Trong số những anh hùng, hào kiệt, danh nhân văn hoá đã gắn bó và cống hiến trọn đời mình cho sự trờng tồn và phát triển của dân tộcViệt Nam nói chung và Nghệ An nói riêng, phải kể đến U
Trang 1Phần A mở đầu
1 Lý do chọn đề tài :
Trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc, thời chiến cũng nhthời bình xứ Nghệ bao giờ cũng đợc coi là vùng đất “Địa linh nhân kiệt”.Nơi có bề dày lịch sử và truyền thống cách mạng, là nơi hội tụ nhiềunhân tài cho công cuộc dựng nớc và giữ nớc của dân tộc ta
Trong số những anh hùng, hào kiệt, danh nhân văn hoá đã gắn bó
và cống hiến trọn đời mình cho sự trờng tồn và phát triển của dân tộcViệt Nam nói chung và Nghệ An nói riêng, phải kể đến Uy Minh V ơng
Lý Nhật Quang, một vị tớng tài danh, một vị quan tiêu biểu đức rộng tàicao của vơng triều Lý thế kỷ XI Ông là con thứ 8 của Lý Thái Tổ (LýCông Uẩn), ngời mở đầu vơng nghiệp nhà Lý Lý Nhật Quang là một ng-
ời thông minh, hiếu học trí cao tài rộng, có lòng yêu n ớc thơng dân nồngnàn Ông có nhiều đóng góp to lớn vào việc ổn định và phát triển xã hộiViệt Nam mà trớc hết là vùng đất Nghệ An trong thời kỳ đầu của vơngTriều Lý
Quả thực, xa nay một tấm gơng mẫu mực nh Lý Nhật Quang Ngời
đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp “Bảo quốc an dân” tại xứNghệ Và, cũng thật hiếm thấy một vùng đất nào lại nặng tình, nặngnghĩa với Lý Nhật Quang nh vùng đất Hồng Lam này Bởi vì Uy Minh V-
ơng là một vị tớng tài ba kiệt xuất trong lịch sử , một nhân vật lịch sử cónhiều công lao đối với dân tộc Việt Nam nói chung
Tuy nhiên, Lý Nhật Quang sống cách đây hơn mời thế kỷ, mộtnhân vật cuộc đời và sự nghiệp vừa mang tính huyền thoại vừa mang tínhlịch sử Vì vậy các nguồn t liệu nghiên cứu đánh giá về con ngời và sựnghiệp của ông có nhiều chỗ cha thống nhất, đầy đủ và xác thực Có ngờicoi nhẹ vai trò công lao của ông trên phơng diện xây dựng phát triển đấtnớc Vì họ cho ông là một viên quan lại với t cách là ngời đứng đầu bộmáy hành chính ở Nghệ An ý kiến nh vậy là không thoả đáng, quá đơngiản cha chính xác Còn các sử gia phong kiến đã viết nhiều về Lý NhậtQuang và hết lòng ca ngợi sự nghiệp “Bảo quốc hộ dân” của ông đầu thờiLý
Đối với chúng ta, thế hệ trẻ ngày hôm nay, không chỉ biết về LýNhật Quang với t cách là một viên quan đứng đầu xứ Nghệ ở thế kỷ XI,
Trang 2mà còn ta trân trọng và tự hào về ông với những đóng góp to lớn trongviệc ổn định và phát triển vùng đất Nghệ An Góp phần làm cho vùng đấtnày từ một vùng biên viễn hẻo lánh qua nhiều gian lao thử thách trởthành một châu phồn thịnh về mọi mặt, tạo ra một b ớc ngoặt trong lịch
sử phát triển của Nghệ An
Vì thế việc nghiên cứu, nhìn nhận, đánh giá về con ng ời và sựnghiệp của Lý Nhật Quang sẽ góp thêm một cái nhìn thống nhất đầy đủ
và xác thực hơn về Lý Nhật Quang một nhân vật lịch sử với những đónggóp quý báu đối với sự phát triển của miền quê Nghệ An nói riêng với
đất nớc Việt nam nói chung
Hơn nữa, nghiên cứu về Uy Minh Vơng Lý Nhật Quang cũng làmột sự tởng niệm của thế hệ hôm nay đối với ngời có công dựng nớc vàgiữ nớc là sự thể hiện truyền thống “uống n ớc nhớ nguồn” của dân tộcViệt nam Góp phần bồi dỡng lòng tự hào về quê hơng Nghệ An nơi đãtừng là căn cứ địa là hậu phơng vững chắc cho các cuộc kháng chiếnchống ngoại xâm, góp phần to lớn vào công cuộc dựng nớc và giữ nớccủa dân tộc Việt Nam
Đồng thời, việc nghiên cứu tìm hiểu một danh nhân lich sử từng
đã có nhiều cống hiến trên vùng đất xứ Nghệ nhằm góp phần vào côngtác nghiên cứu, quy hoạch, bảo vệ, trùng tu, tôn tạo tổ chức lễ hội, ditích, giới thiệu và đón tiếp khách tham quan thăm viếng muôn ph ơng vềthăm đền thờ ông tại Bạch Ngọc, xã Bạch Đờng, nay là xã Bồi Sơn huyện
Xuất phát từ những ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn trên, đ ợc
sự giúp đỡ hớng dẫn tận tình của các thầy cô giáo trong khoa trực tiếp làcô giáo thạc sỹ Nguyễn Thị Bình Minh, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “Vai trò của Uy Minh Vơng Lý Nhật Quang trong việc ổn định và phát
Trang 3triển vùng đất Nghệ An ở đầu thế kỷ XI” để làm khoá luận tốt nghiệpcủa mình.
2 Lịch sử vấn đề:
Cho tới nay đề tài này đã có nhiều tài liệu đề cập đến về nhữnggóc độ khác nhau, ghi chép biểu dơng công tích của Lý Nhật Quang bằng
sử sách th tịch với nhiều thể loại nh Bi ký, Thần phả, Sử học… cụ thể là cụ thể là
- Cuốn “ Việt sử lợc” của Trần Quốc Vợng Nhà xuất bản văn sử,
- Cuốn “ Đại Nam nhất thống chí, tập 1, tỉnh Nghệ An Nhà xuấtbản Thuận Hoá
- Cuốn “ Đại Nam nhất thống chí, tập 2, tỉnh Thanh Hoá Nhà xuấtbản Thuận Hoá
- Cuốn “ Đại Nam nhất thống chí tập 3, tỉnh Bình Định Nhà xuấtbản Thuận Hoá
- Cuốn “ Lịch sử Nghệ Tĩnh tập 1 Nhà xuất bản Nghệ Tĩnh –Vinh năm 1984
- Cuốn “Lịch sử Việt nam từ nguồn gốc đến thế kỷ 19 của Đào DuyAnh Nhà xuất bản văn hoá năm 1958
Đặc biệt gần đây, nhân dịp kỷ niệm 945 năm ngày mất của UyMinh Vơng Lý Nhật Quang vào đầu năm 2002 tại Nghệ An, Uỷ ban nhândân tỉnh trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia Sở văn hoá
Trang 4thông tin, Uỷ ban nhân dân huyện Đô lơng phối hợp tổ chức cuộc hộithảo khoa học về Uy Minh Vơng Lý Nhật Quang với Nghệ An hội thảo
đã có khoảng gần 20 tham luận, phần lớn là của các nhà nghiên cứuthuộc nhiều lĩnh vực khác nhau trình bày nhiều vấn đề, đa ra nhiều kiếngiải của mình về nhân vật lịch sử này Kỷ yếu hội thảo khoa học đã đ ợcxuất bản với nhan đề “Uy Minh Vơng Lý Nhật Quang với Nghệ An, nhìnchung các công trình nghiên cứu đã đợc công bố ở trên đều ghi chép vàtôn vinh Uy Minh Vơng Lý Nhật Quang với những góc độ khía cạnhkhác nhau Nhng đánh giá về vai trò của Uy Minh Vơng Lý Nhật Quangtrong việc ổn định và phát triển vùng đất ở Nghệ An đầu thế kỷ XI thìcha có một công trình nào đề cập một cách đầy đủ trọn vẹn Tuy nhiênnhững công trình nghiên cứu trên giúp cho chúng tôi nhận ra đ ợc những
đóng góp của Lý Nhật Quang với Nghệ An nói riêng và cả nớc nói chung
đồng thời cung cấp cho chúng tôi những nguồn tài liệu quý giá trong việcthực hiện khoá luận này
Đồng thời những hạn chế của các công trình đó đặt ra nhiệm vụcho chúng tôi là cần phải tiếp tục nghiên cứu, bổ sung để có một cái nhìntoàn diện và hệ thống hơn về vai trò Uy Minh Vơng Lý Nhật Quang đặcbiệt là những đóng góp của ông trong lich sử dân tộc thời Lý nói chung
và của Nghệ an nói riêng Đó cũng chính là mục đích cơ bản của khoáluận này
3 Giới hạn nghiên cứu và nhiệm vụ khoa học của đề tài.
- Giới hạn nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở những tài liệu hiện có, chúng tôi đặt ra giới hạn nghiêncứu của đề tài là “ vai trò của Uy Minh Vơng Lý Nhật Quang trong việc
ổn định và phát triển vùng đất Nghệ An ở thế kỷ XI
- Nhiệm vụ khoa học của đề tài
Đây là một đề tài về khoa học xã hội, nghiên cứu vai trò của cánhân trong lịch sử Bởi vậy khi nghiên cứu chúng ta phải đặt nhân vật vàotrong một bối cảnh lịch sử nhất định để có cách đánh giá khách quannhất và đề tài nhằm giải quyết những nhiệm vụ sau
- Khái quát thân thế và sự nghiệp của Uy Minh Vơng Lý NhậtQuang
Trang 5- Đi sâu tìm hiểu toàn diện và có hệ thống về những đóng gópcủa ông đối với Nghệ An ở đầu thế kỷ XI.
Trang 64 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu.
4.1 Su tầm t liệu
Để có đợc nguồn t liệu trên chúng tôi đã tiến hành su tầm, tích luỹ
t liệu ở th viện trờng, th viện tỉnh và bảo tàng tổng hợp tỉnh Nghệ An, thviện huyện Đô lơng, tập chép bi ký, hoành phi, sử dụng phơng phápphỏng vấn điều tra xã hội, nghiên cứu thực địa tại đền thờ Lý NhậtQuang ở Đô Lơng (xem thêm phần phụ lục)
Dựa vào hai phơng pháp cơ bản đó, trên cơ sở nguồn tài liệu gốc
và các tài liệu khác và sử dụng kết quả nghiên cứu của các nhà khoa họcthuộc nhiều lĩnh vực liên quan đến cuộc đời sự nghiệp của Uy Minh V-
ơng Lý Nhật Quang phân tích, so sánh, đối chiếu để đi đến những kếtluận khách quan và khoa học
5 Đóng góp của đề tài.
