Sự phát triển của tầng lớp này với nền kinh tế công - thơngnghiệp, đã tác động mạnh tới sự ra đời và hứng khởi của một loạt thành thịNhật Bản với vai trò là nơi tập trung nhiều biểu hiện
Trang 1Mở Đầu
1 Lý do chọn đề tài
Nhật Bản ngày nay là một siêu cờng kinh tế trên Thế giới Sự phát triểncủa Nhật Bản đã thu hút đợc sự quan tâm nghiên cứu của rất nhiều học giảquốc tế, trong đó có các nhà khoa học Việt Nam Tuy phạm vi chuyên môn,mục đích nghiên cứu phơng pháp tiếp cận giữa các nhà khoa học có khácnhau nhng nhiều kết quả thu đợc thực sự là những đóng góp có giá trị trongviệc nâng cao nhận thức về con ngời và xã hội Nhật Bản, về mô hình NhậtBản cũng nh những nguyên nhân dẫn đến sự tăng trởng cao của nền kinh tếnớc này Nhng càng đi sâu vào nghiên cứu những vấn đề kinh tế, xã hội ng-
ời ta càng nhận thấy có một đặc tính nổi bật là: xã hội Nhật Bản hiện đại cómối liên hệ hết sức chặt chẽ với những yếu tố truyền thống Di sản từ quá khứ
có sức mạnh tiềm ẩn Đó chính là động lực tác động trực tiếp đến đặc điểm
và khuynh hớng phát triển của Nhật Bản ngày nay
Từ những khám phá rất có ý nghĩa này, các nhà khoa học càng chú ýhơn đến mối liên hệ có tính lịch đại giữa các giai đoạn trong tiến trình lịch
sử Trong quá trình đi sâu nghiên cứu về kinh tế, xã hội Nhật Bản ngời ta đãkhẳng định một điều là những chuyển biến có tính chất bớc ngoặt trong thời
kỳ cận đại hóa và hiện đại hóa, phần lớn đợc bắt nguồn từ những tiền đềchính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá đã đợc hình thành từ thời Tokugawa (1600-1868) Bởi vì đây không chỉ là thời kỳ phát triển cuối cùng và cao nhất củachế độ phong kiến Nhật Bản mà nó còn là thời kỳ tạo ra những tiền đề kinh tế
- xã hội hết sức quan trọng cho sự chuyển mình mau chóng của Nhật Bản từxã hội phong kiến sang xã hội t bản vào giữa thế kỷ XIX
Thời Tokugawa, trong điều kiện hòa bình thống nhất các lĩnh vựcchính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá của Nhật Bản đều có những bớc phát triển
rõ rệt Những chuyển biến đó đã dẫn đến những hệ quả xã hội sâu sắc mà gắnvới nó là sự xuất hiện của một tầng lớp xã hội mới trong đó nổi bật là tầnglớp công - thơng Sự phát triển của tầng lớp này với nền kinh tế công - thơngnghiệp, đã tác động mạnh tới sự ra đời và hứng khởi của một loạt thành thịNhật Bản với vai trò là nơi tập trung nhiều biểu hiện phát triển nổi bật nhấtcủa dân tộc Nhật Bản nh kinh tế, chính trị và văn hoá Sự phát triển của kinh
tế công - thơng và nhu cầu tiêu dùng cao trong các thành thị đã cuốn hútmột lực lợng d thừa lớn trong nông thôn đồng thời đẩy nhanh quá trình đô thị
Trang 2hóa ở Nhật Bản Với một lực lợng tơng đối đông đảo, dựa vào nền tảng kinh
tế công - thơng nghiệp, các tầng lớp thị dân chính là những ngời sáng tạodòng văn hoá mang đầy chất thành thị Họ đồng thời là những ngời đón nhậnnhiệt thành những thành tựu khoa học, t tởng mới từ Châu Âu dội vào xã hộiNhật Bản Và lần đầu tiên trong lịch sử Nhật Bản, những nhân tố t sản đãxuất hiện Tất cả những nhân tố đó đã hội tụ thành lực lợng vật chất mạnh
mẽ, làm rung chuyển thể chế phong kiến rồi đi tới lật đổ chế độ này Tronggiai đoạn hiện nay, khi nớc ta đang trong công cuộc thực hiện sự nghiệp côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc thì việc phát triển các thành phố là một vấn
đề có ý nghĩa thực tiễn rất lớn
Là sinh viên năm thứ t của khoa lịch sử, với mong muốn đợc hiểu biếtnhiều hơn nữa về lịch sử, văn hoá các nớc, về những đặc điểm, con đờng pháttriển riêng biệt trong lịch sử của mỗi dân tộc, đợc sự hớng dẫn của thầy giáo
Thạc Sỹ Lê Tiến Giáp, tôi chọn đề tài: “Vai trò của thành thị Nhật Bản
thời Tokugawa (1600-1868)” làm chủ đề nghiên cho luận văn tốt nghiệp
của mình Theo tôi, đây là một đề tài nghiên cứu rất thú vị và hấp dẫn mangtính thực tiễn cao những tơng đối khó Điều chắc chắn là để có thể rút ranhững kết luận khoa học mới, chính xác cần phải có thời gian và sự đầu t trithức, tập trung tài liệu nhiều hơn nữa Với trình độ của một sinh viên, tôimạnh dạn chọn và bớc đầu tìm hiểu vấn đề này để mong tìm ra những đónggóp của thành thị Nhật Bản dới thời Tokugawa và thời cận - hiện đại sau nàynữa Hy vọng qua đề tài này, tôi góp phần nhỏ bé của mình vào công việcnghiên cứu Nhật Bản, đem đến một cái nhìn đa dạng, những lý giải sâu sắcthỏa đáng hơn về những phát triển thần kỳ của Nhật Bản thời kỳ cận - hiện
đại
2 Lịch sử vấn đề
Nhật Bản từ lâu đã là đối tợng thu hút sự quan tâm nghiên cứu của cácnhà học giả trên Thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng Từ đầu thế kỷXVII, để phục vụ cho công việc truyền giáo, nhiều giáo sĩ Châu Âu bắt đầu
tìm hiểu về Nhật Bản Năm 1603, cuốn “Từ điển Bồ - Nhật” đầu tiên đã đợc
xuất bản ở Nagasaki Trong các thế kỷ sau đó, ngời Châu Âu bắt đầu viết vềNhật Bản nh là một thị trờng hấp dẫn và càng đi sâu nghiên cứu về Nhật Bản
Cải cách Minh Trị diễn ra làm cho xã hội Nhật Bản thay đổi nhanhchóng Những thành tựu to lớn mà Nhật Bản dành đợc từ sau cuộc chuyểnbiến này đã thu hút tâm lực của đông đảo giới nghiên cứu cả trong và ngoài
Trang 3nớc Nhật Trớc những thành công của cuộc cải cách, phần lớn những côngtrình xuất bản trong giai đoạn đầu thế kỷ XX theo khuynh hớng tập trungngợi ca công cuộc cải cách Khuynh hớng đó lại nổi bật lên vào những năm
1960 - 1970 khi Nhật Bản “cất cánh” sau đại chiến thứ hai (1939 - 1945).
Việt Nam có nhiều điểm gần gũi với quốc gia láng giềng Nhật Bản.Tuy vậy vào những năm đầu thế kỷ, sau phong trào Đông Du, vì nhiều lý dokhác nhau nên công việc nghiên cứu Nhật Bản cha đợc phát triển Trớc năm
1975, một số tác giả nh: Đào Trinh Nhất, Trần Minh Triết, Trần Văn An đãviết về Minh Trị Duy Tân, con ngời và giáo dục Nhật Bản Sau năm 1986, dới
sự tác dộng của chính sách đổi mới, sự nghiệp nghiên cứu Nhật Bản ở ViệtNam đã có nhiều hng khởi Một số cuốn sách khảo cứu về Nhật Bản nh:
Lịch sử giáo dục thời Minh Trị
“ ” của Nguyễn Văn Hồng, những bài viết về
Nhật Bản tập hợp trong công trình Xu h“ ớng đổi mới trong lịch sử Việt Nam”
của Đinh Xuân Lâm - Nguyễn Văn Hồng, hoặc cuốn Lịch sử Nhật Bản“ ” củanhóm tác giả: Phan Ngọc Liên, Đinh Ngọc Bảo [18] Nhiều cuốn sách viết
về kinh tế, văn hoá hiện đại của Nhật Bản cũng nh dịch thuật đã đợc xuấtbản Các công trình không chỉ trình bày những vấn đề căn bản trong lịch sửvăn hoá Nhật Bản mà còn gợi mở nhiều suy nghĩ khoa học nghiêm túc chonhững ai quan tâm tìm hiểu về Nhật Bản Tuy nhiên vẫn còn cha thấy nhiềuchuyên khảo của các nhà khoa học trong nớc tập trung nghiên cứu về kinh tế
- xã hội thời Edo Gần đây nhất có tác giả Nguyễn Văn Kim đã có nhiềucông trình, nhiều bài báo nghiên cứu về các lĩnh vực nh: kinh tế, xã hội,chính trị, giáo dục dới thời Edo, trong đó lớn nhất là công trình luận án tiến
sĩ “Chính sách đóng cửa của Nhật Bản dới thời Tokugawa - nguyên nhân và
hệ quả” đã đợc in thành sách năm 2000 [11] Trong công trình này, tác giả có
nhấn mạnh đến những chuyển biến kinh tế xã hội dới thời kỳ Tokugawa
Từ những kết quả nghiên cứu trong và ngoài nớc (đã đợc dịch) em
chọn vấn đề Vai trò của thành thị Nhật Bản d“ ới thời Tokugawa ” Vấn đề đókhông mới, nhng các nhà khoa học trớc đó chỉ mới nhắc đến sơ qua khi nóitới những chuyển biến kinh tế xã hội dới thời Tokugawa, chứ cha nói rõ vềvai trò của thành thị đối với các vấn đề chính trị - văn hoá - giáo dục - khoahọc kỷ thuật
Ngoài ra một số tác phấm nh Đô thị cổ Việt Nam“ ” [22], Đô thị Việt“
Nam dới thời Nguyễn”[ 8 ] cũng là những nguồn t liệu quý giá giúp tôi có
cái nhìn khái quát, khách quan hơn về nội dung và bản chất của vấn đềnghiên cứu, để từ đó có thể đi sâu hơn về đề tài khoa học của mình
Trang 43 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài.
