GIỚI THIỆU
SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đồng bằng sông Cửu Long là vùng nông nghiệp lớn nhất Việt Nam, đóng góp hơn một nửa giá trị nông sản xuất khẩu và đảm bảo nguồn cung lương thực trong nước Tỉnh Đồng Tháp, với chỉ số tăng trưởng GDP và cạnh tranh kinh tế đứng thứ hai khu vực, là vựa lúa lớn thứ ba cả nước Ngành chăn nuôi gia cầm tại đây chiếm tỷ lệ cao, đặc biệt là hình thức nuôi vịt đẻ chạy đồng, đóng góp lớn vào thu nhập của hộ gia đình Đối với những hộ không có đất đai hoặc tay nghề khác, chăn nuôi gia cầm có thể là nguồn thu nhập chính.
Sản phẩm gia cầm có thị trường tiêu thụ rộng lớn và mô hình chăn nuôi ngày càng được cải tiến để phát triển bền vững Tuy nhiên, việc áp dụng mô hình chăn nuôi mới gặp nhiều hạn chế do khó khăn trong tiếp cận thông tin, vốn đầu tư hạn chế, chi phí đầu vào không ổn định và dịch bệnh tái phát Hơn nữa, nhiều người chăn nuôi vẫn chưa nắm rõ cách tính toán chi phí và lợi nhuận Vì vậy, việc thực hiện đề tài “Phân tích hiệu quả chăn nuôi vịt đẻ ở tỉnh Đồng Tháp” là rất cần thiết.
Đề tài này hỗ trợ các hộ chăn nuôi lựa chọn mô hình chăn nuôi phù hợp với điều kiện gia đình, đồng thời hướng dẫn cách tính toán hiệu quả trong chăn nuôi và xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố liên quan đến lợi nhuận.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Phân tích hiệu quả tài chính trong chăn nuôi vịt đẻ tại tỉnh Đồng Tháp là cần thiết để đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chăn nuôi cho các hộ gia đình Việc này không chỉ giúp cải thiện thu nhập cho người chăn nuôi mà còn góp phần phát triển bền vững ngành chăn nuôi vịt đẻ trong khu vực.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Phân tích thực trạng của việc chăn nuôi vịt đẻ ở tỉnh Đồng Tháp.
Phân tích hiệu quả tài chính chăn nuôi vịt đẻ của hộ chăn nuôi.
Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả chăn nuôi vịt đẻ. Đềxuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chăn nuôi vịt đẻ.
CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Tình hình chăn nuôi vịt đẻ ở tỉnh Đồng Tháp hiện nay nhưthế nào?
Hiệu quả của việc chăn nuôi vịt đẻ của các hộ chăn nuôi?
Những yếu tố nào ảnh hưởng đến hiệu quả chăn nuôi vịt đẻ ở tỉnh Đồng Tháp trong năm 2008?
Có giải pháp nào nâng cao hiệu quả chăn nuôi vịt đẻ cho các hộ chăn nuôi trong thời gian tới?
PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Phạm vi không gian Đề tàiđược thực hiện tại tỉnh Đồng Tháp.
1.4.2 Phạm vi thời gian Đề tàiđược thực hiện dựa trên số liệu năm 2008.
1.4.3 Nội dung nghiên cứu Đề tài nghiên cứu về thực trạng chăn nuôi gia cầm, phân tích chi phí, lợi nhuận, hiệu quả chăn nuôi vịt đẻ, so sánh hiệu quả chăn nuôi của hai mô hình chăn nuôi vịt đẻ (chạy đồng và không chạy đồng), so sánh hiệu quả tài chính chăn nuôi theo quy mô đàn và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả chăn nuôi vịt đẻ.
1.4.4.Đối tượng nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu hiệu quả chăn nuôi vịt đẻ của nông hộ ở tỉnh Đồng Tháp.
1.4.5 Giới hạn vùng nghiên cứu Đề tàiđược thực hiện ở tỉnh Đồng Tháp cụ thể tại 2 huyện: Châu Thành vàLấp Vò.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Bảng 1: Số mẫu điều tra người nuôi vịt đẻ năm 2008 ở tỉnh Đồng Tháp
Nguồn: phỏng vấn trực tiếp hộ chăn nuôi vịt đẻ ở tỉnh Đồng Tháp năm 2009
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 3 CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu của Mai Văn Nam (2007) về hiệu quả chăn nuôi vịt đẻ chạy đồng tại Đồng Bằng Sông Cửu Long nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả chăn nuôi, xác định tác động ngoại ứng và các vấn đề kinh tế-xã hội, môi trường liên quan Phương pháp nghiên cứu bao gồm phân tích chi phí-lợi ích (CBA), mô hình hồi quy và phương pháp đo lường mức chấp nhận của đáp viên (CVM) Kết quả cho thấy lợi nhuận từ chăn nuôi vịt đẻ chạy đồng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như loại giống vịt, dịch bệnh, giá trứng, hao hụt, thời gian chạy đồng, chi phí lao động, năng suất đẻ trứng, khả năng tiếp cận vốn ngân hàng, trình độ học vấn của chủ hộ và quy mô đàn Nghiên cứu cũng đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chăn nuôi và giải quyết các vấn đề tồn tại về kinh tế-xã hội và môi trường.
Nguyễn Hữu Tâm (2007) đã thực hiện nghiên cứu về hiệu quả kinh tế của chăn nuôi vịt đẻ chạy đồng tại thành phố Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang Mục tiêu nghiên cứu bao gồm phân tích thực trạng chăn nuôi, đánh giá hiệu quả tài chính và kinh tế của hoạt động này, cũng như đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả chăn nuôi và giảm thiểu tác động của dịch cúm gia cầm đối với người chăn nuôi Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là thống kê mô tả, phân tích tần số, phân tích chi phí - lợi ích (CBA), và đo lường mức chấp nhận.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ đã áp dụng phương pháp Đánh giá Giá trị Tùy chọn (CVM) và phân tích chi phí-lợi ích (ECBA) để so sánh lợi nhuận từ chăn nuôi vịt và gửi vốn vào ngân hàng Nghiên cứu cho thấy, chăn nuôi vịt đẻ chạy đồng mang lại hiệu quả tài chính cao hơn, đồng thời tối ưu hóa việc sử dụng vốn cho nông hộ tại Thành phố Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
PHƯƠNG PHÁP LUẬN
Sản xuất là quá trình sử dụng kết hợp các nguồn lực (đầu vào) nhằm tạo ra các sản phẩm hoặc dịch vụ có giá trị.
Quá trình s ản xuất bao gồm các hoạt động sau:
Quá trình biến đổi hình thức vật chất từ nguyên liệu thô đến sản phẩm hoàn thiện diễn ra qua nhiều giai đoạn Chẳng hạn, phế phụ phẩm nông nghiệp có thể được sử dụng để sản xuất thức ăn cho cá, góp phần nâng cao giá trị sử dụng và giảm thiểu lãng phí.
Thay đổi trạng thái của sản phẩm Ví dụ nuôi cá trong các trang trại, chế biến các sản phẩm đông lạnh.
Thayđổi vị trí sản phẩm qua một giaiđoạn thời gian
Cung cấp các dịch vụ Ví dụ cung cấp cho người dân các khuyến cáo về khoa học kỹ thuật thông qua hệ thống khuyến ngư.
Các y ếu tố trong sản xuất:
Quá trình sản xuất bao gồm nhiều yếu tố quan trọng, được phân thành 4 loại chính: đất/nước, lao động, tài sản và quản lý Trong đó, đất/nước đại diện cho các tài nguyên thiên nhiên cần thiết cho sản xuất.
Ngoài các yếu tố thổ nhưỡng, đất còn bao gồm các loại cây, con, khoáng sản, nước, các dòng sông con suối, ao hồ.
