Có thể đó cũng là nguyên nhân khiến cho một nhà văn chiếm một vị trí quan trọng trong văn học thế giới, có rất nhiều độc giả ở cả các nớc phơng Tây, Nhật Bản và Việt Nam, nhng những bài
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học vinh
đỗ thị minh phơng
Vấn đề tính dục qua tiểu thuyết
ngời đẹp say ngủ (Y Kawabata)
Vinh - 2008
Trang 2Lời cảm ơn
***********
Để hoàn thành luận văn thạc sĩ này, ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân, chúng tôi còn đợc sự hớng dẫn tận tình, chu đáo và có phơng pháp của PGS.TS Nguyễn Văn Hạnh, sự góp ý chân thành của các thầy cô giáo trong khoa Đào tạo Sau Đại học, sự động viên khích lệ của các bạn đồng nghịêp.
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn thầy cô và các bạn.
Vinh, tháng 01 năm 2009
Học viên Đỗ Thị Minh Phơng
Trang 3Mục lục
Trang
Mở đầu 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ 2
3 Đối tợng, phạm vi khảo sát 3
4 Phơng pháp nghiên cứu 3
5 Lịch sử vấn đề 3
6 Cấu trúc luận văn 20
Chơng 1: Y Kawabata và H Murakami trong dòng chảy Đông Tây 21
1.1 Thời đại và những ảnh hởng của nó đến con đờng sáng tạo của Y Kawabata và H Murakami 21
1.1.1 Công cuộc Duy tân và quá trình phục hng Nhật Bản sau 1868 21
1.1.2 Hai cuộc chiến tranh thế giới và thảm hoạ động đất Kan-tô năm 1923 24
1.1.3 Cuộc xâm lăng văn hoá phơng Tây và một sự hồi sinh mạnh mẽ của văn hoá Nhật Bản 26
1.2 Y Kawabata trên hành trình sáng tạo 27
1.2.1 Sự khởi đầu con đờng sáng tạo của Kawabata 27
1.2.2 Quan niệm về con ngời trong t tởng nghệ thuật của Y Kawabata 31
1.2.3 Vấn đề tính dục trong cảm hứng sáng tạo của Y Kawabata 33
1.3 Haruki Murakami trên hành trình sáng tạo 34
1.3.1 Sự khởi đầu con đờng sáng tạo của H Murakami 34
1.3.2 Quan niệm về con ngời trong t tởng nghệ thuật của H Murakami 38
Trang 41.3.3 Vấn đề tính dục trong cảm hứng sáng tạo của H Murakami 41
Chơng2: Vấn đề tính dục trong Ngời đẹp say ngủ (Y Kawabata) và Rừng Na-uy (H
Murakami) từ góc nhìn triết học về con ời 44
ng-2.1 Vấn đề tính dục trong văn học truyền thống Nhật Bản 44
2.1.1 Một cách nhìn khái lợc 44
2.1.2 Vấn đề tính dục trong quan niệm của con ngời Nhật Bản hiện
đại 47
2.2 Vấn đề tính dục trong Ngời đẹp say ngủ của Y Kawabata 48
2.2.1 Tính dục với vấn đề thân phận con ngời 49
2.2.2 Sự bất định của cuộc sống con ngời và những xung đột trong đời sống nội tâm 51
2.2.3 Tính dục với cảm thức thẩm mỹ của Y Kawabata 56
2.3 Vấn đề tính dục trong Rừng Na-uy của H Murakami 59
2.3.1 Tính dục và sự giải toả những bi kịch đời sống con ngời hiện
Chơng 3: Nghệ thuật thể hiện vấn đề tính dục của Y Kawabata và H Murakami
Na-uy 71
3.1 Những tơng đồng giữa Y Kawabata và H Murakami trong nghệ thuật thể hiện 71
3.1.1 Thủ pháp dòng ý thức 71
3.1.2 Khai thác những xung đột trong đời sống nội tâm nhân vật 75
3.2 Những khác biệt giữa Y Kawabata và H Murakami trong nghệ thuật thể hiện 77
3.2.1 Hình tợng nhân vật ngời kể chuyện 77
Trang 53.2.2 Giọng điệu 81
3.3 Nguyên nhân những tơng đồng và khác biệt giữa Y Kawabata và H Murakami trong nghệ thuật thể hiện 83
3.3.1 Những biến động của xã hội Nhật Bản trong thế kỉ XX 83
3.3.2 Sự khác biệt trong quan niệm nghệ thuật của Y Kawabata và H Murakami 86
3.3.3 Tài năng và cá tính sáng tạo 88
Kết luận 91
Tài liệu tham khảo 92
Trang 61.2 Y Kawabata và Haruki Murakami là hai nhà văn tiêu biểu cho hai
thời kì phát triển của văn học Nhật Bản với hai phong cách có nhiều khác biệt
“Nhật Bản, cái đẹp và tôi” là cụm từ đợc Kawabata phát biểu đầy tự hào trong diễn từ Nobel của ông Điều đó cho thấy niềm kiêu hãnh lớn lao về dân tộc, lí tởng tôn thờ cái đẹp, cũng nh khát vọng đợc hoà mình muôn đời vào nhịp
đập con tim của triệu triệu con ngời trên trái đất của nhà văn Chừng nào cái đẹp còn đợc tôn thờ, chừng nào Nhật Bản còn tồn tại trên hành trình này, chừng nào nhân loại còn hớng đến những lí tởng nhân bản nhất, những vẻ đẹp tuyệt mĩ nhất, thì tác phẩm của Kawabata vẫn còn đợc đón đọc, vẫn còn làm say đắm lòng ngời
Nếu Y Kawabata luôn tự hào đợc "sinh ra với vẻ đẹp Nhật Bản" thì H
Murakami lại là nhà văn sống nhiều ở phơng Tây, chịu ảnh hởng văn hoá phơng Tây, nhng trong cốt cách tâm hồn vẫn là một ngời Nhật
Sáng tác của Y Kawabata đợc xem là đỉnh cao cho nửa đầu thế kỉ XX của văn học Nhật Bản thì H.Murakami lại chói sáng ở những năm cuối cùng của thế kỉ XX Đi vào tìm hiểu sáng tác của hai nhà văn Y Kawabata và H Murakami, vì vậy, không chỉ hiểu tài năng của họ mà còn giúp ta hình dung đợc phần nào về sự vận động của tiểu thuyết hiện đại Nhật Bản
Trang 71.3 Một trong những vấn đề nổi bật trong hai tiểu thuyết Ngời đẹp say
ngủ (Y Kawabata) và Rừng Na-uy (H Murakami) là đi vào khai thác những
khía cạnh của đời sống bản năng con ngời, trong đó có vấn đề tính dục Vậy từ góc nhìn đạo đức - thẩm mĩ bản chất của nó là gì và có gì tơng đồng và khác biệt trong quan niệm và sự thể hiện giữa Y Kawabata và H Murakami? Tìm hiểu những vấn đề đó có ý nghĩa trên nhiều phơng diện cả về đạo đức thẩm mĩ
và lý luận sáng tạo
1.4 Trong những năm gần đây, văn học Nhật Bản đã đợc đa vào giảng
dạy và học tập trong hệ thống nhà trờng Việt Nam từ phổ thông đến đại học trong đó có tác giả Y Kawabata Vì vậy, nghiên cứu sáng tác của Y Kawabata
và H.Murakami, góp phần bổ sung thêm nguồn t liệu hiện còn ít ỏi, gợi mở ớng tiếp cận văn học Nhật Bản - một nền văn học đến nay còn mới mẻ với công chúng Việt Nam
h-2 Mục đích và nhiệm vụ
2.1 Mục đích
Nh tên đề tài đã xác định, mục đích của đề tài là khảo sát nghiên cứu vấn
đề tính dục đợc nhận thức và thể hiện nh thế nào trong hai tác phẩm Ngời đẹp say ngủ (Y Kawabata) và Rừng Na-Uy (H Murakami).
2.2 Nhiệm vụ
Với mục đích ấy đề tài có nhiệm vụ:
Thứ nhất, xác định vị trí của tiểu thuyết Ngời đẹp say ngủ và Rừng
Na-Uy trong dòng chảy Đông Tây.
Thứ hai, phân tích vấn đề tính dục trong quan niệm triết học về con ngời
của Y Kawabata và H Murakami
Thứ ba, chỉ ra đợc những biện pháp nghệ thuật thể hiện vấn đề tính dục
của Y Kawabata và H Murakami trong hai tiểu thuyết nói trên
3 Đối tợng, phạm vi khảo sát
Trang 83.1 Đối tợng khảo sát của đề tài đợc xác định đó là vấn đề tính dục, một
phơng diện bản năng con ngời trong hai tác phẩm Ngời đẹp say ngủ (Y
Kawabata) và Rừng Na-uy (H Murakami).
3.2 Là một phơng diện thể hiện bản năng con ngời, vấn đề tính dục đợc
nhìn nhận và xem xét từ nhiều hớng và ở nhiều cấp độ khác nhau Tuy nhiên, ở
đây chúng tôi chỉ giới hạn vấn đề trên hai phơng diện:
Thứ nhất, đó là vấn đề tính dục gắn liền với số phận con ngời Nhật Bản
trong cuộc sống hiện đại
Thứ hai, sự chiếm lĩnh và thể hiện vấn đề tính dục của Y Kawabata và
H.Murakami qua hai cuốn tiểu thuyết
3.3 Về phạm vi t liệu, chúng tôi chọn và khảo sát hai tác phẩm qua hai
bản dịch : Ngời đẹp say ngủ do Quế Sơn dịch trong Yasunari Kawabata tuyển tập tác phẩm, Nhà xuất bản Lao động trung tâm Văn hoá ngôn ngữ Đông Tây
phát hành (2005) và Rừng Na-uy do Trịnh Lữ dịch, Nhã Nam và Nhà xuất bản
Trang 9sáng tác của tác giả thuộc về vẻ đẹp truyền thống Nhật Bản Mảng nghiên cứu văn chơng Nhật Bản với những đại diện nh H Murakami, Y Kawabata hầu nh chỉ mới đợc khai lộ qua một vài chuyên luận hoặc một vài bài viết trên internet
và vẫn còn đang mở ngỏ cho những nghiên cứu tiếp theo
Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Kawabata - đặt trong tơng quan văn hoá Nhật Bản - đã gây ấn tợng sâu sắc đối với những ngời yêu mến văn chơng Tuy nhiên, ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về Yasunari Kawabata cũng
nh văn học Nhật Bản nói chung còn quá ít ỏi Kawabata từng bị coi là “khó
đọc” (theo nghĩa bác học) ngay trên chính quê hơng ông Khi ông đoạt giải Nobel văn chơng, bản thân ngời Nhật cũng bất ngờ Nhng Kawabata vẫn đợc giới hàn lâm đánh giá cao và giải thởng này đối với ông hoàn toàn xứng đáng
