Về lí luận, nó giúp chúng ta thấy đợc những nhân tố cơ bản chi phối quá trình hoạch định chiến lợc của hai cờng quốc lớn là Mĩ và Trung Quốc trongviệc giải quyết một vấn đề cơ bản của qu
Trang 1Bộ Giáo dục và đào tạo
Trờng đại học vinh
đến sự ổn định và thống nhất của Trung Quốc Sau khi kháng chiến chốngNhật thành công, Đảng Cộng sản Trung Quốc ngày càng lớn mạnh và pháthuy đợc uy tín, ảnh hởng của mình, còn chính quyền Tởng Giới Thạch bị suyyếu và ngày càng phải lệ thuộc vào viện trợ của Mĩ Năm 1947, cuộc nội chiếnbùng nổ, đến năm 1949 thì kết thúc với thắng lợi thuộc về những ngời cộngsản, Quốc Dân Đảng tháo chạy ra Đài Loan Ngày 01 – 10 - 1949 Đảng
Trang 2Cộng sản Trung Quốc tuyên bố thành lập nớc CHND Trung Hoa, sau đó ngày
10 – 10 - 1949 ở Đài Loan Tởng Giới Thạch tuyên bố thành lập nớc TrungHoa Dân quốc Kể từ đó Đại Lục và Đài Loan song song cùng tồn tại và pháttriển theo hai chiều hớng khác nhau, theo hai con đờng đối lập nhau
Chiến tranh Triều Tiên là xung đột quân sự đầu tiên của Mĩ - Trung, kể
từ sau khi Trung Quốc độc lập Lợi dụng sự chống đối của Tởng đối với chínhquyền Trung Hoa lục địa, Mĩ đã tìm cách giúp đỡ Tởng về nhiều mặt nhằmxây dựng Đài Loan trở thành một căn cứ chống lại Trung Quốc Đài Loan, dới
sự bảo trợ của Mĩ, ngày càng lớn mạnh về mọi mặt, đặc biệt là lĩnh vực kinh
tế, nhanh chóng vơn lên và đợc mệnh danh là một trong những con rồng củachâu á Việc tồn tại một Đài Loan bên cạnh Trung Quốc Đại lục một cách lâudài, không thể không có sự chi phối nhất định từ phía Mĩ Về phía TrungQuốc, sau khi giải quyết xong vấn đề Hongkong – Macao một cách êm đẹptheo mô hình “Một quốc gia hai chế độ”, càng nêu cao quyết tâm đa Đài Loantrở về với Trung Quốc Đại lục
Sau khi CNXH ở Liên Xô sụp đổ và chiến tranh lạnh chấm dứt, trật tựthế giới mới đang dần hình thành với sự hiện diện của các nớc lớn, các trungtâm quyền lực mới, với hệ thống các quan hệ song phơng và đa phơng tác động
và chi phối nhiều mặt đối với thế giới đơng đại
Trong các chủ thể quan hệ quốc tế hàng đầu, Mĩ là siêu cờng thế giới vềchính trị, quân sự, kinh tế Trung Quốc là cờng quốc đang trỗi dậy lớn nhất vàtrong tơng lai sẽ là đối thủ cạnh tranh quyết liệt nhất với Mĩ Bởi vậy, để giảiquyết thỏa đáng vấn đề Đài Loan trong quan hệ giữa Mĩ và Trung Quốc là
điều vô cùng khó khăn, do những liên quan to lớn về lợi ích khác nhau của cảhai bên Có thể nói: Quan hệ Mĩ - Trung có phát triển ổn định hay không làphụ thuộc vào việc giải quyết vấn đề Đài Loan Từ khi xuất hiện vấn đề ĐàiLoan trong quan hệ Mĩ - Trung đến ngày nay vẫn cha có những biện phápthực sự khả thi để giải quyết vấn đề triệt để từ hai phía Việc nghiên cứu vấn
đề Đài Loan trong quan hệ Mĩ – Trung đã và đang đợc đặt ra thu hút sự quantâm của rất nhiều nhà nghiên cứu
Việc nghiên cứu vấn đề Đài Loan trong quan hệ Mĩ - Trung có một ýnghĩa hết sức quan trọng
Về lí luận, nó giúp chúng ta thấy đợc những nhân tố cơ bản chi phối quá
trình hoạch định chiến lợc của hai cờng quốc lớn là Mĩ và Trung Quốc trongviệc giải quyết một vấn đề cơ bản của quan hệ quốc tế, cũng nh mối liên hệhữu cơ giữa vấn đề này với chính sách đối nội và đối ngọai
Về mặt thực tiễn, việc nghiên cứu vấn đề Đài Loan trong quan quan hệ
Mĩ - Trung giúp chúng ta dự báo chiều hớng phát triển của vấn đề Đài Loantrong thời gian tới, nhận thức đợc chính xác hơn vai trò, các lợi ích, ý đồ chiếnlợc của Mĩ và Trung Quốc, góp phần vào việc xây dựng các đối sách hữu hiệutrong xử lí quan hệ với Mĩ - Trung Quốc
Trang 3Trong bối cảnh toàn cầu hóa diễn ra hết sức mạnh mẽ, sự tùy thuộc lẫnnhau giữa các quốc gia trong quan hệ quốc tế ngày càng trở nên sâu sắc Việcgiải quyết vấn đề Đài Loan trong quan hệ Mĩ - Trung có một ý nghĩa đặc biệtquan trọng đối với an ninh, hoà bình, ổn định ở khu vực châu á - Thái Bình D-
ơng Việt Nam là một quốc gia Đông nam á nằm trong khu vực châu á - TháiBình Dơng và đều có quan hệ ngoại giao với Mĩ, Trung Quốc Đây là nhữngquốc gia có mối quan hệ quan trọng với Việt Nam trên mọi lĩnh vực, đặc biệtvới quá trình cải cách kinh tế của đất nớc Bên cạnh đó, Việt Nam đã từng làtiêu điểm tranh giành ảnh hởng của Mĩ và Trung Quốc, một phần lịch sử cáchmạng dân tộc gắn với sự thay đổi tính chất mối quan hệ giữa hai cờng quốcnày Ngày nay Việt Nam có một vị trí ngày càng quan trọng trong chính sáchcủa Mĩ đối với Đông nam á trong việc ngăn chặn ảnh hởng của Trung Quốc
đối với khu vực này Vì vậy, việc nghiên cứu vấn đề Đài Loan trong quan hệ
Mĩ - Trung có ý nghĩa thiết thực cả về mặt khoa học lẫn thực tiễn
Xuất phát từ những ý nghĩa quan trọng nêu trên, chúng tôi mạnh dạn
chọn vấn đề tài Vấn đề Đài Loan trong quan hệ Mĩ “ – Trung” làm đề tài luậnvăn tốt nghiệp cao học, ngành Lịch sử thế giới
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Kết cục của cuộc nội chiến Quốc – Cộng lần thứ ba (1946 – 1949) đãdẫn tới việc thành lập Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ở Đại Lục (01 – 10 –1949) và Trung Hoa Dân Quốc ở đảo Đài Loan Kể từ đó, Trung Quốc Đại lục
và Đài Loan phát triển theo hai con đờng đối lập nhau Dựa và sự che chở vàgiúp đỡ của Mĩ, Đài Loan luôn tồn tại vững vàng trớc sức ép của Trung Quốc
và lớn mạnh dần lên Do đó vấn đề Đài Loan trở thành vấn đề vô cùng nhạycảm và quan trọng trong quan hệ giữa Mĩ và Trung Quốc
Trong khi đó vị thế của Trung Quốc ngày càng đợc tăng cờng trên trờngquốc tế, vấn đề Đài Loan trong quan hệ Mĩ – Trung đợc các nhà lãnh đạo Mĩcũng nh các học giả phơng Tây đăc biệt quan tâm nghiên cứu Đối với các nhàlãnh đạo Mĩ, trên cơ sở phân tích tình hình quốc tế và trong nớc để nêu lên sựcần thiết phải điều chỉnh chính sách về vấn đề Đài Loan trong mối quan hệ vớiTrung Quốc Vì thế, các nhà lãnh đạo Mĩ luôn có những chính sách, nhữngquan điểm khác nhau đối với vấn đề Đài Loan ở từng giai đoạn cụ thể, phùhợp với lợi ích quốc gia Mĩ
Về phía Trung Quốc, mặc dù vấn đề Đài Loan cha đợc giải quyết, nhng
do tình thế trong nớc và quốc tế có nhiều thay đổi, Trung Quốc chủ trơng duytrì và tăng cờng quan hệ với Mĩ vì những lợi ích kinh tế – thơng mại, an ninh– quốc phòng Đối với vấn đề Đài Loan, Trung Quốc kiên quyết giữ vữngphơng châm “hòa bình thống nhất, một nớc hai chế độ”, sẽ sử dụng vũ lực với
Đài Loan nếu nh có sự can thiệp của nớc ngoài Điều này đợc thể hiện trongVăn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XVI Đảng Cộng sản Trung Quốc[61; 19], chúng ta có thể hiểu đó nh một “thông điệp” của Trung Quốc đối vớiMĩ
Trang 4Từ khi xuất hiện vấn đề Đài Loan trong quan hệ Mĩ - Trung thì việcnghiên cứu vấn đề này đã thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu ở ViệtNam cũng nh trên thế giới Trải qua hơn 50 năm, đây không còn là vấn đề mới
mẻ Tuy nhiên, đến bây giờ nó vẫn luôn là vấn đề thời sự nóng hổi bởi tầmquan trọng lớn lao của nó trong quan hệ quốc tế
Đề cập đến vấn đề này hiện nay có khá nhiều tài liệu cũng nh đã có một
số công trình với nhiều cách tiếp cận khác nhau, quan điểm khác nhau nh:
Cuốn Trung Quốc không thể trở thành một Mister No“ ” của Thẩm Kí
Nh, một tác giả Trung Quốc, gồm 4 phần, do Thông tấn xã Việt Namxuất bản
Cuốn Quan hệ Trung- Mĩ có gì mới“ ”, do Nguyễn Quang Lập biênsoạn, Thông tấn xã Việt Nam xuất bản
Luận văn Thạc sĩ Quan hệ quốc tế của Vũ Đức Dũng (Học viện Quan
hệ quốc tế, Hà Nội - 2004), Đài Loan với vấn đề thống nhất hai bờ sau
chiến tranh lạnh.
Luận văn Thạc sĩ Quan hệ quốc tế của Thái Xuân Dũng (Học viện Quan
hệ quốc tế, Hà nội - 2005), Tam giác quan hệ Mĩ - Đài Loan - Trung
Quốc từ sau chiến tranh lạnh đến nay.
Luận án Tiến sĩ sử học của Nguyễn Thị Canh (Trờng Đại học s phạm
Hà nội - 2004), Quan hệ Mĩ - Trung Quốc sau chiến tranh lạnh v.v
toàn diện hay trở lại chiến tranh lạnh” của TS David Shambaugh
“Nghiên cứu các vấn đề quốc tế”, số 7 và 8/2000)
Trang 5Qua các công trình nghiên cứu, các bài viết của các tác giả trong vàngoài nớc có liên quan đến đề tài luận văn mà chúng tôi đã tập hợp và hệthống đợc, có thể rút ra nhận xét sau:
Thứ nhất: Các công trình nêu trên đợc trình bày theo nhiều góc độ khác
nhau, song chủ yếu đi sâu phân tích mối quan hệ giữa hai bờ eo biển Đài Loantrong khung cảnh những năm đầu sau chiến tranh lạnh hoặc vấn đề Đài Loantrong quan hệ Mĩ - Trung sau sự kiện 11 – 9 – 2001, hoặc những diễn biếncủa tam giác quan hệ Mĩ - Đài Loan - Trung Quốc từ sau chiến tranh lạnh.Qua đó cho thấy, phần lớn các công trình nghiên cứu về vấn đề Đài Loan vẫntập trung vào giai đoạn sau chiến tranh lạnh mà cha có công trình nào thực sựnghiên cứu về vấn đề Đài Loan trong quan hệ Mĩ - Trung từ khi nảy sinh cho
đến ngày nay
Thứ hai: Các tác giả đều nhấn mạnh, với vị trí chiến lợc hết sức quan
trọng của Đài Loan, Mĩ sẽ không từ bỏ ý đồ kìm chế Trung Quốc, các đồngminh của Mĩ cũng ngày càng tăng cờng ủng hộ Mĩ trong việc “giữ” Đài Loan
Thứ ba: Một số bài viết riêng về quan hệ từng mặt trong vấn đề Đài
Loan qua đó đánh giá về sự thăng trầm trong quan hệ Mĩ - Trung
Thứ t: Các công tình nghiên cứu gần đây nhất phần lớn lại tập trung vào
những diễn biến quan hệ Mĩ - Đài Loan – Trung Quốc trong những năm gần
đây, nhất là sau sự kiện 11 – 9 – 2001 và đợc đề cập một cách đại cơng
Nh vậy, việc nghiên cứu vấn đề Đài Loan trong quan hệ Mĩ - Trung mộtcách toàn diện, chuyên sâu, từ khi vấn đề Đài Loan nảy sinh cho đến nay chathực sự đáp ứng đợc yêu cầu của vấn đề Cho nên đứng ở góc độ lịch sử đểnhìn nhận thì vấn đề Đài Loan trong quan hệ Mĩ - Trung cần phải tiếp tụcnghiên cứu, bổ sung ở tất cả các khía cạnh: Bối cảnh lịch sử, nội dung, tínhchất, các tranh chấp nảy sinh trong quá trình giải quyết vấn đề và xu hớngphát triển trong tơng lai của vấn đề, cũng nh tác động của nó đối với thế giới
3 Đối tợng, phạm vi nghiên cứu của đề tài.
3.1 Đối tợng nghiên cứu của Luận văn là vấn đề Đài Loan, do đó Luậnvăn không tập trung nghiên cứu quan hệ Mĩ – Trung Quốc mà chỉ xem đó lànhân tố cơ bản chi phối vấn đề này
3.2 Tìm hiểu vấn đề Đài Loan trong quan hệ Mĩ - Trung từ năm 1949
đến năm 2005 là một vấn đề khó khăn trong điều kiện và khả năng nghiên cứucủa chúng tôi Căn cứ vào nguồn t liệu đã thu thập đợc và yêu cầu của mộtluận văn tốt nghiệp cao học, chúng tôi xin đợc giới hạn phạm vi nghiên cứucủa đề tài trên các phơng diện sau:
3.2.1 Về nội dung: Luận văn tập trung tìm hiểu sự ra đời và quá trìnhvận động của vấn đề Đài Loan trong quan hệ giữa Mĩ – Trung Quốc Thôngqua đó, Luận văn nêu lên nội dung, tính chất của vấn đề này
Trang 63.2.2 Về thời gian: Luận văn trình bày nội dung trong khoảng thời gian
từ 1949, khi nớc Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và Trung Hoa Dân quốc ra
đời (10 – 1949) đến 2005
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu.
4.1 Tìm hiểu vấn đề Đài Loan trong quan hệ Mĩ - Trung Quốc nhằmlàm sáng tỏ một vấn đề khá cơ bản của quan hệ quốc tế thời hiện đại, đồngthời giúp chúng ta hiểu rõ hơn mối quan hệ Mĩ – Trung, một trong nhữngmối quan hệ quan trọng nhất đang chi phối cục diện chiến lợc trong quá trìnhhình thành trật tự thế giới ngày nay
4.2 Để giải quyết nhiệm vụ của đề tài, Luận văn tập trung tìm hiểu sự
ra đời và quá trình vận động của vấn đề Đài Loan cũng nh tác động của nótrong quan hệ giữa Mĩ với Trung Quốc Nhiệm vụ cụ thể là:
- Quan hệ giữa Mĩ và Trung Quốc về vấn đề Đài Loan
- Dựng lại lịch sử vấn đề Đài Loan trong quan hệ Mĩ - Trung qua cácgiai đoạn Phân tích, lí giải sự biến đổi của vấn đề Đài Loan trong quan hệ Mĩ
- Trung qua từng giai đoạn
- Xem xét tác động và chiều hớng phát triển của vấn đề Đài Loan trongquan hệ Mĩ - Trung
5 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu.
5.1 Trong quá trình thực hiện Luận văn, chúng tôi dựa vào những tàiliệu gốc, bao gồm:
- Các tài liệu văn kiện chính thức của chính quyền Mĩ và Trung Quốc
về vấn đề ngoại giao, trong đó có đề cập đến vấn đề Đài Loan nh: ba bảnthông cáo chung Mĩ - Trung (1972, 1978, 1982); Các diễn văn, thông điệpngoại giao của hai nớc; các bài phát biểu về an ninh quốc gia, tuyên bố củacác tổng thống Mĩ về vấn đề Đài Loan; các văn kiện của Đảng Cộng sảnTrung Quốc về đờng lối đối ngoại và đối nội, các bài phát biểu của lãnh đạoTrung Quốc có liên quan tới vấn đề Đài Loan
- Ngoài ra, chúng tôi còn khai thác và sử dụng các tài liệu gốc đợc công
bố trong các sách, tạp chí, các báo cáo khoa học (trong đó có cả những bàiviết của các tác giả nớc ngoài) có đề cập tới vấn đề Đài Loan trong quan hệ
Mĩ - Trung
- Tạp chí Trung Quốc, Tài liệu tham khảo đặc biệt số ra hàng ngày; Cácvấn đề quốc tế và Tài liệu tham khảo số ra hàng ngày của Thông tấn xã ViệtNam
- Các văn kiện, các quan điểm, và cách nhìn nhận đánh giá của Đảng ta
về các vấn đề quốc tế nói chung và vấn đề Đài Loan trong quan hệ Mĩ - Trungnói riêng v.v
5.2 Vấn đề Đài Loan trong quan hệ Mĩ – Trung (1949 - 2005) là mộtvấn đề lịch sử, nó có tính liên tục và có tính giai đoạn Để thực hiện đề tài này,
Trang 7chúng tôi đã vận dụng phơng pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sửcủa chủ nghĩa Mác - Lênin để làm cơ sở cho việc tiếp cận, phân tích, đánh giá
và kết luận vấn đề
Phơng pháp lịch sử, phơng pháp lôgíc, là những phơng pháp cơ bản đợcvận dụng để trình bày và lí giải những sự kiện, hiện tợng của vấn đề trongLuận văn Sự trình bày nội dung của Luận văn đợc tuân thủ theo phơng pháp
bộ môn - phơng pháp lịch sử
Ngoài ra trong luận văn tôi còn sử dụng một số phơng pháp nghiên cứu
cụ thể nh phơng pháp thống kê, so sánh, phân tích để làm rõ nội dung của đềtài
Đây là một vấn đề quan trọng và khá nhạy cảm trong quan hệ quốc tế,
do vậy chúng tôi luôn dựa trên quan điểm, đờng lối đối ngoại của Đảng vàNhà nớc ta trong quá trình thực hiện đề tài
6 Đóng góp của Luận văn.
