1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của tầng lớp trí thức trong phong trào cải cách ở một số nước đông á nửa cuối thế kỷ xix

125 844 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vai trò của tầng lớp trí thức trong phong trào cải cách ở một số nước Đông Á nửa cuối thế kỷ XIX
Tác giả Lương Ngọc Hoan
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Công Khanh
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2009
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 513,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài Vai trò của tầng lớp trí thức“Vai trò của tầng lớp trí thức trong phong trào cải cách ở một số nớc Đông á nửa cuối thế kỉ XIX” để nghiên cứu,

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo trờng đại học vinh

=====  =====

LƯƠNG NGọC HOAN

VAI TRò CủA TầNG LớP TRí THứC TRONG PHONG TRàO CảI CáCH ở MộT Số NƯớC ĐÔNG á

NửA CUốI THế Kỉ XIX

Trang 2

TRONG PHONG TRàO CảI CáCH ở MộT Số NƯớC ĐÔNG á

NửA CUốI THế Kỉ XIX

thờng trực đối với sự phát triển Tìm hiểu về Vai trò của tầng lớp trí thức“Vai trò của tầng lớp trí thức

trong phong trào cải cách ở một số nớc Đông á nửa cuối thế kỉ XIX” góp

thêm một minh chứng nhỏ cho vấn đề lớn đã nêu trên

1.2 Vào thời kì cận đại, trớc làn sóng ảnh hởng văn minh phơng Tây, đặcbiệt là làn sóng xâm lợc của chủ nghĩa thực dân, các nớc phơng Đông trong đó

có các nớc Đông á có cách hành xử khác nhau nhằm bảo vệ nền độc lập dântộc ở mỗi nớc Trong khi đại đa số các nớc phơng Đông kháng chiến bị chủnghĩa t bản phơng Tây thôn tính bằng biện pháp vũ lực, thì ở Đông á, một sốquốc gia đã xuất hiện trào lu cải cách và cải cách thành công Có thể nhậnthấy lực lợng đề xớng trào lu cải cách thuộc tầng lớp trí thức, lực lợng thamgia hoạch định đờng lối, chủ trơng biện pháp và tổ chức thực hiện cải cáchcũng thuộc tầng lớp trí thức, hoặc là trí thức quan lại, hoặc là trí thức tự do cấp

tiến Do đó, việc tìm hiểu Vai trò của tầng lớp trí thức trong phong trào cải“Vai trò của tầng lớp trí thức

Trang 3

cách ở một số nớc Đông á nửa cuối thế kỉ XIX” góp phần lý giải bối cảnh

xuất hiện của họ, vai trò của họ đối với tiến trình cải cách ở mỗi nớc và cả khuvực, đồng thời, rút ra những bài học kinh nghiệm cần thiết cho hiện tại và tơnglai Điều đó càng trở nên quan trọng hơn trong bối cảnh toàn cầu hoá và kinh

tế tri thức hiện nay

1.3 Cho đến nay, qua số lợng t liệu có đợc, chúng tôi nhận thấy: tuy có rấtnhiều cuốn sách, bài viết về phong trào cải cách ở một số nớc Đông á nhngviệc nghiên cứu chuyên sâu về vai trò của đội ngũ trí thức trong phong trào cảicách ở giai đoạn lịch sử đầy ấn tợng này hầu nh cha đợc đề cập Vì thế, chúngtôi hi vọng rằng, những nghiên cứu trong luận văn sẽ có một cách nhìn tơng

đối khái quát và toàn diện về vấn đề này, trên cơ sở đó, đa ra một số nhận

định, đánh giá thích hợp

1.4 Nớc ta vốn có truyền thống đề cao trí thức, tôn trọng hiền tài Trí thứcViệt Nam trớc thế kỉ XIX đã đồng hành cùng dân tộc, góp phần xứng đángvào sự nghiệp dựng nớc và giữ nớc của ông cha Đến thế kỉ XIX, trớc một kẻthù mới lạ, trong lòng dân tộc cũng nh trong nội bộ giới trí thức diễn ra mộtcuộc đấu tranh gay go, quyết liệt để xác định con đờng, phơng pháp, biệnpháp để chống thực dân Pháp xâm lợc, bảo vệ độc lập dân tộc và phát triển đấtnớc Một bộ phận trí thức nớc ta thời đó đã vợt qua nhiều định chế ngặt nghèocủa thời cuộc, dũng cảm và thức thời đề xuất t tởng cải cách Tìm hiểu về vaitrò của tầng lớp trí thức ở một số nớc Đông á trong phong trào cải cách ở thế

kỉ XIX, dới góc nhìn đồng đại, hi vọng có thể bổ sung những kiến giải mới về

xu hớng cải cách ở Việt Nam thế kỉ XIX: Vì sao xu hớng này thất bại, nguyênnhân chính là gì? Từ đó góp thêm nhận thức mới đầy đủ hơn về vai trò của tríthức trong một giai đoạn lịch sử nóng bỏng, rút ra những bài học kinh nghiệmcho việc xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trongcông cuộc đổi mới hôm nay

Với những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài Vai trò của tầng lớp trí thức“Vai trò của tầng lớp trí thức

trong phong trào cải cách ở một số nớc Đông á nửa cuối thế kỉ XIX” để

nghiên cứu, với mong muốn góp phần làm sáng tỏ vai trò, vị trí của đội ngũ tríthức đối với sự phát triển của xã hội, để xã hội có quan niệm và thái độ đúnghơn về ngời trí thức Đồng thời, ngời trí thức cũng xác định rõ bổn phận, vinh

dự và trách nhiệm của mình trớc cuộc sống, dân tộc

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Cho đến nay, cha có một công trình nghiên cứu, một chuyên khảo nào vềvai trò của tầng lớp trí thức trong phong trào cải cách ở một số nớc Đông ánửa cuối thế kỉ XIX Vì vậy, chúng tôi đã tham khảo một số lợng tài liệu liên

Trang 4

quan đến không gian chung - Đông á và không gian cụ thể - từng quốc giadiễn ra phong trào cải cách vào nửa cuối thế kỉ XIX.

ở không gian chung, khi đề cập đến Phong trào cải cách ở một số nớc

Đông á giữa thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX, GS Vũ Dơng Ninh và các cộng sự lần

đầu tiên đã đặt phong trào cải cách trong bối cảnh chung của thế giới và khuvực để từ đó soi rọi từng phong trào cụ thể ở Nhật, Trung Quốc, Thái Lan vàViệt Nam; nhấn mạnh đến bài học về sự đào tạo và trọng dụng nhân tài - lực l-ợng có tầm quan trọng đặc biệt đối với kết quả của đờng lối chủ trơng Cuốnsách là tài liệu rất hữu ích cho chúng tôi khi thực hiện đề tài luận văn củamình Các tác giả Nguyễn Văn Hồng, Phạm Quang Minh, Lê Văn Quang, ởmột số bài viết có liên quan, mặc dù đều đề cao vai trò của nhân tố con ngờinhng cha có điều kiện để làm rõ vai trò của đội ngũ trí thức khu vực trongphong trào cải cách ở các nớc Đông á thời gian này

Phong trào cải cách ở từng không gian cụ thể nh Nhật Bản, Trung Quốc,Việt Nam, Thái Lan có số lợng t liệu liên quan khá phong phú, đa dạng baogồm: sách chuyên khảo về lịch sử của mỗi quốc gia, sách giáo trình, kỉ yếuhội thảo, sách chuyên đề, luận án Tiến sĩ, luận văn Thạc sĩ, khoá luận chuyênngành, các bài viết trên Website của các tác giả trong và ngoài nớc, Có thể

kể đến một số tài liệu đáng chú ý phục vụ cho luận văn trong phạm vi từng

n-ớc cụ thể nh sau:

- ở Nhật Bản, ngoài các quyển thông sử của G Sansom, R.H.P Mason &

J.G.Caiger, Châm Vũ cho cái nhìn khái quát, các tài liệu nh: Nhật Bản trong thế giới Đông á và Đông Nam á của nhiều tác giả, Cải cách giáo dục ở Nhật Bản của Đặng Xuân Kháng, Tại sao Nhật Bản thành công? Công nghệ phơng Tây và tính cách Nhật Bản của Michio Morishima, đã lý giải sâu sắc hơn về

những điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội, t tởng cho cải cách bùng nổ

và thành công Nguyễn Văn Kim trong Nhật Bản với châu á - những mối liên

hệ lịch sử và kinh tế - xã hội đã có sự phân tích khá sâu sắc về sự phân hoá của

xã hội Nhật Bản thời trớc và trong Minh Trị Duy Tân, đặc biệt chú ý đến tầnglớp võ sĩ, thơng nhân và thị dân Ông đa ra khái niệm giới võ sĩ trí thức Đây

là những ngời đồng thời mang cả hai nhân cách văn và võ, dám suy nghĩ, dámhành động, và sẵn sàng chịu trách nhiệm bằng chính sinh mạng của mình Đócũng là nét khác biệt so với tầng lớp nho sĩ quan liêu ở Đông á và là yếu tốquan trọng làm nên khác biệt với đa phần còn lại của Đông á trong cuộc đối

đầu với Phơng Tây Fukuzawa Yukichi với Phúc Ông tự truyện cung cấp một

cách nhìn chân thực về quá trình chuyển biến của xã hội Nhật Bản trong cuộc

Trang 5

Duy Tân qua chính sự chuyển biến trong con ngời ông - ngời đi tiên phongtrong cuộc Minh Trị Duy Tân Ngoài ra, còn có nhiều bài nghiên cứu có liênquan đăng trên báo, tạp chí chuyên ngành, trang Website của nhiều tác giảtrong và ngoài nớc.

- Lịch sử Thái Lan nói chung và phong trào cải cách ở Xiêm (Thái Lan) có

khá nhiều công trình nghiên cứu có giá trị Trớc hết là Lịch sử Đông Nam á

của D.G.E Hall đề cập khá rõ nét về phong trào cải cách và hai nhân vật cảicách hàng đầu là Mongkut và Chulalongkorn đặt trong mối tơng quan mậtthiết của tình hình Thái Lan và quốc tế lúc bấy giờ Dù vậy, hình ảnh đội ngũtrí thức trong phong trào cải cách ở Xiêm vẫn mới chỉ là những chấm phá

đáng trân trọng mà thôi Các nhà sử học Việt Nam có nhiều công trình đáng

chú ý về lịch sử Thái Lan nh: Vơng quốc Thái Lan lịch sử và hiện tại của GS.

Vũ Dơng Ninh, Lịch sử Thái Lan của Phạm Nguyên Long và Nguyễn Tơng Lai, Quá trình cải cách ở Xiêm 1851 - 1910 và những hệ quả của nó của TS Dơng Thị Huệ hay Chính sách đối ngoại của Thái Lan (Xiêm) nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX của TS Đào Minh Hồng, Cải cách ở Xiêm thời Chulalongkorn của TS Phạm Quang Minh, Đó là những cơ sở rất quan

trọng tạo nên cái nhìn toàn cảnh về Thái Lan (Xiêm) ở thế kỷ XIX và côngcuộc cải cách của họ Những phân tích, nhận định, đánh giá của các tác giảtrên về lực lợng trí thức của nớc này trong cuộc canh tân là chỗ dựa tin cậycủa chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài

- Về lịch sử Trung Quốc và phong trào cải cách ở Trung Quốc nửa cuối

thế kỷ XIX, đáng chú ý là: Lịch sử văn minh Trung Hoa của Will Durant; Lịch sử Trung Quốc của Nguyễn Gia Phu và Nguyễn Huy Quý; Chơng XV - Trung Quốc của giáo trình Lịch sử thế giới cận đại do Vũ Dơng Ninh và Nguyễn Văn Hồng biên soạn; chuyên đề Phong trào Duy Tân Mậu Tuất ở Trung Quốc năm 1898 trong Một số chuyên đề về lịch sử thế giới do GS Vũ

Dơng Ninh chủ biên Ngoài ra, chúng tôi còn chú trọng tham khảo các bài viết

về phong trào cải cách ở Trung Quốc của PGS Nguyễn Văn Hồng nh: 100 năm phong trào Duy Tân Mậu Tuất (1898 - 1998); Duy Tân Mậu Tuất với vấn đề cải cách giáo dục và đào tạo nhân tài; Tân th, Tân học - Thời đại và nhận thức lịch sử trong Mấy vấn đề về lịch sử châu á và lịch sử Việt Nam - Một cách nhìn Thông qua cuốn sách, chúng tôi còn đợc tiếp cận với nhiều

nguồn t liệu gốc về t tởng và các nhân vật cải cách ở Trung Quốc thời giannày do chính tác giả trích dịch Đây là nguồn t liệu quý và sự gợi mở về phơng

Trang 6

pháp luận cho việc tìm hiểu tầng lớp trí thức trong công cuộc Duy Tân ởTrung Quốc.

Khác với Nhật Bản, Thái Lan và Trung Quốc, cải cách ở Việt Nam mớichủ yếu dừng lại ở góc độ t tởng Việc nghiên cứu lịch sử Việt Nam từ sau

1858 và xu hớng canh tân nửa cuối thế kỷ XIX thực sự phong phú cả về số ợng và chất lợng Về chân dung và t tởng các nhà cải cách đáng chú ý là các

l-cuốn: Những đề nghị cải cách của Nguyễn Trờng Tộ của Đặng Huy Vận và Chơng Thâu (1961); Nguyễn Trờng Tộ - con ngời và di thảo của Linh mục Tr-

ơng Bá Cần (1988); Đặng Huy Trứ - Con ngời và tác phẩm của nhóm Trà Lĩnh (1990); Nguyễn Lộ Trạch và di thảo của Nguyễn Văn Huyền (1995), Phạm Phú Thứ với t tởng canh tân do Hội đồng hơng Quảng Nam - Đà Nẵng

xuất bản (1995) Đây là cơ sở t liệu cần thiết để tìm hiểu về đội ngũ trí thức có

t tởng canh tân ở Việt Nam giai đoạn này Bên cạnh đó, ở tầm khái quát về t

t-ởng cải cách, cuốn Sự phát triển của t tt-ởng ở Việt Nam ở thế kỷ XIX đến Cách mạng Tháng Tám của GS Trần Văn Giàu có tính định hớng cho việc nghiên

cứu và đánh giá về t tởng cải cách ở Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX TS Lê

Thị Lan trong công trình Tìm hiểu t tởng cải cách ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX

đã đi sâu nghiên cứu một cách hệ thống bối cảnh ra đời, nội dung, tích chất vànguyên nhân không đợc hiện thực hoá của t tởng này Tác giả đã có nhiềunhận xét, lý giải mới mẻ có tính thuyết phục về mặt tích cực và hạn chế của ttởng cải cách ở Việt Nam thời kỳ này Ngoài ra, chúng tôi còn tiếp cận vớimột số tác phẩm lý luận của C.Mác, F.Ăngghen, Hồ Chí Minh làm cơ sở lýluận cho việc nghiên cứu Một số sách chuyên khảo về cải cách, về tầng lớp tríthức, về văn hoá văn minh giúp chúng tôi mở rộng bình diện hiểu biết lịch sử

văn hoá để phân tích, nhận định, đánh giá về “Vai trò của tầng lớp trí thứcVai trò của tầng lớp trí thức

trong phong trào cải cách ở một số nớc Đông á nửa cuối thế kỷ XIX” có

Trang 7

Đối tợng nghiên cứu của luận văn là “Vai trò của tầng lớp trí thứcVai trò của tầng lớp trí thức trong

phong trào cải cách ở một số nớc Đông á nửa cuối thế kỉ XIX” Tuy nhiên,.

đây là đề tài mới và khó, có không gian rộng và thời gian khá dài Trongkhuôn khổ của một luận văn Thạc sĩ, chúng tôi xác định cụ thể phạm vi của đềtài nh sau:

3.1 Về vai trò của tầng lớp trí thức: chủ yếu đề cập đến vai trò tích cựccủa trí thức tiêu biểu ở một số nớc Đông á - lực lợng đại diện giữ vai trò đề x-ớng và thực thi công cuộc cải cách Những ngời trí thức khác tham gia vàocông cuộc cải cách chỉ đề cập lớt qua hoặc tìm hiểu sự biểu hiện vai trò của họthông qua các nhân vật trí thức tiêu biểu

3.2 Về không gian của đề tài là một số nớc Đông á, luận văn chỉ dừng lạikhảo sát ở các nớc Nhật Bản, Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan, vì đều nằmtrong một khu vực địa lý - lịch sử có mối liên hệ gắn bó, ảnh hởng và tác độngqua lại lẫn nhau Hơn nữa, đây là những quốc gia tiêu biểu của phong trào cảicách ở khu vực ở những góc độ khác nhau Về mặt địa lý, chúng tôi thấy nhậnthấy rằng về khái niệm Đông á có nhiều cách hiểu Theo nghĩa rộng, Đông ábao hàm Đông Bắc á gồm Nhật Bản, Trung Quốc, Triều Tiên và Đông Nam

á gồm 11 quốc gia hiện nay Khái niệm này hiện nay đợc giới học thuật sửdụng khá phổ biến GS Vũ Dơng Ninh cũng đồng quan điểm này

3.3 Thời gian của đề tài là nửa cuối thế kỉ XIX, cụ thể là từ năm 1851, khiMongkut thiết lập triều đại Rama IV mở đầu giai đoạn chuẩn bị những tiền đềkhởi động cải cách ở Thái Lan và kết thúc là thất bại của Duy Tân Mậu Tuất

1898 ở nớc phong kiến khổng lồ Trung Hoa Trong gần nửa thế kỉ đó, phongtrào cải cách ở Đông á theo hớng cận đại hoá diễn ra mạnh mẽ nhất và để lạinhiều kì tích vẻ vang

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của luận văn là làm rõ vai trò, vị trí của tầng lớp trí thức trongphong trào cải cách ở một số nớc Đông á nửa cuối thế kỉ XIX trong bối cảnhkhu vực, châu lục và cả phơng Đông Từ đó, nhận thức đầy đủ và khách quanhơn vị thế đặc biệt của trí thức và trí tuệ đối với sự phát triển của xã hội tronglịch sử cũng nh trong thời đại ngày nay

Từ mục đích trên, chúng tôi xác định luận văn phải thực hiện những nhiệm

vụ sau:

- Làm rõ bối cảnh lịch sử và điều kiện thúc đẩy sự xuất hiện tầng lớp tríthức canh tân ở một số nớc Đông á

Trang 8

- Phân tích, làm rõ vai trò của tầng lớp trí thức trong việc đề xớng và thựcthi phong trào cải cách ở Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan và Việt Nam.