Có thể đó cũng là nguyên nhân khiến cho một nhà văn chiếm một vị trí quan trọng trong văn học thế giới, có rất nhiều độc giả ở cả các nớc phơng Tây, Nhật Bản và Việt Nam, nhng những bài viết, công trình giới thiệu về Kawabata cùng các sáng tác của ông chỉ chiếm một số lợng khiêm tốn Dới đây chúng tôi điểm qua các công trình nghiên cứu về Kawabata ở Việt Nam
Năm 1969 – một năm sau khi đợc tặng giải Nobel, ở Việt Nam đã xuất hiện một số bài nghiên cứu, giới thiệu về cuộc đời sự nghiệp của Kawabata Từ
đó đến nay có khoảng trên hai mơi công trình lớn nhỏ về tác giả và tác phẩm
đặc biệt này
Trong số các công trình giới thiệu chung về Kawabata, đáng kể hơn cả là
Yasunari Kawabata, cuộc đời và tác phẩm, của tác giả Lu Đức Trung, Nhà
xuất bản Giáo dục phát hành năm 1997 Đây thực sự là một chuyên luận nghiên cứu chuyên sâu nhất về cuộc đời và sự nghiệp của Kawabata Trong chuyên luận này, sau khi tìm hiểu, phân tích cả về t tởng, cuộc đời và tác phẩm, những yếu tố thời đại nhất định có ảnh hởng đến con đờng nghệ thuật của Kawabata, tác giả kết luận rằng phong cách nổi bật của Kawabata mà ngời đọc dễ dàng cảm nhận ngay đợc là “chất trữ tình sâu lắng, nỗi buồn êm dịu” và phong cách này đợc kế thừa từ dòng văn học “nữ lu” thời Heian
Trang 10Tiếp đó, nhân dịp kỉ niệm 100 năm sinh của Yasunari Kawabata (1899 - 1999), tác giả Lu Đức Trung lại có bài viết Thi pháp tiểu thuyết Yasunari Kawabata, nhà văn lớn Nhật Bản in trên tạp chí Văn học số 9 Vẫn bám theo
mạch “phong cách”, ở bài viết này tác giả khẳng định thi pháp tiểu thuyết của Kawabata là thi pháp chân không, một đặc điểm nổi bật trong thơ Haiku
Hai công trình này của Lu Đức Trung có thể coi là những công trình tiêu biểu và nghiên cứu vấn đề gần với “nghệ thuật kể chuyện” của Kawabata hơn cả
Còn tác giả Vũ Th Thanh với bài viết Yasunari Kawabata, cuộc đời và
sự nghiệp in trên Tạp chí Văn, Sài Gòn (1969) lại có những cảm nhận khá sâu
sắc về phong cách và t tởng thẩm mĩ của Kawabata Ông cho rằng tác phẩm của Kawabata thờng đợc viết bằng một thứ văn Nhật hết sức hoa mĩ, sử dụng hình
ảnh và ngôn từ nh những bài thơ văn xuôi, đặc biệt là ở thể loại truyện – trong – lòng – bàn – tay Tính chất thơ này không những thể hiện trên văn từ mà còn thể hiện ở cả ý tởng, vì thế những độc giả muốn thởng thức một cốt truyện
li kì sẽ thất vọng khi đọc tác phẩm của ông
Các bài viết khác về Kawabata cũng có ý nghĩa không nhỏ trong việc giới thiệu diện mạo nhà văn này tại Việt Nam Có thể kể đến Yasunari Kawabata d-
ới nhãn quang phơng Tây của Chu Sĩ Hạnh in trên Tạp chí Văn, Sài Gòn năm
1969 Trong bài viết này, tác giả đã có những cảm nhận sắc sảo về bút pháp của nhà văn này nh âm hởng chung về cái cô đơn, những suy ngẫm nội tâm trong các tác phẩm của Kawabata
Cũng trên Tạp chí Văn, Sài Gòn số tháng 3 năm 1972 còn có bài phỏng dịch Yasunari Kawabata, nhà văn Nhựt Bổn đầu tiên đợc lãnh giải thởng văn học Nobel của Mai Chởng Đức Bài giới thiệu cho rằng trong mỗi tác phẩm của
ông “đều mang đầy đủ nét tình cảm tơi sáng, trữ tình huyền diệu, nét tợng trng can đảm, mỗi nét đều kết tựu thành văn học biểu hiện trong sắc thái dân tộc Nhựt Bổn”
Đến năm 1988, dịch giả Nguyễn Đức Dơng trong lời giới thiệu tập truyện tình Nhật Bản Những đốm lửa lạc loài đã đánh giá Kawabata là “một tâm hồn
Trang 11lớn lao đầy yêu thơng”, tâm hồn của một nhà thơ bị đóng đinh trên cây thánh giá văn xuôi, một tâm hồn đầy bí ẩn, cũng nh tâm hồn lớn lao khác của nhân loại Từ L.Tolstoi đến E Hemingway đều chứa đựng những bí ẩn mênh mông
“Nhng cái điều mà để lộ ra trớc chúng ta chính là tác phẩm của họ Cũng vẫn là những bí ẩn – kiệt tác nào thì cũng chứa đựng những bí ẩn – nhng dù sao thì
đây vẫn là hiển ngôn Sự tinh tế, tinh xác trong việc miêu tả thế giới bên trong của con ngời cũng nh miêu tả thiên nhiên, những pha tâm lí phức tạp hoà quyện trong những rung động thiết tha trầm lắng ”
Một trong những tác giả có nhiều đóng góp và có nhiều công trình nghiên cứu về Yasunari Kawabata chúng ta không thể không kể đến đó chính là dịch giả Nhật Chiêu Năm 1991, tác giả có bài Kawabata, ngời cứu rỗi cái Đẹp
đăng trên Tạp chí Văn Ông khẳng định thế giới trong tác phẩm của Kawabata
“thờng hiện ra trong một vẻ đẹp bất ngờ trớc khi ta tìm cách giải thích chúng” Cái đẹp và thời gian là những điều ta cảm nhận dễ dàng nhng giải thích thì vô phơng
Năm 2000, nhà nghiên cứu Phan Nhật Chiêu với bài viết Thế giới Yasunari Kawabata (hay là cái đẹp: hình và bóng) in trên Tạp chí Văn học số
3 một lần nữa khẳng định thế giới của Kawabata là thế giới “hiện hữu của cái
đẹp và cái đẹp của hiện hữu” [3] Cũng nh nhiều nhà nghiên cứu khác, Phan Nhật Chiêu nhấn mạnh đến vẻ đẹp, nỗi buồn, sự cô đơn dới nhãn quan duy mĩ của Kawabata
Cũng với quan điểm đó, tác giả Nguyễn Thị Mai Liên đã cho ra mắt bài
Yasunari Kawabata Ng– “ ời lữ khách muôn đời đi tìm cái đẹp” Tác giả nhấn
mạnh đến cái Đẹp mà Kawabata thờng phản ánh trong tác phẩm với các tiêu chí
khiêm nhờng, thanh tao, trong sáng, thanh xuân, hài hoà, u buồn và h ảo
Tác giả Lê Thị Hờng với bài viết Kawabata Yasunari Ng– “ ời lữ khách
-u sầ-u đi tìm cái đẹp” đăng tải trên Tạp chí sông Hơng, số 154, tháng 12 năm
2001, cũng khẳng định “Bằng trực giác tinh nhạy của một ngời nghệ sĩ luôn run rẩy trớc cái đẹp, Kawabata đã nắm bắt từ vũ trụ, cuộc sống, con ngời cả những gì mà lí trí khó với chạm Thế giới bên ngoài, thế giới nội cảm dờng nh
Trang 12nhoè mất đờng ranh ” Mác đã gọi tình cảm đối với cái đẹp là tiêu chí khu biệt quan trọng của con ngời, còn hoạt động thực sự của con ngời là sáng tạo theo quy luật của cái đẹp, Dostoievski với niềm xác tín “cái đẹp sẽ cứu rỗi nhân loại”, Pautovski xem “Thái độ dửng dng thờ ơ với cái đẹp là một thứ bệnh ung thu gặm nhấm làm khô cứng huỷ hoại tâm hồn con ngời” Kawabata đã có sự gặp gỡ
đồng điệu với những bậc thầy sáng tạo nghệ thuật trên hành trình đi tìm cái đẹp
Lộ trình ấy không bao giờ đơn độc, dẫu có lúc Kawabata tự nhận mình là “ngời lữ khách u sầu” [15]
Ngoài ra, còn có một số bài viết đề cập đến một trong những nét phong cách của Kawabata Trong công trình 100 nhà lí luận phê bình văn học thế kỉ
XX, Viện Thông tin Khoa học xã hội xuất bản năm 2002, mục từ Yasunari Kawabata của tác giả Đỗ Thu Hà lại nhắc đến ông với t cách là nhà phê bình
với phong cách không khác xa là mấy so với nghệ thuật viết văn của ông Đó là: nguyên tắc phản ánh: “sự tồn tại và sự khám phá cái đẹp”; chức năng của ngời nghệ sĩ là “khám phá và tái sinh vẻ đẹp đó”; đối tợng văn học cũng chính là
“cái đẹp, nỗi buồn và sự chân thành”; nghệ thuật viết văn: “cấu trúc tác phẩm là dòng ý thức đợc kĩ thuật chắp cánh” Đây là bức chân dung Kawabata với t cách nhà phê bình, nhng thật đặc biệt, những ý kiến đó thực sự quan trọng đối với
độc giả Việt Nam
Tại hội thảo 30 năm hợp tác Việt Nam Nhật Bản– vào năm 2003, tác giả Đỗ Thu Hà lại có tham luận Cái đẹp qua hình ảnh của ngời phụ nữ qua tác phẩm của Yasunari Kawabata và R Tagore, bàn về đối tợng phản ánh hay ph-
ơng thức tự sự Bài viết đã so sánh quan niệm về cái đẹp của hai nhà văn nổi tiếng châu á, trong đó tác giả nhấn mạnh, vẻ đẹp trong tác phẩm của Kawabata
là vẻ đẹp tinh khôi, không vụ lợi, song hành cùng với nó là sự chân thành và nỗi
buồn Đặc biệt hơn, Đỗ Thu Hà đã chỉ ra ba đối tợng nhận biết về cái đẹp đúng
đắn nhất của ông “là trẻ em, phụ nữ và ngời già sắp chết”
Tác giả Khơng Việt Hà lại bàn về không gian và thời gian nghệ thuật trong tác phẩm của Kawabata qua bài viết Thủ pháp tơng phản trong truyện Ng
“ ời đẹp say ngủ (Nemureru Buo) của Yasunari Kawabata” , đợc đăng tải
Trang 13trên tạp chí Nghiên cứu văn học số 1, năm 2004 ở bài viết này, tác giả tập trung đi sâu khai thác thủ pháp tơng phản trong việc tái tạo không gian và thời gian nghệ thuật, chi tiết nghệ thuật, miêu tả hình thức và khắc họa nội tâm nhân vật, nội dung t tởng của tác phẩm, sự đối lập giữa ý nghĩa ngợi ca và ý nghĩa phê phán.
