1. Trang chủ
  2. » Tất cả

TUYỂN TẬP ĐỀ SO SÁNH - BỨT PHÁ ĐIỂM SỐ GIÀNH NGAY ĐIỂM CAO

97 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kiểu bài viết so sánh văn học yêu cầu thực hiện cách thức so sánh trên nhiềubình diện: đề tài, nhân vật, tình huống, cốt truyện, cái tôi trữ tình, chi tiết nghệ thuật, nghệ thuậttrần thu

Trang 1

TỔNG ÔN TẬP DẠNG ĐỀ SO SÁNH

BỨT PHÁ ĐIỂM SỐ - GIÀNH NGAY ĐIỂM CAO

Trang 2

HƯỚNG DẪN CÁCH LÀM BÀI NGHỊ LUẬN DẠNG SO SÁNH

1.Một số loại đề so sánh văn học thường gặp

So sánh là một thao tác tư duy rất cơ bản Trong cuộc sống, khi ta tư duy, ta đã dùngđến thao tác này rất thường xuyên như một phần tất yếu Văn học cũng là một lĩnh vựccủa tư duy, của nhận thức, mang tính đặc thù, cho nên việc sử dụng thao tác so sánhtrong sáng tácvà nghiên cứu văn học là một điều hết sức tự nhiên

Kiểu bài viết so sánh văn học yêu cầu thực hiện cách thức so sánh trên nhiềubình diện:

đề tài, nhân vật, tình huống, cốt truyện, cái tôi trữ tình, chi tiết nghệ thuật, nghệ thuậttrần thuật… Quá trình so sánh có thể chỉ diễn ra ở các tác phẩm của cùng một tác giả,nhưng cũng có thể diễn ra ở những tác phẩm củacác tác giả cùng hoặc không cùng mộtthời đại, giữa các tác phẩm của những tràolưu, trường phái khác nhau của một nền vănhọc

Thực tế cho thấy dạng bài so sánh văn học có rất nhiều loại nhỏ Bằng sự trải nghiệmcủa bản thân và dựa vào tổng kết các đề thi của những năm gần đây

-So sánh hai chi tiết trong hai tác phẩm văn học:

Ví dụ 1: Đề khối D 2010: So sánh chi tiết ấm nước đầy và còn ấm mà Từ dành chămsóc Hộ và chi tiếtbát cháo hành của Thị Nở dành cho Chí Phèo

Ví dụ2: Cảm nhận của anh/chị về chi tiết “tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá!” mà nhân vật Chí Phèo cảm nhận được sau đêm gặp thị Nở (Chí Phèo - Nam Cao, Ngữ văn 11) và chi tiết “Mị nghe tiếng sáo vọng lại, thiết tha bổi hổi” mà nhân vật Mị nghe được trong đêm tình mùaxuân (Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài, Ngữvăn 12)

-So sánh hai đoạn thơ

Ví dụ1: Đề khối C 2008 (diễn tả nỗi nhớ) trong hai bài: Tây Tiến của Quang Dũng và Tiếnghát con tàu của Chế Lan Viên

Ví dụ2: Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ sau:

Tôi muốn tắt nắng đi

Cho màu đừng nhạt

mất; Tôi muốn buộc gió

lại Cho hương đừng bay

đi.

Trang 3

(Vội vàng– Xuân Diệu, Ngữ văn 11,

Tập 2, NXB Giáo dục 2011)

Tôi buộc lòng tôi với mọi người

Để tình trang trải với trăm nơi

Để hồn tôi với baohồn khổ

Gần gũi nhau thêmmạnh khối đời.

(Từ ấy– Tố Hữu, Ngữ văn 11,

Tập2, NXB Giáo dục 2011)

- So sánh hai đoạn văn

Ví dụ 1: Đề khối C 2010 (khắc họa vẻ đẹp hai dòng sông) trong hai bài kí: Ngườilái đò sông Đà của Nguyễn Tuân và Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường

Ví dụ2: Cảm nhận về hai đoạn văn sau: “Ngày tết, Mị cũng uống rượu Mị nén lấy hũ rượu cứ uống ực ực từng bát Rồi say, Mị lịm mặt ngồi đấy nhìn mọi người nhảy đồng, người hát, nhưng lòng Mị thì đangsống về ngày trước Tai Mị văng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng ” (Vợ chồng APhủ - Tô Hoài)

“Phải uống thêm chai nữa Và hắn uống Nhưng tức quá, càng uống lại càng tỉnh ra Tỉnh ra chao ôi buồn! Hơi rượu không sặc sụa, hắn cứ thoang thoảng thấy hơicháo hành Hắn ôm mặt khóc rưng rức ” (Chí Phèo –Nam Cao)

Ví dụ2: So sánh cách kết thúc hai tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam và Chí Phèo

của Nam Cao

-So sánh phong cách tác giả:

Ví dụ: So sánh Chữ người tử tù (Ngữ văn 11, tập một) với Người lái đò Sông Đà, nhận

xét những điểm thống nhất và khác biệt của phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân trước

và sau Cách mạng tháng Tám năm 1945

Trang 4

-So sánh, đánh giá hai lời nhận định về một tác phẩm

Đề thi đại học khối C năm 2013 cũng có thể xem là một dạng của so sánh: Vềhình

tượng người lính trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng có ý kiến cho rằng : người lính ở đây có dáng dấp của tráng sĩ thuở trước; ý kiến khác thì nhấn mạnh: hình tượng người lính mang đậm vẻ đẹp của người lính thời kì kháng chiến chống Pháp Từ cảm

nhận của mình về hình tượng này, anh chị hãy bình luận những ý kiến trên

Đề thi đại học 2013 yêu cầu người viết hiểuđúng, hiểu sâu nhưng quan trọng là tự bày

tỏ hiểu biết tùy theo năng lực nhậnthức, không lệ thuộc tài liệu hay bài giảng của thầy

cô Đáp án chấp nhận cảquan điểm khác hướng dẫn chấm nhằm khuyến khích thí sinhmạnh dạn viết về vấn đề với cảm nhận từ nhiều điểm nhìn khác nhau, trình độ khácnhau Vấn đề quan trọng quyết định đánh giá chất lượng bài thi văn lại chính là kỹ năngphântích, so sánh, bình luận làm rõ vấn đề của học sinh

2 Các cách làm bài dạng đề so sánh văn học

- Đứng trước một đề văn thường có rất nhiều cách triển khai, giải quyếtvấn đề, song đốivới kiểu đề so sánh văn học dù là ở dạng so sánh hai chi tiết, hai đoạn thơ, hai đoạnhvăn, hay hai nhân vật phương pháp làm bài văn dạng này thông thường có hai cách:

Nối tiếp : Lần lượt phân tích hai vănbản rồi chỉ ra điểm giống và khác nhau

Song song : Tìm ra các luận điểm giống và khác nhau rồi lần lượt phân tích từng luận

điểm kết hợpvới việc lấy song song dẫn chứng của cả hai văn bản minh họa

* Cách 1: Phân tích theo kiểu nối tiếp Đây là cách làm bài phổ biến của học sinh khi

tiếp cận với dạng đề này, cũng là cách mà Bộ giáo dục và đào tạo định hướng trong đáp

án đề thi đại học - cao đẳng Bước một lần lượt phân tích từng đối tượng so sánh cả vềphương diện nội dung và nghệ thuật, sau đó chỉ ra điểm giống và khác nhau Cách nàyhọc sinh dễ dàng triển khai các luận điểm trong bài viết Bài viết rõ ràng, không rối kiếnthức nhưng cũng có cái khó là đến phần nhận xét điểm giống và khác nhau học sinhkhông thành thạo kĩ năng, nắm chắc kiến thức sẽ viết lặp lại những gì đã phân tích ởtrên hoặc suy diễn một cách tùy tiện Mô hình khái quát của kiểu bài này như sau:

Mở bài:

- Dẫn dắt (mở bài trực tiếp không cần bước này)

- Giới thiệu khái quát về các đối tượng so sánh

Trang 5

- So sánh:

+ Nhận xét nét tương đồng và khác biệt giữa hai đối tượng trên cả các bình diện nhưchủ đề, nội dung hình thức nghệ thuật (bước này vận dụng kết hợp nhiều thao tác lậpluận nhưng chủ yếu là thao tác lập luận phân tích và thao tác lập luận so sánh)

+Lý giải sự khác biệt: Thực hiện thao tác này cần dựa vào các bình diện: bối cảnh xãhội, văn hóa mà từng đối tượng tồn tại; phong cách nhà văn; đặc trưng thi pháp của thời

kì văn học…(bước này vận nhiều thao tác lập luận nhưng chủyếu là thao tác lập luậnphân tích)

Kếtbài:

- Khái quát những nét giống nhau và khác nhau tiêu

biểu - Có thể nêu những cảm nghĩ của bản thân

*Cách 2: Phân tích song song được hiểu song hành so sánh trên mọi bình diện của hai

đối tượng Cách này hay nhưng khó, đòi hỏi khả năng tư duy chặt chẽ,

lôgic, sự tinh nhạy trong phát hiện vấn đề học sinh mới tìm được luận diểm của bài viết

và lựa chọn những dẫn chứng tiêu biểu phù hợp của cả hai văn bản để chứng minh cho

luận điểm đó Ví dụ, khi so sánh hai bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi và trích đoạn Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm Ứng dụng cách viết này học sinh không phân

tích lần lượt từng tácphẩm như cách một mà phân tích so sánh song song trên các bìnhdiện: Xuất xứ - cảm hứng- hình tượng - chất liệu và giọng điệu trữ tình, mô hình kháiquát của kiểu bài này như sau:

Mở bài:

- Dẫn dắt (mở bài trực tiếp không cần bước này)

- Giới thiệu khái quát về các đối tượng so sánh

Thân bài:

- Điểm giống nhau

+ Luận điểm 1 (lấy dẫn chứng cả hai văn bản)

+ Luận điểm 1 (lấy dẫn chứng cả hai văn bản)

+ Luận điểm

- Điểm khác nhau

+ Luận điểm 1 (lấy dẫn chứng cả hai văn bản)

+ Luận điểm 1 (lấy dẫn chứng cả hai văn bản)

+ Luận điểm

Kếtbài

- Khái quát những nét giống nhau và khác nhau tiêu biểu

- Có thể nêu những cảm nghĩ của bản thân

Trang 6

* Hai cách làm bài của kiểu đề so sánh văn học là vậy, mỗi cách làm đều có mặt mạnh,mặt yếu khác nhau Trong thực tế không phải đề nào chúng ta cũng có thể áp dụng theođúng khuôn mẫu cáchlàm như đã trình bày ở trên Phải tùy thuộc vào cách hỏi trongmỗi đề cụ thể màta áp dụng theo cách nào và áp dụng sao cho linh hoạt, phù hợp Cũng

có khi vậndụng đầy đủ các ý của phần thân bài,cũng có khi phải cắt bỏ một phần chohợp với yêu cầu trọng tâm của đề, hay dụngý của người viết

3.3.Một số đề luyện tập tham khảo

Phần này tôi giới thiệu một số đề so sánh văn học và gợi ý đáp án để chúng ta cùngtham khảo khi hướng dẫn ôn tập cho học sinh Vì dung lượng có hạn của một sáng kiếnkinh nghiệm nên tôi không trình bày đầy đủ các ý cần có theo yêu cầu đề mà chủ yếugợi ý điểm giốngvà khác nhau – luận điểm khó nhất của bài viết Thiết nghĩ các luậnđiểm khác học sinh có thể làm tốt được