- So sánh vai trò của tầng lớp trí thức ở những nớc cải cách thành công làNhật Bản và Thái Lan với những nớc cải cách đi vào ngõ cụt nh Trung Quốc,Việt Nam Từ đó tìm ra nguyên nhân thành bại của phong trào cải cách - cơ sở

để trả lời nhiều câu hỏi cha có kết giải cuối cùng về nguyên nhân mất nớc,công tội của các vơng triều, vai trò của lực lợng lãnh đạo, điều kiện phát huysức mạnh cộng đồng trong đó có trí thức ở giai đoạn lịch sử này cũng nh rút ranhững bài học kinh nghiệm thiết thực cho hiện tại và tơng lai

5 Phơng pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của luận văn là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩaduy vật lịch sử, t tởng Hồ Chí Minh và đờng lối quan điểm của Đảng về tầnglớp trí thức Từ đó, tuỳ từng trờng hợp cụ thể chúng tôi thực hiện các phơngpháp phù hợp nh: phân tích, tổng hợp so sánh, đối chiếu, hồi cố, lịch sử, lôgíc

để giải quyết các vấn đề đặt ra trong luận văn của mình

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn bớc đầu nêu lên một cách khái quát có hệ thống về điều kiệnxuất hiện tầng lớp trí thức canh tân ở một số nớc Đông á, về vai trò của tầnglớp này trong phong trào cải cách ở các phơng diện đề xớng t tởng và tổ chứcthực thi Sự so sánh về vai trò của tầng lớp trí thức giữa các nớc hoặc hai nhómnớc thành bại trong cải cách sẽ góp phần lý giải vì sao trí thức Việt Nam vàTrung Hoa bất lực cùng dân tộc trong việc hiện thực hoá những đề nghị cảicách

thi phong trào cải cách nửa cuối thế kỉ XIX.

Chơng 3 Trí thức với sự phát triển của xã hội Đông á - Mối liên hệ giữa quá khứ và hiện tại.

Trang 9

Chơng 1 BốI CảNH LịCH Sử ĐÔNG á ở THế Kỉ XIX

Và Sự XUấT HIệN CủA TầNG LớP TRí THứC CANH TÂN

1.1 Bối cảnh lịch sử của thế giới và khu vực Đông á thế kỉ XIX

1.1.1 Sự phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa t bản phơng Tây và làn sóng bành trớng sang phơng Đông

Vào thế kỉ XII - XIII, khi mô hình xã hội phong kiến vẫn tiếp tục chuyểnbiến chậm chạp và lặng lẽ ở phơng Đông, thì ở phơng Tây, nó đã bộc lộ sự bếtắc cả về kinh tế, chính trị, xã hội Lãnh địa phong kiến - một nhà nớc thu nhỏvới nền sản xuất nông nghiệp tự cấp tự túc, đã bị những ngời thợ thủ công tàinăng xuyên thủng bằng mũi dùi để không khí tự do từ bên ngoài lọt vào lãnh

địa Các thành thị trung cổ, hoặc do thợ thủ công lập ra hay do các lãnh chúaphong kiến có tầm nhìn tạo dựng, lần lợt ra đời Những thành thị này mặc dùvẫn tồn tại với t cách là một bộ phận của xã hội phong kiến, nhng thực ra đóchính là những mầm mống đầu tiên của một mô hình tổ chức kinh tế - văn hoá

- xã hội hoàn toàn khác Từ thế kỉ XV đến thế kỉ XVI, thành thị Tây Âu thực

sự trở thành cái nôi của một xã hội mới đang thai nghén trong lòng xã hội cũ.Làn sóng của phong trào Văn hoá Phục hng, Cải cách tôn giáo và những phátkiến địa lí, mở đờng cho ba cuộc cách mạng lớn từ thế kỉ XVII đến thế kỉXVIII là cách mạng công nghiệp, cách mạng văn hoá t tởng (trào lu Triết học

ánh sáng) và cách mạng xã hội, để xác lập một mô hình kinh tế chính trị xã hội mới tiên tiến, hiện đại và nhân bản hơn Đi hết chặng đờng của thế kỉXVIII, chủ nghĩa t bản t bản đã vợt qua nền văn minh đầu tiên của loài ngời làvăn minh nông nghiệp và đồng thời khai sinh ra một nền văn minh mới - vănminh công nghiệp Quá trình công nghiệp hoá trong các ngành sản xuất, cùngvới sự ra đời của mô hình nhà nớc dân chủ đại nghị và không khí tự do dânchủ, tạo nên những tiền đề để chủ nghĩa t bản ở Tây Âu tiếp tục phát triển và

-đấu tranh với những tàn d của xã hội cũ cha tự nguyện rút lui trong yên lặngkhỏi vũ đài lịch sử thế kỉ XIX

Nửa đầu thế kỉ XIX, nền kinh tế t bản chủ nghĩa tiếp tục có những bớc tiếnquan trọng Quá trình cơ khí hoá sản xuất công nghiệp ngày càng phổ biến,tốc độ phát triển công nghiệp ngày càng tăng Sản lợng của ngành luyện kim

và cơ khí phát triển rất nhanh để đáp ứng yêu cầu trang bị kỹ thuật cho toàn bộnền công nghiệp Mạng lới giao thông vận tải, đặc biệt là giao thông đờng sắt

đợc mở rộng Nông nghiệp từng bớc đợc cơ giới hóa, thủy lợi hóa và hóa học

Trang 10

hóa Việc kinh doanh đất đai theo lối t bản chủ nghĩa với kỹ thuật mới đợc ápdụng ở nhiều nớc Âu - Mĩ làm tăng nhanh sản lợng và chất lợng sản phẩmnông nghiệp.

Tình hình trên đây, một mặt, vừa tạo ra một lực lợng sản xuất mới, mộtkhối lợng của cải vật chất to lớn hơn tất cả các thời kì trớc cộng lại, đồng thời,cũng cho thấy nhiệm vụ của giai cấp t sản lúc này không chỉ phải chiến thắnghoàn toàn chế độ phong kiến trên bình diện thế giới bằng năng suất lao động,

mà còn phải giải quyết những yêu cầu cấp thiết của một mô hình kinh tế chính trị - xã hội mới đòi hỏi, trong đó đòi hỏi của sản xuất và thơng mại làhàng đầu Những nhiệm vụ nặng nề đó của lịch sử không chỉ tác động mạnh

-đến diễn trình cách mạng châu Âu nửa cuối thế kỉ XIX mà còn có mối liên hệchặt chẽ đến phần còn lại của thế giới cận đại ở á, Phi, Mĩ Latinh

Từ nửa cuối thế kỉ XIX, nhiều tiến bộ kỹ thuật mới đợc ứng dụng vào sảnxuất công nghiệp nh việc sử dụng lò Betxơme và lò Máctanh trong luyện kim,những tuốc-bin chạy bằng sức nớc, những tuốc-bin liên hợp với đinamô thànhmáy phát điện, động cơ nổ đợc sử dụng rộng rãi với công nghiệp khai thácdầu Những tiến bộ kỹ thuật trên đã thúc đẩy nền sản xuất t bản chủ nghĩaphát triển nhanh chóng vào những thập kỉ cuối của thế kỉ XIX và đa nền sảnxuất t bản chủ nghĩa bớc sang một thời kì phát triển mới

Sản xuất công nghiệp ngày càng có xu hớng tập trung hoá, chuyên mônhoá và tiêu chuẩn hoá Từ năm 1871, tốc độ phát triển kinh tế tăng vợt củamột số nớc t bản nh Mĩ, Đức đã làm thay đổi trật tự kinh tế cũ Nền kinh tếAnh tụt xuống vị trí thứ ba thế giới do bị Mĩ và Đức vợt qua Xu hớng tậptrung hoá trong sản xuất dẫn đến sự hình thành các công ty độc quyền nhcácten, xanhđica, tơrớt Trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, ngân hàng từ vaitrò trung gian chuyển sang can thiệp vào nội bộ các xí nghiệp, làm xuất hiện

xu hớng dung hợp giữa t bản công nghiệp và t bản ngân hàng tạo thành tầnglớp t bản tài chính có thế lực vô hạn độ Bọn trùm sỏ tài chính ở các nớc hếtsức chú ý đến xuất khẩu, đầu t sang các nớc khác để thu đợc những khoản lợinhuận kếch xù Xu hớng xuất khẩu ra bên ngoài ngày càng đợc các cờng quốc

t bản Anh, Pháp, Mĩ, Đức và cả những nớc t bản chậm hoặc mới phát triển hơn

nh Nga, áo - Hung, Nhật chú trọng Thuộc địa lúc này không chỉ là nơi vơ vétnguyên vật liệu, bóc lột sức lao động rẻ mạt, thị trờng tiêu thụ hàng hoá màcòn là thị trờng xuất khẩu t bản Cuộc tranh giành thuộc địa giữa các cờngquốc thực dân nh Anh, Pháp, Nga vẫn tiếp diễn ở mức độ gay gắt hơn với sựtham gia của các nớc t bản chủ nghĩa mới nổi nh Mĩ, Đức, Nhật Chủ nghĩa t

Trang 11

bản đã chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn chủ nghĩa t bản

độc quyền - chủ nghĩa đế quốc

Những chuyển biến mạnh mẽ và toàn diện trong lĩnh vực sản xuất của chủnghĩa t bản tạo ra thế và lực mới cho giai cấp t sản trong cuộc đấu tranhchống chế độ phong kiến ở Âu - Mĩ để giành quyền lãnh đạo về chính trị xãhội Thành công của cải cách nông nô ở Nga (1861), việc Mĩ kết thúc cuộccách mạng t sản lần thứ hai (1861 - 1865) và tuyên bố xoá bỏ chế độ nô lệ,việc hai nớc ý và Đức hoàn thành thống nhất đất nớc một cách ngoạn mụcsong song với nền cộng hoà thứ ba ra đời ở Pháp, cũng nh sự phát triển thần kìcủa Nhật Bản những thập kỉ sau cuộc “Vai trò của tầng lớp trí thứccách mạng Minh Trị” (chữ dùng củaMichio Morishima), đánh dấu sự thắng lợi của chủ nghĩa t bản và đa chủnghĩa t bản trở thành một hệ thống thế giới Điều quan trọng là thắng lợi đó đãtạo ra một hình thái kinh tế xã hội tiến bộ hơn hẳn so với xã hội cũ Đó là mộtnền văn minh mới trong lịch sử loài ngời Máy móc đã thay thế cho sức lao

động cơ bắp của con ngời, chế độ dân chủ đại nghị với mô hình nhà nớc phápquyền thay thế cho nhà nớc quân chủ chuyên chế tập quyền, quyền con ngời

và các giá trị nhân văn tiến bộ nh tự do bình đẳng, bác ái đợc đề cao Thắnglợi đó của chủ nghĩa t bản tạo tiền đề để tiếp tục phát triển mạnh mẽ sức sảnxuất nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu lợi nhuận mà giai cấp t sản luôn khaokhát Sự phát triển hơn nữa của sản xuất tất yếu dẫn đến nhu cầu thị trờng vềnguyên vật liệu, sức lao động và xuất khẩu t bản tăng vọt Điều này dẫn đếncuộc tranh chấp về thị trờng trên thế giới giữa các nớc t bản chủ nghĩa càng trởnên quyết liệt hơn Các nớc t bản chủ nghĩa tìm mọi cách chiếm đoạt bằng đợcthị trờng trên thế giới mà đặc biệt ở á, Phi, Mĩ Latinh dẫn đến các cuộc chiếntranh xâm lợc và tranh giành thuộc địa của chủ nghĩa thực dân ngày càng giatăng Quá trình ảnh hởng, lan truyền của nền văn minh phơng Tây sang phơng

Đông cũng đợc xúc tiến qua chu trình tiếp xúc vừa tự nguyện, vừa cỡng bức.Chủ nghĩa t bản lúc này gắn liền với việc ăn cớp, bóc lột và nô dịch các dântộc phơng Đông nhng đồng thời lại gợi mở cho các dân tộc phơng Đông về cộinguồn và căn nguyên của sức mạnh “Vai trò của tầng lớp trí thứcTây di” cần học hỏi để đánh bại kẻ haimặt là chủ nghĩa thực dân hiện đại

Thuật ngữ Chủ nghĩa thực dân (colonialism) thực chất đã xuất hiện và tồn

tại khá lâu đời trong lịch sử ở phơng Tây, từ thời cổ đại, thuật ngữ này dùng

để chỉ chế độ chiếm đóng và nô dịch của Đế chế La Mã cổ đại đối với cácvùng ngoại vi khác nhau ở châu Âu và Bắc Phi Trong thời kì cận hiện đại, nó

đợc dùng để chỉ sự bành trớng thế lực của các nớc t bản phơng Tây ra các khu

Trang 12

vực còn lại của thế giới thông qua các hành động chinh phục, thống trị và khai

thác các thuộc địa (colonia) [69; 21].

Sự ra đời của chủ nghĩa thực dân hiện đại gắn liền với sự ra đời và bành tr ớng của chủ nghĩa t bản phơng Tây Bởi vậy, nó mang trong mình bản chấtcủa ngời “Vai trò của tầng lớp trí thứcmẹ đẻ” t bản chủ nghĩa là làm tất cả những gì có thể để khôngngừng tăng giá trị thặng d và mức lợi nhuận tối đa cho nhà t sản, trên cơ sởcủa nền kinh tế thị trờng ngày càng mở rộng và phát triển Sự phát triển củanền kinh tế thị trờng làm cho nhu cầu về nguồn nguyên vật liệu, nhân công vàthị trờng tiêu thụ hàng hoá ngày càng gia tăng Đến một mức độ nào đó, nhucầu này biến thành yêu cầu chiếm đoạt, sở hữu và chủ nghĩa thực dân hiện đạixuất hiện để hiện thực hoá nhu cầu của nền kinh tế t bản chủ nghĩa Chủ nghĩathực dân chính là phơng thức mà giai cấp t sản xâm lấn hoàn cầu và cũng làphơng cách để các cờng quốc t bản cạnh tranh hòng phân chia quyền lợi vàkhu vực thống trị trên thế giới trong suốt một thời gian dài Do sức mạnh vàthế mạnh của chủ nghĩa t bản ở từng nớc khác nhau, lợi ích của giai cấp t sản

-ở mỗi nớc không giống nhau, đó là cha kể đến các yếu tố ảnh h-ởng nh truyềnthống văn hoá, tính cách dân tộc, nên chủ nghĩa thực dân dù có mục đích, bảnchất tơng đồng, vẫn mang những đặc điểm riêng không thể nhoà lẫn Điều nàykhông chỉ chi phối đến phơng thức tiến hành xâm lợc, cai trị ở các xứ thuộc

địa, mà cả tiến trình đấu tranh chống xâm lăng, đấu tranh giành độc lập củanhân dân các nớc thuộc địa sau này Mặc dù vậy, chủ nghĩa thực dân còn làsản phẩm của một mô hình chính trị - kinh tế - xã hội phát triển văn minh hơn,hiện đại hơn, nhân bản hơn so với mô hình phong kiến truyền thống Bởi vậy,

từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XIX, chủ nghĩa thực dân không chỉ là kết quả và biểutrng của một phơng thức bành trớng thế lực và ách áp bức của phơng Tây, màcòn là phơng thức lan truyền, lan toả ảnh hởng của một mô hình phát triểnmới

Sau bớc chân của các nhà phát kiến địa lí là sự khởi đầu quá trình xâm l ợccủa chủ nghĩa t bản phơng Tây ở á, Phi, Mĩ Latinh Mặc dù còn có ý kiếnkhác nhau, nhng các nhà nghiên cứu đều lấy mốc năm 1511, ngời Bồ Đào Nha

do Abukéc thống lĩnh 1400 quân đánh chiếm Malắcca là cột mốc mở đầu choquá trình thực dân hoá ở á, Phi và Mĩ Latinh Quá trình ấy gắn liền với giai

