Là một sinh viên, trong phạm vi khóa luận tốtnghiệp ngành cử nhân Luật, với tầm hiểu biết của bản thân, trên cơ sởnhững kiến thức tổng quan, khái quát về vai trò luật sư trong tranh tụng
Trang 1Trờng đại học vinh
Khoa luật -
Cao thị vân
Vai trò luật s bào chữa trong
phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Vai trò luật s bào chữa trong
phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Thực trạng tại tỉnh nghệ an
và các giải pháp
ngành: cử nhân luật
Trang 2
Gi¶ng viªn híng dÉn: Th.S Ph¹m ThÞ HuyÒn Sang
Sinh viªn thùc hiÖn: Cao ThÞ V©n
Líp: 48B1 - LuËt
MSSV: 0755033357
Vinh - 2011
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Khoá luận này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành
và sâu sắc tới Hội đồng khoa học, tổ bộ môn Luật Hình sự khoa Luật Trường Đại học Vinh, Đoàn luật sư tỉnh Nghệ An, Viện kiểm sát nhândân tỉnh Nghệ An, các Toà án, Giảng viên - ThS Phạm Thị Huyền Sang,các thầy giáo, cô giáo, bạn bè cùng gia đình đã quan tâm, tạo điều kiệngiúp đỡ tôi trong suốt quá trình tiến hành thực hiện và triển khai đề tài
-Trong tầm hiểu biết và kiến thức có hạn của bản thân, quá trình tìmhiểu, phân tích vấn đề khó tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Rất mongnhận được sự quan tâm, góp ý xây dựng của quý thầy cô và bạn đọc
Xin chân thành cảm ơn!
Vinh, tháng 05 năm 2011
Sinh Viên
Cao Thị Vân
Trang 3MỤC LỤC
Trang
A PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết và lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài 4
3 Mục đích và nhiệm vụ khoa học 5
4 Phương pháp nghiên cứu 6
5 Đối tượng, phạm vi và ý nghĩa nghiên cứu 6
6 Kết cấu đề tài 7
B PHẦN NỘI DUNG 8
Chương 1 Một số vấn đề lý luận về vai trò luật sư bào chữa trong phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 8
1.1 Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 8
1.1.1 Các khái niệm liên quan đến vấn đề 8
1.1.2 Đặc trưng của xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 12
1.1.3 Các giai đoạn của xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 12
1.1.4 Nhiệm vụ của xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 18
1.2 Địa vị pháp lý của luật sư trong tố tụng hình sự 19
1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của chế định luật sư bào chữa 19
1.2.2 Những vấn đề chung về vai trò tranh tụng của luật sư ở Việt Nam 22 1.2.3 Các quy định pháp luật về luật sư và hoạt động tố tụng của luật sư 24 Chương 2 Thực trạng và giải pháp thực hiện tốt các quy đinh pháp luật về vai trò luật sư bào chữa trong phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trên thực tế tại tỉnh Nghệ An 34
Trang 42.1 Bình luận một số quy định pháp luật về vai trò luật sư bào chữa
trong phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 34
2.1.1 Giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 34
2.1.2 Luật sư tham gia bào chữa trong phiên toà sơ thẩm vụ án hình sự 39
2.2 Thực trạng hoạt động luật sư bào chữa trong phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh Nghệ An 45
2.2.1 Tình hình chung về kinh tế - xã hội của tỉnh Nghệ An 45
2.2.2 Kết quả hoạt động bào chữa của luật sư Nghệ An trong phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 46
2.2.3 Những hạn chế, tồn tại 48
2.3 Nguyên nhân của các hạn chế, tồn tại 49
2.3.1 Hệ thống pháp luật chưa đầy đủ, cụ thể và chưa được thực hiện nghiêm túc 49
2.3.2 Về hệ thống tổ chức và hoạt động nghề luật 51
2.3.3 Trình độ nhận thức của dân trí 52
2.3.4 Chất lượng tham gia tranh tụng của luật sư 52
2.4 Các giải pháp nhằm nâng cao vai trò luật sư bào chữa tại phiên toà sơ thẩm vụ án hình sự trên phạm vi cả nước nói chung và địa bàn tỉnh Nghệ An nói riêng 53
2.4.1 Thực hiện và đảm bảo trên thực tế nguyên tắc quan trọng của tố tụng hình sự 53
2.4.2 Các giải pháp chung 54
2.4.3 Các giải pháp riêng 58
C PHẦN KẾT LUẬN 60
D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết và lý do chọn đề tài
Hiện nay, cùng với sự phát triển và xu thế chung của thế giới,Việt Nam đang tiến hành hội nhập sâu rộng, đẩy mạnh công cuộc côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa
“công bằng, dân chủ, văn minh” Bên cạnh những thành tựu nhất định
đạt được trên các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, cũng có không ítcác thay đổi, biến động theo hướng tiêu cực, tình hình vi phạm pháp luật
ở nước ta xảy ra ngày càng nghiêm trọng, diễn biến phức tạp, có chiềuhướng gia tăng ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia
Cùng với sự nỗ lực của Đảng, Nhà nước và mọi công dân, các cơquan tiến hành tố tụng đã có nhiều cố gắng trong công tác tư pháp để gópphần vào việc củng cố, giữ vững an ninh - chính trị, trật tự, an toàn xã hội.Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân về chủ quan lẫn khách quan mà chấtlượng công tác tư pháp nói chung và công tác xét xử nói riêng còn chưangang tầm với yêu cầu và nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó, bộc lộnhiều yếu kém: bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội, xâm phạm đến cácquyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của xã hội và công dân, vai tròbào chữa của luật sư trong quá trình tố tụng còn nhạt, hiệu quả chưa caonên tuy số lượng án oan có giảm những trên thực tế vẫn có, gây ảnh hưởngkhông nhỏ tới chất lượng hoạt động của ngành và tác động tới nhận thức,quan điểm của quần chúng
Cải cách tư pháp luôn được coi là một bộ phận quan trọng gắnliền với nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ởViệt Nam Để hướng tới mục tiêu xây dựng một hệ thống cơ quan tưpháp trong sạch, vững mạnh có phương thức tổ chức, hoạt động khoahọc, hiện đại góp phần quan trọng vào việc giữ gìn trật tự, kỷ cươngphép nước, quá trình này tập trung vào việc củng cố, kiện toàn bộ máy
Trang 6các cơ quan tư pháp, phân định lại thẩm quyền của Toà án, đổi mới tổchức và hoạt động của Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra, Cơ quan thi hành
án và các cơ quan, tổ chức bổ trợ tư pháp khác
Trong hoạt động tư pháp, hoạt động xét xử được coi là khâutrọng tâm vì ở đây biểu hiện sự tập trung và thể hiện đầy đủ quyền tưpháp, là nơi trên cơ sở kết quả điều tra, truy tố và bào chữa, Toà án nhândanh Nhà nước đưa ra phán xét một người có tội hay không có tội Dovậy một phán xét chính xác, khách quan và đúng pháp luật hay không,quyền và lợi ích hợp pháp của công dân có được bảo đảm hay không phụthuộc vào quá trình điều tra, truy tố và xét xử từ phía cơ quan tiến hành
tố tụng, mặt khác từ phía hoạt động tích cực của luật sư với vai trò làngười bào chữa cho bị can, bị cáo và góp phần bảo vệ công lý Hoạtđộng của luật sư không phải là hoạt động tư pháp nhưng lại có mối liên
hệ gắn chặt với hoạt động tư pháp, hỗ trợ cho hoạt động tư pháp
Trong lịch sử xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ởViệt Nam, nhiều văn kiện của Đảng đã thể hiện sự quan tâm, chú trọng
đến cải cách tổ chức và hoạt động luật sư Nghị quyết 08 - NQ/TW ngày 02/1/2002 của Bộ Chính trị về “Một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác
tư pháp trong thời gian tới” đã đặc biệt quan tâm đến vai trò của luật sư
và đặt nhiệm vụ cho cơ quan tư pháp trong việc bảo đảm hoạt động củaluật sư trong tố tụng Nghị quyết này đề cập nhiều nội dung khác nhaucủa công tác tư pháp từ hoạt động điều tra, truy tố, xét xử cho đến việcđào tạo cán bộ tư pháp, nhưng tăng cường yếu tố tranh tụng trong quátrình xét xử vụ án hình sự được coi là điểm nhấn của cải cách tư pháp và
là vấn đề trọng tâm của Nghị quyết Trong đó, quyền bào chữa của bịcan, bị cáo được xác định rõ hơn và theo đó, vai trò của người bào chữacũng được nâng cao
Để thực hiện những nhiệm vụ mà Nghị quyết 08 - NQ/TW của Bộ
Chính trị đòi hỏi phải bổ sung, hoàn thiện pháp luật về tổ chức, hoạt
Trang 7động của cơ quan tư pháp và luật sư theo hướng phân định rõ chức năng,nhiệm vụ của từng cơ quan đồng thời xác định rõ vị trí của luật sư trong
hoạt động tư pháp, Nghị quyết 49 - NQ/TW của Bộ Chính trị về “Chiến
lược cải cách tư pháp đến năm 2020” nêu rõ: “Đào tạo, phát triển đội
ngũ luật sư đủ về số lượng, có phẩm chất chính trị, đạo đức, có trình độ chuyên môn Hoàn thiện cơ chế để luật sư thực hiện tốt tranh tụng tại phiên toà, đồng thời xác định rõ chế độ trách nhiệm đối với luật sư Nhà nước tạo điều kiện về pháp lý để phát huy chế độ tự quản của luật sư đối với các tổ chức thành viên của mình”.