Qua phần lý do chọn đề tài, đối tợng nghiên cứu của đề tài là “Vai trò
của thành thị Nhật Bản dới thời kỳ Tokugawa” Qua đó có so sánh với sự
phát triển, vai trò của thành thị Việt Nam trong các giai đoạn phát triển Và
để tập trung làm rõ hơn về Vai trò của thành thị Nhật Bản d“ ới thời kỳ Tokugawa”, tôi điểm lại quá trình ra đời và sự phát triển của thành thị NhậtBản từ thời cổ - trung đại đến thời kỳ Tokugawa Và dới thời kỳ Tokugawatôi nhấn mạnh về vai trò của nó đối với sự phát triển xã hội Nhật Bản lúc bấygiờ và những hệ quả của nó trong thời kỳ cận - hiện đại
4 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu.
Đề tài này đợc tiến hành từ sự tiếp thu các nguồn tài liệu, công trìnhnghiên cứu về Nhật Bản của các học giả trong và ngoài nớc Phơng phápnghiên cứu đợc sử dụng trong luận văn chủ yếu là phơng pháp phân tích tổnghợp, phơng pháp Logic lịch sử và ở một mức độ nhất định có sự so sánh đốichiếu với thành thị cận đại Việt Nam, để bớc đầu tìm ra những đặc điểmchung cũng nh đặc điểm riêng của mô hình phát triển ở thành thị hai nớc
5 Bố cục của đề tài
Về mặt kết cấu, nội dung của luận văn bao gồm các phần sau:
nh khả năng nghiên cứu nên chắc chắn luận văn không tránh khỏi nhữngthiếu sót và hạn chế Tôi chân thành kính mong các thầy cô giáo góp ý, chỉbảo để tôi đợc trởng thành hơn trên con đờng nghiên cứu khoa học
Chơng 1
Trang 5Khái quát về sự hình thành và phát triển thành thị ở Nhật Bản thời kỳ cổ trung đại đến thời kỳ TOKUGaWA
1.1 Vài nét về sự ra đời và phát triển thành thị Nhật Bản thời cổ
trung đại.
Thời kỳ Mạc Phủ là thời kỳ tồn tại lâu dài trong lịch sử Nhật Bản vớinhiều biến động lớn và đợc xem là giai đoạn phát triển cuối cùng cao nhấtcủa chế độ phong kiến Nhật Bản Tồn tại gần 300 năm, Mạc phủ Tokugawa
đã duy trì đợc nền hoà bình và phát triển tơng đối ổn định ở Nhật Bản Khitìm hiểu về thời kỳ này, không thể không nhắc đến vai trò của các thành thị
Đó là nơi biểu hiện tập trung nhất những chuyển biến, thay đổi lớn lao từ cácmặt kinh tế - chính trị - văn hoá của Nhật Bản, tạo nên những tiền đề cơ bảncho công cuộc canh tân của Nhật Bản thời cận thế
Để có một cái nhìn tổng thể về vai trò của thành thị ở Nhật Bản thời kỳTokugawa ta phải tìm hiểu vài nét về quá trình ra đời và phát triển của cácthành thị từ thời kỳ cổ đại đến thời Tokugawa
1.1.1 Đô thị thời kỳ cổ đại.
Thời kỳ cổ đại của Nhật Bản trải qua các thời kỳ văn hoá Kofun (thế
kỷ III - VI), thời kỳ Nara (710 - 794) và Heian (794 - 1185) Thời kỳ này đãxuất hiện những đô thị đầu tiên trên đất nớc Nhật Bản
Vào cuối thế kỷ III đến hết thế kỷ VI xuất hiện một nét đặc sắc trong
đời sống văn hoá - xã hội của Nhật Bản là sự xuất hiện các mộ cổ nên đây
đ-ợc coi là thời kỳ văn hoá Kofun Thời kỳ này quần đảo Nhật Bản đđ-ợc chia
thành khoảng 100 quốc gia“ ”, một số quốc gia “ ” chịu sự thống trị của nữhoàng Himiko vơng quốc Yamatai Cung điện của bà hoàng này đợc miêu tả
là có hàng vách đã dốc đứng và những tháp canh vây bọc xung quanh Nhng
đó chỉ mới là dấu vết của một đô thị sơ khai đầu tiên ở Nhật Bản mà thôi
Thời kỳ này vùng Asuka đợc các quốc vơng Nhật Bản chọn để xâydựng dinh thự cho mình Nhiều lâu đài, cung điện, đền thờ đã đợc xây dựng ởkhu vực đó hầu nh đợc dùng vào các cuộc họp bàn định các công việc có tínhchất quốc gia Cuối thời Kofun, một nớc Nhật thống nhất đã thực sự đợc hìnhthành, trên cơ sở liên kết từ nhiều bộ lạc Asuka trở thành thủ phủ nhà nớcYamato (Đại Hoà) của các thủ lĩnh chính trị miền Tây Nam Nhật Bản Thủ
đô đầu tiên này của nớc Nhật đợc gọi là Saka Nara Thực ra, thời kỳ này ở
Trang 6Asuka cha có sự hội tụ c dân đông đúc, hay một sự tập trung đáng kể của
những thành phần kinh tế công - thơng nghiệp Do vậy, ở đây yếu tố “thành” còn nổi trội hơn yếu tố “thị” Cũng có hai ba thành thị khác ra đời trong thời
kỳ này, nhng với quy mô nhỏ bé, và vị thế chính trị - kinh tế - xã hội thấpkém Thành Koshibawara là một trong những thành cổ nh thế ngày nay còn
đợc biết đến
Đến cuối thời kỳ văn hoá Kofun, sự giao lu giữa Trung Hoa và NhậtBản đã đợc tăng cờng Với một cơ sở chính trị tơng đối ổn định đó là sựthống nhất quốc gia và đã có những cách thức tổ chức xã hội đầu tiên và nềnvăn hoá có những phát triển nhất định, ngời Nhật đã tiếp thu, học tập nhữnggiá trị văn hoá Trung Hoa một cách có ý thức Cho đến thế kỷ VII, nền vănminh Trung Hoa đã ảnh hởng mạnh mẽ tới quần đảo Nhật Bản Đây là thời
kỳ phát triển phồn thịnh của nhà Đờng ở Trung Hoa trên nhiều phơng diện:chính trị, khoa học, văn hoá Còn nớc Nhật khi đó đang trong tình trạng t-
ơng đối lạc hậu, thấp kém Nền văn minh rực rỡ Trung Hoa đã hấp dẫn ngờiNhật, khiến họ tìm tòi học hỏi để canh tân đất nớc Nhiều phái bộ ngoại giao,
tu sĩ, trí thức trẻ tuổi đợc cử sang Trung Hoa hoặc đi tháp tùng các sứ thầnTrung Quốc để lĩnh hội những ngời tri thức về kỹ thuật, triết học, văn hoá, sửhọc Khi về nớc họ trở thành những ngời đi tiên phong trong việc truyềngiảng vận dụng những kiến thức đã học vào xã hội Nhật Bản Cuộc cải cáchTaica đã đợc tiến hành bởi sự hấp dẫn của mô thức Trung Hoa Ngời Nhậtmuốn mình đợc đặt ngang hàng với Trung Hoa
Sau khi đánh thắng dòng họ Mononobe, đại diện cho các thế lực chống
đối, Xiotocu đã ra sức củng cố chế độ trung ơng tập quyền bằng cách đề ớng Phật giáo, tiếp thu t tởng chính trị Nho gia, đề ra chế độ quan lại 12cấp và quy định chức quan không đợc cha truyền con nối Năm 604 lại cho
x-công bố “luật 17 điều”, trong đó t tởng trung quân đợc đa lên hàng đầu Cũng
từ thế kỷ VII, các vua Nhật Bản đã tự coi mình ngang hàng với hoàng đếTrung Quốc Mở đầu một bức th gửi nhà Tuỳ năm 607, Xiotocu đã viết
“Thiên tử nơi mặt trời mọc gửi Thiên tử nơi mặt trời lặn Chúc sức khỏe”.