Tài sản, hay còn gọi là vốn, bao gồm tất cả các sản phẩm do con người tạo ra Những sản phẩm nhân tạo như phân bón, thức ăn, ao hồ, nhà xưởng, tiền bạc và công nghệ đều được xem là tài sản.
Lao động là nguồn năng lượng và sức lực của con người trong quá trình sản xuất Có ba loại lao động chính: lao động vận hành, lao động gia đình và lao động thuê mướn.
Quản lý là nguồn năng lượng trí óc thiết yếu cho quá trình sản xuất, bao gồm việc đưa ra quyết định và kiểm soát rủi ro Nó cũng giúp tận dụng các cơ hội trong sản xuất, từ đó nâng cao hiệu quả và năng suất.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Nông hộ là các hộ nông dân hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp, thường sử dụng lao động và vốn từ gia đình để sản xuất và kinh doanh Được coi là một đơn vị chính quyền, nông hộ có những đặc trưng riêng và cơ chế vận hành đặc biệt, khác với các đơn vị kinh tế khác Trong nông hộ, có sự thống nhất chặt chẽ giữa việc sở hữu, quản lý và sử dụng các yếu tố sản xuất, cũng như giữa quá trình sản xuất, trao đổi, phân phối, sử dụng và tiêu dùng Điều này cho phép nông hộ thực hiện nhiều chức năng mà các đơn vị khác không thể.
2.1.3 Khái niệm kinh tế hộ
Hộ là đơn vị kinh tế cơ sở, nơi diễn ra các hoạt động phân công lao động, tổ chức sản xuất, tiêu thụ và quản lý chi phí Hộ cũng liên quan đến thu nhập, phân phối và tiêu dùng, và có thể được phân tích từ nhiều góc độ khác nhau.
- Chủ sở hữu và sử dụng các nguồn lực kinh tế như đất đai, nhân lực, vốn.
- Là đơn vị tham gia vào các hoạt động kinh tế, phân theo ngành nghề, vùng, lãnh thổ,
- Trìnhđộ phát triển của kinh tế hộ
- Hiệu quả hoạt động của kinh tế hộ.
- Ở vùng nông thôn tại Việt Nam thì hộ bao gồm hộ gia đình và hộ nông dân.
Hầu hết các hộ gia đình ở nông thôn thường là những người có mối quan hệ huyết thống chặt chẽ, trong đó chủ hộ thường là ông bà, cha mẹ, cùng với các thành viên là con cháu.
Hộ nông dân ở Việt Nam, bao gồm các hộ sản xuất nông - lâm - nghiệp, được định nghĩa là một gia đình có từ một đến nhiều người, trong đó có chủ hộ và những thành viên cùng sinh sống, được ghi trong bảng kê khai hộ khẩu riêng.
Hộ gia đình có mối quan hệ chặt chẽ về tài sản và trách nhiệm kinh tế, trong đó mỗi thành viên đều có nghĩa vụ đóng góp cho sự phát triển chung Sự hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau giữa các thành viên trong một căn hộ là yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu quả kinh tế của gia đình.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ đóng góp quan trọng vào quá trình phát triển của hộ gia đình, với trách nhiệm đối với kết quả sản xuất Khi sản xuất đạt hiệu quả cao, người chủ hộ sẽ phân phối sản phẩm để bù đắp chi phí, thực hiện nghĩa vụ với nhà nước, và đảm bảo cuộc sống thường nhật cho gia đình Ngược lại, nếu sản xuất không đạt kết quả khả quan, người chủ hộ và các thành viên trong gia đình sẽ cùng chịu trách nhiệm.
2.1.4 Khái niệm hiệu quả tài chính chăn nuôi vịt đẻ
Trong bài viết này, chúng tôi sẽ phân tích hiệu quả tài chính của chăn nuôi vịt đẻ Hiệu quả tài chính được đánh giá từ góc độ cá nhân, trong đó tất cả chi phí và lợi ích đều được tính theo giá thị trường.
Hiệu quả tài chính chăn nuôi vịt đẻ được xác định qua lợi nhuận từ doanh thu chăn nuôi (bao gồm doanh thu từ trứng và xác vịt) trừ tổng chi phí phát sinh Để đánh giá hiệu quả tài chính, chỉ tiêu lợi nhuận sẽ được sử dụng; lợi nhuận càng cao chứng tỏ việc chăn nuôi vịt đẻ càng hiệu quả.
Lợi nhuận được tính bằng công thức sau:
Lợi nhuận từ chăn nuôi vịt được xác định bằng cách trừ tổng chi phí chăn nuôi, bao gồm chi phí phát sinh và công lao động gia đình, khỏi doanh thu Nói cách khác, lợi nhuận là số tiền còn lại sau khi trừ đi các khoản chi phí này từ thu nhập.
Doanh thu là giá trị thành tiền của đơn vị kinh tế sau khi bán các sản phẩm hay dịch vụcủa đơn vị.
Trong kinh tế học, doanh thu thường được xác định bằng giá bán nhân với sản lượng Và doanh thu có công thức tính là:
Doanh thu = Số lượng * Đơn giáLợi nhuận = Doanh thu – Tổng chi
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Tổng chi phí sản xuất là tổng hợp mọi khoản đầu tư cần thiết để tạo ra sản phẩm, bao gồm chi phí lao động, chi phí vật liệu và các chi phí khác liên quan.
KHÁI QUÁT VỀ TỈNH ĐỒNG THÁP VÀ NGÀNH CHĂN NUÔI GIA CẦM CỦA TỈNH
KHÁI QUÁT VỀ TỈNH ĐỒNG THÁP
3.1.1.Điều kiện tự nhiên 3.1.1.1 Vị trí địa lý Đồng Tháplà một tỉnh nằm ở miền Tây Nam Bộ, có nền nông nghiệp phát triển, là vựa lúa lớn thứ ba của Việt Nam, là tỉnh có chỉ số tăng trưởng GDP và chỉ số về cạnh tranh kinh tế đứng thứ hai ở Đồng bằng sông Cửu Long, chỉ sau thành phố Cần Thơ, và thứ năm cả nuớc trong năm 2008.
Bản đồ 1: Bản đồ hành chính tỉnh Đồng Tháp
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Đồng Tháp nằm ở phía bắc giáp tỉnh Prây Veng (Campuchia) với chiều dài biên giới 47,8 km và 4 cửa khẩu: Thông Bình, Dinh Bà, Mỹ Cân và Thường Phước Phía nam giáp Vĩnh Long và thành phố Cần Thơ, phía tây giáp An Giang, và phía đông giáp Long An và Tiền Giang Từ Đồng Tháp đến thành phố Hồ Chí Minh là 162 km, và nơi đây có hai đô thị loại ba: thị xã Sa Đéc và thành phố Cao Lãnh.
3.1.1.2.Địa hình Địa hình Đồng Tháp tương đối bằng phẳng với độ cao phổ biến 1 - 2m so với mặt biển Dòng sông Tiền chảy qua 132 km chia Đồng Tháp thành hai vùng: Vùng Đồng Tháp Mười phía bắc sông Tiền, có diện tích tự nhiên 250.731 ha, thuộc khu vực Đồng Tháp Mười, địa hình tương đối bằng phẳng, hướng dốc Tây Bắc - Đông Nam, cao độ phổ biến từ 1,5 - 2m cao nhất là 5m (huyện Tân Hồng), thấp nhất là 0,8m Riêng địa bàn huyện Hồng Ngự - Tân Hồng cao độ phổ biến từ 2 - 3,5m.
Vùng phía nam Đồng Tháp, nằm giữa sông Tiền và sông Hậu, có diện tích 73.074 ha với địa hình dạng lòng máng, dốc từ hai bên bờ sông vào giữa Cao độ phổ biến của khu vực này từ 0,8 – 1,0m, với điểm cao nhất là 1,8m và thấp nhất là 0,5m Do địa hình thấp, mùa lũ vào tháng 9 và tháng 10 hàng năm thường gây ngập nước khoảng 1m Ngoài sông Tiền và sông Hậu, vùng này còn có các sông Sở Thượng và Sở Hạ từ Campuchia đổ vào sông Tiền ở phía bắc, cùng với các sông như Cái Tàu Thượng, Cái Tàu Hạ và Sa Đéc ở phía nam, tạo thành mạng lưới sông ngòi phong phú với 20 kênh rạch tự nhiên.