- Đây là công trình nghiên cứu có tính chất hệ thống về vấn đề ĐàiLoan trong quan hệ Mĩ – Trung từ năm 1949 đến năm 2005 Tìm hiểu sự ra
đời và vận động của vấn đề Đài Loan cũng nh tác động của nó trong quan hệ
Mĩ – Trung Quốc Trên cơ sở đó tìm hiểu quan hệ giữa Mĩ và Trung Quốc vềvấn đề Đài Loan
- Dựng lại vấn đề Đài Loan trong quan hệ Mĩ – Trung qua các giai
đoạn Phân tích, lí giải sự biến đổi của vấn đề Đài Loan trong quan hệ Mĩ –Trung qua từng giai đoạn
- Xem xét tác động và chiều hớng phát triển của vấn đề đài Loan trongquan hệ Mĩ – Trung Quốc
7 Bố cục của luận văn.
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dungchính của Luận văn gồm có 3 chơng, cụ thể nh sau:
Chơng 1: Sự xuất hiện vấn đề Đài Loan trong quan hệ Mĩ – Cộng hòaNhân dân Trung Hoa (trang 9 đến 29)
Chơng 2: Vấn đề Đài Loan trong quan hệ Mĩ – Cộng hòa Nhân dânTrung Hoa từ năm 1949 đến năm 1972 (trang 31 đến 62)
Chơng 3: Vấn đề Đài Loan trong quan hệ Mĩ – Cộng hòa Nhân dânTrung Hoa từ năm 1973 đến 2005 (trang 64 đến 104)
Trang 8Chơng 1
Sự xuất hiện của vấn đề Đài loan Trong quan hệ
Mĩ – Cộng hòa nhân dân trung hoa
1.1 Vài nét về Đài Loan.
1.1.1 Vị trí địa lí, tài nguyên, dân c.
Đài Loan ở phía Đông Nam Trung Quốc, là hòn đảo lớn nhất trong sốhơn 5000 đảo lớn nhỏ ở ven biển phía Đông Trung Quốc, với diện tích là3,578 vạn km2, dài 250 dặm, ở điểm rộng nhất là 80 dặm Nếu xét về diệntích, Đài Loan xếp vào hàng thứ 28 của các hòn đảo lớn trên thế giới và là mộttrong những hòn đảo lớn nhất của Trung Quốc
Đài Loan còn có những tên gọi khác nh: “Đảo Mĩ Lệ”, “Đảo ngọt
ph-ơng Đông” Đảo Đài Loan có hình dáng nh chiếc lá cây thuốc lá nằm ở giữa
21045'25'' và 25056'21'' độ vĩ Bắc, kéo dài từ 110903' đến 124034'09'' độ kinh
Đông ở giữa có đờng hạ chí tuyến chạy qua [37;7] Do nằm ngoài dải bờ biểnphía Đông châu á, lại có đờng hạ chí tuyến đi qua, đợc bao bọc bởi các dòngbiển nóng nên Đài Loan chịu ảnh hởng của khí hậu cận nhiệt đới, cộng với đất
đai màu mỡ, thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp với 4 tiểu ngành: Trồngtrọt, chăn nuôi, nghề cá và nghề rừng Vì thế Đài Loan có phơng châm dùngnông nghiệp để nuôi công nghiệp
Phía Tây Đài Loan nhìn vào Đại Lục qua eo biển Đài Loan, phía Đôngnhìn ra biển Thái Bình Dơng Ngoài đảo Đài Loan là đảo chính, còn có 84 đảokhác dới quyền kiểm soát của chính quyền Đài Loan, trong đó có Bành Hồ,Kim Môn, Mã Tổ Nơi xa nhất của Đài Loan nằm cách bờ biển đối diện của
Đại Lục khoảng 360km, nơi gần nhất khoảng 150km Đài Loan nằm cáchmỏm phía Bắc của quần đảo Philippin 200 dặm về phía Nam, cách đảoRyukyu của Nhật Bản khoảng 70 dặm về phía Tây Bắc, phía Đông đối diệnvới Thái Bình Dơng rộng lớn, chỉ duy nhất có đảo Hawoai nằm chắn giữa ĐàiLoan và vịnh Mexico
Trang 9Tài nguyên của Đài Loan khá nghèo nàn: Có than đá, nhng trữ lợngnhỏ, nằm ở khá sâu rất khó khai thác và giá thành quá cao Nguồn nguyênliệu dầu mỏ và khí đốt, tuy đã qua một thời gian dài thăm dò, từ thập kỉ 60của thế kỉ XX đến nay, nhng kết quả là quá ít ỏi; giá trị của nguồn tàinguyên thủy lực còn thấp, do nguyên nhân các con sông chảy quá ngắn, l ulợng nớc không ổn định, quy mô khai thác cha lớn (ngoại trừ việc giữ nớc
để dùng) Ngoài ra, Đài Loan còn có khí tự nhiên, đá vôi, đá cẩm thạch, mi-ăng, tuy nhiên trữ lợng không đáng kể Biển là nguồn tài nguyên vôcùng quan trọng đối với Đài Loan trong việc phát triển kinh tế và thông th-
a-ơng với bên ngoài
Về dân số, tính đến năm 2001 dân số Đài Loan là 22.191.087 ngời
Số dân ở các thành phố chính của Đài Loan: Cao Hùng 1.421.000 ng ời; ĐàiTrung 828.000 ngời; Đài Nam 703.000 ngời; Kê Lung 364.000 ngời Mật
độ dân c trung bình ở Đài Loan khá thấp: 46 ngời/1km2 Trong đó 98% làngời Hán (Thuộc dân tộc Trung Quốc), một số lớn là gốc ở các tỉnh PhúcKiến, Quảng Đông (88%) Họ đều nói tiếng Phúc Kiến, Quảng Đông vànền văn hóa của họ là nền văn hóa hoàn toàn của Trung Quốc [38;1], chỉ có2% dân số Đài Loan là thuộc về dân tộc Cao Sơn, cũng nh một số dân tộckhác C dân Đài Loan chủ yếu là theo đạo Phật (4,9 triệu Phật tử năm1996), ngoài ra họ còn chịu ảnh hởng của Thiên Chúa Giáo, đạo Hồi và cácloại đạo khác nh Hiên viên giáo, Lý giáo, Đại đồng giáo
Nh vậy, có thể khẳng định, về mặt dân c và văn hóa dân tộc, ĐàiLoan là một bộ phận khăng khít của Trung Quốc
1.1.2 Sơ lợc lịch sử Đài Loan trớc năm 1949:
Thời Tam Quốc, Tôn Quyền nhà Đông Ngô đã cử đội thuyền hàngvạn ngời đến Đài Loan Từ Triều Tống, Bành Hồ, Đài Loan đã đ ợc đa vàobản đồ Trung Quốc Đến cuối thế kỉ XIV, dới triều nhà Nguyên, TrungQuốc đã thành lập cơ quan phụ trách đảo Đài Loan nh là một bộ phận trong
bộ máy chính quyền Sau đó hơn 500 năm, về mặt hành chính Đài Loan làmột bộ phận của tỉnh Phúc Kiến thuộc Trung Quốc
Đến thời kì chủ nghĩa thực dân xâm lợc, Đài Loan còn đợc gọi làFormose, từng là mục tiêu bành trớng của nớc ngoài Ngoài các nớc lánggiềng trực tiếp của Đài Loan nh Nga và Nhật Bản, các cờng quốc thực dânhàng đầu ở châu Âu ít nhiều cũng thèm muốn Đài Loan nh Tây Ban Nha,
Hà Lan, Bồ Đào Nha Năm 1683, Đài Loan đợc sáp nhập vào đế chế MãnThanh Đối với vơng triều nhà Thanh, mục đích duy nhất của việc quản lícủa họ là bóc lột nhân dân, đặc biệt là số phận của những ngời bản xứ phầnlớn gốc Ma-lai-xia, họ phải chịu sự áp bức bóc lột tàn bạo, số phận của họgiống nh những ngời da đỏ ở Nam Mĩ: Họ bị xua đuổi vào các vùng rừngnúi Đài Loan đã sớm trở thành vùng rối loạn nhất của Thiên Triều Ng ờiTrung Quốc có một câu ngạn ngữ về Đài Loan rằng: “Cứ 3 năm có mộtcuộc nổi dậy nhỏ, 5 năm lại có một cuộc nổi dậy lớn” Chỉ đến năm 1887,
Trang 10chính phủ Trung Quốc mới nghiêm chỉnh tính đến việc thuộc địa hóa ĐàiLoan, biến nó thành một tỉnh của Trung Quốc Nh ng cũng chính vào thời kì
đó Mĩ, Anh, Pháp, Đức, Nhật Bản cũng nhảy vào cuộc Sau cuộc Chiếntranh thuốc phiện 1840, với khẩu hiệu “Quyền lợi cùng hởng” Mĩ đã theosau hạm đội Anh tiến vào Trung Quốc Cùng với thời gian Mĩ đã dần dần đ -
ợc hởng những đặc quyền ở Trung Quốc ngang hàng với các cờng quốc.Năm 1858 Liên quân Anh – Pháp xâm lợc Trung Quốc, buộc chính quyềnMãn Thanh phải kí “Hiệp ớc Thiên Tân”, mở cửa cho các hoạt động giao luthơng mại, trong đó có cả Đài Loan
Bớc vào thập kỉ 60 của thế kỉ XIX, một chiếc tàu của Mĩ vấp phải đángầm của Đài Loan, chính phủ Mĩ cũng muốn nhân cơ hội này xâm nhậpsâu hơn vào đảo Đài Loan để chiếm lấy hòn “Đảo ngọt ph ơng Đông” này.Vì vậy, đến năm 1893 Mĩ ra sức phát triển hải quân chiếm đóng Hawai,năm 1898 chiếm Philippin, đến 1899 đòi Trung Quốc phải mở cửa thêmmột bớc cùng các nớc đế quốc khác chia cắt Trung Quốc Tuy nhiên, Mĩ đãkhông thực hiện thành công kế hoạch này và để ngăn chặn ng ời châu Âuchiếm Đài Loan, họ đã quay sang ủng hộ chính sách của Nhật Bản Năm
1874, các nhà quân sự và ngoại giao Mĩ đã tham gia trực tiếp vào việcchuẩn bị và tiến hành cuộc viễn chinh đầu tiên của Nhật Bản vào Đài Loan,nhng cuộc viễn chinh đã thất bại Sau này, do thất bại trong cuộc chiếntranh Trung - Nhật (1894 - 1895), nhà Thanh phải giao nộp Đài Loan choNhật Bản theo thỏa thuận của hòa ớc Shimonoshaki (Tháng 4 - 1895), từ đóngời Nhật đã giành đợc Đài Loan về tay họ [55; 02]
Sự kiện Trân Châu Cảng bùng nổ, năm 1941 Nhật Bản đã dùng đảo
Đài Loan làm căn cứ đánh chiếm phần căn cứ của Mĩ ở Thái Bình D ơng, đedọa ngày càng mạnh mẽ đến quyền lợi của Mĩ Tháng 11 -1943 những ng ời
đứng đầu 3 nớc Mĩ – Anh – Trung (lúc này là chính quyền Tởng GiớiThạch) đã hội đàm với nhau ở Cairô (Ai cập) Tại đây Mĩ đã chủ tr ơng, ĐàiLoan thuộc về Trung Quốc, cả ba nớc cùng nhau ra bản “Tuyên ngônCairô” (Tuyên ngôn Lơke) nổi tiếng (1- 12 - 1943) Tuyên ngôn nêu rõ:
“Lấy lại tất cả những đảo Nhật Bản cớp đợc hoặc chiếm đóng ở Thái BìnhDơng, phần lãnh thổ của Trung Quốc do Nhật cớp đợc nh, Mãn Châu, ĐàiLoan, Bành Hồ đều trao trả về cho Trung Quốc” [55; 03] Ngay trong thời
điểm này chính phủ Rudơven cũng đã bắt đầu dự tính sẽ xây dựng căn cứquân sự của Mĩ ở Đài Loan
Theo tính toán của Mĩ, Trung Quốc sau chiến tranh dới sự thống trịcủa Quốc dân Đảng mà đứng đầu là Tởng Giới Thạch, đại bộ phận sẽ nằmtrong vùng ảnh hởng của Mĩ, Đài Loan sẽ không thành vấn đề gì nữa Mĩcần Trung Quốc làm khu đệm để khống chế Liên Xô, mặt khác Trung Quốccòn là nơi có nguồn hàng hóa, là thị trờng có tiềm lực rất lớn, đồng thời lại
là cơ sở nguyên liệu quan trọng Vì vậy, Mĩ hi vọng Trung Quốc giữ đợc
bộ mặt bên ngoài là một nớc độc lập, tơng đối ổn định về chính trị và kinh
Trang 11tế, mặt khác lại không muốn Trung Quốc đợc độc lập thực sự, không lớnmạnh tới mức thoát khỏi sự phụ thuộc vào Mĩ, tách ra khỏi con đ ờng của
Mĩ Lúc đó Mĩ chủ trơng trả Đài Loan cho Trung Quốc, một mặt Mĩ có thểxuất hiện với t thế là ngời tôn trọng chủ quyền lãnh thổ Trung Quốc, mặtkhác lại có thể tớc bỏ một cứ điểm quan trọng của Nhật Bản, thanh toán đ -
ợc ảnh hởng của Nhật Bản Đồng thời Đài Loan còn có thể phục vụ chochiến lợc, phục vụ quyền lợi kinh tế của Mĩ Một mũi tên, Mĩ đã “bắn đ ợc
ba con chim” vậy [55; 4]
Nh vậy, có thể thấy rằng thông qua “Con bài Đài Loan” Mĩ có thểvừa kìm chế Liên Xô, thanh toán đợc ảnh hởng của Nhật Bản, làm choTrung Quốc đi theo Mĩ Từng bớc một Mĩ đã bành trớng thế và lực củamình, nhằm thực hiện giấc mộng “Bá chủ thế giới”
Sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, ngày 16 – 7 - 1945, tạiHội nghị Pôxđam, Mĩ – Anh – Trung một lần nữa tuyên bố rằng: “Những
điều khoản trong tuyên ngôn Cairô phải đợc thực hiện”
Ngày 15 – 10 - 1945, khi Nhật Bản tuyên bố đầu hàng Đồng minh,cũng là lúc Trung Quốc tiếp nhận đầu hàng của Nhật Bản Từ đó Đài Loantrở về với Trung Quốc Trần Nghị - ngời đứng đầu Uỷ ban tiếp quản bộ máyhành chính Đài Loan, tuyên cáo: “Từ ngày hôm nay trở đi các đảo thuộc về
Đài Loan và Bành Hồ chính thức nhập vào bản đồ Trung Quốc Tất cả đất
đai, nhân dân, chính sự đều nằm dới chủ quyền Trung Quốc” [55; 05]
Từ những điều đã trình bày ở trên, chúng ta thấy rằng: Từ rất lâu ĐàiLoan là một bộ phận – một tỉnh cấu thành nên lãnh thổ Trung Quốc, đó làmột sự thật lịch sử, sự thật ấy đã đợc chứng minh qua các thời kì Tởng GiớiThạch từng phát biểu “Chính phủ Trung ơng coi Đài Loan nh anh em 50năm xa cách gia đình, lòng yêu mến của Trung ơng đối với Đài Loan rấtnhiều so với bất kì một tỉnh nào khác ” [55; 07] Thực tế cho thấy rằng,sau Chiến tranh thế giới thứ hai Đài Loan là một tỉnh của Trung Quốc vànếu không có sự can thiệp của Mĩ vào công việc nội bộ của Trung Quốc từsau năm 1945 thì Trung Quốc đã đợc thống nhất về mặt lãnh thổ và ĐàiLoan không còn là vấn đề “nóng bỏng” nhất của Mĩ trong quan hệ vớiTrung Quốc từ đó đến nay
Nh vậy, Formose sống dới sự thống trị của Nhật Bản trong hơn mộtnửa thế kỉ, sự thống trị này chỉ chấm dứt với thất bại của bọn quân phiệtNhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai Ngời Nhật buộc phải trả lại ĐàiLoan cho Trung Hoa dân quốc ở Trung Quốc vấn đề thống nhất đợc đặt ranhng cách mạng Trung Quốc lại không xoay chuyển theo ý muốn của Mĩ.Những toan tính trớc kia của Mĩ bị phá vỡ hoàn toàn Mĩ ra sức giúp đỡ chochính quyền Tởng Giới Thạch tiến hành cuộc nội chiến với Đảng Cộng sảnnhằm ngăn chặn sự thắng lợi của Cách mạng Trung Quốc Mĩ đã hết sứcgiúp đỡ Tởng với mục đích làm cho Trung Quốc không thể độc lập
Trang 12Từ tháng 6 - 1947 trở đi quân cách mạng Trung Quốc đã liên tiếpphản công chiến lợc và giành đợc những thắng lợi quyết định Đến ngày 23– 4 - 1949 trung tâm thống trị của tập đoàn Tởng Giới Thạch ở Nam Kinh
đã đợc giải phóng Nền thống trị của tập đoàn họ Tởng bị sụp đổ hoàn toàn.Quốc vụ khanh Mĩ Akisơn từng nói “Kết quả không may của cuộc nộichiến Trung Quốc vợt ra ngoài năng lực kiểm soát của chính phủ Mĩ Đó là
điều bất hạnh không thể tránh khỏi” [13; 166]
Trớc thất bại thảm hại của Quốc dân Đảng, chính phủ Mĩ đã mất lòngtin vào chính quyền Tởng Giới Thạch Mĩ mong có thể “Thay ngựa giữadòng” từ Tởng Giới Thạch chuyển sang Lí Tôn Nhân Đến đầu năm 1949 T -ởng Giới Thạch dở trò “nhờng ngôi” cho Lí Tôn Nhân đem theo một số l-ợng lớn của cải (2.717.500 lạng vàng, 152.000.000 đồng tiền bạc,15.347.000 USD gửi ngân hàng Mĩ), cùng với một lực lợng quân 300.000
và vũ khí ra cố thủ ở Đài Loan với ý đồ “phản công Đại Lục” Với sự chuẩn
bị chu đáo nh vậy, ngay từ bớc đầu chính quyền Tởng Giới Thạch có thể
đứng vững ở Đài Loan nên trớc khi bố trí đờng rút lui ra Đài Loan TởngGiới Thạch từng nói: “Trớc sự xâm nhập của đế quốc Nga, thà mất tất cả
Đại Lục, còn Đài Loan thì không thể không giữ”, “Chỉ cần có Đài Loan,
Đảng Cộng sản sẽ không làm gì đợc chúng ta, ngay cả khi toàn bộ Đại Lục
bị Đảng Cộng sản chiếm, chỉ cần giữ đợc Đài Loan thì ta có thể khôi phục
đợc Đại Lục” [26; 387]
Nh vậy, thái độ và quan điểm của Tởng Giới Thạch đã quá rõ ràng,Tởng cho rằng mình là đồng minh của Mĩ, coi Liên Xô là kẻ thù, nuôimộng khôi phục địa vị của mình ở Đại lục Trung Quốc Các quan chứcngoại giao của Mĩ lại nghĩ khác, họ cho rằng: Sự sụp đổ của Quốc dân
Đảng là do chính bản thân chế độ Quốc dân Đảng quyết định, nếu Mĩ tiếptục ủng hộ Tởng Giới Thạch thì sẽ mất uy tín, không thể tránh khỏi bị chỉtrích là “ủng hộ một chính phủ phong kiến đồi trụy, can thiệp vào công việcnội bộ của Trung Quốc”, “kéo dài những đau khổ do nội chiến gây ra nhằm
đạt mục tiêu Đế quốc chủ nghĩa, bất chấp nguyện vọng của nhân dân TrungQuốc” Ngời Mĩ còn mạnh mẽ vạch ra rằng, “Mĩ ủng hộ một chính phủ hủbại, mất lòng ngời, cỡi lên đầu lên cổ nhân dân Trung Quốc, đây là việclàm không có đạo đức Tiếp tục chính sách viện trợ hiện hành thì còn xấuhơn cả phạm tội là ngu xuẩn” [57; 5] Trớc tình hình đó, Mĩ đã buộc phảibắt đầu thực hiện “Chính sách thoát thân” ra khỏi cuộc nội chiến ở TrungQuốc, nhằm giành quyền chủ động linh hoạt trong tơng lai (tức là có ý thiếtlập quan hệ ngoại giao với nớc Trung Quốc mới trong tơng lai gần) Đếnngày 1 – 10 - 1949 Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tuyên bố thành lập thì
Mĩ cũng cha thể hiện một thái độ rõ ràng, nh trong hồi kí của DeanAchesơn nêu ra “Hãy chờ bụi bặm rơi xuống hết đã, còn đối với số phậncủa Đài Loan ra sao thì đây lại là một chuyện khác” Nh vậy Mĩ có ý tách
Trang 13Đài Loan ra khỏi Đại lục Trung Quốc, coi đó là vấn đề riêng biệt để xemxét [57; 6].
