LỜI MỞ ĐẦU Gần bảy thập kỷ vừa qua, dân tộc ta đã vượt qua mét chặng đường đấu tranh cực kỳ khó khăn, gian khổ, giành được những thắng lợi vẻ vang, từ thân phận người dân mất nước, nhân
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM TP.HCM
KHOA CHÍNH TRỊ LUẬT
TIỂU LUẬN Môn: Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam
ĐỀ TÀI:
Vai trò của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trong quá trình thành lập Đảng cộng sản Việt Nam
Giảng viên hướng dẫn : Mai Quốc Dũng
Trưởng nhóm: Nguyễn Minh Khiêm
Thành viên: Mã số sinh viên: 1 Nguyễn Minh Khiêm 2001190611
2.Trần Thị Minh Loan 2027190265
TP.HỒ CHÍ MINH, Tháng 4 năm 2021
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên,em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến TS.Mai Quốc Dung
Trong quá trình học tập và tìm hiểu bộ môn Lịch Sử Đảng Cộng Sản Việt
Nam,em đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ,hướng dẫn rất tận tình, tâm huyết của thầy.Thầy đã giúp em tích lũy thêm nhiều kiến thức để có cái nhìn sâu sắc và
hoàn thiện hơn trong cuộc sống Lịch Sử Đảng Thông qua bài tiểu luận này, em xin trình bày lại những gì mà mình đã tìm hiểu về vấn đề vai trò của lãnh tụ
Nguyễn Ái Quốc trong quá trình thành lập Đảng cộng sản Việt Nam gửi đến thầy
Có lẽ kiến thức là vô hạn mà sự tiếp nhận kiến thức của bản thân mỗi người luôn tồn tại những hạn chế nhất định.Do đó, trong quá trình hoàn thành bài tiểu luận,
chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Bản thân em rất mong nhận được
những góp ý đến từ thầy để bài tiểu luận của em được hoàn thiện hơn
Lời cuối cùng, em xin kính chúc thầy nhiều sức khỏe, thành công và hạnh phúc
Trang 3Muc luc
ĐỀ TÀI: Vai trò của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc 1
trong quá trình thành lập Đảng cộng sản 1
Việt Nam 1
PHẦN I: Khái quát xã hội Việt Nam trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời 4
PHẦN II :Phong trào đấu tranh của nhân dân ta trước khi Đảng ra đời 6
Phần III: Quá trình thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam 9
Phần IV: Kết luận 12
TÀI LIỆU THAM KHẢO 13
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Gần bảy thập kỷ vừa qua, dân tộc ta đã vượt qua mét chặng đường đấu tranh cực kỳ khó khăn, gian khổ, giành được những thắng lợi vẻ vang, từ thân phận người dân mất nước, nhân dân ta đã anh dũng vùng lên, lần lượt đánh bại sự xâm lược của nhiều đế quốc lớn mạnh, đưa đất nước ta bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội Lực lượng lãnh đạo nhân dân ta dành được những thắng lợi vĩ đại đó là Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhìn lại quá trình lịch sử của Cách mạng Việt Nam chúng ta thấy Đảng Cộng sản Việt Nam đã thể hiện vai trò lãnh đạo, tinh thần phụ trách trước giai cấp và dân tộc khi thắng lợi cũng như lúc khó khăn, khi thành công cũng như lúc sai lầm, khuyết điểm Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là một điều tất yếu khách quan của cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp và giải phóng dân tộc ở Việt Nam trong thời đại mới, là kết quả của một quá trình lựa chọn con đường cứu nước, tích cực chuẩn bị về tư tưởng , chính trị và tổ chức của một tập thể cách mạng, là mét sù sàng lọc và lựa chọn nghiêm khắc của lịch sử cách mạng Việt Nam tự khi mất nước vào tay để quốc thực dân Pháp Đảng ra đời là một bước ngoặt trọng đại trong lịch sử cách mạng dân tộc Việt Nam