Mặt khác, sự ra đời của Luật Luật sư 2006 tạo hành lang pháp lý
quan trọng để cho hoạt động pháp lý và vai trò của Luật sư Việt Namđược phát triển trong thực tế Nhưng cũng đặt ra nhiều câu hỏi về vai tròthật sự của những người bảo vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp của côngdân, góp phần không nhỏ vào việc bảo vệ nền pháp chế xã hội chủ nghĩa
Trước yêu cầu của thực tế, để đảm bảo sự dân chủ, bình đẳngtrong hoạt động tố tụng hình sự, tránh bỏ lọt tội phạm, làm oan người vôtội, nâng cao chất lượng tranh tụng của luật sư, góp phần làm sáng tỏphần nào về mặt lý luận cho vấn đề, em chọn nghiên cứu về vai trò luật
sư tranh tụng trong phiên tòa hình sự để làm khóa luận tốt nghiệp chomình Nhưng do phạm vi vấn đề khá rộng, mang tính bao quát cao vàkhá mới mẻ nên đòi hỏi phải có trình độ hiểu biết khá sâu sắc, toàn diện
và kinh nghiệm thực tiễn Là một sinh viên, trong phạm vi khóa luận tốtnghiệp ngành cử nhân Luật, với tầm hiểu biết của bản thân, trên cơ sởnhững kiến thức tổng quan, khái quát về vai trò luật sư trong tranh tụng
em nghiên cứu sâu hơn ở khía cạnh cụ thể hơn để có điều kiện đượcphân tích, tìm hiểu và làm sáng tỏ thực trạng của nó trong phạm vi nhấtđịnh - hoạt động tư pháp ở địa bàn tỉnh Nghệ An, vì thế em chọn đề tài:
"Vai trò luật sư bào chữa tại phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Thực trạng tại tỉnh Nghệ An và các giải pháp”.
Trang 82 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Đã có nhiều bài viết, bài nghiên cứu và sách chuyên khảo đề cập
đến vấn đề tranh tụng trong tố tụng hình sự như: "Tranh tụng trong tố
tụng hình sự" của tác giả Nguyễn Đức Mai trong cuốn kỷ yếu: "Những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách của tố tụng hình sự Việt Nam" -
Viện kiểm sát nhân dân tối cao năm 1995; bài "Về tranh tụng tại phiên
tòa hình sự" của tác giả Tống Anh Hào trong Tạp chí Tòa án nhân dân
số 5/2003; bài "Bàn về vấn đề tranh tụng trong tố tụng hình sự" đăng
trong Tạp chí Kiểm sát, tháng 9/2003 của tác giả Trần Đại Thắng; bài viết của nhiều tác giả trong Đặc san nghề luật số 5/2003 về chuyên đề
mở rộng tranh tụng; cuốn chuyên khảo "Cải cách tư pháp ở Việt Nam
trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền" do Tiến sĩ khoa học Lê
Cảm và Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Chí đồng chủ biên
Trong khoa học pháp lý, cũng có không ít bài viết, bài nghiên cứu,khóa luận và sách chuyên khảo đề cập đến vai trò luật sư trong tố tụng
hình sự như: Luận án Tiến sĩ luật học của Hoàng Thị Sơn - “Thực hiện
quyền bào chữa của bị cáo, bị can trong tố tụng hình sự”, Tiến sĩ Phạm
Hồng Hải - “Đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội”, Tiến sĩ Nguyễn Văn Tuân - “Vai trò của luật sư trong tố tụng hình sự”, Thạc sĩ Nguyễn Thị Thu Thủy - “Vai trò của luật sư trong việc bảo vệ quyền con
người trong tố tụng hình sự Việt Nam”, cuốn “Vai trò của luật sư trong hoạt động tranh tụng” của Học viện chính trị - hành chính quốc gia Hồ
Chí Minh, Viện Nhà nước và Pháp luật do Tiến sĩ Trương Thị Hồng Hàchủ biên và nhiều bài viết có liên quan khác đã làm sáng tỏ vai trò của luật
sư trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự
Nhưng đối với thực trạng hoạt động tranh tụng, nhất là việc bàochữa của luật sư tỉnh Nghệ An, chưa có một nghiên cứu cụ thể nàolàm sáng tỏ và đưa ra những phương hướng nhằm nâng cao hơn nữachất lượng bào chữa của luật sư nói riêng và hiệu quả công tác tư pháp
Trang 9tỉnh Nghệ An nói chung, góp phần phát triển, hoàn thiện chất lượngxét xử vụ án hình sự ở Việt Nam hiện nay.
3 Mục đích và nhiệm vụ khoa học
3.1 Mục đích
Đề tài này hướng tới mục đích làm rõ thêm cơ sở lý luận và thựctiễn của vấn đề; bản chất, nội dung vai trò bào chữa của luật sư tại phiêntòa xét xử vụ án hình sự nói chung và phiên tòa xét xử sơ thẩm nói riêng,chỉ ra những bất cập còn tồn tại của việc luật sư bào chữa tại phiên tòa ởtỉnh Nghệ An hiện nay, thông qua đó đề xuất những giải pháp thiết thựcnâng cao hiệu quả hoạt động tranh tụng nói chung và hoạt động bào chữanói riêng của luật sư tại phiên tòa, hướng tới xây dựng một phiên tòahình sự thực sự công bằng, dân chủ góp phần thực hiện quá trình cảicách tư pháp, trong đó vai trò của luật sư được thừa nhận và chú trọngthực sự
3.2 Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ của khóa
Phân tích, đánh giá thực trạng luật sư bào chữa tại phiên tòa xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh Nghệ An những năm gần đây,qua đó rút ra những mặt tích cực cũng như những tồn tại, hạn chế tronghoạt động bào chữa của luật sư trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ ánhình sự ở địa phương
Trang 10Trên cơ sở kết quả nghiên cứu và những đánh giá về thực trạngluật sư bào chữa tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự khoá luậnnêu ra các giải pháp nâng cao hiệu quả bào chữa của luật sư tại phiên tòaxét xử sơ thẩm vụ án hình sự ở tỉnh Nghệ An nói riêng, Việt Nam nóichung trước yêu cầu cải cách tư pháp.
4 Phương pháp nghiên cứu
Việc tìm hiểu vấn đề được tiến hành dựa trên cơ sở phương phápluận của chủ nghĩa Mác - Lênin (chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủnghĩa duy vật lịch sử), tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng vàNhà nước ta về pháp luật, về cải cách tư pháp
Đồng thời, khoá luận sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụthể sau: Phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp thống kê, so sánh;phương pháp lịch sử; phương pháp khảo sát thực tiễn luật sư bào chữa tạinhững phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
5 Đối tượng, phạm vi và ý nghĩa nghiên cứu
ra các nguyên nhân, tồn tại và giải pháp chung để nâng cao hơn nữa về
số lượng cũng như chất lượng vai trò bào chữa của luật sư trong tố tụng
Trang 115.3 Việc nghiên cứu các nội dung của vấn đề này hướng đến những ý nghĩa nhất định về lý luận cũng như thực tiễn.