đoạn tích luỹ nguyên thuỷ t bản chủ nghĩa Nó đợc đẩy mạnh trong giai đoạnchủ nghĩa t bản chuyển từ tự do cạnh tranh sang chủ nghĩa t bản độc quyền vàkết thúc vào đầu thế kỉ XX ở châu á, Anh chiếm Mã Lai, ấn độ, Miến Điện;Pháp chiếm Đông Dơng; Bồ Đào Nha chiếm Đông Timo và Macao; Tây Ban

Trang 13

Nha chiếm Philíppin; Hà Lan chiếm Inđônêxia; Thái Lan bị cả Anh và Pháp

đe doạ Trung Quốc sau chiến tranh thuốc phiện (1840 - 1842) buộc phải kí

điều ớc Nam Kinh với thực dân Anh, mở đầu quá trình các nớc đế quốc xâu xé

“Vai trò của tầng lớp trí thứccái bánh ngọt khổng lồ” Trung Quốc và loại bỏ nền độc lập của quốc giaphong kiến này

ở châu Phi, từ những năm 50 đến những năm 70, 80 của thế kỉ XIX, saukhi kênh đào Xuyê đợc hoàn thành, các nớc t bản phơng Tây đua tranh quyếtliệt để xâu xé châu lục đen Chỉ đến đầu thế kỉ XX, việc phân chia thuộc địa ởchâu Phi giữa Anh, Pháp, Đức, ý, Bỉ, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha mới hoànthành

Tại khu vực Mĩ Latinh, khi các bãi cát vàng ven biển Trung Mĩ còn in dấuchân của đoàn thám hiểm của C Côlông (1492) thì các đoàn chiến hạm vớinhững nòng đại bác đen ngòm của thực dân phơng Tây đã xuất hiện Chỉ trongvòng hai thế kỉ XVI - XVII, đa số các nớc Mĩ Latinh đã biến thành thuộc địacủa Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha

Nh vậy, với thời gian kéo dài gần 500 năm, chủ nghĩa t bản phơng Tâybằng nhiều phơng cách đã dần dần biến các vùng đất rộng lớn, tài nguyênphong phú, nhân lực dồi dào ở á, Phi, Mĩ Latinh thành thuộc địa, nửa thuộc

địa hay lệ thuộc vào mình

Tóm lại, sự phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa t bản Âu - Mĩ mở ra nhiềucơ hội mới, thách thức và nguy cơ mới cho các nớc phơng Đông nói chung vàkhu vực Đông á nói riêng để hội nhập và phát triển Đó là nguồn tri thứckhổng lồ về khoa học kỹ thuật, những giá trị văn hoá văn minh bất hủ tronglịch sử nhân loại nh tự do, dân chủ, bình đẳng, bác ái, là con đờng phát triển

và mô hình phát triển cận đại hoá với nhiều u việt, là phơng pháp, cách thức vànguồn lực phát triển để hợp lu và tiến cùng thời đại Nguy cơ lớn nhất mà chủnghĩa t bản mang lại đối với phơng Đông là chủ nghĩa thực dân Trong suốtlịch sử hàng ngàn năm của mình, cha bao giờ các quốc gia này phải đối đầuvới một kẻ thù mới lạ, có sức mạnh hơn hẳn về vật chất, khoa học kỹ thuật, vũkhí và phơng tiện chiến tranh nh chủ nghĩa thực dân phơng Tây Những thờicơ, nguy cơ và thách thức đó đối với các nớc Đông á nửa đầu thế kỉ XIX là t-

ơng đồng Tuy nhiên, muốn tận dụng thời cơ, hoá giải đợc nguy cơ, chuyểnnguy thành an còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố và điều kiện khác nhau Mộttrong những yếu tố và điều kiện quan trọng đó là tình hình kinh tế chính trị xãhội ở mỗi nớc

Trang 14

1.1.2 Tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam nửa đầu thế kỉ XIX

Trớc thế kỉ XIX, tình hình kinh tế chính trị xã hội của Nhật Bản, TrungQuốc, Thái Lan và Việt Nam, mặc dù chịu tác động của một số nhân tố bênngoài, song về cơ bản vẫn giữ đợc sự ổn định cần thiết trong trật tự và mô hìnhtruyền thống Đó là mô hình nhà nớc quân chủ tập quyền ở Nhật Bản, dù tồntại chế độ Mạc phủ bên cạnh Thiên hoàng (Lỡng đầu chế) nhng tính tập trungthống nhất trong điều hành bộ máy nhà nớc vẫn đợc duy trì ở Trung Quốc vàViệt Nam, tính tập quyền chuyên chế đạt mức độ tuyệt đối Còn ở Thái Lan,lại là mô hình nhà nớc quân chủ thần quyền Đó là nền kinh tế nông nghiệpkết hợp với thủ công nghiệp và buôn bán Tuy nhiên, nếu ở Nhật Bản và TháiLan, tính chất hớng biển của nền kinh tế tạo ra một nền kinh tế nông nghiệp

có yếu tố sản xuất hàng hoá, thơng nghiệp và đô thị đóng vai trò tích cực, thìtại Trung Quốc và Việt Nam, về cơ bản vẫn chỉ là nền kinh tế nông nghiệp tựcấp tự túc xã hội chia thành bốn tầng lớp theo thứ bậc sĩ, nông, công, thơng.Riêng Thái Lan thì chia thành quý tộc, nông dân, thợ thủ công, thơng nhân vànô lệ Mâu thuẫn giữa các tầng lớp nhân dân, mà đặc biệt là nông dân với giaicấp phong kiến có xu hớng ngày càng gia tăng và là mâu thuẫn chủ yếu trongxã hội Sự ra đời và lớn mạnh của tầng lớp thị dân và thơng nhân kéo theo sựgiao lu kinh tế và văn hoá vùng miền và giữa các quốc gia, đặc biệt là sự giao

lu với văn minh phơng Tây, tạo điều kiện cho quá trình tiếp nhận và hìnhthành những t tởng mới Tính đến cuối thế kỉ XVIII, các nớc Đông á nói riêng

và châu á nói chung đã có quá trình tiếp xúc với văn minh phơng Tây trongkhoảng gần 300 năm Đó cũng là thời gian chủ nghĩa t bản phơng Tây tiếnhành xâm thực ở đây với quy mô và tốc độ hạn chế, chủ yếu dới hình thức th-

ơng mại thực dân và truyền bá đạo Kitô sang khu vực này Mục đích chủ yếucủa hoạt động xâm thực của chủ nghĩa t bản phơng Tây tại khu vực này làkhai thác, buôn bán hơng liệu và một số hàng hoá khác nh tơ lụa, đồ gốm sứv.v Vì thế, hoạt động chinh phục chỉ giới hạn trong việc chiếm đợc những cứ

điểm chiến lợc trên các đờng giao thơng, thiết lập cho đợc quyền bá chủ thơngmại ở những khu vực có ý nghĩa quan trọng Song song với hoạt động thơngmại thực dân là hoạt động truyền giáo của Giáo hội Kitô Giáo hội đã ủng hộ

và cổ vũ mạnh mẽ cho nỗ lực bành trớng của chủ nghĩa thực dân phơng Tây vìmục đích truyền đạo Dẫu sự tiếp nhận của chính quyền và dân chúng với đạoKitô ở các nớc Đông á là khác nhau, vừa có sự hồ hởi và đồng thuận, lại vừa

có sự cấm đoán và cự tuyệt Nhng quan trọng là thông qua quá trình đó, mộtloạt những quan niệm mang tính thế giới quan và nhân sinh quan mới mẻ cùng

Trang 15

kiến thức khoa học kỹ thuật đợc truyền bá trực tiếp tới ngời dân Sự độc tôncủa t tởng Nho giáo và uy quyền của nền chính trị quân chủ chuyên chế kếthợp giữa vơng quyền với thần quyền bớc đầu bị đe doạ Điều này góp phần lígiải sự cấm đoán quyết liệt của nhà cầm quyền với việc truyền đạo Kitô saunày ở Trung Quốc, Việt Nam, hay một số han ở Nhật Bản Mặc dù tham dựvào tiến trình lịch sử Đông á trong một thời gian dài gần ba thế kỉ, nhng sựtác động của văn minh phơng Tây chỉ dừng ở quy mô hạn hẹp với mức độ tác

động thuần tuý Bởi vậy, sự tác động này cha làm thay đổi đợc cơ cấu kinh tếchính trị truyền thống của các nớc trong khu vực Sự giao lu về văn hoá đã bắt

đầu khởi động, nhng còn khá hạn chế, với tác dụng mờ nhạt Chính vì thế, cho

đến cuối thế kỉ XVIII, ở Đông á cha xuất hiện nhu cầu thay đổi mô hình pháttriển và cách thức tổ chức bộ máy cai trị Trào lu cải cách ở khu vực còn thiếunhững điều kiện chủ quan và khách quan để ra đời và phát triển

Từ đầu thế kỉ XIX trở đi, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của Nhật Bản,Trung Quốc, Thái Lan và Việt Nam biểu lộ rõ nét với hai gam mầu sáng tối

ở Nhật Bản, sau hơn hai trăm năm thống trị, chế độ Mạc phủ Tokugawa

đứng đầu là Shogun đã lâm vào tình trạng suy yếu nghiêm trọng Trong lòngxã hội chứa đựng nhiều mâu thuẫn ở tất cả các lĩnh vực về kinh tế, chính trị,xã hội Về kinh tế: nông nghiệp vẫn dựa trên quan hệ sản xuất lạc hậu, địa chủbóc lột nông dân rất nặng nề Mức tô trung bình chiếm tới 50% giá trị hoa lợi.Tình trạng mất mùa đói kém xảy ra liên tiếp Tuy nhiên, bức tranh kinh tếNhật Bản thời Mạc phủ có nhiều điểm nhấn rất tích cực Mạc phủ đề ra chính

sách sankin kotai (luân phiên trình diện), buộc các lãnh chúa phải gửi vợ con

về Edo làm tin và họ phải định kì về Edo chầu Do nhu cầu đi lại và chi tiêutốn kém, các cuộc trình diện của các lãnh chúa với những phái đoàn lớn hàngtrăm ngời, trong một thời gian dài, từ mọi miền đất nớc về kinh đô, đã thúc

đẩy mạng lới giao thông vận tải Nhật phát triển hoàn thiện, làm gia tăng việccạnh tranh và đua chen buôn bán làm giàu của cả lãnh chúa và thị dân Nềnkinh tế hàng hoá - tiền tệ ra đời phá vỡ hàng rào lãnh địa và tính chất tự cấp tựtúc của nền kinh tế nông nghiệp phong kiến Việc Mạc phủ chỉ yêu cầu cáclãnh chúa có sự phục tùng chính trị tuyệt đối, còn cho phép các lãnh địa cóquyền tự chủ về kinh tế, miễn là nộp thuế đầy đủ, đã thúc đẩy sản xuất vàbuôn bán ở các lãnh địa phát triển hơn Chính sách đóng cửa hạn chế của Mạcphủ không chỉ giúp Nhật tiếp tục duy trì mối quan hệ với bên ngoài, mà điềuquan trọng hơn là tạo tiền đề để quan hệ buôn bán, đặc biệt của các han miềnTây Nam với một số nớc nh Hà Lan, Trung Quốc hng thịnh hơn Sự phát triển

Trang 16

của quan hệ hàng hoá - tiền tệ, hiện tợng chiếm hữu đất đai kinh doanh với sốlợng lớn và việc hình thành những quan hệ mới trong sản xuất ở quy mô lãnh

địa khá đặc trng, tạo điều kiện để nông nghiệp phát triển kịp theo xu hớngchung của nền kinh tế Trong khi đó, ở các đô thị, hải cảng, kinh tế hàng hoáphát triển, công trờng thủ công xuất hiện ngày càng nhiều, những mầm mốngkinh tế thơng mại t bản chủ nghĩa nhanh chóng lớn mạnh hơn Cơ cấu kinh tếcông thơng nghiệp lấy thành thị làm trung tâm xuất hiện từ thế kỉ XVIII ngàycàng phát triển Các thành thị Osaka, Kyoto, Edo và Nagasaki đợc coi lànhững trung tâm kinh tế quan trọng và là mô hình tiêu biểu của thành thị NhậtBản thời cận đại - mô hình thành thị thơng nghiệp, khác với mô hình thành thịphơng Tây cùng thời là thành thị sản xuất công nghiệp Hồi đầu thế kỉ XIX cókhoảng 15 % dân số Nhật sống ở thành thị và đến giữa thế kỉ XIX con số này

đã lên tới 25% Trong đó dân số ở Edo là 1 triệu ngời, Osaka, Kioto: 300.000,Nagoya: 200.000, Kanazawa: 100.000 [69; 70 - 71] Thành thị đã trở thànhnhân tố hết sức quan trọng trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa của NhậtBản Một nền văn hoá thị dân đã xuất hiện với sự hấp dẫn, sinh động và đậmmầu sắc thực tiễn Đó là môi trờng thuận lợi để tiếp tục nuôi dỡng, ơm mầmnhững t tởng mới nẩy sinh từ bên trong và tiếp nhận những t tởng cách tân tiến

bộ từ bên ngoài

Chế độ Mạc phủ Tokugawa ra đời năm 1603, quyền lực rơi vào tay mộtdòng họ có thế lực nhất, mà thực chất chính là một lãnh chúa trùm sỏ và hùngmạnh nhất, Thiên hoàng không có thực quyền Việc chế độ Mạc phủ thực thichính sách đóng cửa từ năm 1639, trong thời gian đầu, có tác động ổn địnhchính trị, tạo ra môi trờng hoà bình và thúc đẩy nền sản xuất trong nớc pháttriển Tuy nhiên, chính sách đó vào đầu thế kỉ XIX đã cản trở nền kinh tế côngthơng nghiệp đang trỗi dậy mạnh mẽ, ngăn trở nhu cầu buôn bán trao đổi ngàycàng gia tăng giữa Nhật Bản với bên ngoài và ngợc lại Chế độ đẳng cấp bị nềnkinh tế hàng hoá - tiền tệ tấn công từ nhiều phía nên đứng trớc sự tan vỡ

Daimyo là những quý tộc phong kiến lớn quản lí các vùng lãnh địa trongnớc với số lợng gần 300 ngời Họ thực sự là quốc vơng của một lãnh địa vớithuế khoá, luật pháp và quân đội riêng Tuy nhiên, thế lực lớn của daimyo vàothế kỉ XIX đã không duy trì đợc sự phát triển kinh tế xã hội, không đủ sứccung cấp nhu cầu cuộc sống cho mình và cho đạo quân samurai Đẳng cấpdaimyo bị phân hoá thành hai bộ phận là lực lợng bảo thủ và lực lợng canhtân Lực lợng bảo thủ thuộc các phiên phía Bắc, tiêu biểu là daimyo Hokkaido;còn lực lợng canh tân là các phiên phía Nam nh Satsuma, Choshu, Hizen có

Trang 17

nền kinh tế công thơng nghiệp phát triển, muốn chống lại và xoá bỏ chế độMạc phủ chuyên chế bảo thủ đang cản trở sự phát triển của đất nớc.