Chính t tởng trung quân, muốn xây dựng và củng cố một chế độ trung ơngtập quyền vững mạnh theo mẫu hình của Trung Quốc là nguyên nhân quantrọng thứ hai dẫn đến cải cách Taica [18, 50 - 51]
Trang 7Chiếu chỉ về cuộc cải cách này có 4 chơng trong đó chơng 2 nói vềviệc thành lập vùng trung tâm văn hoá chính trị gọi là Kinai bao gồm nơi cóchính quyền trung ơng đóng, cải tạo mạng lới giao thông ngoại tỉnh và địnhchế độ bổ nhiệm các quan tỉnh và huyện thuộc triều đình Chính khát vọng v-
ơn lên của ngời Nhật vào thế kỷ VII đã dẫn tới một hệ quả quan trọng đối với
sự phát triển của các thành thị ở Nhật Bản Ngời Nhật đã chấp nhận và họctập theo cách quy hoạt của thành thị Trung hoa Năm 694, ở Fujiwara bênthung lũng Asuka một đô thị của Nhật Bản đã đợc xây dựng theo mô hình thunhỏ của kinh đô Trờng An đời Đờng Quy hoạch của đô thị bao gồm cung
điện của Tenno (Thiên hoàng) ở trung tâm, xung quanh là dinh thự của cácquan lại và một mạng lới đờng phố chợ búa kéo dài Qua nghiên cứu thànhthị này, các nhà khoa học cho rằng ở đây đã có sự tập trung dân c đông đúc
và các hoạt động kinh tế công - thơng, ngoài ra thành thị này còn là mộttrung tâm hành chính, chính trị quan trọng của đất nớc Mặc dầu vậy nókhông đợc xem là một đô thị tiêu biểu của Nhật Bản do nó chỉ tồn tại đợc 16năm trớc khi dời về Heijo
Kinh đô Trờng An đã hấp dẫn ngời Nhật, nhng để xây dựng một đế đô
nh Trờng An với quy hoạch rộng lớn (8 10 km) thì thung lũng Asuka trởnên quá chật hẹp Hơn nữa với địa hình bị bao bọc bởi những dãy núi cho nênviệc mở mang giao thông nội địa và liên lạc với bên ngoài gặp nhiều khókhăn trở ngại Do đó năm 710, ngời Nhật quyết định xây dựng một đô thịmới ở phía Tây Nara, với quy mô khoảng 5 7 km và xóa bỏ những hào luỹbao quanh vì c dân không tập trung đông và sống thờng xuyên ở đây ý tởngnày đợc thực hiện bằng cách di chuyển những công trình kiến trúc cũ ởFufiwara tới Nara Quy mô thực tế của kinh đô mới là 5,7 4,2 km, baogồm 2 chợ ở phía Đông và phía Tây còn phía Nam là nhà ở, dinh thự và đềnthờ của giới thợng lu, những kiến trúc này đợc xây dựng bên các trục lộ lớn,
đợc lợp ngói sang trọng rộng rãi Phía Đông thành phố là chùa Todaiji (Đông
đại tự) đợc xây dựng vào năm 745, là một địa điểm thờ cúng quan trọng củagiới quý tộc triều đình, đồng thời là trung tâm Phật giáo đầu tiên quan trọngnhất của Nhật Bản lúc bấy giờ Để giao lu đợc dễ dàng, các trục lộ giao thông
đợc mở mang trong thành phố và toả đi nhiều hớng trên cả nớc Một trongnhững trục lộ quan trọng nhất là con đờng nối liền với con đờng tơ lụa nổitiếng thế giới từ Nara đến Osaka
Trang 8Đô thị cổ đầu tiên Nara (còn gọi là Heijokyo) đợc xây dựng theo môhình Trờng An của nhà Đờng, song cũng mang dáng kiến trúc dân tộc Kinh
đô Nara theo chiều Đông Tây dài 5,9 km và chiều Nam Bắc là 5,1 km ThànhNara nhìn ra đại lộ rộng 90m, chạy thẳng đến cung điện hoàng gia Đầu phíaBắc tập trung nhiều cơ quan các bộ Phía Đông Tây có nhiều chợ miếu mạo,lăng tẩm Một thành bằng đất có 12 cửa, có hào sâu bao bọc xung quanh làcung điện nhà vua và các cơ quan đầu não của triều đình Mức độ tập trungdân c ở Nara khoảng 20 vạn ngời vào thế kỷ VIII Đô thị cổ Nara đợc xem là
đô thị đầu tiên của Nhật Bản vì thế c dân Nara đợc xem là thị dân đầu tiêncủa Nhật Bản [18, 56]
Trong quá trình phát triển đô thị này đã dần dần hội tụ đủ các yếu tốcủa một thành thị trung tâm với vị trí nổi bật nhất là việc kiểm soát hànhchính của thủ đô với các trung tâm khác Đó là sự phát triển hệ thống giaothông liên lạc, hệ thống chuyên chở, kiểm soát và đánh thuế hàng hoá Vềhành chính, sự kiểm soát của triều đình Nara còn kéo dài đến tận ngọn núiphía Đông Bắc đảo Honshu Ngoài việc đánh thuế các sản phẩm nôngnghiệp, thủ công nghiệp ở Nara thì các mặt hàng nhập từ Trung Quốc vànhiều mặt hàng sản xuất từ các địa phơng qua Nara cũng đợc đánh thuế,nhiều thợ giỏi cũng đợc tuyển từ các tỉnh lân cận về Nara để sản xuất những
đồ dùng, hàng hoá theo khuôn mẫu nh các loại hàng của nớc ngoài đợcchuyển tới Nhật Bản qua con đờng tơ lụa nh thuỷ tinh của Bydantine (LaMã), đồ gỗ và ngà khảm của ngời Ai cập, thảm của ngời Trung á và một sốsản phẩm đợc thu nhập từ khu Đông Nam á
Thời kỳ này thủ đô của Nhật Bản còn đợc di chuyển nhiều lần, năm
784 triều đình Tenno dời đô từ Nara tới Nagaoka - một vùng ở Tây NamKyoto ngày nay Nhìn chung những lần dời đô nh thế thờng ngắn ngủi Lí dochủ yếu của những lần dời đô là để tránh xung đột trong giới thợng lu, sựcạnh tranh quyền lực giữa các phe phái đối lập cũng nh sự đố kị trong hoàngtộc
Năm 794, dới thời TennoKamu đã dời đô từ Nara tới Heian (Hoà an),cách Nara ngày nay khoảng 50 km Lý do dời đô lần này điểm chính nằmtrong những nguyên nhân nêu trên, ngoài ra đó còn là hệ quả của chính sáchcủa Thiên hoàng đã nới lỏng mức thuế đối với các cơ sở tôn giáo, và giới th-ợng lu quý tộc của triều đình dẫn tới một hiện tợng là nhiều tầng lớp c dân
Trang 9đố xô về những vùng đất đai rộng lớn do các thế lực này nắm giữ Cũng vìthế mà các cơ sở tôn giáo, gia đình quý tộc giàu có trở nên có ảnh hởngmạnh, thách thức cả quyền lực của triều đình Tenno Những ngời cầm quyềnNhật Bản lúc bấy giờ hy vọng chuyển đô về Heian sẽ xây dựng đợc một thiếtchế nhà nớc ổn định theo khuôn mẫu của hệ thống chính trị Trung Hoa Hệthống quyền lực này đợc xây dựng theo hình chóp mà địa vị tối thợng thuộc
về Tenno
Và tất nhiên để phục vụ cho mục đích chính trị đó, triều đình Tenno
tr-ớc hết phải lo xây dựng đế đô cho mình Kinh đô Heian, còn gọi là Heiankyo
đợc xây dựng trên cơ sở kế thừa những nền tảng kiến trúc của Nara, với quymô lớn hơn một chút (5,5 4,5km) kinh đô cũ Heijokyo, vẫn tồn tại với tcách là một cố đô với rất nhiều đền thờ miếu mạo thờ Shito giáo và cả Phậtgiáo Kinh đô mới Heian đợc xây dựng bao gồm các đại lộ, phố xá có kết cấutheo hình chữ nhật Cung điện của Tenno nằm ở khu vực trung tâm phía Bắc,
đợc bao bọc bởi những hào, đê, và tờng tạo thành một khối phố nhỏ khép kíngồm có: nơi ở của hoàng tộc, nhà kho, kho bạc, chuồng ngựa, chòi canh, sân,vờn Toàn thành Heiankyo, đợc chia thành hai nửa Đông và Tây, ngăn cáchbởi đại lộ Suraku chạy từ Nam tới Bắc bởi những hàng cây xanh Ban đầumỗi nửa thành có một khu buôn bán và cùng chung một đền thờ duy nhất (dotriều đình muốn tránh sự hỗn loạn do các thế lực thần quyền gây nên) Đô thị
cổ Heian, có mức độ tập trung dân c khoảng 10 vạn ngời vào thế kỷ IX và trởthành trung tâm thủ đô chính trị của ngời Nhật lúc bấy giờ
Nhng khuôn mẫu hành chính của Trung Quốc tỏ ra không phù hợp vớiNhật Bản, tình trạng cát cứ vẫn tiếp diễn, do đó triều đình chỉ có thể thựchiện đợc quyền kiểm soát hành chính đối với những tỉnh lân cận và vài tỉnh
xa xôi do nhà nớc trực tiếp quản lí Ngay tại kinh đô sự cạnh tranh quyền lựcvẫn diễn ra quyết liệt Cuộc sống đô thành là cuộc sống xa hoa của triều đình
và giới quý tộc, dựa trên sự khai thác đất đai, nhân lực mà họ đợc ban cấp,kiểm soát Do đó kinh tế nông nghiệp có vai trò rất quan trọng trong đời sốngxã hội giai đoạn này Vì thế nền kinh tế - xã hội thời Heian có phát triển nh -
ng không đáng kể so với thời Nara Có chăng di sản lớn nhất thời kỳ này là
sự tự chủ về văn hoá đối với nền văn minh Trung Hoa, nó đã tạo điều kiệncho sự phát triển độc lập về văn hoá của quốc gia Nhật Bản Cũng thời kỳ này
có sự trỗi dậy của đẳng cấp võ sĩ và nền thống trị quân phiệt Sự hiện diệncủa đẳng cấp võ sĩ trên vũ đài chính trị Nhật Bản là hệ quả của một quá trình
Trang 10phát triển lâu dài trong nhiều thế kỷ Từ giữa thời kỳ Heian, do sự tranhgiành quyền lực quyết liệt giữa các trang viên và giữa các trang viên vớichính quyền địa phơng mà trên khắp lãnh thổ Nhật Bản, đặc biệt là những nơi
có mức độ tập trung ruộng đất nông nghiệp cao, luôn ẩn chứa những xung
đột về lợi ích kinh tế và kéo theo tình trạng bất ổn về an ninh cho tất cả mọi
đẳng cấp xã hội Không còn cách nào khác, các trang viên, gia tộc có thế lực
ở địa phơng phải tổ chức ra các đội vũ trang để tự vệ, bảo vệ đất đai, chốnglại nạn cớp đất Các cơ sở tôn giáo, có ruộng đất lớn cũng không thể đứng
“vô vi” ngoài cuộc Nhiều đội vũ trang đợc thành lập để bảo vệ tài sản và
cạnh tranh với các giáo phái khác Nông dân tự do chính là những nạn nhân
đầu tiên của tình trạng cớp bóc đó Họ đành nhờ đến những ngời có uy lực ởcác địa phơng che chở cho mảnh đất bé nhỏ của mình và tự nguyện trở thànhnhững chiến binh vừa sản xuất vừa sẵn sàng chiến đấu Phần lớn lực lợng này
về sau đã trở thành những Samurai chuyên nghiệp Tầng lớp này có vai trò rấtquan trọng trong những giai đoạn phát triển sau của lịch sử Nhật Bản [11,57]
Nh vậy trong thời kỳ cổ đại, một vài đô thị đầu tiên của Nhật Bản đãxuất hiện, là kết quả của quá trình thống nhất quốc gia Sự ra đời và pháttriển của nó chịu ảnh hởng mạnh mẽ của nền kiến trúc đô thị Trung Hoa,nhất là dới thời nhà Đờng Trong khi đó ở Việt Nam sự ra đời của đô thị sớm
hơn nhiều Theo sử cũ chép “đời Trang Vơng nhà Chu (696 – 682 TCN) ở 682 TCN) ở
bộ Gia Ninh có ngời lạ dùng ảo thuật áp phục đợc các bộ lạc, tự xng là Hùng Vơng, đóng đô ở Văn Lang, quốc hiệu là Văn Lang” Sách “Đại Việt sử ký toàn th” cũng chép về Hùng Vơng “Bộ gọi là Văn Lang, là đô của vua”.
