Từ thực tế lịch sử đã qua, chúgn toi muốn đi tìm những giá trị cao đẹp trong sự giúp đỡ chí tình vô t của quân tình nguyện Việt Nam tại Lào, những ngời đãcùng sát cánh với các chiến sĩ v
Trang 1A phần dẫn luận
1 Lý do chọn đề tài.
Việt Nam và Lào là hai nớc láng giềng cùng ở trên bán đảo Đông Dơng, cónúi Trờng Sơn và sông Mê Kông là điểm tựa gắn bó nhau về mặt địa lý
Ngợc dòng thời gian chúng ta thấy, quan hệ mật thiết giữa hai nớc Việt - Lào
đã có từ xa xa, Việt Nam luôn luôn đứng cạnh Lào, giúp đỡ một cách trong sáng
và vô t không hề vụ lợi Trong quá trình chiến đấu hy sinh đầy gian khổ của nhândân Lào để giành độc lập dân tộc, nhân dân Việt Nam luôn luôn giành cho nhândân Lào sự giúp đỡ hết sức to lớn Đồng chí Nu Hắc Phum Xa Vẳn đã nói: "Nếukhông có sự giúp đỡ của Đảng Lao động Việt Nam, nhân dân Việt Nam, không
có sự hy sinh của quân đội nhân dân Việt Nam, thì dẫu đờng lối có đúng đichăng nữa cũng không thể giành đợc thắng lợi to lớn nh ngày này" Sự giúp đỡ,chi viện của nhân dân Việt Nam là một trong những nhân tố quan trọng đa cáchmạng Lào đi đến thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm và giữ vữngnền độc lập
Là những nớc nhỏ sống bên nhau, lại ở vào vị trí c9ó tầm chiến lợc quantrọng của vùng Đông Nam á, bởi vậy không tránh khỏi trở thành mục tiêu hàng
đầu trong kế hoạch xâm lợc và nô dịch của chủ nghĩa thực dân Một thực tế chothấy, nếu bọn thực dân âm mu thôn tính Việt Nam thì không thể không xâmchiếm Lào và Cămpuchia Bọn thực dân muốn dập tắt phong trào cách mạng
đang phát triển mạnh ở Đông Nam á và ngăn chặn chủ nghĩa Cộng sản lan sangkhu vực này, thì ba nớc Đông Dơng (trớc hết là Việt Nam), phải là mục tiêu tiêudiệt đầu tiên của bọn thực dân
Do vậy, Việt Nam giữ vị trí then chốt là trung tâm của phong trào cáchmạng của ba nớc Đông Dơng vì dân số đông lại có truyền thống cách mạngkiên cờng, cho nên Việt Nam phải có tinh thần giúp đỡ cách mạng Lào vàCămpuchia và cho đó là một việc làm thiết thực, phù hợp với tinh thần quốc tếvô sản
Để ngăn chặn bọn thực dân biến Lào thành bàn đạp tiến công Việt Nam, vìvậy, giúp đỡ cách mạng Lào không chỉ là nghĩa vụ quốc tế mà còn là tráchnhiệm của dân tộc Việt Nam Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp củanhân dân Lào từ 1945 đến 1954, Việt Nam đã giúp đỡ Lào trên tất cả mọi lĩnhvực Trong đó yếu tố quyết định thắng lợi cho cách mạng Lào là sự liên minhchiến đấu giữa hai nớc, mà vai trò của đội quân tình nguyện Việt Nam tại Lào có
Trang 2ý nghĩa vô cùng quan trong Quân tình nguyện Việt Nam sang giúp đỡ nhân dânLào từ xây dựng chính quyền cơ sở đến việc xây dựng căn cứ địa và cùng với bạnLào chiến đấu trên các chiến trờng, sống chết có nhau, máu của hai dân tộc hoàchung
Đến nay có thể khẳng định rằng, vai trò của các chiến sĩ tình nguyện ViệtNam đối với cách mạng Lào rất lớn lao không có một giá nào so sánh đợc, chỉbiết sự đóng góp đó đã xây dựng nên mối quan hệ khăng khít thuỷ chung giữahai dân tộc Việt – Lào
Từ thực tế lịch sử đã qua, chúgn toi muốn đi tìm những giá trị cao đẹp trong
sự giúp đỡ chí tình vô t của quân tình nguyện Việt Nam tại Lào, những ngời đãcùng sát cánh với các chiến sĩ và nhân dân Lào chiến đấu, chiến thắng hoàn thànhcuộc cách mạng dân tộc, dân chủ ở Lào Đây là mói quan hệ "Lịch sử có mộtkhông hai ", chỉ có ngời cộng sản Việt Nam mới giúp ngời Lào nh thế, chỉ cónhân dân Việt Nam mới giúp nhân dân Lào nh thế
Là một sinh viên tốt nghiệp chuyên ngành sử, để có thể dạy tốt phần "Cuộckháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam và nhân dân Lào", thì cần hiểubiết sâu sắc mối tình đoàn kết gắn bó keo sơn giữa hai dân tộc trong cuộc khángchiến chống thực dân Pháp giai đoạn 1945 - 1954, bởi vây chúgn tôi quyết định
chọn đề tài: "Vai trò của quân tình nguyện Việt Nam tại Lào trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp giai doạn 1945 - 1954" làm khoá luận tốt nghiệp.