Có thể nói rằng, tình hình xã hội Đài Loan trớc năm 1949 không ổn
định Sau năm 1945 khi Nhật Bản chuyển giao quyền lực cho Trung Quốc,tình hình xã hội Đài Loan còn rối ren hơn, nhiều cuộc nổi dậy của nhân dânliên tiếp nổ ra, điển hình là sự kiện 28 – 2 - 1947 và sự ra đời của “ủy banlãnh đạo sự kiện 28 - 2” Đến ngày 19 – 5 - 1949 T lệnh Quân đội ĐàiLoan Garrsơn tuyên bố tình trạng khẩn cấp (Thiết quân luật) trên toàn ĐàiLoan
Cuối tháng 12 - 1949 sau khi cuộc nội chiến ở Trung Quốc kết thúc,chính quyền Tởng Giới Thạch rút khỏi Đại Lục chạy ra Đài Loan, bắt đầu
từ đây Đài Loan trở thành vấn đề nhức nhối trong việc thống nhất và toànvẹn lãnh thổ của Trung Quốc và nếu nh không có sự can thiệp trực tiếp của
đế quốc Mĩ vào công việc giải phóng Đài Loan của ngời Trung Quốc thìquan hệ Mĩ – Trung trong vấn đề Đài Loan sẽ không có gì để bàn luận vàkhông trở thành vấn đề nhạy cảm nhất trong quan hệ của hai cờng quốc
1.1.3 Cuộc nội chiến lần thứ ba và thất bại của T ởng Giới Thạch.
Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Nhật cứu n ớc, vấn đề
“vận mệnh của Trung Quốc” trong tơng lai đợc đặt ra một cách trựctiếp trớc hàng trăm triệu ngời dân Trung Quốc Tuyệt đại bộ phận quầnchúng nhân dân đã chịu quá nhiều đau khổ trong chiến tranh chốngngoại xâm và nội chiến kéo dài mấy chục năm, hi vọng đ ợc sống tronghòa bình, xây dựng một nớc Trung Hoa mới dân chủ và hòa hợp dântộc Những nỗ lực tranh thủ hòa bình, loại trừ nội chiến đã không đi
đến kết quả Sau khi Chiến tranh chống Nhật kết thúc không lâu, TrungQuốc lại phải trải qua cuộc nội chiến thứ ba (1947-1949), lịch sử gọi
là cuộc “Chiến tranh giải phóng”
Sau khi văn kiện đầu hàng đợc kí kết, quân Nhật trên chiến tr ờngTrung Quốc đợc lệnh hạ khí giới đầu hàng quân đội chính phủ Quốcdân Đảng Quân đội chính phủ Quốc dân Đảng tớc khí giới của hơn 1triệu tàn quân Nhật Hơn 50 vạn quân Tởng tiếp quản những thành phốlớn: Thợng Hải, Nam Kinh, Bắc Bình (Bắc Kinh), Thiên Tân vànhững tuyến giao thông, những vị trí chiến lợc quan trọng Tởng GiớiThạch chủ trơng khôi phục quyền lực của chính phủ Quốc dân Đảngtrên phạm vi cả nớc Trong bài phát biểu trên đài phát thanh chàomừng chiến thắng ngày 3 – 9 - 1945 T ởng Giới Thạch một mặt tuyên
bố giữ vững vị trí chính thống của chính phủ Trung Hoa Dân quốc,
“không cho phép tồn tại quân đội của bất cứ đảng phái nào”; mặt kháclại tỏ ra muốn hòa bình, hòa hợp dân tộc, xây dựng đất n ớc trong nềndân chủ Trong những ngày 14, 20, 23 - 8, T ởng Giới Thạch đã ba lần
Trang 14gửi điện mời Mao Trạch Đông tới Trùng Khánh để cùng bàn về
“Những vấn đề quốc tế và trong nớc”
Mao trạch Đông và Trung ơng Đảng Cộng sản Trung Quốc khôngtin vào lời lẽ của Tởng Giới Thạch Mao Trạch Đông cho rằng: “Độctài, nội chiến, bán nớc, luôn là cốt lõi đờng lối của Tởng Giới Thạch”
Do vậy Mao Trạch Đông chủ trơng Đảng Cộng sản một mặt phản đốinội chiến, mặt khác phải chuẩn bị sẵn sàng đối phó khi nội chiến bùng
nổ Ngày 23 - 8, Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc họp Hộinghị mở rộng, thảo luận vấn đề đàm phán với Quốc dân Đảng Hộinghị nhận định: Cần phải và có thể đàm phán với Quốc dân Đảng
Ngày 25 - 8, Trung ơng Đảng Cộng sản Trung Quốc ra Tuyên bố về
thời cuộc và cử Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai, Vơng Nhợc Phi tới
Trùng Khánh đàm phán với Quốc dân Đảng Bản tuyên bố chủ tr ơngthống nhất đất nớc trên cơ sở “Hòa bình, dân chủ đoàn kết, nhằm xâydựng một nớc Trung Hoa mới độc lập, tự do và giàu mạnh”
Ngày 28 – 8 - 1945, phái đoàn đại biểu của Trung ơng ĐảngCộng sản Trung Quốc với sự tháp tùng của T ớng Hơcli, Đặc sứ củaTổng thống Mĩ, từ Diên An bay tới Trùng Khánh để đàm phán Quốc -
Cộng Cuộc đàm phán bắt đầu từ 29 - 8 và kết thúc bằng việc kí Hiệp
định song thập ngày 10 – 10 - 1945 Hiệp định song thập đ ợc công bố
dới hình thức Kỉ yếu hội đàm giữa chính phủ Quốc dân Đảng với đại
diện Đảng Cộng sản Trung Quốc Bản Kỉ yếu ghi nhận ph ơng châm cơbản do Đảng Cộng sản Trung Quốc đa ra về việc triệu tập Hội nghịHiệp thơng chính trị gồm đại biểu các đảng phái và các nhân sĩ không
đảng phái thảo luận vấn đề xây dựng đất n ớc Ngoài ra, hai bên còn đi
đến thỏa thuận: Thực hiện dân chủ hóa nền chính trị; công nhận cácquyền tự do, dân chủ của nhân dân, căn cứ vào đó để sửa đổi hiếnpháp; thủ tiêu các cơ quan đặc vụ; thả tù chính trị; thực hiện quyền tựtrị của địa phơng, thi hành chế độ phổ thông đầu phiếu v.v Do Quốcdân Đảng không đồng ý nên các phơng án về chính quyền khu giảiphóng, quân đội khu giải phóng, Đại hội Quốc dân do Đảng Cộng sản
đa ra đã không đi đến thỏa thuận giữa hai bên Nh ng những vấn đề đó
đợc lu lại để “tiếp tục thơng lợng”, hoặc giao cho Hội nghị Hiệp thơngchính trị giải quyết
Cuộc đàm phán Quốc - Cộng tại Trùng Khánh và Hiệp định song
thập trên thực tế chỉ là “kế hoãn binh” Trong và sau thời gian diễn ra
đàm phán Trùng Khánh, những cuộc đụng độ vũ trang của hai lực l ợng
đối địch vẫn tiếp tục diễn ra
Bấy giờ cả Mĩ và Liên Xô đều coi châu Âu là trung tâm chiến l ợcngoại giao và đều không muốn bị lôi cuốn vào cuộc chiến tranh quymô lớn ở Đông á Cuối tháng 11 - 1945, những nỗ lực hòa giải Quốc -Cộng của Hơcli xem ra khó có kết quả, chính phủ Mĩ đã chấp nhận đề
Trang 15nghị từ chức của ông ta và cử tớng Mácsan (nguyên Tham mu trởngLục quân Mĩ) với vai trò Đặc sứ của Tổng thống Mĩ sang Trung Quốc
để “hòa giải” tranh chấp Quốc - Cộng Ngày 15 – 12 - 1945, Tổngthống Mĩ Truman ra “Tuyên bố chính sách đối với Trung Quốc”, mộtmặt tán thành “đoàn kết”, “dân chủ”, chủ tr ơng công việc của TrungQuốc do ngời Trung Quốc tự giải quyết, “Mọi sự can thiệp n ớc ngoài
là không phù hợp”; mặt khác lại cho rằng “Sự tồn tại của quân đội
Đảng Cộng sản là không phù hợp với đoàn kết chính trị ở TrungQuốc”, rằng “Chính phủ Trung Hoa dân quốc hiện nay là chính phủduy nhất hợp pháp ở Trung Quốc” Ngày 27 – 12 - 1945, Ngoại tr ởng
3 nớc Xô - Mĩ - Anh họp ở Matxcơva tuyên bố “không can thiệp vàocông việc nội bộ của Trung Quốc để việc đoàn kết và dân chủ hóa ởTrung Quốc đợc thực hiện dới sự lãnh đạo của chính phủ Quốc dân ”.Trong bối cảnh quốc tế đó, lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc đãchấp nhận vai trò hòa giải của Macsan, ngày 10 – 1 - 1946, tại TrùngKhánh đại diện hai Đảng Quốc - Cộng đã kí hiệp định đình chiến.Cùng ngày Hội nghị Hiệp thơng chính trị đã khai mạc tại TrùngKhánh Tham gia hội nghị có 38 đại biểu (Quốc Dân Đảng có 8 đạibiểu, Đảng Cộng sản – 7, Đồng minh dân chủ - 9, Đảng Thanh niên– 5, không đảng phái - 9 ) Vấn đề trung tâm của cuộc tranh luận tạiHội nghị là “Dân chủ hóa chính trị” và Quốc gia hóa quân đội”
Qua một quá trình tranh cãi gay gắt giữa các lực l ợng chính trị,cuối cùng Hội nghị Hiệp thơng chính trị đã thông qua đợc các quyết
định sau đây:
- Cơng lĩnh hòa bình xây dựng đất n ớc, chủ trơng xây dựng đất
n-ớc theo phơng châm hòa bình, dân chủ, đoàn kết
- Hiệp định về vấn đề tổ chức chính phủ, quy định: Trong số 40thành viên chính phủ Quốc dân có một nửa là những nhân sĩ ngoàiQuốc dân Đảng và do các đảng phái của họ cử ra, những quyết sáchquan trọng của chính phủ phải đợc 2/3 thành viên tán thành mới đợcthông qua
- Hiệp định về vấn đề Quốc dân đại hội và Hiệp định về vấn đề Dựthảo Hiến pháp Hiệp định quy định tổng số đại biểu Quốc hội là 2050ngời Việc thông qua hiến pháp phải đ ợc 3/4 tổng số đại biểu tánthành Hiệp định quy định Quốc hội khóa I có quyền thông qua hiếnpháp Hiến pháp phải bảo đảm những quyền tự do, dân chủ cơ bản củanhân dân Viện Lập pháp là cơ quan lập pháp tối cao, do dân trực tiếpbầu cử Viện Hành chính là cơ quan hành chính tối cao, chịu tráchnhiệm trớc Viện Lập pháp v.v
- Hiệp định về vấn đề quân sự, quy định: “đảng, quân phân lập”,
“quân, dân phân trị”; lập hội đồng 3 ng ời để bàn bạc, giải quyết các
Trang 16vấn đề quân sự gồm Chu Ân Lai (Đảng Cộng sản), Tr ơng Trị Trung(Quốc Dân Đảng), Macsan (Mĩ).
Hội nghị Hiệp thơng chính trị bế mạc vào ngày 31 – 1 - 1946
Sau khi Hiệp định song thập và những hiệp định của Hội nghị
Hiệp thơng chính trị đợc kí kết không lâu, phía Quốc dân Đảng đã có ý
đồ xóa bỏ Đầu tháng 3 1946, Quốc dân Đảng họp Hội nghị Trung
-ơng 2, khóa VI Những đại biểu dự Hội nghị phát biểu cho rằng:
“Quyết định của Hội nghị Hiệp th ơng chính trị không có lợi cho Quốcdân Đảng”, “Dự thảo Hiến pháp đi ngợc lại di chúc” (của Tôn TrungSơn) v.v Bản thân Tởng Giới Thạch cũng phát biểu: “Tôi cũng khôngbằng lòng với Dự thảo Hiến pháp, nhng không thể bác bỏ đợc, đànhphải tạm thời đồng ý thông qua, sau này hẵng hay” Ngay sau ngàyHiệp định đình chiến đợc kí (10 – 1 - 1946), quân đội Quốc dân Đảngvẫn tiếp tục tiến hành những cuộc tiến công chiếm nhiều vùng giảiphóng của Đảng Cộng sản Còn Đảng Cộng sản thì áp dụng ph ơngchâm chiến lợc “phòng ngự ở hớng nam, phát triển lên hớng bắc”, tạicác vùng giải phóng tăng cờng luyện binh, đẩy mạnh sản xuất, tiếnhành cải cách ruộng đất
Ngày 26 – 6 - 1946, cuộc tấn công quy mô lớn của quân độiQuốc dân Đảng vào vùng giải phóng Trung Nguyên của Đảng Cộngsản đã mở đầu cuộc nội chiến Quốc – Cộng ở Trung Quốc Khi nộichiến bùng nổ, lực lợng vũ trang của Quốc dân Đảng có khoảng 4,3triệu quân, đợc trang bị vũ khí hiện đại do Mĩ cung cấp, trong khi lựclợng vũ trang của Đảng Cộng sản chỉ có 1,27 triệu quân, đ ợc trang bịtơng đối thô sơ Dựa vào u thế quân sự, Tởng Giới Thạch và tham mutrởng Trần Thành dự tính có thể giành thắng lợi trong khoảng thời gian
3 đến 6 tháng Nhng những diễn biến của cuộc nội chiến không diễn ratheo dự kiến đó
Quá trình nội chiến Quốc - Cộng lần thứ ba trải qua hai giai
đoạn:
- Giai đoạn thứ nhất, từ tháng 6 - 1946 đến tháng 6 - 1947, quân
đội Quốc dân Đảng dựa và u thế ban đầu đã mở các cuộc tấn công quymô lớn lên phía bắc, quân đội của Đảng Cộng sản buộc phải rút luichiến lợc
- Giai đoạn hai, từ tháng 6 - 1947 đến tháng 10 - 1949 quân độicủa Đảng Cộng sản chuyến sang phản công, mở những chiến dịch lớntấn công xuống phía nam và đã giành toàn thắng
Cuộc nội chiến bắt đầu bằng cuộc tấn công toàn diện của quân
đội Quốc dân Đảng vào các vùng giải phóng của Đảng Cộng sản, trọng
điểm là chiến trờng Hoa Đông Rạng ngày 26 – 6 - 1946 hơn 10 vạnquân Quốc dân Đảng đã triển khai thế bao vây, mở cuộc tấn công chớp
Trang 17nhoáng nhằm tiêu diệt lực lợng giải phóng quân Trung Nguyên ở đây,quân giải phóng nhân dân đã áp dụng phơng châm phòng ngự tích cực.