Nh thế cũng từ nhu cầu hành chính, chính trị của nhà nớc Thành thị ra
đời trớc hết từ nhu cầu chính trị: cần có nơi đặt trung tâm của một vơng triều.Nhng trong quá trình phát triển, nó chịu ảnh hởng của nhiều yếu tố chính trị,kinh tế, văn hoá, xã hội khác nhau Về mặt số lợng các thành thị Nhật Bảnthời kỳ cổ đại cha có nhiều, tốc độ quy hoạch, đô thị hoá cha cao, có thànhphố cha thể coi là thành thị thực thụ Vì thế vai trò của thành thị Nhật Bảnthời kỳ này cha lớn Nhìn chung nó mới chỉ đóng vai trò tự chủ đối với vănminh Trung Hoa và xác lập đợc nền tảng quan trọng đầu tiên cho sự pháttriển của thành thị ở Nhật Bản trong các thời kỳ sau
1.1.2 Thành thị ở Nhật Bản thời kỳ trung đại.
Trang 11Thời kỳ trung đại ở Nhật Bản đợc mở đầu bằng sự xác lập của thời kỳMạc Phủ Kamakura (1185 – 682 TCN) ở 1338) kéo dài tới thế kỷ XVI trải qua các thời
kỳ Muromachi (hay Ashikga 1338 – 682 TCN) ở 1573) và Motayama (1573 – 682 TCN) ở 1600).Thời kỳ này đẳng cấp võ sĩ đã xác lập đợc sự thống trị của mình và đã liêntục giữ vai trò là lực lợng lãnh đạo ở Nhật Bản trong vòng 7 thế kỷ và trởthành đẳng cấp trung tâm của xã hội Nhiều nhà nghiên cứu đã lấy năm 1185hoặc năm 1192 (năm Minamoto Yoritomo đợc Thiên hoàng phong chức tớngquân (Shogun), làm mốc mở đầu của giai đoạn phát triển chế độ phong kiến
ở Nhật Bản Đây là giai đoạn của các cuộc nội chiến lớn và kéo dài ở NhậtBản Ngay trong điều kiện chiến tranh, hàng loạt nhân tố kinh tế - xã hội mới
đã nảy sinh, nhất là “nhân tố phong Tây” Vũ khí và chiến thuật quân sự du
nhập từ Châu Âu chẳng những đã làm thay đổi tơng quan quân sự chiến lợcgiữa các lãnh chúa ở Nhật Bản mà còn thúc đẩy quá trình triệt tiêu nhữnglãnh chúa bảo thủ, nhỏ yếu để thay vào đó là sự trỗi dậy nhanh chóng củanhững lãnh chúa giàu có, có khả năng trang bị vũ khí hiện đại và xây dựngnhững toà thành với quy mô lớn Dới tác động của điều kiện lịch sử mới đó,các thành thị đã ra đời cùng với sự tồn tại và phát triển của những thành thịthời kỳ cổ đại Đô thị tiêu biểu thời kỳ cổ đại vẫn tồn tại và phát triển vàothời kỳ này là Heian Dới ảnh hởng của những yếu tố mới vừa nêu trên, một
số công trình kiến trúc đã đợc xây dựng nh Kinkakuji (Kim các tự 1337) vàGinkakuji (Ngân các tự 1473) Với sự tập trung kinh tế cao đời sống của cdân ở đô thị cũng có nhiều thay đổi Mức sinh hoạt của thị dân và đặc biệt làtầng lớp quý tộc đã giàu có và sang trọng hơn Về mặt kiến trúc các thành thịtrung đại vẫn tiếp thu phong cách kiến trúc Trung Hoa Nhng bên cạnh đóthời kỳ này tinh thần tự chủ về văn hoá của ngời Nhật đặc biệt là tinh thầnBushido (võ sĩ đạo) và Zen (Thiền) lại có ảnh hởng nổi trội tới kiến trúcthành thị, nên cũng có những đổi khác cơ bản
Thời kỳ trung đại Nhật Bản ghi đậm dấu ấn của cuộc nội chiến phongkiến giữa hai dòng họ quý tộc Taira và Minamoto Từ năm 1180 - 1185, dòng
họ Minamoto đã đánh đuổi và tiêu diệt đợc thế lực của dòng họ Taira Năm
1192 Minamoto Yoritomo thủ lĩnh dòng họ Minamoto đợc phong chức tớngquân (Soghun), đặt căn cứ của mình tại Kamakura Từ đó Kamakura trênthực tế nắm quyền điều hành toàn bộ nớc Nhật Chính thể của dòng họMinamoto thờng đợc gọi là Kamakura Bakufu (Mạc phủ Kamakura)
Trang 12Kamakura là một thành thị cách Kyoto ngày nay khoảng 500 km Đây là mộtvùng kinh tế trù phú, dân c sống chủ yếu bằng nông nghiệp và chăn nuôingựa Từ đây, Kamakura Bakufu nắm quyền kiểm soát hành chính, chính trịtới nhiều địa phơng có quan hệ phụ thuộc.
Sự lớn mạnh của các Bakufu tỉ lệ nghịch với tình trạng suy giảm uy thếcủa Tenno ở Kyoto Quyền lực của các Samura lớn dần thâu tóm quyền lực ởcác địa phơng bắt đầu chiếm các vùng đất rộng lớn Về sau, nhiều ngời trong
số đó đã tự xng là các Daimyo (Đại danh) cai quản những vùng lãnh địariêng, tự đề ra luật pháp, các chính sách kinh tế xã hội riêng Sự xuất hiện củachế độ kinh tế lãnh địa cũng đồng thời là sự tan rã của chế độ trang viên kéodài khoảng bảy thế kỷ ở Nhật Bản Các lãnh địa phát triển trong tình trạngcạnh tranh lẫn nhau Nhiều Daimyo thấy việc thu thuế thôi cha đủ đã đứng ra
tổ chức các chợ, đẩy mạnh sản xuất hàng hoá, trao đổi, vận chuyển trong vàngoài lãnh địa Trong khuôn khổ các lãnh địa, nhiều thành thị địa phơngcũng đã đợc xây dựng, một số thành thị đã có sự phát triển vợt trội về kinh tế
Vào đầu thời kỳ trung đại ngành kinh tế công - thơng có bớc phát triểnmạnh mẽ trong các thành thị Giới công - thơng, tuy chỉ là những ngời sảnxuất, kinh doanh nhỏ, nhng họ đã họp thành các phờng hội sản xuất, buônbán (Za) Sự xuất hiện của các tổ chức Za là một bớc phát triển lớn trong cáchoạt động của đời sống kinh tế Nhật Bản Sự phát triển của thành thị NhậtBản còn đợc thúc đẩy bởi hệ thống quản lý tơng đối chặt chẽ với hai cấpchính quyền là Mạc Phủ và các Daimyo Điều đó cho thấy là sự tiến bộ vợtbậc về tổ chức và sự liên kết kinh tế giữa những ngời sản xuất, buôn bán ởNhật Bản thời kỳ này
Giai đoạn tiếp theo của thời kỳ trung đại là giai đoạn nắm quyền củadòng họ Shogun Ashikaga, còn đợc gọi là Muromachi Bakufu Mặc dù dòng
họ Ashikaga nắm quyền điều hành đất nớc nhng tình trạng cát cứ, khôngthống nhất vẫn tồn tại Các cuộc chiến tranh cớp đất đai giữa các Daimyo vẫnliên tiếp xảy ra Thời kỳ này vì thế còn đợc gọi là thời đại Chiến Quốc(Shengoku Jidai 1490 - 1660)
Mặc dù thời kỳ này chiến tranh thờng xuyên xảy ra, nhng nền kinh tế,văn hoá vẫn có bớc phát triển Để đáp ứng nhu cầu chiến tranh các Daimyo
đã phải dốc sức sản xuất, khuyến khích phát triển thơng mại cũng nh khaithác triệt để tiềm năng kinh tế vốn có ở các địa phơng Trong các lãnh địa,
Trang 13kinh tế nông nghiệp cũng có bớc tiến quan trọng, diện tích đất canh tác tăngnhanh do chính sách khuyến khích khai hoang mà các Daimyo ban hành Cơcấu giống cây trồng cũng đợc mở rộng với hàng trăm giống lúa và hoa màu,sản lợng lơng thực vì vậy cũng tăng đáng kể Kinh tế nông nghiệp phát triểncũng đã thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế khác Thủ công nghiệp
đã có sự đa dạng hoá về sản phẩm (gốm, vật liệu xây dựng, kim khí, vũ khí,dệt ) các xởng thủ công đã ra đời tập trung đợc đội ngũ thợ lành nghề.Nông nghiệp và thủ công nghiệp phát triển, đã thúc đẩy thơng nghiệp pháttriển Các hoạt động kinh doanh đợc duy trì liên tục hơn, một đội ngũ thơngnhân lớn, chuyên nghiệp cũng đã xuất hiện vào thời gian này ở nhiều lãnh
địa, trên cơ sở quan hệ gắn bó giữa hai ngành kinh tế công - thơng mà cácphờng hội công - thơng đã ra đời và hoạt động rất có hiệu quả đem lại nhiềunguồn lợi kinh tế Nhờ sự phát triển của nền kinh tế công - thơng, các thànhthị mọc lên khắp nơi trong cả nớc; bên cạnh đó các thành thị cũ đợc mởmang hơn trớc Sự lớn mạnh của tầng lớp công - thơng đã đem lại sự tăng tr-ởng nhanh chóng về số lợng thị dân trong các thành thị Một số thành phốbuôn bán nổi tiếng, nhờ vào sự phát triển của nền kinh tế công - thơng nhSakai (gần Osaka) đã ra đời ở Nhật Bản
Vào cuối thế kỷ XVI thành thị Nhật Bản có sự thay đổi đó là sự ra đờihàng loạt các Jokamachi (thành thị pháo đài) thay thế cho những thành luỹbằng đất, gỗ, tre trớc đây Đây là một đặc điểm phát triển nổi trội trong cácthành thị Nhật Bản ở giai đoạn này Các thành thị đó đợc các Daimyo xâydựng ở những vị trí thuận lợi cho việc phòng thủ quân sự Nguyên nhân cănbản dẫn đến sự thay đổi này là do kỹ thuật quân sự phơng Tây đã đợc dunhập vào Nhật Bản Những vũ khí hiện đại của Châu Âu nh súng trờng, đạibác và các kỹ thuật chiến tranh khác đã đợc sử dụng trên chiến trờng Trớccác loại vũ khí và phơng tiện chiến tranh có sức công phá mạnh mẽ đó, thànhluỹ đợc xây dựng ngày càng kiên cố và trở thành các pháo đài phòng ngựvững chắc, đẳng cấp Samurai đã rời bỏ các Mura (làng) của mình tới sống tậptrung trong các Jokomachi vừa đợc xây dựng Số thị dân trong các Jokomachităng nhanh, các hoạt động kinh tế trong thành thị cũng phát triển, phục vụcho nhu cầu tiêu dùng của các lãnh chúa Samurai và các tầng lớp thị dân Vềsau này trở thành các thị dân chủ yếu trong các thành thị Nhật Bản Ngoài ra,
Trang 14hiện tợng nông dân từ bỏ quê hơng tới thành thị tìm cuộc sống mới cũng làmtăng số lợng thị dân.