Đề 1: Vẻ đẹp xứ Huế qua hai tác phẩm Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử) và Ai đã đặt

tên cho dòng sông ? (Hoàng Phủ Ngọc Tường)

- Cả hai đều là những cây bút tài hoa, tinh tế, nhạy cảm trong văn chương, có tâm hồn hết sức lãng mạn, phong phú

*Nét khác biệt:

-Đây thôn Vĩ Dạ: Bài thơ được gợi cảm hứng từ tấm bưuthiếp mà Hoàng Cúc gửi cho

Hàn Mặc Tử nên điểm nhìn cảm xúc trong một khônggian hẹp, cái nhìn từ kí ức Cảnhvật của xứ Huế hiện lên với những nét đặctrưng rất bình dị, quen thuộc, gần gũi nhưngcũng thật lãng mạn: cảnh vườn tượcxanh mướt như ngọc, sông trăng huyền ảo, conngười với vẻ đẹp đằm thắm, dịu dàng cảnh vật in đậm cảm xúc về tình đời, tình người

- Ai đã đặt tên cho dòng sông?: HoàngPhủ Ngọc Tường chọn điểm nhìn là sông

Hương, đặt trong một không gian phóng khoáng, rộng lớn hơn Vẻ đẹp của xứ Huế hiệnlên ở rất nhiều góc độ từ quá khứ cho đến hiện tại, từ lịch sử, thơ văn đến địa lí, vănhóa Vì thế vùng đất cố đô hiện lên toàn diện hơn, hiện thực hơn bởi sông Hươngchính là linh hồn của Huế,là nơi tích tụ những trầm tích văn hóa lâu đời của mảnh đấtkinh thành cổ xưa

Trang 7

- Lí giải sự khác biệt

+Xuất phát từ đặc điểmcủa thể loại thơ và bút kí là khác nhau Thơ nghiêng về cảm xúc,

tâm trạng Bút kí không chỉ đòi hỏi có cảm xúc mà ít nhiều có tính xác thực và khách

quan

+ Đối với Hàn Mặc Tử, Huế là nơi tác giả từng gắn bó, giờ đã trở thành kỉ niệm CònHoàng Phủ Ngọc Tường là người concủa xứ Huế nên chất Huế đã thấm sâu vào tâmhồn máu thịt của ông

Đề 2: Cảmnhận của anh/chị về hai đoạn thơ sau:

Tôi muốn tắt nắng đi

Cho màu đừng nhạtmất;

Tôi muốn buộc gió lại

Cho hương đừng bay đi.

(Vội vàng– Xuân Diệu, Ngữ văn 11,

Tập2, NXB Giáo dục 2011)

Tôi buộc lòng tôi với mọi người

Để tình trang trảivới trăm nơi

Để hồn tôi với bao hồn khổ

Gần gũi nhau thêmmạnh khối đời.

(Từ ấy– Tố Hữu, Ngữ văn 11,

Tập2, NXB Giáo dục 2011)

Gợi ý

*Nét tương đồng:

- Hai bài thơ ra đời cùng thời (1938)

- Nhân vật trữ tình trong hai bài thơ đềulà hình tượng cái tôi tác giả vì thếnó thể hiện

đầy đủ những nét độc đáo thế giới tinh thần của hai nhà thơ

- Cái tôi trẻ trung giàu nhiệt huyết, tâmhồn sôi nổi, nồng nhiệt trong tình cảm cùnggiọng điệu lãng mạn

- Đều hướng đến cuộc đời, con người bằngtình yêu chân thành, mãnh liệt và gửi vào

đó những lẽ sống đẹp

*Sự khác biệt

- Khổ thơ của Tố Hữu :

+ Đối tượng hướng đến là tầng lớp quầnchúng nhân dân cần lao

+Thái độ tha thiết gắn bó bằng một tráitim tự nguyện

+Mục đích chia sẻ, đồng cảm giữa cá nhânvới cộng đồng tạo thành một khối đời

vững chắc

Trang 8

->Cái tôi tận hiến

-> Tố Hữu một người say mê lí tưởng,sẵn sàng dâng hiến nhiệt huyết tuổi trẻ cho

lí tưởng cộng sản Bộc lộ mình lànhà thơ cách mạng -Khổ thơ của Xuân Diệu

+ Đối tượng hướng đến là tất cả những gìthuộc về sự sống ở trần gian, ngay trong tầmtay với

+Thái độ khao khát giao cảm mãnh liệt

+Mục đích: chiếm lĩnh và hưởng thụ trọnvẹn hương sắc của cuộc đời, vẻ đẹp của trầngian

-> Cái tôi tận hưởng

-> Xuân Diệu một tâm hồn nhạy cảm,giàu rung động trước vẻ đẹp của cuộc sống trần gian Một cái tôi chân thànhmãnh liệt trong cảm xúc, một cái tôi công khai bộc lộ khát vọng cá nhân, bộc lộmình là nhà thơ lãng mạn

Trang 9

ĐỀ 1

So sánh câu nói của Chí Phèo và câu nói của Tràng

Đề bài :Sau khi nhận được bát cháo hành từ tay thị Nở, Chí Phèo bảo với thị:

– Hay là mình sang đây ở với tớ một nhà cho vui (Chí Phèo – Nam Cao, Ngữ văn 11)Trong truyện ngắn Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân (Ngữ văn 12), sau khi đãi người đàn

bà bốn bát bánh đúc, Tràng cười và nói với thị:

– Này nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về

Cảm nhận của anh chị về ý nghĩa của những câu nói trên

Hướng dẫn làm bài : Đây là kiểu bài so sánh văn học, các em cần nắm vững phươngpháp làm bài , tránh lạc đề, lan man

Mở bài :

Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm và giới hạn đề

– Nam Cao, cây bút hiện thực xuất sắc và thấm đẫm tinh thần nhân đạo Chí Phèo (1941) là kiệt tác đã kết tinh cao nhất cho đặc điểm nghệ thuật của nhà văn Chi tiết

“Hay là mình sang đây ở với tớ một nhà cho vui” là một trong những chi tiết đặc sắc thể hiện giá trị nhân đạo của tác phẩm

– Kim Lân là một nhà văn thành công đặc biệt khi viết về người nông dân và cuộc sốngnông thông trong nền văn học Việt Nam hiện đại Vợ nhặt là một trong những truyện ngắn xúc động nhất của ông Tác phẩm có giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc Chi tiết

“Này nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về” thể hiện sâu sắc giátrị nhân đạo của truyện

Thân bài: lần lượt phân tích từng chi tiết sau đó so sánh

1 Chí Phèo

Trang 10

+Ý khái quát : nêu ngắn gọn hoàn cảnh sáng tác, nội dung và bối cảnh dẫn tới câu nói của Chí Phèo.

+Về chi tiết “Hay là mình sang đây ở với tớ một nhà cho vui” trong tác phẩm Chí Phèocủa Nam Cao:

+ Câu nói Hay là mình sang đây ở với tớ một nhà cho vui cho thấy khát vọng hạnh phúc, được yêu thương vẫn ẩn sâu trong con quỷ dữ Chí Phèo sau bao nhiêu năm tháng

bị vùi lấp bởi rượu, máu và nước mắt Chí không dám nói một lời “cầu hôn” thẳng thắn, rõ ràng mà chọn cách nói lấp lửng thể hiện sự âu lo, phấp phỏng của một thân phận bị chối bỏ với một niềm hi vọng mong manh

+Về chi tiết :Này nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về trong

Vợ nhặt- Kim Lân:Tràng là một chàng trai nông dân nghèo, ế vợ trước tình cảnh củangười đàn bà bị cái đói xô đẩy, Tràng đã đãi thị bốn bát bánh đúc Sau đó, Tràng nóimột câu với hình thức như một câu nói đùa: Này nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuânhàng lên xe rồi cùng về

– Về nội dung:

+ Câu nói đùa nhưng lại thể hiện niềm khát khao hạnh phúc có thật, mãnh liệt cháybỏng thẳm sâu trong người nông dân nghèo ấy mà ngay cả nạn đói và cái chếtcũng không thể dập tắt

Trang 11

+ lời nói của Tràng có vẻ như đùa song ngọn lửa hạnh phúc trong Tràng đước thắp lên

từ câu nói đùa ấy lại thật sự bùng cháy Tràng trân trong hạnh phúc của mình cũng nhưbằng tất cả những gì có thể, anh biến cuộc hôn nhân với thị trở nên đàng hoàng,nghiêm túc

– Sự khác biệt:

+ Ở Chí Phèo, chi tiết thể hiện khát vọng mang bản chất người ẩn sâu trong con quỷ dữChí Phèo, sau khi cảm nhận được tình yêu thương mộc mạc, chân thành ở thị Nở Câu nói cho thấy anh nông dân Chí hiền lành, chân chất ngày xưa đã sống lại, thay thế hoàntoàn cho con quỷ dữ Chí Phèo

+ Ở Vợ nhặt, chi tiết khẳng định sức mạnh của tình người, của khát vọng mái ấm giađình, sống trong tình yêu thương chiến thắng sự đe dọa của nạn đói và cái chết

4 Lí giải :

+Do hoàn cảnh sáng tác

+Do phong cách, cá tính sáng tạo của nhà văn

Kết bài : Đánh giá chung:

Hai chi tiết nhỏ đã thể hiện khả năng thấu hiểu, đồng cảm và sự trân trọng của hai nhà văn đối với vẻ đẹp và sức sống tâm hồn người nông dân nghèo trước cách mạng tháng Tám Đó là sự tiếp nối xuất sắc của nam Cao và Kim Lân với mạch nguồn nhân đạo củavăn học Việt Nam

ĐỀ 2

Trang 12

So sánh đoạn thơ trong bài Đất nước và Tây Tiến

Cảm nhận của anh/ chị về hai đoạn thơ sau:

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành

(Tây Tiến – Quang Dũng)

Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình

Phải biết gắn bó và san sẻ

Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở

Làm nên Đất Nước muôn đời

(Đất Nước - Nguyễn Khoa Điềm)

Mở bài:

Tây Tiến của Quang Dũng và Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm là những bài thơ đặc

sắc trong nền thơ cách mạng Việt Nam Hai tác phẩm này đã nói về những con người

vô danh lặng thầm chiến đấu bảo vệ quê hương Mỗi bài thơ đều để lại những cảm xúc,suy tư sâu lắng trong lòng người đọc Trong đó có những câu thơ rất đặc sắc:

“Rải rác biên cương mồ viễn xứ

……….”

Và:

Trang 13

Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình

Phải biết gắn bó và san sẻ

Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở

Làm nên Đất Nước muôn đời

Thân bài:

a Đoạn thơ trong bài Tây Tiến

*Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm, vị trí đoạn thơ

+Quang Dũng là nghệ sĩ đa tài (thơ, văn, nhạc, hoạ), cũng là một người lính, sống một đời lính oanh liệt, hào hùng Quãng đời ấy đã trở thành cảm hứng đặc sắc trong thơ ông

Bài thơ Tây Tiến viết về người lính, về những chàng trai“chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” – người lính Tây Tiến.