Samurai là bộ phận văn võ song toàn Ngoại trừ một số samurai lớp trên,

đại bộ phận phục vụ quân sự cho các daimyo với số lợng khoảng 2 triệu ngời[64; 304] Là lực lợng có học thức, có tri thức và năng lực tổ chức thực tiễnnhng những đặc quyền mà xã hội phong kiến dành cho họ lúc này không đợcbảo đảm, đặc biệt là về kinh tế Sự bất bình, nhu cầu tự thân trớc sự phát triểncủa xã hội, khiến một bộ phận của tầng lớp này rời bỏ chức năng nhiệm vụtruyền thống ở lãnh địa để ra thành thị tham gia vào kinh doanh công thơngnghiệp Nhờ có học vấn, có bản lĩnh, có khát vọng thay đổi - đổi đời cho chínhmình và đổi thời cùng dân tộc, nên họ nhanh chóng tiếp thu và làm chủ đợcnhững kiến thức mới, lĩnh vực mới để trởng thành Họ đợc coi là tầng lớp quýtộc mới - quý tộc t sản hoá chống lại Shogun và theo đuổi xu hớng cải cách xãhội

Là một quốc gia hải đảo có nền kinh tế hớng biển nên thơng nhân NhậtBản là lực lợng luôn có vai trò quan trọng về kinh tế Lúc bấy giờ, số lợng th-

ơng nhân giầu có ngày càng tăng mà đặc biệt là ở khu vực phía Nam Vàonăm 1705, một thơng nhân Osaka tên là Yodoya Saburoemon có hơn 121 triệuryo vàng cho các lãnh chúa vay, gấp nhiều lần tổng thu nhập quốc dân củaNhật lúc đó Là chủ nợ của các daimyo, vì thế, thơng nhân còn nắm quyềnquản lí đất đai và tham gia bóc lột nông dân một cách trực tiếp Vai trò quantrọng nhất của thơng nhân Nhật là tạo nên sự phát triển hơn hẳn của nền kinh

tế công thơng nghiệp so với nông nghiệp Do vậy, nó phá vỡ tính tự cấp tự túccủa nền kinh tế nông nghiệp truyền thống, thúc đẩy sự giao lu kinh tế văn hóatrong và ngoài nớc, tạo nên sự hng thịnh của thành thị thủ công nghiệp và th-

ơng nghiệp - sự khác biệt với mô hình Trung Hoa, mặc dù vẫn nằm trong thếgiới Hoa hoá Đặc biệt thành thị Nhật Bản cận thế tạo ra một môi trờng thuậnlợi để t tởng mới đợc nẩy sinh và phát triển, để lực lợng sản xuất mới và quan

hệ sản xuất mới t bản chủ nghĩa phát triển Thành thị thật sự là cửa ngõ tiếpcận để học hỏi với nền văn minh mới, là pháo đài chống lại phong kiến Mạcphủ bảo thủ và chuyên chế, là cái nôi ơm mầm phong trào cải cách Nhật Bản.Mặc dù có thế lực kinh tế bao trùm nhng thơng nhân không có quyền lợi và

địa vị xã hội tơng ứng Hơn nữa, do quyền lợi gắn bó với xã hội phong kiếnnên họ không thể trở thành lực lợng xã hội độc lập Tuy vậy, mong muốn đợc

có quyền lực và địa vị xã hội nhất định, muốn gạt bỏ những cản trở của chínhsách đóng cửa khiến họ cũng tham gia tích cực vào công cuộc cải cách khi có

Trang 18

điều kiện Nông dân chiếm khoảng gần 80% dân c, là lực lợng cơ bản của nềnsản xuất Nhật Bản Với thân phận tá điền trong các lãnh địa, ngời nông dân dù

bị bóc lột nặng nề song không dám bỏ trốn vào thành thị do sợ bị bắt trả vềcho chủ cũ Sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá, khiến một bộ phận nôngdân bị mất đất và không có việc làm, buộc phải gia nhập vào lực lợng c dân ởcác thành thị Sự bất mãn của nông dân với chế độ phong kiến Mạc phủ báohiệu một cơn khủng hoảng của chế độ phong kiến dựa trên nền kinh tế nôngnghiệp truyền thống đã đến hồi kết

Vào đầu thế kỉ XIX, tình hình Trung Quốc có sự đan xen giữa các yếu tốmới và cũ, giữa xu hớng cách tân và xu hớng bảo thủ Nền kinh tế nôngnghiệp truyền thống lạc hậu về công cụ, kỹ thuật canh tác Phần lớn ruộng đấttập trung vào tay địa chủ quan lại Mãn tộc và Hán tộc Nông dân lĩnh canhphải nộp mức tô cao ngất từ 50 - 80% hoa lợi [64; 321] Ngoài ra, họ còn bị ápbức và bóc lột muôn hình muôn vẻ Sản xuất nông nghiệp không phát triểngây nên tình trạng đình trệ và thụt lùi của nền kinh tế nớc này lúc bấy giờ.Công nghiệp và thủ công nghiệp có nhiều biến chuyển Công trờng thủ côngtập trung và phân tán mọc lên ở nhiều nơi Quy mô và kỹ thuật sản xuất cótiến bộ Hiện tợng lao động làm thuê đã xuất hiện Nhiều mỏ đồng, sắt, than ở

Tứ Xuyên, Quảng Đông, Thiểm Tây, Sơn Tây và các lò gốm sứ ở Giang Tây

có số lợng hàng ngàn công nhân Thơng nghiệp hình thành nhiều trung tâmbuôn bán lớn khá nổi tiếng nh Quảng Đông, Hán Khẩu, Hàng Châu, ThiênTân, Ninh Ba, Phúc Kiến Các sản phẩm nh lụa Hàng Châu, sứ mầu Giang Tô,sắt thép Phật Sơn nổi tiếng trên thị trờng trong và ngoài nớc Việc buôn bánvới nớc ngoài nh Triều Tiên, Nhật Bản và các nớc Đông Nam á khác vẫn tiếptục Điểm mới và khác biệt nhất là việc buôn bán với các nớc phơng Tây ngàycàng gia tăng Chỉ tính riêng năm 1834 - 1835, số lợng thuyền buôn của các n-

ớc phơng Tây đến Quảng Châu là 213 chiếc, tăng gần 2,5 lần so với năm 1789[64; 323] mặt hàng chủ yếu mà thơng nhân phơng Tây mua từ Trung Quốc làtơ lụa, chè và đồ sứ Sự phát triển của thơng nghiệp mà đặc biệt là ngoại thơng

đã du nhập quan hệ kinh tế t bản chủ nghĩa vào trong công nghiệp và cả nôngnghiệp Một số vùng kinh tế nông nghiệp rộng lớn chuyên canh bông, chè,trồng dâu nuôi tằm gắn liền với sản xuất nông nghiệp hàng hoá xuất hiện Sựchuyển biến của kinh tế công thơng nghiệp không chỉ tác động đến nông thôn

mà còn tác động tích cực đến sự ra đời của đội ngũ thơng nhân mới - tiền thâncủa tầng lớp t sản, làm thay đổi quan niệm kinh tế xã hội từ quan lại đến thờng

Trang 19

dân, dẫn đến sự hình thành một trào lu t tởng mới khi mà triều đình MãnThanh đã run sợ và quỳ gối kí kết các điều ớc bất bình đẳng với phơng Tây.Vốn là nớc có lịch sử lâu đời ở phơng Đông, với một kho tàng văn hoá vănminh đồ sộ và rực rỡ ít ai sánh kịp, nên suốt thời kì cổ trung đại, họ tự xng là

Hoa Hạ

“Vai trò của tầng lớp trí thức ”, Trung Hoa“Vai trò của tầng lớp trí thức ”, là Thiên triều“Vai trò của tầng lớp trí thức ” và coi các nớc lân bang là Man, Di,Nhung, Địch (Trong chữ Man có bộ trùng sâu bọ, trong chữ Địch có bộkhuyển - chó má) Sự tự hào, tự mãn thái quá đó khiến họ bảo thủ và khôngchịu làm học trò của kẻ khác Thiếu một bầu không khí tranh luận về họcthuật bởi yếu tố chính trị, các Nho sĩ lúc bấy giờ hoặc chuyển sang khảo cứusách vở, hoặc phải tự im hơi lặng tiếng để bảo toàn danh lợi và sự yên ổn củagia đình, bản thân Nền giáo dục Nho học khá bài bản và có tính hệ thống vớinhững nội dung và phơng pháp giáo dục chuẩn mực về đạo lí đã góp phần thúc

đẩy chế độ phong kiến phát triển vợt bậc trong giai đoạn khá dài Tuy vậy, hạnchế của nền giáo dục này là nội dung dạy và học nặng về lí thuyết, nhẹ về thựchành, nặng về lễ giáo mà ít ỏi về kiến thức khoa học, chỉ chú trọng đào tạo ramẫu ngời cai trị xã hội chứ không phải là làm chủ xã hội Hơn nữa, với mục

đích của việc học là để đi thi đỗ đạt làm quan, mà ngời làm quan chủ yếu nhớkiến thức để nói cho dân nghe, để yên dân, nên phơng pháp học chủ yếu làhọc thuộc Nó khác với trí thức Nhật Bản học Nho để hiểu biết, để trau dồi trithức, nên họ có khả năng t duy độc lập, khách quan và không suy nghĩ mộtcách rập khuôn Nội dung và phơng pháp giáo dục nh thế dẫn đến bệnh giáo

điều, quan liêu Hai bệnh nan y ấy kết hợp với chủ nghĩa bình quân của nôngdân tạo thành thế kiềng ba chân cản trở đổi mới và cải cách Vì vậy, trí thứcquan lại nói riêng và nho sĩ ở Trung Hoa, Việt Nam nói chung, luôn bảo thủ

và giáo điều khi đối diện với sự thay đổi Đó là một nghịch lí buồn nhng khótránh khỏi của lịch sử

Vơng triều Mãn Thanh ra đời ở thế kỉ XVII, thông qua việc lật đổ nhàMinh ở Trung Nguyên sự hiện diện của ngời Mãn ở ngôi vị cao nhất tại TửCấm Thành khiến cho mâu thuẫn giữa ngời Hán với ngời Mãn chuyển từ mâuthuẫn bộ tộc thành mâu thuẫn dân tộc Vì vậy, chế độ quân chủ phong kiến tậpquyền truyền thống của Trung Hoa, do ngời Mãn kế tục, lại gia tăng tính chấtchuyên chế bởi các cuộc đàn áp bằng bạo lực kết hợp với những biện phápmua chuộc địa chủ, quý tộc Hán Cuối thế kỉ XVIII trở đi, mâu thuẫn giai cấpngày càng gay gắt, nhân dân nổi dậy khởi nghĩa ở nhiều nơi Triều đình nhàThanh hoảng hốt trớc thực trạng thù trong cha yên thì giặc ngoài đã tới gõ cửa,nên thực thi chính sách đóng cửa khá nghiêm ngặt Họ chỉ cho phép thơng

Trang 20

nhân nớc ngoài buôn bán ở áo Môn, rồi sau đó là Quảng Châu mà thôi Cùngvới các thơng nhân châu Âu, các giáo sĩ nối tiếp nhau vào truyền đạo vàtruyền bá những thành tố tiến bộ của một nền văn minh mới Dới tấm áochoàng đen, nhiều vị linh mục đã hoạt động gián điệp để tiếp tay cho bọn thựcdân nớc mình Thêm vào đó, việc Giáo Hoàng La Mã cấm ngời bản xứ là tín

đồ Kitô hữu không đợc thờ cúng tổ tiên và Khổng Tử khiến cho lệnh cấmtruyền đạo đợc ban bố từ đầu thế kỉ XVIII Những ngả đờng nối một quốc giaphong kiến khổng lồ ở châu á với thế giới đã bị nhận thức và hành động sailầm của chính quyền quân chủ phong kiến tập quyền chặn đứng Trung Quốctrở thành “Vai trò của tầng lớp trí thứcgã” khổng lồ yếu đuối và què quặt đáng thơng trong con mắt củangời phơng Tây để mở cửa thị trờng khổng lồ này, ngời Anh đã ma cáo dùngthuốc phiện làm “Vai trò của tầng lớp trí thứcchìa khoá” Tình trạng suy kiệt kép cả túi tiền và sức khoẻbởi vấn nạn “Vai trò của tầng lớp trí thứccơm đen” khiến triều đình Mãn Thanh vội cử Lâm Tắc Từ tớiQuảng Châu để thi hành lệnh cấm bán thuốc phiện Cuộc chiến tranh thuốcphiện bùng nổ mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử Trung Quốc ở thế kỉXIX

Nh vậy, đổi mới về chính trị, kinh tế, t tởng, văn hoá, giáo dục lúc này làhết sức cấp thiết để Trung Hoa có thể trả lời đợc câu hỏi của lịch sử và thời

đại: Làm thế nào để tự cờng, để phát triển và bảo vệ đợc nền độc lập của đấtnớc trớc bọn “Vai trò của tầng lớp trí thứcTây di”?

Vơng quốc Thái Lan ra đời vào thế kỉ XIII với sự di c của ngời Thái từVân Nam xuống đồng bằng lu vực sông Menam Từ đó đến giữa thế kỉ XIV làquá trình xác lập vị thế ngời Thái và chống lại các đế chế ấn hóa ở Đông Nam

á lục địa Sau khi vơng triều Ayudhya bị quân Miến Điện tấn công và tàn phávào năm 1767, Taksin - một ngời có nguồn gốc Trung Hoa, bằng tài năngquân sự và chính trị của mình, đã tập hợp quần chúng đánh đuổi quân xâm lợcMiến và lên ngôi vua Tháng 4 năm 1782, tớng Chaopya Chakri đã tiến hànhkhởi nghĩa lật đổ Taksin và lên làm vua, mở đầu triều đại Rama trong lịch sửnớc này với kinh đô mới là Bangkok Cũng từ đó, quá trình thống nhất đất nớc

đợc hoàn thành, chế độ phong kiến tập quyền Xiêm bớc vào giai đoạn pháttriển mới Sau quá trình chiến tranh chống lại bọn xâm lợc bên ngoài và cácthế lực chống đối ở bên trong, Rama I và những vị quốc vơng kế tục ông đãtrở lại quan điểm lãnh đạo gia trởng trên tinh thần Phật giáo của các vị vuasùng đạo Vào thời Rama I (1782 - 1809) và Rama II (1809 - 1824), diễn raquá trình xác lập và hoàn thiện bộ máy nhà nớc phong kiến trung ơng tậpquyền Đứng đầu nhà nớc phong kiến là các vua dòng Rama Giúp việc chovua gồm ba hội đồng: Hội đồng Hoàng thân, Hội đồng Thợng th và Hội đồng

Trang 21

t pháp Quản lí điều hành công việc thờng nhật của chính quyền phong kiếntrung ơng là hệ thống các bộ do các hoàng tử, hoàng thân đứng đầu, trong đóquan trọng nhất là Bộ nội vụ và Bộ chiến tranh

Hệ thống đẳng cấp phong kiến ở Xiêm khá phức tạp, dới vua có các chức

quan: Chaopha, Chao (cai trị những tỉnh lớn nhất), Chaopaia (đứng đầu các tỉnh lớn), Paia (quan trong các bộ, trởng đồn trú, cai trị tỉnh bé) và một số chức quan khác bé hơn nh Phơra, Luăng, Cum, Mơn, các chức quan thấp ở thôn xã là Naipan, Nairốt, Naxip Các chức tớc phong kiến này đều mang

tính thế tập - cha truyền con nối

Do nhà vua là kẻ sở hữu tối cao ruộng đất trong cả nớc và tất cả mọi ngời

trong cả nớc đều là thần dân của vua, nên nhà vua cấp đất theo chế độ Xắctina cho hệ thống quan lại phong kiến và cho toàn dân Vị thái tử có Xắctina tới 100.000 nai (16000.000 ha) và ngời dân có mức Xắctina thấp nhất là 5 nai (0,8 ha) Có thể nói, chế độ Xắctina không chỉ phản ánh chế độ ban cấp ruộng đất

đặc thù ở Xiêm mà còn phản ánh khá rõ quan hệ kinh tế - xã hội của nớc nàythời cận đại

Ngoài giai cấp phong kiến quý tộc còn có nông dân và nô lệ Đây là nhữnggiai tầng dân c đông đảo nhất, chiếm đại đa số trong 5 triệu dân c Xiêm nửa

đầu thế kỉ XIX Nông dân, ngoài bị bóc lột bởi thuế 1/10, còn phải bị đánhthuế trâu bò, nhà cửa, vờn cây, phải chịu nghĩa vụ lao dịch cho nhà nớc từ 3

đến 4 tháng Nô lệ ở Xiêm đợc gọi là Kha, chiếm 1/3 dân số vào nửa sau thế

kỉ XIX [19; 19] Thực chất, họ là những ngời nông dân không có đất đai, thânphận phụ thuộc nặng nề vào chủ - lãnh chúa, ngời bảo hộ Nô lệ chủ yếu làmcác công việc phục dịch cho chủ chế độ nô lệ ở Xiêm thực chất là chế độ nô

lệ gia trởng

Dù sao, sự tồn tại chế độ nô lệ và mức độ chiếm hữu ruộng đất khá lớn so

với các nớc khu vực Đông Nam á, qua chế độ Xăctina của giai cấp phong kiến

quý tộc, tạo thế cho kinh tế nông nghiệp ở Xiêm sớm thoát khỏi tính chấtmanh mún, bình quân và phát triển theo hớng sản xuất hàng hoá hớng ra xuấtkhẩu Thế mở của nền kinh tế tạo nên thế mở trong giao diện với bên ngoài vàsuy nghĩ với tầm nhìn quốc tế của các nhà vua triều Rama

Từ thời Rama I đến thời Rama II, hai vị quân vơng này đã ban hành một

số chính sách có lợi với nông dân Nhờ đó, các loại thuế khoá trực tiếp củanông dân những năm 20 của thế kỉ XIX giảm so với những năm 80 của thế kỉXVIII, đời sống của nông dân cải thiện hơn, sức sản xuất nông nghiệp từng b-

ớc đợc giải phóng, dân số Xiêm tăng nhanh từ 2 triệu ngời (XVII) lên 5 triệungời vào 25 năm nửa đầu thế kỉ XIX [19; 20 - 21]

Trang 22

Chính sách khuyến khích ngời Hoa đến c trú của các vua Rama I, Rama IIlàm tăng nhanh số lợng ngời Hoa đến c trú, sinh sống và làm ăn buôn bán ởXiêm Từ năm 1840 - 1850, mỗi năm có trung bình 15000 ngời nhập c vàoXiêm [19; 21] Theo M Pallegoix trong Description thì trong số 400.000 ngờidân Bangkok những năm 1830 chỉ có 120.000 ngời Xiêm, số ngời Hoa chiếm200.000, tức khoảng 1/2 dân số của thành phố Số c dân ngời Hoa từ năm

1882 đến năm 1910 ngày càng gia tăng và chiếm tới 10% dân số nớc này [54]