Cung cấp những kiến thức khái quát cũng như cụ thể để đánh giá sâu
và bổ sung những kiến thức mới để đem lại một cái nhìn toàn diện, biệnchứng về vai trò bào chữa của luật sư Qua đó góp phần nâng cao nhận thứccủa các cấp, ngành, cơ quan, tổ chức, cá nhân về vai trò bào chữa của luật
sư trong quá trình xét xử vụ án hình sự, đặc biệt là cấp sơ thẩm
Góp phần hoàn thiện pháp luật, tăng cường hiệu quả của hoạtđộng luật sư trên thực tế, tham gia vào quá trình cải cách tư pháp màĐảng và Nhà nước chính quyền và cơ quan tư pháp, tổ chức tư pháp trênđịa bàn tỉnh Nghệ An đang tiến hành hiện nay, hướng tới xây dựng nềnpháp chế xã hội chủ nghĩa công bằng, dân chủ, trong đó quyền công dânđược quan tâm và tôn trọng thực sự
Khóa luận có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ trong việcnghiên cứu về các vấn đề liên quan và hoạt động thực tiễn
6 Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nộidung đề tài gồm 2 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về vai trò luật sư bào chữa trong
phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Chương 2: Thực trạng và giải pháp thực hiện tốt các quy định
pháp luật về vai trò bào chữa của luật sư tại phiên toà xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự trên thực tế tại tỉnh Nghệ An
Trang 12B PHẦN NỘI DUNG
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ LUẬT SƯ BÀO CHỮA TRONG PHIÊN TOÀ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1 Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
1.1.1 Các khái niệm liên quan đến vấn đề
1.1.1.1 Theo Từ điển luật học, tranh tụng là các hoạt động tố tụng
được thực hiện bởi các bên tham gia tố tụng (bên buộc tội và bên bị buộctội) có quyền bình đẳng với nhau trong việc thu thập, đưa ra chứng cứ đểbảo vệ các quan điểm và lợi ích của mình, phản bác lại các quan điểm vàlợi ích của phía đối lập
Tranh tụng tại phiên toà là những hoạt động tố tụng được tiếnhành tại phiên toà xét xử bởi hai bên tham gia tố tụng, nhằm bảo vệ ýkiến, luận điểm của mỗi bên và bác bỏ ý kiến, luận điểm của phía bênkia, dưới sự điều khiển, quyết định của Toà án với vai trò trung gian,trọng tài
Tranh tụng tại phiên tòa còn được hiểu là hình thức tố tụng màtrong đó Tòa án thay mặt Nhà nước xác định sự thật của vụ án trên cơ sởđiều tra công khai tại phiên tòa, nghe ý kiến của các bên tham gia tố tụng
để ra quyết định phán xét giải quyết vụ án một cách khách quan, toàndiện, đầy đủ và đúng pháp luật
Theo quan điểm của PGS - TS Trần Văn Độ, Tòa án Quân sự
Trung ương trong bài viết “Bản chất của tranh tụng tại phiên tòa” thì
quá trình tranh tụng bao gồm các nội dung chủ yếu sau:
Đưa ra chứng cứ mới bằng cách yêu cầu triệu tập thêm người làm
chứng, đưa ra vật chứng hoặc tài liệu mới Hồ sơ, chứng cứ được xác lậptrong giai đoạn điều tra là rất quan trọng cho việc xét xử tại phiên tòa Tuynhiên, các chứng cứ có trong hồ sơ là do các cơ quan tiến hành tố tụng thu
Trang 13thập, nhiều trường hợp chưa thể đầy đủ và không loại trừ việc thiếu kháchquan Đặc biệt đối với vụ án hình sự, trách nhiệm chứng minh thuộc vềcác cơ quan tiến hành tố tụng; cho nên đa số các trường hợp Cơ quan điềutra, Viện kiểm sát chỉ thu thập chứng cứ buộc tội, không chú trọng thuthập chứng cứ gỡ tội; trong khi đó bên bào chữa (người bào chữa, bị can,
bị cáo) không được quyền chủ động thu thập chứng cứ làm hạn chế khảnăng tranh tụng của họ tại phiên tòa Vì vậy, cho nên pháp luật tố tụngquy định các bên tham gia tố tụng có quyền yêu cầu triệu tập thêm ngườilàm chứng, quyền đưa ra các chứng cứ mới tại phiên tòa Nhiệm vụ củaTòa án là đảm bảo để các bên thực hiện quyền tố tụng này; tránh trườnghợp sợ phiền phức, sợ phiên tòa đi chệch quỹ đạo chuẩn bị nên không chútrọng thủ tục này tại phần mở đầu phiên tòa
Thực hiện việc xét hỏi tại phiên tòa: thực chất là cuộc điều tra
chính thức tại phiên tòa để xác định sự thật khách quan của vụ án Vìvậy, các bên tham gia tố tụng đều có quyền điều tra dưới sự điều khiểncủa chủ tọa phiên tòa từ hỏi người khác, xem xét vật chứng, tài liệu.Việc xét hỏi này chỉ kết thúc khi Tòa án thấy rằng thông qua xét hỏi sựthật khách quan, đối tượng chứng minh trong vụ án đã được xác địnhđầy đủ, các tình tiết liên quan đến việc giải quyết đã được làm rõ Vì thếcho nên, thủ tục tố tụng quy định quyền thu thập chứng cứ chỉ cho các
cơ quan tiến hành tố tụng, quy định gánh nặng xét hỏi cho Tòa án, quyđịnh chỉ cho phép một số ít các bên tham gia xét hỏi (đại diện Viện kiểmsát, luật sư) cần được xem xét lại từ góc độ tranh tụng;
Phát biểu ý kiến về đánh giá chứng cứ: Qua việc điều tra chính
thức, công khai tại phiên tòa, mỗi bên tham gia tố tụng đều có cách nhìnnhận, đánh giá của mình về kết quả chứng minh Để thực hiện chức năng
tố tụng, nhiệm vụ tố tụng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, cácbên tham gia tố tụng phải công khai đưa ra ý kiến đánh giá của mình về sựthật khách quan của vụ án để giúp cho Tòa án cân nhắc khi ra phán quyết
Trang 14Các đánh giá khác nhau, phản biện nhau của các bên tham gia tố tụng tạiphiên tòa sẽ giúp cho Tòa án khách quan hơn, toàn diện hơn, thận trọnghơn khi đánh giá để ra phán quyết.
Phát biểu ý kiến về pháp luật áp dụng: Thực tiễn cho thấy rằng,
do nhiều lý do khác nhau như kĩ thuật lập pháp chưa tốt, quy định của phápluật chưa rõ ràng, thiếu cụ thể, trình độ am hiểu còn hạn chế mà sự nhậnthức về pháp luật tố tụng cũng có sự khác nhau Vì vậy, nội dung của tranhtụng trong giai đoạn tranh luận tại phiên tòa bao gồm việc các bên tham gia
tố tụng đề nghị áp dụng luật để bảo vệ quan điểm của mình trong giải quyết
vụ án theo chức năng, nhiệm vụ được giao Ví dụ: trong phiên tòa hình sự,đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng pháp luật hình sự để bảo vệ cáotrạng, bảo vệ việc buộc tội; người bào chữa đề nghị áp dụng pháp luật hình
sự để gỡ tội, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo
Đề nghị biện pháp giải quyết vụ án liên quan đến quyền và lợi
ích liên quan: Mỗi bên tham gia tố tụng đều nhằm mục đích bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của mình Vì vậy, nội dung không thể thiếutrong tranh tụng là các bên đề xuất ý kiến và lập luận trên cơ sở chứng cứ,quy định của pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích đó Tùy theo tư cách tốtụng của mình mà phạm vi xét hỏi, tranh luận, đề xuất ý kiến của mỗingười tham gia tố tụng cũng có khác nhau: đại diện Viện kiểm sát bảo vệcáo trạng, người bào chữa, bị cáo bảo vệ quan điểm không có tội hoặcgiảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nguyên đơn dân sự đòi hỏi việc bồi thường,
bị đơn dân sự bác bỏ hoặc giảm mức bồi thường
1.1.1.2 Tố tụng hình sự
Tố tụng hình sự là trình tự (quá trình) tiến hành giải quyết vụ ánhình sự theo quy định của pháp luật (khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vàthi hành án hình sự)
Tố tụng hình sự bao gồm toàn bộ hoạt động của cơ quan tiến hành
tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án); người tiến hành tố
Trang 15tụng (thủ trưởng, phó thủ trưởng Cơ quan điều tra, điều tra viên; việntrưởng, phó viện trưởng Viện kiểm sát, kiểm sát viên; chánh án, phóchánh án, thẩm phán, hội thẩm và thư ký Tòa án); người tham gia tố tụng(người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; người bào chữa, người bị hại, nguyênđơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụán; người bảo vệ quyền lợi của đương sự; người làm chứng; người giámđịnh và người phiên dịch); của cá nhân, cơ quan và tổ chức khác gópphần vào việc giải quyết vụ án theo quy định của luật tố tụng hình sự.