+Tây Tiến là một đơn vị bộ đội thành lập đầu năm 1947 Thành phần chủ yếu là thanhniên trí thức Hà Nội Nhiệm vụ của họ là phối hợp với bộ đội Lào, đánh tiêu hao lực lượng địch ở Thượng Lào, bảo vệ biên giới Việt Lào Sau một thời gian hoạt động ở Lào, đoàn quân Tây Tiến trở về Hoà Bình thành lập trung đoàn 52 Năm 1948, nhà thơ Quang Dũng chuyển sang đơn vị khác, không bao lâu, ông nhớ đơn vị cũ sáng tác bài thơ này

+ Bài thơ có 4 khổ, đây là khổ thứ 3, nội dung khắc hoạ hình tượng người lính TT

*Phân tích

-Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là nỗi nhớ, nhớ về đồng đội và địa bàn hoạt động của đoàn quân, nhớ về vùng đất mà bước chân hào hùng mà đoàn binh Tây Tiến đã đi qua –Tây Bắc Vùng đất đó với thiên nhiên hoang sơ, hùng vĩ và thơ mộng, trữ tình, vùng đất

ấy với những con người tài hoa, duyên dáng và nghĩa tình Trên nền cảnh ấy là hình ảnhngười lính Tây Tiến Họ hiện lên thật ấn tượng với phẩm chất hào hùng đáng kính, họ

đã hi sinh dọc đường hành quân, hi sinh dọc miền biên giới – họ đã hi sinh vì lí tưởng sống cao đẹp:

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Trang 14

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành

-Đoạn thơ sử dụng rất nhiều từ Hán Việt mang sắc thái trân trọng, thể hiện không khí trang nghiêm, lòng thành kính thiêng liêng của nhà thơ trước sự hi sinh của đồng đội Những từ ngữ ấy như những nén tâm nhang thắp lên đưa tiễn những người đã ngã xuống CHính hệ thống từ ngữ ấy kết hợp với những hình ảnh giàu sức gợi (biên cương,chiến trường, áo bào, khúc độc hành) cũng tạo sắc thái cổ kính, gợi liên tưởng đến sự hisinh oanh liệt của những anh hùng, dũng tướng sẵn sàng chấp nhận cảnh “da ngựa bọc thây” đầy bi tráng trong văn học trung đại

-Câu thơ đầu đoạn thơ sử dụng nhiều từ Hán Việt (biên cương, viễn xứ) nhưng sức nặng

của cả câu lại dồn vào một từ thuần Việt: “mồ” Mồ cũng là mộ nhưng không phải mộ

theo đúng nghĩa Đó chỉ là những nấm đất được đào vội, chôn mau ngay trên con đườnghành quân vội vã để đoàn quân lại tiếp tục lên đường Đặt trong không gian bao la, mênh mông hoang sơ của miền biên giới Việt – Lào, những nấm mồ ấy gợi lên bao nỗi xót xa

-Trong câu thơ thứ hai, tác giả sử dụng nghệ thuật đảo ngữ (chiến trường đi) để nhấn mạnhđích đến của người lính, người chiến sĩ Trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, sứ mênhđất nước rất mỏng manh, chiến trường là đích đến duy nhất, là sự lựa chọn đầy trách nhiệmcủa cả một thế hệ Với họ, “đường ra trận mùa này đẹp lắm” và “cuộc đời đẹp nhất trên

trận chiến chống quân thù” Cách nói “chẳng tiếc đời xanh” cho thấy sự dứt khoát, lòng

quyết tâm, coi thường gian nguy, coi thường cái chết Họ sẵn sàng hiến dâng cả đời xanh, tuổi trẻ, quãng đời đẹp nhất cho tổ quốc, hơn thế nữa, tính mạng của họ cũng sẵn sàng hi

sinh để làm nên dáng hình đất nước Họ ra đi với tinh thần của cả thời đại“Người ra đi đầu

không ngoảnh lại” Đó là lí tưởng sống cao đẹp, hào hùng.

-Viết về người lính và cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc ta, nhà thơ Quang Dũng rấtchân thực, ông không hề né tránh hiện thực:

Áo bào thay chiếu anh về đất

“Áo bào thay chiếu” – một hình ảnh thực đến xót xa của chiến tranh Nhưng cái thiếu

thốn về vật chất lại được khoả lấp bằng sự hiên ngang, can trường của người lính Từ

Hán Việt và cách nói “Áo bào thay chiếu anh về đất”làm cho cái chết của người lính

Trang 15

Tây Tiến trở nên trang trọng hơn rất nhiều, thiêng liêng hơn nhiều Nhà thơ vẫn gợi lên

sự thật chung của cả thời chống Pháp là sự thiếu thốn về vật chất, ở vùng biên giới xa xôi thì sự thiếu thốn ấy còn nhân lên gấp bội Người chiến sĩ đã ngã xuống không có một cỗ quan tài, thậm chí không có lấy một tấm chiếu để liệm thân mà khi ngã xuống vẫn cứ mặc nguyên tấm áo thường ngày trên đường hành quân Đó có thể là tấm áo sờn vai, tấm áo bạc màu, tấm áo có vài mảnh vá Nhưng với thái độ trân trọng đồng đội, nhàthơ Quang Dũng đã thấy họ như đang mặc tấm áo bào của chiến tướng mà đi vào cõi

vĩnh hằng, bất tử cùng sông núi Cách nói “về đất” không chỉ là cách nói giảm, nói

tránh mà mang ý nghĩa biểu tượng thiêng liêng Cái chết không phải là ra đi vào cõi hư

vô bất định mà là trở về, trở về với đất Mẹ yêu thương Đất Mẹ cũng đã mở lòng đón những đứa con đầy trách nhiệm của mình trở về Họ đã ra đi như thế đấy Họ đã nằm lạinơi chân đèo, dốc núi nào đó trên con đường hành quân đầy gian khổ, nhọc nhằn, họ đã

để lại mình nơi biên cương lạnh lẽo, hoang vắng Nhưng họ đã ra đi vì lí tưởng, cái chếtcủa họ dù để lại nhiều xót xa trong lòng người đọc nhưng họ ra đi một cách rất thanh

thản Họ chỉ là “không bước nữa”, là “bỏ quên đời”, là “về đất” thôi chứ không phải

là chết các anh đã ngã xuống, đã “hoá thân cho dáng hình xứ sở” để rồi mỗi thế núi hình sông, mỗi tên đất tên làng đều có bóng hình các anh Các anh hi sinh, trở về trong

lòng Đất Mẹ để “cho cây đời mãi mãi xanh tươi”, để đem lại cho đất đai, cho quê

hương đất nước sự sống bất tận

– Đoạn thơ kết thúc bằng một âm hưởng hào hùng Dường như linh hồn người tử sĩ đãhòa cùng sông núi, con sông Mã đã tấu lên khúc nhạc đau thương, hùng tráng để tiễn đưa người lính vào cõi bất tử Hình tượng “sông Mã” ở cuối bài thơ được phóng đại vànhân hóa, tô đậm cái chết bi hùng của người lính_ sự hi sinh làm lay động đất trời, khiến dòng sông gầm lên đớn đau, thương tiếc

*Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm:

+Nguyễn Khoa Điềm là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thế hệ các nhà thơ trẻ thời chống Mỹ Ông xuất thân từ một gia đình trí thức cách mạng ở Huế, bản thân ông

Trang 16

tham gia trực tiếp vào phong trào đấu tranh sinh viên nên thơ Nguyễn Khoa Điềm rấtgiàu chất suy tư, cảm xúc dồn nén mang tâm tư của người trí thức….

+Đất nứơc là phần đầu chương V của trường ca Mặt đường khát vọng, viết năm 1971tại chiến khu Trị Thiên giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mĩ đang hết sức khốc liệt

*Phân tích

“Em ơi em Đất Nước là máu xương của

mình Phải biết gắn bó và san sẻ

Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở

Làm nên Đất Nước muôn đời”

– Đoạn thơ có giọng điệu tâm tình sâu lắng, thiết tha Tác giả tạo ra cuộc trò chuyện thân mật giữa nhân vật trữ tình “anh” với “em” Giọng điệu ấy đã làm mềm hóa nặng

nề, khô khan của chất chính luận

– Nguyễn Khoa Điềm đã khám phá một định luật rất mới “Đất Nước là máu xương củamình” Đối với mỗi con người, máu xương là yếu tố cần thiết cho sự sống Hình ảnh sosánh độc đáo ấy có hàm ý khẳng định: Đất nước là sự sống thiêng liêng đối với mỗicon người

Nguyễn Khoa Điềm nhắc nhở mỗi người chúng ta phải biết trân trọng đất nước hômnay

– Từ việc xác định vai trò quan trọng của đất nước đối với mỗi con người, nhà thơ khơigợi ý thức trách nhiệm của mỗi công dân, nhất là thế hệ trẻ Phép điệp ngữ “phải biết” vừa có ý nghĩa cầu khiến vừa là lời thiết tha, mong chờ như mệnh lệnh từ trái tim Ba cụm động từ cụ thể hóa trách nhiệm của mỗi con người: “Gắn bó” là lời kêu gọi đoàn kết, hữu ái giai cấp Vì, có đoàn kết là có sức mạnh “San sẻ” là mong muốn mỗi người

có ý thức gánh vác trách nhiệm với quê hương Còn “hóa thân” là biểu hiện tinh thần sẵn sàng hi sinh cho đất nước, là sự dâng hiến thiêng liêng, đẹp đẽ

* Nghệ thuật:

– Đoạn thơ mang tính chính luận nhưng được diễn đạt bằng hình thức đối thoại, giọngđiệu trữ tình kết hợp với biện pháp tu từ điệp ngữ Từ “Đất Nước” dược lặp lại hai lầnkết hợp cách viết hoa đã tăng thêm sự tôn kính thiêng liêng, thể hiện quan niệm lớn:

“Đất Nước của nhân dân”

Trang 17

– “Tây Tiến” với cảm hứng đất nước được gợi lên từ nỗi nhớ cũa người lính vùng cao

về những năm tháng đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp “Đất Nước” hoànthành trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ tại mặt trận Trị Thiên bộc lộ cảm hứngđất nước qua cái nhìn tổng quát đưa đến những chiêm nghiệm mới mẻ, sâu sắc về đất nước: Đất nước là tất cả những gì gắn bó máu thịt với mỗi con người

-Đoạn thơ trong bài Tây Tiến được viết bằng thể thơ thất ngôn, có sử dụng nhiều từ Hán

Việt trang trọng với giọng điệu thơ dứt khoát, mạnh mẽ, âm hưởng hào hùng để tô đậmhiện thực khốc liệt của chiến tranh và khẳng định sự bất tử của người chiến sĩ vô danh

+Đoạn thơ trong Đất Nước được viết bằng thể thơ tự do, giọng điệu tâm tình trò

chuyện, từ ngữ giản dị, gần gũi nhằm khẳng định vai trò to lớn của nhân dân vô danh

Lí giải :

Sự khác biệt như trên :

 Do hoàn cảnh sáng tác

 Do phong cách, cá tính sáng tạo của mỗi nhà thơ

Kết bài: Đánh giá chung về giá trị hai đoạn thơ và tài năng nghệ thuật của hai tác giả

Trang 18

ĐỀ 3 : So sánh cảnh thiên nhiên Tây Tiến và Đây Thôn Vĩ Dạ

Đề so sánh hai đoạn thơ trong bài Đây thôn Vĩ Dạ- Hàn Mặc Tử và đoạn thơ trong bài Tây Tiến – Quang Dũng.

Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ sau:

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa

(Tây Tiến – Quang Dũng)

Gió theo lối gió mây đường mây

Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay?

+Ý khái quát : một vài nét về tác giả tác phẩm và vị trí đoạn thơ cần phân tích

+Phân tích, cảm nhận từng đoạn thơ:

a Đoạn thơ trong bài thơ Tây Tiến là cảnh sông nước miền Tây hoang sơ, thơ

Trang 19

mộng, trữ tình.

Giữa khói sương của hoài niệm, Quang Dũng nhớ về một “chiều sương ấy”- khoảng thời gian chưa xác định rõ ràng nhưng dường như đã khắc sâu thành nỗi nhớ niềm thương trong tâm trí nhà thơ Đó có thể là khi đoàn quân chia tay một bản làng Tây Bắcchăng? Quá khứ vọng về là những hình ảnh mờ mờ ảo ảo, lung linh huyền hoặc: “hồn lau nẻo bến bờ”, “dáng người trên độc mộc” và “hoa đong đưa” Cảnh vật hiện lên qua nét vẽ của Quang Dũng dù rất mong manh mơ hồ nhưng lại rất giàu sức gợi, rất thơ, rấtthi sĩ, rất đậm chất lãng mạn của người lính Hà thành:

“Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc”

Câu hỏi tu từ với phép điệp “có thấy”, “có nhớ” dồn dập như gọi về biết bao kỷ niệm của một thời đã xa Trong tâm tưởng của nhà thơ, cây lau tưởng như vô tri vô giác cũngmang hồn Cách nhân hoá có thần đã khiến thiên nhiên trở nên đa tình thơ mộng hơn Thiên nhiên mang “hồn” là bởi nhà thơ có cái nhìn hào hoa nhạy cảm hay bởi nơi đây còn vương vất linh hồn của những đồng đội của nhà thơ? Sự cảm nhận tinh tế hoà quyện với thanh âm da diết của nỗi nhớ đã làm vần thơ thêm chứa chan xúc cảm

Bên cạnh thiên nhiên, hình ảnh con người thấp thoáng trở về trong hồi ức của Quang Dũng “trên độc mộc”- chiếc thuyền làm bằng cây gỗ lớn, bóng dáng con người hiện lên đầy kiêu hùng, dũng cảm mà tài hoa khéo léo giữa dòng nước xối xả, mạnh mẽ đặc trưng của miền Tây Phải chăng tư thế đó đủ để người đọc nhận ra vẻ đẹp riêng của con người Tây Bắc, của đoàn binh Tây Tiến trong những năm tháng gian khổ mà hào

hùng? “dáng người” ở đây có thể là dáng hình của người Tây Bắc, cũng có thể là chínhnhững chiến sĩ Tây Tiến đang đối mặt với thách thức của thiên nhiên dữ dội chăng? Dù hiểu theo cách nào, dáng người trong thơ Quang Dũng cũng luôn khảm sâu trong tâm trínhà thơ, luôn hiên ngang kiêu hùng mà uyển chuyển, tài hoa và khéo léo:

“Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

Có thể khẳng định rằng, đây là một trong những chi tiết ‘đắt’ nhất mà Quang Dũng tạonên cho bức tranh thiên nhiên miền Tây, đoá hoa giữa dòng là hội tụ của cái nhìn đa tình vốn có trong tâm hồn người lính Hà Thành trẻ tuổi và vẻ thơ mộng của cảnh sắc nơi đây Nói như thế là bởi, ta nghiệm ra rằng, hình ảnh “hoa đong đưa” khi đang “trôidòng nước lũ” là hình ảnh không thể có trong thực tại nhưng lại rất hợp lý khi đặt giữamạch cảm hứng trữ tình của bài thơ Cánh hoa như đôi mắt đong đưa, lúng liếng với

Trang 20

người lính trẻ hay bởi tâm hồn các anh quá hào hoa, quá lãng mạn yêu đời nên mới có thể nhìn thiên nhiên bằng cái nhìn đa tình đến như thế? Bằng bút pháp lãng mạn với phép nhân hoá, Quang Dũng đã vẽ nên nét vẽ thần tình, thâu tóm trọn vẹn vẻ đẹp của thiên nhiên Tây Bắc, gửi gắm vào đó cả nỗi nhớ niềm thương luôn cháy bỏng trong tráitim ông Phải yêu lắm đồng đội, yêu lắm thiên nhiên và con người nơi đây thì Quang Dũng mới có thể diễn tả tinh tế vẻ đẹp của chiều sương cao nguyên đến như vậy!

Bút pháp lãng mạn hào hoa, phép nhân hoá thần tình, cách dùng điệp từ khéo léo đã quyện hoà với nỗi nhớ chưa bao giờ nguôi ngoai trong sâu thẳm tâm trí nhà thơ về đồngđội và thiên nhiên miền Tây Tổ quốc, tất cả tạo nên điểm sáng lấp lánh của tâm hồn mộtngười chiến sĩ thiết tha với Tây Tiến, với quê hương Xin nhắc mãi vần thơ của ông trong nỗi nhớ chơi vơi da diết!

b Đoạn thơ trong bài Đây thôn Vĩ Dạ là khung cảnh sông nước xứ Huế qua cảm

nhận của cái tôi trữ tình đầy tâm trạng.

Khổ thơ thứ nhất nói về cảnh vật thôn Vĩ khi “nắng mới lên” … ở khổ thơ thứ hai, HànMạc Tử nhớ đến một miền sông nước mênh mang, bao la, một không gian nghệ thuật nhiều thương nhớ và lưu luyến Có gió, nhưng “gió theo lối gió” Cũng có mây, nhưng

“mây đường mây” Mây gió đôi đường, đôi ngả:

“Gió theo lối gió, mây đường mây”.

Cách ngắt nhịp 4/3, với hai vế tiểu đối, gợi ta một không gian gió, mây chia lìa, như một nghịch cảnh đầy ám ảnh Chữ “gió” và “mây” được điệp lại hai lần trong mỗi vế tiểu đối đã gợi lên một bầu trời thoáng đãng, mênh mông Thi nhân đã và đang sống trong cảnh ngộ chia li và xa cách nên mới cảm thấy gió mây đôi ngả đôi đường như tình

và lòng người bấy nay Ngoại cảnh gió mây chính là tâm cảnh Hàn Mạc Tử

Không có một bóng người xuất hiện trước cảnh gió mây ấy Mà chỉ có “Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay” Cảnh vật mang theo bao nỗi niềm Sông Hương lững lờ trôi xuôi êm đềm, trong tâm tưởng thi nhân đã hóa thành “dòng nước buồn thiu”, càng thêm

mơ hồ, xa vắng “Buồn thiu” là buồn héo hon cả gan ruột, một nỗi buồn day dứt triền miên, cứ thấm sâu mãi vào hồn người Hai tiếng “buồn thiu” là cách nói của bà con xứ Huế Bờ bãi đôi bờ sông cũng vắng vẻ, chỉ nhìn thấy “hoa bắp lay” Chữ “lay” gợi tả hoa bắp đung đưa trong làn gió nhẹ Hoa bắp, hoa bình dị của đồng nội cũng mang tìnhngười và hồn người

Trang 21

Hai câu thơ 14 chữ với bốn thi liệu (gió, mây, dòng nước, hoa bắp) đã hội tụ hồn vía cảnh sắc thôn Vĩ Hình như đó là cảnh chiều hôm? Hàn Mạc Tử tả ít mà gợi nhiều, tượng trưng mà ấn tượng Ngoại cảnh thì chia lìa, buồn lặng lẽ biểu hiện một tâm

cảnh: thấm thía nỗi buồn xa vắng, cô đơn

Hai câu thơ tiếp theo gợi nhớ một cảnh sắc thơ mộng, cảnh đêm trăng trên Hương Giang ngày nào “Dòng nước buồn thiu” đã biến hóa kì diệu thành “sông trăng” thơmộng

“Thuyền, ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay?”

Đây là hai câu thơ tuyệt bút của Hàn Mặc Tử được nhiều người ngợi ca, kết tinh rực rỡ bút pháp nghệ thuật tài hoa lãng mạn Một vần lưng tài tình Chữ “đó” cuối câu 3 bắt vần với chữ “có” đầu câu 4, âm điệu vần thơ cất lên như một tiếng khẽ hỏi thầm “có chở trăng về kịp tối nay?” “Thuyền ai” phiếm chỉ, gợi lên bao ngỡ ngàng bâng khuâng,tưởng như quen mà lạ, gần đó mà xa xôi Con thuyền mồ côi nằm trên bến đợi “sông trăng” là một nét vẽ thơ mộng và độc đáo Cả hai câu thơ của Hàn Mạc Tử, câu thơ nào cũng có trăng Ánh trăng tỏa sáng dòng sông, con thuyền và bến đò Con thuyền không chở người (vì người xa cách chia li) mà chỉ “chở trăng về” phải “về kịp tối nay” vì đã cách xa và mong đợi sau nhiều năm tháng Con thuyền tình của ước vọng nhưng đã thành vô vọng! Bến sông trăng trở nên vắng lặng vì “thuyền ai”: Con thuyền vô định Phiếm chỉ — là con thuyền mồ côi Còn đâu cô gái Huế diễm kiều, e ấp, mà chơ vơ cònlại con thuyền mồ côi khắc khoải đợi chờ trăng!