Số lợng vị trí và vai trò của ngời Hoa trong nền kinh tế Xiêm là hết sức quantrọng Họ thúc đẩy dịch vụ bán buôn, bán lẻ và nền nông nghiệp sản xuất lúagạo ngày càng phát triển theo xu hớng sản xuất hàng hoá, phá vỡ xu thế muốn

đóng cửa với bên ngoài, tạo ra cơ sở để giao lu với quốc tế mà trớc hết là vớiTrung Quốc Bài học mở cửa với ngời Hoa thành công tạo kinh nghiệm cầnthiết để triều đại Rama mở cửa với ngời phơng Tây

Đến nửa đầu thế kỉ XIX, Xiêm vẫn là nền kinh tế nông nghiệp mang nặngtính tự nhiên tự cung tự cấp nhng đã xuất hiện những mầm mống kinh tế t bảnchủ nghĩa Nhiều công trờng thủ công của nhà nớc và t nhân đợc xây dựng nhluyện gang, làm đờng, khai thác mỏ, chế tạo vũ khí, đóng tàu sử dụng đội ngũlao động là ngời Thái và ngời Hoa là dân tự do Số lợng công nhân mỗi xởng

từ 200 - 600 ngời Ngời ta đóng đợc tàu trọng tải 800 tấn Ngoại thơng cũng

đ-ợc phát triển Kinh đô Bangkok trở thành đô thị quốc tế có hoạt động thơngmại khá tấp nập và cởi mở Nhiều thơng gia Trung Quốc, Trung Đông vànhiều vùng khác đến đây làm ăn buôn bán Với việc mở cửa nền kinh tế vàothập kỉ 50 (XIX) đa Bangkok trở thành trung tâm buôn bán khu vực Một họcgiả nớc ngoài đã miêu tả về thủ đô này là “Vai trò của tầng lớp trí thứcThật khó có thể tìm thấy đợc bếncảng nào rộng lớn, đợc bảo vệ chắc chắn, có khả năng cho phép tàu hàng ngàntấn cập bến” [54] Gạo trở thành mặt hàng xuất khẩu số một của Xiêm và nớcnày vào đầu thế kỉ XIX vẫn giữ vị trí thứ hai về xuất khẩu gạo ở châu á sauBengan của ấn Độ Tuy nhiên, những quan hệ sản xuất t bản chủ nghĩa mớinẩy sinh còn khá non nớt bị các thiết chế, quan hệ phong kiến trói buộc vàkìm hãm, đặc biệt là chế độ sở hữu đất đai, sự lệ thuộc về thân phận của ngờinông dân vào lãnh chúa, chế độ nô lệ

Về t tởng: từ thời Rama Kaeng, đạo Phật đã trở thành quốc giáo và là một

động lực cho sự phát triển của xã hội T tởng đạo Phật vừa hớng thiện vị tha,vừa chứa đựng nhiều hạt nhân biện chứng thiết thực Đội ngũ s sãi có truyềnthống gắn bó với nhân dân và quan lại, ít nhất là trong lĩnh vực t tởng và tôngiáo, nên khoảng cách giữa đạo với đời, giữa tôn giáo với chính trị không cách

Trang 23

biệt, không đối lập Lịch sử Thái không có sự xung đột giữa đạo Phật và chínhquyền Chùa chiền không chỉ là trung tâm tôn giáo, mà hơn thế: “Vai trò của tầng lớp trí thứcCác chùaPhật giáo trở thành các trung tâm học thuật và văn hoá và nghệ thuật làm chủcác vấn đề - bhikkhus [tì kheo] - đợc giảng dạy cho tất cả mọi ngời từ thànhphố đến nông thôn” [54].

Ngời Thái đã xây dựng một nền giáo dục từ thời kì sơ khai luôn kết hợphài hoà hữu cơ giữa văn hoá Thái với tiến trình phát triển lịch sử dân tộc Bởivậy, nền giáo dục này vừa phát huy tích cực yếu tố truyền thống nội tại, vừatiếp biến hiệu quả những thành tựu của cách mạng khoa học và kỹ thuật bênngoài Nửa đầu thế kỉ XIX, dới thời Rama III (1824 - 1851), u điểm nổi bậtcủa ngời Thái và giáo dục Thái đợc phát huy Những giá trị truyền thống đợc

nở rộ và tiếp biến mạnh mẽ với các yếu tố văn minh phơng Tây để mở đờngnhận thức và hành động cho dân tộc, giải đáp những thách thức của lịch sử màmặt trái của nền văn minh phơng Tây mang đến - chủ nghĩa thực dân.Mongkut, sau này là Rama IV (1851 - 1910), chính là biểu tợng số một củavơng quốc này trong việc kế thừa nội tại và học hỏi cái hay từ bên ngoài

Nh vậy, cho đến nửa đầu thế kỉ XIX, dù vẫn là nớc quân chủ trung ơng tậpquyền nhng bộ máy nhà nớc có sự ổn định và hợp lòng dân Bộ máy nhà nớcvới những mối liên hệ thân tộc chặt chẽ, vai trò và vị trí của ngời đứng đầuluôn đợc đề cao một cách tuyệt đối Các vị vua Thái của vơng triều Chakri từRama I trở đi đều là những cá nhân sùng đạo Phật, yêu nớc, giàu trí tuệ, biết

kế thừa truyền thống dân tộc và sẵn sàng tiếp thu những t tởng tiến bộ từ bênngoài, có chính sách cai trị khôn khéo Tuy là nớc nông nghiệp nhng yếu tốsản xuất hàng hoá đã định hình rõ rệt nhất là trong sản xuất lúa gạo Sự hoạt

động tích cực của thơng nhân, tiểu thơng trong nớc, mà nhất là thơng nhân vàtiểu thơng ngời Hoa, cùng với quan hệ buôn bán với nớc ngoài nhộn nhịp đãthúc đẩy kinh tế thơng mại và các đô thị Thái không ngừng mở rộng Thànhthị Thái góp phần tạo nên những yếu tố nội sinh quan trọng về kinh tế, t tởng

để thúc đẩy cải cách đất nớc

Cũng là nớc nằm ở Đông Nam á, Việt Nam ở thế kỉ XIX vừa có nhữngnét tơng đồng và lại có những nét khác biệt so với vơng quốc Xiêm Quá trìnhhình thành vơng triều Nguyễn (1802) cũng là quá trình đấu tranh giành quyềnlực quyết liệt, gay gắt và đẫm máu giữa các thế lực chính trị trong nớc Khácvới các triều đại phong kiến trớc đó nh Đinh, Lí, Trần, Lê, đợc thiết lập trên cơ

sở thắng lợi của các cuộc chiến tranh giải phóng, hoặc sau khi hoàn thànhnhiêm vụ chống ngoại xâm, bảo vệ độc lập củng cố quốc gia, nhà Nguyễn

Trang 24

không có đợc tính chính thống cho quyền lực và sự thống trị của mình bởi lẽ

nó đợc dựng lên bằng cuộc nội chiến với sự hậu thuẫn của thế lực ngoại bang.Nhân dân trong cả nớc, đặc biệt là các tỉnh phía Bắc, các cuộc khởi nghĩa vớidanh nghĩa phò Lê chống Nguyễn liên tục diễn ra Chính sách thống trịchuyên chế khắc nghiệt của nhà Nguyễn thông qua bộ máy quan lại sẵn sàng

đàn áp mọi biểu hiện chống đối hoặc có nghi ngờ chống đối gây nên làn sóngphản kháng quyết liệt của nhân dân trong nớc Trong bối cảnh đó, Gia Longlên nắm quyền đã tiếp tục chọn Nho giáo làm t tởng thống trị và bắt tay xâydựng bộ máy nhà nớc quân chủ phong kiến trung ơng tập quyền Đứng đầunhà nớc là vua có có uy quyền tuyệt đối về mọi mặt Bộ máy quan lại phongkiến đợc tuyển chọn thông qua các kì thi Nho giáo mặc dù vẫn duy trì đợc một

số yếu tố tích cực nhng với trình độ kiến thức lạc hậu, xa rời thực tế nên chỉtạo ra đội ngũ quan lại nặng tính trung thành bảo thủ, quan liêu, và thiếu khảnăng kĩ trị cần thiết Quyền lợi, danh vị gắn bó chặt chẽ với vua và vơng triềuNguyễn cùng với hạn chế của tầng lớp mình và xã hội khiến họ không thểsống một cách độc lập cả về vật chất và tinh thần nên tầm nhìn t tởng và khảnăng tự sáng tạo không thể phát triển Dới thời Minh Mạng, bằng cuộc cảicách hành chính sâu rộng, toàn diện nhng cũng hết sức cứng rắn đã xây dựngnên một thể chế chính trị chuyên chế mạnh nhất Đông Nam á Tuy nhiên, sốlợng 234 cuộc khởi nghĩa của nhân dân trong cả nớc trong thời gian này và xuhớng ngày càng tăng lên thời Tự Đức đã chứng tỏ sự khủng hoảng của bộ máynhà nớc từ mô hình của nó là khó khắc phục bằng các biện pháp nửa vời.Phong trào đấu tranh của nhân dân biểu hiện sự bất đồng và mâu thuẫn sâu sắcgiữa vua quan với dân, đồng thời làm phân tán, tự tiêu huỷ sức mạnh chung

của dân tộc Việc thực hiện đờng lối đối nội “Vai trò của tầng lớp trí thứcngoại Nho nội pháp ” và đối

ngoại “Vai trò của tầng lớp trí thứcbế quan toả cảng” của các vua tiền nhiệm, đã không giúp cho vua Tự

Đức tìm ra lời giải cho các mâu thuẫn xã hội bên trong và nguy cơ xâm lợccủa thực dân phơng Tây từ bên ngoài, mà còn làm cho tình hình vốn dĩnghiêm trọng ngày càng nghiêm trọng hơn Các biện pháp cấm đạo mà vị vuanày ban hành chỉ tạo thêm nguyên cớ cho thực dân Pháp xâm lợc Việt Nam.Cùng với tình hình chính trị, bức tranh kinh tế Việt Nam dới triều Nguyễnkhởi đầu có biểu hiện sáng sủa Nhờ chính sách chú trọng việc đắp đê làmthuỷ lợi và khai hoang phục hoá, lấn biển đã giúp nghề nông nghiệp phục hồi

và phát triển hơn trớc Tổng diện tích đất nông nghiệp trong vòng 20 năm(1820 - 1847) đã tăng từ 3.076.300 mẫu lên hơn 4.278.013 mẫu [36; 22] Dớitriều Gia Long, Minh Mạng, công thơng nghiệp có biểu hiện hồi phục và phát

Trang 25

triển Nhà nớc cho phép t nhân đúc vàng bạc, việc khai mỏ đã xuất hiện têntuổi ngời Việt Tuy nhiên, nền kinh tế Việt Nam vẫn mang đậm tính chất tựcấp tự túc, lạc hậu và kém phát triển Nhà Nguyễn thực hiện độc quyền cả nộithơng và ngoại thơng Về nội thơng, muối và gạo đợc coi là hai mặt hàngchiến lợc bị nhà nớc độc quyền quản lí và cấm việc buôn bán từ vùng này sangvùng khác, ai vi phạm sẽ bị nghiêm trị Điều này có lẽ xuất phát từ việc coitrọng góc độ an ninh một cách mù quáng Đó là cha kể tới việc giới hạn cácmặt hàng đợc phép buôn bán, đặt ra nhiều thứ thuế cùng nhiều cửa bến kiểmsoát, việc quy định giá các mặt hàng hàng chục năm không hề thay đổi, cácthủ tục kinh doanh hết sức phiền hà, ví dụ, gạo chở từ Nghệ An ra Nam Địnhphải đóng tới chín lần thuế, giấy phép bán hàng phải có hơn một chục con dấucủa các tỉnh lị [36; 25] Nh vậy, vơng triều Nguyễn đã kìm hãm sức phát triểncủa sản xuất nông nghiệp, thủ công và thơng nghiệp, gây ra tình trạng thừathiếu giả tạo trong nền kinh tế, triệt tiêu tiềm năng, động lực của ngời sảnxuất, tạo điều kiện cho tính chất tự cấp tự túc và tình trạng manh mún cục bộvốn có của nền kinh tế càng gia tăng cả về quy mô và mức độ Về ngoại th-

ơng, nhà Nguyễn cũng giữ độc quyền buôn bán với nớc ngoài Khó khăn màmột số tàu buôn nớc ngoài phải vợt qua khi đem hàng hoá vào Việt Nam làthủ tục hết sức phiền hà, thuế quá cao cùng với tệ sách nhiễu tham nhũng củaquan lại Hàng hoá mang tới phải đợc bán cho triều đình trớc, phần còn lạimới đến lợt thơng nhân Việt Nam Chính sách hạn chế thơng mại này, khôngchỉ làm cho nền ngoại thơng tụt dốc từ những năm 20 của thế kỉ XIX, mà cònkìm hãm sản xuất và buôn bán trong nớc, đặc biệt những ngành nghề vốn cóthế mạnh hớng ra xuất khẩu để thu đợc giá trị vợt trội

Tình hình sản xuất tiểu thủ công nghiệp cũng không có sự thay đổi gì

đáng kể Nhà nớc vẫn nắm giữ những công xởng lớn nh đúc súng, đúc tiền,

đóng tầu và tiếp tục thực thi chế độ công tợng trng tập thợ giỏi vào các côngtrờng thủ công của nhà nớc Các chính sách này tiếp tục cản trở thủ côngnghiệp phát triển Vai trò của thủ công nghiệp cha có tác động gì đáng kể đốivới sự phát triển của các ngành kinh tế vì nó vẫn ở địa vị phụ thuộc vào nôngnghiệp Sản xuất thủ công nghiệp cha tham gia đợc vào quá trình tái sản xuấthàng hoá do quy mô nhỏ, tính chuyên môn hoá hạn chế, kỹ thuật lạc hậu vàquan trọng ngời thợ thủ công Việt Nam thiếu môi trờng để sống sinh tử vớinghề Vì thế, nó không thể trở thành đòn bẩy kích thích kinh tế hàng hoá pháttriển, tham gia tích cực vào quá trình phân công lao động xã hội và tạo đà đểhình thành mầm mống kinh tế t bản chủ nghĩa Tình trạng kém cỏi của thủ

Trang 26

công nghiệp thời Nguyễn, cùng với sự trì trệ của sản xuất nông nghiệp và

th-ơng nghiệp, làm nên bức tranh suy vi của nền kinh tế Nhng điều nguy hiểmhơn là nó không tạo ra đợc một môi trờng đô thị đủ để ơm mầm, nuôi dỡng vàsản sinh ra những cách làm ăn mới hiệu quả, những tầng lớp xã hội mới để đốisánh với xã hội cũ và để cải biến xã hội cũ kịp bớc chuyển mình của khu vực

Điều này không thể so sánh đợc với Nhật Bản, Thái Lan và ngay cả TrungQuốc cùng thời điểm ấy

Gia Long lên ngôi quyết định tiếp tục lần theo lối cũ, lấy Nho giáo - TốngNho làm hệ quy chiếu duy nhất, hệ t tởng độc tôn và xây dựng mô hình nhà n-

ớc theo chuẩn mực Trung Hoa Mặc dù vẫn còn một số hạt nhân hợp lí vàmang tính tích cực, nhng Nho giáo lúc này thực tế đã bộc lộ quá nhiều tửhuyệt nh tính bảo thủ, xa lạ với khoa học kỹ thuật, chỉ nhấn mạnh thuần tuý

đến giá trị tinh thần cứng nhắc mà không chấp thuận những giá trị mới nónghổi từ cuộc sống Có lẽ, mong muốn độc tôn t tởng Nho giáo của giai cấpthống trị và sự bất lực của t tởng này khi nó khi phải đơng đầu giải quyếtnhững nhiệm vụ mà lịch sử đa tới, đặc biệt khả năng dẫn đờng tập hợp lực l-ợng để đơng đầu với kẻ thù xa lạ từ bên ngoài, là lí do chủ yếu để học thuyết ttởng cai trị kết hợp với giáo hoá dân chúng thông qua các quan hệ gia đình vàxã hội mà Khổng Tử “Vai trò của tầng lớp trí thứcthuật nhi bất tác” đã chấm dứt vai trò dẫn đờng Do sựxâm nhập của Thiên chúa giáo từ thế kỉ XVI, truyền thống Tam giáo đồng quy

bị đe doạ nghiêm trọng Theo Đỗ Quang Hng, vào thời Nguyễn, đặc biệt khipháp xâm lợc Việt Nam, chính đạo hay tà giáo (Nho giáo hay Thiên chúagiáo) là một trong ba vấn đề t tởng chi phối từ cung đình xuống dân chúng[59; 206] Cơ cấu xã hội Nho giáo Việt Nam đầu thế kỉ XIX đợc hình thànhtheo thứ bậc nghiêm ngặt từ cao xuống thấp, theo thân phận trong xã hội là sĩ,nông, công, thơng Sĩ bao gồm đại bộ phận ngời theo học đạo Nho, bất kể cóthi đỗ hoặc làm quan hay không Cũng nh ở Trung Quốc, đây là tầng lớp có

uy tín trong xã hội và đó là rờng cột của chế độ phong kiến “…Trong n Trong n ớc Việt Nam thời ấy vẫn có một thứ công luận Trong thực tế, ý kiến của đa số chính là ý kiến của quan lại cấp thấp và của sĩ phu” [108; 210].