110 kênh đào cấp I, 2400 km kênh đào cấp II và III đã hình thành hệ thuỷ nông hoàn chỉnh phục vụ thoát lũ, tiêu úng vàđưa nước ngọt vàođồng.
3.1.1.3 Khí hậu Đồng Tháp nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, đồng nhất trên địa giới toàn tỉnh, có 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình năm là 82,5%, số giờ nắng trung bình 6,8 giờ/ngày Lượng mưa trung bình từ 1.170 - 1.520 mm, tập trung vào mùa mưa,chiếm 90 - 95% lượng mưa cả năm Đặc điểm khí hậu này tương đối thuận lợi cho phát triển nông nghiệp toàn diện.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
- Khí tượng: tỉnh Đồng Tháp nằm ở ĐBSCL, chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đớigió mùa gần xích đạo, thuận lợi cho cây trồng vật nuôi phát triển.
Chế độ thủy văn của tỉnh bị ảnh hưởng bởi ba yếu tố chính: lũ, mưa nội đồng và thủy triều từ biển Đông Mỗi năm, tỉnh trải qua hai mùa rõ rệt: mùa lũ trùng với mùa mưa và mùa kiệt tương ứng với mùa khô.
+ Mùa kiệt: thường từ tháng 12 đến tháng 6 năm sau, mực nước sông, kênh, rạch chịu tác động của thủy triều với biến độ rất lớn.
+ Mùa lũ: thường từ tháng 7 - 11, đỉnh lũ cao nhất thường vào tháng 9 -
10 hàng năm, độ ngập sâu trung bình trên 1 m đối với khu vực phía Bắc sông Tiền và dưới 1 m khu vực phía Nam.
Đồng Tháp có 4 nhóm đất chính: đất phù sa chiếm 59,06% diện tích tự nhiên với 191.769 ha, phân bố khắp 10 huyện (trừ Tân Hồng); đất phèn chiếm 25,99% với 84.382 ha, cũng phân bố ở 10 huyện (trừ Cao Lãnh); đất xám chiếm 8,67% với 28.150 ha, chủ yếu ở huyện Tân Hồng và Hồng Ngự; và đất cát chiếm 0,04% với 120 ha, tập trung ở Động Cát và Gò Tháp, huyện Tháp Mười Mặc dù đất đai Đồng Tháp có kết cấu mặt bằng kém bền vững và tương đối thấp, điều này làm tăng chi phí xây dựng, nhưng lại rất thích hợp cho sản xuất lương thực.
Theo thống kê năm 2007, tổng diện tích đất là 337.407 ha, trong đó có 33.465 ha chưa được sử dụng Diện tích đất được sử dụng là 303.942 ha, bao gồm 249.131 ha đất nông nghiệp (chiếm 81,97%), 5.002 ha đất nuôi trồng thủy sản (1,65%), 10.579 ha đất lâm nghiệp (3,48%), 24.335 ha đất chuyên dùng (8,01%) và 14.895 ha đất thổ cư (4,90%).
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trước đây, các khu vực ẩm ướt và lầy thấp ở Đồng Tháp Mười chủ yếu được bao phủ bởi rừng rậm, trong đó cây tràm là đặc trưng nổi bật Tuy nhiên, việc khai thác không hợp lý đã dẫn đến sự suy giảm nghiêm trọng của hệ sinh thái, gây ra mất cân bằng sinh thái đáng lo ngại.
Tính đến đầu năm 2008, tỉnh Đồng Tháp có tổng diện tích đất lâm nghiệp là 15.996,53 ha, trong đó bao gồm 10.579,39 ha đất có rừng, với 10.519,39 ha rừng tràm và 60 ha rừng bạch đàn Diện tích rừng được phân loại thành 3.088,61 ha rừng đặc dụng, 1.179,84 ha rừng phòng hộ và 6.310,93 ha rừng sản xuất.
Năm 2008, tỉnh đã trồng 376 ha rừng tập trung và hơn 5 triệu cây phân tán từ chương trình 661, góp phần bảo vệ sản xuất Tuy nhiên, do giá tràm thấp hơn lúa và khó tiêu thụ, nhiều chủ rừng đã chuyển sang trồng lúa, dẫn đến việc khai thác khoảng 2.000 ha rừng tràm, trong đó 400 ha khai thác đúng độ tuổi Mặc dù đã áp dụng nhiều biện pháp phòng cháy chữa cháy, tình trạng xâm nhập trái phép vào rừng để đánh bắt và tranh chấp đất đai vẫn diễn ra, cùng với thời tiết phức tạp đã gây ra 20 vụ cháy rừng, thiệt hại tổng diện tích 393,436 ha, chủ yếu tại Vườn Quốc Gia Tràm Chim.
So với năm 2007 số vụ cháy có giảm 1 vụ nhưng diện tích cháy tăng 358 ha, trongđó cháy rừng tăng 177 ha
Tỉnh Đồng Tháp có tài nguyên khoáng sản khá hạn chế, chủ yếu bao gồm cát xây dựng, phân bố ven sông, cồn và các cù lao, là mặt hàng chiến lược cho ngành xây dựng Sét gạch ngói, với trữ lượng lớn, được tìm thấy trong phù sa cổ và các trầm tích khác, phân bố rộng rãi trên toàn tỉnh Sét cao lanh, có nguồn gốc từ trầm tích sông, tập trung ở các huyện phía bắc Ngoài ra, than bùn, có nguồn gốc từ trầm tích từ thế kỷ IV, được phát hiện tại huyện Tam Nông và Tháp Mười, với trữ lượng khoảng 2 triệu m³.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Đồng Tháp Mười, nằm ở đầu nguồn sông Cửu Long, sở hữu nguồn nước mặt phong phú và nước ngọt quanh năm không bị nhiễm mặn Khu vực này còn có hai nhánh sông Sở Hạ và Sở Thượng từ Campuchia đổ ra sông Tiền tại Hồng Ngự Ngoài ra, phía Nam còn có các sông Cái Tàu Hạ, Cái Tàu Thượng và sông Sa Đéc, tạo thành một hệ thống kênh rạch chằng chịt.
Đồng Tháp sở hữu nhiều vỉa nước ngầm phong phú ở các độ sâu khác nhau, cung cấp nguồn nước dồi dào cho sinh hoạt đô thị và nông thôn Tuy nhiên, nguồn nước này vẫn chưa được khai thác để phục vụ cho ngành công nghiệp.
3.1.1.6 Sinh thái Đồng Tháp có 2/3 diện tích tự nhiên thuộc vùng trũng Đồng Tháp Mười nên cảnh quan và sinh thái có nhiều nét đặc sắc Đồng Tháp có Vườn quốc gia Tràm Chim thuộc hệ sinh thái Đồng Tháp Mười, đang được nhiều tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế quan tâm Tràm chim có nghĩa là rừng tràm có chim Khu bảo tồn thiên nhiên này rộng 7.500 ha Ngoài 140 loài cây dược liệu, 40 loài cá, hàng chục loài trăn, rắn, rùa và nhiều loại động thực vật khác, Tràm Chim còn có
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CHĂN NUÔI VỊT ĐẺ Ở HUYỆN LẤP VÒ VÀ HUYỆN CHÂU THÀNH
VÒ VÀ HUYỆN CHÂU THÀNH
4.1.1.Đặc điểm của hộ chăn nuôi
Theo điều tra từ các mẫu phỏng vấn tại huyện Châu Thành và huyện Lấp Vò, nghề nuôi vịt là nguồn thu nhập chính cho những hộ không có đất nông nghiệp hoặc không có tay nghề khác Nhiều hộ chọn nuôi vịt để tận dụng thức ăn thừa sau thu hoạch, trong khi một số khác theo nghề này do truyền thống gia đình hoặc ảnh hưởng từ hàng xóm Việc nuôi vịt đẻ mang lại thu nhập định kỳ khoảng 3-5 ngày một lần từ việc bán trứng, giúp đáp ứng nhu cầu chi tiêu hàng ngày.
