Luật So Sánh Quy định cụ thể và đầy đủ về chế định ủy thác trong pháp luật Vương quốc Anh, tài liệu có dùng các từ ngữ chuyên ngành của pháp luật Vương quốc Anh, dịch từ các tài liệu tham khảo nước ngoài
Trang 1MỤC LỤC
A Mở đầu 2
B Nội dung 2
I Lịch sử hình thành 2
II Một số thuật ngữ chuyên ngành 4
III Định nghĩa 5
IV Đặc điểm chung của Trust 6
1 Cách thiết lập 6
2 Sự tách biệt về quyền sở hữu 8
3 Phân loại 9
4 Vai trò của Trust 10
5 Các chủ thể trong Trust 10
C Kết luận 12
D Tài liệu tham khảo 13
1
Trang 2A Mở đầu
Hệ thống pháp luật Anh là một trong những hệ thống pháp luật lớn và đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành và tiến bộ của luật pháp trên thế giới Trong đó, Common law và Equity đều có vị trí quyết định trong hệ thống pháp luật Anh từ khởi nguồn cho tới thời điểm hiện tại Common law ra đời trước Equity và có thể coi là nền tảng dựa vào đó mà pháp luật Anh đã hình thành và phát triển Tuy nhiên, sự xuất hiện của Equity đã sửa đổi và bổ sung cho những hạn chế của Common law Sự đóng góp lớn nhất của Equity đối với hệ thống pháp luật Anh là chế định Trust (ủy thác) Để hiểu rõ hơn về chế định Trust (ủy thác), tôi xin được trình bày bài tiểu luận với chủ đề: “Chế định ủy thác trong pháp luật Anh”
B Nội dung
I Lịch sử hình thành
Chế định ủy thác ra đời ở Anh trong giai đoạn từ thế kỷ XII đến thế kỷ XIII, khi người sử dụng đất ở Anh còn phải tuân thủ hàng loạt những nghĩa vụ
do Nhà nước phong kiến áp đặt như nghĩa vụ nộp địa tô trong quá trình sử dụng đất đai và nghĩa vụ nộp thuế khi tài sản thừa kế là đất đai hoặc khi người sử dụng đất ở hoàn cảnh không thể tự mình trực tiếp quản lý và sử dụng đất do tham gia vào các cuộc viễn chinh do các tín đồ cơ đốc giáo tổ chức Trong những trường hợp đó, chủ sử dụng đất (người ủy thác) thường tìm người thay mặt mình quản lý và sử dụng đất bằng cách sang tên mảnh đất của mình cho bạn thân hoặc họ hàng (người được ủy thác) của mình với điều kiện: (1) Phần đất đó
sẽ được trả lại cho người ủy thác (chủ sử dụng đích thực) khi anh ta quay trở về sau cuộc viễn chinh hoặc trả lại cho con cái người ủy thác khi chúng đến tuổi trưởng thành; (2) Trong suốt thời gian bên được ủy thác sử dụng đất, bên được
ủy thác phải chi trả cho bên ủy thác hoặc bên thụ hưởng (do bên ủy thác chỉ
Trang 3định) một phần hoa lợi từ đất Tuy nhiên, trong thực tiễn, bên được ủy thác thường có xu hướng không thực hiện những điều đã cam kết Theo nguyên tắc của common law, sau khi đã sang tên đất, người ủy thác không còn quyền sử dụng hợp pháp đối với mảnh đất đã ủy thác mà phần đất đó đã thuộc về quyền
sử dụng hợp pháp của người được ủy thác; quyền sử dụng đất của người được
ủy thác chỉ bị giới hạn bởi quy phạm đạo đức chứ không bị giới hạn ở quy phạm pháp luật (người được ủy thác có bổn phận, theo lương tâm chứ không phải theo pháp luật, trông coi tài sản ủy thác và chi trả thu nhập cho người được ủy thác hay người thụ hưởng theo đúng những cam kết trong hợp đồng ủy thác) Vì vậy, theo common law, không có loại trát nào có thể bảo vệ lợi ích của người ủy thác gắn với phần đất mà họ không còn quyền sử dụng hợp pháp
Những người ủy thác không may mắn đó thường đệ đơn lên Vua và Vua lại thường chuyển những đơn kiện đó xuống cho Đại pháp quan giải quyết Trước những vụ việc này, Đại pháp quan cho rằng việc người được ủy thác phủ nhận quyền đòi lại đất của người ủy thác là bất công, trái với giáo lý và lương tâm; rằng người được ủy thác chỉ giữ mảnh đất đó vì lợi ích của người ủy thác và sẽ phải trả lại cho người ủy thác khi có yêu cầu Vì vậy, Đại pháp quan thường ra phán quyết cưỡng chế thi hành những điều kiện theo đó hợp đồng ủy thác được thiết lập để buộc bên được ủy thác thực hiện những cam kết của mình ở vào thời điểm hợp đồng ủy thác được thiết lập Những phán quyết này thường kèm theo những hình phạt đối với cá nhân như bỏ tù hoặc tịch thu tài sản nếu người được