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Quan hệ Việt Nam và Lào là vấn đề đợc nhièu nhà nghiên cứu trong và ngoàinớc quan tâm Cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về mối quan
hệ Việt Nam và Lào đợc đăng tải:
Nh: “Báo cáo tổng kết tình hình chi viện lực lợng cho cách mạng Lào từ tháng 8/1945 đến 12/1947”; “Lịch biên niên một số sự kiện về cuộc chiến tranh cách mạng lào và sự giúp đỡ của Đảng Cộng sản Việt Nam về mặt quân sự từ năm 1945 - 1975 (của Viện Lịch sử quân sự Việt Nam)”; 30 năm Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện nghĩa vụ quốc tế với cách mạng Lào về quân sự 1945 -
1975 (Học viện quân sự cao cấp năm 1975) Đấy là những báo cáo, tài liệu tổng
kết dùng để nghiên cứu và tham khảo
Ngoài ra, có một số công trình nh: “Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lợc (1945 - 1954) của NXB Quân đội nhân dân Hà Nội 1990” Các luận văn, luận án tiến sĩ, thạc sĩ nh: Sự phối hợp chiến đấu của quân
Trang 3và dân Quân khu 4 với quân và dân Trung Lào trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954) của Lê Hồng Lâm; luận án phó tiến sĩ của Ngô Đăng Tri về "Hậu phơng Thanh - Nghệ - Tĩnh trong kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954)" Cuốn "Liên minh đoàn kết chiến đấu Việt - Miên - Lào", NXB Sự thật,
Hà Nội, 1983 của đại tớng Hoàng Văn Thái; "Một số vấn đề liên minh ba nớc
Đông Dơng" (t liệu của Viện nghiên cứu Đông Nam á của Phạm Nguyên Long
Hà Nội 1986) hay các bài viết của các nhà nghiên cứu đăng trên các tạp chínghiên cứu lịch sử và tạp chí Cộng sản
Hoặc trong cuốn "Chân lý thuộc về ai", NXB Quân đội nhân dân, 1986, bàn
về vấn đề sống còn của ba dân tộc Đông Dơng phải cùng nhau đoàn kết, liênminh chiến đấu, bảo vệ và xây dựng đất nớc, một vấn đề có tính quy luật tồn tại
và phát triển của ba dân tộc Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến quan
hệ Việt – Lào trong nhiều lĩnh vực, trong đó có đề cập đến sự đóng góp của độiquân tình nguyện Việt Nam ở Lào Nhng cha có một chuyên mục nào nghiêncứu sâu về vai trò của nó đối cách mạng Lào
Bởi vậy trong đề tài "Vai trò của quân tình nguyện Việt Nam tại Lào trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954)” tác giả cố làm nổi bật đợcnhững công việc cụ thể của các chiến sĩ Việt Nam ở Lào, phản ánh đúng thựctrạng quá trình giúp đỡ Lào đánh thắng một tên thực dân hùng mạnh có tiềm lực
về kinh tế, thế lực về quân sự, trong khi Lào là một nớc nhỏ, đời sống kinh tế xã hội còn thấp kém, lạc hậu nh lại giành đợc thắng lợi
-Từ thực tế đó một vài học giả phơng Tây đã nhìn nhận quan hệ Việt - Lào là:
"Một mối quan hệ của sự hợp tác và phối hợp hành động, chứ không phải mốiquan hệ thống trị của Việt Nam" Tuy nhiên cũng có những học giả phơng tây vìthiên kiến lệch lạc hoặc tìm hiểu cha thật sâu sắc và khách quan về thực trạngcách mạng ở Đông Dơng, nên đã có những luận điểm không đúng cho rằng:
"Lào luôn luôn là một quốc gia bị phụ thuộc vào Việt Nam", hoặc nh MáctinXuất Phốc viết: "Tất cả các lĩnh vực làm ra từ ngoại giao cho đến kế hoạch kinh
tế và an ninh quân sự đều phụ thuộc vào sự chỉ huy của Việt Nam" Nhng đã córất nhiều luận điểm, rất nhiều công trình khoa học đã chứng minh Lào khôngphải phụ thuộc hẳn vào Việt Nam mà ngoài quan hệ hợp tác, cũng phải thừanhận rằng Việt Nam có tiềm lực lớn hơn Lào nên Việt Nam giúp đỡ Lào mộtcách vô t, quân tình nguyện Việt Nam sang Lào giai đoạn 1945 - 1954 cũng xuấtphát từ tình cảm láng giềng, đã phát triển thành mối quan hệ dân tộc Đội quântình nguyện Việt Nam sang Lào nghe theo lời dạy chí tình của Chủ tịch Hồ ChíMinh: "Giúp bạn là tự giúp mình"
Trang 4Ngoài ra còn có các tác phẩm, các công trình nghiên cứu của hai Đảng hai
nhà nớc nh "Hồ Chí Minh toàn tập", NXB Sự thật, Hà Nội, xuất bản từ năm
1980 - 1989 (gồm 10 tập) Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm tới tình đoànkết chiến đấu đặc biệt của hai nớc, Ngời khẳng định: "Hai dân tộc Miên - Làohoàn toàn giải phóng thì cuộc giải phóng của Việt Nam mới chắc chắn hoàntoàn"
Trong các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng nhân dân cáchmạng Lào, các bài diễn văn trong các chuyến đi thăm hai nớc của các đồng chílãnh đạo, đều bày tỏ sự thiện chí và tình đoàn kết của hai nớc từ xa tới nay.Những tài liệu nêu trên là nguồn t liệu giúp chúng tôi hoàn thành khoá luậntốt nghiệp này Trên cơ sở kế thừa các thành quả của các nhà nghiên cứu chúngtôi đi sâu tìm hiểu vai trò của đoàn quân tình nguyện Việt Nam tại Lào trong giai
đoạn 1945 - 1954 này để khẳng định tình cảm sâu nặng quan tâm giúp đỡ lẫnnhau giữa hai dân tộc trong bất kỳ tình huống nào
3 Phơng pháp nghiên cứu và giới hạn của đề tài.
- Phơng pháp nghiên cứu: Để giải quyết và nghiên cứu đề tài đã xác định thìphải đề cập đến thực tiễn quá trình phát triển đi lên của cách mạng Lào thôngqua sự giúp đỡ từ xây dựng cơ sở nhỏ đến chi viện sức ngời, sức của (đặc biệt là
về quân sự) của nhân dân Việt Nam qua nhiều thời kỳ, qua thực tiễn đó để nhìnthấy rõ nét mối quan hệ chặt chẽ giữa cách mạng Lào và cách mạng Việt Nam làkhông thể tách rời, Việt Nam giúp đỡ cách mạng Lào để cách mạng Lào có thựclực, ngợc lại sự trởng thành của phong trào cách mạng kháng chiến Lào gópphần tạo điều kiện cho cách mạng Việt Nam giành thắng lợi to lớn
Từ những vấn đề cốt lõi đó, đề tài chủ yếu sử dụng hai phơng pháp lịch sử vàphơng pháp logic, bên cạnh đó còn khái quát các mối quan hệ truyền thống trớc
và nay, do vậy kết hợp đan xen với các phơng pháp khác nh so sánh để thấy đợc
sự phát triển đi lên trong sự giúp đỡ, sự trởng thành mối quan hệ Lào - Việt, đặcbiệt kết hợp với phơng pháp nghiên cứu chuyên ngành để phân tích, xử lý t liệumột cách khách quan, đảm bảo giá trị chính xác của nó
- Giới hạn của đề tài: Do t liệu quá hạn hẹp và tản mạn nên đề tài nhằm chútrọng trình bày vai trò của đoàn quân tình nguyện, để thấy đợc ý nghĩa sâu xacủa quá trình phát triển giúp đỡ từ thấp đến cao, từ bộ phận đến toàn diện, từbiến đổi về lợng đến biến đổi về chất, nhằm tạo ra thực lực cách mạng cho Làoliên minh cùng với Việt Nam chống kẻ thù chung với hiệu quả cao hơn
Trang 5Ngợc lại, Lào không phải nhận sự giúp đỡ của Việt Nam một cách thụ động
mà từ sự giúp đỡ đó đã cố gắng phát triển thực lực nội tại, cùng chia sẻ với ViệtNam gánh nặng chiến tranh, đem lại thắng lợi cho cách mạng của hai nớc Từthực tế lịch sử đó, đề tài dành một phần nói về các mối quan hệ kinh tế - chính trị
- xã hội của hai nớc đề làm nền tảng cho các mối quan hệ khác, đặc biệt là trongliên minh chiến đấu
Ngoài phần trọng tâm là nêu bật vai trò của quân tình nguyện, đề tài còn rút
ra một số bài học kinh nghiệm có tính quy luật để khẳng định sự đúng đắn trongnhận thức về liên minh Việt - Lào không thể tách rời mối quan hệ giữa hai Đảng,hai Nhà nớc
Trang 6B phần Nội dung
Ch ơng 1:
Khái quát tình hình vơng quốc Lào trớc năm
1945 và các mối quan hệ trong kháng chiến
chống pháp
1.1 Khái quát tình hình Vơng quốc Lào trớc năm 1945
- Về chính trị.