Trước khi Đảng ra đời đã có rất nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra nhưng chúng đều bị thất bại trước sự đàn áp dã man của bọn thực dân Pháp Chỉ đến năm 1924 Nguyễn Ai Quốc trở
về thống nhất ba Đảng lúc bấy giờ thành một Đảng duy nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam thì cuộc khủng hoảng về đường lối cách mạng mới được giải quyết Sù ra đời của Đảng gắn liền với tên tuổi của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh – người chiến sĩ cách mạng lỗi lạc của dân tộc Việt Nam Người là người Việt Nam đầu tiên nắm bắt Chủ nghĩa Mác – Lênin và vận dụng sáng tạo vào đặc điểm lịch sử cách mạng dân tộc Việt Nam Vai trò quan trọng
của Người được thể hiện rõ nét trong quá trình thành lập Đảng cũng như trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc thống nhất đất nước
Nội dung tiểu luận gồm có các phần sau:
Phần I :Khái quát về xã hội Việt Nam trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời
Phần II: Phong trào đấu tranh của nhân dân ta trước khi Đảng ra đời
Phần III: Qúa trình thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
Phần IV: Kết luận
PHẦN I: Khái quát xã hội Việt Nam trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời
Vào đầu thế kỷ XIX, tình hình thế giới có nhiều biến động, bức tranh phân chia thế giới của chủ nghĩa đế quốc ngày càng được phác hoạ cơ bản và rõ nét Sự áp bức và xu hướng thôn tính dân tộc của Chủ nghĩa đế quốc đã tăng lên rõ rệt Sự xuất khẩu tư bản vào
Trang 5các nước thuộc địa đã làm cho các dan tộc thuộc địa bị lôi cuốn vào con đường tự bản thực dân Chủ nghĩa Còng từ đó sự thức tỉnh về ý thức dân tộc và phong trào đấu tranh tù giải phóng khỏi ách áp bức cuả thực dân tăng lên một cách mạnh mẽ Việt Nam đã chịu sự tác động của bối cảnh lịch sử đó
Tới năm 1858, nước Việt Nam đã bị thực dân Pháp xâm lược, mở đầu bằng cuộc tiến công vào cảng Đà Nẵng Chúng tag bước thiết lập chế độ thống trị tàn bạo, phản động của chủ nghĩa thực dân trên đất nước ta Sau khi hoàn thành việc xâm lược và bình định và trang, thực dân Pháp tiến hành những cuộc khai thác thuộc địa nhằm cướp đoạt tài nguyên thiên nhiên, bóc lột nhân công rẻ mạt, cho vay nặng lãi, mở rộng thị trường tiêu thụ hành hoá của chính quốc
Chính sách “khai hoá văn minh”, “khai hoá và cải tạo theo kiều phương Tây” của bọn thực dân Pháp được Hồ Chí Minh vạch rõ: “Khi người ta là một nhà khai hoá thì người ta
có thể làm những việc dã man mà vẫn cứ là văn minh nhất” và nếu dân bản xứ không nhịn nhục chịu đựng mà đứng dậy đấu tranh thì các nhà khai hoá sẽ đưa quân đội, súng liên thanh và tàu chiến đến Trên tất cả mọi lĩnh vực, từ chính trị, kinh tế đến văn hoá tư tưởng chúng đều tìm mọi cách kìm hãm sự phát triển của dân tộc ta
1 Tình hình chính trị :
Thực dân Pháp ra sức thi hành chính sách “chia để trị”; chúng trực tiếp nắm giữ các
chức vụ chủ chốt trong bộ máy nhà nước, bên cạnh đó là một hệ thống chính quyền tay sai
bù nhìn người Việt: chủng lập ra những đội quân thuộc địa người ngoại quốc và những đội lính cơ giới người Việt, những toà án Tây và toà án Nam, nhiều nhà tù để đàn áp các cuộc nổi dậy Chóng thi hành chính sách cai trị chuyên chế, thực hiện chính sách đàn áp, khủng
bố hết sức dã man, tàn bạo, chia rẽ dân tộc tôn giáo làm cho nhân dân mất hết quyền độc lập, quyền tự do dân chủ, mọi phong trào đấu tranh của nhân dân đều bị chúng đàn áp dã man
2 Tình hình kinh tế:
Trong thời kỳ này thực dân Pháp đã không tõ mét thủ đoạn nào để bóc lột nhân dân ta, thu lợi nhuận tối đa, thẳng tay cướp đoạt và bần cùng hoá nông dân, chiếm đoạt tài nguyên thiên nhiên, nắm các mạch máu kinh tế ở Việt Nam, nắm độc quyền trong công nghiệp khai thoáng và công nghiệp chế rượu, kìm hãm công nghiệp nặng, hạn chế công nghiệp nhẹ, độc chiếm thị trường Việt Nam, tăng cường cho vay nặng lãi; đồng hoá lãnh thổ kinh tế Việt Nam vào trong toàn bộ lãnh thổ của đế quốc Pháp và biến Việt Nam thành khâu khăng khít trong sợi dây chuyền của kinh tế thế giới Tư bản chủ nghĩa
Từ khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, quá trình tập trung hoá ruộng đất diễn ra với quy
mô lớn và tốc độ nhanh hơn trước Chúng đã trắng trợn cướp đoạt ruộng đất của nông dân
để lập ra các đồn điền trồng cao su, cà phê, và bắt dân ta lao động không công cho chóng hoặc thuê với giá rất rẻ mạt Không những thế, thực dân Pháp còn tạo điều kiện để bọn địa chỉ tăng cường chiếm đoạt ruộng đất của nông dân Ngoài ra bọn chúng còn đặt ra nhiều thứ thuế vụ lý bắt nhân dân phải đóng Bọn thực dân và địa chủ đã kìm hãm nông nghiệp Việt Nam trong vòng lạc hậu để làm lợi cho chúng thực dân Pháp chưa bao giờ đặt vấn đề kĩ nghệ hoá nông nghiệp ở Việt Nam nên công cụ lao động sản xuất rất thô sơ Thiên tại xảy
Trang 6ra liên miên, đời sống nhân dân gặp rất nhiều khó khăn Chúng còn duy trì lối bóc lét phong
kiến, kết hợp với lối cướp bóc của đế quốc (đây là đặc điểm của phương pháp bóc lột thuộc địa), làm nông dân phá sản, kìm hãm sản xuất
Vì muốn biến Việt Nam thành thị trường tiêu thụ hàng công nghiệp Ô thừa của Pháp,
nên chúng đã ra sức kìm hãm sự phát triển của công nghiệp nước ta Do sù kìm hãm đó nên công nghiệp Việt Nam rất nhỏ bé, què quặt Điều đó thể hiện rõ rệt ở chỗ trong hoạt động công nghiệp, thực dân Pháp chỉ chú trọng vào việc khai thác mỏ mà không hề quan tâm đến những ngành nghề khác Không chỉ trên lĩnh vực công nghiệp mà trên tất cả mọi phương diện kinh tế, thực dân Pháp đều tìm mọi cách đưa nước ta vào trong quỹ đạo phát triển của Chủ nghĩa tư bản theo kiểu thực dân và biến chuyển theo quá trình
2 Tình hình văn hoá - xã hội :
Từ khi thực dân Pháp sang xâm lược nước ta, chống thực hiện chính sách ngư dân,
khuyến khích văn hoá nô địch, vong bản, tự ti, sùng Pháp, kìm hãm nhân dân ta trong vòng tối tăm, dốt nát, lạc hậu, phục tùng và cai trị của chúng Với chính sách khai thác thuộc địa triệt để của thực dân Pháp, xã hội Việt Nam có những biến đổi lớn, hai giai cấp mới ra đời: giai cấp công nhân và giai cấp tư sản Từ chế độ phong kiến chuyển sang chế độ thuộc địa nửa phong kiến, xã hội Việt Nam xuất hiện hai mâu thuẫn: mâu thuẫn cơ bản vốn có trong lòng xã hội Việt Nam phong kiến cũ là mâu thuẫn giữa nhân dân ta, trước hết là nông dân, với giai cấp địa chủ phong kiến không mất đi, mà vẫn tiếp tục tồn tại, tuy không còn hoàn toàn giống như trước Bên cạch mẫu thuẫn này, xuất hiện mâu thuẫn với bao trùm lên tất
cả, đó là mâu thuẫn giữa dân tộc ta với đế quốc thực dân Pháp Mâu thuẫn này ngày càng
mở rộng và gay gắt hơn Hai mâu thuẫn đó quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó mâu thuẫn giữa dân tộc ta với đế quốc Pháp xâm lược vừa là mâu thuẫn cơ bản đồng thời là mâu thuẫn chủ yếu của xã hội Việt Nam – mét xã hội thuộc địa của Pháp Vì vậy, nhiệm vụ chống đế quốc Pháp xâm lược và nhiệm vụ chống bọn phong kiến tay sai không tách rời nhau Đấu tranh giành độc lập dân tộc phải gắn liền với đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ Đó là yêu cầu của Cách mạng Việt Nam đặt ra cần được giải quyết
PHẦN II :Phong trào đấu tranh của nhân dân ta trước khi Đảng ra đời.
Trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước lâu dài gian khổ ác liệt, dân tộc ta sớm hình thành truyền thống yêu nước nồng nàn, tinh thần đấutranh anh dũng kiên cường bất khuất Ngay từ khi thực dân Pháp xâm lược, nhân dân ta đã liên tiếp đứng lên chống lại chúng ở khắp nơi trong nước, nhân dân ta đã tham gia đấu tranh dưới ngọn cờ cảu các sĩ phu yêu nước đương thời theo nhiều khuynh hướng khác nhau Tõ những phong trào tự phát đến những phong trào có tổ chức, lãnh đạo, các phong trào diễn ra ngày càng một hoàn thiện hơn Tuy rằng các phong trào đều bị đàn áp dã man nên đã bị thất bại nhưng tất cả những cuộc khởi nghĩa đó đã để lại tiếng vang lớn, gây cho địch nỗi hoang mang lo sợ
1 Phong trào Cần Vương :
Trang 7Sau khi thực dân Pháp căn bản hoàn thành cuộc xâm lược Việt Nam với hoà ước
1884, cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam chống xâm lược đã chuyền qua mét giai đoạn mới Mở đầu là cuộc tấn công trại lính Pháp mằn cạnh kinh thành Huế, dưới sự chỉ huy của Tôn Thất Thuyết lấy danh nghĩa nhà vua yêu nước trẻ tuổi Hàm Nghi Bị thất bại, Tôn Thất Thuyết đã phò vua Hàm Nghi lánh vào vùng rừng núi, thảo chiếu Cần Vương, kêu gọi các
sĩ phu văn thân cùng toàn dân tiếp tục chiến đấu Từ đó phong trào Cần Vương đã phát triển trong nhiều địa phương ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ, cho đến những năm cuối của thế kỷ XIX
Trong phong trào Cần Vương, các thủ lĩnh sĩ phu văn thận, liên kết với các thổ hào địa phương, đã tập hợp đông đảo quần chúng nông dân trong vùng, dùng vũ khí thô sơ nổi dậy chống lại cuộc bình định của thực dân Pháp Các sĩ phu muốn khôi phục một vương triều phong kiến có chủ quyền, các thổ hào muốn dành lại những thế lực bị tước đoạt, nông dân chống lại sự bóc lột thuế má và cướp đoạt động đất, tất cả gắn bó lại trên danh nghĩa của mét phong trào yêu nước chống xâm lược mang tính chất truyền thống Nhưng cuối cùng phong trào Cần Vương đã thất bại vì rời rạc, lẻ tẻ, thiếu sự chỉ huy thống nhất
2 Phong trào dân tộc - dân chủ của tầng lớp sĩ phu yêu nước.
2 1 Si chuyển biển của xã hội Việt Nam và những ảnh hưởng của tác động bên ngoài.