Tóm lại, thời Muromachi đặc biệt là giai đoạn Sengoku, đã tạo đợcmột bớc ngoặt trong sự phát triển của thành thị ở Nhật Bản Đó là sự ra đờicủa hàng loạt các thành thị địa phơng, với số lợng thị dân ngày càng đông
đảo, sống định c tập trung trong các thành thị Quy hoạnh kiến trúc thành thịcũng khác hơn trớc Trong thành thị nền kinh tế công - thơng đã có những b-
ớc tiến quan trọng Thời kỳ này các thành thị chủ yếu giữ chức năng quản líhành chính, chính trị của một lãnh địa hoặc một số lãnh địa
Nếu nh thời kỳ trung đại, đô thị Nhật Bản đã có sự phát triển củangành kinh tế công - thơng nghiệp, thì ở Việt Nam ngành kinh tế công – 682 TCN) ở th-
ơng nghiệp ở các thành thị mới chỉ lẻ tẻ, yếu ớt Ngời ta thấy vài kẻ quý tộc,quan liêu tự làm kinh tế đô thị đứng ra kinh doanh nh trờng hợp của TrầnKhánh D hồi thế kỷ XIII ở Vân Đồn Nhng những thủ đoạn kinh doanh của
Trần Khánh D đã khiến cho “Vân Đồn kê khuyển diệc giai kinh” (Chó gà ở
Vân Đồn đều khiếp vía) Sở dĩ có hiện tợng đó là do ngay từ khi ra đời phần
“đô” đã nắm trọn quyền kiểm soát phần “thị” của đô thị Về mặt quản lý đô thị, phần “thị” và thị dân không bao giờ có quyền tự quản và cha bao giờ biết
đến chuyện này (trong khi chẳng hạn ở Châu Âu ngay trong thời trung cổ, ở
nhiều nớc, đô thị và thị dân đã có các “hội đồng thành phố”, “hội đồng quản
hạt” của mình) ở các đô thị cổ Việt nam, dù tồn tại 100 năm, 500 năm,
thậm chí 1000 năm, thì trong thành phần c dân, tầng lớp có địa vị cao nhấtvẫn luôn là quý tộc, quan lại - đại diện cho nhà nớc quân chủ, không phải chỉ
ở kinh đô mới là nh thế, mà kể cả ở các đô thị nhỏ, các đô thị ở địa phơng,thậm chí rất xa xôi cũng nh thế Với vị thế ung dung tự tại này, từ cái
“thành”, “dinh”, “trấn” của mình, với một tầng lớp quý tộc quan lại của
mình, và với thiết chế hành chính cũng nh t tởng (chuyên chế, trọng nông ức
thơng ) của mình, phần “đô” điều hành sự phát triển của đô thị Văn hoá đô
thị cũng chiụ một sự khống chế nghiệt ngã nh thế từ phía bộ máy quý tộc,quan liêu đợc thể hiện trong câu ca dao sau:
“Dân phờng nhà giáp đờng quan
Không đợc làm gác trông ngang ra đờng
Có cần làm chổ chứa hàng Chiều cao không đợc cao bằng kiệu quan”.
Trang 15Mặc dù chịu sự chèn ép, đè nén của nhà nớc quân chủ, chịu sự khống
chế của phần “đô” đối với phần “thị” các đô thị cổ Việt Nam vẫn phải lấy sự
phục dịch lợi ích - thờng là không có lợi gì nhiều cho bản thân sự phát triển
của các đô thị - của nhà nớc quân chủ, lấy sự gắn bó lệ thuộc của phần “thị”
đối với phần “đô” để tranh thủ một lí do tồn tại Nh vậy đô thị cổ Việt Nam
luôn nắm đợc quyền kiểm soát tới các vùng khác Trong khi đó ở Nhật Bản
đô thị cổ Kyoto, nơi đóng đô của Shogun Ashikaga, dần dần mất đi vai tròkiểm soát của một thành thị trung tâm Các thành thị Nhật Bản thời kỳ này do
đó phát triển một cách tơng đối độc lập Những thành thị này là nền tảng cơbản cho sự kế thừa và phát triển của thành thị thời Tokugawa
Tóm lại thành thị trung đại Nhật Bản đã có những bớc phát triển rõ rệt
so với thành thị cổ đại, đồng thời đặt cơ sở lâu dài cho sự phát triển của thànhthị Nhật Bản thời cận thế
Nhìn lại sự phát triển của thành thị Việt Nam, tuy ra đời sớm từ thời kỳ
cổ đại, nhng đến thời trung đại lại không phát triển nh ở Nhật Bản bởi lí do
nh đã trình bày ở trên ở Nhật Bản về mặt văn minh đô thị, thiết chế quản lí
và văn hoá đô thị tuy đã xuất hiện, nhng vẫn còn hạn hẹp trong phạm vi củamột số thành thị nhất định Sau thời kỳ Motoyama, dới thời kỳ Tokugawathành thị Nhật Bản bớc vào giai đoạn phát triển mới
1.2 Sự phát triển của thành thị ở Nhật Bản thời kỳ Tokugawa.
Năm 1600, Tokugawa Ieyasu (1542 – 682 TCN) ở 1616) một Daimyo có thế lực
đã giành thắng lợi quyết định trong trận Shekigahara, đánh bại liên minh 40Daimyo miền Tây chống đối Thắng lợi của họ Tokugawa trong trậnShekigahara đã chấm dứt cục diện nội chiến ở Nhật Bản kéo dài hơn một thế
kỷ Năm 1603, Tokugawa Ieyasu đợc Tenno phong chức Shogun, đặt thủ phủchính quyền mới ở Edo và thành phố này là thủ phủ của Tokugawa Bakufukéo dài liên tục hơn 267 năm
Từ Edo, dòng họ Tokugawa nắm quyền kiểm soát cả nớc Từ đâyTokugawa đã cho xây dựng, tái thiết đất nớc về mọi mặt Chính những nỗ lựccủa Tokugawa đã làm cho đất nớc Nhật Bản phát triển về mọi mặt kinh tế -chính trị - xã hội - văn hoá - giáo dục Riêng về kinh tế có một sự phát triểnmạnh mẽ, đặc biệt là ngành kinh tế công - thơng nghiệp trong các thành thị
Trang 16Dới thời Tokugawa thành thị ở Nhật Bản phát triển nhanh về quy mô xâydựng và tốc độ đô thị hoá hơn bất cứ giai đoạn lịch sử nào trớc đó.
Các thành thị của Nhật Bản ra đời trong giai đoạn này trên cơ sở kếthừa các loại hình thành thị của những thời kỳ trớc đó, đồng thời nó cũng thểhiện những bớc phát triển mới về các mặt kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá,giáo dục
1.2.1 Các loại hình thành thị thời kỳ Tokugawa.
Về cơ bản, thành thị Tokugawa vẫn mang kiểu dáng của những thành
thị đợc xác lập từ thời Sengoku Dựa trên đặc tính phát triển của thành thị ởNhật Bản thế kỷ XV - XVI, một số nhà nghiên cứu nh Wakita Haruco vàSusan B.Hanley đã chia thành thị Nhật Bản ra làm 4 kiểu loại nh sau:
* Các đô thành: là những thành thị xuất hiện nh những thành phố cóquá trình định c sớm, hình thành khoảng thế kỷ IX nh Kyoto, Nara
* Cảng thị: là những thành phố phát triển trong suốt hai thế kỷ XIII,XIV trên cơ sở sự phát triển lâu dài của kinh tế thơng mại Đó là các hảicảng, thành phố nằm trên các trục giao thông của các thành phố nh: Sakai,Hakata, Kuwana Bên cạnh đó là những Mozenmachi (Môn tiền đinh) tức lànhững thành phố phát triển từ các cộng đồng tụ c và các thị tứ đặt dới sựkiểm soát của những thế lực tôn giáo (chùa, đền) ví dụ nh Kawata
* Các thành thị pháo đài (Joko machi hay thành hạ đinh), chủ yếu đợcxây dựng dới thời Chiến Quốc Đây là những thị trấn đợc xây dựng trong cáclãnh địa của nhiều lãnh chúa (Daimyo), là những thành thị pháo đài sớmnhất trong hệ thống các thành phố pháo đài thời Tokugawa
* Thành thị của các tỉnh (Zaimachi): là những thành thị phát triển từthị tứ, thị trấn ở các vùng nông thôn do tác động của quá trình tăng trởngtrong kinh tế nông nghiệp nh ở các vùng Hisanogo và Izumisano và những thịtrấn nằm trong phạm vi đất đai của những đền chùa lớn, các Jinaimachi (Tựnội dinh) nh Tondabayashi và Amagasaki khu vực Kinai
Đến thời Tokugawa, cả 4 loại hình thành thị đó đều diễn ra những biếnchuyển lớn Ngoài những thành thị còn chịu sức ép nặng nề của xã hội phongkiến thì không ít thành thị, nhất là các thành thị nằm lọt giữa những vùngkinh tế phát triển có xu hớng thoát ly ra khỏi cộng đồng nông nghiệp để trởthành những thực thể độc lập, trong các thành thị đó, bộ máy quản lý theo
Trang 17kiểu phong kiến quan liêu ngày càng bất lực trớc sự vận động đa dạng củanhân tố xã hội mới với dân số đông và hàng loạt vấn đề nh quản lý hànhchính, duy trì an ninh, phòng cháy, cấp thoát nớc, đặc biệt quan trọng là quản
lý thị trờng của ngành kinh tế công - thơng nghiệp Trên thực tế vai trò điềuhành ở nhiều nơi đã rơi vào tay tầng lớp thị dân với cơ chế tự quản Thôngqua tổ chức phờng hội sản xuất, buôn bán, họ đảm đơng luôn chức năng quản
lý các hoạt động của đời sống đô thị
Về quy hoạch kiến trúc, nhìn chung thành thị thời Tokugawa đa số
đ-ợc xây dựng theo mô hình vành đai, ở trung tâm là lâu đài của các Daimyo(Nếu là các thành thị độc lập thì đây là nơi đặt trụ sở chính của toàn thành)với mục đích phòng ngự, có tờng thành bằng đá và hào luỹ xung quanh.Ngoài cấm thành là đờng giao thông và nhà cửa, xởng sản xuất và hiệu buôn
của thị dân, với mô hình đó đã thể hiện rất rõ nét hai yếu tố “thành” và “thị”
của thành thị Nhật Bản thời kỳ này Về quy hoạch kiến trúc nhìn chung giốngthành thị ở Việt Nam Phần lớn các thành thị ở Việt Nam là do nhà nớc quân
chủ lập ra, trong đó phần “đô” luôn đợc chú trọng hơn phần “thị” và là yếu
tố đi đầu khi kiến lập một thành thị, cho nên quy hoạch kiến trúc trớc hếtnhằm mục đích phòng ngự khép kín Ta có thể điểm tên một số thành thị nh
Nam Định có tiền thân là “kinh thành vệ tinh” Thiên Trờng (Tức Mặc); Hải
Phòng vốn là nơi triều đình đặt đồn phòng vệ bờ biển Chính do đặc điểmnày mà nền kinh tế trong các thành thị bị kìm hãm không phát triển đợc.Trong khi đó ở Nhật Bản đến lúc này thành thị đã phát triển nhờ có nền kinh
tế công - thơng phát triển
1.2.2 Thành thị và vấn đề đô thị hoá
Dòng họ Tokugawa lên nắm quyền khi các thế lực đối lập đã bị đánhbại, quyền lực đợc củng cố về tay mình, Tokugawa lo phát triển kinh tế nhằmtăng cờng tiềm lực đất nớc Trong các chính sách về kinh tế mà Tokugawa
đề ra đặc biệt chú trọng đến việc khuyến khích phát triển ngành kinh tế công
- thơng Chính điều đó đã dẫn đến một hiện tợng mới dới thời Tokugawa là
sự phát triển nhanh chóng của các thành phố và ngành kinh tế thơng nghiệp.Vào thời Tokugawa có trên 200 thành phố, thị trấn mật độ dân c tập trungtrong các thành thị rất cao, có những thành phố dân số lên đến 1.000.000 ng-
ời [5,102-103] Trong đội ngũ thị dân đông đảo đó, thành thị trở thành nơitập trung rất đông tầng lớp thợ thủ công và thơng nhân Thành thị cũng đồng
Trang 18thời là trung tâm sản xuất thủ công và lu thông hàng hoá, cung cấp sản phẩmcho thị trờng.