Nớc Lào tuy là mục tiêu xâm lợc cuối cùng của thực dân Pháp trên bán đảo
Đông Dơng, nhng trớc khi chiếm Lào năm 1893, thì năm 1887, Pháp đã thànhlập liên bang Đông Dơng là một tổ chức hệ thống khu vực thuộc địa do Phápnắm toàn quyền thống trị, nghĩa là Đông Dơng cũng nh nớc Lào nằm trong khuvực "đất trống" - Những nớc có chế độ phong kiến lạc hậu và có nền kinh tế thấpkém là đối tợng tranh giành, chia nhau của các nớc t bản phát triển ở Châu Âulúc bấy giờ, cho nên số phận của nớc Lào cũng đã bị định đoạt
Hơn 100 năm bị phong kiến Xiêm thống trị với ý đồ đồng hoá về dân tộc,văn hoá, kinh tế và lãnh thổ nớc Lào (1779 - 1892), sau đó đến đế quốc Phápgiày xéo mảnh đất Lào
Trớc chiến tranh thế giới lần thứ nhất, đế quốc Pháp đã có âm mu xâm chiếmcác nớc trên bán đảo Đông Dơng, trong đó có nớc Lào vùng đất cha đợc khaithác Pháp chạy đua với các nớc đế quốc Anh, Hà Lan, Tây Ban Nha ở khu vựcThái Bình Dơng trong việc xâm chiếm các nớc thuộc địa, giành dật thị trờng trênthế giới
Năm 1983 Pháp chiếm đợc Bắc Bộ Việt Nam, năm 1888 Pháp biến Làothành mỏ đất của Pháp Sau khi chính thức xâm chiếm Lào năm 1893, Pháp đãtiến hành đàn áp các cuộc khởi nghĩa của nhân dân các bộ tộc Lào, ổn định tìnhhình chính trị, cấu kết với giai cấp phong kiến Lào để xây dựng bộ máy cai trịtrong toàn quốc, xây dựng cơ sở hạ tầng ở Lào phục vụ cho kế hoạch khai thácthuộc địa của Pháp ở đây
Trong tổ chức bộ máy hành chính cai trị ở Lào, một mặt Pháp giữ lại hệ thốngcai trị cũ của triều đình phong kiến, mặt khác tổ chức các tổ máy cấp cao doPháp nắm hết quyền hành mà tiến hành biến triều đình phong kiến Lào thành bùnhìn, tay sai cho chúng, tất cả đều phải tuân theo lệnh của viên khâm sứ ngời
Trang 7Pháp Vua Lào chỉ là hình ảnh tợng trng cho ngụy quyền cũ của nớc Lào, hoàntoàn không có quyền lực gì đối với vận mệnh của đất nớc và nhân dân các bộ tộcLào Từ đó dẫn đến Pháp nắm hết tất cả mọi quyền lực, đất đai, tài nguyên vànhân lực của các bộ tộc Lào đều tập trung trong tay chúng, bên vua Lào thànhquan hệ thầy và tớ với cái gọi là"bảo hộ", nhng thực chất là bảo vệ quyền lợi củachúng.
Pháp cấu kết với phong kiến Lào với t cách làm chỗ dựa nhng là chỗ dựakhông còn đủ năng lực, hiểu biết và đã mục rữa Do vậy, để trả công cho bọnphong kiến Lào, đồng thời kìm hãm sự phát triển của xã hội Lào, Pháp vẫn duytrì những hình thức bóc lột phong kiến và tiền phong kiến đối với nhân dân Làobằng các chế độ "cuông", "lam" "cá kền" "cống nạp" phạt vạ
- Sau chiến tranh thế giới thứ nhất đến trớc 1945, tình hình chính trị ở Lào rấtrối rem, nhân dân Lào sống vô cùng khổ cực
Mặc dù là nớc thắng trận trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất Pháp cũng bịtàn phá nặng nề trong khi đó cuộc cạnh tranh với các nớc đế quốc chủ nghĩa hếtsức gay gắt, nên Pháp phải tăng cờng khai thác nguyên liệu từ thuộc địa để hàngắn những vết thơng chiến tranh trong nớc Bởi vậy chúng tăng cờng thực hiệncác chính sách tàn bạo đối với các giai cấp trong xã hội Lào.Pháp biến Lào thànhmột nớc thuộc địa nửa phong kiến nhng tàn d của chế độ phong kiến đợc duy trìsâu đậm hơn trớc
Trong giai đoạn sau chiến tranh thế giới thứ nhất, chế độ bảo hộ mà Phápdùng cai trị ở Lào, thực chất là chế độ thực dân đợc tổ chức hoàn chỉnh Bộ máychính quyền Lào không có quyền hành gì, nhân dân thì bị bóc lột đến tận cùng,cho đến trớc năm 1930 không có một viên chức nào ngời Lào nằm trong bộ máycai trị quan trọng của Pháp
Đảng Cộng sản Đông Dơng ra đời năm 1930, đã trở thành chỗ dựa về tổ chức
và t tởng cho phong trào đấu tranh của ba nớc Đông Dơng giành thắng lợi Từkhi Đảng cộng sản Đông Dơng ra đời cho đến năm 1940 nhiều chi bộ cộng sản
đợc tổ chức và hoạt động ở các thị xã lớn nh Viên Chăn, Luông Pha Băng các chi
bộ đã tuyên truyền kêu gọi nhân dân đứng lên chống chế độ thực dân Pháp Từ
đấy phong trào đấu tranh của Lào đã có những bớc phát triển hơn trớc
- Về xã hội.