Do lực lợng quá chênh lệch, chủ lực giải phóng quân phải tháo vây, rútkhỏi khu giải phóng Trung Nguyên, về mặt trận Hoa Trung Nhữngcuộc chiến đấu quyết liệt cũng diễn ra tại các khu giải phóng ở GiangTô, An Huy Sơn Tây, Hà Bắc, Sơn Đông, Hà Nam, vùng Đông Bắc
Đầu tháng 3 - 1947, bộ chỉ huy Quốc dân Đảng tập trung 70 vạn quân
mở cuộc tấn công quy mô lớn vào vùng giải phóng Thiểm – Cam Ninh và vùng giải phóng Sơn Đông Trung ơng Đảng Cộng sản TrungQuốc phải rút khỏi Diên An Tính từ khi cuộc nội chiến bùng nổ, tháng
-6 - 194-6 đến tháng -6 - 1947, theo tài liệu do Đảng Cộng sản công bố,quân đội Quốc dân Đảng tuy đã lấn chiếm đợc các vùng rộng lớn, nhngquân số thiệt hại lên tới 1,2 triệu Trong đó giải phóng quân bị tổn th -
ơng 35 vạn ngời, nhng sau đó bổ sung quân số lên tới 1,95 triệu ngời
Sau khi đã chỉnh đốn và tăng cờng lực lợng, từ tháng 6 - 1947,giải phóng quân chuyển sang phản công chiến l ợc Lúc này quân sốcủa Quốc dân Đảng từ 4,3 triệu giảm xuống còn 2,73 triệu; quân sốcủa Đảng Cộng sản từ 1,27 triệu tăng lên 1,95 triệu, trang bị vũ khícũng đợc cải thiện nhiều
Mao Trạch Đông đã xác định nhiệm vụ chủ yếu của giải phóngquân trong năm thứ hai của cuộc nội chiến (tức là năm thứ nhất củagiai đoạn phản công) là mở cuộc phản công trong phạm vi cả n ớc, một
bộ phận chủ lực tấn công tuyến ngoài, tiến sâu vào vùng Quốc dân
Đảng, một bộ phận khác tiếp tục chiến đấu ở vùng trong, thu hồinhững vùng đất bị Quốc dân Đảng lấn chiếm Trải qua một năm phảncông chiến lợc, giải phóng quân đã tiêu diệt 1,52 triệu quân địch, giảiphóng một vùng đất rộng 155.000 km2, 164 thành phố, đập tan kếhoạch “phòng ngự toàn diện” của đối phơng, buộc Bộ chỉ huy củaQuốc dân Đảng phải chuyển sang “phòng ngự phân vùng”, rồi “phòngngự trọng điểm” So sánh lực lợng trên chiến trờng có thay đổi lớn,quân số của giải phóng quân lên tới 2,8 triệu, quân số của quân độiQuốc dân Đảng vẫn còn 3,65 triệu, nh ng có thể sử dụng ở tuyến 1 chỉ
có khoảng 1,7 triệu, tinh thần chiến đấu của tớng sĩ sa sút nghiêmtrọng
Từ mùa thu năm 1948, Bộ chỉ huy của giải phóng quân đã liêntiếp tổ chức những cuộc tấn công quy mô lớn Chiến dịch Tế Nam, từngày 16 đến 24 – 9 - 1948, giải phóng quân đã tiêu diệt 10 vạn quân
địch, giải phóng thành phố Tế Nam và tỉnh Sơn Đông, cắt đứt đ ờng rútlui của quân địch ở Đông Bắc, Hoa Bắc và Hoa Đông Chiến dịch Liêu
- Thẩm (Liêu Ninh - Thẩm Dơng) từ đầu tháng 10 đến cuối tháng 11,trong 52 ngày đêm, giải phóng quân đã tiêu diệt hơn 47 vạn quân địch,giải phóng hoàn toàn vùng Đông Bắc Sau chiến dịch này, giải phóng
Trang 18quân đã vợt đối phơng về mặt quân số (3 triệu so với 2,9 triệu) Chiếndịch Hoài - Hải (Hoài Hà - Hải Châu), trong 65 ngày, từ đầu tháng 11 -
1948 đến 10 - 1 - 1949, giải phóng quân đã tiêu diệt 55 vạn quân địch,giải phóng vùng Hoa Đông ở Bắc tr ờng Giang và vùng Trung Nguyên,trực tiếp uy hiếp địch ở Nam Kinh, Thợng Hải Chiến dịch Bình –Tân (Bắc Bình - Thiên Tân) trong vòng 64 ngày, từ cuối tháng 11 -
1948 đến 31 – 1 - 1949, giải phóng quân đã tiêu diệt 52 vạn quân
địch, giải phóng Bắc Bình - Thiên Tân và toàn bộ vùng Hoa Bắc
Trong tình thế nguy ngập về quân sự, do sức ép nội bộ và từ phía
Mĩ, trong thông điệp đầu năm 1949, Tởng Giới Thạch đã đề nghị ĐảngCộng sản đình chiến, đàm phán hòa bình, lấy sông Tr ờng Giang làmranh giới Cũng trong ngày tết Nguyên đán, Mao Trạch Đông đã thông
qua Tân Hoa xã phát biểu lời chúc tết đầu năm với tiêu đề Tiến hành
cách mạng đến cùng! Mao Trạch Đông nói rõ rằng: “Chỉ có tiêu diệt
toàn bộ bọn phản động Trung Quốc, đuổi thế lực xâm l ợc Mĩ ra khỏiTrung Quốc thì Trung Quốc mới có thể có độc lập, mới có thể có dânchủ, mới có thể có hòa bình”
Ngày 21 – 1 - 1949, Tởng Giới Thạch buộc phải tuyên bố “rútlui” Phó Tổng thống Lí Tôn Nhân lên làm quyền Tổng thống Nh ngtrên thực tế với công việc Tổng tài (Chủ tịch) Quốc dân Đảng, T ởngGiới Thạch vẫn quyết định mọi việc
Tại Hội nghị Trung ơng 2, khóa VII của Đảng Cộng sản TrungQuốc, Mao Trạch Đông đã đọc Báo cáo chính trị, khẳng định quyếttâm tiếp tục chiến đấu, đa sự nghiệp cách mạng đến thắng lợi hoàntoàn trong phạm vi cả nớc
Đầu tháng 4 - 1949, tại Bắc Kinh, đã diễn ra cuộc đàm phán giữa
đoàn đại biểu Đảng Cộng sản do Chu Ân Lai lãnh đạo và đoàn Đạibiểu chính phủ Quốc dân Đảng do Trơng Tự Trung cầm đầu PhíaQuốc dân Đảng đề nghị “đình chiến tại chỗ”, lấy Tr ờng Giang là ranhgiới phân đôi Trung Quốc để đạt tới một nền “hòa bình trong danhdự” Đảng Cộng sản không thể đồng ý với phơng án đó Cuộc đàmphán thất bại
Ngày 21 – 4 - 1949, Chủ tịch quân ủy Mao Trạch Đông và Tổng
t lệnh Chu Đức đã hạ lệnh cho giải phóng quân v ợt sông Trờng Gianggiải phóng cả nớc! Các binh đoàn hùng mạnh của giải phóng quân đã
mở cuộc tổng tấn công trên chiến tuyến dài 500 km dọc sông Tr ờngGiang Sau 3 ngày kịch chiến, quân giải phóng đã v ợt qua sông, ngày
23 - 4 tiến vào giải phóng Nam Kinh, ngày 27 giải phóng Th ợng Hải,thẳng tiến xuống Hoa Nam và Tây Nam lần l ợt giải phóng phần còn lạicủa lục địa Trung Hoa Tập đoàn Tởng Giới Thạch chạy ra Đài Loan,núp dới sự bảo vệ quân sự của Đế quốc Mĩ
Trang 191.2 Sự ra đời của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Trung Hoa Dân quốc và sự xuất hiện vấn đề Đài Loan.
1.2.1 Sự ra đời của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Trung Hoa Dân quốc.
Sau khi Tởng Giới Thạch cùng Quốc dân Đảng thua trận và chạy
ra Đài Loan Ngày 30 – 6 - 1949, để chuẩn bị cho việc xây dựngchính quyền cách mạng, Mao Trạch Đông đã công bố bài “Về chuyênchính dân chủ nhân dân”, chủ trơng thành lập nhà nớc Cộng hòa nhândân
Ngày 21 – 9 - 1949, Hội nghị Hiệp th ơng chính trị đã họp phiên
đầu tiên thông qua “Cơng lĩnh chung” có tính chất nh Hiến pháp tạmthời, bầu các thành viên của Chính phủ nhân dân Trung ơng do MaoTrạch Đông làm Chủ tịch; các Phó chủ tịch là Chu Đức, L u Thiếu Kì,Tống Khánh Linh, Lí Tế Thâm, Trơng Lan, Cao Cờng; quyết định lấyBắc Bình (đổi tên là Bắc Kinh) làm thủ đô, cờ đỏ 5 sao là quốc kì củanớc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, quyết định tạm thời lấy “Nghĩadũng tiến hành khúc” làm quốc ca
Hội nghị Hiệp thơng chính trị toàn quốc đã chuẩn bị cho buổi lễ
ra mắt của Chính phủ nhân dân Trung ơng nớc Cộng hòa Nhân dânTrung Hoa
Ngày 1 – 10 - 1949, tại cuộc mít tinh của hơn 30 vạn nhân dânthủ đô Bắc Kinh trên quảng trờng Thiên An Môn lịch sử, Chủ tịch MaoTrạch Đông đã trịnh trọng tuyên bố với thế giới sự ra đời của n ớc Cộnghòa Nhân dân Trung Hoa
Nớc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời là thắng lợi mang ýnghĩa lịch sử trọng đại của nhân dân các dân tộc Trung Quốc trongcuộc đấu tranh lâu dài chống chế độ phong kiến, chủ nghĩa thực dân vàcác thế lực phản động khác, vì độc lập dân tộc, dân chủ nhân dân, mở
đờng đi lên chủ nghĩa xã hội
Thắng lợi của cách mạng Trung Quốc và sự ra đời n ớc Cộng hòaNhân dân Trung Hoa - một quốc gia rộng lớn với số dân bằng 1/4 dân
số thế giới, là một thắng lợi to lớn, đóng góp to lớn vào sự nghiệp giảiphóng các dân tộc bị áp bức, phong trào công nhân và phong trào cáchmạng thế giới, là một thắng lợi to lớn của cuộc đấu tranh chung củanhân dân thế giới vì những mục tiêu của thời đại: Hòa bình, độc lậpdân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội
Về phía Quốc dân Đảng, sau khi chạy ra Đài Loan đã gặp phảirất nhiều khó khăn: Quân đội yếu kém, phần lớn là tàn binh, bại t ớng,không còn ý chí chiến đấu Kinh tế, Đài Loan vốn có điểm xuất phátrất thấp, nay lại phải gánh thêm hơn hai triệu ng ời từ lục địa tràn sang
“Vấn đề phản công đất liền” là hoàn toàn vô vọng Chính quyền T ởng
Trang 20Giới Thạch lúc đó rất cần viện trợ để giải quyết các vấn đề kinh tế, xãhội cũng nh nuôi dỡng quân đội đủ sức chiến đấu chống lại sự tiếncông của Quân giải phóng Trung Quốc và các mối đe dọa tiềm tàngbên trong khác Nhu cầu bức xúc của Đài Loan lúc đó là trụ vữngnhằm tạo khả năng chống trả với những tình huống xấu nhất có thể nảysinh từ phía Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Do biết không thể chiếnthắng Trung Quốc lục địa bằng quân sự, Đài Loan đã chọn con đ ờngphát triển kinh tế, ổn định xã hội và coi đây là con đ ờng duy nhấttrong cuộc chiến “ai thắng ai” Để có thể thực hiện mục tiêu phát triểnkinh tế, ổn định xã hội và bảo vệ Đài Loan, Quốc Dân đảng và T ởngGiới Thạch cần có một “cái ô” che chở “Cái ô” hi vọng đó là Mĩ Đ ợc
sự giúp đỡ của Mĩ, ngày 10 – 10 - 1949 ở Đài Loan T ởng Giới Thạchtuyên bố thành lập nớc Trung Hoa dân quốc ở Đài Loan
Việc lựa chọn chính sách theo Mĩ của Tởng Giới Thạch khôngchỉ có mục đích tranh thủ sự hỗ trợ của Mĩ để phát triển kinh tế, củng
cố chính quyền mà còn theo đuổi một ý đồ khác hết sức quan trọng
là lôi kéo Mĩ vào cuộc xung đột Quốc - Cộng, khoét sâu mâu thuẫnMĩ- Trung để buộc Mĩ phải có sự lựa chọn đối với Đài Loan, bảo vệ
Đài Loan, chờ cơ hội phản công Đại Lục
1.2.2 Sự xuất hiện vấn đề Đài Loan trong quan hệ Mĩ – Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, hòa bình đ ợc lập lại Tuynhiên các vấn đề quốc tế với những tranh chấp giữa một bên là các n ớcxã hội chủ nghĩa đứng đầu là Liên xô, một bên là các n ớc t bản chủnghĩa đứng đầu là Mĩ cũng dần dần hình thành và ngày càng trở nênquyết liệt Một trật tự thế giới mới ra đời, trật tự thế giới hai cực do Mĩ
Liên Xô lãnh đạo với cục diện đối đầu Đông Tây Khu vực châu á Thái Bình Dơng là nơi mà cả Mĩ và Liên Xô đều muốn nhân rộng sự
-ảnh hởng của mình Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Trung Quốctrở thành một nớc độc lập Tuy nhiên, tình hình ở Trung Quốc vẫn tiếptục căng thẳng bởi cuộc đấu tranh giành quyền lực giữa một bên làQuốc dân Đảng đang nắm quyền nhng bị mất uy tín nghiêm trọngtrong thời gian kháng chiến chống Nhật và bên kia là Đảng Cộng sảnTrung Quốc đang ngày càng trở nên có ảnh hởng sâu rộng khắp đất n-
ớc Cuộc đấu tranh này dần dần đã biến thành cuộc nội chiến kéo dàisuốt từ năm 1946 cho đến 1949 Để giữ vững sự ảnh h ởng của mình ởTrung Quốc, Mĩ đã giành sự hỗ trợ toàn diện cho Tởng Giới Thạch tiếnhành cuộc nội chiến chống Đảng Cộng sản, ngăn cản sự thành côngcủa cách mạng Trung Quốc Tuy nhiên ý đồ đó của Mĩ đã thất bại.Cuộc nội chiến ở Trung Quốc đã vợt ra ngoài tầm kiểm soát của Mĩ
Trang 21Thắng lợi của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã dẫn đến việc thànhlập nớc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ngày (1 – 10 - 1949), T ởngGiới Thạch cùng với Quốc dân Đảng chạy ra đảo Đài Loan Sự tồn tạicủa Trung Hoa Dân quốc đã đặt ra vấn đề thống nhất đất n ớc của ngờiTrung Quốc Từ hoàn cảnh lịch sử nói trên đã đ a đến việc hình thành
“vấn đề Đài Loan”
Trung Quốc là một quốc gia có dân số đông, có diện tích lớnnhất châu á Nếu Trung Quốc trở thành một quốc gia hùng mạnh đứng
về phe XHCN thì rất có thể sẽ đe dọa lớn đến lợi ích của Mĩ ở khu vựcchâu á - Thái Bình Dơng Chính vì thế ngay sau khi n ớc Cộng hòaNhân dân Trung Hoa vừa mới ra đời thì Mĩ đã có những chính sách đốivới Trung Quốc, không công nhận chính phủ Trung Quốc Tại LiênHợp Quốc năm 1949, nhà cầm quyền Mĩ nhiều lần đ a ra luận điệu “dotrớc đây Đài Loan là thuộc địa của Nhật quy chế của Đài Loan ch aquy định dứt khoát, nên cha xác định địa vị của Đài Loan”, phản đốigiao Đài Loan cho Trung Quốc, Mĩ chủ tr ơng giao Đài Loan cho LiênHợp Quốc quản lí, chính quyền Mĩ cho rằng: ngời Đài Loan mong đợc
Mĩ lãnh đạo và Liên Hợp Quốc quản lí, họ lo sợ chính phủ Trung ơngTrung Quốc biến Đài Loan thành căn cứ để bảo vệ chính quyền mụcnát sắp đến của họ” Mĩ còn gieo rắc luận điệu “Nếu Đài Loan rơi vàotay Trung cộng, Mĩ sẽ buộc phải đòi quyền sở hữu hòn đảo này” [53;53] Mục đích của chính quyền Mĩ là muốn thông qua Liên Hợp Quốc
để đợc quyền quản lí Đài Loan hoặc để Đài Loan tự trị
Thái độ can thiệp “trắng trợn” của Mĩ vào công việc giải phóng
Đài Loan của Trung Quốc, làm cho vấn đề Đài Loan đ ợc đa ra thảoluận tại Liên Hợp Quốc hết sức gay gắt Thái độ của các n ớc lớn tạiLiên Hợp Quốc là rất khác nhau về vấn đề Đài Loan Bởi vì, họ chorằng, “tơng lai đại cờng quốc của họ đợc định đoạt tại đó, tại ĐàiLoan” [58; 6] Ban đầu, Mĩ đã gửi riêng cho 53 n ớc hữu quan bản dựthảo hòa ớc trong đó có cả Đài Loan Mĩ cho rằng, không có gì có thểthực hiện đợc nếu không có sự chấp thuận của Mĩ Chính quyền Mĩmuốn thông qua Đài Loan để khống chế Trung Quốc và cản trở quyềnlợi hợp pháp của Trung Quốc tại Liên Hợp Quốc Mĩ không thể từ bỏ
Đài Loan vì nếu từ bỏ thì các nớc đồng minh của Mĩ kể cả Nhật Bản sẽ
đứng về phía Trung Quốc Một khi Trung Quốc mà giải phóng đ ợc ĐàiLoan thì sẽ nhanh chóng trở thành đối thủ duy nhất của Mĩ tại châu á