Quá trình đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ đã biến các thành thị thành cáctrung tâm sản xuất, thơng mại và tiêu thụ lớn trên cả nớc Thành thị đã trởthành nhân tố quan trọng trong đời sống Nhật Bản, trên nhiều phơng diệnchính trị kinh tế, văn hoá, giáo dục
Về tốc độ đô thị hoá ở Nhật Bản thời kỳ Tokugawa thì Edo là một ví
dụ điển hình Cho đến thế kỷ XV, thành phố này mới chỉ là một làng đánh cánhỏ ở ven biển Năm 1457, một lãnh chúa có tên là Ota Dokan đã cho xâydựng ở đây một khu thành, tiếp sau đó một số khu phố đợc tạo lập xungquanh (Shitamachi, Hạ phố) Vào năm 1590, với t cách là một lãnh chúamạnh nhất ở miền Đông Nhật Bản, thế lực của Tokugawa Ieyasu đã bao trùmtoàn bộ vùng đồng bằng Kanto gồm cả khu thành này Trớc thời Tokugawa,Edo cha có những phát triển mạnh mẽ Năm 1603, thành phố này mới trởthành thủ phủ thực tế của Nhật Bản ghi dấu một thời kỳ phát triển rực rỡ của
đô thị này Là nơi đặt thủ phủ của chính quyền Tokugawa và là trung tâm
điều hành chủ yếu các hoạt động hành chính, chính trị, kinh tế trong cả nớc.Edo đợc xây dựng rất kiên cố, xung quanh là hào lũy và tờng thành có tâm đ-ờng kính lên tới 3km xung quanh khu vực hành chính và “tử cấm thành” làcác khu dân c, sản xuất, buôn bán đông đúc Dân số Edo đông nhất ở NhậtBản và liên tục tăng lên trong suốt thời kỳ Tokugawa: năm 1624 có khoảng150.000 dân, năm 1693 đã lên tới 350.000 dân và vào thế kỷ XVIII đã đạtcon số kỷ lục 1.000.000 dân Theo những số liệu thống kê còn lu giữ đợc, vàothời Temmyo (1781-1790) Edo có khoảng 1650 phố phờng, 721 dinh thự củacác Daimyo và 1200 đền miếu Với mật độ dân c đông đúc nh vậy Edokhông những là trung tâm hành chính, chính trị, văn hoá của cả nớc mà còn
là trung tâm sản xuất tiêu thụ lớn nhất Nhật Bản trong suốt hơn hai thế kỷ
Sau Edo là hàng loạt các thành thị khác cũng song song tồn tại và pháttriển Cố đô Nara trở thành trung tâm văn hoá - tôn giáo của Nhật Bản Kyotonơi trú ngự của Thiên hoàng, cũng trở thành nơi sản xuất hàng thủ côngnghiệp chất lợng cao Năm 1179, c dân ở Kyoto lên tới 500.000 ngời Ngoài
3 thành thị nói trên, cảng Osaka đợc Hydeyoshi xây dựng từ năm 1580 cũngnắm giữ vị trí chiến lợc thiết yếu ở miền Tây Nhật Bản Nhiều lãnh chúa đãlập cơ sở buôn bán ở đây để tiêu thụ các sản phẩm từ lãnh địa của mình và
Trang 19tiến hành nhiều hoạt động kinh tế khác Osaka năm 1689 đã có 620 phố
ph-ờng và 404.700 thị dân Osaka đợc coi là “nhà bếp của đất nớc” và đồng thời
là “thủ đô thơng mại” của Nhật Bản Vì ở Osaka, ngời ta có thể mua bất kỳ
loại hàng hoá nào đợc sản xuất từ các địa phơng trong nớc, thậm chí cả một
số mặt hàng ngoại nhập Sản phẩm hàng hoá quan trọng nhất là lúa gạo,ngoài ra còn có nhiều sản vật địa phơng từ khắp nơi trên cả nớc đem tới đểtrao đổi buôn bán Liền cạnh các khu phố chợ là những khu buôn bán, các x-ởng thủ công sản xuất tại chỗ những mặt hàng tiêu thụ cao Vào thế kỷ XVIII
ở Osaka có tới 40.000 thợ thủ công, chiếm 10% dân số Các thành phố kháccũng là những nơi tập trung dân c đông đúc và nắm giữ những vị trí kinh tếquan trọng nh : Nagoya, Kanazawa, Sendai, Nagasaki
Qua một số thành thị điển hình về sự phát triển mạnh mẽ trên đây, tathấy tốc độ đô thị hoá ở Nhật Bản thời Tokugawa diễn ra nhanh chóng, đặcbiệt là giai đoạn cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII Theo các chuyên gianghiên cứu về lịch sử thành thị đã nhận định, quá trình đô thị hoá đã đa thànhthị Nhật Bản lên vị trí nổi bật trong sự phát triển chung của các thành thị trênthế giới đơng đại Nếu so sánh chúng ta có thể thấy cho đến đầu thế kỷ XIX,thành phố đông nhất Châu Âu là Luânđôn mới có 864.000 dân, rồi đến Pari
là 547.000 dân, Viên và Matxcơva là 250.000 dân, Béclin là 170.000 Còn
nh ở Việt Nam nếu đem so sánh với Nhật Bản thì thành thị Việt Nam có quymô phát triển khiêm tốn hơn nhiều Thành thị đợc xem là đông dân c, buônbán tấp nập nhất Việt Nam thời kỳ này là Thăng Long vào đầu thế kỷ XIXtheo ớc đoán cũng mới chỉ có 100.000 dân với vài chục phố phờng bao quanhkhu hành chính Đến giai đoạn này, thành thị Nhật Bản đơc xây dựng có quymô, bề thế, hệ thống trục lộ giao thông rộng rãi Trong khi đó ở Việt Namquy mô thì nhỏ hẹp, đờng sá thì chật chội, lầy lội không đợc sửa chữa Nhiềuthị trấn thị tứ mới chỉ là những dãy phố nhà gạch lợp ngói với những dãyquán làm bằng tre, nứa mà thôi Do đó từ những nền tảng kinh tế, xã hộikhông hoàn toàn tơng tự nh nhau, những phát triển ở thành thị hai nớc trongthế kỷ XVII, XVIII đã quy định nên những đặc tính phát triển riêng biệt chocác thành thị Nhật Bản và Việt Nam thời hiện đại Cũng từ đặc tính phát triểnriêng đó đã quy định vai trò của thành thị trong nền kinh tế - chính trị - xãhội - văn hoá - giáo dục của Nhật Bản không chỉ trong thời cận thế mà cả vào
Trang 20những thời kỳ sau là rất lớn, còn ở Việt Nam, vai trò của thành thị không thật
sự nổi trội nh ở Nhật Bản
Chơng 2
Vai trò của thành thị ở Nhật Bản dới thời kỳ tokuGaWA (1600-1868)