Trong thời gian gần đây, có thể kể đến tác giả Đào Thị Thu Hằng với chuyên luận Văn hoá Nhật Bản và Yasunari Kawabata do Nhà xuất bản Giáo
dục phát hành năm 2007 Chuyên luận với cấu trúc ba phần: phần một là Nhật Bản và cái đẹp, giới thiệu sơ lợc về quá trình hình thành đất nớc, con ngời và
những nét đặc sắc trong văn hóa Nhật Bản; phần hai với nội dung Yasunari Kawabata, bao gồm Cuộc đời, Văn nghiệp, Nghệ thuật kể chuyện, Diễn từ Nobel, Truyện ngắn và Truyện ngắn trong lòng bàn tay– – – – – Đây là phần trọng tâm của chuyên luận Qua đó khẳng định những đóng góp to lớn từ cách kể của Kawabata đối với kỹ thuật tự sự của văn chơng nhân loại, đặc biệt
là cách kể hiện đại của thế kỉ XX Tiếp đó là phần ba với mục Phụ lục gồm có bảng khảo sát, đoạn trích công trình nghiên cứu của Donald Keene, niên biểu
Kawabata, th mục tác phẩm Kawabata và th mục tài liệu tham khảo
Với chuyên luận này, tác giả Đào Thị Thu Hằng đã hớng trọng tâm đến
vẻ đẹp, sự độc đáo trong nghệ thuật kể chuyện của Kawabata, mang lại một số
lí giải về hiện tợng văn học độc đáo nhất của nhân loại
Nh vậy có thể nói, với cuộc đời và văn nghiệp của mình, Kawabata xứng
đáng có một vị trí cao trong lòng bạn đọc yêu mến tiểu thuyết Nhật Bản, đặc biệt là lối viết văn mang đậm cảm thức thẩm mỹ nh thế Cho nên việc có một số lợng không nhỏ bài nghiên cứu về tác giả này là một điều dễ hiểu
Bên cạnh “tợng đài” Kawabata, nhắc đến văn học Nhật Bản không thể không nhắc đến Murakami Hai năm qua, “hiện tợng” Murakami đã thu hút sự quan tâm rộng lớn của cả giới phê bình lẫn độc giả với nhiều bài viết trên các báo Văn nghệ, Tuổi trẻ cuối tuần, các trang web nh evan.com, tienve.org Tuy nhiên, những bài viết này đa phần đều chỉ mới khái lợc vài nét về sự nghiệp và
Trang 14phong cách của Murakami hoặc tập trung tranh luận về hiện tợng Rừng Na-uy
mà cha đi sâu khảo sát các tác phẩm có giá trị khác
Tác phẩm đầu tiên của Murakami đợc chuyển dịch và xuất hiện ở Việt Nam là cuốn Rừng Na-uy vào năm 1996, tuy nhiên trong lần xuất bản này, công
ty Nhã Nam đã nhờ một dịch giả tiếng Anh, tiếng Pháp hàng đầu và đã đạt đợc một bản dịch Việt ngữ trôi chảy Nhờ vậy, cái đặc trng lớn nhất của các tác phẩm Murakami là “dễ đọc” đã đợc phát huy tối đa và đã lôi kéo đợc một lợng lớn độc giả Việt Nam đến với thế giới của Murakami Haruki
Ngày 17/3/2007, tại Hà Nội đã diễn ra hội thảo về việc chuyển dịch và xuất bản các tác phẩm của hai tác giả Nhật Bản với tựa đề “Thế giới của Haruki Murakami và Banana Yoshimoto” Chủ đề của hội thảo chủ yếu tập
trung vào phân tích tác phẩm của Murakami, trong đó nổi bật nhất là sự tranh luận giữa tính Nhật Bản và yếu tố Âu Mỹ trong các tác phẩm của Murakami
Ông Nhật Chiêu, một nhà nghiên cứu văn học Nhật Bản, bình luận: “Khi nhắc
đến văn học Nhật Bản, ngời ta thờng nghĩ đến Kimono và hoa anh đào Tuy nhiên, Murakami là nhà văn của thế kỉ XXI và ông viết những gì đang diễn ra ở Nhật Bản Tác phẩm của ông thấm đẫm bản sắc Nhật Bản.” Cũng trong hội thảo này, Trần Tiễn Cao Đăng – dịch giả cuốn Biên niên ký chim vặn dây cót,
cho rằng: “Nói đến văn học Nhật Bản, điều đầu tiên ngời ta nghĩ đến là võ sĩ
đạo, trà đạo, Kimono Cũng nh nói đến Việt Nam, ngời ta sẽ liên tởng đến cuộc chiến Việt Nam Các nhà văn Việt Nam nên lấy các tác phẩm của Murakami làm tiền lệ để suy nghĩ xem bản sắc là cái gì và làm thế nào để viết đợc một tác phẩm lớn” Những phát biểu này gợi ý cho chúng ta rằng, với sự phản ánh xã hội hiện đại Nhật Bản, văn chơng Murakami đang đợc đón nhận trên khắp thế giới và các nhà văn Việt Nam cũng nên quan tâm tới các tác phẩm của ông
Trong Tuyển tập báo cáo Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học lần thứ 6 của Đại học Đà Nẵng có bài nghiên cứu Thực và ảo trong truyện ngắn của Haruki Murakami của sinh viên Trần Thị Yến Minh Trong công trình này,
tác giả đề cập đến ba phơng diện làm nên thế giới thực và ảo trong truyện ngắn Murakami: tính phi và h cấu không – thời gian, nghệ thuật xây dựng mô-tip
Trang 15phân thân – giấc mơ, hoá thân – đội lốt, kí hiệu - đồ vật, vô thức – ẩn ức, nghệ thuật dựng và giải huyền thoại thợng đế – thánh thần, ma quỷ và anh hùng – truyền thống Cũng bàn về thế giới thực và ảo trong sáng tác của Murakami có thể kể đến một số ý kiến của các nhà nghiên cứu văn học Nhật Bản, chẳng hạn Cao Việt Dũng chỉ ra “Bí ẩn nh là thủ pháp kể chuyện” của
Murakami Nhật Chiêu cũng nhận định “giấc mơ và tởng tợng lôi cuốn chúng ta khi đọc Murakami Haruki”
Trên trang web newvietart.com đăng bài Thế giới chuyện kể của Murakami của dịch giả Trần Tiễn Cao Đăng Đây là một dịch giả rất quan tâm
đến văn học Nhật, đặc biệt là với những sáng tác của Murakami Dịch giả viết:
“Tác phẩm của ông dờng nh nắm bắt đợc cảm giác vỡ mộng, chia cắt và hoang mang nằm bên cạnh một bề ngoài tĩnh lặng ngay cả trong giờ phút thanh bình Trong những tác phẩm gần đây, Murakami xem ra không còn hài lòng với việc chỉ đơn thuần nắm bắt những cảm thức đó; mà ông cố gắng khảo sát nguồn cơn của những cảm thức đó và đòi hỏi những nhân vật vốn xa nay có phần tiêu cực của mình phải dấn thân hơn ” Nh vậy ý kiến của dịch giả đi sâu vào nghệ thuật miêu tả đời sống nội tâm nhân vật trong sáng tác của Murakami
Rải rác đây đó trên các tạp chí và trang web điện tử các bài nghiên cứu của các tác giả về Murakami nhng có thể khẳng định những gì chúng ta làm d-ờng nh vẫn rất nhỏ bé trớc khối lợng tác phẩm đồ sộ của ông, cha xứng với “tầm vóc” của ông
5.2 Nhìn lại vấn đề tính dục đã đợc quan tâm và giải quyết nh thế nào trong một số công trình nghiên cứu ở Việt Nam
Tính dục với t cách là đối tợng thởng ngoạn trong văn học Việt Nam ờng đợc sàng lọc qua các thang bậc giá trị đạo lí hoặc triết lí Rất hiếm trờng hợp tình dục thuần tuý lọt đợc vào trong “khuôn viên” làng văn Ngay cả những trờng hợp thẳng thừng tuyên bố tuyên chiến với những sợi dây ràng buộc nào đó của đạo lí cũng đã bao hàm trong đó một quan niệm mới về đạo lí:
th-Lẳng lơ cũng chẳng có mòn
Trang 16Chính chuyên cũng chẳng sơn son để thờ.
Trong lịch sử, nếu nh đạo lí học thuyết hớng con ngời tới những khuôn mẫu đạo lí của một trật tự tôn ti tuyệt đối thì đạo lí hồn nhiên dân gian là một sự
điều chỉnh, nhấn mạnh tính tơng đối của các hệ giá trị, trong đó có đạo lí Vì thế đạo lí hồn nhiên dân gian thờng đóng vai trò đối trọng với vị trí độc tôn của
đạo lí học thuyết nh mầm mống đa nguyên sơ khai trong chế độ quân chủ hoặc các chế độ độc tài hiện đại Đề tài tính dục cũng không nằm ngoài quy luật chung giản dị này
Nếu tính theo chu kì, tình dục từ thời kì cha bị xã hội phân hoá trong xã hội bầy đàn nguyên thuỷ đến tình dục cỡng bức lại quá trình xã hội hoá trong xã hội hiện đại, loài ngời đã đi gần hết một vòng xoáy trôn ốc Tình dục giai
đoạn thứ nhất là tình dục cha bị xã hội hoá, thiết chế hoá bởi luật pháp và đạo lí
ở đó cha có quan niệm sở hữu trong quan hệ tình dục Từ khi tình dục gắn liền với sở hữu, thậm chí sở hữu tuyệt đối thì hàng loạt các giá trị văn hoá của con ngời nh hôn nhân, đạo đức gia đình, vai trò của huyết thống lần lợt nảy sinh; cũng từ đó, những rắc rối thờng xuyên không thể giải quyết nh vấn đề sở hữu tình dục và tình yêu tự do, vấn đề sở hữu một lần cho mãi mãi và các khả năng phát sinh bất thờng những tình huống của con ngời trong xã hội mâu thuẫn th-ờng xuyên với cái sở hữu tuyệt đối đó
Chính vì thế, đề tài tình dục trong văn chơng mọi dân tộc trong quá khứ thờng lại không còn là tình dục thuần tuý nữa Nó là vấn đề văn hoá - xã hội, là triết lí sống, là hệ giá trị hoặc chuẩn mực Xu hớng ca ngợi quá trình xã hội hoá tình dục trong văn học thờng nhấn mạnh tính hợp lí, hài hoà của sở hữu tuyệt
đối trong quan hệ tình dục
Có thể nói từ văn học cổ trung đại Việt Nam, tình dục trong văn chơng là vấn đề Trinh hay không Trinh, là sở hữu tuyệt đối hay loạn luân Chỉ có điều, vấn đề sở hữu tình dục trong xã hội phong kiến còn phụ thuộc vào phái tính Nó quy định sở hữu tuyệt đối nhng chỉ theo một chiều: đàn ông toàn quyền sở hữu tuyệt đối đối với đàn bà chứ không quy định chiều ngợc lại, hay nói cách khác cho phép chiều ngợc lại phá cái quy luật xã hội hoá khắc nghiệt này: “Trai năm
Trang 17thê bảy thiếp, gái chính chuyên một chồng” Quyền sở hữu tình dục không đặt
ra với giới tính nữ Tất cả các truyện Nôm trung thế kỉ đều ngợi ca gơng đàn bà tiết hạn chứ không phải đàn ông thờ một vợ
Trong văn học hiện đại, tính dục trong văn chơng ngày càng vùng vằng
đòi trả lại vị trí hồn nhiên, cha bị xã hội hoá của thời tiền sử Giải phóng tình dục ra khỏi những quy ớc của hôn nhân, ra khỏi những tình yêu xã giao dài dòng văn tự để khẳng định tình dục thuần tuý, tình dục hởng lạc
Con ngời hiện đại có thể mặc sức thử nghiệm để trả giá Tuy nhiên có thể khẳng định rằng, khi tách tình dục ra khỏi quá trình xã hội hoá của văn hoá loài ngời, những giá trị hấp dẫn của tình dục trong văn học cũng sẽ biến mất Tình dục trần trụi chỉ hấp dẫn thời “mở cửa”, sau hàng thế kỉ triền miên trong báo
động giới nghiêm Nhng chỉ ít lâu ngời ta sẽ lại chán nó Sẽ đến lúc chẳng cần
sự khuyến cáo nào cả, ngời ta lại trùm chiếc áo xã hội hoá, dù đã cũ lên cái loã
lồ lông lá tiền sử để đi tiếp những chặng còn lại của tiến trình văn hoá loài ời
Khi các trờng phái nh phê bình mới hay chủ nghĩa cấu trúc xuất hiện
ng-ời ta cho rằng có thể giải quyết những vấn đề của văn học chỉ thuần tuý dựa trên những yếu tố nội tại của văn bản mà không cần đến bất kì một sự tham chiếu nào khác từ những nhân tố bên ngoài Tuy nhiên sự phát triển mạnh mẽ của xã hội văn học mà một nhánh quan trọng của nó là nghiên cứu tiếp nhận cũng nh
sự ra đời của các trờng phái: chú giải học/ thông diễn học, nữ quyền luận/ phái tính, chủ nghĩa lịch sử đã cho thấy sự cần thiết phải đặt văn học trong một phạm vi rộng lớn hơn của những vấn đề văn hoá và xã hội
Đặt vấn đề nghiên cứu tính dục trong văn học, nh thế, nảy sinh từ sự vận
động và biến đổi nói trên của thực tiễn nghiên cứu và lý luận văn học Từ góc nhìn này thì tính dục không chỉ là một đề tài phản ánh trong tác phẩm mà còn là một hệ quy chiếu để giải mã và tạo nghĩa cho tác phẩm văn học Tính dục là nơi
đan bện của cải sinh vật và của cải xã hội với những tơng tác cực kì phức tạp vì thế là một điểm nhìn gợi dẫn những suy t về tồn tại ngời trong những chiều kích vốn không dễ nắm bắt của nó Việc khảo sát từ đó nhận diện về những vùng
Trang 18nghĩa đợc bao chứa trong vấn đề tính dục trong văn học Việt Nam Dới đây chúng tôi sẽ điểm qua một số công trình nghiên cứu, các chuyên luận và các bài viết về vấn đề tính dục trong văn học Việt Nam.