Sau cảnh gió, mây, là con thuyền, bến đợi và sông trăng Cảnh đẹp một cách mộng

ảo Cả ba hình ảnh ấy đều biểu hiện một nỗi niềm, một tâm trạng cô đơn, thương nhớ đối với cảnh và người nơi thôn Vĩ Như ta đã biết, thời trai trẻ, Hàn Mặc Tử đã từng học ở Huế, từng có một mối tình đơn phương với một thiếu nữ thôn Vĩ, mang tên mộtloài hoa Với chàng thi sĩ tài hoa đa tình và bất hạnh, đang sống trong cô đơn và bệnh tật, nhớ Vĩ Dạ là nhớ cảnh cũ người xưa Cảnh “gió theo lối gió, mây đường mây”, cảnh thuyền ai đậu bến sông trăng đó là cảnh đẹp mà buồn., Buồn vì chia lìa, xa vắng,

lẻ loi và vô vọng

Trang 22

3 Nét tương đồng và khác biệt

a Tương đồng:

+ Cả hai đoạn thơi đều là sự cảm nhận của cái tôi trữ tình về khung cảnh sông nước quêhương

+ Chính cái tôi lãng mạn chắp cánh cho cảnh vật thêm thơ mộng, huyền ảo, lung linh

Cả hai đoạn thơ đều cho thấy nét bút tài hoa của hai thi sĩ

4 Lí giải sự tương đồng và khác biệt

+ Cả Quang Dũng và Hàn Mặc Tử đều là những hồn thơ lãng mạn, tài hoa

+ Mỗi nhà thơ đều mang một cảm xúc riêng khi đứng trước khung cảnh sông nước.+ Hoàn cảnh sáng tác: cảnh ngộ riêng của mỗi nhà thơ và hoàn cảnh thời đại để lại dấu

ấn trong cảm xúc và hình ảnh thơ của mỗi nhà thơ

Trang 23

ĐỀ 4:

So sánh Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc tường

Đề thi hay và khó :So sánh Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ

Ngọc tường qua hai đoạn văn ( Người lái đò Sông Đà và Ai đã đặt tên cho dòng

sông)

Có ý kiến cho rằng: “Nghệ thuật là lĩnh vực của cái độc đáo, vì vậy, nó đòi hỏi người sáng tác phải có phong cách nổi bật, tức là có nét gì đó rất riêng, mới lạ thể hiện trong các tác phẩm của mình” Hãy làm sáng tỏ điều đó bằng cảm nhận của anh/chị về những

đoạn văn sau:

…Còn xa lắm mới đến cái thác dưới Nhưng đã thấy tiếng nước réo gần mãi lại réo to mãi lên Tiếng nước thác nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo Thế rồi nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng…

…Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện

trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân…Mùa xuân dòng xanh ngọc bích, chứ nước Sông Đà không xanh màu xanh canh hến của Sông Gâm Sông Lô Mùa thu nước Sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn

bực bội gì mỗi độ thu về… (Nguyễn Tuân - Người lái đò sông Đà)

…Trước khi về đến vùng châu thổ êm đềm, nó đã là một bản trường ca của rừng

già, rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác, cuộn xoáy

như cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn, và cũng có lúc nó trở nên dịu dàng và say

đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng…

Trang 24

…Từ tuần về đây, sông Hương vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn, vượt qua một lòng vực sâu dưới chân núi Ngọc Trản để sắc nước trở nên xanh thẳm, và từ đó nó trôi

đi giữa hai dãy đồi sừng sững như thành quách, với những điểm cao đột ngột như Vọng Cảnh, Tam Thai, Lựu Bảo mà từ đó, người ta luôn nhìn thấy dòng sông mềm như tấm lụa, với những chiếc thuyền xuôi ngược chỉ bé vừa bằng con thoi Những ngọn đồi này tạo nên những mảng phản quang nhiều màu sắc trên nền trời tây nam thành phố,

“sớm xanh, trưa vàng, chiều tím” như người Huế thường miêu tả …”

(Hoàng Phủ Ngọc Tường – Ai đã đặt tên cho dòng sông?)

ĐÁP ÁN

* Yêu cầu chung: Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng về dạng bài nghị luận văn

học để tạo lập văn bản Bài viết phải có bố cục đầy đủ, rõ ràng; văn viết có cảm xúc; thểhiện khả năng cảm thụ văn học tốt; diễn đạt trôi chảy, bảo đảm tính liên kết; không mắclỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp

* Yêu cầu cụ thể:

a) Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận (0,5 điểm):

– Điểm 0,5: Trình bày đầy đủ các phần Mở bài, Thân bài, Kết luận Phần Mở bài biết dẫn dắt hợp lí và nêu được vấn đề; phần Thân bài biết tổ chức thành nhiều đoạn văn liênkết chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề; phần Kết bài khái quát được vấn đề và thể hiện được ấn tượng, cảm xúc sâu đậm của cá nhân

– Điểm 0,25: Trình bày đầy đủ ba phần Mở bài, Thân bài, Kết luận, nhưng các

phần chưa thể hiện được đầy đủ yêu cầu trên; phần Thân bài chỉ có 1 đoạn văn

– Điểm 0: Thiếu Mở bài hoặc Kết luận, Thân bài chỉ có 1 đoạn văn hoặc cả bài viết chỉ

có 1 đoạn văn

b) Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,5 điểm):

– Điểm 0,5: Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: vẻ đẹp riêng của hai đoạn văn – Điểm0,25: Xác định chưa rõ vấn đề cần nghị luận, chỉ nêu chung chung

Trang 25

– Điểm 0: Xác định sai vấn đề cần nghị luận, trình bày lạc sang vấn đề khác.

c) Chia vấn đề cần nghị luận thành các luận điểm phù hợp; các luận điểm được triển khai theo trình tự hợp lí, có sự liên kết chặt chẽ; sử dụng tốt các thao tác lập luận để triển khai các luận điểm (trong đó phải có thao tác phân tích, so sánh); biết kết hợp giữa nêu lí lẽ và đưa dẫn chứng (2,0 điểm):

– Điểm 2,0: Đảm bảo các yêu cầu trên; có thể trình bày theo định hướng sau:

+ Giới thiệu về tác giả, tác phẩm; yêu cầu đề

Giải thích

– Nghệ thuật là lĩnh vực của cái độc đáo: Nghệ thuật nói chung, văn chương nói riêng

là lĩnh vực của cái độc đáo, độc đáo trong việc đi tìm cái đẹp của cuộc sống để tạo nêntác phẩm, trong việc sáng tạo nên cái đẹp, cái riêng của tác giả ở tác phẩm

– Nó đòi hỏi người sáng tác phải có phong cách nổi bật, tức là có nét gì đó rất riêng, mới lạ thể hiện trong các tác phẩm của mình: Tác phẩm nghệ thuật nói chung, tác phẩm

văn chương nói riêng đòi hỏi sự sáng tạo, mới lạ, độc đáo, thể hiện tài năng, dấu ấn cá nhân của tác giả

Phân tích và chứng minh: Phân tích vẻ đẹp nội dung và nghệ thuật của hai đoạn văn vàlàm rõ ý kiến:

Những đoạn văn của Nguyễn Tuân

– Dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Tuân, sông Đà như một công trình thẩm mĩ, một kìcông nghệ thuật mà thiên nhiên ban tặng con người với hai đặc điểm: hung bạo, dữ dội

và thơ mộng, trữ tình

– Đoạn văn miêu tả tiếng thác nước sông Đà là tài quan sát, khám phá và thể hiện hìnhtượng thiên nhiên của Nguyễn Tuân với ngôn ngữ giàu sức tạo hình, vốn từ ngữ phongphú, biến hóa, được tác giả tung ra đúng lúc, đúng chỗ đặc biệt là phép so sánh và nhânhóa lạ, độc đáo

– Đoạn miêu tả dáng vẻ, màu nước sông Đà là những phát hiện thú vị về vẻ đẹp dịu dàng của dòng sông và phát hiện rất tinh tế về màu nước theo mùa Đoạn văn được viết

Trang 26

bằng sự thăng hoa của tâm hồn, nhà văn như “đề thơ vào sông nước”, thể hiện cách

khám phá sự vật ở phương diện mĩ thuật

Những đoạn văn của Hoàng Phủ Ngọc Tường

– Trang viết của Hoàng Phủ Ngọc Tường huy động vốn tri thức, vốn ngôn ngữ phongphú, kết hợp giữa trữ tình và chính luận, trí tuệ và cảm xúc, cảm hứng lịch sử vàchiều sâu văn hóa, khả năng liên tưởng và ngôn từ trong sáng, đẹp đẽ

– Đoạn văn viết về sông Hương ở thượng nguồn là khám phá của tác giả về vẻ đẹp

vừa “phóng khoáng và man dại” vừa “dịu dàng và say đắm”của dòng sông, là kết quả

của trí tưởng tượng đầy tài hoa Cảnh sông ở đây được khắc họa với những hình ảnh đầy ấn tượng bằng năng lực quan sát tinh tế và sự phong phú về ngôn ngữ

– Đoạn văn miêu tả sông Hương ở ngoại vi thành phố là lối hành văn hướng nội, súc tích, mê đắm và tài hoa của sông Hương qua phép nhân hóa khi miêu tả dòng chảy

và cách đặc tả màu nước phản quang hai bên bờ và thay đổi trong ngày

So sánh để thấy được vẻ đẹp riêng của mỗi đoạn: Thí sinh có thể diễn đạt theo nhữngcách khác nhau, nhưng cần làm nổi bật được:

Sự tương đồng

– Điểm gặp nhau giữa Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường: Đi tìm cái đẹp và thểhiện cái đẹp bằng ngòi bút tài hoa, độc đáo tạo được nét riêng, mới lạ qua hình ảnh dòng sông

– Qua hai đoạn văn, hai tác giả thể hiện nét tài hoa, độc đáo trong phong cách nghệthuật của mình

Sự khác biệt

– Nguyễn Tuân tài hoa, uyên bác: luôn nhìn sự vật, hiện tượng ở nhiều góc độ để khám phá, phát hiện; vận dụng kiến thức của nhiều lĩnh vực, tổng hợp cảm nhận của các giác quan để khám phá đối tượng Tất cả làm nên phong cách Nguyễn Tuân vừa độc đáo vừaphong phú

Trang 27

– Ẩn trong câu chữ biến hóa là vẻ đẹp lấp lánh ánh sáng trí tuệ, tri thức và cả chất phong tình, tài hoa, lãng mạn từ tâm hồn Hoàng Phủ Ngọc Tường Tất cả làm nên mộtHoàng Phủ Ngọc Tường độc đáo, sâu sắc mà tràn đầy cảm xúc…

Thí sinh có thể có những cảm nhận và diễn đạt khác nhưng phải hợp lí, có sức

thuyết phục

– Điểm 1,5 – 1,75: Cơ bản đáp ứng được các yêu cầu trên, song một trong các luận điểm (phân tích, so sánh) còn chưa được trình bày đầy đủ hoặc liên kết chưa thực sựchặt chẽ

– Điểm 1,0 -1,25 : Đáp ứng 1/2 đến 2/3 các yêu cầu trên

– Điểm 0,5 – 0,75: Đáp ứng được 1/3 các yêu cầu trên

– Điểm 0,25: Hầu như không đáp ứng được yêu cầu nào trong các yêu cầu trên

– Điểm 0: Không đáp ứng được bất kì yêu cầu nào trong các yêu cầu trên

d) Sáng tạo (0,5 điểm)

– Điểm 0,5: Có nhiều cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo (viết câu, sử dụng từ ngữ, hìnhảnh và các yếu tố biểu cảm,…) ; văn viết giàu cảm xúc; thể hiện khả năng cảm thụ vănhọc tốt; có quan điểm và thái độ riêng sâu sắc nhưng không trái với chuẩn mực đạo đức

– Điểm 0,5: Không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu

– Điểm 0,25: Mắc một số lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu

– Điểm 0: Mắc nhiều lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu

Trang 28

ĐỀ 5

So sánh vẻ đẹp xứ Huế trong Đây thôn Vĩ Dạ và Ai đã đặt tên cho dòng sông

Vẻ đẹp xứ Huế qua hai tác phẩm Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử) và Ai đã đặt

tên cho dòng sông (Hoàng Phủ Ngọc Tường).