2.1 Vai trò của thành thị đối với sự phát triển kinh tế.
Sau khi lệnh toả quốc đợc thực hiện, Nhật Bản đã tập trung phát triểnkinh tế trong nớc Để bù đắp những khoản thiếu hụt do nguồn cung cấp bênngoài bị hạn chế, chính quyền Edo đã có nhiều cố gắng nhằm khuyến khíchnăng lực sản xuất trong nớc, tạo ra một môi trờng giao lu hàng hoá thờngxuyên giữa các vùng kinh tế, đồng thời tăng cờng nhu cầu tiêu dùng của thịtrờng nội địa Chính sự phát triển của các thành thị, với t cách là các trungtâm sản xuất, tiêu thụ, thơng mại, tài chính là nhân tố quan trọng tạo nên môitrờng cho nền kinh tế Nhật Bản tăng trởng Thời Edo, Nhật Bản có tới 200thành thị, hàng trăm cảng thị Con số đó vừa cho thấy tốc độ đô thị hoá vừathể hiện những biến chuyển căn bản trong đời sống kinh tế xã hội dới tác
động của sự phát triển thành thị
Từ cuối thế kỷ XVII, ở Nhật Bản bên cạnh cơ cấu kinh tế nông nghiệptruyền thống đã hình thành một cơ cấu kinh tế công - thơng nghiệp mà thànhthị là trung tâm với vai trò hết sức quan trọng Trong các thành thị, đẳng cấpthơng nhân ngày càng có vai trò quan trọng, nắm giữ nhiều mạch máu kinh tếcủa đất nớc Qua quá trình buôn bán, không ít thơng gia đã tích luỹ đợcnguồn của cải lớn và trở thành một lực lợng xã hội có thế lực Vị thế kinh tếcủa họ thậm chí còn tác động đến cả việc hoạch định chính sách của chínhquyền trung ơng và nhiều lãnh chúa địa phơng
Sau một thời kỳ tạo dựng, thích ứng với điều kiện lịch sử mới, từ nửasau thế kỷ XVII, nhiều thành thị đã đi vào thế phát triển ổn định và trở thành
Trang 21những trung tâm sản xuất, buôn bán của cả một khu vực rộng lớn, nh vùngKinai có phạm vi bao gồm 3 thành phố Osaka, Nara, Kyoto và lãnh thổ của
các han: Izumi, Kawachi, Seltsu,Yamashiro,Yamato, Kinai Những thành phố và han trên đã trở thành một trong những khu vực phát triển kinh tế năng
động nhất với mức độ đô thị hoá thơng mại cao Đây cũng là nơi tập trungnhững thơng nhân giàu có, những ngời lao động có kỹ thuật, có khả năng sảnxuất ra những sản phẩm tơ lụa, thủ công mỹ nghệ đạt chất lợng xuất khẩu.Chỉ riêng ở thành phố đã sản xuất tới 40% số lợng hàng hoá thiết yếu TạiOsaka cũng nh một số thành phố lớn, ngời ta có thể mua bất kỳ loại hànghoá nào mà mình cần Ngoài lúa gạo là sản phẩm trao đổi quan trọng nhất thìnhiều sản vật nổi tiếng sản xuất ở các địa phơng nh : đờng đợc đem ởSatsuma; giấy ở Tosa, Nagano, thuốc chữa bệnh ở Tozama ; rợu sake hảohạng ở Itomi; vải lụa ở Kyoto; gốm sứ Hizen cũng đợc chuyển về bán ở
Osaka và các thành phố, trong đó Osaka đợc coi là “thủ đô thơng mại ” của
Nhật Bản và là “nhà bếp của đất nớc” Đội ngũ thơng nhân ở đây không
những là những nhà buôn giàu có mà còn là những chủ nợ, những nhà đầu t
và là ngời kinh doanh tiền tệ có thế lực lớn Họ chính là những ngời định đoạt
ra giá cả và cân đối giá cả giữa các vùng Có thể nói tầng lớp thơng nhân ởOsaka và các thành thị trong khu vực đã đóng vai trò tích cực nhất địnhtrong việc chống tệ nạn đầu cơ tích trữ, sự phá giá và sự khác biệt về giá cả
giữa các han Sự đóng góp của tầng lớp thơng nhân đã đem lại sự phát triển
cân đối về hàng hoá và đồng nhất về mặt giá cả giữa các vùng khác nhau trêncả nớc
Osaka có rất nhiều loại thơng nhân, nhiều ngời trong số đó vốn lànhững nhà sản xuất kinh doanh cha truyền con nối do đó họ rất am hiểu vềmặt hàng buôn bán của mình Osaka là nơi tập trung của những nhà buônlớn Nếu nh năm 1679, thành phố này mới có 58 loại thơng nhân lớn(Tonya) liên kết trong 382 hội buôn (Nakama) khác nhau, thì chỉ khoảng 30năm sau (1711-1745) đã có 5538 hội buôn nh vậy Nhũng ngời buôn cùngmột chủng loại thờng sống tập trung trong một khu vực nhất định Các khu
định c đó đã từng bớc trở thành những khu chợ chuyên biệt Liền cạnh vớicác chợ thờng là nơi sản xuất hàng thủ công nh: chạm khắc, sơn mài, dệt lụa,làm gạch ngói, dệt chiếu, xẻ đá, rèn, đúc đồng v v Vào đầu thế kỷ XVIIIchỉ riêng Osaka đã có tới 4000 thợ thủ công sinh sống Nếu kể cả gia đình
Trang 22của họ thì tỉ lệ những ngời làm nghề thủ công chiếm tới 40% dân số thànhphố, trong khoảng thời gian nói trên Osaka ngoài vai trò là một trung tâm th-
ơng mại quan trọng nhất Nhật Bản thì còn đóng vai trò là một công xởng lớn.Theo tính toán khoảng 60% hàng hoá đa vào Osaka là nguyên liệu thô hayhàng hoá bán thành phẩm, trong khi đó thành phố này đã sản xuất ra đợc12% chủng loại hàng hoá nói trên, 88% còn lại là thành phẩm Osaka đã trởthành thành phố cung cấp nhiều sản phẩm nhất cả nớc Từ đây lơng thực, sợibông, quần áo, than, củi, đậu, dừa, cá, muối, tơng, mắm, rợu sake đã đợc đa
về Edo và nhiều vùng xa xôi khác Osaka còn là thị trờng lúa gạo lớn nhấtNhật Bản Hầu hết các lãnh chúa miền Tây Nhật Bản đều có cơ sở buôn bántại trung tâm tiêu thụ quan trọng bậc nhất này Từ năm 1626 có tới 111 lãnhchúa đã cho xây dựng kho chứa thóc và các sản vật địa phơng ở đây để vừa
đáp ứng mục tiêu trao đổi, vừa có thể làm nguồn đảm bảo với các thơngnhân [11,181-182]
Việc tập trung một khối lợng lớn hàng hoá vào các đô thị và nhịp độtăng trỏng trong lu thông trao đổi, thực sự là môi trờng thuận lợi cho thị trờngtiền tệ ra đời Từ những cơ sở ngoại hối nhỏ, các ngân hàng đã lần lợt đi vàohoạt động và năm 1670 hệ thống ngân hàng Osaka đợc thành lập với ban
điều hầnh gồm 10 ngời (Junin ryogae) do một quan chức của Mạc phủ(Bugyo) tham gia điều phối Hệ thống này đã thâu tóm toàn bộ hoạt độngtiền tệ ở Osaka, Edo và hầu khấp các lãnh địa, thành phố khác.Thanh toántiền tệ giữa Osaka, Edo điều đợc thông qua ban điêù hành này Sự tham giacủa các chủ ngân hàng, thơng nhân lớn vào ban điều hành với sự phối hợpquản lý của chính quyền trung ơng trong hệ thống ngân hàng đầu tiên quantrọng này đã góp phần giữ cân bằng thị trờng tiền tệ, ổn định sản xuất tạo ramạch máu lu thông kinh tế trên toàn quốc Trên cơ sở đó các chủ ngân hàng
đã sáng tạo ra nhiều hình thức thanh toán tiện lợi nh: chứng từ thanh toán,hoá đơn trao đổi, séc, v.v Đối với các khu vực kinh tế xa trung tâm, việc chitrả đựoc thực hiện bằng hối phiếu thông qua những ngời môi giới tiền tệ.Cóthể nói các hình thức hoạt động của hệ thống ngân hàng Nhật Bản thời Edo
đã đạt trình độ phát triển cao và thực sự đóng vai trò thúc đẩy nền kinh tếphát triển
Cùng với quá trình phát triển của sản xuất thơng mại việc tập trungmột tỉ lệ lớn tầng lớp thống trị quan liêu và gia nhân của họ vào các thành thị
Trang 23đã cuốn hút nhiều thơng nhân, thợ thủ công và lao động d thừa trong nôngthôn tìm đến những nơi tập trung dân c để kiếm sống Thành thị trở thànhmảnh đất để đáp ứng nhu cầu kiếm sống của các tầng lớp đó ở thành thị có
đủ mọi nghề cho các tầng lớp đó kiếm sống nh lập các cơ sở kinh doanh, ởng thủ công, nhà trọ, quán ăn, tạp hoá hay đơn giản nhất là phục vụ trongcác gia đình Samurai, thơng nhân, chủ xởng giàu có Hàng năm vào nhữngngày đông tháng giá hay những lúc nông dân nhàn rỗi họ kéo nhau về thànhthị và hàng năm thành thị còn phải đón nhận một lợng ngời lớn di c theomùa ở thành thị, nguồn thu nhập từ các họạt động phi nông nghiệp thờngcao hơn sản xuất nông nghiệp đã góp phần làm thay đổi cuộc sống của ngờinông dân, cho nên nhiều ngời nông dân đã không còn tha thiết với nghề nông
x-và cuộc sống thôn quê nữa Đây cũng là một trong những nguyên nhân đẩynhanh tốc độ đô thị hoá ở Nhật Bản Nh vậy ở đây hai yếu tố: vai trò củathành thị và tốc độ đô thị hoá có sự tác động tơng hỗ cho nhau Vai trò củathành thị làm tăng nhanh quá trình đô thị hoá, ngựơc lại quá trình đô thị hoácàng làm tăng vai trò của thành thị Theo kết quả nghiên cứu của một số nhàxã hội học phần lớn nông dân di c vào các thành thị thời gian cuối thế kỷXVII, đầu thế kỷ XVIII là thanh niên dới 17 tuổi Đây là lực lợng lao độngquan trọng cho sự phát triển của thành thị Có thể nói từ cuối thế kỷ XVII,
đầu thế kỷ XVIII, Nhật Bản thực sự có chuyển biến lớn trong cơ cấu dân sốtheo hớng đô thị hoá Mặc dù quá trình biến chuyển này có sự gián đoạntrong một số thời điểm lịch sử nhất định, nhng nhìn chung mức độ đô thị hoángày càng cao cho tới trớc cải cách Minh Trị Đầu thế kỷ XIX, dân số ở mộtvài thành thị lớn tuy có giảm nhng tại các khu vực phụ cận, thị trấn, vùng sảnxuất thủ công nghiệp, mật độ dân số lại có xu hớng tăng lên Vào cuối thờiTokugawa có tới 16 - 17 dân c sống ở các thành thị Các thành thị phần lớn
có số dân trên dới 3.000 ngời Trong đó thành thị lớn nhất có số dân lên tới1.000.000 ngời, tức là chiếm tới 12 - 13 dân số toàn quốc Điển hình nhất
là Edo, trung tâm chính trị của Nhật Bản lúc đó, có mức độ tăng tr ởng và tậptrung dân số cao nhất Năm 1624 thành phố này mới có 150.000 dân thì năm
1693 đã có 350.000 dân và vào năm 1720 dân số Edo đã lên tới hơn một triệutrở thành thành phố đông dân nhất thế giới thời cận thế Dựa vào nền tảngcủa nền kinh tế công - thơng, một số thành thị Nhật Bản thời Edo đã đạt mứcphát triển cao hơn so với nhiều thành thị lớn trên thế giới cùng thời ở cả hai
Trang 24phơng diện vị thế kinh tế và mức độ tập trung dân c (nh đã so sánh ở chơngI).