Nông dân Việt Nam chiếm đại đa số dân c Cũng nh đa phần nông dân ởNhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan, họ cũng bị chế độ phong kiến bóc lột nặng

nề bởi tô thuế và hàng loạt các nghĩa vụ lao dịch khác Tuy nhiên, chế độ sởhữu ruộng đất mang tính bình quân và với quy mô rất nhỏ, sự trói buộc củagiáo lí Nho giáo, sự áp chế của bộ máy quan liêu chuyên quyền và những địnhchế truyền thống ngặt nghèo của làng xã khiến cho đời sống và thân phận của

Trang 27

ngời nông dân Việt Nam trở nên nhỏ bé, cực khổ, lệ thuộc, nông thôn và nôngnghiệp không có điều kiện để sản xuất hàng hoá Sự lạc hậu, trì trệ và đóinghèo của nông thôn và nông dân chi phối tính chất lạc hậu, trì trệ của xã hộiViệt Nam lúc bấy giờ.

Việc tiếp tục thực thi chính sách trọng nông ức thơng nh các triều đại trớc

đó của nhà Nguyễn làm cho tầng lớp thợ thủ công và thơng nhân vừa nhỏ bé

về số lợng và tiềm lực, vừa không đóng vai trò tích cực trong nền kinh tế xãhội Việt Nam thế kỉ XIX Thợ thủ công giỏi bị trng dụng vào làm việc trongcác công trờng thủ công của nhà nớc Thơng nhân Việt Nam thì bị triều đìnhcản trở từ nhiều phía và bị thơng nhân Hoa kiều cạnh tranh Bởi thế, tầng lớpcông thơng ngời Việt do hết sức ít ỏi về số lợng, nhỏ bé về thế lực, hạn chế vềquy mô và trình độ, nên không thể tạo ra một tác động tích cực nào làm chotình hình kinh tế, chính trị, xã hội chuyển biến theo chiều hớng tích cực

Tóm lại, tình hình kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của 4 nớc Đông á nửa

đầu thế kỉ XIX vừa có điểm tơng đồng vừa có điều dị biệt

Về điểm tơng đồng: Đều là những nớc có chế độ quân chủ phong kiến.Nền kinh tế nông nghiệp mang tính tự cung tự cấp, lạc hậu Xã hội đẳng cấptồn tại và duy trì khá lâu đời trong đó trí thức, quan lại (sĩ) và nông dân đợcxếp ở những vị trí hàng đầu còn thơng nhân và thợ thủ công bị coi nhẹ Lànhững nớc có truyền thống văn hoá lâu đời Đạo Phật có ý nghĩa quan trọngtrong tín ngỡng của ngời dân Việc học đợc coi trọng và đề cao

Về điểm khác biệt: Nếu ở Trung Quốc, Việt Nam thể chế chính trị là chế

độ phong kiến tập quyền thì ở Nhật Bản chế độ phong kiến phân quyền theokiểu lỡng đầu chế Mạc phủ - Thiên Hoàng (song trùng) đã đợc thiết lập từ thế

kỉ XVII Việt Nam có sự ổn định chính trị muộn hơn so với ba nớc còn lại.Nền kinh tế của Nhật Bản và Thái Lan bớc đầu mang tính chất sản xuất hànghoá Đặc biệt, thành thị và thơng nhân của hai nớc này khá phát triển Điều đókhông chỉ thúc đẩy sản xuất công thơng nghiệp và nông nghiệp đi lên, mà còntạo điều kiện ơm mầm lực lợng và quan hệ sản xuất mới, t tởng mới, tạo tiền

đề để phong trào cải cách xuất hiện Mặc dù đều là xã hội với nhiều đẳng cấpnhng sự tự biến đổi của một số đẳng cấp trong xã hội ở Nhật Bản và Thái Lanmạnh mẽ và rõ rệt hơn đã tạo ra những lực lợng xã hội quyết tâm đổi mới và

đủ sức đảm trách nhiệm vụ cải cách mà lịch sử đòi hỏi Sự phát triển của giáodục theo hớng cách tân cả về nội dung, hình thức, phơng pháp đã làm biến đổimục đích học tập truyền thống (ngoài học để làm quan còn là học để làm giàu,

để tìm cách xây dựng đất nớc giàu mạnh tiến kịp phơng Tây), tạo ra sức mạnh

Trang 28

tinh thần cho xã hội, từng bớc đào tạo ra một thế hệ mới chủ trì cải cách, làlực lợng tham gia và ủng hộ cải cách và đa cải cách đến thành công Lợi thế vàkhác biệt này chỉ có ở Thái Lan và Nhật Bản còn ở Trung Quốc - cái nôi củaNho giáo và Việt Nam là nớc chịu ảnh hởng sâu sắc của Nho giáo có chăngchỉ thuần tuý ở góc độ học thuật đơn lẻ mà thôi.

Những điểm tơng đồng mà đặc biệt là những điều dị biệt của bốn nớc

Đông á trên đây ở nửa đầu thế kỉ XIX là những yếu tố nội sinh chi phối sốphận của mỗi nớc và khu vực trong phần còn lại của thế kỉ đầy biến động này

1.2 Các nớc Đông á trớc thách thức của lịch sử giữa thế kỉ XIX

1.2.1 Chủ nghĩa thực dân phơng Tây tăng cờng gõ cửa và thực hiện“Vai trò của tầng lớp trí thức ”

chiến tranh xâm lợc Đông á

Sự phát triển của chủ nghĩa t bản Âu - Mĩ nửa đầu thế kỉ XIX, không chỉlàm cho nhu cầu về thị trờng thuộc địa của chủ nghĩa t bản tăng vọt, mà cònthức đẩy sự cạnh tranh giành thuộc địa giữa các cờng quốc t bản ở các khu vựctrên thế giới, trong đó có khu vực Đông á Các nớc phơng Tây đã không ngầnngại gõ cửa và đe doạ sử dụng vũ lực, thực hiện chiến tranh xâm lợc hònggiành u quyền thơng mại và cớp đoạt nhanh chóng thuộc địa ở Nhật Bản,Trung Quốc, Thái Lan và Việt Nam

Với vị trí quan trọng ở Đông Bắc á về chiến lợc, là trạm dừng chân khôngthể thiếu để từ đó toả ra chiếm đoạt thị trờng Trung Quốc và Thái Bình Dơng,Nhật Bản trở thành đối tợng chinh phục của nhiều nớc t bản Âu - Mĩ Ngoạitrởng Mĩ John Quicy Adams từng tuyên bố: “Vai trò của tầng lớp trí thứcSứ mệnh của các quốc gia cơ

đốc giáo là mở cửa Nhật Bản và Nhật Bản phải đáp ứng yêu cầu đó [69; 90]

Đầu thế kỉ XIX, nhiều tầu buôn và chiến hạm của Nga, Anh, Hà Lan, Mĩ đến

Nhật Bản và yêu cầu Mạc phủ phải từ bỏ chính sách toả quốc (sakoku) để mở

cửa thông thơng với thế giới bên ngoài vào năm 1844, Hoàng đế Hà Lan làWiliam đệ nhị gửi th yêu cầu Mạc phủ Tokugawa phải thay đổi chính sách đốingoại để tránh lập lại bài học sai lầm từ Trung Quốc trong Chiến tranh Thuốcphiện Năm 1846, Tổng thống Mĩ J.K Polk phái một đội tầu chiến gồm haichiếc đến cảng Uganda (Phố Hạ) yêu cầu Nhật mở cửa thông thơng nhngkhông thành Tiếp đó, Mĩ rồi Hà Lan, Nga, Anh vẫn tiếp tục gây sức ép vớichính quyền Edo Mạc phủ, một mặt vẫn duy trì chính sách toả quốc nhng có

điều chỉnh, nh bãi bỏ lệnh đánh đuổi tàu thuyền ngoại quốc và cho phép chínhquyền cung cấp than, củi, nớc ngọt, thực phẩm cho tàu thuyền ngoại quốc khicác tàu này đến Nhật Bản, mặt khác, vẫn tăng cờng khả năng phòng thủ bờbiển và bảo vệ cho Edo Tuy nhiên, việc xâm nhập của các tàu ngoại quốc vào

Trang 29

các cảng của Nhật Bản nh Lu Cầu, Nagasaki, Hakodate, Shimoda trở nên tờngxuyên hơn và các lãnh chúa cũng không sẵn sàng chống lại các đoàn tàu ph-

ơng Tây khi thâm nhập vào cảng biển Nhật Bản Năm 1853, Đô đốc M.CPerry đa 4 tàu chiến với những cỗ máy chạy bằng hơi nớc khổng lồ và có khảnăng chạy ngợc chiều gió vào cảng Uraga (Tokyo) khiến một bộ phận giớicầm quyền và dân chúng Edo vô cùng hoảng sợ Bốn chiến hạm của Mĩ đã đa

ra 3 yêu cầu cơ bản buộc chính quyền Edo phải kí Hiệp ớc Kanagawa Hiệp ớcnày chấm dứt 215 năm duy trì chính sách toả quốc của Mạc phủ Tokugawa và

mở ra thời kì Nhật Bản mở cửa với hàng loạt các nớc phơng Tây khác thôngqua các điều ớc đợc kí kết với Nga, Hà Lan, Anh, Pháp Việc kí kết các điều -

ớc với bên ngoài là cố gắng cuối cùng của chính quyền Mạc phủ trong việcduy trì thế chủ động về ngoại giao, nhng nó cũng chứng tỏ sự bất lực tơng đốicủa chính quyền Edo đối với sức ép từ bên ngoài và là tiền đề gây ra nhữngbất ổn bên trong đe doạ tuổi thọ của chính quyền Mạc phủ cũng nh nền độclập của nớc này J.E Hoare hoàn toàn có lí khi cho rằng việc kí các bản hiệp -

ớc đã đa Nhật Bản đến cuộc khủng hoảng nhng không còn sự lựa chọn nàokhác bởi vì nó cha đủ mạnh để chống lại phơng Tây [69; 96] Các cuộc đụng

độ với phơng Tây ở Kagoshima (Sasuma) năm 1863, ở Shimonoseki (Choshu)năm 1864 chứng tỏ thuyết phục điều đó Trong Nhật Bản quá khứ và hiện tại,

tác giả Edwin O Reischeur nhận định: Họ đã rút ra ngay đ “ ợc một bài học

về chứng tỏ một khả năng lạ lùng trong việc định hớng lại cách t duy, họ từ bỏ mọi ý tởng duy trì một chính sách biệt lập hẹp hòi và bắt tay tức khắc vào việc học hỏi các kỹ thuật chiến tranh đã làm cho phơng Tây trở nên mạnh mẽ nh vậy” [69; 154] Biết rút ra ngay bài học kinh nghiệm để sửa chữa kịp thời là

điều kiện rất quan trọng để chuyển nguy thành an, chuyển bại thành thắng.Cũng nh Nhật Bản, ở Trung Quốc lúc bấy giờ, chính quyền Mãn Thanhthực thi chính sách đóng cửa tuyệt giao với bên ngoài để tự vệ, nhng điểmkhác ở đây là tính tuyệt đối của nó Họ ra lệnh phong toả các vùng duyên hải

và cấm buôn bán với ngời ngoại quốc Chính sách này trái ngợc với mongmuốn của chủ nghĩa t bản phơng Tây mà tiêu biểu là các cờng quốc Anh,Pháp, Mĩ đang tham vọng xâm chiếm thị trờng khổng lồ Trung Quốc nhanh vànhiều hơn nữa Để mở cửa thị trờng đầy tiềm năng này, thực dân Anh dùngthuốc phiện làm chìa khoá Thuốc phiện là mặt hàng đã có mặt ở thị trờngTrung Quốc từ thế kỉ XVII Anh quốc thông qua công ty Đông ấn, Mĩ thôngqua Thổ Nhĩ Kì, còn Nga qua vùng Trung á, tuồn thuốc phiện vào TrungQuốc để đổi lấy trà xanh và tơ lụa Việc buôn bán thuốc phiện đã làm cho

Trang 30

kinh tế Trung Quốc sa sút nghiêm trọng, bạc trắng chảy ra nớc ngoài ngàycàng nhiều và đặc biệt là gây ra những vấn nạn nghiêm trọng về xã hội Từquan lại thơng gia, nhân sĩ đến binh lính và những ngời lao động nghèo khổcũng nghiện hút thuốc phiện Quan lại tham ô hà hiếp dân, tiếp tay cho bọnbuôn thuốc phiện để hởng lợi Binh lính hút sách nên tinh thần chiến đấu trởnên bạc nhợc Ngời dân lao động và gia đình đói khổ vì có ngời nghiện hút.Thuốc phiện huỷ hoại đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân và thúc đẩyTrung Hoa đứng trớc nguy cơ bị nô dịch Theo Tôn Thiết, trớc năm 1840, ngờiAnh đã chuyển vào Trung Quốc hơn 400.000 thùng thuốc phiện và thu củaTrung Quốc chừng 300 - 400 triệu đồng bạc trắng [69; 241] Nhận thức đợcthảm hoạ khôn lờng đó, năm 1838, chỉ trong vòng 3 tháng, Lâm Tắc Từ đã balần dâng tấu lên vua Đạo Quang xin đợc nghiêm trị những ngời nghiện thuốcphiện và triệt phá các con đờng vận chuyển thuốc phiện vào Trung Quốc.Phong trào chống thuốc phiện ở Quảng Châu do Lâm Tắc Từ khởi xớng đầunăm 1839 đợc nhân dân hết sức ủng hộ Ông ra lệnh thiêu huỷ hơn 20.000thùng thuốc phiện, phong toả các thơng điếm ở Anh và tìm nhiều biện phápngăn chặn việc trao đổi buôn bán thuốc phiện giữa thơng nhân Anh và TrungQuốc Phong trào chống thuốc phiện ở Quảng Châu trở thành đốm lửa thứctỉnh tinh thần dân tộc của ngời Trung Quốc, nhng cũng tạo cớ để ngời Anhcan thiệp quân sự vào đế quốc phong kiến lớn nhất châu á Tháng 6 năm

1840, chính phủ Anh phát động chiến tranh xâm lợc Trung Quốc Hạm độiAnh do Charler Ellewart (Saclơ Enliớt) chỉ huy với 4000 binh lính (sau bổsung thành 15000) và 540 khẩu pháo từ ấn độ kéo tới vùng biển Quảng Đôngthực thi cuộc Chiến tranh Thuốc phiện lần thứ nhất (1840 - 1842) Đại bác vàchiến hạm của một cờng quốc t bản đã nhanh chóng quật ngã quân đội của gãphong kiến khổng lồ Trung Quốc Nền văn minh phong kiến Hoa Hạ đãkhông thể chống đỡ nổi sức mạnh của nền văn minh công nghiệp Bởi vậy,triều đình Mãn Thanh nhanh chóng phải kí hiệp ớc Nam Kinh cắt Hồng Công,bồi thờng chiến phí 21 triệu bảng, mở 5 cửa khẩu: Quỳ Châu, Phúc Châu, HạMôn, Ninh Ba, Thợng Hải cho ngời Anh thông thơng, cho phép ngời Anh đợclập lãnh sự quán tại đó, thơng nhân Anh có quyền giao dịch buôn bán ở cáccửa khẩu thông thơng; Việc quy định thuế xuất nhập khẩu của hải quan củaphải đợc bàn bạc với Anh Một năm sau, Trung Quốc phải kí Điều ớc HổMôn, tiếp tục giành cho Anh nhiều đặc quyền mới nh quyền lãnh sự tài phán,quy chế tối huệ quốc một chiều giành cho nớc ngoài Hiệp ớc Nam Kinh mởmàn cho việc triều đình Mãn Thanh phải kí một loạt hiệp ớc bất bình đẳng với

Trang 31

Pháp, Mĩ, chấp nhận mở cửa và công nhận quyền tham gia buôn bán của

th-ơng gia nớc ngoài tại Trung Quốc Tiếp đó, vào các năm từ 1856 - 1860, đợc

sự hậu thuẫn của Nga và Mĩ, lợi dụng lúc nhà Thanh đang phải đối phó vớigiặc Khăn Vàng, Anh, Pháp đòi gia tăng điều kiện mới trong hiệp ớc NamKinh và lấy đó làm điều kiện để mặc cả với Mãn Thanh khi tham gia đàn ápkhởi nghĩa Thái Bình Thiên Quốc Lấy cớ việc tàu Arao của Anh bị thuỷ quânTrung Quốc bắt giữ và một số nhà truyền giáo ngời Pháp bị giết, vào năm