Mở bài :

 Giới thiệu bài Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử

 Giới thiệu bài Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường

 Giới thiệu vấn đề nghị luận : Vẻ đẹp xứ Huế qua hai tác phẩm

Thân bài :

 Luận điểm 1 : Phân tích vẻ đẹp xứ Huế trong bài Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử

+Cảnh vườn cây đẹp trong nắng ban mai với cành lá mơn mởn ướt sương, ánh như ngọcđược miêu tả trực tiếp, qua những hình ảnh cụ thể, sinh động Con người xứ Huế hiền lành, phúc hậu

+Sau vườn cây xứ Huế là thiên nhiên xứ Huế Cảnh trời, mây, sông, nước ở đây thật đẹp, nhất là cảnh một dòng sông được tưới đẫm ánh trăng với con thuyền chở đầy ánhtrăng nhưng tất cả đều thấm đượm nỗi buồn

+Khổ thơ thứ ba thể hiện một nỗi niềm canh cánh của thi nhân trong không gian bao lacủa trời, mây, sông, nước đã thấm đẫm ánh trăng Đó là sự hy vọng, chờ đợi, mongmỏi và một niềm khắc khoải khôn nguôi Vẫn ở trong mộng ảo, vì vậy cảnh và người ởđây đều hư hư, thực thực

Tóm lại : Cảnh đẹp, giàu sức sống, thơ mộng nhưng đượm một nỗi buồn bâng

khuâng, da diết

Trang 29

 Luận điểm 2 : Phân tích vẻ đẹp xứ Huế trong bài Ai đã đặt tên cho dòng sông của

Hoàng Phủ Ngọc Tường Thực chất là phân tích vẻ đẹp của dòng sông Hương

Có thể tham khảo những ý chính sau:

– Vẻ đẹp được phát hiện ở cảnh sắc thiên nhiên:

Sông Hương có vẻ đẹp “phóng khoáng và man dại, rầm rộ, mãnh liệt, một bản trường

ca của rừng già” khi nó đi qua giữa lòng Trường Sơn; có vẻ đẹp dịu dàng và trí tuệ khi trở thành “người mẹ phù sa” của một vùng văn hóa đất cố đô, có vẻ đẹp phản quang nhiều màu sắc của nền trời tây nam thành phố “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím”, có vẻ đẹp “trầm mặc” khi lặng lẽ chảy dưới chân những rừng thông u tịch với những lăng mộ

âm u mà kiêu hãnh của các vua chúa triều Nguyễn; có vẻ đẹp mang màu sắc “triết lí, cổthi” khi đi trong âm hưởng ngân nga của tiếng chuông chùa Thiên Mụ, có vẻ đẹp “vui tươi” khi đi qua những bãi bờ xanh biếc vùng ngoại ô Kim Long; có vẻ đẹp “mơ màng trong sương khói” khi nó dời xa dần thành phố để đi qua những nương dâu, lũy trúc và những hàng cau thôn Vĩ Dạ…

– Vẻ đẹp sông Hương nhìn từ góc độ văn hóa Tác giả cho rằng đã có một dòng thi ca

về con sông Hương, một dòng thơ không lặp lại mình, ấy là “dòng sông trắng- lá cây xanh”, trong thơ Tản Đà, là vẻ đẹp hùng tráng “như kiếm dựng trời xanh” trong thơ Cao

Bá Quát, là nỗi quan hoài vạn cổ trong thơ Bà Huyện Thanh Quan, là sức mạnh phục sinh tâm hồn trong thơ Tố Hữu

– Vẻ đẹp nhìn từ góc độ lịch sử: sông Hương từng là dòng sông bảo vệ biên thùy tổ quốc thời Đại Việt, từng soi bóng kinh thành Phú Xuân của Nguyễn Huệ, từng chứngkiến bao cuộc khởi nghĩa, rồi đến cách mạng tháng tám, chiến dịch mậu thân năm 1968…

– Vẻ đẹp trong trí tưởng tượng đầy tài hoa của tác giả:

Ông đã nhìn sông Hương như một cô gái Huế, từng có lúc là một cô gái Di-gan

phóng khoáng và man dại, nhưng nói chung là một thiếu nữ tài hoa, dịu dàng mà sâu sắc, đa tình và kín đáo, lẳng lơ nhưng rất mực chung tình, khéo trang sức mà không lòe loẹt phô phang, giống như những cô dâu Huế ngày xưa trong sắc áo điều đục

“Đấy cũng chính là màu của sương khói trên sông Hương, giống như tấm voan huyền

ảo của tự nhiên, sau đó ẩn giấu khuôn mặt thực của dòng sông…”

Trang 30

 Luận điểm 3 : Chỉ ra nét tương đồng và khác biệt

– Cả hai đều là những cây bút tài hoa,tinh tế, nhạy cảm trong văn chương, có tâm hồn hết sức lãng mạn, phong phú

*Nét khác biệt:

–Đây thôn Vĩ Dạ: Bài thơ được gợi cảm hứng từ tấm bưu thiếp mà Hoàng Cúc gửi cho

Hàn Mặc Tử nên điểm nhìn cảm xúc trong một khônggian hẹp, cái nhìn từ kí ức Cảnhvật của xứ Huế hiện lên với những nét đặctrưng rất bình dị, quen thuộc, gần gũi nhưngcũng thật lãng mạn: cảnh khu vườn mướt như ngọc, sông trăng huyền ảo, con người với

vẻ đẹp đằm thắm, dịudàng…cảnh vật in đậm cảm xúc về tình đời, tình người

– Ai đã đặt tên cho dòng sông?: Hoàng Phủ Ngọc Tường chọn điểm nhìn là sông

Hương, đặt trong một không gian phóng khoáng, rộng lớn hơn Vẻ đẹp của xứ Huế hiệnlên ở rất nhiều góc độ từ quá khứ cho đến hiện tại, từ lịch sử, thơ văn đến địa lí, văn hóa….Vì thế vùng đất cố đô hiện lên toàn diện hơn, hiện thực hơn bởi sông Hương chính là linh hồn của Huế,là nơi tích tụ những trầm tích văn hóa lâu đời của mảnh đất kinh thành cổ xưa

 Luận điểm 4 : Lí giải sự khác biệt

+Xuất phát từ đặc điểm của thể loại thơ và bút kí là khác nhau Thơ nghiêng về cảm

xúc, tâm trạng Bút kí không chỉ đòi hỏi có cảm xúc mà ít nhiều có tính xác thực và

khách quan

+ Đối với Hàn Mặc Tử, Huế là nơi tác giả từng gắn bó, giờ đã trở thành kỉ niệm CònHoàng Phủ Ngọc Tường là người con của xứ Huế nên chất Huế đã thấm sâu vào tâmhồn máu thịt của ông

Trang 31

Kết bài : Đánh giá chung về sự sáng tạo của mỗi tác giả

ĐỀ 6

So sánh đoạn kết hai tác phẩm Chí Phèo- Nam Cao và Vợ nhặt- Kim Lân

Đề bài :

Truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao kết thúc bằng hình ảnh:

Đột nhiên thị thấy thoáng hiện ra một cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa, và

vắng người lại qua…

(Ngữ văn 11, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2011, tr.155)

Truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân kết thúc bằng hình ảnh:

Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp

phới… (Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2011, tr.32)

Cảm nhận của anh/chị về ý nghĩa của những kết thúc trên

Hướng dẫn cách làm :

Mở bài :

 Giới thiệu Nam Cao , truyện Chí Phèo và đoạn kết truyện

 Giới thiệu Kim Lân, Vợ nhặt và đoạn kết truyện

Mở bài tham khảo nhé :

Dòng văn học hiện thực phê phán Việt Nam thường khai thác một khía cạnh phổ biến

đó là tình cảnh bi thảm của người nông dân trước cách mạng tháng Tám Trong

số những trang văn cảm động về người nông dân phải kể đến hai truyện ngắn nổi bật

Trang 32

: Chí Phèo của nhà văn Nam Cao và Vợ nhặt của Kim Lân Mỗi truyện đều có một cách kết thúc riêng ,song mỗi cách kết thúc đều mang những giá trị riêng Truyện ngắn Chí Phèo kết thúc bằng hình ảnh:

Đột nhiên thị thấy thoáng hiện ra một cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa, và

vắng người lại qua…Truyện ngắn Vợ nhặt kết thúc bằng hình ảnh:

Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới

Thân bài :

Vài nét về tác giả, tác phẩm

– Nam Cao là một nhà nhân đạo lớn, một ngòi bút hiện thực xuất sắc, một bậc thầy về nghệ thuật truyện ngắn; sáng tác mang triết lí nhân sinh sâu sắc Chí Phèo là đỉnh cao trong sự nghiệp của Nam Cao; truyện có kết thúc độc đáo, tô đậm được chủ đề tư tưởngcủa tác phẩm

– Kim Lân là nhà văn có sở trường về truyện ngắn; chuyên viết về nông thôn và đời sống của người dân nghèo với ngòi bút đôn hậu và hóm hỉnh Vợ nhặt là truyện ngắn tiêu biểu của Kim Lân; kết thúc truyện đặc sắc, khắc sâu được chủ đề tư tưởng của tácphẩm

2 Về ý nghĩa của kết thúc truyện ngắn Chí Phèo

 Khái quát nội dung tác phẩm Chí Phèo ( ngắn gọn )

 Tóm tắt cuộc đời đầy bi kịch của người nông dân Chí Phèo ( ngắn gọn )

 Ý nghĩa đoạn kết với hình ảnh Cái lò gạch bỏ hoang

+ “Cái lò gạch cũ” vốn là nơi Chí Phèo bị bỏ rơi lúc lọt lòng, giờ đây khi Chí Phèo vừachết lại xuất hiện trong ý nghĩ của thị Nở ở kết thúc truyện, đã gợi ra được sự quẩn quanh, bế tắc trong tấn bi kịch tha hóa và bị cự tuyệt quyền sống lương thiện của

người nông dân

+ Kết thúc truyện thể hiện tư tưởng nhân đạo sâu sắc của Nam Cao: đồng cảm vớinỗi thống khổ của người nông dân dưới ách thống trị tàn bạo của bọn địa chủ phongkiến, trân trọng khát vọng được sống lương thiện của họ

+ Truyện kết thúc bằng cách lặp lại hình ảnh ở phần mở đầu tạo nên kết cấu đầu cuốitương ứng gợi ra vòng tròn luẩn quẩn của thân phận Chí Phèo, giúp tô đậm chủ đề tưtưởng: cuộc đời Chí Phèo tuy kết thúc nhưng tấn bi kịch Chí Phèo sẽ vẫn còn tiếp diễn

Trang 33

+ Kết thúc truyện vừa khép vừa mở dành nhiều khoảng trống cho người đọc tưởngtượng và suy ngẫm, tạo ra được dư âm sâu bền đối với sự tiếp nhận.