Trang 8Lào có số lợng dân c ít, lại phân bố không đồng đều nên khá phức tạp khiphân công lao động, do vậy xã hội Lào trớc năm 1945 về cơ bản có nhiều thànhphần tộc ngời và đợc hình thành từ nhiều nơi khác tới nh ngời Hoa, ngời Việt,sau khi Pháp bình định và thực hiện chính sách chia để trị, xã hội Lào cũng phânthành nhiều giai cấp, nhiều tầng lớp
Tiêu biểu là đồng bào Việt kiều, chủ yếu là nguồn gốc ngời Việt do cácnguyên nhân khác nhau, họ di c sang Lào định c và sinh sống ở đây, Việt kiều cókhoảng 27.000 ngời, họ cùng với ngời Lào sinh sống và là đồng sự trong công
sở, đồng nghiệp trong công việc
Giai cấp công nhân là tầng lớp giai cấp hình thành rất muộn ở Lào, nhng họ
là lực lợng sản xuất chính trong hầm mỏ và nhà máy của Pháp, bị thực dân Phápbóc lột nặng nề Đông đảo nhất trong số c dân sông ở Lào là bộ tộc ngời Lào vì
do nhận thức kém cho nên họ là tầng lớp bị bần cùng hoá và luôn luôn nằm trongtình trạng thất nghiệp Tuy vậy giai cấp công nhân xuất thân là các bộ tộc Làosau này trở thành bộ phận nòng cốt để tiếp cận t tởng mới và trở thành lực lợngchủ yếu trong phong trào đấu tranh cách mạng ở Lào
Trớc năm 1945 trong xã hội Lào cũng bắt đầu có những biến đổi, tầng lớp
th-ơng nhân đã hình thành tuy cha đông và cha có vai trò chính, nhng đó là tầng lớp
có khả năng về kinh tế, làm cho bộ mặt xã hội Lào dần dần đợc thay đổi Việtkiều với ngời Lào, sống chan hòa và đồng cảm với nhau, vì cùng là dân bị áp bứcbóc lột, Việt kiều coi Lào là quê hơng thứ hai của mình, cho nên Việt kiều có
điều kiện trở thành cầu nối quan trọng giữa phong trào cách mạng Lào với ĐảngCộng sản Dông Dơng
Tầng lớp viên chức ở Lào đã đợc cũng đã hình thành cùng với sự phát triểnkinh tế làm việc ở các phủ, đinh, sở Tuy không đợc giữ vị trí quan trọng trongcác công sở nhng đã đợc chuyên môn hoá công việc và là những ngời có họcvấn Họ đóng vai trò chủ chốt trong việc xây dựng và phát triển hệ thống giáodục Cho nên giáo dục ngày càng phát triển, đi lên cả về số lợng và chất lợng, hệthống trờng học đợc chấn chỉnh và mở rộng hơn Năm 1939, số lợng trờng học
đợc khôi phục 77 trong số 79 trờng, số lợng giáo viên cũng tăng lên, học sinh
đến trờng nhiều hơn, trờng CĐSP đợc xây dựng điều đó chứng tỏ nền giáo dục
đã có bớc phát triển nhng còn rất chậm, vì số lợng học sinh đậu đạt còn rất ít,trình độ văn hoá nói chung còn rất hạn chế
Nhìn chung, xã hội Lào trớc năm 1945 gặp rất nhiều khó khăn, giai cấp trongcác bộ tộc ngời Lào nhận thức còn rất hạn chế cho nên, ý thức đấu tranh và nhận
Trang 9thức lý luận cách mạng còn yếu cha có tổ chức, bởi vậy luôn luôn phải gánh chịunhững hậu quả nặng nề do bọn thực dân gây ra
Xã hội Lào cha có những quy định nghiêm ngặt, vua chỉ là tợng trng, cònquyền hành nằm trong tay bọn thực dân Khi chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổthì nớc Lào vẫn còn nằm trong tình trạng xã hội thuộc địa nửa phong kiến, chậmphát triển Trong 5 xứ Đông Dơng thuộc Pháp thì Lào là xứ phát triển chậm nhất,
đó là hậu quả của non nửa thế kỷ thống trị Lào (1893) của thực dân với chínhsách chia để trị gây ra tình trạng phân tán cát cứ, biệt lập làm cho các xứ Lào,nghèo đói và ngu dốt trong suốt thời gian dài
- Về kinh tế.
Trớc năm 1945, tình hình kinh tế của Lào suy sụp bởi do thực dân Pháp thihành chính sách đồng hoá kinh tế, bắt Lào phải trao toàn bộ quyền khai thác tàinguyên, xuất nhập khẩu hàng hoá, phát triển kinh tế quốc dân và tiền tệ choPháp
Do đặc điểm nổi bật của địa hình nớc Lào, là địa hình đa dạng có núi, caonguyên, đồng bằng, thung lũng cho nên ở đây là nơi hội tụ các loài thực vật,
động vật phổ biến ở vùng Đông Nam á, phát triển phong phú, đa dạng Với mộtvùng tài nguyên nh thế, cho nên bọn đế quốc đã tranh nhau xâu xé mảnh đất này.Nhng khi nó nắm đợc quyền thống trị thì đã làm cho nền kinh tế dần dần lụy tànkhông còn khả năng phát triển Đặc biệt sau khi Lào bị thực dân pháp xâmchiếm thì nền kinh tế ở Lào trở thành nền kinh tế phụ thuộc
Nền kinh tế chủ yếu của Lào là nông nghiệp - lâm nghiệp mang tính chất tựcung tự cấp, vì ở đây các tộc ngời phân bố cha đều và còn mang nặng tính chấtcát cứ địa phơng, cha có sự thâm nhập của chủ nghĩa t bản nh ở một số nơi khác