Trên trang web vietvan.vn, bài Vấn đề tình dục trong văn học Việt Nam
của tác giả Trần Văn Toàn đã chỉ ra những biểu hiện và cấp độ của vấn đề tình dục đợc thể hiện trong một tác phẩm cụ thể là Chí Phèo của nhà văn Nam Cao
Theo tác giả “Hoạt động tính giao là thuộc tính của mọi sinh thể sống Nằm trong tứ khoái của ngời bình dân, hoạt động tính giao đợc mặc nhận nh một nhu cầu phổ biến, thiết yếu của cuộc sống con ngời bất kể sang – hèn, quý – tiện Trong Chí Phèo, đời sống tình dục của Chí Phèo đợc nhắc đến hai lần (lần một
là với bà Ba Bá Kiến, lần hai với Thị Nở) Cả hai, nh ta đã thấy, đều trở thành dấu mốc, đem lại những bớc ngoặt đặc biệt quan trọng trong cuộc đời của nhân vật Điều này, ít nhất, là một cơ sở cho thấy tình dục cần phải đợc xem là một phơng diện không thể bỏ qua trong việc giải mã nhân vật cũng nh cắt nghĩa về tác phẩm ” Tác giả còn chỉ ra rằng: “Nam Cao, chỉ Nam Cao là ngời đầu tiên
và duy nhất nhìn thấy tình dục – lẽ đơng nhiên là với cuống nhau nối liền với tình yêu – thật sự là một hạnh phúc, một khoái cảm đối với những cảnh đời bé mọn Trong Chí Phèo những động chạm xác thịt trở thành một phần không thể
thiếu của cặp tình nhân khốn khổ và dị hợm: “Hắn thấy lòng rất vui Hắn bẹo Thị Nở một cái làm thị nẩy hẳn ngời lên” ”
Trên vietbao.vn, ngày 30/3/2006, có bài Văn học sex: chấp nhận để tìm cách đổi khác của nhà phê bình Vơng Trí Nhàn Bài viết đề cập đến nội dung
sex của văn học nớc nhà và ngoài nớc Tác giả bày tỏ: “Bản năng con ngời Sex ám ảnh tính dục ở nớc nào cũng vậy, các nhà văn luôn dành vốn đề tài này một sự u đãi đáng kể Bớc sang thời hiện đại càng nhiều ngời đổ xô vào để viết, trong số này có cả những nhà văn lớn, xem đó là con đờng làm nên sự nghiệp, Những trang liên quan đến sex là một phần làm nên giá trị văn chơng của họ và quả thật chỉ bằng cách đó mới biểu hiện đợc t tởng cao đẹp” [24]
Trên trang web vietbao.vn ngày 24/04/2006 đăng tải bài Tính dục trong văn học hôm nay của tác giả Nguyễn Huy Thiệp Theo tác giả, văn học Việt
Trang 19Nam trong nhiều năm gần nh bỏ qua đề tài tính dục “Hầu hết các nhà văn đáng
kể trong thâm tâm đều muốn viết ra đợc một cuốn dâm th có ý nghĩa giáo dục
nh “Truyện Kiều”, nh “Nghìn lẻ một đêm”, “Hồng lâu mộng” hay “Kim Bình Mai” Ngời xa từng cho rằng sex, cái hiểm địa ấy chính là “cánh cửa sinh ra ta
mà cũng là nấm mồ chôn ta” ở ngời đời, t tởng – với sự hỗ trợ của bản năng – bao giờ cũng muốn phóng khoáng phong lu nhng lại thờng không dám nhìn thẳng vào mình, không muốn đối diện với mình, không dám đối diện với tha nhân Con ngời ngợng ngập tìm cách che giấu dục vọng, kìm nén nó, không dám bớc ra các biên giới lằn ranh luân lí ” [32] Đồng thời trong bài viết này, Nguyễn Huy Thiệp cũng thể hiện quan điểm đánh giá của mình về việc khai hoá đề tài tính dục của một số nhà văn nữ đơng đại nh Phạm Thị Hoài với một loạt truyện ngắn nh “Năm ngày”, “Chín bỏ làm mời” và Đỗ Hoàng Diệu với
tập truyện ngắn “Bóng đè”.
Nguyễn Huy Thiệp còn đa ra ý kiến chủ quan: “Viết về sex, theo kinh nghiệm riêng tôi, tôi cho rằng nên ăn no để viết Viết cho mình, cho mọi ngời Viết cho chân thực và giản dị Viết để cứu rỗi những tâm hồn nếu quả đúng là
có những tâm hồn thật”[32]
Trong một bài báo trên tờ Văn nghệ số 17, 18 ra ngày 6/5/2006, nhà nghiên cứu phê bình văn học Đặng Anh Đào khi nói về truyện “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc T (một truyện ngắn có dính líu đôi chút đến vấn đề tính
dục) đã nói đại ý rằng: để viết hay, đối với nhà văn hẳn phải hơi bị bỏ đói, cũng
có thể đói cơm, nhng quan trọng hơn là luôn phải cảm thấy đói sự thật, đói cuộc sống
Trên trang web phongdiep.net có đăng tải bài viết Tính dục trong văn học trẻ không phải là tất cả – của Thạch Quỳ Theo tác giả, không hoàn toàn chỉ nói về sex, nhng những tác phẩm của văn chơng 8X bộc lộ khã rõ về điều này Họ miêu tả những trạng huống khác nhau của đời sống tình cảm con ngời
và tính dục nh một phần không thể thiếu Nông hoặc sâu, đủ hoặc thừa, đôi khi nặng về miêu tả hình thức, những truyện ngắn trong tập này cho thấy, cái khát
Trang 20vọng đợc nói theo cách của mình trong sự quẫy đạp khỏi những đờng ray cũ của văn chơng là đáng trân trọng.
Trang web chungta.com, ngày 17/5/2007, lại có bài viết: Dục tính: chân móng hay đỉnh tháp của văn chơng của tác giả Nguyễn Hoàng Đức Với cái
nhìn sâu sắc và toàn diện từ góc độ triết học về con ngời, tác giả trình bày ý kiến: “Một nền văn chơng không băng ra khỏi “vốn tự có” của cuộc đời Nhng một nền văn chơng thoát ly khỏi dục vọng trần tục – không coi đó là một nền tảng thiết yếu, thì trái lại, là một nền văn học mất gốc dở ngời dở thánh Nếu văn chơng là thứ cứu rỗi tâm hồn con ngời khỏi cuộc trầm lụt của dục vọng, thì
đầm lầy dục vọng càng lớn – cuộc vợt thoát của tâm hồn càng lớn ”
Nh vậy, vấn đề tính dục cũng từng đợc đề cập tới trong văn học Việt Nam nhng còn e dè, kín đáo Chính vì thế số lợng các công trình nghiên cứu về các tác phẩm có yếu tố tính dục cũng không nhiều
5.3 Vấn đề tính dục trong hai tác phẩm Ngời đẹp say ngủ và Rừng Na-Uy qua cách nhìn của những nhà nghiên cứu đi trớc ở trong và ngoài n- ớc.
Một trong những vấn đề khiến độc giả trong và ngoài nớc quan tâm khi tìm tới hai tiểu thuyết Ngời đẹp say ngủ và Rừng Na-uy đó chính là sự xuất
hiện của yếu tố tình dục trong tác phẩm Xoay xung quanh vấn đề này đã có rất nhiều ý kiến tranh luận, nhiều bài viết nghiên cứu, xem đây nh là một hớng gợi
mở để tiếp cận tác phẩm Những bài viết và những ý kiến đợc điểm qua dới đây
là minh chứng cụ thể cho điều đó
Tác giả Đào Thị Thu Hằng trong chuyên luận Văn hoá Nhật Bản và Yasunari Kawabata, Nhà xuất bản Giáo dục phát hành năm 2007, bên cạnh
những nhận xét về các tác phẩm khác của Kawabata, về Ngời đẹp say ngủ, tác
giả đa ra ý kiến: “Ngời đẹp say ngủ hoàn toàn không phải là tác phẩm phản ánh
đơn thuần về một lớp ngời đã bất lực trong đời sống tình dục muốn đi tìm lại cảm giác, câu chuyện (giống nh hầu hết các tác phẩm của Kawabata) đợc xây dựng trên một nền tảng triết học, mĩ học nhằm tôn vinh vẻ đẹp của con ng-ời ”[16, 30]
Trang 21Không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu phê bình trong
n-ớc, sáng tác của Kawabata còn có một sức hấp dẫn đặc biệt với độc giả và nhà nghiên cứu văn học nớc ngoài Yukio Mishima, một ngời bạn thân của Kawabata, trong Lời giới thiệu cuốn “Ngôi nhà của những ngời đẹp say ngủ”
và những truyện khác (House of the Sleeping Beauties and other stories) do
Edward Seidensticker dịch ra tiếng Anh xuất bản ở New York cũng đa ra nhận xét rất xác đáng về căn phong cũng nh đề tài t tởng của tác giả Điều đặc biệt là những môtip trái ngợc nh sự bất tử, cái chết, dục tính lại đợc đặt cạnh nhau một cách hoàn hảo trong câu chuyện có nhiều ẩn dụ, biểu tợng và văn phong dòng ý thức
Rừng Na-uy đợc dịch lần đầu tiên ở Việt Nam vào năm 1997 Bản dịch
tuy không thực sự xuất sắc và để đợc in ra, đã buộc phải cắt xén nhiều câu, nhiều đoạn bị cho là “nhạy cảm”, “dung tục” Tuy nhiên, khi đó Rừng Na-uy đã
ít nhiều gây đợc sự chú ý của giới Nhật Bản học tại Việt Nam nói riêng và d luận nói chung Một số nhà nghiên cứu văn học Nhật Bản ở Việt Nam, khi lần
đầu tiếp xúc với tác phẩm, đã bị sốc vì hình ảnh đất nớc, con ngời Nhật Bản, hiển hiện quá xa lạ với truyền thống Dần dần, giới nghiên cứu cũng đi đến sự thống nhất, rằng đó vẫn là một sản phẩm thuần Nhật, hiển nhiên có thể đợc sản sinh ra nhờ tính tơng phản gay gắt nh một hằng số của nền văn hoá xứ sở hoa anh đào
Theo thời gian và độ mở của văn hoá Việt Nam sau 10 năm, bản dịch
Rừng Na-uy mới ra mắt năm 2006 đợc đánh giá hoàn chỉnh hơn cả Dù vẫn có
sự tranh cãi tác phẩm sex thuần tuý hay là nghệ thuật đích thực, không thể phủ nhận đợc rằng tác phẩm đã đợc giới trẻ đơng đại Việt Nam đón nhận nồng nhiệt vì nó phản ánh đợc tâm t, cuộc sống và những mối quan tâm của họ hiện nay Mặc dù tiếng nói của các nhà nghiên cứu về tác phẩm còn rất ít ỏi, hàng trăm thảo luận trên các diễn đàn của giới trẻ Việt Nam đã đợc mở ra để bàn luận về tác phẩm này, cho thấy nó đã khẳng định vị thế của mình trong lòng bạn đọc trẻ
Trang 22Một trong những bài nghiên cứu đầu tiên về vấn đề tính dục trong Rừng Na-uy đó chính là bài viết Rừng Na-uy sex thuần tuý hay nghệ thuật đích–
thực của tác giả Phan Quý Bích đăng trên báo Văn nghệ, số 34, ra ngày 26/8/
2006 Theo tác giả “Các nhân vật trong truyện đều đợc mô tả nh thể chỉ có sex
là tồn tại với họ Họ, hoặc nh Nagasawa – một sinh viên mới năm thứ hai đại học – nhng không thể nhớ nổi mình đã ngủ với tám mơi hay một trăm cô gái; hoặc nh Kiruki, ngời đã sờ mó bạn gái và nhờ bạn giúp thủ dâm từ tuổi mời ba, nhng đột nhiên tự tử vào tuổi 17 không lí do, ngoài một điều chắc chắn là anh ta cha bao giờ thực sự ngủ đợc với bạn tình dù cả hai đều mong muốn và sẵn sàng Đa phần họ là sinh viên, nhng tất cả bối cảnh trờng lớp, đến chuyện con ngời, xã hội, lý tởng, khoa học, tình cảm gia đình dờng nh chỉ là phụ trên bức tranh đời sống tình dục ” [2] Tác giả băn khoăn: “Tác phẩm đợc xem nh một trong những tợng đài của văn hoá hiện đại Nhật Bản với 1/7 dân số là độc giả,
đợc dịch ra hơn 10 thứ tiếng, đợc thảo luận sôi nổi trên báo chí là giảng đờng các trờng đại học danh tiếng ở Mĩ, đợc xem là một trong mời cuốn sách có ảnh hởng lớn nhất ở Trung Quốc thế kỉ XX, đợc phát hành với con số nhiều triệu bản trên khắp hành tinh Liệu một tiểu thuyết sex thuần tuý có thể rôm rả vậy không? Câu trả lời dĩ nhiên là không Cái thực trong Rừng Na-uy là sex Sex
vừa là sự thực trần trụi, vừa là ẩn dụ về những giá trị sống của thanh niên Nhật Bản vào những năm 60 – 70 Sex chỉ là nó với t cách là sự giải phóng một trạng huống tràn đầy năng lợng Nó không cứu đợc con ngời ra khỏi cô đơn, tuyệt vọng Vậy thì đó là sùng bái hay phủ nhận sex? ” [2] Nh vậy bài viết của Phan Quý Bích nặng về đánh giá Rừng Na-uy nh một tác phẩm mang nhiều yếu
tố sex Tác giả đã nêu dẫn chứng và lập luận theo hớng: từ cốt truyện, nhân vật, chi tiết và cả tựa đề của tác phẩm đều nói về sex
Sau bài viết này, tác giả Linh Lan đã viết Sex trong Rừng Na-uy không chỉ có vậy để trao đổi với tác giả Phan Qúy Bích, bởi theo Linh Lan “xung
quanh bài viết này còn nhiều điều phải bàn lại” Theo tác giả “Đúng là Rừng Na-uy có nhắc nhiều đến sex, các nhân vật đều ít nhiều liên quan đến sex nhng
chủ đề của tác phẩm là điều nhà văn muốn thể hiện thông qua hiện thực đợc phản ánh thì sex chỉ là một công cụ để phản ánh chủ đề của Rừng Na-uy mà
Trang 23thôi ” [17] Trong bài viết này, tác giả Linh Lan đã lập luận hai vấn đề: thứ nhất, sex không phải là chủ đề chính của tác phẩm này; thứ hai, Murakami không thông qua sex để phủ nhận sex, sex trong Rừng Na-uy không phải là điều
gì dung tục hay thái quá cần phải phủ nhận, cũng không đơn thuần là “giải phóng khỏi trạng huống tràn đầy năng lợng”, sâu và xa hơn, nó là sợi dây kết nối mật thiết nhất giữa ngời với ngời giữa cuộc sống vô thờng, vô hớng và cô
độc Linh Lan đã không đồng tình với Phan Quý Bích khi tác giả này cho rằng:
“Sex chỉ là nó với t cách là sự giải phóng một trạng huống tràn đầy năng lợng
Nó không cứu đợc con ngời ra khỏi cô đơn, tuyệt vọng Vậy thì đó là sùng bái hay phủ nhận sex? ” [2] Tác giả Linh Lan cho rằng “Làm tình, đôi khi đúng là nhu cầu đợc hâm nóng mình trong những ngày chán chờng uể oải, nó đơn giản, chóng vánh và gây kích động giây lát nh một ly rợu mạnh Nhng mặt khác, tình dục trong tác phẩm còn mang ý nghĩa sâu sắc hơn, nó cho con ngời cảm giác mình đợc sống, sống một cách thực sự, nồng nhiệt, mê đắm, sống nh một con ngời trong mối liên hệ mật thiết nhất với con ngời, nó là bởi những giây phút ngời nhất, bình thờng nhất ấy đã níu giữ nhân vật ở lại với cuộc sống, tiếp tục sống ” [17] Nh vậy, với Linh Lan, sex chỉ là “công cụ” để Murakami thể hiện nội dung, t tởng tác phẩm
Trớc câu hỏi những quan ngại về hàm lợng tình dục quá nhiều trong
Rừng Na-uy liệu có ảnh hởng gì đến ngời Việt khi chuyển tải sang tiếng Việt
không, ông Nhật Chiêu đã có một cái nhìn sắc sảo: “Ngời Nhật viết đủ loại tình dục trong văn chơng, nhng họ nổi tiếng là ngời có kỉ cơng, tỷ lệ nạo phá thai và tội phạm tình dục của họ thuộc lại thấp Trong khi Việt Nam kín đáo trong văn chơng nhng tỷ lệ nạo phá thai thuộc loại cao nhất thế giới”
Trên trang web VTCnews.vn, ngày 29/0302007, đăng tải bài viết Những tồn tại khác của con ngời của Khánh Phơng Theo tác giả: “Lòng say mê dục
tính hoà quyện với những rung cảm thẩm mĩ tự do, đậm dấu ấn cá nhân, với Murakami, chính là một trong những cánh cửa tuyệt đẹp để bớc vào thế giới tồn tại siêu hình của con ngời Rừng Na-uy là tác phẩm thể hiện trọn vẹn t tởng
này”
Trang 24Trang web sohu.com lại đăng bài viết E ngại Rừng Na-uy là giả dối với
nội dung: “Tình dục, trên một phơng diện lớn Murakami đã qua đó để phô bày sức quyến rũ t tởng của ông Tình dục biến thành một kiểu xả hơi, một thứ h vô huênh hoang, tâm lý Song đồng thời tình dục cũng là thần thánh, thông qua
nó, hình thái chân thực nhất tình yêu giữa ngời và ngời đợc thể hiện, nó là minh chứng vấn vơng của tình cảm, là trụ cột tinh thần của Watanabe E ngại Rừng Na-uy là một tác phẩm thấp cấp, chắc chắn xuất phát từ một lối suy nghĩ không
thành thật, bởi ở thời đại này, tránh né một cách phiến diện những việc vẫn ờng làm mà không tiện nói ra, liệu có phải giả dối không? ”.