1857, liên quân Anh - Pháp đánh chiếm Quảng Châu buộc triều đình MãnThanh kí hiệp ớc Thiên Tân bồi thờng chiến phí và nhân nhợng theo yêu cầucủa kẻ thù Cha chịu dừng lại, liên tục trong các năm 1859 - 1860, liên quânAnh - Pháp tiếp tục tấn công Thiên Tân và Bắc Kinh khiến vua Thanh phảichạy trốn và sau đó kí Điều ớc Bắc Kinh (10/1860) bồi thờng 8 vạn lạng bạc,

mở thêm cửa biển Thiên Tân và cắt vùng biển Cửu Long cho Anh

Các cuộc Chiến tranh Thuốc phiện lần 1, lần 2 ở Trung Quốc chứng tỏ chủnghĩa t bản Âu - Mĩ dùng mọi thủ đoạn và không từ bỏ sử dụng vũ lực để mởcửa và nô dịch Trung Quốc Sự thất bại của Trung Quốc Thiên triều trong haicuộc chiến tranh chứng tỏ sự yếu thế của vũ khí, phơng tiện chiến tranh, kỹthuật và trình độ tác chiến của binh lính nớc này so với phơng Tây Thất bạitrong chiến tranh Trung - Nhật (1894 - 1895) đòi hỏi phải cải cách đất nớctoàn diện Mất nớc từng phần đã rõ ràng nhng có dẫn đến mất nớc toàn phầnhay không là câu hỏi mà cả dân tộc Trung Hoa đang nỗ lực tìm sự hoá giải

So với Trung Quốc, sức ép của các nớc phơng Tây đối với Xiêm diễn rakhá sớm, ở mức độ tơng đối quyết liệt và liên quan trực tiếp đến nền độc lậpcủa nớc này Ngay từ năm 1628 - 1639, nớc này đã phải đối đầu với cuộcchiến tranh của liên quân Tây Ban Nha - Bồ Đào Nha với sự giúp đỡ của HàLan Tiếp đó là các cuộc chiến Xiêm - Hà Lan (1864), Xiêm - Anh, Xiêm -Pháp (1867) Chính quyền Xiêm đã sớm phải nỗ lực rất nhiều để hoá giải sức

ép từ bên ngoài nhằm duy trì nền độc lập của nớc mình Bởi vậy, nớc này có

bề dày kinh nghiệm hữu ích trong việc đối phó với sức ép đòi mở cửa của cácnớc phơng Tây ở thế kỉ XVIII và đầu thế kỉ XIX, Xiêm có vẻ rảnh rang hơntrong cuộc đối chọi với phơng Tây do các nớc t bản Âu - Mĩ đang vớng bậntiến hành các cuộc cách mạng t sản và đối phó với các cuộc chiến tranh củaNapôlêông Từ giữa thế kỉ XIX, vơng quốc Xiêm đứng trớc những thách thứcmới Làn sóng bành trớng của chủ nghĩa thực dân biến Đông Nam á thành

đấu trờng tranh chấp quyết liệt giữa các cờng quốc t bản mà đặc biệt là Anh vàPháp Việc Anh chiếm đợc khu vực xung quanh Pênang trên bán đảo Mã Lai

Trang 32

và xâm lợc Miến Điện (1824 - 1826; 1851 - 1853) đe doạ biên giới phía Nam

và phía Tây Xiêm Hơn thế nữa, việc pháp chiếm Nam Bộ Việt Nam, biếnCampuchia thành xứ bảo hộ (1863) đã đặt biên giới phía Đông Xiêm trớc tìnhtrạng báo động Từ năm 1845, các hạm đội Anh tăng cờng hoạt động trênsông Mênam, đe doạ trực tiếp đến thủ đô Bangkok Đầu năm 1855, Anh cửmột phái đoàn do thống đốc Hồng Công John Bowring dẫn đầu đến thăm nớcnày, nhằm mục đích buộc Xiêm phải mở cửa thị trờng cho t bản Anh và tỏ ý

sẽ sử dụng vũ lực nếu yêu cầu này không đợc chấp thuận Để cứu vãn nền độclập, Xiêm buộc phải nhún mình kí hiệp ớc (18/4/1855) với nhiều nhân nhợngquan trọng Tiếp đó, vào năm sau, trớc sức ép của Mĩ và Pháp, Xiêm buộcphải kí với hai nớc này các bản hiệp định tơng tự đã kí với Anh trớc đó Không

bỏ lỡ cơ hội, một loạt các nớc phơng Tây khác nh Đan Mạch, Bồ Đào Nha, HàLan, Phổ đã lần lợt kí kết các hiệp định với Thái Lan vào các năm 1858, 1859,

1860, 1862 Việc phải kí một loạt hiệp định bất bình đẳng với các nớc t bảnphơng Tây chứng tỏ độc lập chủ quyền của nớc này đang bị đe doạ nghiêmtrọng, hoà hoãn và nhân nhợng với kẻ thù là phơng cách tạo khoảng thời gianhoà bình để tính kế lâu dài Điều này có lẽ là điểm chung của các nớc Đông á

nh Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan và Việt Nam lúc bấy giờ

Cũng giống nh Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam sớm bị chủnghĩa t bản phơng Tây nhòm ngó ảnh hởng của t bản pháp và văn minh ph-

ơng Tây là một trong những nhân tố quan trọng giúp nguyễn ánh đoạt đợc

v-ơng quyền trên toàn cõi nớc Nam vào năm 1802 Chính sách đóng cửa và cấm

đạo của các vua triều Nguyễn kế tiếp Gia Long nh Minh Mạng (1820 - 1840),Thiệu Trị (1840 - 1848) tạo cớ để thực dân Pháp gây sức ép và đe doạ dùng vũlực thực hiện mục tiêu xâm lợc của mình vào nớc ta Bởi vì, chính C Gosselin,một võ quan Pháp đã thẳng thắn thừa nhận: “Vai trò của tầng lớp trí thứcSự thật thì các nhà truyền giáochỉ là lí do của những hành động của chúng ta chống lại An Nam mà thôi [59;207] Sau khi bị Anh gạt ra khỏi ấn Độ (1822), thực dân Pháp càng đặc biệtquan tâm đến Việt Nam Các năm 1822, 1825, Pháp cho tàu chiến vào ĐàNẵng đòi triều đình Huế thả giáo sĩ và đòi tự do buôn bán Năm 1843, mộtnăm sau khi Anh quốc giành đợc ảnh hởng đáng kể ở Trung Quốc, một quanchức hàng đầu của Pháp cho rằng, nớc Pháp phải có hai cái bảo đảm ở Viễn

Đông là vùng biển Trung Hoa và Việt Nam [59; 208] Năm 1845, hai tàuchiến Pháp vào thị uy ở cửa biển Đà Nẵng Hai năm sau, hai tàu chiến Pháptiếp tục vào Đà Nẵng hăm doạ Nghiêm trọng hơn, vào tháng 4 năm 1847, tàuchiến Pháp tiến vào Đà Nẵng và bắn chìm 5 chiến thuyền của triều đình Huế

Trang 33

[101; 32 - 35] Những vấn đề nội bộ nh cuộc cách mạng 1848 và sự thiết lập

đế chế II của Napôlêông Bônapác làm chậm quá trình xâm lợc Việt Nam củathực dân Pháp Sau khi liên minh với Anh, Mĩ buộc triều đình Mãn Thanhphải kí hiệp ớc Thiên Tân (27/6/1858), Pháp kéo quân viễn chinh từ chiến tr-ờng Trung Quốc xuống đánh chiếm Việt Nam Ngày 31 tháng 8 năm 1858,liên quân Pháp - Tây Ban Nha dàn trận tại cửa biển Đà Nẵng Lực lợng Phápvới 2500 quân và 13 tàu chiến do Phó Đô Đốc R de Genouilly chỉ huy QuânTây Ban Nha chỉ có 450 tên và một tàu chiến do đại tá Lanzarotte chỉ huy[101; 35] Rạng sáng ngày 1 tháng 9, không chờ quân triều đình trả lời tối hậu

th, liên quân Pháp - Tây Ban Nha đã nã hàng trăm quả đại bác lên đất liền và

đánh chiếm bán đảo Sơn Trà mở đầu quá trình xâm lợc Việt Nam kéo dài

trong vòng một phần t thế kỉ Kể từ đó, Tự Đức lại chọn giải pháp nhợng đất

cầu hoà để tập trung vào việc đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân trongnớc và bảo vệ vơng triều nên trợt dài trên con đờng đầu hàng Nh vậy, nửa đầuthế kỉ XIX, tình hình chính trị Việt Nam lẽ ra đi vào thế ổn định với quá trìnhcủng cố vơng triều mạnh mẽ của nhà Nguyễn, nhng lại rơi vào tình thế chứa

đựng nhiều sự bất ổn, do sự bất cập của đờng lối đối nội và đối ngoại của triều

đình gây ra Những bất ổn này phát sinh ra nhiều hệ luận cực kì nan giải vàonửa sau thế kỉ XIX

Việc triều đình nhà Nguyễn chủ trơng cầu hoà và dâng từng phần lãnh thổnớc ta cho Pháp vào các năm 1862, 1867, mà đặc biệt là Hiệp ớc Giáp Tuất(1874), theo gơng xấu Mãn Thanh, làm cho nguy cơ mất nớc ngày càng lớn vàthời cơ cứu nớc bảo vệ độc lập chủ quyền dân tộc ngày càng nhỏ dần

Nh vậy, sức ép của chủ nghĩa thực dân phơng Tây đặt ra cho các nớc Đông

á nói chung, trong đó có Nhật Bản, Trung Quốc, Việt Nam và Thái Lan,nhiệm vụ bức thiết là bảo vệ nền độc lập dân tộc trong bối cảnh so sánh lực l-ợng giữa những nớc này với các nớc thực dân phơng Tây hoàn toàn bất lợi.Làm thế nào để giữ vững đợc độc lập dân tộc là nhiệm vụ chiến lợc và tháchthức thứ nhất của lịch sử đối với mỗi nớc? Trả lời câu hỏi này cũng chính làthực hiện nhiệm vụ chiến lợc thứ hai ở mỗi dân tộc là làm gì và làm nh thế nào

để trong khoảng thời gian ngắn nhất có thể nâng cao sức mạnh toàn diện của

đất nớc, thúc đẩy tiến bộ xã hội Với tinh thần đó, hiểm hoạ thực dân còn tạo

ra “Vai trò của tầng lớp trí thứcmột chất xúc tác lịch sử” (chữ dùng của Vũ Dơng Ninh) để thúc đẩy

những yếu tố nội sinh biến chuyển nhanh hơn, đáp ứng kịp thời hơn nhữngyêu cầu mà lịch sử đặt ra

1.2.2 Những mâu thuẫn nội tại ở các nớc Đông á

Trang 34

Trớc khi chủ nghĩa thực dân phơng Tây nã đại bác vào các nớc Đông á, ởNhật Bản, Trung Quốc, Việt Nam và Thái Lan đã tồn tại nhiều vấn đề về kinh

tế xã hội cần giải quyết Sức ép ngày càng lớn của các nớc đế quốc Âu - Mĩcàng làm cho những mâu thuẫn nội tại gay gắt và quyết liệt hơn

Cả bốn nớc trên, mặc dù tiềm lực kinh tế - thơng mại của Nhật Bản vợt trộihơn so với ba nớc còn lại, nhng đều cùng chung nhu cầu phát triển kinh tế, mởrộng buôn bán, nâng cao sức mạnh toàn diện của đất nớc và cải thiện đời sốngnhân dân Trong bối cảnh lực lợng phong kiến cầm quyền vẫn duy trì chínhsách toả quốc, đàn áp khốc liệt các phong trào đấu tranh của nhân dân, tiếptục thực hiện sự độc tôn về t tởng bộ máy chính quyền ngày càng quan liêu

và mất lòng dân, không đủ khả năng điều hành đất nớc trớc những thách thứccủa dân tộc và thời đại Phong trào khởi nghĩa của các tầng lớp nhân dân bùnglên mạnh mẽ với số lợng và quy mô cha từng có Trong vòng 67 năm (1800 -1867), ở Nhật Bản đã có tới 538 cuộc khởi nghĩa diễn ra từ nông thôn đếnthành thị Tại Việt Nam, sôi động với các cuộc khởi nghĩa của Phan Bá Vành,Nông Văn Vân, Lê Văn Khôi, Cao Bá Quát Sau các hoà ớc 1862, 1867 và

1874, phong trào khởi nghĩa của Trơng Công Định, Thủ Khoa Huân, Trơng

Định tiếp tục dậy sóng ở Nam Bộ Từ Hiệp ớc Giáp Tuất trở đi cả thực dânPháp và triều đình Huế đều trở thành đối tợng của các cuộc khởi nghĩa Tơng

tự nh vậy, tại Trung Quốc, khởi nghĩa nông dân Thái Bình Thiên Quốc diễn raròng rã 14 năm (1851 - 1864) và lan rộng khắp 18 tỉnh thành xứng đáng làcuộc khởi nghĩa nông dân lớn nhất, vĩ đại nhất trong lịch sử cận đại Tiếp đó

là phong trào Nghĩa Hoà Đoàn (1890 - 1900), vừa chống phong kiến, vừa

chống đế quốc với khẩu hiệu “Vai trò của tầng lớp trí thứcPhản Thanh, phục Minh” và sau đó chuyển hẳn sang mục tiêu chống đế quốc với khẩu hiệu Phù Thanh, diệt D “ ơng ” Khácvới các nớc Nhật Bản, Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan là nớc có nền chínhtrị ổn định, mối quan hệ giữa triều đình (vua, quý tộc, hoàng gia) với dân khábình ổn nên không có những mâu thuẫn nội bộ về chính trị xã hội Tơng tự nhNhật Bản, Trung Quốc, Việt Nam, thách thức về đối nội của bộ máy nhà nớcquân chủ tập quyền ở Thái Lan là làm thế nào để nhanh chóng khắc phục tìnhtrạng kinh tế công thơng nghiệp kém phát triển, sự lạc hậu về t tởng và khoahọc kỹ thuật, nâng cao hiệu lực của bộ máy nhà nớc, giải quyết các vấn đề xãhội, củng cố quốc phòng và an ninh vững mạnh theo hớng cận đại hoá Điềukiện tiên quyết để hoàn thành khối lợng lớn những đòi hỏi đó chỉ có thể là mộtcuộc cách mạng, hoặc là tiến hành cải cách, duy tân toàn diện, tự cờng và cận

Trang 35

đại hoá đất nớc Xét trong điều kiện lịch sử lúc bấy giờ, đó chỉ có thể là phongtrào cải cách, duy tân mà thôi.

Nh vậy, trong bối cảnh của quốc tế và khu vực, bốn nớc Đông á là NhậtBản, Trung Quốc, Việt Nam và Thái Lan, vào giữa thế kỉ XIX, tuy mỗi nớc có

điều kiện lịch sử đặc thù và những mục tiêu nhiệm vụ cụ thể khác nhau, nhng

đều có hai mục tiêu và nhiệm vụ chiến lợc tơng đồng là:

1 Bảo vệ độc lập, chủ quyền an ninh và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia - dân tộc

2 Cải cách, duy tân tự cờng để phát triển đất nớc về mọi mặt (chính trị,kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật, quân sự); tăng cờng sức mạnh nội lực vàtừng bớc nâng cao uy tín, vị thế của nớc mình trên trờng quốc tế

Hai nhiệm vụ này có mối quan hệ hữu cơ và biện chứng với nhau: có bảo

vệ đợc độc lập dân tộc, chủ quyền, an ninh và toàn vẹn lãnh thổ mới có thể cảicách, duy tân tự cờng để phát triển; ngợc lại, có cải cách duy tân tự cuờngthành công, thì mới có đủ khả năng, tiềm lực để bảo vệ vững chắc độc lập, chủquyền, an ninh và toàn vẹn lãnh thổ của đất nớc Rõ ràng, với bối cảnh và điềukiện lịch sử lúc bấy giờ thì không thể đặt vấn đề u tiên thực hiện nhiệm vụ nàotrớc, nhiệm vụ nào sau, mà phải tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ; nhiệm vụnày vừa là tiền đề, là cơ sở và điều kiện để thực hiện nhiệm vụ kia và ngợc lại.Tuỳ từng điều kiện hoàn cảnh và yêu cầu lịch sử cụ thể, việc xác định mụctiêu cụ thể sẽ có sự khác biệt nhằm hớng tới mục tiêu cuối cùng là hoàn thànhthắng lợi những nhiệm vụ chiến lợc đã đề ra Xét trong bối cảnh quốc tế vàkhu vực Đông á lúc bấy giờ, trong giai đoạn trớc mắt, yêu cầu đấu tranhchống ngoại xâm, bảo vệ độc lập chủ quyền dân tộc mang tính cấp bách hơn

Độc lập là nền tảng cho mọi sự phát triển Đó là quy luật của muôn đời

Tóm lại, vào giữa thế kỷ XIX, các nớc Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam

và Xiêm, trớc làn sóng xâm lợc của chủ nghĩa thực dân phơng Tây và những

đòi hỏi cấp bách của nội bộ mỗi nớc, đang đứng trớc những thách thức lịch sử

to lớn là bảo vệ độc lập dân tộc và phát triển đất nớc tiến cùng thời đại Đểhoá giải đợc những thách thức đó là hết sức khó khăn Có 3 khả năng xảy ra

nh sau:

Thứ nhất, tiến hành kháng chiến để bảo vệ độc lập dân tộc.