Việc tập trung một tỉ lệ lớn dân c vào sống trong các thành thị đã kíchthích thúc đẩy nhanh chế độ cung cầu ở Nhật Bản Với dân số đông, Edo mặcnhiên trở thành trung tâm tiêu thụ lớn nhất Nhật Bản Hàng năm chỉ riêng lúagạo, ngời ta phải chở vào thành phố 1,4 triệu koku và Edo còn đồng thời làtrung tâm kinh tế của các lãnh chúa miền Đông Nhật Bản, là điểm xuất phátcủa những đầu mối giao thông quan trọng Thời Edo, các đờng giao thôngchính đều đặt dới sự kiểm soát của Dochubuygo Trong thời gian này, NhậtBản có 5 hệ thống cơ bản : Tokaido, Nakasendo, Oshu - dochu, Koshu -dochu (hay Kaido ) và Nikko – 682 TCN) ở dochu, tất cả các con đờng này đều khởinguồn từ Nihonbashi (cầu Nhật Bản ở Edo rồi dẫn đến các vùng khác nhau
Nh vậy phát triển của thành thị Nhật Bản đã làm phát triển ngành kinh tếcông - thơng và giao thông vận tải
ở Nhật Bản dới thời Tokugawa, ngoài các thành phố lớn nh Osaka,Kyoto, Edo thì các thành phố khác nh Nagoya, Kanazawa, Sendai,Nagadaki cũng là những nơi tập trung dân c đông đúc
Sự phát triển của thành thị mà gắn liền với nó là quá trình đô thị hoá đãtạo ra môi trờng thuận lợi nhiều ngành kinh tế phát triển và đạt mức tăng tr-ởng vợt bậc Với vị trí là những trung tâm kinh tế, chính trị và văn hoá, thànhthị đã góp phần trọng yếu trong việc tạo ra một diện mạo mới trong đời sốngxã hội Nhật Bản Mặc dù cha có đủ những điều kiện để có thể trở thànhnhững thực thể phát triển độc lập nh các thành thị Tây Âu trung đại nhngnhiều thành thị Nhật Bản, với vai trò chủ đạo của kinh tế công - thơngnghiệp, đã chứa đựng những đặc điểm phát triển khác xa các thành thị ở cácnớc Châu á cùng thời Vào thời kỳ này, thành thị Nhật Bản đã trở thành nơitập trung sức mạnh của kinh tế tiền tệ, có thể nói đây là một bớc phát triểnmới trong nền kinh tế Nhật Bản Hàng loạt chủ cho vay nợ lãi đã xuất hiệntrong thành thị và luôn gắn kết hoạt động chặt chẽ với dới thơng nhân Đúng
nh Mác đã từng nhận định: “ Sự phát triển của t bản cho vay nặng lãi gắn
liền với sựu phát triển của t bản thơng nghiệp và đặc biệt là với t bản kinh doanh tiền tệ” [3, 229] Tuy nhiên, hoạt động của thơng nhân, đặc biệt là giới
thơng nhân tài chính ở những trung tâm kinh tế và các địa phơng rất đa dạng
và có mức độ phát triển khác nhau Đến cuối thế kỷ XVIII, quy mô cũng nh
Trang 25hình thức hoạt động kinh tế ở Nhật Bản còn cha thể đạt đến một sự tiến triển
đồng nhất Sự phát triển của kinh tế tiền tệ mà gắn liền với nó là sự trỗi dậycủa các thơng nhân đã không tác động đợc đến tất cả các vùng của đất nớcmột cách tơng tự nhau và cùng một thời gian Từ giữa thời Tokugawa trở đi,phần lớn các t bản thơng mại trong các thành phố lớn đã trở thành các t bảncho vay nợ lãi, thì ở các t bản địa phơng mới thấy có những dấu hiệu của sựchuyển hoá trong t bản thơng mại và kinh doanh tiền tệ giản đơn
Nếu coi sự phát triển của thành thị với t cách là những trung tâm kinh
tế quan trọng nhất, thì đồng thời cũng phải khẳng định rằng sự phát triển của
nó đã tác động tới những chuyển biến trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp vàthủ công nghiệp Mác đã chỉ rõ rằng lúc đầu các công trờng thủ công không
phải đợc hình thành trên cái gọi là “nghề thủ công thành thị”, mà là “nghề
phụ ở nông thôn” vốn ít đòi hỏi sự khéo léo và nghệ thuật [3, 142].
Nhu cầu tiêu dùng trong các thành thị đã kích thích sản xuất nôngnghiệp và thủ công nghiệp đạt đến trình độ phát triển vợt bậc Trong cácthành thị trên cả nớc đã hình thành nhiều trung tâm thủ công nghiệp lớn, cócông trờng thủ công thu hút tới hàng trăm, thậm chí hàng nghìn lao động nhkhu mỏ Besshi của gia tộc Sumimoto ở Shikoku Điều đáng chú ý là, phầnlớn các cơ sở này là do các chủ t nhân đứng ra bao thầu, quản lí sản xuất và
đóng thuế cho chính quyền sở tại hoặc Mạc phủ Do phải cạnh tranh lẫn nhaunên các cơ sở đó đã đầu t chiều sâu cũng nh bề rộng, nhất là các công trờngthủ công tập trung Ví dụ công trờng khai mỏ: thợ khai thác đào quặng từ cácvỉa ngầm sâu dới lòng đất rồi chuyển lên mặt đất để cho một nhóm khácphân loại, nghiền nhỏ Sau đó quặng sơ chế mới đợc nhóm phân công thứ bachuyển đi luyện ở các lò Tại các vùng làm gốm sứ, cũng có một nhómchuyên làm đất, nhóm chuyên nặn, nhóm tráng men, vẽ hoa văn trang trí,nhóm nung gốm Do đợc phân công lao động chặt chẽ nên tính chuyên môn
và năng suất của mỗi nhóm đợc nâng cao đồng thời qua đó cũng bảo vệ đợc
bí mật của nghề nghiệp, hạn chế sức cạnh tranh của các cơ sở khác
Cuối thời Tokugawa, ngành thủ công nghiệp đã thu hút hơn 20 lực ợng lao động trên toàn quốc, nhờ có chuyên môn hoá và đầu t, cải tiến kỹthuật mà nhiều mặt hàng thủ công của Nhật Bản đã đạt đến trình độ tinh xảonổi tiếng thế giới nh: lụa, luyện kim, sơn mài, đồ gốm sứ Nếu nh đầu thế
l-kỷ XVII, Nhật Bản vẫn phải chủ yếu nhập khẩu tơ lụa của Trung Quốc, thì
Trang 26chỉ mấy thập kỷ sau đó, sau khi theo đuổi chính sách đóng cửa Trớc nhu cầubức thiết của thị trờng trong nớc, nhất là nhu cầu của các thành thị, ngành sảnxuất tơ lụa đã đạt đợc sự tăng trởng vợt bậc Nhìn chung đến giữa thế kỷXVII, Nhật Bản không phải nhập tơ lụa từ Trung Quốc nữa Các sản phẩm tựsản xuất trong nớc bao gồm lụa và vải bông đã đảm bảo đợc yêu cầu chất l-ợng, với nhiều loại hình sản phẩm phong phú về màu sắc, hoa văn trang trí
cũng nh kỹ thuật dệt Từ năm 1858, sau khi thực hiện “hiệp ớc hữu nghị,
th-ơng mại và hàng hải” với Mỹ, tơ lụa đã trở thành mặt hàng xuất khẩu lớn
nhất của Nhật Bản, đạt giá trị ngang với tổng ngân sách hàng năm và đợc coi
là di sản lớn nhất của thời kỳ Edo để lại cho thời đại ngày nay
Cùng với ngành dệt, kỹ thuật sản xuất gốm sứ cũng phát triển hết sứcnhanh chóng Vào cuối thế kỷ XVI mới tiếp nhận đợc kỹ thuật của TrungQuốc, Triều Tiên thì một thế kỷ sau, riêng đồ gốm xuất khẩu Nhật Bản đãxuất đợc 2.700.000 sản phẩm Đô thị Hizen (Kyushu) trở thành trung tâm sảnxuất gốm sứ lớn nhất Nhật Bản
Nh vậy trong giai đoạn thế kỷ XVII - XVIII, những yếu tố kinh tế tbản chủ nghĩa ở Nhật Bản đã phát triển mạnh mẽ Trong cùng thời điểm lịch
sử đó, nếu nh so sánh vào thế kỷ XVII - XIX, tại Việt Nam những mầmmống kinh tế t bản chủ nghĩa còn hết sức yếu ớt, phơng thức căn bản vẫn làlối sản xuất thủ công cá thể với những hình thức bóc lột phong kiến mangnặng tính chất nô dịch Về thơng mại, sản phẩm trao đổi chủ yếu trên thị tr-ờng vẫn là nông phẩm Đội ngũ thơng nhân cơ bản là nông dân kiêm nghiệp,
hoạt động theo thời vụ “lấy công làm lãi” trong hệ thống chợ làng Sở dĩ nh
vậy là do thành thị Việt Nam cha thể đóng vai trò là những thực thể kinh tế
độc lập và cha trở thành vị trí là những trung tâm kinh tế - nơi tập trung sứctiêu thụ, nơi kích thích sản xuất, trao đổi hàng hoá và có khả năng thu hútnguồn lao động lớn d thừa từ nông thôn Mặt khác, đội ngũ thị dân trong đóbao gồm tầng lớp thơng nhân, cha thể tự mình trở thành một lực lợng đủ sứcgây nên những chuyển biến kinh tế xã hội
2.2 Những chuyển biến trong cơ cấu và quan hệ xã hội dới tác
động của sự phát triển thành thị thời Tokugawa.
Từ cuối thế kỷ XVI, trớc những chuyển biến của đất nớc, Hideyoshi đã
có ý tởng chia các đẳng cấp xã hội thành : sĩ, nông, công, thơng Đến thờiEdo, địa vị xã hội của 4 đẳng cấp trên đã đợc xác lập Hai đẳng cấp dới đợc