th-Tại hội thảo về việc chuyển dịch và xuất bản các tác phẩm của hai tác giả Nhật Bản với tựa đề “Thế giới của Haruki Murakami và Banana Yoshimoto”
ngày 17/3/2007 ở Hà Nội, nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên cho rằng: “Theo tôi, sex với liều lợng nh trong Rừng Na-uy là nằm trong ý đồ nghệ thuật của nhà
văn: những sự chung đụng thể xác không cứu vãn nổi tâm hồn của những con ngời cô đơn Hãy nhớ lại câu Naoko nói với Watanabe ở đầu cuốn truyện nhng
là ở giữa chuyện của hai ngời: “Làm sao anh lại có thể ngủ với em hôm ấy? Làm sao anh lại có thể làm một chuyện nh vậy đợc? Làm sao anh lại không để cho em yên thân một mình?” Tác giả còn khẳng định: “Viết về lớp trẻ của Nhật những năm 60, 70 mà không có tình dục là không thành thật”
Nhà phê bình Bạch Hoa (Trung Quốc) từng đa ra nhận xét: “Rừng Na-uy
dựa trên thủ pháp tả thực với ngôn ngữ giàu chất thơ, chú trọng biểu hiện hai khát vọng theo đuổi của nam nữ thanh niên đối với tình yêu thuần khiết và cá tính trong cuộc sống hịên đại phức tạp vợt qua những miêu tả tình ái thông tục, tác phẩm lại càng có ý nghĩa nhân sinh sâu sắc hơn”
Điểm qua một vài nét về lịch sử nghiên cứu về tác phẩm của Kawabata
và Murakami, có thể thấy cho đến nay cha có một công trình, một bài viết nào
đi sâu nghiên cứu vấn đề tính dục trong hai tác phẩm Ngời đẹp say ngủ và Rừng Na-uy, mặc dầu rải rác đó đây, đã có những ngời đề cập tới Đề tài của
chúng tôi, vì vậy, có thể xem là sự khởi đầu cho một vấn đề có ý nghĩa nhng vô cùng khó khăn, phức tạp
Trang 256 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm 3 chơng:
Chơng 1: Y Kawabata và H Murakami trong dòng chảy Đông Tây
Chơng 2: Vấn đề tính dục trong Ngời đẹp say ngủ (Y Kawabata) và Rừng Na-Uy (H Murakami) từ góc nhìn triết học về con ngời
Chơng 3: Nghệ thuật thể hiện vấn đề tính dục của Y Kawabata và H Murakami trong Ngời đẹp say ngủ và Rừng Na-uy
Chơng 1
Y Kawabata và H Murakami trong dòng chảy
Đông Tây 1.1 Thời đại và những ảnh hởng của nó đến con đờng sáng tạo của Y Kawabata và H Murakami
Kawabata và Murakami là hai “tiểu thuyết gia” xuất sắc đại diện cho nền văn học của xứ sở hoa anh đào trong thời kì đơng đại Nghiên cứu cuộc đời và văn nghiệp của hai tác giả này không thể không tìm hiểu yếu tố thời đại – một trong những yếu tố có ảnh hởng lớn đến t tởng và văn phong của họ Dới đây chúng ta sẽ tìm hiểu tác động và ảnh hởng của thời đại đến cách nhìn nhận,
Trang 26đánh giá vấn đề của hai tác giả trên Đó chính là: công cuộc Duy tân và quá trình phục hng Nhật Bản sau 1868; Hai cuộc chiến tranh thế giới và thảm hoạ
động đất Kan-tô năm 1923; Cuộc xâm lăng văn hóa phơng Tây và một sự hồi sinh mạnh mẽ của văn hóa Nhật Bản
1.1.1 Công cuộc Duy tân và quá trình phục hng Nhật Bản sau 1868
Từ thế kỷ thứ XVII, Nhật Bản đã bắt đầu tiếp xúc với ngời Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan sau một thời gian mở cửa, chính quyền dòng họ Tokugawa trớc hiểm hoạ của phơng Tây cũng chuyển sang chính sách đóng cửa (1639), nhng khác với nhiều nớc phơng Đông, điển hình là Trung Quốc và Việt Nam, thực hịên “bế quan toả cảng” hết sức thiển cận, nghiệt ngã, trong khi loại trừ phơng Tây, ngời Nhật đã để ngỏ một cánh cửa cho ngời Hà Lan vào ra, buôn bán ở cảng Nagasaki (tại đảo Deshima) Sự mở cửa rất nhỏ này lại có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển của xã hội Nhật Bản Qua đó các phờng hội công tr-ờng thủ công xuất hiện ngày càng nhiều, qaun hệ sản xuất mới dần dần hình thành Quan hệ hàng hoá - tiền tệ đã làm xói mòn những giá trị tởng chừng bất biến, làm thay đổi cả một cơ cấu đẳng cấp trong xã hội Song hành với nó là những t tởng mới, tiên tiến của thế giới bên ngoài tràn vào ở Nhật đã sớm xuất hiện phái “Hà Lan học” và Nagasaki trở thành một cầu nối dù nhỏ hẹp để tiếp nhận, chuyển tải văn hoá, khoa học kỹ thuật phơng Tây vào đất nớc hoa anh
đào Cùng với phái Hà Lan học, lí thuyết “Tâm học thành thị” – hay còn gọi là học thuyết về thị dân, phái Shinto, học thuyết khai thác truyền thống cổ đại bản sắc Nhật Bản nh những bông hoa nở rộ, kích thích tinh thần dân tộc, kích thích
sự phát triển những yếu tố mới để xã hội Nhật Bản đổi thay tiến bộ
Sau khi lật đổ chế độ Mạc phủ, Thiên Hoàng Mutsuhito thực hiện một cuộc cải cách lớn về mọi mặt từ chính trị, kinh tế, giáo dục cho đến quân sự Những cải cách này đã khiến kinh tế Nhật Bản phát triển mạnh mẽ từ cuối thế
kỉ XIX, biến Nhật Bản từ một nớc phong kiến trở thành một nớc t bản chủ nghĩa, thoát khỏi việc trở thành một thuộc địa Đây là một cuộc cải cách khá toàn diện về chính trị, quân sự, văn hóa, giáo dục và đặc biệt là cuộc cải cách về kinh tế, xã hội, một cuộc cải cách duy tân mang tính quy luật thời đại với khẩu
Trang 27hiệu và phơng châm hành động nổi tiếng “Tinh thần Nhật Bản và công nghệ
ph-ơng Tây” và “Tiến đến văn minh phph-ơng Tây là để bảo vệ độc lập quốc gia”
Cuộc cải cách Minh Trị đợc xem là một cuộc cách mạng t sản không triệt
để vì tuy nó đã xoá bỏ những hạn chế của phong kiến, mở đờng cho sự phát triển của chủ nghĩa t bản nhng chính quyền và chỉ huy quân đội vẫn thuộc về tay giai cấp quý tộc và võ sĩ đồng thời với sự xuất hiện của các công ty độc quyền khiến Nhật Bản trở thành một đế quốc phong kiến quân phiệt Cùng với
sự phát triển của nền kinh tế, sức mạnh quân sự của Nhật Bản cũng phát triển cùng với t tởng xây dựng đất nớc bằng sức mạnh quân sự của tầng lớp quý tộc
võ sĩ nên Nhật Bản đã thực hiện hàng loạt cuộc chiến tranh trong suốt đời Minh Trị trong đó tiêu biểu nhất là cuộc chiến tranh Trung – Nhật năm 1895 và cuộc chiến tranh đế quốc Nga – Nhật vào năm 1904 – 1905
Thiên hoàng Minh Trị là ngời đã thực hịên cuộc cải cách Duy tân Minh Trị Để tận dụng u thế trung tâm chính trị của Edo, chính phủ mới đã đổi tên Edo thành Tokyo (nghĩa là kinh đô ở phía Đông) và đa triều đình về đó Chính phủ mới đa ra khẩu hiệu “Phú quốc cờng binh” (fukoku kyohei) nhằm khai thác tâm lí lo sợ Nhật Bản sẽ trở thành thuộc địa của phơng Tây nếu không chịu canh tân Trên cơ sở đó, họ đã thuyết phục đợc Nhật hoàng tuyên bố từ bỏ những tập tục có hại và sẵn sàng học hỏi phơng Tây Ngời Nhật trở nên nhiệt tình với “văn minh khai hoá”
Để xoá quyền lực của các quý tộc, chính phủ mới đã bãi bỏ hệ thống lãnh
địa và danh hiệu của các quý tộc Đồng thời, họ tuyên bố tứ dân bình đẳng, nghĩa là bốn tầng lớp gồm võ sĩ, nông dân, thợ thủ công và thơng nhân giờ đây không còn bị phân liệt Điều này gây bất bình ở tầng lớp võ sĩ nên chính phủ phải vừa đàn áp vừa xoa dịu bằng cách bồi thờng bằng tiền Khoản tiền nhận đ-
ợc từ chính phủ cộng với tri thức mà tầng lớp võ sĩ đợc trang bị đã biến tầng lớp
võ sĩ thành giai cấp t sản Giai cấp võ sĩ quý tộc t sản chủ trơng xây dựng Nhật Bản theo con đờng quân sự là nguyên nhân dẫn đến việc Nhật Bản sau này trở thành đế quốc phong kiến quân phiệt
Trang 28Chính phủ còn ban bố quyền tự do buôn bán (kể cả ruộng đất) và đi lại, thiết lập chế độ tiền tệ thống nhất (đồng Yên), xây dựng cơ sở hạ tầng (đặc biệt
là đờng sắt) và phát triển chủ nghĩa t bản đến tận các vùng nông thôn Nhiều phái đoàn đợc cử sang phơng Tây học hỏi về cách thức quản lý hành chính và
về kĩ thuật Toà án mới (kiểu t sản) đợc thành lập Nhiều cải cách quan trọng về giáo dục đợc thi hành trong đó có việc thành lập các trờng đại học để đào tạo tầng lớp lãnh đạo chính quyền và kinh doanh Cơ sở hạ tầng bắt đầu đợc quan tâm phát triển Nhiều chuyên gia phơng Tây đợc mời tới Nhật Bản để phổ biến kiến thức và kỹ thuật
Về quân sự, quân đội đợc tổ chức và huấn luyện theo kiểu phơng Tây Quân đội Nhật Bản áp dụng chế độ nghĩa vụ quân sự thay cho chế độ trng binh
và tăng cờng mua và sản xuất vũ khí, đạn dợc
Kết thúc kỷ nguyên Minh Trị, Nhật Bản không những thoát khỏi nguy cơ
bị xâm lợc, nô dịch giữ vững quyền độc lập, chủ quyền quốc gia – dân tộc, mà còn trở thành một nớc t bản có nền công nghiệp phát triển và hiện đại tỏ ra không thua kém bất kỳ cờng quốc t bản Âu – Mỹ nào Đây là một hiện tợng hiếm thấy của lịch sử, hay chính xác hơn là một sự kiện vĩ đại của các dân tộc châu á trong cuộc đụng đầu với thực dân Âu – Mỹ, còn đợc gọi là cuộc đụng
đầu lịch sử Đông – Tây đầy máu và nớc mắt, diễn ra trong điều kiện chủ nghĩa
t bản phơng Tây đang lên và các quốc gia phong kiến phơng Đông đang ở giai
đoạn mạt kỳ, đặc biệt từ nửa cuối thế kỉ XIX đến nửa đầu thế kỉ XX
1.1.2 Hai cuộc chiến tranh thế giới và thảm hoạ động đất Kan-tô năm 1923
Sự kình địch giữa hai khối quân sự đối lập nhằm chia lại mặt địa cầu đã làm cho chiến tranh thế giới nổ ra, vì cả hai khối – khối Liên minh và khối Hiệp ớc - đều mong muốn thanh toán địch thủ của mình để làm bá chủ thế giới Gây ra chiến tranh, các cờng quốc đế quốc còn nhằm lợi dụng tình hình chiến tranh để tăng cờng đàn áp phong trào công nhân và phong trào giải phóng dân tộc