Bảng 2: Thông tin của hộ chăn nuôi
Số năm chăn nuôi Năm 11,78 16,70 14,42
Số nhân khẩu trong gia đình Người 4,44 4,59 4,52
Số lao động trong gia đình Người 3,38 3,35 3,36
Trìnhđộ học vấn của chủ hộ Năm 3,63 4,92 4,32
Nguồn: số liệu điều tra ở tỉnh Đồng Tháp năm 2009
So sánh thông tin phỏng vấn từ các hộ chăn nuôi ở huyện Lấp Vò và huyện Châu Thành cho thấy, chủ hộ chăn nuôi ở Lấp Vò có kinh nghiệm trung bình là 11,78 năm, trong khi ở Châu Thành là 16,7 năm Sự chênh lệch 4,92 năm về kinh nghiệm giữa hai huyện có thể một phần do độ tuổi của các chủ hộ chăn nuôi khác nhau.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu huyện gần 2 năm trong đó độ tuổi trung bình của chủ hộ ở Châu Thành khoảng
47 tuổi vàở Lấp Vò khoảng 45 tuổi
Số nhân khẩu trung bình trong gia đình ở Lấp Vò là khoảng 5 người, trong đó có khoảng 4 người trong độ tuổi lao động, và trình độ học vấn trung bình của chủ hộ chăn nuôi là lớp 4/12 Trong khi đó, tại Châu Thành, hộ chăn nuôi có số nhân khẩu trung bình cao hơn khoảng 1 người, nhưng số lao động trong gia đình lại ít hơn khoảng 1 người Trình độ học vấn trung bình của chủ hộ chăn nuôi ở Châu Thành là khoảng lớp 5/12, chênh lệch so với Lấp Vò khoảng một đến hai lớp.
Các hộ chăn nuôi có kinh nghiệm từ 1 đến 39 năm, với trung bình khoảng 14,42 năm Độ tuổi trung bình của chủ hộ là 46 tuổi, số nhân khẩu trung bình trong gia đình khoảng 5 người, trong đó có khoảng 3 người trong độ tuổi lao động Trình độ học vấn của chủ hộ chăn nuôi vịt đẻ chủ yếu ở bậc tiểu học.
Bảng 3: Thông tin về diện tích đất sản xuất của hộ chăn nuôi
Lấp Vò Châu Thành Tổng Cộng
Diện tích Số quan sát
Từ 1 ha đến dưới 2 ha 2 6,25 8 21,62 10 14,49
Từ 2 ha đến dưới 3 ha 0 0,00 3 8,11 3 4,35
Nguồn: Xử lý Số liệu điều tra năm 2009 trên phần mềm SPSS
Tại huyện Lấp Vò, 90,63% hộ chăn nuôi có diện tích đất sản xuất dưới 10 công, trong khi 6,25% hộ có diện tích từ 10 đến dưới 20 công, và chỉ 3,12% hộ sở hữu diện tích trên 30 công Điều này cho thấy diện tích đất sản xuất của các hộ chăn nuôi tương đối hạn chế, với bình quân khoảng 1,231 công/người và 1,485 công trên mỗi lao động.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ cung cấp tài liệu học tập và nghiên cứu cho cộng đồng Nghề nuôi vịt đẻ có thể trở thành nguồn thu nhập chính cho các hộ chăn nuôi, góp phần nâng cao đời sống kinh tế của gia đình.
Tại huyện Châu Thành, 70,27% hộ chăn nuôi vịt đẻ có diện tích đất dưới 10 công, trong khi 21,62% có diện tích từ 10 đến dưới 20 công và 8,11% từ 20 đến dưới 30 công Diện tích đất sản xuất ở Châu Thành cao hơn so với huyện Lấp Vò, với bình quân khoảng 2,5 công/người theo số nhân khẩu và gần 1,8 công/người theo số lao động trong gia đình Nhiều hộ chăn nuôi ở Châu Thành có thể nuôi vịt đẻ nhằm tăng thu nhập và tận dụng nguồn thức ăn từ hoạt động trồng lúa.
Bảng 4: Diện tích bình quân theo số nhân khẩu và số lao động
Khoản mục Lấp Vò Châu Thành Tổng Cộng
Diện tích bình quân trên số nhân khẩu 1,231 1,794 1,533 Diện tích bình quân trên số lao động 1,485 2,503 2,031
Nguồn: xử lý số liệu điều tra năm 2009
Các hộ chăn nuôi vịt đẻ ở huyện Châu Thành và huyện Lấp Vò có diện tích đất sản xuất trung bình khoảng 1,5 công/người về số nhân khẩu và 2 công/người về số lao động trong hộ Điều này cho thấy diện tích đất sản xuất của các hộ chăn nuôi không lớn, vì vậy nghề chăn nuôi vịt đẻ đóng vai trò quan trọng trong việc gia tăng thu nhập cho các hộ này.
4.1.2 Hình thức chăn nuôi vịt đẻ
Trong 32 hộ chăn nuôi vịt đẻ ở huyện Lấp Vò có 13 hộ chỉ chăn nuôi gần nhà chiếm 40,62%, do các hộ chăn nuôi không có nhiều lao động trong chăn nuôi hay không có đồng cho vịt, còn lại 19 hộ vận chuyển đàn sang địa phương khác để chạy đồng nhằm tiết kiệm chi phí thức ăn chiếm 59,38%. Ở huyện Châu Thành 37 mẫu phỏng có 12 mẫu cho biết là chủ hộ chăn nuôi với hình thức chăn nuôi gần nhà chiếm 32,43% do có đồng nhà tiết kiệm chi phí chạy đồng và chi phí thuê đồng, và có 25 mẫu cho biết nuôi vịt bằng cách chạy
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ cho thấy rằng nhiều hộ nuôi vịt đẻ đã phải di chuyển đến địa phương khác để tìm kiếm nguồn thức ăn cho vịt do thiếu hụt tài chính tại nơi cư trú Theo thống kê, tỷ lệ hộ nuôi vịt đẻ bằng hình thức chạy đồng chiếm tới 67,57%.
Bảng 5: Hình thức chăn nuôi vịt đẻ
Hình thức chăn nuôi Số quan sát
Nguồn: xử lý số liệu điều tra năm 2009 trên phần mềm SPSS
Các hộ chăn nuôi thường áp dụng phương pháp "lấy công làm lời" bằng cách chăn nuôi chạy đồng để tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên, trong khi những hộ gần nhà tận dụng thời gian rảnh để phát triển chăn nuôi Cách làm này giúp giảm thiểu chi phí đầu vào và nâng cao hiệu quả chăn nuôi cho các hộ gia đình.
4.1.3 Về quy mô chăn nuôi vịt của hộ
Bảng 6: Phân loại quy mô đàn của hộ chăn nuôi
Lấp Vò Châu Thành Tổng Cộng
Quy mô đàn Số quan sát
Nguồn: Số liệu phỏng vấn năm 2009
Theo bảng thống kê, tại huyện Lấp Vò, 68,75% số hộ chăn nuôi có quy mô đàn dưới 613 con, trong khi huyện Châu Thành ghi nhận tỷ lệ này là 70,27% Bên cạnh đó, số lượng đàn trên 613 con cũng chiếm tỷ lệ tương đối cao, với 31,25% trong tổng số đàn ở huyện.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Huyện Lấp Vò và huyện Châu Thành có tỷ lệ chăn nuôi gia súc lần lượt là 30,43% Việc tận dụng thức ăn từ đồng ruộng sau thu hoạch lúa giúp các hộ gia đình nuôi số lượng gia súc lớn Tại huyện Lấp Vò, mỗi hộ chăn nuôi có ít nhất 250 con và nhiều nhất là 1500 con.