Đề tài đã giải quyết đợc những vấn đề sau
- Góp phần làm rõ hơn, đầy đủ hơn về nhân vật lịch sử Lý NhậtQuang, với những đóng góp của ông đối với lịch sử dân tộc nói chung vàNghệ An nói riêng
- Làm rõ hơn diện mạo lịch sử văn hoá địa ph ơng trong tiến trìnhphát triển chung của lịch sử văn hoá dân tộc
6 Bố cục của đề tài.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nộidung của đề tài đợc trình bày trong hai chơng
Chơng 1: Khái quát thân thế, con ngời Lý Nhật Quang
Chơng 2: Vai trò của Lý Nhật Quang trong việc ổn định và pháttriển vùng đất Nghệ An ở đầu thế kỷ XI
Thực hiện đề tài nay tôi xin chân thành cảm ơn cô giáo Nguyễn ThịBình Minh đã tận tụy hớng dẫn, cùng các thầy cô giáo trong khoa và banquản lý di tích lịch sử đền Quả Sơn, đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực
Trang 7hiện đề tài này Đây là lần đầu tiên làm quen với công việc nghiên cứukhoa học, đặc biệt đề cập đến vai trò cá nhân trong lịch sử, cho nên mặc
dù có rất nhiều cố gắng, nhng đề tài không thể tránh khỏi những hạn chế
về nội dung, hình thức, diễn đạt… cụ thể là Rất mong sự thông cảm và góp ý củacác thầy giáo, cô giáo và các bạn sinh viên để đề tài đợc hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn
Trang 8Phần B: Nội dung.
Chơng1:
Khái quát về thân thế, con ngời Lý Nhật Quang.
1.1 Đặc điểm về mảnh đất, con ngời Nghệ An.
Xét về vị trí địa lý, Nghệ An nằm ở toạ độ địa lý 18o 35 vĩ bắc đến
20000 vĩ bắc, 103 50 kinh đông đến 105040 kinh đông Phía bắc giápThanh Hoá, phía Nam giáp Hà Tĩnh (Xa kia kéo đến hoàng sơn giápThuận Hoá), phía Tây giáp Lào, phía đông giáp biển ở đây khí hậu khắcnghiệt đất đai rộng rãi, địa thế hiểm trở Đại Nam Nhất thống chí củaQuốc Sử Quán Triều Nguyễn ghi chép “ Nghệ An địa thế rộng rãi, chính
là đất xung yếu giữa nam và bắc núi cao thì có Hồng Lĩnh, Kim Nham làmột trấn mạnh của địa phơng, sông lớn có sông Lam, sông La quanh cotrăm dặm phong thổ trung hậu, núi cao sông sâu thực là một tỉnh lớn[186,16] Trong cuốn Lịch triều hiến chơng loại chí Phan Huy Chú viếtrằng “ Nghệ An có núi cao, sông sâu, phong tục trung hậu, cảnh tởng tơisáng gọi là đất có danh tiếng hơn cả ở Nam Châu, ngời thì thuần hoá màchăm học sản vật nhiều thứ quý lạ Những vị thần ở núi ở biển thì phầnnhiều có tính linh thiêng đợc khí tốt của sông núi nên sinh ra nhiều bậcdanh hiền lại còn khoảng đất liền với đất ngời Man, ngời Lào làm giớihạn cho hai miền Nam Bắc thực là nơi hiểm yếu nh thành đồng ao nóngcủa nớc và là then khoá của các triều đại [62,3]
Nghệ An xa là đất Việt thờng, đời Tần thuộc Tợng Quận, đời Hánthuộc Cửu Chân, đời Ngô (Thế kỷ II) gọi là cửu Đức, đời Lơng gọi là áiChâu (Thể kỷ VI), cuối thế kỷ VII nhà Đờng đổi thành Hoan Châu (cảnghệ An, Hà Tĩnh ngày nay) Đến buổi đầu nhà Lý, Lê Thánh Tôngthông thụy thứ 3 – 1036 đổi Hoan Châu thành châu Nghệ An
Trang 9Vào thời Lý, Nghệ An là vùng đất cuối cùng phía nam của n ớc
Đại Việt, thời Nhà Trần gọi là trấn Nghệ An, thời Lê gọi là Thừa Tuyên,
đến thời Nguyễn (Đầu thế kỷ XIX) chia Nghệ An thành 2 tỉnh Nghệ An
và Hà Tĩnh Lúc này Nghệ An không còn là một vùng đất cuối cùng của
Đại Việt nữa mà trở thành “Khúc ruột miền Trung” của đất n ớc ViệtNam
Trong lịch sử dựng nớc và giữ nớc của dân tộc ta, Nghệ An đóngvai trò hết sức to lớn và luôn là chỗ dựa vững chắc cho cả nớc Trong thời
kỳ Bắc thuộc, Nghệ An là căn cứ địa của cuộc khởi nghĩa Mai ThúcLoan Sau khi giành đợc độc lập thoát khỏi Bắc thuộc các triều đại Ngô,
Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Lê, Tây Sơn… cụ thể là.đều chú trọng xây dựng củng cốNghệ An, biến Nghệ An trở thành hậu phơng lớn nhằm chống lại quânxâm lợc Tống, Nguyên, Minh Thanh
Dới thời Lý, các nhà vua Lý đã từng cử những tớng tài giỏi vềNghệ An trị nhậm Tiêu biểu nhất là hoàng tử thứ 8 của vua Lý Thái Tổ
có tên là Uy Minh Vơng Lý Nhật Quang giữ chức tri châu Nghệ An(1041 – 1057) Ông là ngời có công rất lớn trong việc xây dựng củng cốbảo vệ Nghệ An bảo vệ biên cơng phía Nam, chuẩn bị cho công cuộcNam chinh của Lý Thái Tông thắng lợi
Năm 1284, trớc họa xâm lợc của nhà Nguyên, vua quan nhà Trần
đã cùng toàn dân quyết đánh đuổi quân xâm l ợc Nhà vua đa quân vềThanh Hoá để bảo toàn lực lợng và ngay lúc đó nhà vua đã nghĩ đến hậuphơng Nghệ An Vua Trần Nhân Tông đã khẳng định vài trò quan trọngcủa Nghệ An qua những câu thơ sau
“ Cối Kê cựu sự quan tu kýHoan Diễn do tồn thập vạn binh”
Trang 10Trớc hoàn cảnh đó, tớng Nguyễn Chích tâu với chủ tớng Lê Lợi rằng “Nghệ An là nơi hiểm yếu, đất rộng, ngời đông, tôi đã từng qua lại Nghệ
An nhiều lần nên rất thông thạo đờng đất Nay ta nên trớc hãy đánh lấyTrà Long, chiếm giữ cho đợc Nghệ An để làm chỗ đất đứng chân, rồi dựavào nhân lực, tài lực đất ấy mà quay ra đánh Đông Đô thì có thể tínhxong việc dẹp yên thiên hạ” ( Trích văn bia Nguyễn Chích)
Khi chiến tranh Trịnh - Mạc và Trịnh – Nguyễn diễn ra trongcác thế kỷ XVI – XVII , các thế lực phong kiến Trịnh, Lê, Mạc- Nguyễn
đều tìm cách chiếm giữ Nghệ An
Cuối thế kỷ XVIII, Quang Trung khi hành quân ra Bắc đánh quanxâm lợc Mãn Thanh, cũng đã dừng chân trên đất Nghệ An để bổ sungquân lơng Ông đã cho xây dựng kinh đô của triều đại ở Nghệ An lấy tên
là “Phơng Hoàng Trung Đô” nay vẫn còn dấu tích
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ Nghệ Anvừa đóng vai trò hậu phơng vừa đóng vai trò tiền tuyến và góp phần rấtlớn vào sự nghiệp bảo vệ độc lập dân tộc Ngày nay, trong công cuộc xâydựng Chủ nghĩa xã hội, Nghệ An vẫn là vùng đất có vị trí nhất định trong
sự nghiệp phát triển đất nớc, làm cho “Dân giàu nớc mạnh xã hội côngbằng dân chủ văn minh” Nh đồng chí Phạm Văn Đồng đã từng nói
“Trong lịch sử cách mạng nớc ta, Nghệ Tĩnh là một trong những địa
ph-ơng có truyền thống thống nhất và rạng rỡ nhất”
1.1.2 Con ngời nghệ An
- Xét về mặt nguồn gốc, con ngời xuất hiện trên đất Nghệ An có
từ xa xa Các di tích khảo cổ học thuộc nhiều thời đại trên đất Nghệ An
đã chng minh rằng “Trên đất Nghệ An cách đây khoảng 20vạn năm đã cóngời nguyên thuỷ sinh sống Tại hang Thẩm ồm thuộc bản Thắm xãChâu Thuận, huyện Quỳ Hợp đã tìm thấy răng ng ời vợn Đây chính là tổtiên của c dân bản địa Nghệ An Trải qua hàng chục vạn năm, c dân bản
địa Nghệ An đẫ sáng tạo ra những nền văn hoá cổ trùng hợp niên đại cácnền văn hoá cổ của nớc ta
Dấu tích văn hoá Sơn Vi tìm thấy ở Dùng, Rạng (Thanh Ch ơng)cách đây từ 2 vạn đến 12000 năm Dấu tích của nền văn hoá Hoà Bìnhtìm thấy ở trong núi dãy đá vôi ở các huyện Quế Phong, Tân Kỳ, ConCuông, Tơng Dơng … cụ thể là Cách đây trên dới 10.000 nămđây là chủ nhân của
Trang 11nông nghiệp sơ khai của Nghệ An Dấu tích của nền văn hoá PhùngNguyên đợc tìm thấy ở làng Vạc, xã Nghĩa Tiến, huyện Nghĩa Đàn gồmLục Lạc, tợng ngời , trống đồng, dao găm, đồ sắt đã xuất hiện trên đấtNghệ An vào khoảng thế kỷ thứ III (trớc công nguyên) Ngoài ra khảo cổhọc đã tìm thấy nhiều lò luyện quặng ở Nho Lâm xã Tiến Thọ, huyệnDiễn Châu, tỉnh Nghệ An.