Mĩ đã vi phạm nguyên tắc quốc tế do chính mình luôn miệng rao giảng
“tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không xâm phạm nhau,không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau ” [60] Trong thời kìnày Mĩ còn “chơi con bài” Đài Loan để ngăn chặn sự bành tr ớng củaLiên Xô, ngăn chặn sự lớn mạnh của chủ nghĩa cộng sản ở châu á(Trung Quốc), Mĩ không ngần ngại sử dụng quyền phủ quyết để ngăn
Trang 22chặn Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thảo luận cái gọi là “địa vị ĐàiLoan” Bởi vì mục đích của Mĩ không chỉ là bảo vệ Đài Loan tr ớc ĐạiLục mà còn muốn duy trì địa vị quốc tế của chính phủ Đài Loan tạiLiên Hợp Quốc Mĩ tính toán rằng, nếu tình hình Đài Loan căng thẳngthì có thể thông qua các nớc khác, lấy lí do hòa bình đang bị đe dọayêu cầu Liên Hợp Quốc cải tổ, tổ chức cho dân chúng đi bỏ phiếu d ới
sự giám sát của Liên Hợp Quốc và thông qua Liên Hợp Quốc để quyết
định tơng lai của Đài Loan thuộc về ai” Mĩ còn động viên nhà cầmquyền Quốc dân Đảng và tổ chức “phong trào đòi độc lập Đài Loan”,nếu cả hai lực lợng này liên minh lại với nhau đứng ra kêu gọi LiênHợp Quốc hành động, bằng mọi cách yêu cầu họp Hội nghị bất th ờngcủa Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc, Mĩ sẽ đứng ra dàn xếp và tuyênbố: “nhà cầm quyền Trung Quốc thực hiện quyền cai trị ở Đài Loan làkhông thích hợp, họ mất t cách quản lí, Đài Loan đợc tạm thời xác
định khi Nhật đầu hàng Vì vậy, nhân dân Đài Loan có quyền bỏ phiếukín để quyết định vấn đề Đài Loan thuộc về Đài Loan hay thuộc quyền
ủy nhiệm cho ngời khác quản lí trớc khi Đài Loan có tự coi là độc lập”[31; 10]
Qua đó càng đã lộ rõ dã tâm của Mĩ, muốn đợc là ngời bảo hộcho Đài Loan, biến Đài Loan thành một căn cứ của Mĩ để thực hiệnnhững kế hoạch của Mĩ tại khu vực châu á - Thái Bình Dơng sau này
Trớc âm mu chia cắt của Mĩ, Trung Quốc lên tiếng phản đốimạnh mẽ và cho rằng: Mĩ đã vi phạm nguyên tắc quốc tế, vấn đề ĐàiLoan là vấn đề nội bộ của ngời Trung Quốc, không một nớc nào haymột tổ chức quốc tế nào có quyền can thiệp Một lần nữa “vấn đề ĐàiLoan” lại đợc đa ra thảo luận sội nổi tại Liên Hợp Quốc Liên Xô vàAnh lên tiếng phản đối Mĩ, tuy nhiên cuối cùng thì Anh lại đ a ra “vănbản thảo luận địa vị của Đài Loan đình lại không kì hạn” Việc làm đócủa Anh xuất phát từ việc, nớc Anh lo ngại rằng: “khi Đài Loan đợcgiải phóng, số lợng vũ khí rất lớn mà Mĩ viện trợ cho T ởng Giới Thạchtrong cuộc nội chiến ở Trung Quốc sẽ rơi vào tay cộng sản thì quyềnlợi của Anh tại Hongkong sẽ bị đe dọa” [31; 10]
Pháp đang cần sự ủng hộ của Mĩ tại cuộc chiến tranh Đông D
-ơng, nên tuy không ủng hộ lắm ý tởng của Mĩ nhng lại không ra mặtphản đối
Liên Xô, chủ trơng công bằng và cho rằng: “Quốc dân Đảngkhông thể thay mặt cho Trung Quốc tại Liên Hợp Quốc” Nh ng cuốicùng Liên Xô (với t cách Chủ tịch Đại hội đồng bảo an Liên HợpQuốc) cũng lại đồng ý khi Anh đ a ra “văn bản thảo luận địa vị ĐàiLoan đình lại không kì hạn”
Tởng tuy là đồng minh của Mĩ nhng cũng không nhất trí với Mĩ.Tởng Giới Thạch cho rằng: “Liên Xô và Mĩ nhất định sẽ đánh nhau,
Trang 23nh thế đại chiến thế giới thứ 3 sẽ bùng nổ, qua đó T ởng sẽ thực hiện
“giấc mộng” “thu hồi Đại Lục của mình” Vì vậy, Tởng đã không đồng
ý tách rời Đài Loan ra khỏi Đại Lục, mà chỉ yêu cầu Mĩ “dốc toàn lựcủng hộ mình với t cách là đại diện của toàn Trung Quốc” [57; 11]
Có thể nói, ngay từ năm 1949 “vấn đề Đài Loan” đã trở thành nơicho các nớc lớn thực hiện các mục đích riêng của mình tại Liên HợpQuốc Mĩ muốn thông qua Liên Hợp Quốc để khỏi bị d luận thế giớilên án hành động xâm lợc Trung Quốc Anh muốn qua vấn đề ĐàiLoan tại Liên Hợp Quốc để củng cố địa vị của mình tại Hongkong.Pháp cần sự ủng hộ của Mĩ tại cuộc chiến ở Đông D ơng nên đã thểhiện một thái độ “lấp lửng” đối với vấn đề Đài Loan Liên Xô ủng hộTrung Quốc trong vấn đề Đài Loan để có thêm một đồng minh chống
Mĩ Tởng Giới Thạch muốn dựa vào Mĩ để bảo vệ Đài Loan và chờ cơhội sẽ tấn công Đại Lục Còn với ngời Trung Quốc, vấn đề Đài Loan làvấn đề của sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của một quốc gia có chủquyền, cho nên sự can thiệp của Mĩ đối với một vấn đề thuộc về nội bộcủa họ là không thể chấp nhận đợc Cho nên, đã dẫn đến sự nảy sinh
“vấn đề Đài Loan trong quan hệ Mĩ – Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa”
và nhanh chóng trở thành vấn đề nhạy cảm nhất trong mối quan hệ củahai cờng quốc trong hiện tại và cả tơng lai sau này
Sự đụng độ đầu tiên về quân sự trong quan hệ Mĩ - Trung làtrong cuộc chiến tranh Triều Tiên (1950-1953)
Năm 1950, cuộc chiến tranh giữa hai miền Nam - Bắc Triều Tiên bùng
nổ đã khiến nớc Mĩ không chỉ phải can dự để bảo vệ Nam Triều Tiên mà cònthể hiện cả hành động đó đối với Đài Loan, thậm chí, trớc khi Trung Quốc canthiệp vào Bắc Triều Tiên Ngày 27 – 6 - 1950, Tổng thống Truman tuyên bố
điều Hạm đội 7 tới với nhiệm vụ “trung lập hóa” eo biển Đài Loan và bảo vệhòn đảo này không bị tấn công Đồng thời lực lợng không quân 13 cũng đợclệnh tới thiết lập căn cứ quân sự ở Đài Loan Cuộc chiến tranh ở Triều Tiênthực chất là cuộc đối đầu của hai phe t bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa màchủ yếu là Mĩ và Trung Quốc với sự hậu thuẫn của Liên Xô Trớc đó, vào năm
1948, lực lợng thân Mĩ ở Nam Triều Tiên đã tiến hành một cuộc bầu cử riêng
rẽ và thông qua hiến pháp (7 - 1948) đa Lý Thừa Văn lên làm Tổng thống nớc
Đại hàn Dân quốc (Hàn Quốc) Liền ngày hôm sau Mĩ đã thừa nhận chính phủNam Triều Tiên Với danh nghĩa là quân đội của Liên Hợp Quốc, Mĩ đã lôikéo các đồng minh tham gia vào cuộc nội chiến ở Triều Tiên Quân tìnhnguyện Trung Quốc cùng với sự hậu thuẫn về mọi mặt của Liên Xô đã sátcánh cùng quân đội Bắc Triều Tiên chiến đấu Sau 3 tháng chiến tranh, quân
đội Bắc Triều Tiên đã vợt qua vĩ tuyến 38 Cùng thời gian này, Mĩ đã cho máybay oanh tạc vùng Đông Bắc Trung Quốc và các thành phố lân cận, uy hiếpnền độc lập dân tộc và an ninh Trung Quốc Sau 3 năm chiến tranh hao ngờitốn của đến tháng 7 - 1953, tại Hội nghị quân sự Bàn Môn Điếm, hai bên kí
Trang 24hiệp định đình chiến lấy vĩ tuyến 38 làm gianh giới quân sự tạm thời (tức làranh giới cũ trớc chiến tranh).
Lợi dụng việc chống đối của Tởng Giới Thạch và Quốc dân Đảng
ở Đài Loan đối với chính quyền Trung Hoa Đại lục, Mĩ đã tìm cáchgiúp đỡ Tởng Giới Thạch về nhiều mặt nhằm xây dựng Đài Loan trởthành một căn cứ chống lại Trung Quốc Đại lục Tr ớc Chiến tranh thếgiới thứ nhất, Đài Loan là thuộc địa của phát xít Nhật, trong Chiếntranh thế giới thứ hai, tuyên ngôn Cairô đã nêu rõ: “Nhật phải trao trả
Đài Loan và những đảo quanh Đài Loan cho Trung Quốc” Nh vậy, ĐàiLoan và các đảo xung quanh Đài Loan từ năm 1945 sẽ thuộc về chủquyền của Trung Quốc, việc chính phủ Mĩ giúp đỡ Đài Loan là sai vớiluật pháp quốc tế, chứng tỏ Mĩ đã nuôi âm m u thiết lập Đài Loan thànhmột quốc gia độc lập riêng rẽ với chính quyền Trung Hoa Sự thật nàychứng tỏ Mĩ đã cố tình ngăn cản việc thống nhất đất n ớc của TrungQuốc
Từ đó, việc giải quyết vấn đề Đài Loan không phải chỉ là côngviệc của Đài Loan và Trung Hoa Đại lục, mà còn có sự can thiệp của
Mĩ với một vai trò không kém phần quan trọng Cho đến ngày nay vấn
đề Đài Loan vẫn cha đợc giải quyết một cách thỏa đáng Trung Quốccho rằng: Đài Loan là một bộ phận của lãnh thổ Trung Quốc, giảiquyết vấn đề Đài Loan là công việc nội bộ của ng ời Trung Quốc Song
Mĩ không những không tôn trọng nguyên tắc đó mà ng ợc lại Mĩ đã tìmmọi cách để có thể chia cắt đất nớc Trung Quốc độc lập
Nh vậy, cuộc xung đột giữa lực lợng Mĩ và Trung Quốc trênchiến trờng Triều Tiên, cùng với các hoạt động bảo vệ Đài Loan của
Mĩ tại Liên Hợp Quốc, đồng thời Hiệp ớc liên minh Xô - Trung kítháng (1 - 1950), Trung Quốc tuyên bố “nhất biên đảo” ngả hẳn lập tr -ờng về phía Liên Xô, ra mặt chống đối Mĩ là những nguyên nhân cơbản dẫn tới quan hệ đối địch giữa Mĩ và Trung Quốc, Vấn đề Đài Loan
đợc coi là trở ngại lớn nhất trong quan hệ hai nớc
Tuy nhiên, với xu thế hội nhập, cùng với tiến trình toàn cầu hóadiễn ra ngày càng mạnh mẽ, không có quốc gia nào nằm ngoài quy luậtkhách quan đó kể cả những cờng quốc lớn nh Mĩ - Trung Quốc Chonên quan hệ Mĩ - Trung về vấn đề Đài Loan trong hơn 50 năm quakhông chỉ mang tính đối đầu, mà có giai đoạn trở lại bình th ờng với xuthế hợp tác và phát triển
1.3 Tiểu kết chơng 1:
Có thể nói, vấn đề Đài Loan đã có từ rất lâu trong lịch sử quan
hệ của Trung Quốc với Mĩ, Nhật Bản và các nớc phơng Tây Một trongnhững lí do mà Mĩ, Nhật Bản, phơng Tây cùng quan tâm đến Đài Loan
là do vị trí chiến lợc quan trọng của hòn đảo này, tuy nhiên vấn đề Đài
Trang 25Loan chỉ thực sự xuất hiện và trở thành điểm nhạy cảm nhất trong quan
hệ Mĩ – Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa bắt nguồn từ việc Mĩ muốn sửdụng hòn đảo này một cách lâu dài để phục vụ lợi ích nhiều mặt của
Mĩ đối với khu vực châu á - Thái Bình Dơng và để thực hiện mục đíchcủa mình, Mĩ đã thi hành những âm mu lớn nh: ngăn chặn chiến thắngcủa Cách mạng Nhân dân Trung Quốc, ngăn chặn sự ra đời của Cộnghòa Nhân dân Trung Hoa, trực tiếp can thiệp vào cuộc nội chiến ởTrung Quốc (1947 – 1949) thông qua việc giúp đỡ cho chính quyềnTởng Giới Thạch Khi chính quyền này thất trận chạy ra Đài Loan,
Mĩ vẫn tiếp tục giúp đỡ Quốc dân Đảng trấn giữ tỉnh Đài Loan Vì đếnthời điểm này Mĩ lại muốn dùng Đài Loan để làm “đòn bẩy” chốngTrung Quốc, ngăn chặn sự phát triển của chủ nghĩa cộng sản ở châu á.Việc Cộng sản nắm quyền ở Trung Quốc đã đe dọa trực tiếp đến lợi íchcủa Mĩ ở vùng Viễn Đông và Thái Bình Dơng, nên Mĩ phải tìm mọicách ngăn cản Trung Quốc thống nhất Bởi vì, Trung Quốc thống nhấtcũng có nghĩa là sẽ xuất hiện một “Liên Xô mới” ở khu vực châu á -Thái Bình Dơng và vai trò của Mĩ ở đây sẽ bị đe dọa nghiêm trọng.Trong khi đó đối với Trung Quốc việc thống nhất đất n ớc, bảo vệ chủquyền lãnh thổ có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển củaTrung Quốc cũng nh vai trò và vị thế của một nớc lớn trong khu vực
và trên thế giới Xuất phát từ những nguyên nhân đó mà vấn đề ĐàiLoan đã trở thành vấn đề trực tiếp ảnh h ởng tới quan hệ Mĩ – Cộnghòa Nhân dân Trung Hoa từ những năm 50 của thế kỉ XX đến nay
Trang 26Chơng 2
Vấn đề Đài Loan trong quan hệ Mĩ – Cộng hòa nhân
dân Trung hoatừ 1949 đến 1972
2.1 Những nhân tố chi phối đến vấn đề Đài Loan trong quan
hệ Mĩ – Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa từ năm 1949 đến năm 1972.
2.1.1 Nhân tố địa – chính trị của Đài Loan.
Đài Loan có vị trí địa chiến lợc vô cùng quan trọng đối vớiTrung Quốc Nó nằm ở trung tâm Đông á - Tây Thái Bình Dơng, là
đầu mối giao thông giữa Đông Bắc á và Đông Nam á Mọi tuyến giaothông trên biển từ Nhật Bản, Bán đảo Triều Tiên và vùng duyên hảiphía Đông Trung Quốc, vùng Biển Đông của Liên Bang Nga đến
Đông Nam á, ấn Độ Dơng, Thái Bình Dơng, Trung Đông đều đi qua
eo biển Đài Loan Đài Loan nằm ở phần kết hợp giữa đại lục á - Âu vàThái Bình Dơng, đúng vào phần tiếp giáp của hai trung tâm quyền lựcchính trị địa duyên hải lớn là quyền địa lục và quyền biển Từ ĐàiLoan có thể thông qua biển Nhật Bản vào Đông Hải đi về phía TâyBắc, qua Biển Đông có thể vào ấn Độ Dơng, đi về phía nam qua biểnXura Weisi có thể đến Đại Tây Dơng Với vị trí chiến lợc quan trọngnày, ai khống chế đợc Đài Loan có thể không chế cả vùng Tây TháiBình Dơng Kiểm soát đợc Đài Loan, Trung Quốc có thể phát huy sứcmạnh ở 3 khu vực: Đông Bắc á, Đông Nam á và Thái Bình Dơng.Trung Quốc sẽ thoát khỏi sự hạn chế của một quốc gia lục địa truyềnthống để trở thành một quốc gia đại dơng
Đài Loan cách sông áp Lục 900 hải lý về phía Nam, cáchquần đảo Trờng Sa (ở Biển Đông) 800 hải lý về phía Bắc Vị trí địa lý
tự nhiên u việt đã đem lại cho bán đảo Đài Loan một giá trị quân sựlớn Nếu đặt một lực lợng hải quân hiện đại ở Đài Loan có thể thựchiện một cuộc tấn công đợc huy động đầy đủ khắp các vùng biển lãnhthổ và xung quanh Trung Quốc trong vòng một thời gian ngắn Bảnthân Đài Loan là một căn cứ quân sự có giá trị đối với vùng duyên hảicủa Đại Lục và cả với toàn bộ khu vực Đông Nam á
Ngay vào giữa thế kỉ XIX, ngời Mĩ đã muốn thôn tính Đài Loan
và dùng Đài Loan làm bàn đạp cho sự bành tr ớng của Mĩ ở Viễn Đông.Năm 1844 Mĩ – Trung đã kí với nhau một bản hiệp ớc mang tên
“Hiệp ớc Vọng Hạ” Vị trí chiến lợc quan trọng của Đài Loan là nằmtrên đờng biển đi từ Caliphoocnia của Mĩ đến Hạ Môn, cho nên ĐàiLoan sẽ là nơi “dừng chân” là “hậu cần” lý t ởng nhất cho các tàu của
Mĩ [18,2] Hiệp ớc Vọng Hạ là một hiệp ớc bất bình đẳng đầu tiên mà
Trang 27triều đình Mãn Thanh ký với Mĩ và là “b ớc đệm” cho Mĩ từng bớc lấnchiếm Đài Loan sau này.