do vậy mà khi trên thế giới diễn ra khủng hoảng kinh tế (1929 - 1933) thì Làovẫn nằm ngoài quỹ đạo
Từ năm 1930 đến 1939 kinh tế Lào đợc đánh dấu là giai đoạn chuyển biến,vì giai đoạn này Pháp đẩy mạnh việc đầu t và khai thác thuộc địa ở Đông Dơng
Nh thế là những năm trớc chiến tranh thế giới thứ hai, kinh tế Lào có một số biến
đổi rõ rệt trong các lĩnh vực sản xuất, thơng nghiệp và giao thông vận tải, tuynhiên đây không phải là giai đoạn phát triển ổn định
Nạn thiếu tiền mặt nghiêm trọng do thiếu sản phẩm hàng hoá gây nên, khókhăn trong sản xuất, lu thông và đời sống, chính quyền thực dân lại tăng thuếmới, không có tiền nộp nhân dân phải đi lao dịch, đời sống lại càng sa sút hơn
Trang 10Trớc tình hình nh thế cho nên khi chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ thìchính quyền thuộc địa của Pháp ở Đông Dơng gặp rất nhiều khó khăn trong bốicảnh đó Nhật ép Pháp phải ký hiệp ớc ngày 8/2/1941 để quân đội Nhật vào ĐôngDơng Nhật muốn biến Đông Dơng thành vùng chiếm đóng và căn cứ quân sựcủa Nhật Trong thời gian chiến tranh thế giới thứ hai, nhân dân Lào và nhân dâncác nớc Đông Dơng bị thực dân Pháp và phát xít Nhật bóc lột hết sức tàn bạo.Nhân dân Lào nhân dân Việt Nam và nhân dân Cămpuchia đều bị thực dân bắtnhổ lúa, ngô để trồng các cây công nghiệp nh trồng gai, trẩu, thầu dầu, càphê để phục vụ cho chiến tranh ở Bắc Lào, diện tích trồng lúa và diện tíchrừng khai thác - hai ngành kinh tế truyền thống của Lào, ngày càng thu hẹp, câythuốc phiện phát triển tràn lan, đặc biệt là trồng trẩu đợc phổ biến khắp vùng BắcLào với số lợng thu hoạch lớn
Lợi dụng thời chiến, chính quyền thuộc địa cho bọn chủ đồn điền thỏa sức
c-ớp bóc, chiếm đoạt ruộng đất của nhân dân Lào, các hình thức bóc lột (cuông,lam)-nền tảng của chế độ bóc lột phong kiến ở Lào không những đợc bảo lu màcòn đợc phát triển dới chính quyền thực dân Phát xít Nhật mợn tay Pháp đã vơvét của nhân dân Đông Dơng 3,5 triệu tấn gạo, 260 nghìn tấn ngô và 1.145 triệu
đồng Với những con số nh vậy đủ để thấy nhân dân Lào nói riêng, Việt Nam vàCămpuchia nói chung đã bị bóc lột sức lao động kiệt quệ Tình hình kinh tế củaLào khô cạn, cuộc sống của nhân dân lại nghèo khổ gây ra những hậu quả khônlờng, do vậy mà các cuộc đấu tranh liên tiếp nổ ra
Tóm lại: Tình hình kinh tế - chính trị - xã hội của Lào trớc năm 1945 thời kỳ
mà Pháp tiến hành khai thác thuộc địa, vơ vét tài nguyên của Đông Dơng, thời
kỳ mà chúng cấu kết với bọn phong kiến quý tộc Lào, duy trì những hình thứcbóc lột phong kiến thì nhân dân Lào đã phải buộc vào cổ hai tròng áp bức, bóclột, đã đẩy đời sống nhân dân Lào vào cảnh khốn khổ, vừa phải đi phu, nộp thuế,vừa phải chịu sự bóc lột "cuông", "lam", lao dịch, cống nạp, biếu xén, phạt vạcủa bọn chức dịch quan lại phong kiến và tay sai đế quốc Bên cạnh những hìnhthức bóc lột trên, bọn thực dân Pháp còn thi hành chế độ ngu dân, 95% nhân dânLào bị mù chữ, đầu độc nhân dân bằng cách khuyến khích nạn nghiện hút, rợuchè, cờ bạc, đĩ điếm Các bệnh giang mai, lao hủi phổ biến trong nhân dân;bệnh đậu mùa, dịch tả, thơng hàn thờng xảy ra làm chết ngời hàng loạt; nạn hữusinh vô dỡng đã dẫn đến kết quả nguy hại là dân số Lào chậm phát triển
Sau đại chiến thế giới lần thứ hai, để bù đắp cho sự tổn thất, thiếu thốn của
"mẫu quốc", thực dân Pháp ra sức vơ vét tài nguyên của các thuộc địa ở Lào,
Trang 11chúng khai thác mỏ thiếc Bò-neng, Phôngtiu, mở đồn điền trồng cà phê, làm ờng sá, cầu cống bằng cách tăng cờng cỡng bách lao dịch, thuê nhân công Lào
đ-và Việt Nam với đồng lơng rẻ mạt.Những hành động của thực dân Pháp đã dẫn
đến những mâu thuẫn giai cấp sâu sắc và căng thẳng trong xã hội Lào, mâuthuẫn giữa toàn thể nhân dân các bộ tộc Lào với chính quyền Pháp - Nhật vàmâu thuẫn của toàn thể nhân dân Đông Dơng với chính quyền phong kiến thựcdân Từ những mâu thuẫn đó, các cuộc đấu tranh liên tiếp bùng nổ, nhng muốngiành đợc thắng lợi trớc kẻ thù hùng mạnh thì phải có sự liên kết, liên minh vớicác nớc cùng chung cảnh ngộ nh Việt Nam, Lào và Cămpuchia, bởi vậy sự thắtchặt tình đoàn kết giữa ba nớc Đông Dơng đã trử thành một nhu cầu cấp thiếtkhách quan của cả ba dân tộc