Những thành tựu của khảo cổ học đã chứng tỏ rằng dân c bản địaxuất hiện trên đất Nghệ An rất sớm và đã tồn tại phát triển qua hàng chụcvạn năm Địa bàn c trú ban đầu là vùng núi cao, sau đó họ thiên dixuống đồng bằng ở hạ lu sông Cả Tuy nhiên trong quá trình phát triển,ngoài c dân bản địa, phải kể đến một lực l ợng lớn dân di c từ Bắc vào,một số từ phơng nam ra một số ít từ Trung Quốc sang Với nhiều lý dokhác nhau , Nghệ An trở thành nơi hội tụ của các dòng họ cùng chung l -
ng đấu cật để tồn tại
Chính sự hội tụ của các tộc ngời, các dòng họ đã góp phần thúc
đẩy sự giao lu học hỏi về văn hoá, củng cố tinh thần đoàn kết chốngthiên tai, chống xâm lợc của những con ngời trên mảnh đất này Do khíhậu khắc nghiệt, đất đai khô cằn, hạn hán, lũ lụt thờng xuyên xẩy ra, chonên ngời Nghệ An có nhiều đặc điểm nổi bật Những đặc điểm đó chothấy ngời Nghệ An đã khắc phục mọi khó khăn sớm hoà nhập với thiênnhiên, chinh phục thiên tai luôn thể hiện tinh thần đoàn kết th ơng yêunhau Bởi vậy, khi nói đến đặc tính con ngời Nghệ An ngời ta thờng nóitới các đặc tính sau:
Thứ nhất là tính gan góc, mu trí, dũng cảm chịu đựng gian khổgiàu ý chí vơn lên
Thứ hai là ngời Nghệ An luôn thuận hậu chất phát và rất cơng trực.Thứ ba ngời Nghệ An rất cần cù, sáng tạo trong lao động, anhdũng bất khuất trong chiến đấu Đồng thời, ngời Nghệ An là những ngờihiếu học trọng nghĩa khí tính tình từ tốn, cẩn trọng, làm việc gì cũng cẩnthận, bền vững, ít khi bị xáo động bởi những lợi hại trớc mắt
Chính vì sự khắc nghiệt của thiên nhiên, lại là vùng đất có vị trítrọng yếu là địa bàn chiến lợc quan trọng về kinh tế, chính trị, quốcphòng, nên sách Đại Nam nhất thống chí gọi Nghệ An là “Đất tứ đắc”tức là bốn bề hiểm trở là bức tờng thành vững chắc ngăn chặn quân xâm
Trang 12lợc Ngời Nghệ An luôn có ý thức về vai trò sứ mệnh của mình và luônphấn đấu cao trong cuộc sống Trong cuốn Nghệ An ký nói rằng “Nghệ
An đất xấu dân nghèo thua xa tứ trấn, những phong tục sở dĩ thuần hậu vìdân xứ này đều vui vẻ công việc sẵn sàng vì n ớc có lòng tôn quân, thânvơng và biết lễ nghĩa, liêm sỉ Do đất xấu dân nghèo nên chịu khổ nhẫnnại, cần cù kiệm ớc đã quen nề nếp, ngời phơng Bắc khen ngợi ngờiNghệ an “Thuần giãn mà hiếu học””.[26,13]
Đất “ Địa linh”, tất sinh “Nhân kiệt”, mảnh đất Nghệ An đã sinh
ra cho đất nớc nhiều nhân tài Họ là con cháu của các dòng họ c ngụ trên
đất Nghệ An nh Nguyễn Xí, Phan Công Tích, Trần Tấn, Đặng Nh Mai,Nguyễn Trờng Tộ, Phan Bội Châu… cụ thể là.Nghệ An cũng là nơi sinh ra nhữngchiến sĩ u tú của Đảng nh Hồ Tùng Mậu, Phạm Hồng Thái, Lê HồngPhong, Nguyễn Thị Minh Khai và Phan Đăng Lu… cụ thể là và chính trên cái nôithiêng liêng này mà đã sản sinh ra ngời con vĩ đại nhất của dân tộcNguyễn ái Quốc, Hồ Chí Minh
Nh vậy, qua khái quát vùng đất con ngời Nghệ An chúng ta thấy
rõ vị trí quan trọng của Nghệ An đối với đất n ớc qua các triều đại phongkiến trớc đây và của nớc Công hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam hiện nay.Ngời xa thờng nói “Thiên thời không bằng địa lợi, địa lợi không bằngnhân hoà” và lịch sử cũng đã chứng minh là vùng đất Nghệ An xứng
đáng là “ phên dậu của nớc nhà”
1.2 Thân Thế, con ngời Lý Nhật Quang.
Ngợc dòng lịch sử dân tộc Việt Nam từ ngàn xa cho tới nay đã cóbiết bao nhiêu tấm gơng anh hùng đại nghĩa đã làm rạng danh non sông
sử sách, để lại tiếng thơm lu truyền mãi về sau nh bà Trng, bà Triệu, NgôQuyền, Lý Thờng Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi, Quang Trung… cụ thể là Trong
đó phải kể đến Uy Minh Vơng Lý Nhật Quang, một danh nhân lịch sử cótên tuổi dới triều Lý Ông không những tài giỏi về đánh giặc mà còn córất nhiều cống hiến to lớn vào việc ổn định và phát triển xã hội Việt Namtrớc hết là vùng đất Nghệ An vào những thập niên đầu của Vơng TriềuLý
Lý Nhật Quang xuất thân từ dòng dõi quý tộc nhà Lý Hầu hết các
th tịch của Việt Nam xa nay khi viết về tiểu sử của Lý Nhật Quang đềucho rằng ông là con trai thứ 8 của Lý Thái Tổ (Tức Lý Công Uẩn) Ng ời
Trang 13có công mở đầu vơng nghiệp nhà Lý, ngời làng Cổ Pháp, Từ Sơn (BắcNinh) Bộ sách khâm định Việt sử thông giám cơng mục do Quốc sửquán Triều Nguyễn biên soạn đã khẳng định “ Nhật Quang là con trai thứ
8 của Lý Thái Tổ” [320,20] Cuốn Đại Nam Nhất Thống Chí cũng doQuốc sử quán Triều Nguyễn biên soạn đã ghi chép trong mục đền miếu(Tỉnh Nghệ An) cho rằng “ Đền Uy Minh Vơng nhà Lý ở núi Quả xãBạch Đờng huyện Lơng Sơn là con thứ 8 của Lý Thái tổ [165,16] SáchViệt điện U Linh do Lý Tế Xuyên sống vào thế kỷ thứ XIV đời Trần soạngồm những truyện nhằm biểu dơng các thần đợc thờ ở đền miếu của ViệtNam, trong đó ghi chép về Lý Nhật Quang với tiêu đề “Uy Minh dũngliệt, hiểu trung tá thánh hựu Đại Vơng” đã cho biết “Vơng họ Lý tênHoảng con thứ 8 của vua Lý Thái Tổ mẹ là bà Trinh Linh hoàng hậu họLê.[52,27]
Qua các tài liệu chính sử đã ghi chép ở trên, chúng ta có thểkhẳng định đợc rằng Lý Nhật Quang là hoàng tử thứ 8 con của Lý CôngUẩn tức là em của Lý Thái Tông và chú của Lý Thánh Tông Mẹ của ông
là Trinh Linh hoàng hậu Lê Thị Sách Đại Việt sử ký toàn th chép “Năm
1028 vua Lý Thái Tổ chết, Thái Tử Phật Mã con trởng của Lý Thái Tổtôn mẹ là Lê Thị làm linh hiển thái hậu” [250,10] Nh vậy vua Lê TháiTông (Phật Mã) là anh em cùng mẹ với Lý Nhật Quang
Lý Nhật Quang đợc sinh ra và lớn lên trong thời gian Triều đạinhà Lý vững mạnh, đợc lòng nhân dân Phẩm chất của ông rất cao quý,
đạo đức sáng ngời trung hiếu Thuở nhỏ ông đ ợc vua cha và Hoàng Tộcrèn cặp, giáo dục chu đáo theo khuôn phép của vơng triều Ông là ngờirất thông minh hiếu học, lên 8 tuổi đã biết làm thơ, 10 tuổi đã thông hiểunhững kinh sử Khi bắt đầu gánh vác việc triều đình ông tỏ ra là ng ời c-
ơng trực bàn đợc nhiều cái hay góp đợc nhiều ý giỏi cho triều đình thểhiện tính thanh liêm thẳng thắn
Về năm sinh và năm mất của Lý Nhật Quang không thấy tài liệunào ghi chép Trong sự tích Quả Sơn linh từ có ghi ngày kỵ của Lý NhậtQuang là ngày 17 tháng chạp hàng năm Cuốn An Nam Chí Lợc lại chép
“Theo Lý Thánh Vơng đi đánh Chiêm Thành, khi qua quận Bố Chánh OaiMinh Vơng xúc cát sỏi, bỗng chốc thành hòn núi, lại lấy g ơm chặt vò n-
ớc đứt ở giữa, mà nớc không chảy những kẻ đứng xem đều thất kinh lấy
Trang 14làm lạ, lúc binh trở về vơng mất ở quận Bố Chánh Phải đến năm 1069,ngời Chiêm Thành mới dâng đất ba châu Bố Chính, Địa lý, Mã Linh chovua Lý Thánh Tông” [235;24] Cũng về sự kiện này Đại việt sử ký toàn
th chép “ Kỷ Dậu, thiên Huống Bảo tợng năm thứ 2 (1069) mùa xuântháng hai vua (Lý Thánh Tông) mang quân đi đánh Chiêm Thành, bắt đ -
ợc vua nớc ấy là Chế Củ Mùa thu tháng 7 vua từ Chiêm Thành về đếnnơi (… cụ thể là.) Chế Củ xin dâng 3 châu Địa Lý, Bố Chánh, Ma Linh để chuộctội” [274, 275;9] Có lẽ sự kiện mà An Nam Chí L ợc chép cũng chính là
sự kiện mà Toàn th ghi chép Căn cứ vào hai tài liệu này có lẽ Lý NhậtQuang mất vào khoảng tháng 6 năm 1069
Tên gọi của ông là Lý Nhật Quang, Lý Hoảng và Triệu Công.Trong Đền Quả Sơn có viết “ Thần họ Lý, húy Nhật Quang” Trong Lịchtriều hiến chơng loại chí cũng ghi về vị thần ở miếu Tam Toà, xã Bạch
Đờng, huyện Nam Đờng là Cao Minh Đại Vơng (tên là Lý Hoảng)[52;3] Còn các tài liệu khác không thấy ghi chép về tên Lý Hoảng màphần lớn chỉ ghi tên là Nhật Quang Cũng theo cuốn Đền Quả Sơn “LýNhật Quang còn đợc gọi với tên là Triệu Công Vì ông làm tri châu Nghệ
An, đã từng dạy cho dân nghề làm ruộng nuôi tằm, trồng cây cối, nuôigia súc có nhiều chính sách lợi cho dân làm cho nhân dân đoàn kết, cóngời đến kiện tụng thì lấy liêm sỉ lễ nghĩa giảng dạy làm cho tự giác ngộ
ai cũng đều cảm hoá, không bàn đến kiện cáo nữa mọi ngời đều gọi ngài