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, xã hội Việt Nam có nhiều chuyển biến, trước những chính sách cai trị của thực dân Pháp, cơ cấu xã hội truền thống Vệt Nam biến đổi Giai cấp công nhân Việt Nam (chủ yếu là trong các công trường và hầm mỏ) hình thành ở đô thị xuất hiện một tầng lớp công thương và tiểu tư sản thành thị Tầng lớp sĩ phu nho học bên cạch đọc các kinh sách nho giáo, các nho sĩ này cũng đã đọc ngũng cuốn sách mới của các tác giả châu Âu và Trung Quốc Vì vậy phong trào cải cách chính trị - văn hoá ở Trung Quốc, cùng với những tư tưởng cách mạng Pháp được dịch qua chữ Hán đã tác động vào Việt Nam Giới sĩ phu lúc này thấy được thế suy tàn của các chế độ phong kiến châu á và sự cần thiết phải cải cách xã hội
2.2 Trào lưu dân tộc chủ nghĩa:
Những nhận thức chính trị đó đã làm nảy sinh mét khuynh hướng chính trị mới trào lưu dân tộc chủ nghĩa Trào lưu chính trị này kế tục phong trào Cần Vương yêu nước chống Pháp nhưng đồng thời đã mang nhiều nét mới khác trước Tầng lớp khởi xướng trào lưu này là những sĩ phu yêu nước tiến bộ Lòng yêu nước của họ không còn bám giữ vào
những tư tưởng “trung quân” mà đã chuyển sang ý thức về một chủ nghĩa quốc gia – dân tộc, vì lợi ích chung của nhiều triệu đồng bào trong cả nước Những sĩ phu yêu nước tiến bộ
Việt Nam lúc bấy giờ cho rằng, muốn đánh đuổi thực dân Pháp, không thể chỉ hạn chế trong những hình thức khởi nghĩa vò trang như trước đây, mà còn phải kết hợp cả với nhiều biện pháp mới về chính trị, ngoại giao, tiến hành nét phong trào cải cách xã hội sâu rộng trong đông đảo quần chúng nhân dân Hai gương mặt nổi bật cho trào lưu dân tộc dân chủ là các nhà chí sĩ Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh
Trang 8Phan Bội Châu là một sĩ phu sớm có lòng yêu nước, chủ trương vận động quảng
chóng trong nước, tranh thủ sự giúp đỡ của nước ngoài, tổ chức bạo động để đánh đuổi thực dân Pháp, giành độc lập dân tộc, xây dựng nền chế độ chính trị dựa vào dân Ông đã lập hội Duy Tân, vượt biển sang Nhật mu cầu ngoại viên, tổ chức phong trào Đông Du đưa các thanh thiếu niên Việt Nam sang học ở Nhật để chuẩn bị lực lượng chống Pháp và dùng văn thơ yêu nước để thức tỉnh quốc dân Cuộc vận động Đông du chỉ diễn ra được mấy năm và
đã bị thực dân Pháp bóp chết Những du học sinh Việt Nam bị trục xuất ra khái Nhật và cả
cô Phan còng phải rời khỏi đất nước này Sau cách mạng Tân Họi, ông lu lạc ở Trung Quốc, lại lập ra tổ chức Việt Nam Quang Phục hội, chuẩn bị đưa quân về nước khởi nghĩa, nhưng cũng không tránh khỏi bị thất bại Phan Bội Châu là một người anh hùng đầy nhiệt huyết nhưng không gặp thời thế
Phan Châu Trinh gần đồng thời với Phan Bội Châu, là một sĩ phu ở Quảng Nam đã
giương cao ngọn cờ dân chủ, cải cách xã hội Ông đã từng bôn ba ở nhiều nước, sớm tiếp thu những tư tưởng tiến bộ, chủ trương cứu nước bằng phương pháp nâng cao dân trí, dân quyền Ông vạch trần chế độ vua quan phong kiến thối nát, đòi Pháp phải sửa đổi chính sách cai trị ở thuộc địa Chịu nhiều ảnh hưởng tư tưởng dân chủ của Phan Châu Trinh,
nhiều phong trào cải cách xã hội lúc đó đã nổi lên như việc thành lập nhà trường kiểu mới Đông Kinh Nghĩa Thục ở Hà Nội, phong trào Duy Tân Tư tưởng dân chủ của Phan Châu Trinh thể hiện nét tinh thần dân tộc yêu nước sâu sắc, nhưng chủ trường dùng cải cách để cứu nước của ông có phần không hợp thời thế
2.3 Phong trào đấu tranh của quần chúng công, nông, bình:
Các phong trào chính trị của giới sĩ phu đã có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến
phong trào đấu tranh của quần chúng công nông binh trong thời kỳ này ở đây những cuộc đấu tranh so với phong trào của giới sĩ phu thường là thiếu đường lối, tổ chức nhưng lại đông đảo, quyết liệt hơn Năm 1908, do ảnh hưởng của những tư tưởng cải cách của Phan Châu Trinh và phong trào Duy Tân hô hào đời sống mới, mét phong trào chống sau thuế của nông dân đã lan rộng ra ở nhiều tỉnh Hàng ngàn nông dân nổi dậy biểu tình, bao vây huyện lị đòi giảm sưu thuế Đáng chú ý là khởi nghĩa của nông dân Yên Thế của Hoàng Hoa Thám, họ đã liên lạc với tổ chức yêu nước của Phan Bội Châu trong mét kế hoạch tấn công vào Hà Nội
Giai cấp công nhân Việt Nam tuy mới ra đời, số lượng còn Ýt những bước đầu đã tham gia đấu tranh, điển hình có những cuộc bãi công bạo động của công nhân các công trường đường sắt(Yên Bái), học sinh trường Bách Nghệ (Sài Gòn) và mét sè công nhân tàu biển Ngoài ra còn có những cuộc bạo động khởi nghĩa chống Pháp của dân tộc ít người
Ngoài tầng lớp sĩ phu và quần chúng công nông, đầu thế kỷ XX còn có một lực lượng
xã hộ mới tham gia phong trào đấu tranh chống Pháp Đó là các binh lính người Việt trong quân đội Pháp Do thực hiện chính sách dùng người Việt để trị người Việt nên qua những cuộc càn quét những binh lính Việt đã thấy được tận mắt những tội ác của giặc, lòng căm thù giặc được khai dậy Hơn nữa do sù đối xử của thực dân Pháp đối với họ là khinh miệt, bạc đãi nên đã dẫn tới việc họ nổi dậy bạo động khởi nghĩa
Trang 9Phần IIIQuá trình thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
1 Bối cảnh ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, tình hình thế giới và trong nước có nhiều biến chuyển sâu sắc Trên thế giới mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa thực dân ngày càng gay gắt Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc diễn ra mạnh mẽ ở các nước thuộc địa Năm 1917, với thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga, chủ nghĩa Mác -Lênin từ lý luận đã trở thành hiện thực, trở thành nguồn cổ vũ to lớn cho các dân tộc bị áp bức đứng lên đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người Tháng 3 năm 1919, Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) ra đời đã thúc đẩy sự phát triển mạnh
mẽ phong trào cộng sản và công nhân quốc tế
Ở trong nước, năm 1858, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam và từng bước thiết lập
bộ máy thống trị, biến nước ta từ một quốc gia phong kiến thành “một xứ thuộc địa, dân
ta là vong quốc nô, Tổ quốc ta bị giày xéo dưới gót sắt của kẻ thù hung ác” Chính sách
thống trị của thực dân Pháp đã làm cho xã hội Việt Nam có nhiều thay đổi trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Trong đó đặc biệt là sự ra đời hai giai cấp mới
là công nhân và tư sản Việt Nam
Các giai cấp, tầng lớp trong xã hội Việt Nam đều mang thân phận người dân mất nước và đều bị thực dân áp bức, bóc lột, chèn ép Do đó, mẫu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam lúc này, không chỉ là mâu thuẫn giữa nhân dân, chủ yếu là nông dân với giai cấp địa chủ và phong kiến, mà đã nảy sinh mâu thuẫn ngày càng gay gắt giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược
Trong bối cảnh đó, các phong trào yêu nước của nhân dân ta theo khuynh hướng tư tưởng phong kiến và dân chủ tư sản diễn ra liên tục và mạnh mẽ Tuy nhiên, do thiếu đường lối đúng đắn, thiếu tổ chức và lực lượng cần thiết nên các phong trào đó đã lần lượt thất bại Cách mạng Việt Nam chìm trong cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước
2 Nguyễn Ái Quốc tìm đường cứu nước và chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
Giữa lúc dân tộc ta đứng trước cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước, nhiều nhà yêu nước đương thời tiếp tục con đường cứu nước theo lối cũ thì ngày 5/6/1911 người thanh niên Nguyễn Tất Thành (tức là Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh sau này) ra đi tìm đường cứu nước theo phương hướng mới
Trải qua quá trình bôn ba đến nhiều nước, Nguyễn Ái Quốc đã nghiên cứu nhiều cuộc cách mạng, nghiên cứu nhiều lý thuyết cách mạng trên thế giới và tháng 7/1920,
Trang 10khi được đọc bản “Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của Lênin đăng trên báo Nhân đạo, người đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc đó là con đường cách mạng vô sản Người khẳng định: “Bây giờ
học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách
mạng nhất chính là chủ nghĩa Lênin”
Tháng 12/1920, Nguyễn Ái Quốc tham dự Đại hội lần thứ 18 Đảng Xã hội Pháp với
tư cách đại biểu Đông Dương, người bỏ phiếu tán thành thành lập Đảng Cộng sản Pháp và trở thành người Cộng sản đầu tiên của dân tộc Việt Nam
Từ năm 1921-1930, Nguyễn Ái Quốc vừa tiếp tục hoạt động trong Đảng Cộng sản Pháp, nghiên cứu bổ sung và hoàn thiện tư tưởng cứu nước, vừa tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam Người tập trung chuẩn bị về tổ chức và cán bộ, lập ra Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên (1925),
tổ chức nhiều lớp đào tạo cán bộ tại Quảng Châu, Trung Quốc, đồng thời gửi cán bộ đi học tại trường Đại học Phương Đông (Liên Xô) và trường Lục quân Hoàng Phố (Trung Quốc)
Nhờ hoạt động không mệt mỏi của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và nhiều đồng chí cách mạng tiền bối mà đến cuối năm 1929, đầu năm 1930, những điều kiện cho sự ra đời của một Đảng vô sản ở Việt Nam đã chín muồi
3 Thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
Đáp ứng những đòi hỏi của thực tiễn cách mạng, từ tháng 6/1929 đến tháng 1/1930,
ở Việt Nam lần lượt xuất hiện 3 tổ chức cộng sản: Đông Dương Cộng sản Đảng ở Bắc Kỳ,
An Nam Cộng sản Đảng ở Nam Kỳ và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn ở Trung kỳ Sự
ra đời của 3 tổ chức cộng sản diễn ra trong vòng nửa cuối năm 1929 là bước tiến nhảy vọt của phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, phù hợp với xu thế và nhu cầu bức thiết của lịch sử Việt Nam Tuy nhiên, ở một nước có tới ba tổ chức cộng sản nên không tránh khỏi sự phân tán về lực lượng và tổ chức, không thể thống nhất về tư tưởng
và hành động
Trong bối cảnh đó, nhận thấy sự cần thiết phải thành lập một Đảng Cộng sản duy nhất, chấm dứt tình trạng chia rẽ phong trào Cộng sản ở Việt Nam, ngày 23-12-1929, Nguyễn Ái Quốc từ Xiêm đến Trung Quốc Người triệu tập đại biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng đến họp tại bán đảo Cửu Long (Hương Cảng)
để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam Theo Báo cáo gửi Quốc tế cộng sản ngày
18-2-1930 của Nguyễn Ái Quốc, hội nghị diễn ra vào ngày 6-1, các đại biểu trở về An Nam ngày 8-2-1930
Trong Hội nghị thành lập Đảng, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đề ra 5 điểm lớn cần
thảo luận và thống nhất, trước hết là tự phê bình và phê bình, “Bỏ mọi thành kiến xung đột cũ, thành thật hợp tác để thống nhất các nhóm cộng sản Đông Dương” Hội nghị đã
nhất trí thống nhất các tổ chức cộng sản thành lập một đảng, lấy tên là Đảng Cộng sản