Trang 29Nhật Bản là nớc thứ hai sau Mĩ thu đợc nhiều lợi trong Chiến tranh thế giới thứ nhất Lợi dụng sự suy giảm khả năng kinh tế của các nớc t bản châu Âu trong chiến tranh, Nhật Bản đã tăng cờng sản xuất hàng hoá và xuất khẩu Nhờ những đơn đặt hàng quân sự, sản xuất công nghiệp của Nhật Bản tăng trởng rất nhanh Chỉ trong vòng 6 năm (1914 - 1919), nền kinh tế Nhật Bản phát triển vợt bậc: sản lợng công nghiệp tăng 5 lần, tổng giá trị xuất khẩu tăng 4 lần, dự trữ vàng và ngoại tệ tăng gấp 6 lần; nhng sau đó lại lâm vào khủng hoảng Về nông nghiệp, những tàn d phong kiến còn tồn tại nặng nề ở nông thôn đã kìm hãm sự phát triển của kinh tế nông nghiệp Gía lơng thực, thực phẩm, nhất là giá gạo, vô cùng đắt đỏ Đời sống ngời lao động không đợc cải thiện.
Phong trào đấu tranh của công nhân và nông dân bùng lên mạnh mẽ trong những năm sau chiến tranh Mùa thu năm 1918, quần chúng nhân dân nổi dậy đánh phá các kho thóc, mở đầu cuộc “Bạo động lúa gạo” lan rộng khắp cả nớc, lôi cuốn 10 triệu ngời tham gia Đồng thời, những cuộc bãi công của công nhân cũng lan rộng ở trung tâm công nghiệp lớn nh Cô-bê, Na-gôi-a, Ô-xa-ca
Khác với các nớc t bản Tây Âu và Mĩ, sự ổn định của Nhật Bản chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn Năm 1926, sản lợng công nghiệp mới phục hồi trở lại và vợt mức trớc chiến tranh Nhng cha đầy một năm sau, mùa xuân năm
1927, cuộc khủng hoảng tài chính lại bùng nổ ở Tokyo làm 30 ngân hàng phá sản Nền công nghiệp chủ yếu dựa vào xuất khẩu của Nhật Bản ngày càng gặp khó khăn trong việc cạnh tranh với Mĩ và các nớc Tây Âu Về chính trị, trong những năm đầu thập niên 20 của thế kỉ XX, chính phủ Nhật Bản đã thi hành một số cải cách chính trị và giảm bớt căng thẳng trong quan hệ với các cờng quốc khác Năm 1929, sự sụp đổ của thị trờng chứng khoán Mĩ dẫn đến cuộc
đại suy thoái của chủ nghĩa t bản nói chung, đã làm cho nền kinh tế Nhật Bản giảm sút trầm trọng nhất là trong nông nghiệp, do sự lệ thuộc vào thị trờng bên ngoài của ngành này Bên cạnh đó mâu thuẫn xã hội và cuộc đấu tranh của những ngời lao động cũng diễn ra quyết liệt
Nhằm khắc phục những hậu quả của cuộc khủng hoảng và giải quyết khó khăn do thiếu nguồn nguyên liệu và thị trờng tiêu thụ hàng hoá, giới cầm quyền
Trang 30Nhật Bản chủ trơng quân phiệt hoá bộ máy nhà nớc, gây chiến tranh xâm lợc, bành trớng ra bên ngoài Năm 1933, Nhật Bản dựng lên chính phủ bù nhìn, đa Phổ Nghi – vị hoàng đế cuối cùng của Trung Quốc – lên đứng đầu cái gọi là
“Mãn Châu quốc” Miền Đông Bắc Trung Quốc trở thành bàn đạp của những cuộc phiêu lu quân sự mới của quân đội Nhật Bản Nớc Nhật trở thành lò lửa chiến tranh ở châu á và trên thế giới
Nhng Nhật Bản hiện đại cũng phải chứng kiến những ngày mà cả dân tộc rơi vào tình trạng buồn thảm do tác động của sự bại trận trong Chiến tranh thế giới thứ hai và sự sụp đổ của chủ nghĩa quân phiệt Đặc biệt trong thời gian này
có một sự kiện lớn tác động mạnh mẽ đến sự hình thành và phát triển của nền văn hoá đại chúng Đó chính là trận động đất Tokyo, hay còn gọi là trận động
đất Kanto (Kanto daishinsai) xảy ra ngày 01/9/1923 với cờng độ 7,9 độ rích te tại khu vực thủ đô Tokyo Trận động đất đã phá huỷ phần lớn các nhà dân ở Tokyo Số ngời chết và mất tích lên tới con số hàng trăm, hàng nghìn ngời N-
ớc Nhật bị tàn phá, tâm lí thất vọng, hoài nghi ám ảnh mọi ngời dân Chính nhà văn Kawabata trong thời kì này cũng đã từng tuyên bố “từ bây giờ tôi sẽ chỉ viết
bi ca” Tuy nhiên, bằng quyết tâm, bằng những đức tính tự tôn, cần cù, thông minh, nên chẳng bao lâu sau, thế giới lại một lần nữa đợc chứng kiến sự khởi sắc ngoạn mục của Phù Tang quốc
1.1.3 Cuộc xâm lăng văn hóa phơng Tây và một sự hồi sinh mạnh mẽ của văn hóa Nhật Bản
Những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, t tởng duy tân của Minh Trị Thiên Hoàng đã thổi một luồng gió mới vào Nhật Bản - vốn đợc coi là "ốc đảo" Tinh thần "Học hỏi phơng Tây, đuổi kịp phơng Tây, vợt lên phơng Tây" đã đa lịch sử Nhật Bản sang một trang mới Sự đổi mới về kinh tế khiến cho cả thế giới phải kinh ngạc Bên cạnh đó là sự “xâm lăng” mạnh mẽ về văn hoá phơng Tây vào Nhật Bản, làm cho văn hóa Nhật Bản từng bớc có sự thay đổi Chính hoàn cảnh lịch sử này đã ảnh hởng lớn đến t tởng và nhận thức của tầng lớp nhà văn đơng thời, mà tiêu biểu là Kawabata và Murakami
Trang 31Sự đổi mới về kinh tế khiến cho cả thế giới phải kinh ngạc đã tác động mạnh mẽ đến văn học nghệ thuật Nhật Bản Nếu trớc đây văn học Nhật Bản chịu ảnh hởng t tởng triết học phơng Đông, đặc biệt là ấn Độ, Trung Quốc thì nay bị chi phối bởi những quan điểm tự do dân chủ của phơng Tây, nhiều trào l-
u, trờng phái ra đời đã làm nên một diện mạo mới cho văn học Nhật Bản: trẻ trung, phong phú và táo bạo
Cuộc sống hiện đại mang hơi hớng Tây phơng đã đem lại một bộ mặt mới cho Nhật Bản Tuy nhiên chính cuộc sống hiện đại nay lại đem tới những
“phản ứng”, những cách đón nhận khác nhau Ví nh Kawabata vẫn trung thành với vẻ đẹp truyền thống của Nhật Bản, tác phẩm của ông lu giữ những bản sắc văn hoá dân tộc, mang một vẻ đẹp bi cảm Mặc dầu chịu ảnh hởng sâu sắc của chủ nghĩa hiện thực phơng Tây, Kawabata vẫn lấy văn chơng cổ điển Nhật Bản làm nền tảng, và nhờ đó mà trở thành đại diện cho một khuynh hớng rõ rệt về sự hoài vọng và giữ gìn phong cách truyền thống của Nhật Bản Trong khi đó, với phong cách hiện đại, tác phẩm của Murakami lại bị xem nh là “xa rời truyền thống văn hoá Nhật Bản” khi đi sâu miêu tả cuộc sống hiện đại của tầng lớp thanh niên Nhật Bản những năm 60, 70 của thế kỉ XX trong quá trình trỗi dậy mạnh mẽ của ý thức con ngời cá nhân cá thể
Nh vậy có thể nói, cuộc xâm lăng văn hoá phơng Tây đã đa đến những thay đổi nhất định trong đời sống văn hoá, văn học Nhật Bản, đặc biệt là với những nhà văn hiện đại nh Kawabata và Murakami Tác phẩm của họ là bằng chứng thiết thực nhất
1.2 Y Kawabata trên hành trình sáng tạo
1.2.1 Sự khởi đầu con đờng sáng tạo của Y Kawabata
Năm 1968, nớc Nhật đón mừng một sự kiện văn hoá có ý nghĩa lớn: nhà văn Yasunari Kawabata, ngời Nhật Bản đầu tiên đoạt giải Nobel văn học
Sự kiện này đã tác động sâu sắc đến cách nhìn nhận của phơng Tây đối với văn chơng Nhật Bản nói riêng và văn chơng Châu á nói chung Cũng từ đó,
Trang 32thế giới có thêm một nhà văn với sự nghiệp sáng tác, phong cách nghệ thuật độc
đáo đợc tôn vinh và khẳng định bằng tiêu chuẩn cao quý: bậc thầy
Năm 1899, Kawabata chào đời tại một ngôi làng nhỏ, gần thành phố Osaka, trong một gia đình trí thức Tuy nhiên, cuộc đời ông gặp nhiều bất hạnh ngay từ khi còn là một đứa trẻ: cha chết khi mới hai tuổi, một năm sau thì mẹ mất, Kawabata phải về sống với ông bà nội Nhng đến năm 1906, Kawabata lên bảy tuổi thì bà mất Hai năm sau, ngời chị duy nhất cũng qua đời Tới khi mời lăm tuổi, cậu mất nốt ông - ngời thân cuối cùng và hoàn thành Nhật kí tuổi mời sáu (1914) bên giờng bệnh của ông, tác phẩm khởi đầu cho sự nghiệp của một
nhà văn lớn Với vô vàn mất mát này, Kawabata đợc nhiều nhà nghiên cứu, trong các phần viết về tiểu sử của ông, đặt cho biệt danh là Soshiki no meijin - Chuyên gia tang lễ
Cuộc sống gia đình thời ấu thơ đã tác động mạnh đến tính cách và tác phẩm của Kawabata Công chúng luôn biết đến Kawabata nh một nhà văn kín
đáo, trầm lặng, sống tách biệt khỏi những bon chen lợi ích đời thờng; và các tác phẩm của ông, từ những truyện ngắn đầu tiên nh Vũ nữ Izu, Lễ chiêu hồn cho
tới những tiểu thuyết cuối đời nh Tiếng rền của núi, Ngời đẹp say ngủ hay
các truyện - trong - lòng - bàn - tay đều toát lên âm hởng u buồn của một "lữ khách lang thang đi tìm cái Đẹp"
Chịu ảnh hởng bởi dòng văn học nữ lu thời Heian (từ thế kỉ thứ VIII đến thế kỉ thứ XII), lối viết của Kawabata mềm mại, dung dị, điềm đạm và đầy chất thơ Ông đánh giá Truyện Genji do nữ sĩ Murasaki Shikibu sáng tác vào thế kỉ
XI là "Đỉnh cao của văn chơng Nhật Bản, cho đến ngày nay không có một tác phẩm h cấu nào sánh đợc" Đọc tác phẩm của ông, độc giả dễ dàng cảm nhận đ-
ợc chất cô đọng, hàm súc, ý tại ngôn ngoại của thơ Haiku, truyền thống yêu cái
Đẹp, tôn thờ cái Đẹp tới mức duy mỹ của ngời Nhật Mỗi trang văn của Kawabata vừa giống một bức tranh đẹp, lại vừa giống nh một bài thơ chan chứa tình ngời
Kawabata đợc đề cao chính bởi ông đã góp phần mở cánh cửa tâm hồn của ngời Nhật ra với thế giới Ông đợc trao tặng giải thởng Nobel vì "Văn ch-
Trang 33ơng của ông tiêu biểu cho cái đẹp truyền thống và thể hiện đợc cách t duy của ngời Nhật Bản".