là Triệu Công” [41;29] Ngoài ra Lý Nhật Quang là hoàng tử thứ 8 nêncòn đợc gọi là Bát Lang hoàng tử
Về gia đình vợ con của Lý Nhật Quang, ở tất cả các nguồn th tịch
đều không thấy ghi chép mà chỉ nhắc đến cha, mẹ và sự nghiệp của ông
mà thôi Có thể nói, sự nghiệp của Uy Minh Vơng Lý Nhật Quang trớchết là gắn với Nghệ An, vùng đất phên dậu trọng yếu phía Nam của tổquốc dới Triều Lý Chính vì nhận rõ tầm quan trọng của vùng đất này,vua Lý Thái Tông đã cử ngời em ruột đáng tin cậy của mình vào trấnnhậm Tại đây Lý Nhật Quang đã có những điều kiện để thể hiện tài năng
và đức độ của mình Năm 1041 Lý Nhật Quang chính thức đ ợc giao trấntrị châu Nghệ An Là ngời đứng đầu bộ máy hành chính vừa quản lý xãhội, vừa xây dựng kinh tế, giữ yên bờ cõi… cụ thể là.Uy Minh Vơng Lý Nhật
Trang 15Quang đã tổ chức hoạt động về mọi mặt nhằm ổn định và phát triển Nghệ
An đồng thời góp phần quan trọng vào việc phát triển và bảo vệ đất nớc
Tớc vị đầu tiên trong đời của Lý Nhật Quang đợc Lý Thái Tổphong cho là tớc hầu Cuối năm 1009 đầu năm 1010, Lý Thái Tổ nhânviệc sắc phong con trai trởng là Hoàng Thái Tử đã ban cho các con traikhác tớc hầu Mặc dầu Nhật Quang khi đó đang còn nhỏ tuổi những cũng
đợc phong là Uy Minh Hầu Năm càn phù hữu đạo (1039) Nhật Quang đ
-ợc cử đi thu tô thuế ở châu Nghệ An Ông nổi tiếng là ngời liêm trựcthẳng thắn đợc nhà vua yêu mến ban cho hiệu là Uy Minh Thái Tử, giaocho việc quân dân ở châu ấy Năm 1041 Lý Nhật Quang đ ợc vua chínhthức trao cho trọng chức tri châu Nghệ An
Sau đó, tháng 8 năm Minh Đạo thứ 3 (1044) vua Lý Thái Tông đi
đánh Chiêm Thành, Thái Tông thắng trận trở về đa quân đến hành dinhNghệ An để nghỉ Vua xét công lao của Lý Nhật Quang trong việc trấnthủ châu Nghệ An , trao cho ông tiết viện và thăng ông lên làm Uy MinhVơng Việc Lý Thái Tông phong cho em trai lên t ớc vơng không chỉ vìtình cảm anh em ruột trong tôn thất mà thể hiện rõ công lao to lớn củaNhật Quang trong công cuộc gìn giữ biên c ơng phía Nam góp phần xâydựng và củng cố vơng triều Lý vững mạnh sau này các triều đại phongkiến đều lần lợt sắc phong gia tặng ghi nhận và tô vinh công lao cuả LýNhật Quang
Triều Trần gia phong Uy Minh dũng liệt hiển trung tá thánh phuhựu Đại Vơng
Triều Lê, Lê Thánh Tông phong tặng Tam toà quốc chủ th ợng
đặng thần, hiển linh hộ quốc hồng quân Đại Vơng
Triều Nguyễn phong tặng Tam toà tá thánh Đại Vơng Thợng
đẳng thần
Các vơng đều ghi nhận, gia trật, phong thởng cho ông các sử sách
xa và nay đều chép về ông Còn trong tiềm thức ông đã trở thành một vịthánh là một ngời con bất tử nếu nh khi đang còn sống ông đợc xem là
“Triệu công” thì sau khi chết ông trở thành một vị thần có quyền uy siêuviệt, có mối liên hệ vô hình nhng rất chặt chẽ và gần gũi với nhân dân, đểrồi lại tiếp tục công việc cai quản, che chở, bảo vệ, phù hộ cho dân làng
đợc an khang thịnh vợng, trừng trị những kẻ ác nh khi ông còn sống Vì
Trang 16vậy trong đời sống tinh thần của nhân dân, Lý Nhật Quang vẫn còn sốngmãi “Sinh vi lơng tứng tử vi thần” Tuy đã mất nhng đối với nhân dân,
ông luôn là một ngời vì nớc, vì dân mà ngời đời vẫn truyền tụng chonhau từ thế này sang thế hệ khác nhiều câu chuỵện nhiều huyền thoại vềcuộc đời, về cái chết của ông cũng nh sự hiển ứng linh phù của đức thánh
Đền Quả… cụ thể là.Tất cả đều nói lên rằng với ngời dân xứ nghệ Lý Nhật Quangthật huyền diệu, thật khác ngời Cái chết của ông cũng đầy kỳ lạ, khôngphải là cái chết bình thờng nh bao cái chết bình thờng của những con ng-
ời bình thờng khác, mà đã đợc thần thánh hoá Chuyện kể rằng “ Trongmột lần dẹp giặc Lão Qua, (Ai Lao) để giữ vững biên cơng Lý NhậtQuang bị tớng giặc chém trọng thơng, ngựa quý đa Ngài về đến thôn th-ợng thọ, xã bạch đờng có bà tiên tự nói với Ngài Quả Sơn là nơi linh địa,huyết thực muôn đời, có thể hoá thân ở xứ ấy Ngài nghe theo Đền QuảSơn thì quy hoá bỗng nhiên có hàng nghìn con mối xuất hiện xông đấtlấp đầy thi thể ngời và ngựa, thành một ngôi mộ lớn” Cái chết của ôngcũng toát lên ý tởng hết sức nhân văn đó là vùng đất Bạch Đờng nơi ông
đã gắn bó suốt thời gian ông trị nhậm, đã cống hiến hy sinh đợc ôm trọnmột con ngời đại nhân đại nghĩa vào lòng để ngàn thu canh giấc, để mãimãi đợc bên ngời
Nh vậy qua vài nét về xuất thân cũng nh chức quan tớc vị của LýNhật Quang, chúng ta có thể khẳng định Lý Nhật Quang sinh ra trongkhoảng thời gian đầu thế kỷ XI Đây là thời kỳ nhà Lý bắt đầu đ ợc xâydựng, đất nớc thanh bình tình hình chính trị ổn định sau gần một thế kỷgiành độc lập và đặc biệt sau khi đất nớc vừa kinh qua nhiều diễn biếnchính trị phức tạp dới thời Ngô, Đinh, Tiền Lê Có thể nói đây là chặnggiao thời chuyển tiếp từ Đại Cồ Việt sang thời Đại Việt với những vấn đề
đặt ra cho dân tộc và đất nớc trên con đờng xây dựng đất nớc và pháttriển
Vấn đề thứ nhất xây dựng một Nhà nớc quân chủ mạnh có uy tín
và năng lực quản lý có hiệu lực, quốc gia thống nhất đa đất nớc bớc vữngvàng vào kỷ nguyên Đại Việt
Rõ ràng vào buổi đầu của thời kỳ độc lập tự chủ lâu dài của đất n
-ớc, những yếu tố phân tán của một xã hội nông nghiệp với công xã nôngthôn làm cơ sở đã nhiều lần xuất hiện trên bình diện rộng hẹp khác nhau,
Trang 17đã đa đất nớc vào những con sóng gió nhất thời nổi bật nhất là các vụloạn lạc vào cuối vơng triều Ngô dẫn đến loạn 12 sứ quân, vụ Đỗ Thíchdẫn đến những mâu thuẩn trong triều đình Hoa L và hành động xâm lợccủa giặc Tống vào cuối vơng triều Đinh, đầu tiền Lê Vơng triều Tiền Lê
ra đời cha đợc bao lâu, hào quang chiến thắng giặc Tống ch a tắt thì saukhi Lê Hoàn ra đời, lập tức các hoàng tử Ngân Tích, Long Đỉnh, LonhKính đã nổi dậy chống Long Việt kéo dài đến 8 tháng liền vào năm 1005
Nh vậy tình trạng phân tán chia rẽ nội bộ đã diễn ra nh một căn bệnhtrầm kha luôn luôn là một nguy cơ tiềm ẩn có nguồn gốc xã hội sâu xa
mà các Nhà nớc độc lập tự chủ phải giải quyết
Vấn đề hai: Xây dựng đất nớc giàu mạnh đem lại cuộc sống ấm nocho nhân dân đây là một vấn đề rất cơ bản và cấp thiết sau khi đất n ớc
đã giành đợc độc lập tự chủ mà cuộc sống của nhân dân không đ ợc cảithiện, thì nền độc lập tự chủ cũng trở thành vô nghĩa Những chủ tr ơngcanh tân đất nớc từ họ khúc với các chính sách khoan giản an lạc (Khoandung, giản dị, yên ổn và vui tơi) cùng những sửa đổi về tô thuế lựơc dịch,
về tổ chức quản lý xã hội mới, những chủ trơng khai hoang mở rộng diệntích canh tác thời Đinh qua trấn đông tiết độ sứ Bùi Quang Dũng ở cửa
Bố, Lê Khai ở Nghĩa Hng (Ninh Bình ngày nay) Những nghi thức càyruộng tịch điền ở Đọi Sơn, bàn hải của Lê Đại Hành … cụ thể là.Tất cả đều nhằm
động viên khuyến khích sản xuất nông nghiệp cải thiện đời sống xã hộilàm cho nớc giàu dân mạnh
Vấn đề thứ ba: Bảo vệ nền độc lập tự chủ, ổn định biên c ơng tạothế cho đất nớc trờng tồn vững mạnh
Từ khi giành đợc độc lập tự chủ và đầu thế kỷ X cho đến đầu thế
kỷ XI, đất nớc từng nhiều lần bị xâm lợc từ phía Bắc vào các năm 931,
938 của giặc Nam Hán, năm 1980 của giặc Tống ba lần chống giặc, balần chiến thắng Về phía nam Chiêm Thành thờng quấy rỗi cớp phá , lại
bị lợi dụng xúi dục việc Chiêm Thành theo chân Ngô Nhật Khánh vào
đánh chiếm kinh đô Hoa L vào năm 979, bắt giữ sứ giả của Đại Cồ Việtvào năm 982 khiến Lê Đại Hành phải cầm quan đi đánh dẹp tận kinh đô
Đông Dơng (Quảng Nam) vào năm 982 là bằng chứng của mỗi hoạ xâmlăng từ phía nam mà Nhà nớc quân chủ phải quan tâm Cũng nhằm mụctiêu ổn định mặt Nam, vua Lê Đại Hành vào năm 1983 đã cho khai sông,
Trang 18mở đờng từ Đồng Cổ (Yên Định, Thanh Hoá) đến bà Hoà (tỉnh gia ThanhHoá) 992 lại sai phủ quốc Ngô Tử An huy động 3 vạn ng ời mở đờng từcửa biển nam giới (Cữa Sót Hà Tĩnh) đến địa lý (Quảng Bình).