Trong chăn nuôi vịt đẻ, số lượng tối thiểu trong một đàn thường là 140 con, và có thể lên đến 1600 con Các hộ chăn nuôi thường duy trì đàn lớn để tối ưu hóa thu nhập từ trứng, với mục tiêu bán số lượng lớn cho lò ấp hoặc thương lái Để đạt được hiệu quả cao hơn, người chăn nuôi cần đầu tư vào kỹ thuật nuôi, bao gồm cải thiện chuồng trại và trang bị công cụ cần thiết.
Bảng 7: Quy mô đàn ĐVT: Con
Châu Thành TĐ % Tổng Cộng
Nguồn: Số liệu phỏng vấn năm 2009
Kết quả phỏng vấn các hộ chăn nuôi cho thấy, hộ nuôi vịt đẻ ở huyện Lấp Vò trung bình có khoảng 655 con, trong khi ở huyện Châu Thành chỉ có khoảng 576 con, chênh lệch 79 con (12,06%) Sự khác biệt này có thể do diện tích đất sản xuất trung bình của mỗi hộ ở Châu Thành là 7,6 công, nhiều hơn so với 5,3 công ở Lấp Vò Những hộ có nhiều đất thường phân chia thời gian và nguồn vốn cho cả chăn nuôi và trồng trọt, dẫn đến số lượng vịt nuôi ít hơn Ngược lại, những hộ có ít đất coi chăn nuôi vịt đẻ là nghề chính, đầu tư nhiều hơn cho đàn vịt Ngoài ra, kinh nghiệm nuôi và điều kiện chăn nuôi cũng có thể ảnh hưởng đến số lượng vịt nuôi.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
4.1.4 Loại con vịt đẻ chọn nuôi
Bảng 8:Loại con vịt đẻ chọn nuôi
Loại con vịt giống Số quan sát
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CHĂN NUÔI VỊT ĐẺ CỦA CÁC HỘ PHỎNG VẤN
4.2.1 Phân tích chi phí chăn nuôi 4.2.1.1 Phân tích chi phí chăn nuôi của các hộ phỏng vấn
Chi phí chăn nuôi vịt đẻ bao gồm nhiều khoản như chi phí con giống, thức ăn, chuồng trại, dụng cụ, điện, nước, thú y, chạy đồng, lãi vay, thuê lao động, lao động nhà và các chi phí khác Kết quả phỏng vấn các hộ nuôi vịt đẻ tại hai huyện Lấp Vò và Châu Thành cho thấy các khoảng chi phí trung bình được thống kê rõ ràng trong bảng dưới đây.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Bảng 9: Chi phí chăn nuôi vịt đẻ Đvt:Đồng/trứng
Khoản mục Trung bình Tỷ trọng
Chi phí laođộng gia đình 138,43 11,10
Nguồn: tổng hợp từ số liệu điều tra năm 2009
Trong chi phí nuôi vịt đẻ, chi phí thức ăn chiếm tỷ trọng lớn nhất với 72,36%, trong khi chi phí lao động cũng đáng kể, khoảng 13,88%, bao gồm 11,10% từ lao động gia đình và 2,78% từ lao động thuê Điều này cho thấy chi phí thức ăn và lao động có ảnh hưởng lớn đến tổng chi phí chăn nuôi, vì việc nuôi vịt đẻ yêu cầu cung cấp đủ thức ăn để đảm bảo sức khỏe cho đàn vịt trong suốt thời gian sinh sản Mặc dù chi phí lao động chiếm tỷ trọng cao, nhưng nhiều hộ chăn nuôi thường không tính toán kỹ lưỡng chi phí này khi phân tích lợi nhuận, do họ có xu hướng “lấy công làm lời”.
Chi phí thức ăn và lao động là hai yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí chăn nuôi, trong khi các chi phí khác cũng ảnh hưởng đáng kể Cụ thể, chi phí chạy đồng chiếm 4,04% tổng chi phí, với 46,38% hộ chăn nuôi vịt đẻ chọn hình thức này Bên cạnh đó, chi phí con giống cũng chiếm 5,33% tổng chi phí.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ cho biết, chi phí cố định trong nuôi vịt phụ thuộc vào giống vịt và quy mô đàn mà hộ chọn nuôi Các khoản chi phí như chuồng trại, dụng cụ, thuốc thú y và lãi vay chiếm từ 0,19% đến 1,85% Đối với nuôi vịt đẻ, số lượng con giống lớn (trên 100 con) yêu cầu người chăn nuôi sử dụng lưới và vật liệu xây dựng chuồng trại Để tiết kiệm thức ăn và đảm bảo vệ sinh, người chăn nuôi cần sử dụng công cụ cho ăn và uống nước Thuốc thú y thường được sử dụng để bồi dưỡng đàn vịt đẻ trong thời gian dài Một số hộ chăn nuôi phải vay vốn để mua thức ăn và con giống với số lượng lớn.
4.2.1.2 So sánh chi phí chăn nuôi của huyện Lấp Vò và Châu Thành
Bảng 10: Chi phí chăn nuôi vịt đẻ ở Lấp Vò và Châu Thành Đvt:Đồng/trứng
Lấp Vò Châu Thành Chênh
Chi phí laođộng thuê 44,24 3,85 26,39 1,98 -17,85 Chi phí laođộng gia đình 103,83 9,03 168,34 12,65 64,51
Nguồn: tổng hợp từ số liệu điều tra năm 2009
Chi phí con giống trung bình của các hộ ở Châu Thành khoảng 69,80 đồng/trứng chiếm 5,25% tổng chi phí chăn nuôi thấp hơn chi phí con giống trung
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ cho biết, tại Lấp Vò, các hộ chăn nuôi chủ yếu chọn giống vịt đẻ Siêu Trứng với giá khoảng 45.000-60.000 đồng/con, chiếm 5,43% tổng số Trong khi đó, ở Châu Thành, giống vịt Cổ Cò được ưa chuộng hơn với giá con giống dao động từ 27.000-40.000 đồng/con.
Chi phí thức ăn chăn nuôi của các hộ ở huyện Châu Thành cao hơn huyện Lấp Vò với mức chênh lệch 246,18 đồng/trứng Cụ thể, chi phí trung bình cho mỗi trứng ở Châu Thành là 1.016,33 đồng, trong khi ở Lấp Vò chỉ là 770,15 đồng Nguyên nhân có thể do chi phí chạy đồng ở Lấp Vò cao hơn 89,81 đồng/trứng (chiếm 7,81%), so với 16,13 đồng/trứng (chiếm 1,2%) ở Châu Thành Tổng chi phí chạy đồng và thức ăn ở Châu Thành thấp hơn Lấp Vò 66,35 đồng/trứng Sự chênh lệch này xuất phát từ việc 32,43% hộ chăn nuôi ở Châu Thành áp dụng hình thức chạy đồng, trong khi con số này ở Lấp Vò lên tới 62,50% Thêm vào đó, diện tích đất lớn hơn ở Châu Thành giúp các hộ tận dụng thức ăn thừa, giảm chi phí chạy đồng so với Lấp Vò.
Chi phí thuốc thú y trung bình ở Lấp Vò là 23,67 đồng/trứng, chiếm 2,06%, trong khi ở Châu Thành chỉ là 13,28 đồng/trứng với tỷ trọng 1,00% Sự chênh lệch này cho thấy chi phí thuốc thú y ở Lấp Vò cao hơn, có thể do người chăn nuôi ở Châu Thành có nhiều năm kinh nghiệm hơn, dẫn đến việc họ sử dụng thuốc thú y hiệu quả và tiết kiệm hơn so với người chăn nuôi ở Lấp Vò.