2.1.2 Nhân tố quốc tế.
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, tình hình thế giới có những biếnchuyển sâu sắc, chủ nghĩa phát xít bị đánh bại, nh ng các nớc thắngtrận (trừ Mĩ) đều bị tàn phá nặng nề Mĩ trở thành n ớc mạnh nhất với
dự trữ vàng chiếm 2/3 dự trữ vàng của thế giới, đặc biệt sau chiếntranh Mĩ là nớc độc quyền về bom nguyên tử Tình hình đó đặt Mĩ tr ớcthời cơ ngàn năm có một để thực hiện tham vọng bá chủ thế giới củamình
Tuy nhiên, sau Chiến tranh thế giới hai, cách mạng thế giới lạiphát triển rất mạnh mẽ Một thời gian sau chiến tranh, ảnh h ởng củaLiên Xô không ngừng mở rộng, đặc biệt chiến tranh giải phóng củanhân dân Trung Quốc liên tiếp giành thắng lợi, trực tiếp ảnh h ởng đếnlợi ích chính trị của Mĩ ở châu á, làm cho đế quốc Mĩ rất lo sợ Đểngăn chặn “dòng thác đỏ”, năm 1946, Hội nghị tham m u trởng liênquân Mĩ đã định ra kế hoạch quân sự, dời “c ơng giới” về phía tây nớc
Mĩ, quyết định xây dựng xung quanh Guam phòng tuyến ngoại vi TháiBình Dơng của Mĩ, cùng với quần đảo Ruy Kuy của Nhật và Philippinhình thành tuyến phòng thủ phía trớc của khu vực châu á - Thái Bình D-
ơng Năm 1947, Chủ tịch Hội đồng chính sách Quốc vụ viện Mĩ Kennanlại nêu lên t tởng tiến hành “chiến tranh lạnh” đối với Liên Xô, chủ tr ơng
sử dụng chính sách “ngăn chặn bao vây”, “kiên quyết chống trả Liên Xô
ở bất kì nơi nào Liên Xô có thể đe dọa lợi ích các n ớc phơng Tây” Kếhoạch và t tởng ấy đợc tổng thống Truman chấp nhận Cho nên “chiến l-
ợc ngăn chặn” với phơng thức chủ yếu là bao vây, đợc thúc đẩy thựchiện trên toàn cầu
Để thực hiện kế hoạch và t tởng trên đây, về kinh tế, Mĩ bắt đầugiúp đỡ Nhật Bản và các nớc có liên quan: về quân sự, tăng cờng khốngchế khu vực châu á - Thái Bình Dơng đặc biệt là khống chế quân sự đốivới Nhật Bản ít lâu sau, Hạm đội 7 của Hạm đội Thái Bình D ơng của Mĩtiến vào Nhật Bản, chiếm giữ các quần đảo Ruy Kuy, Yua, Ogasaoara màtrớc đây Nhật Bản đã thống trị, cùng với các quần đảo Mariana, Caralin,Macsan, cũng nh nhiều đảo nằm rải rác ở miền giữa Thái Bình Dơng, tấtcả hơn 2000 đảo Mặc dù diện tích các đảo này không lớn nh ng có vị tríchiến lợc quan trọng Mĩ đã xây dựng căn cứ quân sự trên một số đảo chủyếu Đồng thời, Mĩ còn chiếm của Nhật Bản và Hàn Quốc, Philippin vànhiều căn cứ hải quân, không quân thuộc khu vực thống trị của Quốc dân
Đảng Trung Quốc
Năm 1949, sau khi nớc Trung Hoa mới đợc thành lập, Mĩ đã mấtcăn cứ quân sự trên Đại lục Trung Quốc Để ngăn ngừa xuất hiện “lỗ
Trang 28thủng”, Mĩ liền bắt tay xây dựng các căn cứ quân sự sát gần Trung Quốc.
Đài Loan là một trong những căn cứ quân sự quan trọng, đồng thời là
“tấm là chắn” của Mĩ ngăn cản Trung Quốc Đại lục tiến ra bên ngoài.Cho nên trong thời gian này Mĩ đã ra sức giúp đỡ chính quyền Tởng GiớiThạch xây dựng Đài Loan trở thành một “hàng không mẫu hạm khôngthể bị đánh chìm” của Mĩ Ngoài ra Mĩ còn xây dựng căn cứ quân sự ởThái Lan, Pakistan Theo thống kê lúc ấy, Mĩ có khoảng 195 căn cứquân sự và cơ sở chủ yếu ở khu vực châu á- Thái Bình Dơng, chiếmkhoảng 42,7% tổng số căn cứ và cơ sở chủ yếu của Mĩ ở nớc ngoài
Từ năm 1949 đến 1953, Liên Xô lần lợt cho thử thành công bomhạt nhân và bom khinh khí, phá thế độc quyền nguyên tử của Mĩ, nh ng
Mĩ vẫn chiếm u thế tuyệt đối về số lợng vũ khí hạt nhân và phơng thứcném bom Do đó chính phủ Aisenhao bắt đầu thúc đẩy chiến lợc “trả đũa
ồ ạt”, dựa nhiều vào lực lợng hạt nhân, ra sức mở rộng căn cứ quân sự ởnớc ngoài, xây dựng thêm căn cứ máy bay ném bom chiến l ợc Nhật Bản,Okinaoa và Guam, xây dựng căn cứ quân sự tầm trung ở Hàn Quốc,Okinaoa và Đài Loan, tiến hành “bao vây nhân lực” đối với các n ớcXHCN ở châu á Để đảm bảo dây xích đối phó với các n ớc XHCN hoàntoàn chắc chắn, đầu thập kỉ 50 của thế kỉ XX Mĩ đã lần lợt kí với các nớccủa “dây xích” chủ yếu ở khu vực châu á - Thái Bình Dơng một số hiệp -
ớc đồng minh quân sự
Năm 1950, để bóp chết nớc Trung Quốc mới, dập tắt ngọn lửa cáchmạng dân chủ nhân dân ở khu vực châu á, đa lực lợng chống cộng vàochiến lợc toàn cầu của Mĩ, Mĩ đã công khai lao vào cuộc chiến tranhTriều Tiên Ngày 3 – 7 - 1950 Liên Hợp Quốc do Mĩ thao túng thôngqua nghị quyết thành lập “Đội quân Liên Hợp Quốc” do Mĩ chỉ huy Độiquân này đã tập hợp 14 nớc theo đuôi tham chiến nh: Pháp, Ôxtơrâylia,Canađa, Niu Dilân, Nam Phi, Hi Lạp, Côlômpia, Hà Lan, Bỉ, Lucxămbua,Thái Lan, Philippin, Thổ Nhĩ Kì, Êtiôpia Theo tính toán, Mĩ đã đ a vào1/3 tổng số binh lực lục quân, hải quân, không quân, chi phí quân sự trựctiếp 20 tỉ USD, vật t tác chiến 7300 tấn, sử dụng tất cả vũ khí hiện đại,trừ bom hạt nhân
Cuộc chiến tranh Triều Tiên sau khi kéo dài 3 năm, đại biểu đàmphán của Mĩ không thể không kí hiệp định đình chiến vào ngày 27 –7 -
1953 Đối với nhân dân Trung - Triều, ngày ấy rất đáng chúc mừng, quân
đội nhân dân Trung - Triều trong thời gian 3 năm 32 ngày đã tiêu diệt1.093.839 tên địch (trong đó quân Mĩ có 397.543 tên), bắn chìm và bắn
bị thơng 257 chiến hạm địch, thu đợc hơn 10 vạn các loại vũ khí và xe
cộ Thắng lợi đã thuộc về quân đội của nhân dân Trung - Triều N ớcCộng hòa nhân dân Triều Tiên đợc củng cố vững chắc Thắng lợi củanhân dân Trung - Triều có tính chất lịch sử trọng đại, đánh bại c ờng quốc
đầu sỏ của thế giới t bản chủ nghĩa, đập tan thần thoại nớc Mĩ bất khả
Trang 29chiến bại, nghiền nát âm mu của chủ nghĩa đế quốc Mĩ dùng Hàn Quốclàm bàn đạp thôn tính Triều Tiên và bóp chết n ớc Cộng hòa Nhân dânTrung Hoa non trẻ, đã làm suy yếu địa vị bá quyền của Mĩ, cổ vũ tinhthần đấu tranh giành độc lập dân tộc của nhân dân châu á và nhân dânthế giới Chính trong cuộc chiến tranh này quan hệ giữa Mĩ và TrungQuốc đã xấu đi một cách nghiêm trọng, đặc biệt đối với việc giải quyếtvấn đề Đài Loan.
Từ cuối thập kỉ 50 tình hình thế giới và khu vực có những biến
đổi Thực dân Pháp đợc sự giúp đỡ của Mĩ, đã bị nhân dân Đông Dơnggiáng những đòn nặng nề buộc phải rút lui khỏi khu vực này Để thay thế
địa vị của Pháp, Mĩ bắt đầu ủng hộ tập đoàn Ngô Đình Diệm ở Việt Nam.Kennơđi khi còn là nghị sĩ đã nói: Việt Nam là “hòn đá tảng, là chiếc cầuvòm, và là nơi xung yếu của con đê, của thế giới tự do ở Đông Nam á”,
ông ta cho rằng, “chiến lợc trả đũa ồ ạt của chính phủ Aixenhao là mộtchiến lợc “vừa không dám đánh lớn, cũng không thể đánh nhỏ” Cần phải
định ra một chiến lợc mới để chỉ đạo hành động Mĩ Một thời gian ngắnsau khi lên làm Tổng thống, Kennơđi đề ra “chiến l ợc phản ứng linhhoạt”, chủ trơng đánh các loại chiến tranh, bao gồm chiến tranh hạt nhân,chiến tranh thông thờng và chiến tranh đặc biệt; thực hiện leo thang từngbớc chiến tranh - đàn áp phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới,chống lại ảnh hởng của Trung Quốc, tranh giành phạm vi thế lực với LiênXô Do đó, chính phủ Kennơđi đã phái đoàn khảo sát quân sự do một t -ớng Mĩ cầm đầu đến Việt Nam Kết quả khảo sát là, nếu Mĩ đ a quân độisang, không đến nửa năm có thể tiêu diệt đợc Việt cộng Sau đó hàngngàn cố vấn quân sự đợc cử sang Nam Việt Nam, và đa vào Nam ViệtNam rất nhiều vũ khí, trang bị tiên tiến Nh vậy, đã bắt đầu “cuộc chiếntranh đặc biệt” do Mĩ đa ngời, bỏ tiền và cung cấp trang bị, chỉ huy vàhuấn luyện quân đội Nam Việt Nam để chống lại đội du kích Nam ViệtNam Nhng tiến trình chiến tranh hoàn toàn nằm ngoài dự kiến của đoànkhảo sát Cuộc đấu tranh chống Mĩ của nhân dân Nam Việt Nam ngàycàng quyết liệt, quy mô không ngừng mở rộng, khiến Mĩ ngày càng “salầy”
Cuộc chiến tranh Việt Nam ngày càng kéo dài, sự bố trí binh lựccủa chiến lợc toàn cầu Mĩ bắt đầu “giật gấu vá vai”, hai tuyến Đông -Tây khó cùng một lúc kiểm soát nổi, mặt trận châu á ngày càng mởrộng, hình thành tình hình rất không bình thờng là “trọng điểm thì yếu,
điểm thứ yếu thì mạnh” Đến năm 1969, lực lợng quân đội Mĩ đóng ởchâu á lên đến 90 vạn ngời, gấp 4 lần so với đóng ở châu Âu, trong đóquân đội xâm lợc đóng ở Nam Việt Nam trên 50 vạn ng ời Có 230 căn
cứ quân sự ở châu á, dự chi quân sự tăng lên đến 81,2 tỉ USD, chiếm trên40% toàn bộ chi ngân sách, trong đó tỉ trọng chi phí cho chiến tranh ViệtNam ngày càng tăng lên Trong lúc ấy, Liên Xô thừa cơ vùng lên, trở
Trang 30thành một nớc lớn về quân sự và kinh tế, ra sức tranh giành châu Âu, tíchcực tiến hành thâm nhập kinh tế và khuyếch tr ơng quân sự ở Trung Đông
và châu Phi Ngời Mĩ vẫn theo dõi ý đồ của Liên Xô, nh ng lúc ấy không
đủ sức làm theo ý muốn của mình Chiến lợc toàn cầu của Mĩ từ đấy đãchuyển sang bị động
Theo thống kê, trong chiến tranh xâm lợc Việt Nam, Mĩ đã thiệthại 253 tỉ USD, hơn gấp đôi chiến tranh Triều Tiên, nhiều hơn 10 tỉ sovới tổng chi phí trong Chiến tranh thế giới thứ hai Tổn thất nặng nề vàchi phí quân sự quá lớn đã làm rối loạn kế hoạch xâm l ợc của Mĩ, làmsuy yếu binh lực khu vực trọng điểm châu Âu của Mĩ, làm rối loạn nặng
nề chiến lợc của Mĩ
Sau thập kỉ 60, vị trí của Mĩ trong thế giới t bản chủ nghĩa giảm sút
rõ rệt, mâu thuẫn chính trị ở trong nớc ngày càng gay gắt, xuất hiện tổngkhủng hoảng chính trị, kinh tế và xã hội cha từng có, trong khi đó phongtrào chống chiến tranh của nhân dân ngày càng cao Năm 1969, khiNixơn lên làm Tổng thống, thâm hụt ngân sách của Mĩ tăng vọt, tỉ lệ ng -
ời thất nghiệp liên tục tăng lên, lạm phát tiền tệ căng thẳng, mâu thuẫngiai cấp gay gắt Bớc vào thập kỉ 70, thực lực của Liên Xô, đặc biệt là hảiquân, không quân không ngừng lớn mạnh, liên tiếp có những cuộc diễntập quân sự cỡ lớn trên Biển Thái Bình D ơng Hạm đội hải quân Liên Xôqua lại tự do dới con mắt của ngời Mĩ, tầu ngầm hạt nhân Liên Xô thậmchí ngang nhiên chạy qua chạy lại trớc cửa nớc Mĩ
Bối cảnh quốc tế và khu vực nh vậy đã tạo điều kiện thuận lợi choNhật Bản Có thể nói Nhật Bản là quốc gia đ ợc lợi nhất trong giai đoạnnày Nhật Bản đợc miễn vé đáp lên “tàu ngăn chặn”, họ lợi dụng cơ hộichiến tranh, tranh thủ “bơm dòng máu tơi” cho nền kinh tế đang gặp khókhăn trầm trọng của mình Mĩ xâm lợc Triều Tiên, xâm lợc Việt Nam đãtạo vận hội và điều kiện có tính chất lịch sử cho kinh tế Nhật Bản vùnglên Hàng loạt đơn đặt hàng vật t đã kích thích nền kinh tế Nhật Bản, làmcho nền kinh tế Nhật Bản dới sự giúp đỡ của “ngời chinh phục”, dần dần
đợc phục hng Theo thống kê không đầy đủ, trong cả cuộc chiến tranhTriều Tiên, Mĩ đã chi phí 18 tỉ USD, riêng Nhật Bản đã cung cấp hàngmấy tỉ vật t quân dụng Trong chiến tranh Việt Nam Mĩ đã phải chi phírất lớn lên tới 165 tỉ USD, phần lớn số tiền này chi tiêu ở Nhật Bản NhậtBản đợc rất nhiều tiền nhng không phải đánh nhau, chỉ lo ra sức xâydựng kinh tế “dới ô” bảo hộ của Mĩ Tổng giá trị quốc dân của Nhật Bảnnăm 1955 đã khôi phục mức trớc chiến tranh Từ năm 1955 - 1957 tốc độtăng trởng của tổng giá trị quốc dân Nhật Bản đạt 7% Từ năm 1959 -
1961 tốc độ tăng gần 10%, năm 1961 tổng giá trị sản phẩm v ợt qua 50 tỉUSD Tổng giá trị sản phẩm năm 1966 vợt qua 100 tỉ USD, năm 1970 vợtqua 200 tỉ USD
Trang 31Trong thời kì chiến tranh lạnh, Mĩ bất chấp thơng vong, đã gây rahai cuộc chiến tranh cục bộ và đều thất bại Tuy nhiên, Mĩ không từ bỏtruyền thống tiếp tục can thiệp vào công việc nội bộ của các châu á, sửdụng các biện pháp chính trị, quân sự, đặc biệt là kinh tế, để duy trì địa
vị chủ đạo của Mĩ ở khu vực châu á - Thái Bình Dơng và theo đuổi mục
đích đến cùng của mình
2.1.3 Chính sách của Mĩ
Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, để thực hiện tham vọng củamình, Mĩ đã lôi kéo đồng minh phát động chiến tranh lạnh chống lạiLiên Xô và các nớc xã hội chủ nghĩa Tháng 3 - 1947 Mĩ đề ra “Chủnghĩa Truman”, lấy nguy cơ cộng sản làm ngọn cờ tập hợp lực l ợng,thành lập một loạt liên minh kinh tế, chính trị quân sự trên toàn cầu nh
kế hoạch Marshall (1947), Rio (9 - 1947), thành lập các tổ chức quân sựnh: NATO (4 - 1949), ANZUS (9 - 1951), SEATO (1954), khắp nơitrên toàn thế giới, kí kết các hiệp định an ninh song ph ơng với nhiều nớc
để “ngăn chặn cộng sản”, làm cho tình hình thế giới lúc bấy giờ hết sứccăng thẳng Chính trong bối cảnh đó nớc Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
ra đời (1 – 10 - 1949), trở thành một đối trọng lớn buộc Mĩ phải quantâm
Việc thành lập nớc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, đánh dấu thờikì cầm quyền của “Trung Hoa dân quốc” đã kết thúc ở Đại Lục Nh ngviệc thành lập nớc Trung Quốc mới vẫn cha thể đặt dấu chấm hết đối vớithế lực Quốc dân Đảng Ngày 8 – 12 - 1949, chính phủ Quốc dân Đảngrơi rớt lại ở Đại Lục chính thức chuyển sang Đài Loan Thành phần này