Tố tụng hình sự thể hiện một cách đậm nét bản chất và các nộidung của hoạt động tranh tụng thông qua phiên tòa hình sự, công tố viên(kiểm sát viên) sẽ nhân danh Nhà nước buộc tội bị cáo và luật sư sẽ hiệndiện với vai trò của người bào chữa, gỡ tội cho thân chủ Các chủ thể ởđây có mối quan hệ giữa cơ quan, cá nhân hoạt động nhân danh Nhànước, thuộc nhánh quyền tư pháp với cá nhân hoạt động mang tính xã hội
- nghề nghiệp Việc tranh tụng phần nào đó có sự bất bình đẳng về vị trípháp lý của chủ thể nên cần có sự bình đẳng trong cách thức, quy trình,thủ tục, cách đánh giá, phán xét để đảm bảo quyền này cho luật sư và sựcân bằng trong khi tiến hành hoạt động này
1.1.1.3 Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một giai đoạn của tố tụng
hình sự, trong đó, Tòa án có thẩm quyền tiến hành xem xét, giải quyết và
xử lí vụ án bằng việc ra bản án hoặc các quyết định cần tố tụng theo quyđịnh của pháp luật
Trong quá trình tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự diễn raviệc tranh tụng và cũng tại đây, vai trò bào chữa của luật sư được thểhiện rõ nét
1.1.1.4 Bào chữa
Từ điển Tiếng Việt định nghĩa đó là việc dùng nhiều lí lẽ, chứng cớ
để bênh vực cho hành vi của ai đó đang bị xem là phạm pháp hoặc đang bịlên án
Trang 16Theo Từ điển luật học, bào chữa là việc dùng lí lẽ, chứng cứ để
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bị can
1.1.2 Đặc trưng của xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Xét xử sơ thẩm được xem như giai đoạn kết thúc của quá trìnhgiải quyết vụ án hình sự, mọi tài liệu, chứng cứ của vụ án do các cơ quan
có thẩm quyền trước đó thu thập đều được xem xét một cách công khaitại phiên tòa Giai đoạn này mang những đặc trưng cơ bản sau:
Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được tiến hành sau khi Tòa án nhậnđược cáo trạng quyết định truy tố bị can (quyết định truy tố bị can trongtrường hợp áp dụng thủ tục rút gọn) và hồ sơ vụ án do Viện kiểm sátchuyển đến Sau khi vụ án được thụ lý, Chánh án Tòa án có thẩm quyềnphân công thẩm phán (hoặc một nhóm thẩm phán) nghiên cứu hồ sơ vụ
án và tham gia tố tụng tại phiên tòa với tư cách là chủ tọa hoặc thẩmphán xét xử;
Giai đoạn xét xử sơ thẩm kết thúc bằng việc Tòa án ra bản án hình
sự do Hội đồng xét xử tuyên tại phiên tòa hoặc quyết định đình chỉ vụ án;
Nhiệm vụ của xét xử sơ thẩm là xem xét và giải quyết nội dung
vụ án theo quy định của pháp luật, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo
vệ lợi ích của Nhà nước, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân;
Chủ thể cơ bản tiến hành tố tụng trong giai đoạn này là Tòa án.Chỉ có Tòa án mới có thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Ngoài
ra còn có sự tham gia tố tụng của các chủ thể khác theo quy định củapháp luật như người bào chữa, người bị hại, người làm chứng…
1.1.3 Các giai đoạn của xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự bao gồm hai khâu là chuẩn bị xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự và phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự
Là bước đầu tiên của quá trình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, giai
đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm có vai trò quyết định, ảnh hưởng rất lớn
Trang 17đến kết quả của việc xét xử, đảm bảo tính chính xác, khách quan, đúngngười đúng tội
Giai đoạn này bắt đầu kể từ ngày Tòa án nhận được hồ sơ do Việnkiểm sát chuyển sang Để có thể quyết định đưa vụ án ra xét xử hoặc racác quyết định tố tụng khác phù hợp với yêu cầu của pháp luật phải cómột khoảng thời gian nhất định để chuẩn bị, tức là nghiên cứu hồ sơhoặc và giải quyết yêu cầu của những người tham gia tố tụng, đồng thờitiến hành những việc cần thiết cho việc mở phiên tòa hình sự sơ thẩm
Sau khi nhận hồ sơ vụ án đã được thụ lý, chánh án Tòa án phảiphân công ngay thẩm phán làm chủ tọa phiên tòa để kịp thời nghiên cứu
hồ sơ và giải quyết những vấn đề cần thiết theo quy định của pháp luật
Thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm được tính từ ngày thẩm phánđược phân công chủ tọa phiên tòa nhận hồ sơ của vụ án quy định tại
khoản 2, Điều 176, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003:
“1 Sau khi nhận hồ sơ vụ án, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa có nhiệm vụ nghiên cứu hồ sơ; giải quyết các khiếu nại và yêu cầu của những người tham gia tố tụng và tiến hành những việc khác cần thiết cho việc mở phiên tòa.
2 Trong thời hạn ba mươi ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, bốn mươi lăm ngày đối với tội phạm nghiêm trọng, hai tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng, ba tháng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, kể từ ngày nhận hồ sơ vụ án, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa phải ra một trong những quyết định sau đây:
Trang 18mươi ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Việc gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử phải được thông báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp.
Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày có quyết định đưa vụ
án ra xét xử, Toà án phải mở phiên toà; trong trường hợp có lý do chính đáng thì Toà án có thể mở phiên toà trong thời hạn ba mươi ngày.
Đối với vụ án được trả lại để điều tra bổ sung thì trong thời hạn mười lăm ngày sau khi nhận lại hồ sơ, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử”.
Như vậy, theo đó thì Thẩm phán được Tòa án có thẩm quyền phâncông xét xử, giao nhiệm vụ làm chủ tọa (nếu vụ án được đưa ra xét xử)
có trách nhiệm nghiên cứu hồ sơ và quyết định những công việc về thủtục cũng như nội dung để chuẩn bị tiến tới mở phiên tòa xét xử: áp dụng,thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo; quyết địnhđưa vụ án ra xét xử (trong trường hợp sau khi nghiên cứu hồ sơ, thẩmphán nhận thấy có đủ điều kiện đưa vụ án ra xét xử như tài liệu trong hồ
sơ vụ án phản ánh Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ,
đã có đủ chứng cứ cơ bản, cần thiết cho việc xét xử tại phiên tòa… thìthẩm phán ra quyết định đưa vụ án ra xét xử); quyết định trả hồ sơ điềutra bổ sung; quyết định tạm đình chỉ vụ án; quyết định đình chỉ vụ án
Trước khi mở phiên tòa, cần thực hiện những công việc sau:
Giao quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị cáo, người đại diện hợppháp của họ hay người bào chữa chậm nhất là mười ngày trước khi mởphiên tòa để họ có điều kiện nghiên cứu nhằm chuẩn bị cho việc bào chữatại phiên tòa
Trường hợp xét xử vắng mặt bị cáo thì quyết định đưa vụ án ra xét
xử và bản cáo trạng được giao cho người bào chữa hoặc người đại diệnhợp pháp của bị cáo Ngoài ra, quyết định này còn phải được niêm yết tại
Trang 19trụ sở chính quyền xã, phường, thị trấn nơi cư trú hoặc nơi làm việc cuốicùng của bị cáo.