Tổng chi phí lao động cho chăn nuôi vịt đẻ ở huyện Châu Thành là 194,73 đồng/trứng, trong đó chi phí lao động gia đình chiếm 168,34 đồng/con/tháng và chi phí lao động thuê là 26,39 đồng/trứng Ngược lại, tổng chi phí lao động cho chăn nuôi vịt đẻ tại huyện Lấp Vò thấp hơn 46,66 đồng/trứng so với Châu Thành, với chi phí lao động thuê là 44,24 đồng/trứng và chi phí lao động gia đình là 103,83 đồng/trứng Theo bảng 8, quy mô đàn của các hộ chăn nuôi vịt đẻ ở huyện Lấp Vò lớn hơn 79 con so với huyện Châu Thành.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ cho biết rằng, mức chi phí lao động thuê cho hộ chăn nuôi ở huyện Lấp Vò cao hơn 17,85 đồng/trứng so với huyện Châu Thành Ngược lại, chi phí lao động gia đình của hộ chăn nuôi ở Châu Thành lại cao hơn 64,51 đồng/trứng so với Lấp Vò Điều này cho thấy sự khác biệt trong chi phí giữa hai huyện, mặc dù mức độ gia đình trung bình của các hộ chăn nuôi không có sự chênh lệch nhiều.
Chi phí lãi vay trung bình của các hộ chăn nuôi ở huyện Châu Thành thấp hơn so với Lấp Vò, với mức 7,98 đồng/trứng (chiếm 0,6% tổng chi phí) so với 40,44 đồng/trứng (chiếm 3,52%) Nguyên nhân có thể do các hộ ở Châu Thành có nguồn vốn dồi dào hơn, tiết kiệm chi phí hoạt động và có kinh nghiệm nuôi vịt lâu năm, từ đó họ ít phải vay vốn hơn.
Chuồng trại và công cụ chăn nuôi đóng vai trò quan trọng trong việc nuôi vịt đẻ, thường được xây dựng bằng vật liệu sẵn có và lưới rào Tại Lấp Vò, chi phí chuồng trại khoảng 7,65 đồng/trứng (0,66%) và chi phí dụng cụ là 2,21 đồng/trứng (0,19%) Ở huyện Châu Thành, chi phí chuồng trại là 7,78 đồng/trứng (0,58%) và chi phí dụng cụ khoảng 2,56 đồng/trứng (0,19%) Hơn nữa, chi phí điện cho chăn nuôi ở Châu Thành cao hơn 0,1 đồng/trứng so với Lấp Vò, do nhiều hộ phải sử dụng chung một đồng hồ điện Các hộ ở Lấp Vò không tốn chi phí nước nhờ vào nguồn nước sông, trong khi ở Châu Thành, một số hộ phải chi thêm 0,24 đồng/trứng để sử dụng nước sạch pha với thuốc thú y.
Ngoài các chi phí chính, người chăn nuôi cần tính thêm các khoản chi phí khác như hao hụt trứng vịt, xác vịt đẻ và chi phí để cập nhật thông tin chăn nuôi, bao gồm giá thị trường, loại thuốc mới và các phương pháp nuôi dưỡng hiệu quả.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ cung cấp tài liệu học tập và nghiên cứu về thức ăn mới, đồng thời tổ chức các hội thảo liên quan đến chăn nuôi Chi phí này làm tăng tổng chi phí nuôi trung bình thêm 5,20 đồng/trứng, chiếm 0,45% tại Lấp.
Tại Châu Thành, chi phí trung bình cho mỗi quả trứng mà các hộ chăn nuôi phải chi là 1.149,78 đồng, thấp hơn 180,71 đồng so với tổng chi phí trung bình 1.330,49 đồng/trứng Trong đó, chi phí vò tăng thêm 1,48 đồng/trứng, chiếm tỷ trọng 0,11% trong tổng chi phí chăn nuôi.
4.2.2 Phân tích hiệu quả tài chính chăn nuôi
Bảng 11: Các tỷ số tài chính thể hiện hiệu quả tài chính chăn nuôi vịt đẻ ở huyện Châu Thành và huyện Lấp Vò
Tỷ số tài chính ĐVT Lấp Vò Châu Thành Tổng thể
Giá bán/chi phí lần 1,20 1,09 1,13
Lợi nhuận/giá bán lần 0,16 0,08 0,12
Nguồn: Tính toán từ số liệu phỏng vấn hộ chăn nuôi năm 2009
Qua bảng thống kê từ số liệu phỏng vấn năm 2009 tại huyện Lấp Vò và huyện Châu Thành cho thấy hiệu quả tài chính chăn nuôi vịt đẻ nhưsau:
Lợi nhuận tài chính từ mỗi trứng vịt ở Lấp Vò đạt khoảng 227,17 đồng, với giá bán trung bình là 1.376,95 đồng/trứng và chi phí sản xuất khoảng 1.149,78 đồng/trứng Trong khi đó, các hộ chăn nuôi ở huyện Châu Thành có lợi nhuận trung bình chỉ 116,40 đồng/trứng, với giá bán trung bình là 1.446,89 đồng/trứng và chi phí sản xuất lên tới 1.330,49 đồng/trứng.
SO SÁNH HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA HAI MÔ HÌNH CHĂN NUÔI VỊT ĐẺ CHẠY ĐỒNG VÀ KHÔNG CHẠY ĐỒNG
VỊT ĐẺ CHẠY ĐỒNG VÀ KHÔNG CHẠYĐỒNG
4.3.1 Phân tích chi phí chăn nuôi vịt đẻ giữa hai mô hình
Bảng 12: Chi phí chăn nuôi theo hình thức chạy đồng và không chạy đồng Đvt:Đồng/trứng
Không chạy đồng Có chạy đồng
Chi phí con giống 63,72 4,60 69,51 6,40 -0,96 ns Chi phí thức ăn 1.106,96 79,87 665,37 61,29 -3,41 *** Chi phí chuồng trại 8,75 0,63 6,52 0,60 -1,76 *
Chi phí laođộng thuê 17,67 1,27 54,33 5,00 -3,22 *** Chi phí laođộng gia đình 158,47 11,43 115,24 10,61 -1,73 *
Nguồn: tổng hợp từ số liệu phỏng vấn năm 2009
(***): có ý nghĩa ở mức1%, (**): có ý nghĩa ở mức 5%, (*): có ý nghĩa ở mức 10%, (ns): không có ý nghĩa
Hộ chăn nuôi vịt đẻ theo hình thức chăn thả gần nhà phải chịu chi phí thức ăn cao hơn so với những hộ nuôi theo hình thức chạy đồng Cụ thể, chi phí trung bình cho mỗi quả trứng ở hình thức chạy đồng là 665,37 đồng, chiếm 61,29% tổng chi phí, trong khi đó, chi phí cho mỗi quả trứng ở hình thức chăn thả gần nhà lên đến 1.106,96 đồng, chiếm 79,87%.
Chăn nuôi vịt đẻ theo hình thức chạy đồng tại ĐH Cần Thơ giúp tận dụng thức ăn tự nhiên, giảm chi phí so với chăn nuôi gần nhà Cụ thể, chi phí thức ăn cho hình thức chạy đồng thấp hơn nhiều vì các hộ nuôi vịt có thể sử dụng thức ăn từ đồng ruộng sau vụ lúa Tuy nhiên, nuôi vịt theo hình thức này cũng cần thêm chi phí khoảng 108,46 đồng/trứng cho việc thuê đồng và vận chuyển, chiếm 9,99% tổng chi phí.