ủy thác không chịu thi hành án
Đại pháp quan đã dần dần hoàn thiện nguyên tắc giải quyết những vụ việc loại này và xây dựng nên những quy phạm pháp luật chi tiết Tập hợp các quy phạm đó đã tạo thành chế định ủy thác mà sau khi chế độ phong kiến ở Anh sụp
đổ, các quy phạm pháp luật ủy thác này đã được sử dụng trong rất nhiều lĩnh vực quan hệ xã hội chứ không chỉ trong lĩnh vực ủy thác đất đai Ngày nay, ủy thác được coi là chế định pháp luật điển hình của dòng họ common law
3
Trang 4II Một số thuật ngữ chuyên ngành
Beneficiary (bên thụ hưởng): Bên có lợi ích về tài sản được gửi giữ theo các điều khoản của một tài liệu ủy thác (Trust document)
Estate (tài sản thừa kế): Tài sản thuộc sở hữu của một người tại thời điểm
họ qua đời
Executor (nam) / Executrix (nữ): Người được trao quyền theo di chúc để quản lý estate (tài sản thừa kế)
Năng lực pháp lý: Khả năng hiểu đầy đủ bản chất và hiệu lực của một hành động
Property (tài sản): Bất cứ thứ gì có thể được sở hữu
Settlement: Tài sản được chuyển giao cho một mục đích cụ thể hoặc nhiều mục đích khác
Settlor: Bên tạo ủy thác
Will-maker: Người lập di chúc
Trust document (tài liệu ủy thác): Tài liệu ghi chép tài sản do một người quản lý trên danh nghĩa một người khác, hoặc nhiều người khác, hoặc cho một mục đích cụ thể
Trustee: Bên mà theo tài liệu ủy thác là người quản lý tài sản ủy thác Người được người khác quản lý tài sản của mình là người thụ hưởng (Beneficiary)
Trust property (Tài sản ủy thác): Tài sản do Trustee quản lý
Trustee corporation (Công ty ủy thác): Ủy thác công cộng hoặc ủy thác Māori hoặc bất kỳ công ty nào được ủy quyền bởi Đạo luật công ty ủy thác năm
1967 để quản lý tài sản của những người đã chết và những tài sản ủy thác khác
Trang 5III Định nghĩa
Khái niệm chế định ủy thác vẫn còn gây nhiều tranh cãi và chưa có bất kỳ định nghĩa cụ thể nào về chế định ủy thác (Trust) trong hệ thống pháp luật Common law được chấp nhận rộng rãi Cũng do hình thức của các loại Trust là rất đa dạng mà người ta không thể khái quát Trust thành một định nghĩa cụ thể Thực tế, đối với những người được tiếp xúc với hệ thống pháp luật tồn tại Trust trong một khoảng thời gian dài (từ nhỏ đến lớn) thì họ sẽ hiểu được ý nghĩa của Trust cũng như cách vận hành của nó Tuy nhiên, đối với những người khác, rất khó cho họ hiểu được Trust nếu trước đó họ không sống trong một môi trường
mà không tồn tại Trust
Theo đó, LA Sheridan và GW Keeton đã đề xuất một định nghĩa về Trust như sau:
Trust là mối quan hệ phát sinh ở bất cứ đâu khi mà một trustee bị buộc phải quản lý tài sản, vì mục đích cá nhân hoặc không, theo quy định của pháp luật hoặc theo lẽ công bằng, vì lợi ích của một số người (người thụ hưởng) hoặc cho một số đối tượng được pháp luật cho phép Theo đó, các khoản lợi mà tài sản mang lại, không thuộc về trustee, mà thuộc về bên thụ hưởng hoặc các đối tượng khác của Trust mà pháp luật cho phép.1
Định nghĩa này không loại trừ khả năng trustee có thể là một trong số những người thụ hưởng Hơn nữa, bất kỳ loại tài sản nào cũng có thể là đối tượng của Trust Mặt khác, lợi ích mà Trust mang lại không phải lúc nào cũng
có tính chất tư nhân mà có thể là vì một mục đích nào đó (Ví dụ: Charitable Trust – Trust từ thiện )
Hiểu một cách đơn giản, Trust là một phương thức gửi giữ tài sản, trong lúc vẫn còn sống, để mang lại lợi ích cho một hoặc nhiều người, cho một tổ chức từ
1 A trust is the relationship which arises wherever a person called the trustee is compelled in equity to hold property, whether real or personal, and whether by legal or equitable title, for the benefit of some persons (of whom he may be one and who are termed beneficiaries) or for some object permitted by law, in such a way that the real benefit of the property accrues, not to the trustees, but to the
beneficiaries or other objects of the trust.