Căn cứ vào quyết định đưa vụ án ra xét xử, thẩm phán gửi giấytriệu tập những người cần xét hỏi đến phiên tòa
Gửi lịch xét xử cho Viện kiểm sát, trại tạm giam nơi giam giữ bịcáo để dẫn giải bị cáo đến phiên tòa (nếu bị cáo đang bị tạm giam) và cơquan công an để bố trí lực lượng bảo vệ phiên tòa
Gửi giấy mời cho đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân liên quan
có mặt tại phiên tòa
Chuẩn bị việc tổ chức phiên tòa
Sau khi đã chuẩn bị về nội dung, Tòa án cần phải chuẩn bị tốt cảviệc tổ chức phiên tòa về các mặt như địa điểm, thời gian, những ngườiđược mời đến dự phiên tòa, việc giữ trật tự và bảo vệ phiên tòa, dẫn giảicác bị cáo bị tạm giam, bố trí nơi xử án
Những việc làm trên nhằm đảm bảo cho quá trình chuẩn bị xét xửđược tiến hành đúng trình tự và thủ tục theo quy định của pháp luật, đảmbảo hiệu quả của việc xét xử
Phiên tòa là hình thức hoạt động xét xử của Toà án, nơi các vụ án
được đưa ra xét xử công khai, trực tiếp Theo đó, phiên tòa hình sự là nơicác vụ án hình sự được đưa ra xét xử công khai, trực tiếp Tuỳ theo tínhchất của thủ tục xét xử vụ án mà có phiên toà sơ thẩm, phiên toà phúcthẩm, phiên toà giám đốc thẩm và phiên toà tái thẩm
Phiên tòa là nơi điều tra công khai, chính thức về vụ án với sựtham gia của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, ngườitham gia tố tụng với vị trí pháp lý được xác định theo luật Các bên cóquyền tham gia vào quá trình chứng minh, làm rõ về vụ án được đưa raxét xử: đưa ra tài liệu, chứng cứ chứng minh… Tòa án tiến hành xácđịnh sự thật khách quan và chỉ ra các phán quyết trên cơ sở kết quả điềutra tại phiên tòa nên giữ vai trò trung tâm, điều khiển, quyết định các vấn
Trang 20đề tại phiên tòa và có trách nhiệm tạo điều kiện cho các bên thực hiệnquyền tham gia tố tụng của mình.
Trong toàn bộ quá trình tố tụng, xét xử đóng vai trò trung tâm, thểhiện đầy đủ nhất bản chất của hệ thống tư pháp của mỗi Nhà nước, là giaiđoạn quyết định tính đúng đắn, khách quan của việc giải quyết vụ án, bảo
vệ lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân.Trong xét xử, phiên tòa là giai đoạn có vai trò đặc biệt quan trọng vàmang tính quyết định trong giải quyết vụ án Do đó, cũng trong bài viết
“Bản chất của tranh tụng tại phiên tòa”, PGS - TS Trần Văn Độ cho
rằng, phiên tòa thực hiện các nhiệm vụ, mục đích tố tụng đặt ra sau đây:
Phiên tòa là nơi Tòa án bằng thủ tục công khai, toàn diện thực hiện cuộc điều tra chính thức để xác định sự thật khách quan của vụ
án Tòa án ra bản án, quyết định trên cơ sở các chứng cứ được thu thập
và kiểm tra công khai tại phiên tòa Việc chứng minh (bao gồm cả quátrình thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ) được các chủ thể có quyền
và lợi ích khác nhau (bên buộc tội, bên bào chữa, nguyên đơn, bị đơn)thực hiện một cách bình đẳng, dân chủ tại phiên tòa khi xét hỏi cũng nhưtranh luận Việc chứng minh và từ đó xác định sự thật của vụ án đượcTòa án thực hiện trên cơ sở chứng cứ được thu thập, thẩm tra tại phiêntòa và cân nhắc, đánh giá của các bên tham gia tố tụng khác nhau;
Hơn ở đâu hết, tại phiên tòa quyền và nghĩa vụ tố tụng của
những người tham gia tố tụng được quy định và được đảm bảo thực hiện đầy đủ nhất bằng thủ tục tố tụng trực tiếp, công khai Vì ở đó
khó có thể xảy ra các trường hợp vi phạm pháp luật nghiêm trọng nhưbức cung, ép cung, dùng nhục hình v.v…;
Phiên tòa cũng là nơi có điều kiện tốt nhất để thực hiện việc áp
dụng đúng đắn pháp luật Qua phân tích nội dung các đề xuất của các
bên tham gia tố tụng về áp dụng pháp luật, Tòa án lựa chọn cho mìnhphương án áp dụng pháp luật chính xác nhất để giải quyết đúng đắn vụ án;
Trang 21Thông qua thủ tục tại phiên tòa, việc điều tra công khai, việc tranhluận và đặc biệt là qua việc công bố một bản án đúng đắn, hợp lý, hợptình, Tòa án giúp cho những người tham gia tố tụng cũng như những
người tham dự phiên tòa nâng cao hiểu biết pháp luật, củng cố lòng
tin vào pháp luật để từ đó không chỉ tự nguyện tuân thủ pháp luật, mà
còn tích cực tham gia vào đấu tranh phòng chống vi phạm pháp luật Đây là một kênh thực hiện việc giáo dục và tuyên truyền pháp luật rấthiệu quả
Có thể nói, phiên tòa là giai đoạn trung tâm thể hiện đầy đủ nhấtbản chất quá trình tố tụng nói chung và xét xử nói riêng Phiên tòa có sựtham gia đầy đủ của các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiếnhành tố tụng, những người tham gia tố tụng với địa vị pháp lý được xácđịnh Thông qua phiên tòa, bằng thủ tục trực tiếp, công khai, qua nghe ýkiến và đề xuất của các bên tham gia tố tụng, Tòa án (với tư cách là cơquan tiến hành tố tụng quan trọng nhất) tiến hành xác định sự thật kháchquan của vụ án và ra các phán quyết giải quyết vụ án một cách đúng đắn,đầy đủ, khách quan và đúng pháp luật
Theo quy định tại các chương XIX, XX, XXI, XXII của Bộ luật
Tố tụng hình sự 2003, phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự gồm các
phần sau: thủ tục bắt đầu phiên tòa, thủ tục xét hỏi tại phiên tòa, tranhluận tại phiên tòa, nghị án và tuyên án Nó mang những đặc điểm chung
và thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ của phiên tòa Trong đó phần xét hỏi
và tranh luận sẽ thể hiện rõ nét toàn bộ bản chất của quá trình tiến hành
tố tụng, các bên tranh luận sẽ đưa ra quan điểm của mình về đánh giáchứng cứ được xem xét, các điều khoản của Bộ luật hình sự, Bộ luật Tốtụng hình sự và các văn bản liên quan khác cần áp dụng và đề xuất cácbiện pháp cụ thể cho việc giải quyết vụ án Đây chính là cơ sở để Hộiđồng xét xử đưa ra phán quyết đúng đắn, khách quan, hợp lý
Trang 221.1.4 Nhiệm vụ của xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là hoạt động tố tụng rất phức tạpkhông chỉ thể hiện trong việc chứng minh vụ án tại phiên tòa mà còn thể
hiện cả trong nhiệm vụ của nó.
Xét xử sơ thẩm là xét xử lần đầu nên trong giai đoạn này, Tòa ánphải giải quyết mọi vấn đề của vụ án trên cơ sở cáo trạng mà Viện kiểmsát truy tố Các nhiệm vụ của xét xử sơ thầm gồm:
Xem xét và giải quyết vụ án hình sự theo quy định của pháp luậtnhằm bảo vệ chế độ, pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ tài sản Nhànước, của tập thể; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, gópphần đấu tranh phòng ngừa và phòng chống tội phạm
Trên cơ sở truy tố của Viện kiểm sát, Tòa án tiến hành giải quyết
vụ án bằng việc ra bản án, quyết định việc bị cáo có phạm tội hay khôngphạm tội, hình phạt và các biện pháp tư pháp khác căn cứ vào các chứng
cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của kiểm sát viên và nhữngngười tham gia tố tụng
Trường hợp không đủ căn cứ để đưa vụ án ra xét xử theo trình tự
sơ thẩm, Tòa án tiến hành giải quyết vụ án bằng việc ra quyết định đìnhchỉ vụ án, quyết định tạm đình chỉ vụ án theo quy định của pháp luật
Qua việc xét hỏi và tranh luận dân chủ, công khai tại phiên tòa, Hộiđồng xét xử kiểm tra, đánh giá lại toàn bộ những chứng cứ, tình tiết của
vụ án đã có trong hồ sơ và tại phiên tòa để đưa ra phán quyết cuối cùng
Thông qua việc xét xử và đặc biệt là qua các phiên tòa công khai,giai đoạn xét xử sơ thẩm quyền tự do, dân chủ của công dân được bảođảm, qua đó góp phần giáo dục công dân chấp hành nghiêm chỉnh phápluật, tôn trọng các quy tắc của cuộc sống xã hội, nâng cao ý thức đấu tranhphòng ngừa và chống tội phạm cũng như các vi phạm pháp luật khác
Trong phiên tòa xét xử sơ thẩm cần sự có mặt của kiểm sát viên;
bị cáo; người bào chữa; người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự,
Trang 23người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người làm chứng;người giám định.
