễn một cách ngắn gọn quaquá trình:
Giá trị = c+v+m
Giá trị tư liệu sản xuất chuyển vào sản phẩm: c
Giá trị sức lao động của người công nhân (mà nhà tư bản trả chongười công nhân): v
M = m’.V =
Giá trị mới do người công nhân tạo ra: v+m
Như thế tư bản bỏ ra một lượng tư bản để tạo ra giá trị là c+v Nhưnggiá trị mà tư bản thu vào là c+v+m Phần “m” dôi ra là phần mà tư bản bóclột của người công nhân
Nhà tư bản luôn tìm cách tạo ra giá trị thặng dư nhiều nhất bằng nhiềuthủ đoạn Trong đó Mác chỉ ra hai phương pháp mà chủ nghĩa tư bản sửdụng đó là sản xuất giá trị thặng dư tương đối, sản xuất giá trị thặng dưtuyệt đối Ngoài ra còn có phương pháp sản xuất giá trị thặng dư siêungạch
Mác đã chỉ ra trong giai đoạn phát triển đầu của chủ nghĩa tư bản, khi
kỹ thuật còn thấp hay tiến bộ chậm thì việc tăng giá trị thặng dư tuyệt đốibằng cách kéo dài tuyệt đối ngày lao động trong điều kiện thời gian laođộng cần thiết không thay đổi Nhưng phương pháp này còn có hạn chế về
Trang 9thời gian, về thể chất và tinh thần người công nhân Sự bóc lột này đã dẫnđến nhiều cuộc bãi công, đấu tranh của các nghiệp đoàn Mặt khác, đến giaiđoạn phát triển cao có thể làm cho năng suất lao động để tăng giá trị thặng
dư và nâng cao trình độ bóc lột Nhà tư bản sản xuất ngày càng giá trị thặng
dư bằng cách rút ngắn thời gian lao động cần thiết do đó kéo dài tương ứngthời gian lao động thặng dư trong điều kiện độ dài ngày lao động khôngđổi Phương pháp này không có giới hạn Bên cạnh đó các nhà tư bản ngàynay đang tìm cách cải tạo kỹ thuật, đưa kỹ thuật mới vào, nâng cao taynghề công nhân tạo điều kiện về tinh thần tốt để tạo ra năng suất lao động,
cá biệt lớn hơn năng suất lao động xã hội Phần giá trị thặng dư dôi rangoài giá trị thặng dư thông thường do thời gian lao động cá biệt nhỏ hơnthời gian lao động xã hội cần thiết gọi là giá trị thặng dư siêu bền Phươngpháp này sản xuất “m” siêu ngạch
Quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư chỉ là sự biểu hiện qua sản phẩmcòn thực tế để thu được tiền thì sự chuyển hoá giá trị thặng dư như thế nào
Vì công thức chung của tư bản là T-H-T’ nên mục đích cuối cùng là thuđược T’ còn m chỉ là tiền đề là nền tảng để thu được T’ (T’>T) Mác đãgiúp ta giải quyết vấn đề này vì ông đã tìm ra một đại lượng biểu hiện giátrị thặng dư đó là lợi nhuận (P)
b Bản chất của lợi nhuận
Để hiểu rõ hơn về P chúng ta có thể đi sâu vào phân tích chi phí thực
tế xã hội và chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa xuất phát từ giá trị của hànghoá c+v+m Muốn sản xuất hàng hoá phải chi phí lao động nhất định baogồm chi phí cho mua tư liệu sản xuất (c) gọi là lao động quá khứ và laođộng tạo ra giá trị mới (v+m) Đứng trên quan điểm toàn xã hội, quan điểmcủa người lao động thì chi phí đó là chi phí thực tế để tạo ra giá trị hànghoá (c+v+m) Nhưng đối với nhà tư bản thì họ không dùng hao phí thực tế
để sản xuất ra hàng hoá nên nhà tư bản chỉ xem hết bao nhiêu tư bản chứkhông tính xem chi phí hết bao nhiêu lao động cần thiết Thực tế họ chỉứng ra số tư bản để mua tư liệu sản xuất (c) và mua sức lao động (v) Chiphí đó được Mác gọi là chi phí tư bản chủ nghĩa và ký hiệu là k (k=c+v).Như vậy chi phí tư bản chủ nghĩa luôn luôn nhỏ hơn chi phí thực tế Giữagiá trị hàng hoá và chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa có sự chênh lệch nhaumột lượng đúng đắn bằng m Do đó nhà tư bản hàng hoá sẽ thu về mộtphần lời đúng bằng giá trị thặng dư m, số tiền này gọi là lợi nhuận Giá trịhàng hoá lúc này bằng chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa cộng với lợinhuận:
Trang 10Do mục tiêu đạt được lợi nhuận cao nhất nên giữa các nhà tư bản luônluôn diễn ra sự cạnh tranh gay gắt Các quá trình cạnh tranh của nhà tư bảnđược Mác phân chia thành hai loại: cạnh tranh trong nội bộ ngành và cạnhtranh giữa các ngành Cạnh tranh trong nội bộ ngành là sự cạnh tranh giữacác xí nghiệp trong cùng một ngành, cùng sản xuất ra một loại hàng hoánhằm mục đích tiêu thụ hàng hoá có lợi hơn để th lợi nhuận siêu ngạch Dobản chất của cạnh tranh chính là một hình thức đấu tranh gay gắt giữanhững người sản xuất hàng hoá dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất,nhằm dành giật những điều kiện có lợi nhất của sản xuất và tiêu thụ hànghoá Vì vậy cho nên cạnh tranh trong nội bộ ngành buộc các xí nghiệp phảitìm cách giảm giá trị cá biệt của hàng hoá thấp hơn giá trị xã hội để dànhthắng lợi trong cạnh tranh Kết quả là do điều kiện sản xuất bình quân trongmột ngành thay đổi, giá trị xã hội của hàng hoá giảm xuống Cạnh tranhgiữa các ngành là cạnh tranh giữa các nhà tư bản ở các ngành sản xuất khácnhau nhằm tìm nơi đầu tư có lợi hơn, ở các ngành sản xuất khác nhau cónhững điều kiện khác nhau, do đó tỷ suất lợi nhuận cũng khác nhau Cácnhà tư bản chọn ngành có lợi nhuận cao để đầu tư.