có ý dựa vào Eo biển Đài Loan để cùng Đảng Cộng sản Trung Quốc đọsức đến cùng Tập đoàn Tởng Giới Thạch lúc mới sang Đài Loan chínhtrị còn trong tình trạng bấp bênh và ỷ lại vào Mĩ Do mất lòng tin vớiQuốc dân Đảng, có lúc Mĩ muốn bỏ rơi Tởng Giới Thạch để nhen nhómnhững thế lực thân Mĩ khác nh Ngô Quốc Trinh, Tôn Lập Nhân
Cuối tháng 12 - 1949, Cục tình báo Trung ơng Mĩ tính rằng, Quốcdân Đảng đã mất toàn bộ Đại Lục, Đài Loan đã rơi vào tay Đảng Cộngsản, vấn đề tiếp theo chỉ là thời gian Cục tình báo Trung ơng Mĩ cũngnhận đợc tin: “Đảng Cộng sản Trung Quốc đã đặt việc giải phóng ĐàiLoan thành nhiệm vụ giải phóng quan trọng hàng đầu Đồng thời, họluôn lập doanh trại và tập kết chiến thuyền, dự trữ xăng dầu và huấnluyện quân đội” Mĩ phán đoán, “đại thể đến cuối những năm 50, TrungQuốc sẽ khống chế đợc Đài Loan”
Do đó, Tổng thống Truman quyết định chuẩn bị bỏ Đài Loan, tiếpnhận sự thực: “Trung Quốc có thể tiếp nhận Đài Loan” Ngày 5 – 1 -
1950 Truman tuyên bố, tỏ rõ thái độ Mĩ không can thiệp vào vấn đề ĐàiLoan Nhng phía quân đội Mĩ và Quốc hội thì cho rằng, Đài Loan rấtquan trọng với Mĩ, không thể dễ bỏ, nếu bỏ Đài Loan thì nguy cơ ảnh h-
Trang 32ởng của Mĩ ở khu vực châu á - Thái Bình Dơng sẽ bị đe dọa bởi sự lớnmạnh và thống nhất của nớc Trung Quốc non trẻ Với áp lực của quân đội
và Quốc hội, Truman bắt đầu dùng “con bài Đài Loan” để kiềm chế n ớcTrung Quốc mới
Sau khi giành đợc độc lập Trung Quốc tuyên bố sẽ tiến lên xâydựng đất nớc theo con đờng chủ nghĩa xã hội Trung Quốc là nớc có dân
số đông nhất thế giới, diện tích rộng lớn có tiềm năng kinh tế dồi dào Mĩbiết rằng nếu Trung Quốc đi theo con đờng chủ nghĩa xã hội thì chắcchắn sẽ đe dọa nghiêm trọng đến địa vị của mình Vì tham vọng báquyền thế giới, chống lại chủ nghĩa xã hội, bằng mọi cách Mĩ đã nuôi âm
mu kiềm chế và tiêu diệt chủ nghĩa xã hội ở Trung Quốc
Sau khi cách mạng Trung Quốc thắng lợi, Tởng Giới Thạch cùngQuốc dân Đảng đợc sự giúp đỡ của Mĩ đã chạy ra đảo Đài Loan, xâydựng lực lợng chống lại chính quyền Bắc Kinh Lợi dụng tình hình xung
đột ở Triều Tiên, Mĩ ngày càng nhúng tay sâu vào công việc nội bộ củaTrung Quốc, âm mu của Mĩ là chia cắt lãnh thổ Trung Quốc, giúp đỡ ĐàiLoan thành lập một quốc gia riêng biệt Tổng thống Mĩ Truman tuyênbố: “Quyết định địa vị của Đài Loan trong tơng lai cần phải khôi phục anninh ở khu vực châu á - Thái Bình Dơng, kí hòa ớc với Nhật hoặc cầntham khảo ý kiến của Liên Hợp Quốc”, đồng thời ra lệnh cho Hạm đội 7tiến sát vào eo biển Đài Loan, “dơng ô” che cho Tởng Trong thời gian từ
1950 – 1954, Mĩ đã viện trợ cho Đài Loan về kinh tế, quân sự trị giá lêntới 1,4 tỉ USD Cũng trong thời gian này, do cuộc chiến tranh Triều Tiênbùng nổ, xung đột quân sự Mĩ - Trung diễn ra quyết liệt, đặc biệt là vàonăm 1950, Mĩ đã đánh phá khu vực ở Bắc Triều Tiên, nơi giáp ranh vớilãnh thổ Trung Quốc Mĩ còn cho máy bay oanh tạc nhiều thành phố ở
Đông Bắc Trung Quốc Trong bối cảnh đó, Trung Quốc đã trở thành đốitợng bao vây số 1 của Mĩ ở châu á Mĩ đánh giá Trung Quốc đã trở thànhmột bộ phận của cuộc đấu tranh toàn cầu giữa hai cực Đối với TrungQuốc, Mĩ cho rằng quốc gia này “đang lợi dụng sự bất ổn định của các n -
ớc mới trỗi dậy ở Đông Nam á nhằm mở rộng ảnh hởng của chủ nghĩaMác- Lênin” Trong chính sách bao vây và ngăn chặn toàn diện TrungQuốc Cộng sản, Đài Loan đã trở thành một bộ phận hữu cơ không thểtách rời trong chính sách này của Mĩ Ngày 2 – 12 - 1954, Mĩ và ĐàiLoan kí Hiệp định phòng thủ tơng hỗ, trong đó Mĩ cam kết sẽ giúp đỡ
Đài Loan nếu Đài Loan bị đe dọa hoặc bị tấn công bằng quân sự Ngày
21 – 1 - 1955, Thợng viện và Hạ viện Mĩ thông qua “Nghị quyết về ĐàiLoan” Rõ ràng trong giai đoạn đoạn trên Mĩ không thể để yên cho TrungQuốc đụng đến “hàng không mẫu hạm không thể bị chìm” của mình,quyết tâm bảo vệ và lôi kéo Đài Loan chống lại Trung Quốc - đây là mộtthách thức lớn của Mĩ đối với Trung Quốc
Trang 33Trong thời điểm này tình hình thế giới cũng có những biến độnglớn ảnh hởng tới chính sách của Mĩ đối với vấn đề Đài Loan Nhà cầmquyền Mĩ lại tiếp tục chính sách “bành tr ớng” của mình thông qua âm m-
u xâm lợc Xiri (8 - 1957), dung dỡng cho bọn tay sai Irắc chống lại cáchmạng Irắc (14 – 7 - 1958), đem quân xâm lợc sâu vào Đông Dơng nhất
là Việt Nam Những hành động của Mĩ bị d luận thế giới lên án mạnh
mẽ, thể hiện rõ là 80 nớc thành viên tại Liên Hợp Quốc lên tiếng khôngtán thành những hành động trên của Mĩ Vì vậy, nhằm đánh lạc h ớng thếgiới, Mĩ quay sang gây nên tình hình căng thẳng ở Viễn Đông, nhất làviệc Mĩ tăng cờng chuẩn bị tiến hành chiến tranh ở Đài Loan nhằm ngănchặn nguy cơ phát triển của chủ nghĩa cộng sản (Trung Quốc), ngăn cảnviệc thống nhất lãnh thổ Trung Quốc, bằng việc mở rộng xâm l ợc đến các
đảo ven biển của Trung Quốc
Sự đối kháng Trung – Mĩ trong vấn đề Đài Loan một lần nữa đãlàm cả thế giới phải nín thở trớc nguy cơ bùng nổ chiến tranh hạt nhân
Đợc Mĩ giật dây chỉ đạo, ngày 6 – 8 - 1958 nhà cầm quyền Đài Loanban bố tình trạng “khẩn cấp chiến tranh, quân đội của Tởng Giới Thạchphải luôn ở trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu”, hô hào “phản công đấtliền” nhằm thực hiện giấc mơ “khôi phục lại địa vị của mình ở Đại Lục”.Vì vậy, ít ngày sau đó cuộc giao tranh quyết liệt giữa Quân giải phóngTrung Quốc với Quốc dân Đảng ở Kim Môn, Mã Tổ đã diễn ra đã dẫn
đến cuộc khủng hoảng quân sự tại eo biển Đài Loan lần thứ ba
Có thể nói, trong giai đoạn này chính sách của Mĩ đối với TrungQuốc trong việc giải quyết vấn đề Đài Loan theo nh hai nhà học giả nổitiếng Franz Schuman và Orville Schell đánh giá “là nhằm ngăn chặn sựxuất hiện của một đế chế hùng mạnh mới muốn kiểm soát những khu vựcrộng lớn ở châu á”
Từ năm 1959 đến năm 1972, chính sách của Mĩ đối với vấn đề ĐàiLoan có những thay đổi Mĩ liên tiếp thất bại trong chiến tranh Đông D -
ơng, kinh tế giảm sút, chính trị bị cô lập, mất uy tín trên tr ờng quốc tế
Mĩ mong muốn thiết lập lại quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, nhng dovấn đề Đài Loan đã làm cho tiến trình quan hệ hai n ớc đã có những bớctiến rất chậm chạp,
Những năm đầu thập kỉ 60 cả Aixenhao và Kennơđi vẫn tiếp tụctheo đuổi chính sách thù địch với Trung Quốc và tiếp tục ủng hộ chínhquyền Tởng Giới Thạch ở Đài Loan
Kennơđi tiếp tục đẩy mạnh biện pháp “kiềm chế” bao vây cô lập,
âm mu chia cắt Trung Quốc Hoa Kì đề ra phơng pháp “quyền dân chủ” ởTrung Quốc, mà thực chất nó là sự biến dạng của hai n ớc Trung Quốc
Mĩ mong muốn Trung Quốc từ bỏ chủ quyền của mình đối với Đài Loan
Trang 34Đến năm 1964, Trung Quốc tuyên bố chế tạo thành công bomnguyên tử, sự kiện này đã làm cho hai siêu c ờng Xô - Mĩ lo ngại, địa vịquốc tế của Trung Quốc ngày đợc nâng cao Mĩ bắt đầu có những dấuhiệu mong muốn cải thiện quan hệ với Trung Quốc, từ “chính sách baovây cô lập” trớc đây thành “chính sách bao vây không cô lập” với TrungQuốc Hơn nữa trong thời gian này Trung Quốc bắt đầu thiết lập quan hệngoại giao với các nớc ở châu Âu và ủng hộ mạnh mẽ phong trào giảiphóng dân tộc ở á - Phi – Mĩ latinh Nhiều nớc thành viên nh Pháp,Anh tán thành đề án “kết nạp Trung Quốc vào Liên Hợp Quốc” và trụcxuất Đài Loan.
Với chính sách “thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc” tr ớc,sau đó mới giải quyết đến tơng lai của Đài Loan Mĩ mong muốn nối lạiquan hệ với Trung Quốc, nhng cũng không muốn mất quyền lợi của mình
ở Đài Loan Tuy đề ra phơng châm nh vậy Hoa Kì vẫn coi Trung Quốc là
kẻ thù, vẫn là vấn đề “nghiêm trọng và phiền toái nhất mà ngoại giao Mĩgặp phải” [21; 95]
Đến những năm cuối thập kỉ 60 của thế ki XX, do bị sa lầy trongchiến tranh Đông Dơng, khiến Mĩ rơi vào tình cảnh khó khăn Trong bốicảnh đó Mĩ muốn kiếm tìm đồng minh để cân bằng với Liên Xô nên cầnphải thay đổi chiến lợc ngoại giao Tháng 11 – 1968 khi Nichxơn lênnắm quyền Tổng thống Mĩ, ông ta nhanh chóng nhận thấy rằng: “TrungQuốc là nớc quan trọng giúp Mĩ thực hiện chiến lợc đối ngoại mới của
Mĩ, mở rộng quan hệ với Trung Quốc là việc cần làm” [28; 406] Nh nglúc này Mĩ cũng đã lộ rõ âm mu thực hiện chính sách “hai nớc Trungquốc”, một mặt tỏ ra sẵn sàng phát triển mối quan hệ với Trung Quốc,mặt khác lại duy trì sự tồn tại riêng biệt của hòn đảo Đài Loan d ới sựkiểm soát của Mĩ Mĩ mong muốn Trung Quốc sẽ có cả hai đại diện làCộng hòa nhân dân Trung Hoa và Đài Loan ở Liên Hợp Quốc, nên Mĩkhông muốn Trung Hoa dân quốc là “chính phủ hợp pháp duy nhất đạidiện cho toàn Trung Quốc”
Đầu năm 1970, Mĩ công khai chủ động thay đổi chính sách đối vớiTrung Quốc từ “bao vây không cô lập” trớc đó sang chính sách “đàmphán”, Mĩ đã khéo léo ủng hộ Trung Quốc tham gia vào Liên Hợp Quốc,tuy nhiên vẫn không ngừng theo đuổi chính sách “hai nớc Trung Quốc”
Ngày 25 – 2 - 1972 giữa Mĩ và Trung Quốc đã đi đến kí kết bảnThông cáo chung tại Thợng Hải Nh vậy, Thông cáo Thợng Hải là sự kiệnlịch sử quan trọng, đánh dấu “một mốc” quan trọng trong quan hệ Mĩ –Trung Hai nớc đi từ chỗ đối đầu căng thẳng bắt đầu tiến tới bình thờnghóa quan hệ bắt tay hợp tác, và cả hai nớc đều đi đến nhất trí chung làgiải quyết vấn đề Đài Loan bằng phơng pháp hòa bình
Nh vậy, có thể nói: Sự lớn mạnh của Liên Xô trong thập kỉ 60 củathế kỉ XX đã trực tiếp đe dọa đến địa vị số một của Mĩ, vì thế một lần
Trang 35nữa Đài Loan lại trở thành “món hàng” để Mĩ đa ra để mặc cả với TrungQuốc trong việc nối lại quan hệ với Trung Quốc, để có thể lôi kéo thêm
đồng minh trong cuộc chiến với Liên Xô trong những năm diễn ra chiếntranh lạnh
2.1.4 Chính sách của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
Mục tiêu chiến lợc xuyên suốt của Trung Quốc trong thời kì này lànhanh chóng xây dựng Trung Quốc thành một cờng quốc, đi đôi với làmsuy yếu cả Liên Xô và Mĩ, thu dần khoảng cách giữa hai n ớc này vớiTrung Quốc Mục tiêu chiến lợc ấy đã đợc Mao Trạch Đông khẳng định
“không thể có chuyện sau vài chục năm, chúng ta không thể trở thành n
-ớc lớn nhất thế giới Trung Quốc không những trở thành trung tâm chínhtrị của thế giới mà còn trở thành trung tâm quân sự và kĩ thuật nữa”[28;12] Tuy nhiên, do thực lực còn hạn chế, để thực hiện đợc mục tiêu trên,một trong những biện pháp chủ chốt của Trung Quốc thời kì này là cốgắng tạo dựng một môi trờng xung quanh thuận lợi hơn, bảo đảm đợc anninh quốc gia, chống lại các thế lực bên ngoài đang xiết vòng vây cô lậpTrung Quốc, tạo điều kiện bên trong đồng thời từng bớc nâng cao địa vịquốc tế, phục vụ cho chiến lợc đa Trung Quốc vơn lên thành một cờngquốc trong khu vực và quốc tế
Khu vực Đông á, với những điểm nóng an ninh (nh Đài Loan, bán
đảo Đông Dơng, Triều Tiên) có một tầm quan trọng địa chiến l ợc nhất
định đối với Trung Quốc Trong bối cảnh Đông á là khu vực cạnh tranhquyết liệt giữa các siêu cờng, đối đầu Mĩ - Xô quyết liệt, cũng nh TrungQuốc đang trong thời kì xây dựng và củng cố lực lợng, thế và lực đều cha
đủ vơn ra bên ngoài thì chiến lợc của Trung Quốc đối với Đông á là giữnguyên trạng cán cân lực lợng khu vực, không để cho Mĩ - Xô tạo thêm
ảnh hởng mới ở đây, không để cho một lực lợng đối địch nào có quân sátbiên giới Trung Quốc cũng nh đi đôi với từng bớc mở rộng ảnh hởng rabên ngoài, mở rộng thêm không gian sinh tồn ở những nơi có thể mởrộng, qua đó hạn chế dần ảnh hởng của Mĩ, Xô nhằm đảm bảo an ninh vàtạo lập dần ảnh hởng trong khu vực
Trong điều kiện chiến tranh lạnh, an ninh đã trở thành lợi ích quốcgia căn bản ở Trung Quốc, chính vì thế Đài Loan d ới sự yểm trợ của Mĩ
đã đợc Trung Quốc nhận thức là một trong những mối đe dọa an ninh lớnnhất thời kì này Một khi Đài Loan đợc xây dựng thành một “hàng khôngmẫu hạm không thể bị đánh chìm” (Mc Acthur), thì đây sẽ là mối nguyhiểm đe dọa sờn duyên hải phía Đông Trung Quốc Xét về mặt quân sựnguy cơ Tởng phản công Đại Lục tái diễn nội chiến là không thể không
có cơ sở Đây là một thuận lợi cho các thế lực bên ngoài sử dụng uy hiếpTrung Quốc Đài Loan còn là một chốt cản, ngăn chặn con đ ờng tiến rabiển của Trung Quốc, ngăn chặn Trung Quốc phát triển ảnh hởng xuốngphía Nam Thái Bình Dơng Về chính trị, thể diện nớc lớn Trung Quốc
Trang 36không thể cho phép lãnh thổ của mình bị chia cắt, về lâu dài điều này cóthể gây ra những thách thức đến vị trí cầm quyền của Đảng Cộng sảnTrung Quốc cũng nh gây nên sức ép cho bất kì thế hệ lãnh đạo nào Ngợclại, nếu giải quyết đợc vấn đề Đài Loan, Trung Quốc không những sẽ cókhả năng giải tỏa đợc những quan ngại an ninh nói trên, mà qua đấy còngiúp Trung Quốc góp phần thực hiện các mục tiêu bên trong (thống nhất