1.2. Các mối quan hệ Việt Lào trong cuộc kháng chiến chống Pháp Các mối quan hệ truyền thống Việt - Lào.
Tình đoàn kết Lào - Việt là một chân lý Thực tế trong quá khứ, hiện tại vàtrong tơng lai sẽ vẫn là nh thế Tình đoàn kết và sự hợp tác toàn diện giữa hai nớcLào - Việt là chân lý vĩnh hằng bởi lẽ:
- Về địa lý tự nhiên: Nớc Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào và Cộng hoà dân
chủ nhân dân Việt Nam có đờng biên giới dọc theo dãy Trờng Sơn dài 1.900km.Không phải bây giờ, quan hệ Lào - Việt mới đợc khẳng định mà từ bao đời naynhân dân hai nớc đã thờng xuyên qua lại thăm viếng, giúp đỡ nhau xây dựngcuộc sống theo tinh thần "bên anh có cá bên em có gạo" và càng gắn bó với nhauhơn khi họ là những ngời hàng xóm láng giềng, anh em cọc chèo, là họ hàng bàcon thân thiết có từ thuở nào
Cùng với thời gian, mối quan hệ ngày càng đợc tô thắm đậm đà sắc màuhơn và trở thành mối quan hệ "đặc biệt", mẫu mực thể hiện rõ nhất trong haicuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ và xây dựng đất n ớc hiện nay.Cônglao xây đắp, tình đoàn kết đặc biệt, găn bó quý trọng lẫn nhau giữa hai dân tộcViệt - Lào là công lao của Chủ tịch Hồ Chí Minh của hai Đảng, hai nhà n ớc
và nhân dân hai nớc dày công nâng niu vun đắp Vợt qua mọi thời gian, vợtlên mọi khó khăn, tình hữu nghị giữa hai dân tộc vẫn đâm chồi nảy lộc, đơmhoa kết trái
Có ai đó nói rằng cấu trúc địa lý Việt Nam rất đặc biệt làm cho ngời ta dễhình dung tới hình dáng của con ngời Phải ! Tự nhiên và con ngời hoà quyệnvào nhau cùng nhau phát triển Nếu hiểu nh vậy thì phần biên giới giữa hai nớcLào - Việt có thể đợc xem nh cuộc sống Hai nớc cùng chung cột sống ấy không
Trang 12dễ gì tách rời nhau.Địa lý tự nhiên đã tạo cho Việt Nam - Lào cùng chung mộtdãy Trờng Sơn hùng vĩ, một "lá chắn chiến tranh", một "bức tờng thành vữngchắc" là con đờng huyết mạch nối liền hậu phơng với tiền tuyến, con đờng giao
lu giúp đỡ cho nhau từ hạt muối, hạt gạo đến viên đạn, cây súng từ những đồngchí đến các đội quân đã hết mình vì Tổ quốc của hai dân tộc.Hình tợng đôi traigái trong ngời lính ở hai bên Trờng Sơn có thể biểu trng cho tình đoàn kết chiến
đấu cùng nhau trên con đờng lịch sử, một bằng chứng sinh động của mối quan
hệ chiến lợc trong quân sự và bằng chứng ấy, ngày nay vẫn còn nguyên giá trị.Chiến trờng Việt - Lào trong những năm tháng kháng chiến đã phản ánh
đúng quy luật tác chiến, nơi nào có địa thế hiểm trở, có rừng núi, vật cản chekhuất đều có thể trở thành địa bàn tác chiến lý tởng cho những đội quân nhỏ béthô sơ dễ đối chọi có hiệu quả với đội quân đông đợc trang bị hiện đại nh thựcdân Pháp
Từ sự gần gũi về mặt địa lý đã tạo cơ sở cho hai dân tộc thiết lập nhiềumối quan hệ giúp đỡ nhau dễ dàng hơn cho nên sau khi khai thác Đông D ơng,thực dân Pháp đã xây dựng một hệ thống giao thông đ ờng bộ nối liền hai nớcViệt - Lào Nhng có những tuyến đờng quan trọng có ý nghĩa cả về chiến lợclẫn kinh tế và quân sự nh là huyết mạch giữa hai nớc thì làm sao thực dânPháp biết đợc
- Việt – Lào có những nét tơng đồng về văn hoá trong lịch sử
Qua tìm hiểu và qua các chứng minh của di chỉ khảo cổ cho chúng ta biếtViệt - Lào có những nét văn hoá tơng đồng với nhau, có mối giao lu văn hoá từthời tiền sử mà sông Mêkông chảy qua ba nớc Đông Dơng là con đờng chuyểntải văn hoá giữa ba nớc trong thời tiền sử
Sự giao lu văn hoá giữa các dân tộc diễn ra qua tiếp xúc và thẩm thấu giữacác nhóm dân c sống bên cạnh nhau qua nhiều đời
Những mối liên hệ văn hoá giữa các c dân Đông Dơng trong thời xa và ảnhhởng tiếp thu có chọn lọc văn hoá ngày nay từ Trung Hoa và ấn Độ đã làm cho
bộ mặt khu vực các nớc Đông Dơng trở thành khu vực lịch sử – Dân tộc học đãchứng minh những nền văn hoá đa dạng phong phú tơng đồng mặc dù có lúcrộng, lúc hẹp nhng lức nào cũng có mối liên hệ khăng khít trong suốt chiều dàilịch sử, đã làm cho nhiều tộc ngời cho dù ngày nay có ngôn ngữ khác nhau nhngvẫn phản ánh nhiều nét giống nhau về văn hoá, bởi vì nét tơng đồng đó đã đợctích tụ lâu đời và đợc con ngời cải tạo và phát triển, và sự tơng đồng đó đã góp
Trang 13phần không nhỏ vào sự gần gũi và hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc Đông
D-ơng cho đến ngày nay
Nhng nét văn hoá tơng đồng đã tạo nên một tính cách riêng một truyềnthống một nếp nghĩ riêng của cộng đồng c dân Việt - Lào, những nét tính cáchriêng chính là giá trị quý báu tạo nên sự gần gũi giữa hai dân tộc, tạo nên sựhiểu biết lẫn nhau, giúp đỡ lẫn nhau đặc biệt khi hai dân tộc có cùng một kẻ thùxâm lợc, và có cùng một mong muốn giải phóng đất nớc thì giá trị của nhữngnét tơng đồng về văn hoá lại trở nên độc đáo
Quan hệ chính trị - ngoại giao.