3 Về ý nghĩa của kết thúc truyện ngắn Vợ nhặt

 Khái quát nội dung tác phẩm “Vợ nhặt”( ngắn gọn )

 Tóm tắt về cuộc đời nhân vật Tràng.( ngắn gọn )

 Ý nghĩa đoạn kết với hình ảnh lá cờ bay phấp phới:

+ Hình ảnh “đám người đói và lá cờ đỏ” hiện lên trong tâm trí Tràng vừa gợi ra cảnhngộ đói khát thê thảm vừa gợi ra những tín hiệu của cuộc cách mạng, cả hai đều là những nét chân thực trong bức tranh đời sống lúc bấy giờ

+ Kết thúc truyện góp phần thể hiện tư tưởng nhân đạo của Kim Lân: trân trọngniềm khát vọng sống ngay bên bờ vực cái chết của người lao động nghèo; niềm tinbất diệt vào tương lai tươi sáng

+ Hình ảnh dùng để kết thúc truyện là triển vọng sáng sủa của hiện thực tăm tối, đó làtương lai đang nảy sinh trong hiện tại, vì thế nó quyết định đến âm hưởng lạc quan chung của câu chuyện

+ Đây là kiểu kết thúc mở giúp thể hiện xu hướng vận động tích cực của cuộc sốngđược mô tả trong toàn bộ câu chuyện; dành khoảng trống cho người đọc suy tưởng,phán đoán

4 So sánh sự tương đồng và khác biệt của hai kết thúc truyện

– Tương đồng: Hai kết thúc truyện cùng phản ánh hiện thực tăm tối của con người trướcCách mạng tháng Tám; cùng góp phần thể hiện tư tưởng nhân đạo của mỗi nhà văn; cùng là những kết thúc có tính mở, giàu sức gợi

– Khác biệt: Kết thúc truyện Chí Phèo phản ánh hiện thực luẩn quẩn, bế tắc của người nông dân lao động, được thể hiện qua kết cấu đầu cuối tương ứng hàm ý tương lai sẽ chỉ là sự lặp lại của hiện tại; kết thúc truyện Vợ nhặt phản ánh xu hướng vận động tất yếu của số phận con người, được thể hiện qua kết cấu đối lập hàm ý tương lai sẽ mở lốicho hiện tại

5 Lí giải :

Có sự khác nhau như trên là vì:

– Do hoàn cảnh sáng tác và hoàn cảnh lịch sử xã hội Nam Cao viết “Chí Phèo” năm

Trang 34

1942 trong hoàn cảnh đen tối của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ Kim Lân viết “Vợ nhặt”sau hòa bình lặp lại 1954 khi dân tộc ta đã đi qua 2 mốc lớn của lịch sử là CM tháng 8

và cuộc kháng chiến chống Pháp Ánh sáng CM giúp nhà văn thấy được hướng vận động và phát triển của lịch sử

– Do khuynh hướng văn học và phương pháp sáng tác “Chí Phèo”: khuynh hướng vănhọc hiện thực phê phán Nam Cao phản ánh hiện thực đen tối nhằm phê phán xã hội Nhà văn yêu thương con người nhưng vẫn chưa nhìn thấy được lối thoát của người nông dân trong xã hội thực dân phong kiến lúc bấy giờ “Vợ nhặt”: khuynh hướng hiện thực cách mạng nên Kim Lân có thể nhìn thấy bóng tối và ánh sáng bao trùm hiệnthực trước cách mạng

– Do tài năng và tính cách sáng tạo của từng nhà văn Cùng yêu thương tin tưởng con người nhưng Nam Cao có cái nhìn tỉnh táo sắc lạnh trước hiện thực nghiệt ngã của cuộcsống Kim Lân lạị cho rằng dù trong bất cứ hoàn cảnh nào người nông dân vẫn có thể vượt lên cái chết, cái thảm đạm để mà vui mà hi vọng

Kết bài : Đánh giá chung về hai tác phẩm và tài năng nghệ thuật của các nhà văn

ĐỀ 7

So sánh hình ảnh bát cháo hành trong Chí phèo và cháo cám trong Vợ nhặt

Mở bài :

 Giới thiệu Nam Cao, truyện Chí Phèo và chi tiết bát cháo hành

 Giới thiệu Kim Lân, Truyện Vợ nhặt và chi tiết bát cháo cám

Mở bài tham khảo: Nam cao và Kim Lân đều là những cây bút có sở trường truyện ngắn,

có nhiều trang viết cảm động về đề tài nông thôn và người nông dân Điểm chung

Trang 35

của hai nhà văn là họ đều có những truyện ngắn giản dị nhưng chứa chan tinh thần

nhân đạo.Hình ảnh bát cháo hành trong Chí Phèo và bát cháo cám trong Vợ nhặt đều là

những hình ảnh đặc sắc, góp phần thể hiện rõ nét nội dung tư tường của các tác phẩm

và tài năng của các nhà văn

Thần bài : lần lượt phân tích ý nghĩa của hai hình ảnh, sau đó so sánh điểm giống vàkhác nhau

1 Hình ảnh bát cháo hành:

* Sự xuất hiện: Hình ảnh này xuất hiện ở phần giữa truyện Chí Phèo say rượu, gặp Thị

Nở ở vườn chuối Khung cảnh hữu tình của đêm trăng đã đưa đến mối tình Thị Nở – Chí Phèo Sau hôm đó, Chí Phèo bị cảm Thị Nở thương tình đã về nhà nấu cháo hành mang sang cho hắn

* Ý nghĩa:

– Về nội dung:

+ Thể hiện tình yêu thương của Thị Nở dành cho Chí phèo

+ Là hương vị của hạnh phúc, tình yêu muộn màng mà Chí Phèo được hưởng

+ Là liều thuốc giải cảm và giải độc tâm hồn Chí : gây ngạc nhiên, xúc động mạnh, khiến nhân vật ăn năn, suy nghĩ về tình trạng thê thảm hiện tại của mình Nó khơi dậy niềm khao khát được làm hoà với mọi người, hi vọng vào một cơ hội được trở vềvới cuộc sống lương thiện Như vậy, bát cháo hành đã đánh thức nhân tính bị vùi lấp lâu nay ở Chí Phèo

Trang 36

* Sự xuất hiện: Hình ảnh này xuất hiện ở cuối truyện, trong bữa cơm đầu tiên đón nàng dâu mới của gia đình bà cụ Tứ.

* Ý nghĩa:

– Về nội dung:

+ Đối với gia đình Tràng, nồi cháo cám là món ăn xua tan cơn đói, là món ăn duy nhấtcủa bữa tiệc cưới đón nàng dâu mới về Qua đó, tác giả đã khắc sâu sự nghèo đói, cựckhổ và rẻ mạt của người nông dân trong nạn đói 1945

+ Qua chi tiết nồi cháo cám, tính cách của nhân vật được bộc lộ:

Bà cụ Tứ gọi cháo cám là ” chè khoán”, bà vui vẻ, niềm nở, chuyện trò với các con ->>

là người mẹ nhân hậu, thương con, và có tinh thần lạc quan Nồi cháo cám là nồi cháo của tình thân, tình người, niềm tin và hy vọng Trong hoàn cảnh đói kém, mẹ con

Tràng dám cưu mang, đùm bọc thị, chia sẻ sự sống cho thị Bà cụ Tứ nói toàn chuyện vui, đem nồi cháo cám ra đãi nàng dâu vốn để làm không khí vui vẻ hơn

Vợ Tràng đã có sự thay đổi về tính cách Hết sức ngạc nhiên trước nồi cháo cám nhưngngười con dâu mới vẫn điềm nhiên và vào miệng để làm vui lòng mẹ chồng Chứng tỏ,Thị không còn nét cách chỏng lỏn như xưa nữa mà đã chấp nhận hoàn cảnh, đã thực sựsẵn sàng cùng gia đình vượt qua những tháng ngày khó khăn sắp tới

– Về nghệ thuật: Chi tiết góp phần bộc lộ tính cách các nhân vật, thể hiện tài năng của tác giả Kim Lân trong việc lựa chọn chi tiết trong truyện ngắn

3 So sánh:

– Giống nhau:

+ Cả 2 hình ảnh đều là biểu tượng của tình người ấm áp

+ Đều thể hiện bi kịch của nhân vật và hiện thực xã hội: Ở “Chí Phèo” là bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người [bát cháo hành rất bình di, thậm chí là nhỏ bé, tầm thường nhưng

đó là lần đầu tiên Chí được cho mà không phải đi cướp giật] Ở “Vợ nhặt”, số phận con người cũng trở nên rẻ mạt

Trang 37

+ Đều thể hiện tấm lòng nhân đạo sâu sắc, cái nhìn tin tưởng vào sức mạnh của tình yêu thương con người của các nhà văn.

– Khác nhau:

+ Bát cháo hành: biểu tượng của tình thương mà thị Nở dành cho Chí Phèo nhưng xãhội đương thời đã cự tuyệt Chí, đẩy Chí vào bước đường cùng Qua đó, chúng tathấy bộ mặt tàn bạo, vô nhân tính của XH thực dân nửa phong kiến cũng như cáinhìn bi quan, bế tắc của nhà văn Nam Cao

+ Nồi cháo cám: biểu tượng tình thân, tình người, niềm tin và hy vọng vào phẩm chất tốt đẹp của người dân lao động trong nạn đói Sau bát cháo cám, mọi người nói chuyện

về Việt Minh Qua đó, thức tỉnh ở Tràng khả năng cách mạng Như vậy ở Kim Lân có cái nhìn lạc quan, đầy tin tưởng vào sự đổi đời của nhân vật, dưới sự lãnh đạo của Đảng

4 Lí giải sự giống và khác nhau đó:

+ Do hai nhà văn đều viết về người nông dân trong nạn đói 1945

+ Có sự khác nhau đó là do ảnh hưởng của lí tưởng Cách mạng với mỗi nhà văn Nam Cao có cái nhìn bi quan, bế tắc về số phận của người nông dân Kim Lân có cái nhìn lạcquan, tin tưởng vào tương lai tươi sáng

ĐỀ 8

So sánh giá trị nhân đạo trong Vợ nhặt và Vợ chồng A Phủ

Mở bài :

+ Giới thiệu Kim Lân và tác phẩm Vợ nhặt

+Giới thiệu Tô Hoài và Vợ chồng A Phủ

Trang 38

+ Giới thiệu vấn đề cần nghị luận : Những điểm giống và khác nhau trong tư tưởng

nhân đạo của Kim Lân và Tô Hoài được thể hiện qua hai tác phẩm “Vợ nhặt” và

“Vợ chồng A Phủ”.

Kim Lân và Tô Hoài là những cây bút truyện ngắn nổi tiếng trong nền văn xuôi Việt

Nam hiện đại Vợ nhặt và Vợ chồng A Phủ là hai truyện ngắn có giá trị nhân đạo sâu sắc

nhưng tư tưởng nhân đạo của mỗi nhà văn trong từng tác phẩm vẫn có những nét riêng.Thân bài:

1 Định nghĩa khái niệm giá trị nhân đạo ( luận điểm phụ )

Giá trị nhân đạo trong văn chương truyền thống thể hiện ở nhiều phương diện, khía cạnh Song nhìn chung, đó là thái độ thương yêu trân trọng những phẩm chất tốt đẹp của con người, đó là sự đồng cảm với những đau khổ cũng như ngợi ca, đề cao những khát vọng của con người , lên án tố cáo những thế lực áp bức, bóc lột người lao động,

… Một tác phẩm hàm chứa những nội dung trên được coi là có tính nhân văn sâu sắc

2 Biểu hiện của giá trị nhân đạo trong Vợ nhặt

a Số phận bi thảm của con người

Các em phân tích cảnh ngộ, số phận của các nhân vật : Tràng, người vợ nhặt, Bà Cụ

Tứ thì sẽ rõ nhé!

b Khát khao hạnh phúc, hướng tới tương lai

Vợ nhặt không chỉ cho chúng ta thêm trân trọng những phẩm giá đáng quý của con người mà còn giúp chúng ta hiểu được khát vọng sống của họ Cái đói, cái chết có thể khiến người ta phần nào tha hóa nhân cách nhưng hạnh phúc đã như một nguồn sinh lựcthay đổi cuộc đời họ

Cuộc hôn nhân lạ lùng của của Tràng với người vợ nhặt ngoài đường là một minh chứng Không phải trước đó Tràng không khát khao có một gia đình, có một người vợ chăm sóc mẹ anh lúc già yếu Không phải Tràng không mơ về một ngày nhà cửa quang quẻ, đàn gà ấp nở trong sân, vợ chồng mẹ con vui vầy Cái cảnh chết chóc, tiếng khóc tỉ

tê, cái đói đã khiến con người ta có lúc tưởng như không đủ sức với tới hạnh phúc nhỏ

bé ấy Chỉ tới khi người đọc bắt gặp ánh mắt rạng rỡ, hân hoan của cả Tràng và bà cụ

Trang 39

Tứ trước ngọn đèn hiếm hoi, chúng ta mới hiểu rằng nỗi khát khao giờ phút đó đãcháy bỏng da diết như thế nào trong lòng họ Hai hào dầu phung phí đổi lấy một chút “sáng sủa” đón mừng hạnh phúc của con trai khiến bà cụ như khỏe lên trẻ lại.