1.2 Địa vị pháp lý của luật sư trong tố tụng hình sự
1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của chế định luật sư bào chữa
Trong hệ thống pháp luật của nhiều nước trên thế giới, luật sư làmột chế định quan trọng và được xem như một nghề nghiệp đặc biệt.Hoạt động tranh tụng, nghề luật có lịch sử xuất hiện gắn với thiết chếTòa án gắn với việc tổ chức, hoàn thiện bộ máy nhà nước và thừa nhậnquyền được bào chữa, đảm bảo tự do, nhân quyền của các đương sự
Ở Việt Nam, pháp luật thành văn thiết lập chế định luật sư và cácquy định pháp luật đảm bảo vai trò tranh tụng của luật sư chỉ được hìnhthành sau khi thực dân Pháp xâm lược Từ năm 1945 trở về trước, phápluật về luật sư là một bộ phận gắn liền với hệ thống pháp luật của chủnghĩa thực dân và đế quốc xâm lược Về bản chất, đó là hình thức, công
cụ phục vụ cho bộ máy nhà nước thực dân và bán nước
Sau khi nhà nước Cộng hòa dân chủ nhân dân được thiết lập, đánhdấu bởi thắng lợi của cách mạng tháng Tám năm 1945 và sự kiện chủ
tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập ngày 02/9/1945, tư tưởng
nhân quyền, đảm bảo quyền tự do cá nhân, trong đó có quyền tự do cơbản là quyền bào chữa của bị can, bị cáo đã được thực hiện trên thực tế
Chỉ 38 ngày sau khi đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã thấy rõ sự cần thiết phải thay thế tổ chức luật sư cũ do Pháp bắt đầuthiết lập từ năm 1864 ở nước ta và sửa đổi cho phù hợp với yêu cầu mới
của Cách mạng Ngày 10/10/1945, Người ký Sắc lệnh số 46/SL quy định cho duy trì các tổ chức đoàn thể luật sư, trong đó nêu rõ: “Cách tổ chức
đoàn thể luật sư trong nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn tạm giữ như cũ Sắc lệnh ngày 25/5/1930 quy định tổ chức ấy vẫn tạm thi hành với các điều sửa đổi sau này ( ) các luật sư có quyền bào chữa ở trước
Trang 24tất cả các tòa án ( )” (Điều 1 và Điều 2) Trong Sắc lệnh này, các tiêu
chuẩn để được làm luật sư cũng được quy định cụ thể: có quốc tịch ViệtNam bất luận nam, nữ; có bằng cử nhân luật; đã làm luật sư tập sự trong
ba năm (kể từ ngày tuyên thệ) ở một văn phòng luật sư thực thụ trongnước Việt Nam; những người đã làm luật sư tập sự ở Pháp có thể xintính thời hạn tập sự ở Pháp nhưng chỉ được trừ nhiều nhất là 12 tháng; cóhạnh kiểm tốt; được bằng chứng rằng đã hết hạn tập sự và đủ tư cáchlàm luật sư tập sự Điều đó cho thấy sự đánh giá cao của Chủ tịch HồChí Minh về quyền bào chữa, nghề luật sư và vận dụng nó thích nghi,phù hợp trong điều kiện cụ thể của Cách mạng Việt Nam
Quyền bào chữa đã chính thức trở thành một nguyên tắc hiến địnhtrong lĩnh vực tư pháp Nguyên tắc ấy đã khẳng định vị trí, vai trò củangười luật sư trong xã hội dân chủ pháp quyền với tính cách là người bảo
vệ, trợ giúp pháp lý cho nhân dân, đồng thời thể chế hóa quyền bào chữa
và nhờ người khác - Luật sư bào chữa cho mình
Sắc lệnh 46/SL ngày 10/10/1945 đã trở thành một cột mốc quan
trọng trong việc hình thành khái niệm quyền bào chữa và nghề luật sưtrong chế độ Cách mạng Hơn một năm sau, Hiến pháp đầu tiên (1946)của nước ta, do chính Hồ Chí Minh trực tiếp chỉ đạo thực hiện, Điều 67
đã quy định: “Các phiên tòa đều phải công khai, trừ những trường hợp
đặc biệt Người bị cáo được quyền tự bào chữa lấy hoặc mượn luật sư”.
Một điều trùng hợp ý nghĩa là hơn hai năm sau, trong Bản tuyên
ngôn thế giới về Nhân quyền ngày 10/12/1948 của Đại hội đồng Liên
Hiệp quốc, ý tưởng này cũng đã được khẳng định: “Mỗi bị cáo dù đã bị
buộc tội đều có quyền được coi là vô tội cho đến khi được chứng minh là phạm tội theo luật pháp tại một phiên tòa xét xử công khai với mọi bảo đảm biện hộ cần thiết” (khoản 1, Điều 11)
Về sau, Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị đã
được Đại hội đồng Liên Hiệp quốc thông qua ngày 16/12/1966 (Việt
Trang 25Nam gia nhập ngày 24/9/1982) cũng khẳng định quyền bào chữa của conngười và vai trò của luật sư trong xã hội tiến bộ Cụ thể là trong quá trìnhxét xử về một tội phạm hình sự, mỗi người đều có quyền đòi hỏi đủ thờigian phù hợp, điều kiện thuận tiện để chuẩn bị bào chữa và liên hệ vớingười bào chữa do chính mình lựa chọn, trong trường hợp do lợi ích củacông lý đòi hỏi, phải bố trí cho người đó một sự giúp đỡ về pháp lý màngười đó không phải trả tiền nếu họ không có đủ điều kiện trả (khoản 3,Điều 14, Công ước)
Đến năm 1990, Hội nghị Liên Hiệp quốc lần thứ 8 về phòng
chống tội phạm tổ chức ở Havana (Cu Ba) đã thông qua “Các nguyên
tắc cơ bản về vai trò của luật sư” - (Basic principles on the role of lawyers) đặt trách nhiệm cho các Chính phủ và Hiệp hội chuyên môn
của luật sư ở các nước là phải thúc đẩy những chương trình nhằm thôngbáo cho công chúng biết rõ vai trò quan trọng của luật sư trong việc bảo
vệ các quyền tự do cơ bản của công dân
Cùng với sự phát triển và hoàn thiện dần của hệ thống pháp luật
xã hội chủ nghĩa, quyền bào chữa của công dân và vai trò của luật sưngày càng được nâng cao Quyền bào chữa và nghề luật sư được xácđịnh ngày càng cụ thể trong các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992
và nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác
Hiến pháp nước ta năm 1980, Điều 133 quy định: “Quyền bào
chữa của bị cáo được bảo đảm Tổ chức luật sư được thành lập để giúp
bị cáo và các đương sự khác về mặt pháp lý”
Điều 132, Hiến pháp 1992 cũng nêu rõ: “Bị cáo có thể tự bào
chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình”.