5
Trang 6thiện, hoặc cho mục đích đã được đề ra trước đó Trust cũng có thể được thiết lập vì lợi ích cá nhân, chẳng hạn như để cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế và chi phí sinh hoạt
IV Đặc điểm chung của Trust
1 Cách thiết lập
Để thiết lập Trust (thể hiện), settlor phải đặt tài sản trên danh nghĩa của trustee hoặc trên danh nghĩa của một chủ thể khác được ủy quyền thay cho trustee (trừ khi settlor giữ lại tài sản đồng thời tuyên bố mình là trustee) Tuy nhiên, tồn tại một ngoại lệ về “Implied Trust”, theo đó, “Implied Trust” không tồn tại settlor, nhưng được thiết lập theo quy định của pháp luật để xem xét về
sự tồn tại của các bên trong một Trust hoặc để thực hiện công lý Việc thiếp lập
“Implied Trust” dựa trên một hành động đơn phương, chứ không dựa trên hợp đồng Sự chấp nhận hoặc từ chối (bởi một trustee miễn cưỡng) không có ý nghĩa trong việc thiếp lập Trust
Về nguyên tắc, không có một yêu cầu bắt buộc và chính thức nào về hình thức trong việc thiếp lập Trust Nó có thể bằng miệng hoặc bằng văn bản Điều
đó cho phép chúng ta thiết lập các Trust hoàn toàn bí mật hoặc mang tính chất một nửa bí mật Đối với các Trust hoàn toàn bí mật, mọi thứ đều không được công khai, còn đối với các Trust mang tính chất một nửa bí mật, chỉ có các điều khoản được quy định trong Trust mới được giữ kín Bất kỳ hình thức nào của Trust cũng được xuất phát từ bản chất của của tài sản trong Trust (ví dụ như đất đai) chứ không phải từ cách thiết lập một Trust Điều quan trọng là settlor phải làm rõ ba nội dung: ý định rõ ràng về việc thiết lập Trust, đối tượng tác động của Trust và lợi ích mà Trust mang lại (cho người thụ hưởng hoặc vì mục đích khác)
Khi Trust được thiết lập một cách một cách rõ ràng như vậy, thì việc trustee chết hoặc trustee không có điều kiện để tuân thủ Trust cũng không ảnh hưởng đến sự tiếp diễn của Trust Một trustee mới sẽ được thay thế theo các
Trang 7điều khoản và điều kiện được thiết lập bởi settlor hoặc nếu không tồn tại bất kỳ điều khoản nào, thì Tòa án sẽ đảm nhận việc thay thế một trustee mới
Có bốn yếu tố cần thiết để thiết lập một Trust:
Thứ nhất, phải có trustee (bên được ủy thác) Trustee có quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản nhưng quản lý nó trên danh nghĩa của bên thụ hưởng
Thứ hai, phải có tài sản (nghĩa là một cái gì đó có thể được sở hữu, chẳng hạn như đất đai, cổ phiếu, trái phiếu hoặc quỹ tiền mặt được chỉ định ) Tuy nhiên, những tài sản được phân loại giống như lương hưu phúc lợi xã hội không thể là đối tượng của Trust
Thứ ba, Trust phải tồn tại có mục đích, hoặc Trust phải xuất hiện bên hoặc những bên thụ hưởng mà bản thân họ được hưởng lợi qua ủy thác hoặc cuối cùng sẽ trở thành chủ sở hữu của tài sản trong Trust
Thứ tư, trustee chỉ được thực hiện các giao dịch với tài sản vì lợi ích của bên thụ hưởng, hoặc vì mục đích của Trust
Trust có thể được thiết lập theo hai cách: trong khi đang còn sống hoặc theo di chúc sau khi chết