Những mảnh đời nghèo đói đến với nhau, cùng chắp lại thành một cuộc đời ấm áp, nhen nhóm hy vọng Chủ nghĩa nhân đạo mà nhà văn Kim Lân muốn gửi gắm vào nhânvật, tác phẩm của mình vừa trực tiếp thể hiện qua tâm trạng nhân vật, vừa gián tiếp qua

bố cục câu chuyện Chiều hướng vận động của thời gian trong truyện đi từ chiều tàn, đêm tối tới ánh sáng từ “ tuyệt vọng “ tới “ hy vọng”, từ “ một ngọn đèn” hiếm hoi đượckhêu lên đến hình ảnh “ lá cờ đỏ” phấp phới trong trí nhớ của Tràng Tất cả là tích cực,

là sự tin tưởng vào khả năng thay đổi cuộc sống, hoàn cảnh của nhà văn và nhân vật Một nhân cách, một khát vọng mà một sự chuẩn bị cho tương lai yên ổn chắc chắn sẽ khiến mỗi người tự tin hơn Và phải chăng qua “ lá cờ đỏ trên con đê” Kim Lân muốn báo trước một ngày mai rạng rỡ hơn, một cuộc đời mới được sưởi ấm bởi ánh sáng của

“ ngọn đèn” vĩnh cửu là cách mạng?

3 Biểu hiện của giá trị nhân đạo trong Vợ chồng A Phủ

a Số phận bi thảm của con người

Cũng giống như Kim Lân, Tô Hoài dành cho nhân vật Mị trong Vợ chồng A Phủ

( 1953) một tình cảm yêu thương, trân trọng vô cùng Sự trân trọng đó bộc lộ ở những chi tiết tài tình khi miêu tả tâm lý, tình cảm và nỗi cơ cực của nhân vật Tô Hoài đã rất chắt lọc chi tiết và nhịp văn để nhấn mạnh thêm cuộc sống lao khổ, buồn bã Mị phải chịu đựng “ Ngày ngày cô ngồi bên một tảng đá, cạnh tàu ngựa, cúi mặt buồn rười rượi” Người ta đã quên Mị với tư cách nàng dâu của nhà thống lí Thực chất Mị sống đời nô lệ, chôn vùi tuổi xuân, sắc đẹp ở đó Mị là nạn nhân của đồng tiền và các thế lực phong kiến cường quyền tàn ác Mị sống âm thầm, làm lụng quần quật đến nỗi quên mất cả khái niệm thời gian “ Ở cái buồng Mị nằm, kín mít, có cửa sổ một lỗ vuông bằng bàn tay Lúc nào trông ra cũng thấy trăng trắng, không biết là sương hay là nắng” Khổ quá, Mị muốn có lá ngón để tự tử, thoát khỏi nhà mồ – nhà thống lý Pá Tra – nhà

bố chồng của Mị Nỗi đau của Mị không chỉ dừng lại ở việc bị đày đoạ thể xác, mà còn

bị áp bức về tinh thần

Dàn trải nỗi khổ đau, nhục nhã mà Mị chịu đựng trên trang giấy cũng là nỗi khổ đau của Tô Hoài Ông viết lên sự thật, mặc dầu rơi lệ, xót xa cho nhân vật Ông đã không

dè dặt tố cáo các thế lực đã đẩy con người vào vực thẳm cuộc đời Trước ngòi bút của

Tô Hoài, cuộc sống yên ổn của người dân miền núi còn là một cái gì đó rất xa xôi

Trang 40

b Sức sống tiềm tàng, mãnh liệt

Chỉ qua đây, chúng ta mới hiểu được rằng người dân vùng cao phải trải qua đau khổ, phải đấu tranh để tồn tại như thế nào Và Mị là một điển hình của sự phản kháng tất yếukia, sở dĩ không để cho Mị phải chết là vì ông hiểu một cách thấm thía rằng chính giây phút định tìm đến cái chết là giây phút người ta them được sống hơn bao giờ hết Mị không thể chết Mị còn khao khát sống lắm Mị che dấu lòng khao khát hạnh phúc bằngdáng vẻ lặng lẽ âm thầm nhưng chính nổi nhớ về thuở thanh xuân khi chợt nghe tiếng sáo đã “ chống “ lại cô Sáu lần tác giả nhắc tới tiếng sáo thì chỉ có ba lần là tiếng sáo thật Còn ba lần sau là tiếng sáo thức tỉnh trong lòng Mị, tự cất tiếng hát trong lòng Mị

Có thể nói Tô Hoài đã đồng cảm sâu sắc với khát vọng của Mị, Tô Hoài khám phá ra quy luật của cuộc sống ở nhân thân bé nhỏ của Mị Ông hiểu điều gì ắt phải đến Ách của cuộc đời khốc liệt tới đâu cũng không thể chon vùi khao khát cuộc sống tự do, hạnhphúc của Mị Và Mị phản kháng là điều tất yếu Sức sống, sức trẻ, tình thương vốn tiềmtang trong cô đã giúp cô đủ sức mạnh để cởi trói cho A Phủ “ Trời tối lắm, nhưng Mị vẫn băng đi” Mị đi theo A Phủ, chạy trốn từ Hồng Ngài đến Phiềng Sa Mị đã chứng tỏ được sức sống của con người để giúp thoát khỏi chính số phận cay nghiệt của cuộc đời mình

Một lần nữa, chúng ta nhận thấy rằng dù ở đề tài nào, góc độ nào, nhân đạo luôn là giá trị cốt lõi của tác phẩm văn học Nhờ có giá trị nhân đạo mà qua hơn nửa thế kỷ nay, người đọc vẫn cảm thấy gắn bó với con người, với tình tiết của câu chuyện Nỗi khổ cực của con người cùng với khát vọng sống của họ mãi mãi là vấn đề của văn học Mỗikhám phá mới mẻ của một nhà văn đều nhằm hoàn thiện con người, bản thân họ cũng như cách nhìn của con người với cuộc đời

4 So sánh điểm giống và khác nhau

* Giống nhau: đều thể hiện sự cảm thông sâu sắc trước số phận của người nông dân trong xã hội cũ, đều tố cáo, lên án các thế lực tàn bạo đã gây ra bi kịch cho con người

và sự trân trọng vẻ đẹp phẩm chất của người lao động

* Khác nhau:

– Ở truyện ngắn “ Vợ nhặt”:

+ Đặt nhân vật vào một tình huống đặc biệt , tác giả bày tỏ sự cảm thương trước số phận bi thảm của người nông dân bị nạn đói dồn đẩy đến bước đường cùng , giá trị con

Ngày đăng: 28/08/2021, 20:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở Làm nên Đất Nước muôn đời - TUYỂN TẬP ĐỀ SO SÁNH - BỨT PHÁ ĐIỂM SỐ GIÀNH NGAY ĐIỂM CAO
h ải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở Làm nên Đất Nước muôn đời (Trang 12)
Truyện ngắn Chí Phèo của NamCao kết thúc bằng hình ảnh: - TUYỂN TẬP ĐỀ SO SÁNH - BỨT PHÁ ĐIỂM SỐ GIÀNH NGAY ĐIỂM CAO
ruy ện ngắn Chí Phèo của NamCao kết thúc bằng hình ảnh: (Trang 31)
So sánh hình ảnh bát cháo hành trong Chí phèo và cháo cám trong Vợ nhặt - TUYỂN TẬP ĐỀ SO SÁNH - BỨT PHÁ ĐIỂM SỐ GIÀNH NGAY ĐIỂM CAO
o sánh hình ảnh bát cháo hành trong Chí phèo và cháo cám trong Vợ nhặt (Trang 34)
SO SÁNH HÌNH ẢNH CỦA ĐOÀN QUÂN TÂY TIẾN VÀ VIỆT BẮC - TUYỂN TẬP ĐỀ SO SÁNH - BỨT PHÁ ĐIỂM SỐ GIÀNH NGAY ĐIỂM CAO
SO SÁNH HÌNH ẢNH CỦA ĐOÀN QUÂN TÂY TIẾN VÀ VIỆT BẮC (Trang 44)
Cảmnhận về hai hình tượng Sông Đà và Sông Hương ngữ văn 12 - TUYỂN TẬP ĐỀ SO SÁNH - BỨT PHÁ ĐIỂM SỐ GIÀNH NGAY ĐIỂM CAO
mnh ận về hai hình tượng Sông Đà và Sông Hương ngữ văn 12 (Trang 64)
– Mỗi nhà văn đều có 1 phong cách nghệ thuật độc đáo trong việc thể hiện hình tượng các dòng sông, giúp người đọc có những cách nhìn phong phú, đa dạng về vẻ đẹp của quê hương, đất nước mình. - TUYỂN TẬP ĐỀ SO SÁNH - BỨT PHÁ ĐIỂM SỐ GIÀNH NGAY ĐIỂM CAO
i nhà văn đều có 1 phong cách nghệ thuật độc đáo trong việc thể hiện hình tượng các dòng sông, giúp người đọc có những cách nhìn phong phú, đa dạng về vẻ đẹp của quê hương, đất nước mình (Trang 67)
– Về nghệ thuật thể hiện: Để khắc họa chi tiết dòng nước mắt, Kim Lân sử dụng hình thức diễn đạt trực tiếp, giản dị, Nguyễn Minh Châu dùng cách diễn đạt ví von, hình ảnh - TUYỂN TẬP ĐỀ SO SÁNH - BỨT PHÁ ĐIỂM SỐ GIÀNH NGAY ĐIỂM CAO
ngh ệ thuật thể hiện: Để khắc họa chi tiết dòng nước mắt, Kim Lân sử dụng hình thức diễn đạt trực tiếp, giản dị, Nguyễn Minh Châu dùng cách diễn đạt ví von, hình ảnh (Trang 75)
Cảmnhận về hình ảnh giọt nước mắt của chí Phèo và APhủ - TUYỂN TẬP ĐỀ SO SÁNH - BỨT PHÁ ĐIỂM SỐ GIÀNH NGAY ĐIỂM CAO
mnh ận về hình ảnh giọt nước mắt của chí Phèo và APhủ (Trang 89)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w