Cuộc đời và văn nghiệp của Kawabata gắn liền với quá trình tiếp nhận
đổi mới về cả kinh tế, chính trị, xã hội và văn hoá của Nhật Bản Những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, t tởng duy tân của Minh Trị Thiên Hoàng đã thổi một luồng gió mới vào Nhật Bản - vốn đợc coi là "ốc đảo" Tinh thần "Học hỏi phơng Tây, đuổi kịp phơng Tây, vợt lên phơng Tây" đã đa lịch sử Nhật Bản sang một trang mới Sự đổi mới về kinh tế khiến cho cả thế giới phải kinh ngạc
đã tác động mạnh mẽ đến văn học nghệ thuật Nhật Bản Nếu trớc đây văn học Nhật Bản chịu ảnh hởng t tởng triết học phơng Đông, đặc biệt là ấn Độ, Trung Quốc thì nay bị chi phối bởi những quan điểm tự do dân chủ của phơng Tây, nhiều trào lu, trờng phái ra đời đã làm nên một diện mạo mới cho văn học Nhật Bản: trẻ trung, phong phú và táo bạo
Đầu thế kỉ XX, các bản dịch văn học châu Âu đã đa đến cho văn học Nhật Bản những kĩ thuật, phơng pháp sáng tác vô cùng mới lạ và có sức hấp dẫn lớn đối với các nhà văn tân tiến Sức hút của nhu cầu tìm hiểu, khám phá và thử nghiệm thật mãnh liệt, Kawabata đã từng khẳng định "tính chất mới" là tất cả,
và bày tỏ sự khó chịu trớc những cách viết đã đợc công thức hoá: "Mắt chúng ta rực cháy khát khao đợc biết điều cha biết Những lời chào hỏi qua lại của chúng
ta biểu hiện niềm vui mừng ở chỗ hiện nay ta có thể tranh luận với nhau bất cứ
điều gì là mới Nếu một ngời nói "Good morning!" (tiếng Anh, có nghĩa Xin chào) và ngời kia trả lời "Good morning!" thì thật buồn chán Chúng ta đã hoàn toàn trở nên chán ngấy văn chơng vì nó không thay đổi nh mặt trời ngày hôm nay vẫn mọc chính xác ở hớng đông nh ngày hôm qua."
Sự nghiệp sáng tác của Kawabata thật phong phú và hầu nh thành công ở tất cả các thể loại mà ông thử nghiệm Phần truyện ngắn đợc đánh giá cao và đ-
ợc dịch ra nhiều thứ tiếng trong đó có cả tiếng Việt Mảng truyện - trong - lòng
- bàn - tay, nh bản thân ông từng nói "đó là những truyện mà tôi hài lòng nhất",
đợc viết rải rác từ năm 1921 đến năm 1972, Kawabata gọi chúng là Tanagokoro
no shosetsu (Palm-of-the-Hand - Truyện-trong-lòng-bàn-tay) Mỗi truyện chỉ có
Trang 34vài trang (có truyện dài cha đến một trang) nhng chứa đựng rất nhiều triết lí sâu
xa về vũ trụ và con ngời Đây là thể loại có nhiều đặc điểm gần gũi với thơ Haiku truyền thống của Nhật Bản Kawabata phát biểu: "Rất nhiều nhà văn, khi còn trẻ, đã làm thơ, còn tôi, thay vì làm thơ, lại viết truyện – trong – lòng - bàn - tay Linh hồn thơ ca những ngày tuổi trẻ của tôi nằm trong chúng."
Tuy nhiên, thành công đặc biệt đối với Kawabata vẫn luôn là tiểu thuyết
Đỉnh cao của thể loại này trong sự nghiệp sáng tác cuả ông chính là bộ ba tiểu thuyết mang về giải Nobel đầu tiên cho ngời Nhật Bản : Xứ tuyết (1947), Ngàn cánh hạc (1951) và Cố đô (1961).
Có thể nói Kawabata là một trong số ít các nhà văn chuyên nghiệp của Nhật Bản Toàn bộ thời gian, ông đều dành cho sáng tác nên khối lợng tác phẩm tơng đối lớn Ngoài những tiểu thuyết đã đợc dịch ra nhiều thứ tiếng và phổ biến trên toàn thế giới kể trên, Kawabata còn khá nhiều tiểu thuyết khác cũng đợc các nhà phê bình đánh giá cao nh Hồng đoàn ở Asakusa, Cao thủ cờ Go, Cái
hồ, Đẹp và buồn đó là cha kể đến những tác phẩm còn dang dở (nhng sau này
vẫn đợc xuất bản) trong văn nghiệp của ông
Lúc sinh thời, Kawabata cũng từng viết những tiểu thuyết theo đơn đặt hàng của các nhà xuất bản hay các tạp chí Chúng đợc in thờng kì trên các báo
và bị một số nhà phê bình xếp vào dạng "văn chơng bình dân" Nổi tiếng nhất trong số đó là Ngời Tokyo (Tokyo no hito, Tokyo people, 1954-1955) Quan
niệm của Kawabata về chuyện này rất mạch lạc Ông gọi đó là những tác phẩm
"đại chúng", tức là đại đa số độc giả ở nhiều trình độ đều có thể thởng thức,
nh-ng ônh-ng tuyệt đối khônh-ng bao giờ đa chúnh-ng vào tronh-ng các tuyển tập của mình Không giống Balzac, luôn chối từ những đứa con tinh thần cho ra đời từ thuở hàn vi để giải quyết nhu cầu tài chính, Kawabata viết những tác phẩm này và tự hào là chúng có thể giúp ông nuôi dỡng niềm đam mê với "nghệ thuật thuần túy" Tuy nhiên, sau thành công của Xứ tuyết, ông hầu nh không còn "viết sách
kiếm tiền nữa"
Kawabata cũng viết cả tiểu luận phê bình, đôi khi là những bài giới thiệu các cây bút trẻ Không chỉ ủng hộ họ bằng uy tín, nếu cần, ông còn sẵn sàng
Trang 35ủng hộ cả tài chính Những tiểu luận của ông cũng mang đậm dấu ấn cá nhân, sắc sảo nhng trầm tĩnh khoan hoà, một số công trình thực sự có ý nghĩa về mặt
lí luận đối với văn giới Diễn từ Nobel của ông là một ví dụ tiêu biểu Hơn bất
cứ một tác phẩm nào, diễn từ này chính là "cánh cửa tâm hồn Nhật Bản" đối với thế giới
Văn nghiệp của Kawabata phong phú, đồ sộ và thành công ở nhiều thể loại Tuy không nhiều, nhng thậm chí ông còn viết cả thơ Haiku Chỉ để giải trí hoặc tặng bạn bè nhng cũng giống nh bất kì thể loại nào mà Kawabata thử nghiệm, chúng luôn là những "mĩ th", đợc yêu mến và trân trọng nh bất kì một báu vật bào trong di sản mà ông để lại cho loài ngời
Nh vậy có thể khẳng định rằng: với Kawabata, lần đầu tiên Nhật Bản bớc vào thế giới những ngời đoạt giải Nobel văn chơng Điều cốt yếu dẫn đến quyết
định này là, với t cách nhà văn, ông đã truyền đạt một nhận thức văn hoá có tính thẩm mĩ và đạo đức cao bằng một phong cách nghệ thuật độc đáo, do đó đóng góp vào cầu nối tinh thần Đông Tây theo cách của ông
1.2.2 Quan niệm về con ngời trong t tởng nghệ thuật của Y Kawabata
Con ngời - đối tợng chủ yếu của sáng tạo văn học, bao giờ cũng đợc ngời nghệ sĩ nhìn nhận, khai thác bằng quan niệm nghệ thuật Quan niệm về con ng-
ời trong nghệ thuật tuy không đồng nhất với con ngời trong triết học nhng lại có những ảnh hởng nhất định Vì thế, tính ổn định về nghệ thuật luôn chịu sự quy
định của các quan điểm chính trị, xã hội và t tởng triết học đơng thời
Quan niệm nghệ thuật về con ngời là một phạm trù của thi pháp học Đó
là sự cắt nghĩa, lí giải, sự cảm thấy con ngời đã đợc hoá thân thành các nguyên tắc, phơng tiện, biện pháp, hình thức thể hiện con ngời trong văn học tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ cho các hình tợng nhân vật đó
Từ trớc ngời ta thờng hình dung nhân vật nh là những con ngời có thật, và càng giống nguyên mẫu ngoài đời thì con ngời càng thành công Thực ra khi sáng tạo ra nhân vật, nhà văn luôn tái tạo nó theo mô hình mà họ đã hình dung
về con ngời Đây mới là quyết định cho sự nông sâu, cũ mới của tài năng nhà văn trong việc chiếm lĩnh và khám phá đời sống Vì thế, tìm hiểu quan niệm
Trang 36nghệ thuật về con ngời sẽ giúp cho chúng ta có một cách khám phá mới mẻ về chất lợng nghệ thuật của hình tợng nhân vật, giúp chúng ta hiểu sâu hơn chỉnh thể nghệ thuật của tác phẩm và cá tính sáng tạo của nhà văn.