Chi phí lao động trong chăn nuôi vịt chạy đồng cao hơn do cần vận chuyển đàn vịt và dành nhiều thời gian chăm sóc, quan sát Đối với hộ chăn nuôi vịt đẻ theo hình thức này, chi phí lao động khoảng 169,57 đồng/trứng, chiếm 15,61% tổng chi phí, trong đó lao động gia đình là 10,61% và lao động thuê là 5,00% Trong khi đó, các hộ chăn nuôi theo hình thức thả gần nhà có chi phí lao động khoảng 176,14 đồng/trứng, chiếm 12,70% tổng chi phí, với lao động thuê chiếm 11,43% và lao động gia đình chỉ 1,27%.
Chi phí chuồng trại, dụng cụ và điện ở các hộ chăn nuôi theo hình thức chạy đồng thấp hơn so với các hộ nuôi gần nhà Cụ thể, chi phí chuồng trại là 6,52 đồng/trứng (0,60%), dụng cụ 1,86 đồng/trứng (0,17%) và điện 0,03 đồng/trứng (0,01%) cho hình thức chạy đồng Trong khi đó, chi phí chuồng trại của các hộ nuôi gần nhà là 8,75 đồng/trứng (0,63%), dụng cụ 2,86 đồng/trứng (0,21%) và điện 0,24 đồng/trứng (0,02%) Sự chênh lệch này có thể do người chăn nuôi không xây chuồng cố định khi chạy đồng, ít sử dụng công cụ để cho vịt ăn trực tiếp trên đồng, và gặp khó khăn trong việc sử dụng điện khi di chuyển đến địa phương khác.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Ngoài các khoản chi phí chính, chăn nuôi vịt đẻ chạy đồng còn phát sinh nhiều khoản chi phí khác và chi phí lãi vay Để thực hiện mô hình này, người chăn nuôi cần có nguồn vốn lớn để chi trả cho việc thuê đồng và vận chuyển Bên cạnh đó, còn phải tính đến các chi phí bổ sung như hao hụt xác vịt và trứng vịt, chi phí liên hệ mua đồng, cũng như chi phí xin phép vận chuyển đàn vịt.
4.3.2 Phân tích hiệu quả chăn nuôi giữa hai mô hình
Bảng 13: Các tỷ số tài chính thể hiện hiệu quả tài chính chăn nuôi vịt đẻtheo hai hình thức chăn nuôi
Tỷ số tài chính ĐVT Không chạy đồng Chạy đồng
Giá bán/chi phí lần 1,06 1,25
Lợi nhuận/giá bán lần 0,05 0,20
Nguồn: Tính toán từ số liệu phỏng vấn hộ chăn nuôi năm 2009
Theo số liệu thống kê, lợi nhuận từ chăn nuôi vịt đẻ theo mô hình chạy đồng đạt khoảng 269,76 đồng/trứng, cao gấp 2,4 lần so với mô hình chăn thả gần nhà chỉ khoảng 79,56 đồng/trứng Sự khác biệt này chủ yếu do các hộ chăn nuôi chạy đồng tiết kiệm được khoảng 300,23 đồng chi phí trên mỗi trứng so với các hộ chăn nuôi gần nhà Mặc dù giá bán trứng của các hộ chăn thả gần nhà cao hơn khoảng 110,03 đồng/trứng, nhưng chi phí chăn nuôi lại cao hơn, dẫn đến hiệu quả tài chính của mô hình chạy đồng cao hơn rõ rệt.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ cung cấp tài liệu học tập và nghiên cứu liên quan đến chăn nuôi vịt Để hiểu rõ hơn về sự chênh lệch tổng lợi nhuận, cần phân tích các tỷ số tài chính trong lĩnh vực này.
Tỷ số giá bán/chi phí của hộ chăn nuôi vịt đẻ theo hình thức chăn thả gần nhà là 1,06, cho thấy 1 đồng chi phí đầu vào thu về 1,06 đồng/trứng Trong khi đó, hộ chăn nuôi vịt đẻ chạy đồng có tỷ số này là 1,25, tức là 1 đồng chi phí đầu tư mang lại 1,25 đồng/trứng Điều này cho thấy giá bán trứng của hộ chăn nuôi chạy đồng cao hơn 0,19 đồng/trứng so với hộ chăn nuôi gần nhà Tuy nhiên, giá bán trứng của hình thức nuôi chạy đồng thường thấp hơn do phải bán cho thương lái địa phương, dẫn đến việc bị ép giá Mặc dù vậy, chi phí của hộ chăn nuôi chạy đồng lại thấp hơn nhiều so với hộ chăn thả gần nhà, khiến cho hiệu quả chăn nuôi của họ cao hơn với tỷ suất lợi nhuận đạt 24,85%, so với 5,74% của hộ chăn nuôi gần nhà.
Bài viết so sánh tỷ suất lợi nhuận giữa hai hình thức chăn nuôi vịt đẻ: chăn nuôi chạy đồng và không chạy đồng, với lợi nhuận từ việc gửi vốn vào ngân hàng Thời gian nuôi vịt được ước tính tương đương với thời gian gửi tiền tại ngân hàng, trong bối cảnh lãi suất trung bình là 1,06% vào tháng 5 năm 2008.
Tỷ suất lợi nhuận của hộ chăn nuôi vịt đẻ theo hình thức chăn thả gần nhà chỉ đạt 5,74% với thời gian nuôi trung bình 7,26 tháng, trong khi nếu gửi vốn vào ngân hàng, tỷ suất lợi nhuận chỉ là 7,70% Ngược lại, hộ chăn nuôi vịt đẻ theo hình thức chạy đồng có tỷ suất lợi nhuận cao hơn đáng kể, đạt 24,85% với thời gian nuôi trung bình 9,35 tháng, và tỷ suất lợi nhuận khi gửi vốn vào ngân hàng là 9,91% Điều này cho thấy rằng hình thức chăn nuôi vịt đẻ chạy đồng mang lại hiệu quả cao gấp 2,51 lần so với việc gửi vốn vào ngân hàng, trong khi hình thức chăn thả gần nhà chưa đạt hiệu quả tối ưu với tỷ suất lợi nhuận thấp hơn.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
1,34 lần so với tỷ suất của ngân hàng khiđem vốn chăn nuôi này gửi vào ngân hàng trong khoảng thời gian gửi tươngứng với thời gian nuôi vịt đẻ.
Hộ chăn nuôi vịt đẻ theo hình thức chạy đồng mang lại lợi nhuận cao hơn so với nuôi chăn thả gần nhà Bên cạnh đó, việc chăn nuôi vịt chạy đồng giúp người chăn nuôi đạt hiệu quả tài chính tốt hơn so với việc gửi tiền vào ngân hàng.
SO SÁNH HIỆU QUẢ CHĂN NUÔI VỊT ĐẺ THEO QUY MÔ
4.4.1 Phân tích chi phí chăn nuôi vịt đẻ theo quy mô
Bảng 14: Chi phí chăn nuôi theo quy mô Đvt:Đồng/trứng
Quy mô I Quy mô II
Chi phí thức ăn 931,16 73,63 835,87 69,33 -0,29 ns Chi phí chuồng trại 7,93 0,63 7,22 0,60 -1,17 ns
Chi phí lãi vay 25,14 1,99 18,22 1,51 -1,28 ns
Chi phí laođộng thuê 32,11 2,54 40,52 3,36 -1,43 ns Chi phí laođộng gia đình 147,29 11,65 118,17 9,80 -1,70 *
Nguồn: tổng hợp từ số liệu phỏng vấn năm 2009
(***): có ý nghĩa ở mức1%, (**): có ý nghĩa ở mức 5%, (*): có ý nghĩa ở mức 10%, (ns): không có ý nghĩa
Quy mô I:đàn vịt đẻ có số lượng dưới 613 con.
Quy mô II:đàn vịt đẻ có số lượng từ 613 con trở lên.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Hộ chăn nuôi vịt đẻ quy mô lớn thường áp dụng hình thức chạy đồng, chiếm 81,00%, và bắt đầu nuôi từ vịt tơ, chiếm 47,60% Chi phí con giống của những hộ này chiếm 7,50% tổng chi phí, cao hơn so với 4,42% của các hộ chăn nuôi quy mô dưới 613 con Sự chênh lệch này có thể giải thích bởi tỷ lệ đẻ trứng trung bình của vịt ở Châu Thành là 16 trứng/tháng, trong khi ở Lấp Vò là 18 trứng, dẫn đến chi phí con giống trung bình cho mỗi trứng thấp hơn ở quy mô nhỏ.