Đối với loại Trust được thiết lập trong khi đang còn sống, Trust này có hiệu lực trong suốt cuộc đời của bên thụ hưởng và thường được thiết lập thông qua một tài liệu bằng văn bản (tài liệu ủy thác) Nó chứa: Tên của những Trustee
và một điều khoản cho việc thay thế của họ (nếu cần thiết); Tên của những người thuộc bên thụ hưởng (ví dụ: con hoặc cháu); Chi tiết về cách thức và thời điểm tài sản trong Trust có thể bị phân tán; Mô tả về tài sản trong Trust (thường
là số tiền hoặc tài sản ban đầu, những tài sản khác phát sinh sau này thường được thêm vào sau); Các quyền, nghĩa vụ và quyền hạn của những Trustee, cùng với bất kỳ điều khoản nào để thanh toán hoặc bồi hoàn chi phí
7
Trang 8Đối với loại Trust được thiết lập trong di chúc, người lập di chúc (will – maker) có thể tạo Trust trong di chúc của họ Trust sẽ không thực sự tồn tại cho đến khi người lập di chúc chết và di chúc có hiệu lực Di chúc cũng nêu tên trustee - thường thì trustee cũng sẽ là người thực hiện di chúc Di chúc cũng phải nêu rõ khoảng thời gian và mục đích mà Trust sẽ tồn tại, ví dụ, tiền được giữ trong Trust cho bên thụ hưởng, cụ thể là một người thụ hưởng, cho đến khi người đó tròn 20 tuổi
Trong di chúc, tài sản trong Trust có thể có dạng: Một món quà, ví dụ, một dạng cụ thể của tài sản được mô tả trong di chúc; Phần còn lại của tài sản thừa
kế sau khi tất cả các nghĩa vụ về tài sản đã được đáp ứng và tất cả các khoản nợ
đã được trả
Một Trust được tạo ra trong di chúc sẽ không có hiệu lực cho đến khi người lập di chúc chết Nó có thể bị thu hồi hoặc thay đổi bất cứ lúc nào trong lúc người lập di chúc còn sống
2 Sự tách biệt về quyền sở hữu
Theo như quyền của settlor đối với tài sản trong Trust (đặt tài sản của người thụ hưởng trên danh nghĩa trustee), về nguyên tắc, quan hệ pháp luật trong Trust là mối quan hệ giữa trustee và người thụ hưởng Theo quy định của Common law, Trust không chỉ tạo ra mối quan hệ cá nhân thông thường giữa trustee và người thụ hưởng mà mối quan hệ đó còn bao gồm cả khía cạnh tài sản Người thụ hưởng không bị giới hạn hành động cá nhân trong việc chống lại trustee khi trustee không thành thật và vi phạm các nghĩa vụ của mình, và được bảo vệ về mặt pháp lý đối với lợi ích của chính tài sản ủy thác Đặc điểm đặc trưng của Trust trong Common law là tách biệt quyền kiểm soát và lợi ích (quyền sở hữu kép hoặc sự tách biêt quyền sở hữu): trustee giữ quyền pháp lý cho phép người đó kiểm soát và phân tán tài sản trong Trust và đóng vai trò là chủ sở hữu trong mối quan hệ cho các bên thứ ba (quyền sở hữu pháp lý), trong khi người thụ hưởng có quyền công bằng đối với lợi ích thực tế hoặc có thể có của tài sản trong Trust theo các điều khoản do settlor đã quy định (quyền sở hữu
Trang 9thực tế hoặc quyền sở hữu công bằng) Hội đồng Cơ mật (The Privy Council) đã tuyên bố rằng sự tách biệt giữa quyền sở hữu hợp pháp và quyền sở hữu thực tế đối với tài sản trong Trust là bản chất của Trust Sự phân tách này tạo ra hai hệ quả:
Thứ nhất, tài sản trong Trust được tách biệt hoàn toàn với tài sản cá nhân của trustee, do đó, chủ nợ của trustee không thể chiếm giữ tài sản trong Trust trong trường hợp trustee không có khả năng thanh toán một nghĩa vụ nào đó hoặc phá sản Tài sản trong Trust chỉ được dùng cho bên thụ hưởng hoặc mục đích của Trust mà không dành cho các chủ nợ của cá nhân trustee
Thứ hai, bên thụ hưởng có quyền đòi lại tiền từ những người nhận là bên thứ ba đã không đưa ra giá tiền cụ thể hoặc đã đưa ra một khoảng giá cụ thể nhưng không thông báo đến bên thụ hưởng khi mua tài sản trong Trust Chỉ những người mua đã đưa ra giá tiền cụ thể (có thể không có sự thông báo) mới được bảo vệ trước những khiếu nại của bên thụ hưởng
3 Phân loại
Trust nói chung có thể được chia thành Trust tư nhân và Trust từ thiện Trust tư nhân được tạo ra vì lợi ích của một hoặc nhiều cá nhân, ví dụ, để cung cấp lợi ích cho các thành viên trong một gia đình
Trust từ thiện được tạo ra cho mục đích từ thiện, chẳng hạn như để phục vụ mục đích giảm nghèo, phục vụ tôn giáo hoặc phục vụ cho giáo dục, tỉ dụ như để cung cấp học bổng cho các nhạc sĩ trẻ Để đủ điều kiện nhận trợ cấp thuế, một Trust từ thiện phải được đăng ký với Ủy ban từ thiện
4 Vai trò của Trust
Đầu tiên, Trust giúp chúng ta tổ chức quản lý các vấn đề tài chính cá nhân của mình
Tiếp đó, Trust đặt ra nhiều lợi ích cho các thành viên trong gia đình của chúng ta Trust bảo đảm cho những thành viên phụ thuộc vào bạn Trust giữ và
9
Trang 10quản lý tài sản cho những thành viên không thể tự mình làm việc đó Trust bảo
vệ tài sản thuộc sở hữu gia đình khỏi sự bất cẩn của các thành viên trong gia đình hoặc khỏi các khiếu nại về quan hệ tài sản và cho phép tài sản được truyền lại cho các thế hệ tương lai
Không chỉ vậy, Trust còn bảo vệ chính bản thân bên thụ hưởng khỏi các rủi
ro trong kinh doanh nhờ vào các quy phạm của Trust về quyền quản lý tài sản của bên thụ hưởng thuộc về Trustee
Hơn nữa, Trust còn bảo vệ bên thụ hưởng Ví dụ, Trust sẽ bảo vệ trẻ em khỏi sự tham lam, ích kỷ đang hiện có hoặc sẽ hình thành trong tương lai của cha, mẹ chúng, hoặc sẽ bảo vệ bên thụ hưởng khỏi nghĩa vụ về tài sản trong tương lai hoặc nghĩa vụ kế nhiệm trong Trust di chúc
Mặt khác, Trust bảo vệ bên thụ hưởng trước các sự kiện bất ngờ trong tương lai, chẳng hạn như khi bên thụ hưởng cần cung cấp dịch vụ chăm sóc tại nhà
5 Các chủ thể trong Trust
Đối với settlor, bất kỳ ai có đầy đủ năng lực pháp lý, người đang hoặc sẽ có thể trở thành chủ sở hữu một tài sản cụ thể nào đó Ví dụ: người có cơ sở để tin tưởng rằng mình sẽ được nhận tài sản thông qua một di chúc hoặc người có quyền sở hữu đối với một tài sản nhất định, có thể là người thiết lập Trust
Ai có thể là bên thụ hưởng? Một cá nhân hoặc một tập thể, một công ty, một câu lạc bộ hoặc một tổ chức đều có thể là bên thụ hưởng Có nhiều cách khác nhau để bên thụ hưởng có thể hưởng lợi từ tài sản trong Trust Ví dụ: việc hưởng quyền sống hoặc sử dụng tài sản, quyền thu nhập có được từ tài sản; các khoản lợi phát sinh từ số tiền ban đầu hoặc tài sản khác mà trustee có quyền xác định khi nào tất cả hoặc một phần tài sản trên chuyển cho bên thụ hưởng