Nh vậy ba vấn đề cơ bản nêu trên cũng là ba nhiệm vụ lịch sử củacác thế hệ tiền nhân hồi thế kỷ X dới sự quản lý của các chính quyền họKhúc, Ngô, Đinh, Tiền Lê, phải giải quyết và đã đạt đ ợc những kết quả
đáng ghi nhận Trên cơ sở thành tựu đó Vơng Triều Lý vào đầu thế kỷ XIphải kế thừa và tiếp tục những nhiệm vụ lịch sử đó Đây chính là ba vấn
đề lớn bao quát các mặt chính trị, kinh tế, xã hội và quốc phòng đó cũng
là ba mục tiêu trọng đại lịch sử trao cho thời đại Lý Nhật Quang
Chúng ta cũng cần phải khẳng định lại một lần nữa việc Lý NhậtQuang đợc trao quyền quản giữ mọi việc quân dân ở châu Nghệ An nhmột tiết đồ sứ ở vùng biên viễn, không phải là một tr ờng hợp ngoại lệ.Nếu nh các hoàng tử khác ngoài Lý Phật Mã đợc lập làm Thái Tử còn lạiDực Thánh Vơng, Vũ Đức Vơng, Khai Quốc Vơng, Đông Chinh Vơng đ-
ợc sử chép có tài về võ là chủ yếu, thì Lý Nhật Quang ngoài văn võ songtoàn còn nổi lên là một nhà chính trị nhà kinh tế tài giỏi Vì vậy đ ợc triều
đình tin cậy cử vào tổ chức quản lý quân dân ở châu Nghệ An Ông sống
và làm việc trải qua ba đời vua đầu từ Lý Thái Tổ đến Lý Thái Tông và
Lý Thánh Tông Đây chính là buổi đầu bình minh của thời kỳ Đại Việt
Trang 19Chơng 2 Vai trò của Lý Nhật Quang trong việc ổn định và phát triển vùng đất Nghệ an ở đầu thế kỷ XI 2.1 Bối cảnh xã hội Đại Việt đầu triều lý và những yêu cầu lịch sử
đợc khối phục mặc dù rất cố gắng các triều đại Ngô, Đinh Tiền Lê vẫncha thực hiện trọn vẹn
Bớc sang thời lý điều kiện chính trị xã hội ổn định tạo điều kiệnthuận lợi cho nhà Lý thực hành công cuộc kiến thiết đất n ớc Trong 217năm tồn tại của nhà lý với 9 triều vua, có thể nói trong 6 triều vua đầu từ
Lý Thái Tổ (1009 – 1008) Lý Thái Tông ( 1008 – 1054) Lý Thánh Tông(1054 – 1072) Lý Nhân Tông (1072 – 1127) Lý Thần Tông (1127 –1138) Lý Anh Tông (1138 – 1175) là thời kỳ thịnh đạt nhất của vơngtriều Trong thời kỳ thịnh đạt ấy vơng triều Lý có nhiều cống hiến lớn,tạo nên một vị thế quan trọng trong lịch sử dân tộc
Trên cơ sở những điều kiện chính trị, xã hội thuận lợi, ngay từnhững ngày đầu lên ngôi Lý Thái Tổ vị vua đầu tiền của Triều Lý đã tiếnhành một cuộc dời đô lịch sử từ Hoa L ra Thăng Long Sự kiện đó đánhgiấu một bớc ngoặt lịch sử trong công cuộc phục hơng của dân tộc, là
điều kiên kiên quyết cho sự trởng thành của một cuốc gia độc lập Khi đã
định đô mới Lý Thái Tổ cho xây dựng kinh thành Thăng Long rất kiên cố
và bề thế có thành lũy bảo vệ có lâu đài, cung điện đền chùa và mở mangphờng phố Từ đó Thăng Long nhanh chóng trở thành kinh đô của cả n ớc
là biểu hiện chứng tỏ sức mạnh là lòng tin của cả dân tộc trong việc bảo
vệ độc lập của tổ quốc
Song song với việc định đô và xây dựng kinh thành Thăng Long,công việc thiết yếu đầu tiên của Lý Thái Tổ là kiện toàn bộ máy Nhà n -
Trang 20ớc quân chủ Ngay từ buổi đầu dựng chính quyền, Lý Thái Tổ đã chochia lại khu vực hành chính trong nớc cho đổi 10 đạo thời Đinh, Lê làm
24 lộ, đổi Châu Hoan, Châu ái làm trại, đổi châu cổ pháp quê hơng củanhà Lý làng phủ Thiên Đức thành Hoa L cũ của nhà Đinh, Lê làm phủ tr-ờng yên đơn vị hành chính của các cấp địa phơng gồm có Lộ, Phủ, Châu,Hơng, Giáp và Thôn, ở Kinh đô khi cho đặt các phờng
Để điều hành việc nớc nhà lý đã chú ý tới việc xây dựng bộ máyquan lại đứng đầu là vua dới vua là hệ thống quan lại các cấp từ trung -
ơng đến địa phơng gồm 9 phẩm Chính quyền quân chủ thời Lý là chínhquyền sùng phật giáo tôn Đạo Phật làm quốc đạo T tởng triết lý của phậtgiáo là t bi hỉ xả, bác ái, vị tha đã đợc cac vua triều Lý tiếp thu thể hiện
đợc lòng tơng thân tơng ái và tinh thần cùng chung sức gánh vác việc
n-ớc, việc nhà Từ đây truyền thống văn hiến nghìn năm văn hiến đ ợc hồisinh, đơm hoa, kết trái, tiếp sức cho nền văn hoá Đại Việt ngày càng toảsáng,
Vua Lý Thái Tổ(Vua cha Lý Nhật Quang) có ý thức giáo dục vàrèn luyện cho các con phong cách gần gủi với dân vua xây dựng chùaLong Đức ở ngoài thành cho hoàng Thái Tử Phật Mã (Anh Lý NhậtQuang) với ý muốn cho Thái Tử hiểu biết về mọi việc của dân Nhờ thếThái Tử Phật Mã khi lên làm vua (Tức vua Lý Thái Tông) đã chú trọngphát triển kinh tế dân tộc dạy đợc “Cung Nữ biết dệt gấm vóc” Lý TháiTông lại cho làm cung ở làng nghi Tàm để Công chúa và cung Nữ ở vàtrồng dâu nuôi tằm Vua Lý Thánh Tông (Cháu của Lý Nhật Quang)cũng nổi tiếng trong lịch sử là một vị vua có lòng nhân ái đối với dân
“Yêu dân nh yêu con thờng thi hành chính sách Khoan dân khi xử kiệnthấy dân ở trong ngục, cơm không đủ ăn, chăn áo không đủ ấm vua lấylàm thơng xót”
Mối quan hệ giữa vua và dân ở thời kỳ này gần gủi đến mức khikhẩn thiết, ngời dân có nỗi oan ức gì có thể trực tiếp đến thềm điện LongTrì đánh chuông xin đợc yết kiến lên vua Bộ luật thành văn đầu tiêntrong lịch sử nớc ta đã ra đời dới triều vua Lý Thái Tông nhằm đáp ứngyêu cầu xây dựng phát triển Nhà nớc quân chủ Đó là bộ luật hình th đợchoàn thiện vào năm 1042 về việc ban hành bộ hình th, Đại Việt sử kýtoàn th nghi rằng “ Trớc kia việc kiện tụng trong nớc phiền nhiễu, quan
Trang 21lại giữ luật pháp câu nệ luật văn cốt làm cho khắc nghiệt thậm chí phiềnnhiễu ngời oan uổng quá đáng Vua lấy làm thơng xót sai quan trung th
định luật lệnh, châm chớc cho thích dụng với thời thế chia ra môn loại,biên thành điều khoản làm thành sách hình th của một triều đại để chongời xem dễ hiểu, sách làm xong xuống chiếu ban hành, dân chúng lấylàm tiện Đến đây phép xử án đợc bằng phẳng rõ ràng [269,272;9] Bộhình th có tất cả 6 quyển đến nay không còn nữa Nhng vào thời Lý, nhờ
có bộ luật này, phép xử án đợc rõ ràng, giảm bớt đợc tình trạng phiềnnhiễu của quan lại xử án và những nối oan uổng của dân
Cùng với luật pháp, lực lợng quốc phòng ở thời Lý cũng ngày đợctăng cờng để bảo vệ đất nớc cũng nh bảo vệ chính quyền quân chủ mớihình thành Nhà Lý đã cho xây dựng một lực lợng quân đội lớn mạnhchia làm hai loại cấm quân và lộ quân, phiên chế thành hai binh chủng
bộ binh và thuỷ binh, đợc rèn luyện chu đáo và có kỷ luật nghiêm minh
ở kinh thành, có khu vực giảng có là nơi giảng dạy và luyện tập binhpháp cho quân lính Tổ chức quân đội chặt chẽ của nhà lý đã góp phầnquan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Tống (1075 –1077)
Thắng lợi đó buộc nhà Tống phải thay đổi thái độ ứng xử với đạiViệt phải thừa nhận sự tồn tại cuả quốc gia Đại Việt Để đặt cơ sở vữngchắc cho Nhà nớc quân chủ trung ơng tập quyền, nhà Lý đặc biệt quantâm đến việc củng cố quốc gia thống nhất và bảo toàn lãnh thổ Lãnh thổ
mà nhà Lý kế thừa của nhà Đinh, Lê trớc đó là phần nửa phía Bắc của
n-ớc Việt Nam nh hiện nay biên giới phía Bắc gần với biên giới Việt Trungngày nay, biên giới phía Nam là giải Hoành Sơn tiếp giáp với n ớc ChiêmThành, biên giới phía Tây ở vào khoảng tơng đơng với đờng thuỷ ngăncách giữa lu vực sông Mê Công với các lu vực Sông Đà, sông Mã, sôngLam, tiếp giáp với các bộ lạc Lào, nhà Lý tuy đã củng cố đ ợc chínhquyền tập trung, tổ chức đợc bộ máy hành chính vững chắc từ trung ơng
đến địa phơng, nhng ở các vùng xã xôi hẻo lãnh nhất là ở miền núi, khuvực biên giới ảnh hởng của chính quyền trung ơng vẫn còn lỏng lẻo,chính quyền thực tế vẫn nằm trong tay các tù trởng địa phơng Các vuanhà lý đều nhận thức đợc rằng nếu quy phục đợc các dân tộc miền biênviễn sẽ có lợi đợc rất nhiều mặt
Trang 22Thứ nhất: Quốc gia sẽ đợc thống nhất và hùng mạnh lên bởi cơngvực đợc mở rộng, thần dân sẽ tăng lên.