Chi phí công cụ dụng cụ trong chăn nuôi gia cầm có sự khác biệt rõ rệt giữa các hộ nuôi quy mô lớn và nhỏ Cụ thể, các hộ nuôi quy mô lớn thường có chi phí trung bình cho mỗi quả trứng thấp hơn, chỉ khoảng 1,83 đồng/trứng, chiếm 0,15% tổng chi phí chăn nuôi Ngược lại, hộ nuôi quy mô nhỏ phải chi khoảng 2,65 đồng/trứng, tương đương 0,21% tổng chi phí dụng cụ Điều này cho thấy rằng chi phí cố định được phân bổ hiệu quả hơn ở quy mô lớn, giúp tiết kiệm chi phí cho người nuôi.
Chi phí lao động và các khoản chi phí khác trong chăn nuôi vịt đẻ có sự chênh lệch rõ rệt Cụ thể, đối với những hộ chăn nuôi quy mô nhỏ dưới 613 con, chi phí lao động chiếm tỷ trọng 14,19% trong tổng chi phí, cao hơn so với các hộ chăn nuôi quy mô lớn.
Chi phí khác của hộ chăn nuôi quy mô II cao hơn 0,27% so với hộ chăn nuôi quy mô I, với tỷ lệ lần lượt là 13,16% và 0,25% Nguyên nhân có thể là do quy mô nuôi lớn hơn, dẫn đến việc phải liên hệ mua đồng nhiều hơn và gặp phải hao hụt trong quá trình chăn nuôi, cũng như tình trạng lạc đàn khi chạy đồng.
Các hộ chăn nuôi quy mô lớn chủ yếu áp dụng hình thức chạy đồng, trong khi đó, 81% hộ chăn nuôi quy mô II sử dụng phương pháp này, so với chỉ 31,3% ở quy mô I Sự khác biệt này dẫn đến chênh lệch chi phí chạy đồng giữa các quy mô, với chi phí của hộ nuôi quy mô I chiếm khoảng 3,14% tổng chi phí, trong khi con số này ở hộ nuôi quy mô II là 6,19%.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Tổng chi phí trung bình cho hoạt động chăn nuôi vịt đẻ của các hộ nuôi quy mô I là khoảng 1.264,61 đồng/trứng, cao hơn so với quy mô II với khoảng 1.205,69 đồng/trứng Sự khác biệt này chủ yếu xuất phát từ số lượng vịt trong đàn nhiều hơn và phương thức chăn nuôi của các hộ quy mô I, dẫn đến chi phí trung bình cho mỗi trứng của hộ chăn nuôi quy mô II thấp hơn.
4.4.2 Phân tích hiệu quả chăn nuôi theo quy mô
Bảng 15: Các tỷ số tài chính thểhiện hiệu quả chăn nuôi vịt đẻtheo quy mô
Tỷ số tài chính ĐVT Quy mô I Quy mô II
Giá bán/chi phí lần 1,15 1,11
Lợi nhuận/giá bán lần 0,13 0,10
Nguồn: Thống kê từ Số liệu phỏng vấn năm 2009
Lợi nhuận từ chăn nuôi vịt đẻ quy mô lớn chỉ đạt khoảng 129,16 đồng/trứng, thấp hơn 55,5 đồng/trứng so với quy mô nhỏ Phần lớn các hộ chăn nuôi quy mô lớn áp dụng hình thức chạy đồng, dẫn đến chi phí cố định như chuồng trại và dụng cụ ít biến động, làm giảm tổng chi phí chăn nuôi Tuy nhiên, khi nuôi số lượng lớn, việc thay lông cho đàn trong khoảng 30 đến 40 ngày khiến số lượng trứng trung bình của các hộ lớn thấp hơn so với hộ nhỏ Hơn nữa, việc chăn nuôi quy mô lớn và chạy đồng cũng khiến người chăn nuôi bị ép giá bán trứng, dẫn đến lợi nhuận bị giảm đáng kể.
Tỷ số giá bán so với chi phí trong chăn nuôi cho thấy, nhóm hộ chăn nuôi quy mô lớn có tỷ lệ 1,11, trong khi nhóm hộ quy mô nhỏ là 1,15 Điều này cho thấy rằng mỗi đồng chi phí đầu tư vào chăn nuôi vịt đẻ mang lại hiệu quả khác nhau giữa hai nhóm hộ.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ cho biết, trong chăn nuôi với quy mô lớn, người chăn nuôi thu được 1,11 đồng/trứng, trong khi với quy mô nhỏ, lợi nhuận cao hơn 0,04 đồng/trứng, đạt 1,15 đồng/trứng Tỷ số lợi nhuận/giá bán của nhóm hộ chăn nuôi quy mô II là 0,1, tức là mỗi đồng thu từ một trứng vịt mang lại 0,1 đồng lợi nhuận, trong khi ở quy mô I con số này là 0,13 Giá bán trứng của nhóm hộ quy mô I cao hơn quy mô II khoảng 114,41 đồng/trứng, trong khi chi phí của quy mô II thấp hơn khoảng 58,92 đồng/trứng so với quy mô I.
Tỷ suất lợi nhuận của hộ chăn nuôi vịt đẻ quy mô nhỏ đạt 14,60%, tương ứng với 0,1460 đồng lợi nhuận trên mỗi đồng đầu tư, trong khi tỷ suất lợi nhuận của hộ chăn nuôi quy mô lớn chỉ khoảng 10,71%, tức là 0,1071 đồng lợi nhuận cho mỗi đồng chi phí Điều này cho thấy rằng hộ chăn nuôi quy mô nhỏ mang lại lợi nhuận cao hơn khoảng 0,0389 đồng/trứng so với hộ chăn nuôi quy mô lớn.
So sánh tỷ suất lợi nhuận giữa nhóm hộ chăn nuôi quy mô I và quy mô II với lợi nhuận từ việc gửi vốn chăn nuôi vào Ngân Hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, trong đó thời gian gửi vốn tương ứng với thời gian nuôi vịt đẻ trong một vụ.
Tỷ suất lợi nhuận của nhóm hộ chăn nuôi vịt đẻ quy mô I đạt 14,60% sau 7,73 tháng nuôi, trong khi gửi vốn vào ngân hàng trong cùng thời gian chỉ mang lại tỷ suất lợi nhuận 8,19% Đối với nhóm hộ quy mô II, tỷ suất lợi nhuận là 10,71% với thời gian nuôi trung bình 9,29 tháng, và nếu gửi vốn vào ngân hàng trong thời gian này, tỷ suất lợi nhuận sẽ là 9,85%.
Hộ chăn nuôi vịt đẻ quy mô I cho thấy hiệu quả cao hơn so với quy mô II, với tỷ suất lợi nhuận gấp 1,89 lần so với việc gửi tiền vào ngân hàng để nhận lãi hàng tháng Trong khi đó, tỷ suất lợi nhuận của hộ nuôi quy mô II chỉ gấp 1,09 lần so với lợi nhuận từ việc gửi vốn đầu tư vào ngân hàng Cụ thể, mỗi 1.000 đồng đầu tư vào chăn nuôi vịt đẻ quy mô I mang lại 18,89 đồng lợi nhuận, trong khi quy mô II chỉ đạt 10,6 đồng.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ cung cấp tài liệu học tập và nghiên cứu về hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi vịt đẻ Theo nghiên cứu, hộ chăn nuôi quy mô II với một nghìn đồng đầu tư chỉ thu lại 11,53 đồng lợi nhuận, cho thấy lợi nhuận từ hoạt động này là khá thấp.