Quan niệm nghệ thuật về con ngời là một công cụ cần thiết để xem xét về văn học, bởi vì “văn học là nhân học”, qua đó giúp chúng ta đánh giá chiều sâu trong việc khám phá về con ngời của một nhà văn Khái niệm đó cũng cho thấy hớng phấn đấu của các nhà văn là đi tìm cách hiểu mới, sâu sắc về con ngời, đột phá các giới hạn thông thờng trong việc miêu tả con ngời của ngời đi trớc, sáng tạo những tác phẩm mới xứng đáng với mong đợi của ngời đọc Trong đề tài này chúng ta cùng tìm hiểu quan niệm con ngời trong t tởng nghệ thuật của Kawabata
Buồn thơng và tinh tế, sáng tác của nhà văn ngời Nhật Y Kawabata là một trong những di sản tinh thần quý giá nhất của thế kỉ XX Tác giả của những trang văn nhạy cảm và mong manh ấy cũng là ngời mang nhiều nỗi sầu thơng, kết đọng lại từ cuộc đời riêng đầy tang tóc, từ cảm thức hoài cổ và những suy t trầm mặc về cuộc sống và con ngời Trong phần này, chúng tôi chủ yếu đề cập
đến quan niệm con ngời trong t tởng nghệ thuật của Y Kawabata
Thái độ đối với sự kiện, nhân vật của ai chính là tấm gơng phản chiếu đời sống nội tâm, tính cách của ngời ấy Trong tiểu thuyết của Kawabata, với giọng triết lí, trầm t suy tởng, ông luôn khiến độc giả phải dừng lại, cùng nhân vật suy ngẫm về cuộc đời Nh một dòng suối nhỏ, một mạch nớc ngầm, nó âm thầm lặng lẽ vơn tới tận những nơi sâu nhất, xa nhất của tâm hồn con ngời
Trong Ngời đẹp say ngủ, nhân vật, thông qua ngời kể chuyện đã thể hiện
sự nuối tiếc của mình từ những điều lớn lao vĩ đại tới những cái nhỏ nhặt tầm thờng nhất của cuộc sống hàng ngày Ông già Eguchi, một ngời dù hiểu đợc sự hữu hạn ngắn ngủi của một kiếp ngời nhng vẫn luôn muốn kéo dài tuổi xuân bất tận bằng cách hởng niềm khoái lạc với các cô gái trong “ngôi nhà bí mật” Thực
ra đó chỉ là một cách tự đánh lừa bản thân bởi vì các cô gái đó đã đợc đánh thuốc mê, trở thành những “ngời đẹp say ngủ” không nói năng, khóc cời Còn các ông già, khi đối mặt với các cô gái đó, hoặc là thấy lại đợc cảm giác thanh
Trang 37xuân , hoặc lại càng thấy đợc sự bất lực của chính mình để rồi nuối tiếc Có thể thấy đây là cảm giác rất thông thờng của con ngời và vì thế nó gắn lìên với sự uổng phí và ý niệm thời gian Ông già Eguchi không để tuổi thanh xuân trôi qua một cách uổng phí nhng quỹ thời gian của ông đã gần hết, ông sắp bớc vào tuổi
“cổ lai hi”, có nghĩa là một ông già “hoàn toàn” Giọng tiếc nuối, trầm t này, trong Ngời đẹp say ngủ càng thể hiện sự đối chọi giữa ảo vọng và thực tại Aỏ
vọng là tìm lại tuổi xuân đã qua bên các cô gái đẹp, nhng thực tại là tình trạng già nua thảm hại tới mức nằm bên các ngời đẹp ngủ mê mà ông già lại tởng t-ợng ra họ là Bồ Tát Chất giọng này vì vậy không khỏi mang lại những cảm giác xót xa
Nh vậy, với cái nhìn đầy tinh tế và sáng tạo, Kawabata đi sâu vào khám phá những vỉa tầng thăm thẳm trong tâm hồn con ngời, nhìn nhận họ ở phơng diện “ngời” nhất, cảm thông và sẻ chia với những tâm t, tình cảm của họ Cách miêu tả của ông đầy khéo léo, nhẹ nhàng mà sâu lắng Vì thế, tác phẩm khép lại nhng bao giờ những nhân vật của ông cũng vẫn còn sống động và “tồn tại” trong tâm trí ngời đọc
1.2.3 Vấn đề tính dục trong cảm hứng sáng tạo của Y Kawabata
Những ấn tợng mới có tính chất chủ quan trớc dòng chảy vô cùng linh
động của cuộc sống, sự trực cảm cái đẹp và huyền diệu trong thế giới là điều Kawabata tìm kiếm và thể hiện Với Kawabata, sự suy đồi của đời sống cũng chính là sự suy đồi của cái đẹp Trong xã hội hiện đại, nhiều ngời mắc phải chứng bệnh bất lực hoặc lãnh cảm trớc cái đẹp Vậy, phải hồi sinh một đời sống mới cho cảm giác Cái đẹp không phải là biểu tợng, cái đẹp là đời sống ở mọi nơi Con ngời phải biết cách phát hiện ra nó Sự hiện hữu cái đẹp và khả năng phát hiện ra nó ở mỗi con ngời làm cho cuộc sống thế gian mới mẻ từng giây từng phút Mọi cảm giác đều là một cảm giác mới
Bằng một thi pháp dung hợp các tính chất ấn tợng, biểu hiện, siêu thực của thời hiện đại với phong cách Haiku, tinh thần Thiền tông trong văn hoá Nhật Bản, Kawabata đã sáng tạo nên những văn phẩm đẹp lạ lùng về thiên nhiên, tình yêu và sắc dục Trong khi tuyệt vọng trớc sự thảm bại và suy sụp của
Trang 38đất nớc, Kawabata đọc lại văn chơng cổ điển của Nhật Bản, nh truyện Genji, và
khám phá ra sự cứu rỗi của cái đẹp Và từ những trang sách của Kawabata, một tiếng kêu u buồn không ngớt vang lên, rằng cái đẹp đang bị đọa đày Không chỉ
từ những trang sách ấy mà từ trái tim của ngời nghệ sĩ, ngời lữ khách muôn đời,
Đọc Ngàn cánh hạc chúng ta thấy hiện lên hình ảnh nhân vật bà Ota thật
sinh động và chân thật Đối với cha Kikuji, một ngời đàn ông đã có gia đình thì
bà Ota đơn giản là một ngời phụ nữ lôi cuốn và cũng chỉ là một trong số những ngời tình của ông Và tuy mối tình ấy kéo dài, từ khi chồng bà Ota chết cho tới chính cái chết của ông nhng lại hoàn toàn đợc phản ánh từ phía mẹ con Kikuji
và cô Chikako
Qua cuộc tình này, qua lời kể của chính bà Ota và các nhân vật khác, liệu
độc giả có thể đa ra lời phán quyết cuối cùng về con ngời của cha Kikuji? Điều này thật không đơn giản Chúng ta không thể áp dụng hệ quy chiếu đạo đức riêng của bản thân để phán xét một ngời khác, một nền văn hoá khác Lối t duy, truyền thống của ngời Nhật Bản mang tính phơng Đông thuần khiết nhng quan niệm về sắc dục của họ không hoàn toàn nh vậy Có thể thấy điều này rất rõ trong tác phẩm của các tác giả Nhật Bản lớn ngay từ thời Heian với Truyện Genji của nữ sĩ Murasaki cho tới thời hiện đại nh Akutagawa, Abe Kobo, Oe
Kenzaburo Và trong tiểu thuyết của Kawabata, các nhân vật, đặc biệt là nhân vật nam chính, dù rất yêu các lễ hội, các nghi thức trà đạo truyền thống nhng cuộc sống của họ bao giờ cũng gắn liền với yếu tố sắc dục dù là thể xác hay tinh thần Chính điều này đã tạo nên một Nhật Bản huyền bí ngay trong lòng phơng Đông và lại càng độc đáo hơn với thế giới phơng Tây
1.3 Haruki Murakami trên hành trình sáng tạo
1.3.1 Sự khởi đầu con đờng sáng tạo của H Murakami
Trang 39H Murakami sinh ngày 12 tháng 1 năm 1949 tại Kyoto nhng trải qua thời tuổi trẻ ở Kobe Cha của ông là con của một thầy tu Phật giáo, mẹ ông là con gái của một thơng gia ở Osaka Cả hai đều đi dạy môn Văn học Nhật Bản.
Từ nhỏ, Murakami đã chịu ảnh hởng lớn từ văn hóa phơng Tây, đặc biệt
là âm nhạc và văn học phơng Tây Ông lớn lên cùng với hàng loạt các tác phẩm của nhà văn Mỹ nh Kurt Vonnegut và Richard Brautigan, và sự ảnh hởng của phơng Tây chính là đặc điểm giúp mọi ngời phân biệt ông với những nhà văn Nhật khác Văn học thờng chú trọng đến vẻ đẹp của ngôn từ, do đó có thể khiến cho khả năng diễn đạt bị giới hạn và trở nên cứng nhắc, trong khi phong cách của Murakami tơng đối thoáng đạt và uyển chuyển
Murakami học về nghệ thuật sân khấu tại Đại học Waseda, Tokyo, ở đó
ông đã gặp đợc Yoko, ngời sau này là vợ ông Ban đầu ông làm việc trong một cửa hàng băng đĩa, nơi mà một trong những nhân vật chính của ông trong tác phẩm Rừng Na-uy, Watanabe Toru, đã làm việc Một thời gian ngắn trớc khi
hoàn thành việc học, Murakami mở một tiệm cà phê chơi nhạc Jazz có tên
"Peter Cat" tại Kokubunji, Tokyo, ông quản lý nó từ năm 1974 đến 1982 Nhiều tiểu thuyết của ông lấy bối cảnh âm nhạc và tựa đề cũng nói đến một bản nhạc nào đó, gồm có Dance, Dance, Dance (của ban nhạc The Steve Miller), Rừng Na-uy (theo bài hát của Beatles) và Phía Nam biên giới, phía Tây mặt trời (câu
đầu là tựa đề bài hát của Nat King Cole)
Murakami viết tác phẩm đầu tay của ông khi ông 29 tuổi Ông nói rằng
ông đột ngột nảy ra ý tởng viết bộ tiểu thuyết đầu tay của mình (Lắng nghe gió hát, 1979) khi đang xem một trận bóng chày Vào năm 1978, Murakami đang
ngồi xem trận đấu bóng chày giữa hai đội Yakult Swallows và Hiroshima Carp
ở sân vận động Jingu thì cầu thủ ngời Mỹ Dave Hilton lên đánh Theo những lời
đồn đoán thì khi Hilton đánh đợc trái thứ hai, Murakami bỗng nhận ra mình có khả năng sẽ viết đợc một câu chuyện Ông về nhà và bắt đầu viết truyện ngay tối hôm đó Murakami viết tác phẩm này trong khoảng vài tháng do ban ngày
ông phải làm việc tại quán bar (dẫn đến những câu văn rời rạc, thất thờng trong những chơng ngắn) Sau khi hoàn thành, ông gửi cuốn tiểu thuyết đến một cuộc
Trang 40thi văn học duy nhất chấp nhận tác phẩm ngắn cũn nh vậy, và dành đợc giải nhất Thậm chí trong tác phẩm đầu tay này rất nhiều yếu tố căn bản tạo nên những tác phẩm sau này của Murakami cũng đã thành hình: phong cách phơng Tây, kiểu hài hớc thâm thuý, và nỗi nhớ quê hơng sâu sắc.
Thành công ban đầu của cuốn Lắng nghe gió hát khuyến khích ông tiếp
tục theo đuổi sự nghiệp cầm bút Một năm sau đó ông xuất bản cuốn Pinball,
1973, phần tiếp theo của cuốn đầu Vào năm ông xuất bản Săn cừu hoang, một
thành công nữa về mặt phê bình, sử dụng lại những yếu tố không tởng và một cốt truyện mang tính kết thúc Lắng nghe gió hát, Pinball, 1973, và Săn cừu hoang tạo thành "Bộ ba chuột" (phần tiếp theo của bộ truyện, Dance, Dance,
Dance, sau đó cũng đợc viết nhng không đợc xem là một phần của loạt truyện này), trung tâm là ngời dẫn chuyện vô danh và bạn anh tên là "Chuột" Tuy nhiên, hai tiểu thuyết đầu không đợc xuất bản ra nớc ngoài bằng tiếng Anh, mà chỉ có bản tiếng Anh dành cho sinh viên tiếng Anh Theo Murakami, ông cho rằng hai tiểu thuyết đầu tay của ông là "yếu", và không định dịch sang tiếng Anh Săn cừu hoang là "cuốn đầu tiên tôi cảm nhận một sự xúc động, một niềm
vui khi kể câu chuyện Khi bạn đọc một câu chuyện hay, bạn cứ ngấu nghiến
đọc Khi tôi viết một câu chuyện hay, tôi ngấu nghiến viết"
Vào thập niên 1980, nền kinh tế Nhật Bản bùng nổ Trong con mắt thế giới lẫn trong hình dung của chính ngời Nhật, Nhật Bản dờng nh là một cỗ máy kinh tế không một sức mạnh nào ngăn nổi Đối với nhiều ngời, Nhật Bản là một mô hình thích hợp về sự phát triển kinh tế và xã hội: nền kinh tế tuyệt vời, trờng học tốt, bạo lực hầu nh không tồn tại Ngời ta nói về thành công của nớc Nhật bằng những ngôn từ hầu nh không tởng (mặc dù đôi khi ngời ta cũng nói về Nhật nh một mối đe doạ về kinh tế không thể xem thờng) Thậm chí, một số khía cạnh tiêu cực của xã hội Nhật đợc thêu dệt thành tích cực cả ở trong lẫn ngoài nớc Nhật Và tại Nhật, nhiều ngời ra vẻ tuyệt đối tự tin trớc viễn cảnh t-
ơng lai Tuy nhiên, dờng nh cái sự hiên ngang của họ che giấu một tâm trạng ỡng phân (nửa mừng nửa lo) trớc chiều hớng của xã hội