Thứ hai, đầu hàng và chịu cúi đầu làm nô lệ.

Thứ ba, tạm thời hoà hoãn và nhân nhợng với kẻ thù, tranh thủ thời cơ tiến

hành cải cách, canh tân để nâng cao tiềm lực và sức mạnh của dân tộc Khithực lực đã đủ mạnh, thông qua đấu tranh ngoại giao để khôi phục hoàn toànchủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nớc

Trang 36

1.3 Tầng lớp trí thức một số nớc Đông á trớc vận mệnh của dân tộc ở giữa thế kỉ XIX

1.3.1 Thái độ của các giai cấp, tầng lớp ở Nhật Bản, Trung Quốc, Việt Nam và Thái Lan trớc vận mệnh của dân tộc

Trớc thách thức của lịch sử, vận mệnh mất còn của mỗi dân tộc ở khu vực

Đông á phụ thuộc rất lớn vào thái độ của lực lợng cầm quyền và các tầng lớpnhân dân

Lúc bấy giờ, lực lợng cầm quyền ở Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan, ViệtNam đều là đại biểu của chế độ phong kiến Lực lợng này từ rất sớm đã thấy

đợc mối đe doạ của chủ nghĩa t bản phơng Tây Bởi vậy, họ chủ trơng thựchiện chính sách đóng cửa nhằm hạn chế sự xâm nhập từ bên ngoài vào để bảo

vệ độc lập, chủ quyền của đất nớc Chính sách đóng cửa đợc duy trì trong mộtthời gian dài dẫn đến nền kinh tế trong nớc bị ngng bế, suy sụp, đời sống nhândân giảm sút, mâu thuẫn xã hội gia tăng Hơn nữa, chính sách đóng cửa trongthời kì cận thế với sự phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa t bản và nền văn minhcông nghiệp, đã cản trở quy luật phát triển chung của lịch sử và tạo cớ để chủnghĩa thực dân phơng Tây đòi mở cửa để giao thơng và tấn công xâm lợc Nền

độc lập của mỗi nớc đứng trớc nguy cơ bị thôn tính Đối với giới cầm quyền,mất nớc đồng nghĩa với mất quyền lực, địa vị, của cải, bổng lộc Trớc tình thế

đó, trong lực lợng cầm quyền ở mỗi nớc diễn ra cuộc đấu tranh nội bộ khi âmthầm, lúc công khai nhng không kém phần gay gắt Nhìn chung, lực lợng cầmquyền phân chia thành hai phái là phái chủ chiến và phái chủ hoà Ngoại trừmột số nhân vật đầu lãnh và một số thành viên trung thành tuyệt đối, thànhphần lực lợng từng phái có sự tăng giảm tuỳ từng theo thời điểm do sự biến

đổi của thời cuộc Trớc năm 1854, đa số lực lợng trong giới cầm quyền ở Nhật

đều thuộc phái chủ chiến, kể cả Nhật Hoàng và các lãnh chúa ở một số hanmiền Tây và miền Tây Nam, nơi có sự tiếp xúc sớm hơn với những giá trị củanền văn minh phơng Tây và có nền kinh tế hàng hoá phát triển mạnh Thất bạitrong hai cuộc đụng đầu quân sự giữa lực lợng chủ chiến ở các han Satsuma vàChoshu với thực dân Anh, Pháp, Hà Lan làm cho nhiều ngời tỉnh ngộ - nếuquyết chiến trong khi so sánh lực lợng quá chênh lệch thì nhất định sẽ mất độclập dân tộc Tơng tự, cuộc tranh biện giữa phe chủ hoà và phe chủ chiến ởTrung Quốc cũng chỉ lắng xuống khi quân triều đình thất bại trong hai cuộcChiến tranh Thuốc phiện với quân đội phơng tây và một lần với quân độiNhật đã đợc lột xác sau Duy Tân Minh Trị Tình hình ở Việt Nam cũng khôngkhác gì so với Trung Quốc Có điều, nếu ở Nhật Bản, chủ trơng Hoà là hoà

Trang 37

sách lợc, hoà trong tâm thế chủ động nhằm tạo ra và tranh thủ thời gian hoàbình quý báu để cải cách và duy tân đất nớc, để quốc phú, cờng binh, tiến tới

đòi lại chủ quyền và độc lập toàn vẹn; thì ở Trung Quốc và Việt Nam, chủ tr

-ơng hoà với giặc chủ yếu xuất phát từ thái độ lo sợ và cúi đầu trớc sức mạnh

của phơng Tây, mơ hồ về kẻ thù, hi vọng thoả hiệp, tiến tới xin giặc rủ lòng “ thơng” (Trần Dân Tiên) để đòi lại đất đai và chủ quyền đã mất Tự Đức là đại

diện tiêu biểu của kiểu hoà này ở Việt Nam Còn lực lợng hoà sách lợc trong

phe chủ hoà là nh “ sao buổi sớm” (Nguyễn Trãi) Riêng ở Thái Lan, một nớc

quân chủ thần quyền, vua có uy quyền to lớn và đợc các thần dân - Phật tử tintởng và phục tùng, tình hình có những nét riêng biệt hơn Trớc sự đe doạ vànguy cơ xâm lợc của phơng Tây, cuộc đấu tranh trong giới cầm quyền (Hoànggia, quý tộc) không tới mức chiến hay hoà mà chỉ chia thành hai phe bảo thủ

và cải cách Vua và đa số hoàng gia, quý tộc sớm nhận thức đợc quy luật pháttriển, điều kiện và yêu cầu của đất nớc, nên chủ trơng mở cửa với phơng Tây,nhân nhợng quyền lợi của đất nớc để bảo toàn nền độc lập, lợi dụng vị thế nớc

đệm và đờng lối ngoại giao thực tế uyển chuyển để hoá giải nguy cơ Lực lợngnày hợp thành phe cải cách Một số quý tộc và cả hoàng gia, do nhiều lí do,tạo thành phái bảo thủ chống đối lại việc mở cửa và canh tân đất nớc Sự phânhoá của lực lợng cầm quyền lúc bấy giờ, đặt trong truyền thống chính trị ph-

ơng Đông, có ảnh hởng rất lớn đến các lực lợng xã hội còn lại

Nếu tại Nhật Bản, ban đầu phe chủ hoà để canh tân đất nớc không đợc cảHoàng đế, nhiều lãnh chúa và samurai ủng hộ, thì càng về sau lực lợng nàycàng đông đảo với sự hậu thuẫn của tầng lớp thơng nhân giàu có, đông đảosamurai và đa số nông dân Cuối cùng, Hoàng đế đã đứng về phía họ Từ

“Vai trò của tầng lớp trí thứcTôn vơng, nhợng Di” (Sonojoy) chuyển sang “Vai trò của tầng lớp trí thứcTôn vơng, đảo Mạc” Lật đổ

Mạc phủ, ủng hộ thiên hoàng, tức là ủng hộ phe cải cách, do đội ngũ samurai

cấp tiến đứng đầu để: Học tập ph “ ơng Tây, đuổi kịp phơng Tây, và vợt phơng Tây” Còn Trung Quốc và Việt Nam, với tình trạng độc tôn Nho giáo và chính

sách đóng cửa, trình độ nhận thức, sự hiểu biết về thế giới bên ngoài từ vua

đến quan, từ quan đến dân còn rất hạn chế Điều này dẫn đến khi đứng trớc

điều kiện lịch sử mới, một kẻ thù mới, đa số nhân dân vẫn thực hiện phơng

thức ứng xử truyền thống và bản năng là “Vai trò của tầng lớp trí thứcgiặc đến nhà đàn bà cũng đánh”.

Yêu nớc đối với họ chỉ có thể là đánh giặc tới cùng khi Tổ quốc bị xâm lăng.Vì thế, lực lợng chủ chiến có sự hậu thuẫn đông đảo là lực lợng nông dân ởlàng xã và các tầng lớp khác trong xã hội Phong trào kháng chiến sục sôi saukhi thực dân Pháp nổ súng ở Đà Nẵng Đặc biệt, từ khi triều đình nhà Nguyễn

Trang 38

không đứng về phía nhân dân kháng chiến, mà quy thuận kẻ thù, thì nhân dân,dới sự lãnh đạo của phe chủ chiến quyết đánh cả phong kiến lẫn thực dân:

“Vai trò của tầng lớp trí thứcPhen này quyết đánh cả triều lẫn Tây” Còn ở Trung Quốc, từ Phản Thanh, “ phục Minh”, nhân dân chuyển sang khẩu hiệu Phản Thanh, diệt D “ ơng” Tại

Thái Lan, xu hớng ủng hộ phe cải cách do các vua dòng Rama kế tiếp nhau

đứng đầu vẫn là dòng chảy chủ yếu Lực lợng cải cách đợc sự hậu thuẫn chắcchắn của thơng nhân cỡ bự (ngời Hoa), trí thức tiến bộ, mà đặc biệt là trí thứcTây học, s sãi cùng đa số thần dân theo đạo Phật luôn có lòng tin về một tơnglai tốt đẹp khi sống vị tha, thuận hoà nơi trần thế

Nh vậy, thái độ của các giai cấp tầng lớp ở một số nớc Đông á trớc nguycơ mất còn của dân tộc đã chứng tỏ, việc hóa giải thách thức lịch sử khi vậnmệnh dân tộc đứng trớc sự tồn vong là hết sức phức tạp và nan giải Để có mộtthái độ đúng trớc những biến đổi của thời cuộc lúc bấy giờ đòi hỏi rất nhiềuyếu tố, trong đó truyền thống lịch sử văn hoá, tiền đề kinh tế, chính trị và t t-ởng, trình độ trí tuệ của dân tộc, bao gồm cả quan trí và dân trí là hết sức quantrọng Thái độ đúng là biểu hiện của nhận thức đúng, t duy đúng, là cơ sở củahành động đúng nhằm hớng tới một kết quả tốt đẹp hơn, né tránh đợc những

hệ luỵ đau buồn dai dẳng của lịch sử

1.3.2 Sự phân hoá của lực lợng trí thức và sự xuất hiện của tầng lớp trí thức canh tân ở một số nớc Đông á

1.3.2.1 Khái niệm trí thức

Trí thức là một vấn đề lớn, phức tạp, luôn thu hút sự quan tâm của đông

đảo các nhà nghiên cứu, những ngời hoạt động chính trị Vì thế, có rất nhiều

định nghĩa khác nhau về khái niệm trí thức

Theo tiếng Latinh, thuật ngữ trí thức (Intelligentia) chỉ những ngời có hiểu

biết, có tri thức Tầng lớp xã hội này bao gồm những ngời chuyên lao động tríóc

Theo V.I Lênin: Tôi dịch ng “ ời trí thức, tầng lớp trí thức theo ngữ nghĩa

Đức là Literat, Literatentum, bao gồm không chỉ các nhà văn học mà là tất cả những ngời có văn hoá, những ngời làm nghề tự do nói chung, những đại biểu của lao động trí óc (brain worker, nh ngời Anh nói) để phân biệt với những

đại biểu của lao động chân tay ” [27; 11]

Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa: “Vai trò của tầng lớp trí thứctrí thức là tầng lớp xã hội làm

nghề lao động trí óc, trong đó, bộ phận chủ yếu là những ngời có học vấn cao,hiểu biết sâu rộng chuyên môn của mình, có sáng tạo và phát minh”

Trang 39

Có thể hiểu: Trí thức là một thuật ngữ xã hội - lịch sử dùng để chỉ tầnglớp xã hội của những ngời có học, đại diện cho trí tuệ xã hội, làm nghề lao

động trí óc, giữ vai trò là lực lợng sáng tạo, truyền bá tri thức, duy trì và pháttriển nền văn hoá dân tộc và nhân loại

1.3.2.2 Sự phân hoá của tầng lớp trí thức một số nớc Đông á

Trong tác phẩm Lí luận về giá trị thặng d, tập 4 của bộ T Bản, Mác chỉ rõ

trong ba hình thức lao động trí óc thì hai hình thức nằm trong khu vực phi sảnxuất vật chất, chỉ còn hình thức thứ ba nằm trong khu vực sản xuất vật chất[27; 12 - 13] Căn cứ vào tiêu chuẩn phân loại mang tính phơng pháp luận củaMác, soi vào điều kiện lịch sử cụ thể ở Đông á giữa thế kỉ XIX, có thể thấythành phần xã hội của trí thức chủ yếu gồm những đối tợng cơ bản nh sau:

và các giáo luật khác mà còn đảm nhiệm công việc lao động trí óc, nắm giữ,nghiên cứu và truyền thụ tri thức [99; 101] Tầng lớp sĩ ở Trung Quốc xuấthiện vào cuối thời nhà Chu [24] Ban đầu, họ chỉ là th lại Do có u thế đặc biệt

là biết chữ nên sĩ là ngời nắm giữ tri thức trong xã hội Họ chính là những tríthức đầu tiên trong xã hội Trung Quốc cổ đại [99; 101] Dần dần, sự thay đổicác hình thức học tập, sự ra đời và đua tranh ảnh hởng giữa các học thuyết tôngiáo, học thuyết chính trị trong khu vực đã thúc đẩy tầng lớp trí thức ở các nớc

Đông á gia tăng nhanh chóng về số lợng, thành phần và nâng cao vai trò, vịtrí xã hội của bản thân Nho giáo và Phật giáo chính là hai yếu tố ban đầu thúc

đẩy mạnh mẽ và sâu đậm nhất đối với sự ra đời và phát triển của tầng lớp tríthức ở Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan và Việt Nam

Trang 40

Trớc hết nói về Nho giáo (Khổng giáo) Đó là một học thuyết chính trị đạo

đức có tinh thần duy lí và tính nhập thế rất cao, do Khổng Tử (551 - 479Tr.CN) sáng lập ra Đến thời nhà Hán, Nho giáo trở thành hệ t tởng thống trịcủa chế độ phong kiến Trung Quốc và nhanh chóng ảnh hởng đến các nớcxung quanh Vào thế kỉ II, Nho giáo truyền sang Triều Tiên và truyền xuốngViệt Nam Đến thế kỉ VI, Nho giáo từ Triều Tiên vợt biển sang đất nớc Mặttrời mọc Khác với nơi sinh ra, Nho giáo ở những nơi du nhập nh Việt Nam,

Nhật Bản đã đợc khúc xạ (chữ dùng của Phan Ngọc) trong quá trình tiếp nhận.

Từ thời Tuỳ Đờng, nhiều nớc Đông á cùng chung một hệ t tởng thống trị độctôn là Nho giáo Không phải ngẫu nhiên mà Nho giáo lại có sự lan toả nhanh

và một địa vị đáng nể nh vậy Mặt tích cực dễ nhận thấy của Nho giáo là: họcthuyết đầu tiên chuyên sâu nghiên cứu về con ngời; đề cao tri thức, trí tuệ; đềcao việc học hành; coi trọng các giá trị đạo đức tinh thần và giá trị nhân văn;giải quyết các vấn đề xã hội trên cơ sở phân định vai trò chức năng của từngngời trong xã hội, quy định thái độ ứng xử và mối quan hệ giữa các thành viên

đó với nhau dựa trên nền tảng đạo đức Nho giáo còn bộc lộ một số mặt hạnchế khi bị lão hoá qua thời gian dài tồn tại: phủ nhận tự do và bình đẳng;không đấu tranh cho hạnh phúc cá nhân của con ngời mà nhấn mạnh tinh thầnkhắc kỉ phục lễ; không dựa vào trí tuệ, tài năng thực thụ mà thiên về đề cao

đức, lễ; không coi trọng lao động sản xuất “Vai trò của tầng lớp trí thứcngời quân tử chỉ cần tu dỡng đạo

đức, rồi bậc tiểu nhân mang đến cho mà ăn, cần gì phải cày ruộng, làm vờn”[24; 225] Thiếu tri thức khoa học nên Nho giáo không phát triển đợc và đếnkhi khoa học kỹ thuật trở thành lực lợng sản xuất thì Nho giáo trở thành bảothủ và phản tiến bộ

Việc các nớc Đông á nh Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam

độc tôn Nho giáo về t tởng, tổ chức việc học tập và thi cử theo tri thức Nho

học đã góp phần tạo nên một tầng lớp trí thức Nho học đông đảo - sĩ, chiếm đa

số trong thành phần trí đội ngũ trí thức ở Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản

Họ là lực lợng có uy tín trong nhân dân bởi họ có biết chữ Hán, có tri thức,thông thạo đạo Thánh hiền và đóng vai trò trung gian tích cực giữa nhà vua vànhân dân Nắm đợc tầng lớp này là nắm đợc dân chúng nên tầng lớp này luôn

đợc kiểm soát khá chặt chẽ Do đợc sinh ra trong lòng những dân tộc cótruyền thống lịch sử văn hoá lâu đời, lại bị ràng buộc bởi hệ t tởng Nho giáo

và phần lớn có quyền lợi, địa vị gắn bó với triều đình nên sĩ thờng yêu nớc

thiết tha nhng rất bảo thủ và trung thành với chính thể phong kiến Sau khi ra

đời, tầng lớp trí thức nho sĩ đã có sự phân hoá thành trí thức quan liêu, trí thức

Ngày đăng: 22/12/2013, 14:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w