Nhà nước ta lần lượt thể chế hóa, nâng cao vai trò của luật sư qua
các văn bản quy phạm pháp luật từ thấp đến cao: Pháp lệnh Tổ chức luật
sư ngày 18/12/1987 và Quy chế Đoàn Luật sư ban hành kèm theo Nghị định số 15/HĐBT ngày 12/2/1989 của Hội đồng Bộ trưởng đánh dấu sự
Trang 26đổi mới về tư duy pháp lý đối với nghề luật sư theo tinh thần Đại hộiĐảng toàn quốc lần thứ VI (1986) Để tiếp tục hoàn thiện chế định luật
sư, mười hai năm sau một pháp lệnh mới về luật sư được ban hành,
Pháp lệnh luật sư năm 2001 đưa chế định luật sư nước ta tiếp cận với
chuẩn mực quốc tế, làm cơ sở cho việc hội nhập thế giới trong quá trình
toàn cầu hóa Sau 5 năm thi hành Pháp lệnh Luật sư 2001, Luật Luật sư
năm 2006 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2007) đã cụ thể và chi tiết hóa các
quy định trước đây về địa vị pháp lý và xác lập rõ nét hơn vai trò luật sư
Các Bộ luật Tố tụng Hình sự và Bộ Luật Tố tụng dân sự của nước
ta cũng từng bước tạo điều kiện thuận lợi để bảo đảm đầy đủ quyền bàochữa, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân trước pháp luật và khôngngừng nâng cao vai trò của luật sư trong quá trình tham gia tố tụng
1.2.2 Những vấn đề chung về vai trò tranh tụng của luật sư ở Việt Nam
Do chịu ảnh hưởng của hệ thống pháp luật châu Âu lục địa nên hệthống tranh tụng Việt Nam mang đặc điểm của mô hình tố tụng thẩm vấn(tố tụng xét hỏi), trong đó ghi nhận vai trò trung tâm của thẩm phán, yếu
tố tra tấn trong việc điều tra, xác minh chứng cứ không phải là trung tâm.Trong hệ thống này, cơ quan công tố và luật sư có địa vị bất bình đẳng,quyền hạn của công tố lớn hơn quyền của luật sư Luật sư đứng trướcTòa để trình bày chứ không phải để tranh tụng nên họ đóng vai trò làngười bổ trợ cho quá trình tố tụng do Tòa án điều khiển
Theo cuốn “Vai trò của luật sư trong hoạt động tranh tụng” do
Tiến sĩ Trương Thị Hồng Hà chủ biên định nghĩa:
“Hoạt động tranh tụng của luật sư được hiểu là tổng hợp các
hoạt động và kỹ năng nghề nghiệp có mối liên hệ chặt chẽ với nhau diễn
ra tại phiên tòa dưới sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa nhằm mục đích thuyết phục Hội đồng xét xử nghe theo ý kiến của mình” (Trang 39)
Trang 27“Vai trò của luật sư tranh tụng là cách thức tác động và ý nghĩa
xã hội của luật sư trong quá trình thực hiện hoạt động tranh tụng nhằm đảm bảo các mục đích bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của thân chủ, bảo vệ pháp chế, pháp luật, bảo vệ công lý, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và giám sát hoạt động tư pháp” (Trang 39)
Hoạt động tranh tụng của luật sư diễn ra theo các giai đoạn gồm:
chuẩn bị tranh tụng gắn với các thủ tục bắt đầu phiên tòa; kiểm tra chứng
cứ, tài liệu về vụ án khi tham gia quá trình xét hỏi tại phiên tòa; tranhluận giữa các bên; công bố kết quả tranh tụng
Trong hoạt động tranh tụng, luật sư có các vai trò cơ bản sau như:vai trò bào chữa, bảo vệ thân chủ; vai trò bảo vệ công lý, công bằng xãhội; vai trò bảo vệ pháp luật, bảo vệ pháp chế và hoàn thiện hệ thốngpháp luật; vai trò phổ biến, giáo dục pháp luật; vai trò giám sát hoạt động
tư pháp
Vai trò bào chữa, bảo vệ thân chủ là một trong những vai trò tranhtụng cơ bản của luật sư, được pháp luật quy định ngày càng chặt chẽ vàđược thực hiện ngày càng nhiều trong thực tế các phiên tòa xét xử hiện nay
Xét mặt lý luận và thực tiễn, vai trò này hướng tới mục đích bảo
vệ quyền của bị can, bị cáo và các đương sự trước Tòa nói riêng, quyền
cơ bản của con người nói chung - yêu cầu cấp thiết, quan trọng khi xâydựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và luật sư là một trongnhững thiết chế đảm bảo của Nhà nước về mặt xã hội
Khi tham gia tranh tụng, luật sư triển khai các kỹ năng, nghiệp vụcủa mình, đưa ra các lập luận nhằm mục đích gỡ tội cho các thân chủ.Trường hợp không có chứng cứ gỡ tội mà tồn tại các chứng cứ không cólợi cho thân chủ của mình, luật sư vẫn phải tranh tụng nhằm mục đích bàochữa, hạn chế tối đa sự trừng phạt của Nhà nước đối với bị can, bị cáo
Vai trò bào chữa của luật sư trong tố tụng hình sự được hình thànhtrên cơ sở nghiên cứu, tìm tòi, suy nghĩ để tìm hiểu được sự thật khách
Trang 28quan của vụ án Luật sư tự xây dựng bản luận cứ với các lý lẽ kèm theo cácchứng cứ thu thập được và các tình tiết có lợi nhất cho thân chủ với mụcđích thuyết phục Hội đồng xét xử chấp nhận, việc này quyết định lớn đếnkết quả bào chữa.
Tuy nhiên, việc triển khai các kỹ năng xét hỏi và kỹ năng tranhluận tại phiên tòa mới thể hiện rõ nét vai trò bảo vệ thân chủ của luật sưtrên cơ sở xác định rõ về tư cách tham gia tố tụng, các quy định của phápluật liên quan đến vụ án, theo dõi và ghi chép về diễn biến phiên tòa, đặcbiệt là sự ứng phó với các tình huống gặp phải trong quá trình xét xử đểđiều chỉnh nội dung tranh luận nhằm bảo vệ các luận cứ mà mình đưa ramột cách chặt chẽ, lôgic, mang tính thuyết phục cao
Việc luật sư triển khai các kỹ năng tranh tụng, bố trí thời gian hợp lý,xác định và áp dụng chính xác, linh hoạt các quy định của pháp luật, loạitội, đối tượng để đưa ra lập luận sẽ quyết định lớn đến kết quả bào chữa.Nếu bị cáo phạm vào tội phạm về an ninh quốc gia, luật sư cần chỉ rõ cácnguyên nhân, điều kiện phạm tội, hoàn cảnh sa ngã, động cơ, mục đích đểtranh luận; hay nếu thân chủ là người chưa thành niên thì cần chú trọng tớinguyên nhân, điều kiện phạm tội, đặc điểm về nhận thức để bào chữa…
1.2.3 Các quy định pháp luật về luật sư và hoạt động tố tụng của luật sư
Hiện nay, trong khoa học pháp lý nói chung, vẫn tồn tại rất nhiềuquan điểm và ý kiến khác nhau về khái niệm luật sư, vị trí và vai trò củaluật sư trong tố tụng hình sự Ở Việt Nam, nghề luật sư được hiểu đồngnhất với các tên gọi luật gia, luật sư, người bào chữa, bào chữa viên nhândân, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo, các đương sự,người có quyền và nghĩa vụ liên quan, người đại diện theo ủy quyền
Đại từ điển tiếng Việt định nghĩa: “Luật sư là người có chức trách, dùng pháp luật bào chữa cho bị can trước Tòa án”.
Trang 29Tại điểm a, khoản 1, Điều 56, Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 đã
quy định luật sư là một trong những người có tư cách thực hiện việc bàochữa cho bị can, bị cáo tại phiên tòa (bên cạnh đó còn có người đại diệnhợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; Bào chữa viên nhân dâncũng được tham gia bào chữa) Quy định này thừa nhận tư cách pháp lýtrong việc tham gia tố tụng nói chung và tố tụng hình sự nói riêng củaluật sư Theo đó, sẽ làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ tương ứngtrong suốt quá trình luật sư tham gia vào việc giải quyết vụ án hình sự
Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp và Bộ luật Tố tụng hình
sự, Luật luật sư năm 2006 đã có các quy định chi tiết xác định rõ về khái
niệm, tiêu chuẩn, nguyên tắc hành nghề… đối với luật sư
“Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý của cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là khách hàng)” (Điều 2).
Điều kiện, tiêu chuẩn của Luật sư được quy định tại Điều 10,
Luật Luật sư 2006 là: “Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, bằng cử nhân Luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khoẻ bảo đảm hành nghề luật sư thì có thể hành nghề luật sư”.
“Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 10 của Luật này muốn được hành nghề luật sư phải có Chứng chỉ hành nghề luật sư và gia nhập một Đoàn luật sư.” (Điều 11).
Từ những quy định nêu trên, có thể hiểu một cách khái quát: Luật
sư là những người hoạt động và hành nghề luật dưới hình thức tư vấnpháp luật và tham gia tố tụng đáp ứng đủ các tiêu chuẩn, điều kiện củaquy định hành nghề luật sư và các quy định pháp luật khác có liên quan
để cung ứng dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của khách hàng
Trang 30Luật này cũng quy định 5 nguyên tắc hành nghề đối với luật sư
tại Điều 5 gồm:
“1 Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật.