Thứ hai: Các tù trởng miền biên viến với lực lợng quân sự ở địaphơng sẽ tạo nên một bức “Phên dậu” bảo vệ cho chính quyền trung ơng
ở Thăng Long Ngợc lại, nếu không thu phục đợc họ, chẳng những lãnhthổ bị thu hẹp mà nền độc lập và chính quyền trung ơng cũng bị đe doạbởi hoạ ngoại xâm và nạn các cứ Đối với miền núi phía Bắc nhà Lý đãthực hiện chính sách “Ki mi” mền mỏng tranh thủ các tù tr ởng miền núi,qua họ để thắt chặt mỗi đoàn kết dân tộc và gây ảnh h ởng của mình đốivới các vùng xa xôi hẻo lãnh của đất nớc Đối với những vùng đất ở phíaNam của đất nớc, nhà Lý đã cho dùng chính sách phiên trấn, cho cáchoàng tử đi trấn trị ở một số địa phơng
Về chính sách Ki mi: Để thuyết phục tầng lớp thống trị miền núi,nhà Lý đã dùng quan hệ hôn nhân để tạo nên sự ràng buộc chặt chẽ cácthủ lĩnh có thế lực quân sự và chính trị ở vùng biên viễn với triều Đình.Ngay sau khi ổn định đợc chính quyền Lý Thái Tổ Vị vua đầu tiên củanhà Lý đã gả con gái của mình cho tù trởng Động Giáp ở Lạng Sơn(Vùng Bắc Giang, Lạng Sơn ngày nay) là Thân Thừa Quý Con trai củaThân Thừa Quý nối tiếp cha làm châu mục ở Lạng Châu lại đ ợc Lý TháiTông gả cho Công chúa Bình Dơng vào năm 1066 Công chúa Tờng Linh
đợc gả cho châu mục Thợng Oai là Hà Thiện Lãm năm 1082 vua Lý lạigả công chúa Khâm Thánh cho Châu Mục Vị Long là Hà Phi Khánh
Nói về chính sách này cuốn Việt Sử thông giám c ơng mục đã cólời bàn “Bấy giờ không đặt tiếp trấn, các viện quân sự và dân sự ở cácchâu đều cho châu mục cai quản, các châu miền thợng du lại giao chobọn tù trởng địa phơng quản lý , nhà vua sợ khó khống chế đợc họ, nênmới kết giao hoả bằng hôn nhân để ràng buộc họ [306;20]
Không chỉ bằng cách gả Công chúa, Quận chúa cho các châumục, tù trởng, để lấy lòng thu phục các dân tộc ít ng ời ở biên viễn, vua
Lý Thái Tông còn lấy con gái của Đào Đại Di ở Đặng Châu vào cung làmphi
Có thể nói rằng mối ràng buộc trên cơ sở hôn nhân gia đình đã cótác dụng tích cực, lôi kéo đợc nhiều tù trởng gắn bó với đất nớc, với triều
đình Chính bằng mối quan hệ thân tộc này nhà Lý không những nắm đ ợc
Trang 23dân, đợc đất, thắt chặt hơn mối quan hệ dân tộc mà còn mở rộng ảnh h ởng của triều Đình tới các vùng đất biên giới xa xôi Cũng chính thôngqua những quan hệ hôn nhân, triều đình có điều kiện theo dõi đ ợc thái
-độ của các thủ lính dân tộc đối với triều đình, cũng nh nắm bắt đợcnhững diễn biến phức tạp ở vùng biên ải
Biện pháp ràng buộc bằng hôn nhân trong chính sách ki mi củanhà Lý đã có những thành công, thủ lĩnh các dân tộc và các dân tộc thiểu
số ở vùng biên giới đã theo nhà Lý và đã thực sự góp phần không nhỏtrong sự nghiệp “Phá Tống bình Chiêm” Những tài nguyên của cải của
họ cũng góp phần tạo nên sự hng thịnh cho quốc gia Đại Việt
Về chính sách phên trấn nhà Lý đã quan tâm tới địa phận từ NinhBình trở vào và đặc biệt chú trọng vùng đất cực Nam của đất n ớc lúc bấygiờ là Nghệ An biên giới giáp ranh với Chiên Thành và Lão Qua Đối vớivùng Ninh Bình, thì Trờng An Phủ là địa phận và phạm vi có thế lực đặcbiệt với nhà Lê trớc đó, nhà Lý ( Lý Thái Tổ) đã cho con là Khai QuốcVơng Bồ đi trấn trị Còn vùng đất xa xôi Nghệ An vào thời Lý đ ợc đặt làChâu Hoan, Châu ái làm trại năm (1010), các sứ thần triều Nguyễn khibiên soạn bộ Việt sử thông giám cơng mục đã chua rằng “ở đây chép đổi
10 đạo làm 24 lộ đặt Hoan Châu và ái Châu làm trại, thì bấy giờ cácchâu đều gọi là châu hoặc giả đặt châu làm lộ, còn Hoan Châu và áichâu là đất biên viễn nên lại gọi là trại [288;20]
Tóm lại: Vào thế kỷ XI, Vơng triều Lý đợc thành lập và đứng trớcnhững yêu cầu cấp thiết của lịch sử trong việc củng cố và phát triển quốcgia phong kiến thống nhất, xây dựng Nhà nớc quân chủ chuyên chế.Quốc gia đại Việt bớc vào thời kỳ phát triển mới với những cơ hội mới,thách thức mới đòi hỏi bản lĩnh của giai cấp phong kiến đang đóng vaitrò tích tực, tiến bộ trong vai trò lãnh đạo nhân dân ta xây dựng và bảo
vệ đất nớc Trong việc ổn định và phát triển đất nớc nói chung và cácvùng biên giới nh Nghệ An nói riêng là một nhiệm vụ cấp bách và đã đ ợcnhà Lý hoàn thành với những biện pháp thiết thực và có ý nghĩa chiến l ợc
từ trong những thành tựu đó lịch sử dân tộc đã lu danh những anh hùngdân tộc, những danh nhân văn hoá, những con ngời nh Lý Thờng Kiệt, Lý
Đạo Thành và Lý Nhật Quang, họ đã cống hiến trọn đời mình cho dântộc cho Quốc gia Đại Việt và cho sự vững bền của Vơng triều Lý
Trang 242.2 Những đóng góp của Lý Nhật Quang trong việc ổn định
và phát triển vùng đất Nghệ an ở thế kỷ XI
2.2.1 Vùng đất Hoan Diễn (Nghệ An) thời Lý.
Nghệ An là một vùng đất của Tổ quốc Việt Nam từ ngày n ớc tamang tên nớc là Văn Lang, Nghệ An là đất Việt Thờng đời cổ, đời Tầnthuộc về tợng quận Đời Hán là Cửu Chân bao gồm 3 tỉnh Thanh, Nghệ,Tĩnh, thời Tam Quốc nhà Ngô thống trị Phơng Nam Trung Quốc lập GiaoChâu, bao gồm các quân Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam sau
đó tách phía Nam Cửu Chân, lập quận Cửu Đức tơng đơng với vị trí NghệTĩnh Thế kỷ VI nhà Lơng đổi Cửu Chân thành ái Châu và Đức Châu(đổi Cửu Đức thành Đức Châu) Cuối thế kỷ VI nhà Tuỳ đổi Đức Châuthành Hoan Châu Tên gọi Hoan Châu chính thức ra đời từ lúc này Đếnnăm 607 niên hiệu Đại Nghiệp Tuỳ Dơng Đế Hoan Châu đổi làm quậnNhật Nam Quận Nhật Nam năm 679, nhà Đờng sau khi thay thế nhà Tuỳ
đô hộ nớc ta đổi Giao Châu thành An Nam Đô Hộ Phủ, và chia An Nam
ra làm 12 Châu trong đó Diễn Châu và Hoan Châu (bao gồm toàn bộ tỉnhNghệ An và Hà Tĩnh hiện nay)
Trải suốt các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần, Hồ cho đến đầu triều
Lê sơ Hoan Châu hay Nghệ An Châu, Nghệ An Phủ Lộ… cụ thể là đã đợc sử dụng
để chi miền đất phía Nam Nghệ An đến khu vực Hà Tĩnh C ơng vực phíaNam Hoan Châu lúc bấy giờ đợc xác định Theo sách Đại Việt sử ký toàn
th “Năm Thuận Thiên 16 (1025) xuống chiếu lập trại Định Phiên ở biêngiới Châu Hoan cho quản giáp Lý Thái Giai làm trại chủ” [250;10] Namgiới tức là cửa Sót thuộc huyện Thạch Hà (Hà Tĩnh) Về địa danh Namgiới, Đại Nam nhất thống chí (Đạo Hà Tĩnh) chép về núi Nam giới nhsau: “Gọi là núi Nam giới là vì ngày x a phía Nam cửa Sót giáp với ChiêmThành” [79;18] Từ Bắc Nghệ An ra đến Thanh Hoá thuộc về Diễn Châu,sách Khâm Đinh Việt sử thông giám cơng mục chép rằng; “Năm QuangThuận thứ 7 (1466) Lê Thánh Tông sắp xếp lại các đơn vị hành chính,chia cả nớc làm 12 đạo Thừa Tuyên, bây giờ Diễn Châu mới thực sự trởthành 1 phủ trong 8 phủ của Nghệ An Thừa Tuyên” [1074;20]
Trên đây là những dẫn chứng mà sử sách xa đã phản ánh và đợcgiới nghiên cứu sau này thừa nhận Diễn Châu và Hoan Châu là 2 đơn vịhành chính tồn tại độc lập trong suốt một thời gian khá dài từ triều Đinh,
Trang 25Lê (thế kỷ X) đến 3 đời vua đầu triều Lê sơ Thực tế có đúng nh ghi chépcủa sử cũ hay không, đặc biệt là trong 216 năm tồn tại của V ơng Triều
Lý Diễn Châu và Hoan Châu là hai đơn vị hành chính riêng biệt hay làmột Theo Đại Việt sử ký toàn th “Sau khi vơng Triều Lý đợc thành lập(1010) Lý Công Uẩn đã cho dời đô từ Hoa L (Ninh Bình) về thành Đại La(Hà Nội) và đổi tên là Thăng Long Cuối năm ấy lại đổi 10 đạo làm 24
lộ, trong đó có lộ Diễn Châu, lộ Thanh Hoá (tức ái Châu) mà không cóHoan Châu hay Nghệ An tìm hiểu thêm sách các phủ lộ thời Trần chéptrong An Nam chí lợc của Lê Trắc (thời Trần) tác giả Đào Duy Anh chorằng Nghệ An phủ lộ đời Trần chính đợc đổi từ Hoan Châu thời Lý”[119;24]
Đến thời nhà tiền Lê vẫn giữ hai châu Hoan Châu và Diễn Châu.Buổi đầu triều Lý Thái Tông “Thông Thụy thứ 3 (1036)” đổi các châuHoan Diễn thành châu Nghệ An, địa danh Nghệ An ra đời từ năm này về