c Các hình thức của lợi nhuận trong nền kinh tế
Lợi nhuận được biểu hiện dưới dạng P công nghiệp, P thương nghiệp,
P ngân hàng, lợi tức cho vay,…
P công nghiệp
Trong công nghiệp để cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho thị trường cácnhà sản xuất phải bỏ tiền vốn trong quá trình sản xuất và kinh doanh họmong muốn chi phí còn số dư dôi để không chỉ sản xuất, củng cố và tăng
Trang 11cường vị trí của mình trên thị trường Lợi nhuận ở đây chính là phần chênhlệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí
P thương nghiệp
Tổng doanh thu của doanh nghiệp là số tiền mà doanh nghiệp đó kiếmđược nhờ bán hàng hoá, dịch vụ trong một thời kỳ nhất định Và quá trìnhbán này cũng được tư bản công nghiệp chia cho một phần lợi nhuận Lợinhuận đó sau này được gọi là lợi nhuận thương nghiệp Nhìn bề ngoài lợinhuận thương nghiệp là do mua rẻ, bán đắt do lưu thông tạo ra Nhưng thựcchất “Lợi nhuận thương nghiệp là một phần nhà tư bản công nghiệpnhường cho nhà tư bản thương nghiệp” Nhà tư bản công nghiệp nhườngcho nhà tư bản thương nghiệp một phần bởi vì tư bản thương nghiệp chỉhoạt động trong lĩnh vực lưu thông, đó là một khâu, một giai đoạn của quátrình sản xuất, không có giai đoạn đó thì quá trình tái sản xuất không thểtiếp diễn được Và dĩ nhiên nhà tư bản thương nghiệp cũng không phải làhoạt động không công mà họ cũng đòi hỏi phải có lợi nhuận Điều này bắtbuộc nhà tư bản công nghiệp phải nhường một phần lợi nhuận của mìnhcho tư bản thương nghiệp Vậy, lợi nhuận thương nghiệp là số chênh lệchgiữa giá bán và giá mua hàng hoá
Lợi tức cho vay
Trong quá trình tuần hoàn và chu chuyển của tư bản công nghiệp, luôn
có số tư bản tiền tệ tạm thời nhàn rỗi, ví dụ như tiền lương quỹ khấu haocủa tư bản cố định, tiền dùng để mua nguyên liệu vật liệu nhưng chưa đến
kỳ mua, bộ phận giá trị thặng dư tích luỹ (dưới dạng tiền) để mở rộng sảnxuất nhưng chưa sử dụng, số tiền nhàn rỗi như thế không mang lại mộtthu nhập nào cho nhà tư bản Nhưng đối với nhà tư bản thì tiền phải đẻ ratiền Vì vậy, nhà tư bản phải cho người khác vay để kiếm lãi “Tư bản chovay là tư bản tiền tệ mà người chủ của nó nhường cho một người khác sửdụng trong một thời gian để được một số lời lãi nào đó Số lời lãi đó gọi làlợi tức” Bản chất của lợi tức là một phần lợi nhuận bình quân mà nhà tưbản đi vay đã đưa cho nhà tư bản đi vay sử dụng Nguồn gốc của lợi tức làmột phần giá trị thặng dư do công nhân sáng tạo ra trong lĩnh vực sản xuất.Nhưng việc nhà tư bản cho vay thu được lợi tức che dấu mất thực chất bóclột của tư bản chủ nghĩa Dựa vào công thức tư bản vận động cho vay,chúng ta hoàn toàn vạch trần được điều đó
II VAI TRÒ CỦA LỢI NHUẬN
1 Lợi nhuận trong nền kinh tế