2 Tuân theo quy tắc ứng xử và đạo đức nghề nghiệp luật sư.
3 Độc lập, trung thực, tôn trọng sự thật khách quan.
4 Sử dụng các biện pháp hợp pháp để bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng.
5 Chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động nghề nghiệp luật sư”.
Luật sư giữ một vị trí pháp lý hết sức quan trọng trong hoạt động
tố tụng Tại Việt Nam, địa vị pháp lý tố tụng của luật sư được quy định
trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2004, Luật Luật sư năm 2006 và các văn bản pháp luật có liên quan.
Trong tố tụng hình sự, địa vị pháp lý của luật sư được xác định khi
họ tham gia tố tụng với vai trò là người bào chữa, người bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của đương sự (Điều 58, 59, Bộ luật Tố tụng hình sự
năm 2003)
Điều 27 Luật này quy định về hoạt động tố tụng của luật sư:
“1 Hoạt động tham gia tố tụng của luật sư phải tuân theo quy định của pháp luật về tố tụng và Luật này.
2 Luật sư được cơ quan tiến hành tố tụng cấp giấy chứng nhận người bào chữa, giấy chứng nhận người bảo vệ quyền lợi của đương sự trong vụ án hình sự hoặc giấy chứng nhận người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự, vụ án hành chính (sau đây gọi chung là giấy chứng nhận tham gia tố tụng của luật sư) khi xuất trình đủ giấy tờ thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Thẻ luật sư, giấy yêu cầu luật sư của khách hàng và giấy giới thiệu của tổ chức hành nghề luật sư hoặc của chi nhánh tổ chức hành
Trang 31nghề luật sư nơi luật sư đó hành nghề đối với trường hợp luật sư hành nghề trong tổ chức hành nghề luật sư;
b) Thẻ luật sư, giấy yêu cầu luật sư của khách hàng và giấy giới thiệu của Đoàn luật sư nơi luật sư đó là thành viên đối với trường hợp luật sư hành nghề với tư cách cá nhân; Thẻ luật sư và giấy giới thiệu của cơ quan, tổ chức nơi luật sư hành nghề với tư cách cá nhân làm việc theo hợp đồng lao động để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan,
tổ chức đó;
c) Thẻ luật sư và văn bản cử luật sư của tổ chức hành nghề luật
sư hoặc của chi nhánh tổ chức hành nghề luật sư nơi luật sư đó hành nghề đối với luật sư hành nghề trong tổ chức hành nghề luật sư hoặc Thẻ luật sư và văn bản phân công của Đoàn luật sư đối với luật sư hành nghề với tư cách cá nhân để tham gia tố tụng trong vụ án hình sự theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng.
3 Thời hạn cấp giấy chứng nhận tham gia tố tụng của luật sư không quá ba ngày, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
4 Giấy chứng nhận tham gia tố tụng của luật sư có giá trị trong các giai đoạn tố tụng, trừ trường hợp bị thu hồi, luật sư bị thay đổi hoặc không được tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.
5 Khi cần liên hệ với cá nhân, cơ quan, tổ chức để thực hiện quyền, nghĩa vụ và các hoạt động có liên quan đến việc bào chữa, bảo
vệ quyền lợi của khách hàng, luật sư xuất trình Thẻ luật sư và giấy chứng nhận tham gia tố tụng của luật sư”.
Địa vị pháp luật tố tụng của luật sư có hiệu lực khi luật sư đượccấp giấy chứng nhận tham gia tố tụng Giấy chứng nhận đó có giá trịtrong các giai đoạn tố tụng từ điều tra, khởi tố đến xét xử và thi hành án.Thẻ luật sư và giấy chứng nhận tham gia tố tụng của luật sư là căn cứ
Trang 32pháp lý để các cơ quan tiến hành tố tụng cũng như các cơ quan có liênquan, các tổ chức và cá nhân có trách nhiệm bảo đảm cho luật sư hoànthành nhiệm vụ của mình trong quá trình tham gia tố tụng Nếu giấychứng nhận tham gia tố tụng của luật sư bị thu hồi, luật sư bị thay đổihoặc không được tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật thì tráchnhiệm tố tụng của luật sư sẽ bị mất, địa vị pháp lý của luật sư trong hoạtđộng cụ thể đó cũng không còn nữa.
Quyền của Luật sư trong tố tụng hình sự bao gồm:
Với tư cách của người bảo vệ quyền lợi của đương sự - người bàochữa, luật sư có các quyền lợi được pháp luật quy định tương ứng với địa
vị pháp lý họ đảm nhiệm
Bên cạnh các quyền chung được quy định tại khoản 1, Điều 21,
Luật Luật sư năm 2006 như: Hành nghề luật sư, lựa chọn hình thức hành
nghề luật sư và hình thức tổ chức hành nghề luật sư theo quy định củaLuật này; Hành nghề luật sư trên toàn lãnh thổ Việt Nam; Hành nghề
luật sư ở nước ngoài; Các quyền khác theo quy định của Luật này, luật
sư còn có những quyền riêng, cụ thể khi tham gia tố tụng
Trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988, theo quy định tại Điều
36 thì người bào chữa (Luật sư) có quyền tham gia tố tụng từ khi khởi tố
bị can (giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng hình sự) Trường hợp cầnphải giữ bí mật điều tra đối với tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninhquốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quyết định để ngườibào chữa tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra
Họ có quyền có mặt khi hỏi cung bị can và nếu điều tra viên đồng ýthì được hỏi bị can và có mặt trong những hoạt động điều tra khác Ngườibào chữa có các quyền: đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, ngườigiám định, người phiên dịch quy định; quyền đưa ra những chứng cứ vàyêu cầu; gặp bị can, bị cáo đang bị tạm giam; được đọc hồ sơ vụ án và ghichép những điều cần thiết sau khi kết thúc điều tra; tham gia xét hỏi và
Trang 33tranh luận tại phiên tòa; khiếu nại các quyết định của cơ quan tiến hành tốtụng; kháng cáo bản án và quyết định của Tòa nếu bị cáo là người chưathành niên hoặc người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần.
Trên cơ sở kế thừa các quy định đó, Bộ luật Tố tụng hình sự năm
2003 đã có nhiều quy định mới, mở rộng quyền của người bào chữa nói
chung, luật sư nói riêng trong quá trình họ tham gia tố tụng hình sự
Luật sư “có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ, khi hỏi
cung bị can và nếu Điều tra viên đồng ý thì được hỏi người bị tạm giữ,
bị can và có mặt trong những hoạt động điều tra khác” Sự có mặt của
Luật sư không chỉ giúp bị can vững tin, an tâm hơn, tránh tâm lý hoangmang, lo lắng, sợ hãi quá mà khai bừa vì luật sư sẽ giải thích cho họ hiểu
rõ về tính chất của hành vi họ thực hiện đã vi phạm quy định nào củaluật, bị xử lý thế nào về trách nhiệm hình sự và bồi thường dân sự (nếucó), những tình tiết nào có thể áp dụng để giảm nhẹ hình phạt Hơn thế,đây còn là hình thức thực hiện việc giám sát quá trình điều tra của Cơquan điều tra, tránh tình trạng vi phạm về thẩm quyền, thời hạn, nguyêntắc, việc mớm cung, ép cung, dùng nhục hình để buộc người bị tạm giữphải khai
Việc “xem các biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của
mình và các quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa”
của luật sư nhằm kiểm tra tính chính xác của các thông tin được khai tháctrong quá trình điều tra nhằm đảm bảo tính khách quan, sự thật, bảo vệquyền lợi chính đáng cho thân chủ của mình; giám sát quá trình làm việccủa các cơ quan tiến hành tố tụng, đảm bảo tinh thần trách nhiệm, sự thậntrọng, nghiêm túc của người có thẩm quyền thực hiện nhiệm vụ, tránhnhững sai phạm, tình trạng bị cáo phản cung trước Tòa, gây ảnh hưởng vàlàm mất niềm tin của quần chúng vào cơ quan tiến hành tố tụng
Giai đoạn điều tra mang ý nghĩa quan trọng, là giai đoạn thu thậpchứng cứ để chứng minh tội phạm, người thực hiện hành vi phạm tội,