sự kiện này theo toàn th chép “Năm thông Thụy thứ 3 (1036)… cụ thể là mùa hạ,tháng t đặt hành dinh ở Châu Hoan, nhân đấy đổi tên châu ấy là NghệAn” [265;9] Còn Việt sử lợc còn cho biết thêm “năm 1101đổi HoanChâu làm phủ Nghệ An” [288;28] Nh thế có nghĩa là năm này (1101)châu Nghệ An đợc tăng lên làm phủ Nghệ An
Nh vậy các địa danh ái Châu, Hoan Châu đợc đổi thành ThanhHoá và Nghệ An ngay từ thời Lý, còn địa danh Diễn Châu hoàn toàn giữnguyên cho đến đời Nguyễn đó là phủ Diễn Châu thuộc tỉnh Nghệ An.Ngày nay vẫn còn giữ lại với tên gọi đơn vị hành chính cấp huyện, huyệnDiễn Châu Xét về vị trí địa lý thì ái Châu, Diễn Châu và Hoan Châu làbao gồm toàn bộ miền Thanh Hoá, Nghệ An và Hà Tĩnh trong đó DiễnChâu nằm ở khoảng giữa từ phía Nam Thanh Hoá đến hết huyện YênThành ngày nay và Hoan Châu (tức là phủ lộ Nghệ An thời Trần) baogồm miền Nam Nghệ An đến hết Thạch Hà (Hà Tĩnh) Trên thực tế thì áiChâu có địa bàn gần với kinh đô Thăng Long hơn là Diễn Châu
Mặc dù nhiều lần đổi tên và tách nhập nhng dới vơng Triều Lýcác châu, Hoan Châu, Diễn Châu hay châu Nghệ An vẫn là vùng đất tậncùng phía Nam của nớc Đại Việt Từ thế kỷ XI trở đi nớc ta bớc vào kỷnguyên độc lập tự chủ, các triều đại quân chủ Việt Nam trong quá trìnhxây dựng và củng cố triều đại của mình bao giờ cũng đặc biệt chú ý đến
Trang 26Nghệ An, nhà Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ thay nhau cử ng ời hoàngthân quốc tích những nhà chính trị lão luyện, những vị t ớng giỏi vào trấngiữ đất Hoàn Châu Trong lịch sử đã cho ta thấy cứ mỗi triều đại đều cónhững chủ trơng khác nhau nhng tựu chung đều chú trọng mở mang kinh
tế củng cố chính trị, xây dựng lực lợng quân sự biến Hồng Lam thànhmột vùng có tính chất chiến lợc nh nhà lý kinh dinh các vùng khe bố,Nam Kim, Đức Thọ… cụ thể là mở đờng thợng đạo, đặt kho quân lơng dọc các hệthống giao thông nhà trần xây dựng và củng cố các thành quách nh thànhNam ,thành Lam, hệ thống phế luỹ, các hải trấn ven biển đặc biệt d ớithời nhà Hồ, với chính sách Hồ Quý Ly và ý đồ to lớn của ông, Nghệ Anlại đợc tăng cờng thêm nhiều mặt về kinh tế, chính trịvà quân sự biếnNghệ An thành “ Tả Dực” (Cánh bên trái) của trung tâm tây đô
Trong quá trình lịch sử của dân tộc, Nghệ An không chỉ là vùng
đất có tầm quan trọng chiến lợc về chính trị và quân sự mà nơi đây xa kiacòn là biên thùy phía Nam của Tổ quốc, các bộ tộc Chiêm Thành , ChânLạp ở phía Nam, Bồn Man, Ai Lao ở phía Tây th ờng sang quấy nhiễu,
đánh phá Nghệ An chiến tranh kéo dài hết năm nọ qua năm kia các vuanhà lý, nhà Lê mỗi lần hơng binh đánh dẹp thờng tổ chức hậu cần tạiNghệ An, lấy nhiều lơng thực của Nghệ An, tuyển binh lính Nghệ An,cùng với nhân dân cả nớc nhân dân Nghệ An đã góp phần xứng đáng củamình vào công cuộc chống xâm lăng Sau thắng lợi của cuộc kháng chiếnchống quân xâm lợc nhà Minh, đến nửa cuối thế kỷ XV với chính sáchmới của nhà Lê, Lê Thánh Tông lại ra sức củng cố Nghệ An, ông mởrộng phía Tây Nghệ An tăng cờng và hoàn chỉnh bộ máy hành chính địaphơng ở Nghệ An mở rộng quân khố, kho giữ trử, phát triển nông nghiệp
mở rộng xây dựng cửa biển các đô thị, biến Nghệ An thành hậu phơngtrực tiếp cho các cuộc Nam chinh sau này Chính vì vậy cho đến cuối thế
kỷ XVIII, Bùi Huy Bích trong thơ đề vịnh Hoan Châu đã ca ngợi vùng
đất này nh sau:
“Nhã văn Hoan khổn hiệu danh kh Thành thị phong lu tự đế đô
Hoàng xởng hiện kim chân cự hạtPhồn hoa Hà xứ thặng bình vu… cụ thể là.”Dịch nghĩa:
Trang 27“Nghe nói Châu Hoan vốn là xứ có tiếng
Là chốn phong lu thành thị đợc nh đế đô
Đất đai rộng rãi nay thực là một hạt lớn Phồn hoa nên không còn chỗ nào bỏ hoang vu… cụ thể là.”Một vài nét khái quát về vùng đất Hoan Châu Nghệ An thời Lýqua trờng kỳ lịch sử trên đây, cho chúng ta thấy vị trí phên dậu của nó
đối với quốc gia Đại Việt Nhng Nghệ An không chỉ là phên dậu của ĐạiViệt bởi vùng đất “Bởi thành đồng ao nóng”, bởi “Sơn thanh thuỷ tú”, màcòn hơn thế nữa là lòng ngời sinh tụ nơi đây Nói đến Nghệ An là nói đếnmảnh đất văn vật, nhà nho xứ Nghệ xa kia vẫn nổi tiếng là hiếu học,thông minh, trí tuệ, trong sáng, có nghĩa khí trọng đạo lý làm ngời.Chính đó là ngọn nguồn đã sản sinh không biết bao nhà nho khảng khái,những ông đồ hay chữ, những nhà thơ giàu lòng nhân đạo, những sĩ phuyêu nớc… cụ thể là Trên mảnh đất Hồng Lam
Trong số những nhân vật lịch sử mà tên tuổi của họ gắn liền vớimảnh đất phên dậu Nghệ An thì Uy Minh Vơng Lý Nhật Quang là ngờigiữ vị trí đặc biệt quan trọng Ông là một trong những viên quan đầu tiên
đợc triều đình phong kiến của nớc ta cử vào cai trị mảnh đất trọng yếunày
Việc Lý Nhật Quang đợc cử vào trấn trị Nghệ An và ông đã cónhiều công lao bảo vệ và xây dựng vùng đất này nh thế nào? Đã đợc sửsách nhắc tới nh cuốn, Việt điện u linh, Việt sử lợc, Đại Việt sử ký toàn
th, Khâm định Việt sử thông giám cơng mục… cụ thể là Qua các nguồn sử liệuchính giúp ta biết đợc Lý Nhật Quang là ngời đứng đầu bộ máy hànhchính biên viễn phía Nam Ông thực sự là ng ời có tài năng đáp ứng đợcnhững vấn đề đặt ra của triều đại nhà Lý, đó là ba vấn đề lớn bao quátgồm các mặt chính trị, xã hội, kinh tế và quốc phòng Đó chính là bamục tiêu trọng đại lịch sử đặt ra cho thế hệ Lý Nhật Quang mà ông phảithực hiện trong quá trình giữ chức Tri châu ở vùng đất cực Nam, xa xôihiểm yếu tại Nghệ An, Lý Nhật Quang đã có nhiều đóng góp rất lớn đốivới vùng đất này đó là ổn định trật tự xã hội, xây dựng phát triển kinh tế
và xây dựng quốc phòng
Đây là những đóng góp của ông đối với triều đình nhà Lý và cũng
là đối với toàn dân tộc lúc đó Nớc Đại Việt thời Lý đợc hùng cờng vững
Trang 28mạnh yên ổn và thịnh vợng một phần có những công lao đóng góp của LýNhật Quang trong bối cảnh xã hội Đại Việt đơng thời
2.2.2 Lý Nhật Quang về việc ổn định tình hình chính trị xã hội
Năm Thuận Thiên thứ 3 (1012) ngời Châu Diễn làm phản vua LýThái tổ mang quân đi đánh Châu Diễn khi về đến Vũng Biện gặp lúc trờitối gió sấm dữ dội, vua đốt hơng khấn thần rằng tôi là ngời ít đức, lạm ởtrên dân nơm nớp lo sợ nh sa xuống vực sâu, không giám cậy binh uy mà
đánh dẹp càn bậy Chỉ vì ngời Diễn Châu không theo giáo hoá ngu bạolàm càn, tàn ngợc dân chúng đến nay không thể dung tha không đánh[244;10]
Năm 1031 ngời Châu Hoan làm phản khai thiên vơng Phật Mãphải cầm quân đi đánh dẹp các cuộc nổi dậy ở vùng Hoan Châu và ChâuDiện [251;10]
Năm 1033 ngời Châu Trệ Nguyên làm phản vua Thân đi đánh [210;11].Năm 1043 tháng 2 Châu Văn làm phản, tháng 3 ngày 1 cho KhaiHoàng Vơng làm đô thống Đại Nguyên Soái đi đánh Châu Văn dẹp yênChâu Văn [299;9]
Tất cả những cuộc làm phản trên đều ảnh hởng nghiêm trọng đến
sự ổn định xã hội và phát triển kinh tế địa ph ơng đặc biệt là chia rẽ khối
đoàn kết dân tộc ảnh hởng đến sự thống nhất trên cả nớc Theo dõi diễnbiến của các cuộc làm phản trên ta thấy trong hơn 20 năm đầu triều Lý
Trang 29(1012 - 1043) có bốn cuộc nổi dậy Nh vậy các cuộc nổi dậy ở vùngHoan Diễn chủ yếu tập trung vào giai đoạn đầu khi V ơng triều Lý mớithành lập cha với tay tới ở các vùng đất xa, mà vùng xa Hoan Diễn thì
đang lắm bê bối ít khi đợc bình yên, thiên tai giặc giã liền năm, trật tự xãhội phức tạp Vì cha có một viên quan cai trị có tài năng để cai quảnvùng biên viễn, đồng thời chính sách giáo hoá của v ơng triều Lý cha soirọi đến nơi xa xôi này
Đứng trớc tình hình nh vậy mặc dù nhiều lần triều Đình mangquân đi đánh dẹp nh khó ổn định tình hình ở Nghệ An, điều đó không chỉliên quan đến sự bình ổn vùng đất phía Nam của Đại Việt thời Lý mà cònliên quan đến chính sách trấn trị của triều Lý đối với vùng đất này cũng
nh đối với cả nớc Bởi vậy yêu cầu đặt ra với Vơng triêù Lý là phải chọnnhững thân vơng có đủ tài năng và đức độ ra trấn trị vùng đất trọng yếunày Uy Minh Vơng Lý Nhật Quang là ngời có đủ tiêu chuẩn đó của triều