và đoàn kết dân tộc, ổn định đất nớc, xây dựng và phát triển kinh tế, đặcbiệt là các vùng ven biển, củng cố quyền lực lãnh đạo của Đảng Cộngsản ) và các mục tiêu bên ngoài (tạo thế đứng quan trọng ở khu vực đểxây dựng vai trò nớc lớn, có thế mạnh hơn để mặc cả với Mĩ - Xô, phânchia ảnh hởng với hai cực ở khu vực cho xứng với tầm vóc c ờng quốc),
để tiến tới thực hiện cho đợc chiến lợc toàn cầu là biến Trung Quốc trởthành một cờng quốc thế giới chí ít cũng ngang hàng với Mĩ - Xô
Nh vậy, những quan ngại và lợi ích về vấn đề Đài Loan đã đ ợcTrung Quốc thời kì này nhận thức khá rõ Việc giải phóng Đài Loanthống nhất Tổ quốc đã trở thành một trong những mục tiêu có tính chiếnlợc của Trung Quốc Tuy nhiên việc thực hiện đợc mục tiêu trên khôngchỉ tùy thuộc vào ý muốn chủ quan của Bắc Kinh mà còn bị chi phối bởibản thân thực lực và khả năng của Trung Quốc cũng nh các nhân tố quốc
tế khác, đặc biệt là sự can thiệp từ phía Mĩ
Trong giai đoạn 1949 - 1958, chính sách của Trung Quốc là quyếttâm giải phóng Đài Loan bằng vũ lực Ngay từ tr ớc khi cách mạng TrungQuốc thành công, ngày 15 – 3 - 1949, Đảng Cộng sản Trung Quốc đãcho biết ý định giải phóng Đài Loan nhằm ngăn chặn Mĩ sử dụng hòn
đảo này nh “một bàn đạp chống Trung Quốc trong tơng lai” Trong đỉnhcao của cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ hai tháng 12 - 1954,
Bộ trởng Ngoại giao Trung Quốc Chu Ân Lai đã khẳng định: Trung Quốcquyết tâm tấn công Đài Loan và cảnh báo Mĩ sẽ phải gánh chịu hậu quảnặng nề nếu không rút hoàn toàn quân đội ra khỏi đảo này Vào tháng 4 -
1950 đã có 300.000 quân xung kích đợc bố trí ở tỉnh Phúc Kiến, chuẩn bịcho một cuộc tổng tấn công quyết định giải phóng Đài Loan
Việc Trung Quốc lựa trọn con đờng vũ lực để giải quyết vấn đề ĐàiLoan xuất phát từ nhiều nguyên nhân Một là, những thay đổi trong t ơngquan lực lợng Quốc - Cộng Vào đầu thập niên 50 Quốc dân Đảng ở vàothế suy yếu toàn diện cả về quân sự và chính trị, trong khi Quân giảiphóng nhân dân Trung Quốc đang ở trên thế tấn công ào ạt sau khi giảiphóng hoàn toàn Đại Lục đã gặt hái thắng lợi hoàn toàn ở Hải Nam, xuatàn quân Tởng chạy về Đài Loan Cùng với những thắng lợi kể trên cộngthêm liên minh chiến lợc Trung - Xô vừa đợc thiết lập đã khích lệ banlãnh đạo Trung Quốc chủ trơng giải phóng Đài Loan bằng vũ lực Hai là,
sự tác động của phái cứng rắn trong nội bộ lãnh đạo Trung Quốc, với tduy “gió Đông thổi bạt gió Tây”, “hòa bình đầu họng súng”, Mao Trạch
Trang 37Đông cho rằng “đây là thời điểm tốt nhất để làm một cuộc tấn công vàotiền đồn thối nát của chủ nghĩa đế quốc (tức Đài Loan) Trong bối cảnh
Mĩ còn cha xác định đợc chiến lợc rõ ràng đối với Đài Loan và cha từ bỏ
ý định lôi kéo Trung Quốc, Trung Quốc muốn giải quyết nhanh chóngvấn đề Đài Loan nhằm củng cố quyền lực trọn vẹn cho Đảng Cộng sảnTrung Quốc và Nhà nớc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, tránh để có sựcan thiệp của các cờng quốc bên ngoài Giải pháp quân sự là con đờngnhanh chóng nhất để đạt đến mục tiêu đó Thứ ba là do chính sách thù
địch của Quốc dân Đảng ở Đài Loan với Trung Quốc Đại lục Sau khichạy ra Đài Loan, Quốc dân Đảng vẫn nuôi ý đồ phản công Đại Lục, coichính quyền ở Đại Lục là “cộng phỉ”, ráo riết tăng c ờng và hiện đại hóaquân đội, không chỉ để phòng thủ Đài Loan mà còn chuẩn bị cho cuộcbạo động nhằm đánh đổ Nhà nớc Cộng hòa nhân dân Thứ t là mục tiêuchiến lợc của Trung Quốc, đẩy chiến tranh lạnh đến đỉnh cao và quan hệXô - Mĩ luôn trong tình trạng căng thẳng đối đầu để Trung Quốc tiếp tụclợi dụng và làm suy yếu hai cực phục vụ cho ý đồ phá vỡ thế hai cực đểvơn lên của Trung Quốc Chính những chính sách của cả Mĩ và TrungQuốc trong giai đoạn 1949 – 1958 đều theo đuổi chiều h ớng cứng rắn,nên thời gian này ở eo biển Đài Loan đã nổ ra ba cuộc khủng hoảng vềquân sự, gây nên những bất ổn nghiêm trọng, làm tình hình khu vực trởnên vô cùng căng thẳng, nguy cơ xung đột vũ trang luôn luôn de dọa
Tuy nhiên, cuối thập kỉ 50 của thế kỉ XX, những biến chuyển củatình hình thế giới và khu vực, cũng nh tình hình trong nớc, đã buộcTrung Quốc phải điều chỉnh chính sách của mình đối với vấn đề ĐàiLoan cho phù hợp với xu thế của thời đại
Những năm từ 1959 đến 1972, chính sách của Trung Quốc đối vớivấn đề Đài Loan có nhng thay đổi căn bản
Mặc dù Trung Quốc vẫn giữ nguyên lập trờng đối với Mĩ trong vấn
đề Đài Loan và cho rằng; Vấn đề Đài Loan là vấn đề nội bộ của TrungQuốc, “vấn đề Đài Loan mà không giải quyết đợc thì tất cả các vấn đềkhác cũng không thể giải quyết” Nhng cũng trong thời kì này mâuthuẫn Trung – Xô bộc lộ một cách rõ nét, thông qua việc Liên Xô côngkhai thiết lập quan hệ ngoại giao với Tởng Giới Thạch để đối phó vớiTrung Quốc Trung Quốc rơi vào tình trạng vừa phải đối phó với T ởng,vừa phải đối phó với hai nớc lớn là Mĩ – Xô Trớc tình hình đó TrungQuốc đã phát đi tín hiệu cho Mĩ biết là Trung Quốc sẵn sàng giải quyếtvấn đề Đài Loan với Mĩ bằng con đờng hòa bình,
Đến năm 1969, khi Mĩ bắt đầu giảm bớt quân số của Mĩ ở eo biển
Đài Loan, cắt giảm viện trợ cho Đài Loan thì Trung Quốc cũng cónguyện vọng cải thiện quan hệ với Mĩ Ngày 11 – 7 - 1969 trong báocáo “Đánh giá sơ bộ về tình hình chiến tranh”, những nhà ngoại giaoTrung Quốc cho rằng: “trong thời kì này mâu thuẫn Xô - Trung lớn hơn
Trang 38mâu thuẫn Trung – Mĩ, mâu thuẫn Mĩ – Xô lớn hơn mâu thuẫn Mĩ –Trung” [28; 462].
Ngày 25 – 2 - 1972, bản Thông cáo chung Thợng Hải đợc kí kếtgiữa Mĩ và Trung Quốc, đánh dấu sự bình thờng hóa trở lại của quan hệhai nớc và thống nhất giải quyết vấn đề Đài Loan bằng con đ ờng hòabình
2.2 Sự vận động của vấn đề Đài Loan trong quan hệ Mĩ – Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa từ năm 1949 đến năm 1972.
2.2.1 Giai đoạn 1949 – 1958.
Ngày 25 – 6 - 1950, chiến tranh Triều Tiên nổ ra, trong lúc ngọn cờcha định, Truman tiếp tục chọn chính sách “giúp đỡ Tởng chống cộng” Ngày
27 - 6 Truman tuyên bố phái Hạm đội 7 xâm nhập vào eo biển Đài Loan để
mở đờng cho việc dùng vũ trang của nớc mình can thiệp vào nội chính TrungQuốc, để tránh hình thành d luận quốc tế “ngời Mĩ xâm nhập vào lãnh thổ vàlãnh hải nớc khác”, Tổng thống Mĩ công khai đa ra “Thuyết địa vị Đài Loancha định” Đây là một quyết sách mà Mĩ bí mật trù tính từ lâu
Truman công khai tuyên bố: “ở Triều Tiên, quân đội của chính phủ
đợc trang bị vũ trang để phòng sự tập kích từ biên giới và bảo vệ trị antrong nớc, đã gặp phải sự công kích của quân đội Bắc Triều Tiên tiếnsang xâm phạm Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc yêu cầu lực lợng xâmphạm của Bắc Triều Tiên phải ngừng chiến và rút về vĩ tuyến 38 Nh ng
họ không chịu làm nh vậy, ngợc lại càng tấn công ráo riết Hội đồng Bảo
an yêu cầu các nớc trong Liên Hợp Quốc viện trợ để thực hiện quyết địnhnày
Trong tình hình nh vậy, Tôi đã ra lệnh cho quân đội, hải quân vàkhông quân Mĩ yểm trợ giúp đỡ cho quân đội chính phủ Triều Tiên
Sự công kích vào Triều Tiên đã nói lên một điều, chủ nghĩa cộngsản không hạn chế ở thủ đoạn lật đổ, để chinh phục các quốc gia độc lập,
mà họ đã lập tức sử dụng vũ trang để tiến công và gây chiến Họ đãchống lại mệnh lệnh của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc đợc phát ranhằm duy trì hòa bình và an toàn quốc tế Trong tr ờng hợp đó, việcchiếm lĩnh Đài Loan của bộ đội cộng sản sẽ tiếp tục uy hiếp tới sự antoàn của khu vực Thái Bình Dơng và đối với quân đội Mĩ đang thực hiệnnhiệm vụ hợp pháp và cần thiết ở khu vực đó
Vì vậy, tôi đã ra lệnh cho Hạm đội 7 ngăn chặn bất kì sự tấn côngnào vào Đài Loan Để đạt đựơc kết quả đáng có với hành động này, tôi đãyêu cầu chính phủ Trung Quốc ở Đài Loan ngừng mọi sự công kích bằngkhông quân và hải quân vào Đại Lục Hạm đội 7 sẽ giám sát thực hiệncông việc này Sự quyết định địa vị tơng lai của Đài Loan phải chờ lúcThái Bình Dơng khôi phục đợc sự an toàn, có kí hòa ớc với Nhật hay
Trang 39không, do Liên Hợp Quốc suy tính Nghiễm nhiên vấn đề này do ng ờichiếm lĩnh Đài Loan tự c xử” [13; 159].
Việc Truman tuyên bố xuất quân sang Đài Loan đã gặp phải sựphản đối mạnh mẽ của Trung Quốc Ngày 28 – 6 - 1950, trong một cuộcHội nghị của chính phủ, Mao Trạch Đông chỉ ra rằng, hành động của Mĩphơi bày bộ mặt thật của chủ nghĩa đế quốc Cùng ngày hôm đó, Chu ÂnLai đã ra “Tuyên bố về việc Mĩ xâm lợc vũ trang đối với lãnh thổ ĐàiLoan và Trung Quốc” Thay mặt chính phủ Trung Quốc, ông đã tiến hànhlên án mạnh mẽ hành động của Mĩ
Quyết định của Mĩ khiến lãnh đạo Đài Loan khó bề xoay sở Hạm
đội 7 của Mĩ xuất quân sang eo biển Đài Loan, đối với chính phủ tàn dQuốc dân Đảng đang dập dờn trong ma gió chẳng khác gì đợc một cọngrơm cứu mạng Nhng chính sách của Mĩ cũng có một mặt làm Đài Loankhó tiếp nhận, đó là cách nói về “Thuyết Đài Loan địa vị ch a thể định”.Vì vậy nếu công khai thừa nhận luận điệu này thì chính phủ Quốc dân
Đảng sẽ phải suy nghĩ về tính hợp pháp của bản thân mình Đối với âm
mu chia cắt Trung Quốc của Mĩ, ý đồ tạo ra “Thuyết địa vị cha định”làm cho Tởng Giới Thạch không phải vì ỷ lại vào Mĩ mà phụ họa theo, trênmột mức độ nhất định có sự phản đối đối với âm mu chia cắt của Mĩ
Ngày 28 - 6 Ngoại trởng Quốc dân Đảng Diệp Công Triệu phátbiểu tuyên bố tiếp nhận nguyên tắc phòng vệ Đài Loan của Mĩ, đồng thờilệnh cho hải quân và không quân tạm thời đình chỉ mọi hoạt động côngkích với Đại Lục Nhng đồng thời Diệp Công Triệu vẫn giữ thái độ bảo lu
3 Chính sách và kiến nghị của chính phủ Mĩ chỉ là nhằm vào việc
áp dụng “biện pháp khẩn cấp”, trong khi “gặp sự uy hiếp hoặc xâm l ợccủa chủ nghĩa cộng sản” đối với khu vực châu á - Thái Bình Dơng lúcbấy giờ
4 Lãnh đạo Đài Loan tiếp nhận kiến nghị của Mĩ không ảnh h ởngtới lập trờng bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của “Chính phủ Trung Quốc”.[13; 160]
Từ tuyên bố trên, có thể thấy lãnh đạo Đài Loan cần tới Mĩ, nh ngtrong vấn đề có tính nguyên tắc thì “Đài Loan là một bộ phận thuộc lãnhthổ Trung Quốc”, và Trung Quốc có chủ quyền với Đài Loan, lập tr ờng
Trang 40của lãnh đạo Đài Loan và lập trờng của nớc Cộng hòa Nhân dân TrungHoa là nhất trí Còn nh trong Thông cáo của Mĩ đã công khai nói rằng:
“Địa vị Đài Loan cha định”, lãnh đạo Đài Loan mặc dù không dám bác
bỏ thẳng thừng, nhng vẫn còn thông qua việc trình bày tinh thần “Tuyênngôn Cairô” để tỏ thái độ có ý kiến khác của mình
Sau khi nổ ra chiến tranh Triều Tiên, giữa Mĩ và Đài Loan ngàycàng tăng cờng sự liên hệ về chính trị, kinh tế và quân sự
Tháng 1 - 1953, Aixenhao lên làm Tổng thống Mĩ Ông bổ nhiệmDulles - một ngời kiên quyết chống cộng làm Ngoại trởng Xuất phát từchiến lợc hạn chế sự phát triển của chủ nghĩa cộng sản, Mĩ đã càng thắtchặt thêm một bớc quan hệ giữa Mĩ và Đài Loan Trong bối cảnh đó,ngày 16 - 7 - 1953, Quốc dân Đảng huy động hơn một vạn quân, có hảiquân phối hợp, tập kích lên đảo Đông Sơn của Trung Quốc, nh ng đã bịquân đồn trú và quân tăng viện của Trung Quốc đẩy lùi Sự kiện này đãdẫn đến cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ nhất
Tháng 12 - 1954, Mĩ và Đài Loan kí “Hiệp ớc phòng ngự chung đốivới Đại Lục” Quốc dân Đảng gọi điều ớc này là “sức mạnh chiến đấu”
“Tăng cờng chiến lũy để phản công Đại Lục”
Để tỏ lập trờng kiên định của nhân dân Trung Quốc trong việc giảiphóng Đài Loan, phản đối việc Mĩ có âm mu cố định hóa hiện trạng eobiển Đài Loan, ngày 10 - 1 - 1955 hải quân và không quân Quân giảiphóng nhân dân đã ném bom vào quân đội của Quốc dân Đảng trên đảo
Đại Trần nằm ở phía Bắc Đài Loan cách 200 dặm Anh Ngày 18 - 1 d ới
sự chỉ huy của t lệnh Trơng ái Bình, thuộc bộ chỉ huy tiền tuyến củaQuân khu Triết Đông của Hoa Đông Trung Quốc, Quân giải phóng nhândân đã thực hiện tác chiến hợp đồng với hải quân, không quân TrungQuốc Chỉ trong mấy giờ họ đã đánh chiếm đảo Nhất Giang Sơn - cửangõ của eo biển Đài Loan Trong chiến dịch chiếm đóng đảo này, đã có
1000 lính Quốc dân Đảng bị tiêu diệt, sự kiện này đã dẫn đến bùng nổcuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ hai
Quân giải phóng Trung Quốc đã thu phục đợc đảo Nhất GiangSơn, khiến Mĩ và Tởng hết sức lo sợ Ngày 25 và 28 - 1 Th ợng, Hạ viện
Mĩ thông qua Nghị quyết về tình trạng khẩn cấp, trao quyền choAixenhao sử dụng lực lợng vũ trang phối hợp phòng ngự các đảo ĐàiLoan và Bành Hồ Tuy nhiên, Mĩ không muốn vì giúp T ởng Giới Thạch
cố thủ những đảo ven biển mà đẩy mình vào tình trạng xung đột vớiTrung Quốc Aixenhao và Dulles đều cho rằng, đảo Nhất Giang Sơn và
Đại Trần không quan trọng bằng đảo Đài Loan và Bành Hồ, không đáng
để Mĩ phải ra quân Mĩ cân nhắc lợi hại để tránh sự khai chiến giữa Mĩ
và Trung Quốc Aixenhao hi vọng Tởng Giới Thạch sẽ chủ động bỏnhững đảo ven biển Nh vậy sẽ xóa bỏ đợc những trở ngại cho kế hoạch
“hai nớc Trung Quốc của Mĩ”