đình nên đợc triều đình giao phó công việc trấn trị tri châu Nghệ an, về
sự kiện này Đại việt sử ký toàn th chép “năm 1044 nhà vua xuống chiếucho Uy Minh Vơng Lý Nhật Quang làm tri châu Nghệ An [218;9]
Để hiểu thêm về chức vụ tri châu mà Nhật Quang đợc đảm nhiệmtrong 16 năm tại Nghệ An thì chúng ta cần tìm hiểu thêm chế độ chứcquan của triều Lý Trong lịch triều hiến chơng loại chí phần quan chứcchí, khi chép về hệ thống chức quan của triều Lý Phan Huy Chú cũngmới chỉ nêu lên đợc đại thể tình hình, song cha đợc tờng tận lắm về chứctrách, quyền hạn, phẩm trật, nhiệm vụ của từng chức quan Hệ thốngchức quan triều Lý phần lớn mô phỏng theo chế độ chức quan triều Đờng
và triều Tống ở Trung Quốc Viết về chế độ chức quan của Trung Quốc
“Quan chế thông sử” của (Trung Văn) chép nh sau: “Các quan Trung ơnggiữ trọng trách của một châu thờng đựơc gọi “quyền tri châu quân sự”hay “tri châu quân sự” gọi tắt là tri châu Viên quan tri châu có cácnhiệm vụ giáo hoá dân chúng, đôn đốc thuế khoá nông tang biểu dơngnhững tấm gơng tiết liệt, hiếu để, phụng hành pháp lệnh, chấn cấp cứu
tế, khảo hạch các quan cùng các viên quan lại đến thóc gạo, xử án… cụ thể là.trong châu mình trị nhậm” [120;23] Trong Lịch triều hiến ch ơng loại chíPhan Huy Chú đã chép “Đời Lý, quan ngoài có chức tri châu lại nhữngchâu ở biên giới đều đặt chức mục, dùng ngời hào trởng địa phơng giữ
Trang 30chức ấy [31;3] Chức vụ quyền hạn của huyện Quan châu nói chung củacác đời cũng đợc Phan Huy Chú ghi lại nh sau: “Tuần hành vỗ về,khuyên bảo giúp đỡ nhân dân, phải châm chớc điều lệ của triều đình trớc
đó đã chuẩn định tra khám bọn bè đảng tụ tập làm loạn, phàm các nhamôn trong ngoài trừ việc coi thu tiền và thuế, những sai tr ng đi thu tôthuế… cụ thể là Phàm có việc gì mà đến nhân dân trong bản hạt phải đa trình giấythị Nhiếp (Do nha môn cấp) phụ trách việc án kiện biểu d ơng những tấmgơng hiếu thảo tiết nghĩa, răn trị những kẻ chơi bời, nghịch ngỗ… cụ thể là giữ tốtphong tục ngoài ra các công việc đều phải theo lệ mà phụng hành[45,46;3]
Qua tìm hiểu những quy định về chức tri châu đời Đ ờng, TốngTrung Quốc và sự nghi chép về chức trách châu quan của Phan Huy Chúchúng ta nhận thấy, trách nhiệm của chức Viên Tri Châu rất nặng nề vàkhó khăn, hoàn thành tốt đợc chức nhiệm này quả phải là một con ng ờitài ba, năng nổ, luôn trăn trở suy nghĩ để tìm ra kế sách “Quốc Thái dânAn” nh Lý Nhật Quang mới đảm nhiệm đợc chức vụ đó
Đợc giao phó trọng trách coi giữ Nghệ An Lý Nhật Quang có ýthức sâu sắc về vị trí đặc biệt của vùng đất này đối với cả n ớc ông thựchiện nhiệm vụ chức năng của viên quan cai trị tại vùng đất Nghệ An Tr -
ớc hết ông ổn định chính trị ở vùng Nghệ An bằng chính sách trấn ápnhững thế lực chống đối của các nớc Chiêm Thành và Chân Lạp bằngcách dùng uy để chế ngự, dùng ân để vỗ yên Nhờ vậy mà ông đã giảiquyết đợc ổn thoả sự gây phiền nhiễu cuả Chiêm Thành, Chân Lạp để ổn
định đời sống tinh thần cho nhân dân đồng thời ông còn tạo dựng đ ợcmối quan hệ hoà hiếu giữa Chiêm Thành và Đại Việt
Ông còn chủ trơng phát huy tiềm lực đất đai của cải và con ngờinơi đây để tập hợp dân lu vong lập làng xã mới dần dần ổn định đời sốngcho nhân dân nhằm lập lại kỷ cơng phép nớc của triều đình đến với nhândân Để quản lý xã hội chặt chẽ Lý Nhật Quang cũng thực hiện theochính sách của triều đình ông cho làm sổ sách thống kê hộ khẩu nhân
đinh để dễ bề quản lý, về việc này Việt điện u Linh cho biết “Lý NhậtQuang đã làm sổ sách nhân đinh nơi ông trị nhậm châu Nghệ An có 6huyện, 4 trờng, 60 giáp, 46.450 hộ và 54.364 nhân đinh [48;27] Vàtrong cuốn lịch triều hiến chơng loại chín nhà sử học Phan Huy Chú cho
Trang 31biết “ Đời Lý việc kiểm soát hộ tịch rất là nghiêm ngặt dân binh nào đến
18 tuổi thì biên vào sổ bìa vàng gọi là Hoàng Nam đến 20 tuổi gọi là ĐạiHoàng Nam [48;4] Với chính sách đó của triều đình chúng ta thấy rằng
Uy Minh Vơng Lý Nhật Quang cũng dựa trên chính sách của triều đình
để thực hiện việc quản lý xã hội tại Nghệ An
Ông còn dùng uy tín cá nhân chiêu dụ đợc nhiều bộ tộc thiểu số ởvùng biên giới theo Việt Điện U Linh “ Ông đã thu phục đ ợc tù trởng 5châu, 22 trại, 56 sách [53;4] Nhờ có hoạt động tích cực đó mà quốc gia
Đại Việt ngày càng mở rộng về phía biên giới Tây nam lúc đó Đại NamNhất Thống Chí còn cho biết “Lý Nhật Quang là ngời có công trong việcdời đặt phủ lỵ Nghệ An đến địa phận xã Bạch Đờng [165;14] Bạch Đờng(Nay là ở xã Bồi Sơn - Đô Lơng – Nghệ An)
Vào thời đó Bạch Đờng là một vùng đất trung tâm công thủ đềuthuận lợi, phải có cách nhìn cách t duy sâu sắc của một vị danh tớngthông binh pháp nh Lý Nhật Quang mới chọn đợc đất Bạch Đờng làmphủ lỵ
Công lao xây dựng Bạch Đờng của Uy Minh Vơng Lý Nhật Quang
là vô cùng to lớn đối với nhân dân Đô Lơng nói riêng và cả Nghệ An nóichung Từ khi ông hiển thánh đến nay các thế hệ dân Bạch Đ ờng đều đợcthừa hởng nhiều ân huệ của ông đây là di sản tinh thần vô giá luôn tạothành những giá trị vật chất cho muôn đời dân Bạch Đ ờng do Đức Thánh
Uy Minh Vơng để lại Để tỏ lòng biết ơn công lao to lớn của Lý NhậtQuang nhân dân trong vùng lập đền thờ tại chân núi Quả Riêng ở xãBạch Đờng thuộc huyện Đô Lơng ngoài Đền Quả ra thì có 6 làng đều lập
đền thờ ông Ngời dân Đô Lơng từ xa cho tới nay luôn ghi lòng tạc dạnhững công lao to lớn của Lý Nhật Quang nguyện cống hiến hết mình đểgiữ gìn những công tích đó và làm uy danh Uy Minh V ơng Lý NhậtQuang rạng ngời muôn thuở Đô Lơng cũng rất tự hào vì một thời đã từng
là thủ phủ của xứ Nghệ, lỵ sở trấn trị của Tri châu Lý Nhật Quang, đồngthời là nơi an nghỉ đời đời của Đức Thánh Lý Nhật Quang nơi đợc chọn
để lập đền thờ chính của ông
Với những biện pháp tích cực ổn định chính trị xã hội của LýNhật Quang làm cho vùng đất này dần dần đợc ổn định đó là tiền đềthuận lợi để cho ông tiến hành tổ chức hoàn thiện bộ máy chính quyền
Trang 32cấp cơ sở và động viên sức dân khai hoang mở mang đất đai, lập xóm ấpxây dựng phát triển kinh tế, khiến cho nhân dân Cả Châu an c lập nghiệp.
Bên cạnh đó ông còn dùng chính sách “ Đức trị” để cảm hoá lòngngời dùng tài năng để quản lý công việc chính vì thế trong những năm
ông cai trị ở đây dân c đông đúc thêm nhiều xóm làng trở lên yên vui vàtrù phú làm cho vùng đất vốn phức tạp trở nên thuần hậu và thống nhất,tình hình chính trị xã hội bớc đầu khá ổn định sử tích Quả sơn linh từ ghikhá cụ thể “Ngài ở châu 16 năm trừng trị bọn gian khen thởng ngời lành,khai khẩn đất hoang, chiêu mộ lu dân, bọn vô lại phải im hơi ngời dân về(Với vơng) đợc yên nghiệp Ngài thờng qua lại vùng này vùng khác dạynghề làm ruộng chăm tằm, có nhiều chính sách lợi cho dân làm cho dân
đoàn kết, có ngời đến kiện tụng thì lấy liêm sỉ lễ nghĩa giảng dạy chi tựgiác ngộ ai nấy đều cảm hoá không bàn đến kiện cáo nữa [41;29]
Có thể nói ổn định tình hình chính trị xã hội là cơ sở đầu tiên đểxây dựng và phát triển về mọi mặt Đó chính là công lao vai trò quantrọng đầu tiên của Lý Nhật Quang với t cách là một ngời đứng đầu bộ máyhành chính ở địa phơng Chính nhờ những biện pháp tích cực ổn định đờisống xã hội thiết thực của Lý Nhật Quang nên uy tín của triều đình nhà Lýngày càng đợc khẳng định vững chắc ở vùng đất xa kinh đô này, và cũngnhờ vậy quyền lực của Nhà nớc trung ơng tập quyền triều Lý đợc tăng cờnghơn, tiềm lực đất nớc về mặt chính trị đợc củng cố hơn
Nh trên chúng ta đã biết Lý Nhật Quang là con thứ 8 của Lý Thái
Tổ sau khi ông đợc cử nhận chức tri châu Nghệ An (1041) về sự kiện nàyViệt sử lợc chép “ Mùa đông tháng 11 năm Tân Tỵ (1041) lấy Uy MinhHầu coi châu Nghệ An” [84;28] Từ lúc Trấn Nhậm ở đây cho đến khi