Việt - Lào là hai nớc láng giềng gắn bó với nhau về mặt địa lý và có cùngchung một số phận, một cảnh ngộ, mất nớc và bị ngoại bang biến thành tôi tớtrong cùng một thời gian Bởi vậy, hai dân tộc có cùng chung một lý tởng là đấutranh để giải phóng dân tộc Lý tởng chung đó đã tạo nên sự gắn bó với nhau,giúp đỡ lẫn nhau trên tinh thần thuỷ chung, sắt son trong sáng và tin tởng lẫnnhau
Sự gắn bó đặc biệt giữa hai dân tộc Việt - Lào là kết quả của một quá trìnhlịch sử, trong đó một nhân tố hết sức quan trọng đó là Đảng nhân dân cách mạngLào và Đảng cộng sản Việt Nam đợc sinh ra từ một cội nguồn là Đảng cộng sản
Đông Dơng mà chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại là ngời tổ chức, lãnh đạo và là ngời
đem ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh thực tiễn của cách mạngViệt - Lào, là sự kết hợp đúng đắn chủ nghĩa yêu nớc và chủ nghĩa quốc tế vôsản Cho nên, mối quan hệ Việt - Lào là mối quan hệ đặc biệt.Suốt trong thời kỳ
đấu tranh chống thực dân pháp, hai dân tộc luôn luôn sớng khổ có nhau, kề vaisát cánh bên nhau trên mọi chiến trờng và cùng nhau trao đổi kỹ lỡng về cácquan điểm đấu tranh chính trị trên diễn dàn ngoại giao Luôn luôn coi trọng vàgiải quyết đúng đắn mỗi quan hệ giữa dân tộc và liên minh Trong kháng chiếnchống Pháp Bác Hồ thờng dặn "giúp bạn là giúp mình", khắc phục t tởng cục bộ,hẹp hòi dân tộc, t tởng ban ơn, thực dụng, ỷ lại bạo biện Bác cho rằng đoàn kếtgắn bó giữa hai dân tộc là nhân tố tạo nên sức mạnh có tính chất quyết định mọithắng lợi Vì vậy phải chăm lo, coi trọng phát triển lực lợng cách mạng từng nớctrên cơ sở tăng cờng củng cố liên minh dân tộc là hai mặt luôn gắn bó, tác độngqua lại lẫn nhau
Coi trọng sự nhất trí về quan điểm về đờng lối chính trị là cơ sở để củng cốsức mạnh to lớn trong kháng chiến chống kẻ thù chung, kinh nghiệm trớc đây đãcho thấy nếu không có sự nhất trí về quan điểm, về đờng lối, không có đờng lối
Trang 14chính trị phù hợp thì không thể xây dựng đợc mối quan hệ đoàn kết đặc biệt giữahai quốc gia, hai dân tộc Nhng nếu thống nhất về quan điểm đờng lối chiến lợc,sách lợc thì trong quá trình vận động có thể có một số vấn đề cha nhất trí nào
đấy cũng có thể giải quyết đợc.Điều đó, trong tác phẩm "Một vài kinh nghiệmchính và một số vấn đề phơng hớng mới của cách mạng Lào", Chủ tịch KayXỏm Phôm Vi Hản đã nhấn mạnh: "Đờng lối đối ngoại của Đảng ta trớc hết làtăng cờng củng cố liên minh đoàn kết chiến đấu giữa nhân dân ba nớc Đông D-
ơng một cách không ngừng Trên cơ sở phối hợp đúng đắn, lợi ích chung củacách mạng ba nớc Đông dơng và trên cơ sở kết hợp chặt chẽ tinh thần yêu nớcnồng nàn với tinh thần quốc tế vô sản chân chính"
Sau khi hồng quân Liên Xô đánh thắng bọn phát xít Đức và Nhật sự kiện đó
có ảnh hởng to lớn đến cách mạng Việt Nam và cách mạng Lào Ngày12/10/1945 nhân dân Lào đã khởi nghĩa và giành đợc chính quyền từ tay phát xítNhật, ở Viên Chăn và tuyên bố nớc Lào độc lập Chính phủ Việt Nam đã gửiCông hàm công nhận ủng hộ Chính phủ Lào Tiếp đó, ngày 15/10/1945, hai nớc
ký hiệp định hoà bình tại Viên Chăn, nội dung quan trọng của hiệp định là nhấnmạnh tình đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau về mọi mặt và thoả thuận thành lập Liênquân Lào - Việt để cùng giúp nhau chống sự xâm lăng mới của thực dân Pháp vàcác nớc đế quốc khác
Phong trào đấu tranh chống Pháp của nhân dân Lào ngày càng phát triểnrộng, nhng về chiến thuật, chủ trơng, chính sách và phơng pháp thực hiện lạikhông thống nhất trong toàn quốc Trong bối cảnh lịch sử đó Đại hội toàn quốc
"Mặt trận Lào kháng chiến" với cái tên gọi "Neo Lào Itxala" (Mặt trận Lào tựdo) đã tiến hành ngày 13/8/1950.Đờng lối chung của Đại hội đề ra là: "Đoàn kếttoàn dân cả nớc, đoàn kết chặt chẽ với Việt Nam và Cămpuchia, lật đổ thực dânPháp và bọn phong kiến phản động, chống sự xâm lăng can thiệp của Mỹ, làmcho nớc Lào độc lập, thống nhất và giàu mạnh."Đoàn đại biểu của mặt trận ViệtMinh - Liên Việt và Đại biểu phụ nữ Việt Nam đã cử đoàn đại biểu tới dự đạihội Trong thời gian này đoàn biểu trong chính phủ Lào kháng chiến các nhà tuhành Lào đã sang thăm nớc Việt Nam Phái đoàn đợc chủ tịch Hồ Chí Minh đóntiếp và nói chuyện hết sức chân tình
Nh vậy là ngay từ đầu ba dân tộc đã sớm nhận thức đợc Việt Lào Cămpuchia có mối quan hệ về kinh tế - chính trị và cùng mục tiêu chung là giảiphóng dân tộc, do vậy, cách mạng ba nớc không thể tách rời nhau Nhng các
-Đảng cũng hiểu rõ rằng tình hình mỗi nớc có những đặc điểm khác nhau, cho
Trang 15nên vận động cách mạng ở mỗi nớc cũng có những đặc điểm riêng, bởi vậykhông chủ quan, áp đặt, giáo điều, rập khuôn.
Năm 1941, Hội nghị Trung ơng lần thứ VIII đã ra quyết định thành lập ở mỗinớc một mặt trận dân tộc thống nhất riêng để việc tập hợp lực lợng cách mạng ởmỗi nớc phù hợp với điều kiện cụ thể của mình
Năm 1951, do lực lợng cách mạng ở ba nớc đã trởng thành, đại hội II Đảngcộng sản Đông Dơng đã quyết định thành lập chính Đảng riêng ở mỗi nớc và từ
đó liên minh Việt - Lào đã chuyển sang giai đoạn mới Cách mạng Việt Nam vàLào từ chỗ do một Đảng lãnh đạo chuyển qua do hai Đảng lãnh đạo, bình đẳngvới nhau tự nguyện liên minh với nhau nhằm mục đích chung và lý tởng chung
Điều đó đã phát huy đợc tinh thần độc lập, tự chủ sáng tạo của mỗi Đảng, phùhợp với cách mạng mỗi nớc, dựa trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi, phảiluôn luôn tôn trọng quyền lợi của nhau, phải biết thông cảm lẫn nhau, ai có điềukiện hơn, bên nào có thuận lợi hơn cần gánh vác trách nhiệm cao hơn, tuy nhiêntrong quá trình vận không thể không nảy sinh những vấn đề khách quan, thậmchí có khi còn mâu thuẫn cục bộ Nhng những vấn đề không thống nhất thậm chímâu thuẫn chỉ là vấn đề nhỏ, không ảnh hởng đến tiến trình phát triển cách mạng
và đoàn kết hữu nghị giữa hai nớc
Nhìn chung tình hình Vơng quốc Lào trớc năm 1945 gặp nhiều khó khăn,
đặc biệt Lào cha có các tổ chức Đảng, cha có cơ sở cách mạng, nhng bên cạnh
đó từ truyền thống lâu đời của hai dân tộc Việt – Lào dã xây dựng nên các mốiquan hệ tơng trợ lẫn nhau, cùng nhau vợt qua mọi khó khăn thử thách chống lạimọi kẻ thù xâm lợc
Ch ơng 2:
Những hoạt động của quân tình nguyện
Việt Nam tại Lào từ 1945 đến 1954
2.1. Nguồn gốc ra đời và phát triển của quân tình nguyện Việt Nam.
Quân tình nguyện Việt Nam ở Lào ra đời rất sớm, ngay trong thời kỳ chuẩn
bị và tiến hành khởi nghĩa tháng 8 năm 1945 Các đơn vị tiền thân của nó là các
đội vũ trang tự vệ của Việt kiều yêu nớc vốn sinh sống, gắn bó, đoàn kết với
Trang 16những ngời yêu nớc Lào trong cuộc đấu tranh chống chế độ phong kiến và thựcdân Pháp
Trong quá trình phát triển của cuộc kháng chiến, những lực lợng quân tìnhnguyện này mang tính chất là những đơn vị địa phơng hoạt động trên những địabàn nhất định, bảo vệ cơ sở và vận động quần chúng, xây dựng cơ sở, xây dựnglực lợng vũ trang của bạn, làm nhiệm vụ trực tiếp đánh địch, phát động chiếntranh nhân dân trong nhân dân các dân tộc Lào, xây dựng mặt trận tuyên truyền
và tổ chức Đảng ở cơ sở trên những khu vực phụ trách Những lực lợng này pháttriển từng bớc thành những đại đội quân tình nguyện, sau này họ đã trở thànhmột bộ phận hợp thành sức mạnh của chiến tranh cách mạng bạn, đã cùng cáclực lợng vũ trang bạn hợp thành nhân tố bên trong
Ngày 30/10/1949 là ngày chính thức thành lập quân tình nguyện Việt Namtại Lào, đây là một bộ phận của quân đội nhân dân Việt Nam Dới sự lãnh đạocủa chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời là một bộ phận của lịch sử quan hệ đoànkết hữu nghị đặc biệt giữa hai Đảng, hai dân tộc, hai quân đội Việt - Lào
Tuân theo lời dạy của Bác Hồ "giúp bạn là giúp mình " đội quân tình nguyệnluôn luôn nêu cao tinh thần quốc tế chủ nghĩa chân chính Quân tình nguyệnViệt Nam đã sát cánh cùng với nhân dân và lực lợng vũ trang các dân tộc Làoanh em vợt qua mọi khó khăn gian khổ, đa cuộc kháng chiến chống Pháp đếnthắng lợi ngày càng to lớn, đặc biệt là trong chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954.Trải qua bao thử thách của năm tháng, không ai biết các chiến sỹ thuở nào, chỉ
có những áng thơ văn giúp chúng ta biết những ngời chiễn sỹ chỉ quen sống vớichiến trờng Tiêu biểu nh bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng, bài thơ chiếm vị tríxứng đáng trong nền thơ ca cách mạng đặc biệt là trong giai đoạn từ 1945 –
1975 Trong thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến, những ngời lính Tây Tiến "tiềnbối" đó là đơn vị vũ trang do đồng chí Lê Hiến Mai, tức Dơng Quốc Chính chỉ
đạo, sang Sầm Na phối hợp với nhân dân bạn đánh Pháp xây dựng chính quyềncách mạng
Trớc đây, thời kỳ Quang Dũng và "Tây Tiến" hoạt động của đoàn quân tìnhnguyện cha ai nói đến tinh thần quốc tế, tình hữu nghị đặc biệt Việt - Lào mộtcách trực tiếp, công khai Bởi vì lúc bấy giờ đoàn quân tình nguyện nhận nhiệm
vụ một cách bí mật âm thầm hoạt động và lặng lẽ hy sinh Việc làm của "TâyTiến" là nhằm thực hiện lời căn dặn đầy tâm huyết của Bác Hồ Tình cảm Việt -Lào trong thơ "Tây Tiến" nếu chỉ đọc lớt dễ bị bỏ qua Nhng với chiến sĩ "TâyTiến" thì thật vô cùng sâu sắc, trọn vẹn nghĩa tình
Trang 17Thật tự hào vì chúng ta có một bài thơ Tây Tiến, thế hệ con cháu sau này nhờthế mà không quên trớc đây có một lớp ngời vì tình cảm và vì quan hệ Việt - Lào
mà suốt đời " Chiến trờng đi chẳng tiếc đời xanh" để xây đắp cho tình hữu nghịViệt - Lào mãi mãi xanh tơi, đời đời bền vững
2.2 Hoạt động của quân tình nguyện Việt Nam tại Lào thời kỳ (1945 1954).
-2.2.1 Giúp Lào bảo vệ chính quyền cách mạng (10/1945 - 5/1946)
Khi Đảng cộng sản Đông Dơng thành lập, trên thực tế chỉ ở Việt Nam mới
có chi bộ Đảng cộng sản, còn ở Lào hoàn toàn cha có một chi bộ Đảng nào cả
Đảng cộng sản Đông Dơng lúc này, hiểu đúng thực chất là Đảng của những ngờicộng sản Việt Nam Nhng do tính quốc tế của chính Đảng giai cấp vô sản nênngoài trách nhiệm đối với dân tộc, những ngời cộng sản Việt Nam còn có tráchnhiệm giúp đỡ đối với phong trào của các nớc anh em có chung một kẻ thù Dovậy Đảng gửi những Đảng viên của mình sang Lào hoạt động cũng là nhằm giúp
đỡ cách mạng Lào, đấy là việc làm đúng, thể hiện tinh thần quốc té của ngờicộng sản Việt Nam
Do điều kiện và tình hình thực tế cách mạng Lào nên giai đoạn 1930 - 1945
có thể nói đây là thời kỳ những ngời cộng sản Việt Nam đã góp phần trực tiếplàm công việc vận động gây dựng cách mạng ở Lào, còn những Đảng viên cộngsản là ngời Lào trong giai đoạn này còn rất ít Bởi vậy, tất cả các công việc từvận động, tuyên truyền xây dựng cơ sở cách mạng, bồi dỡng cán bộ cách mạng
đều do những ngời cộng sản Việt Nam dựa vào khối Việt kiều ở Lào và Thái Lantiến hành "những đồng chí Việt Nam đã lăn lộn trong nhân dân Lào, gây dựngphong trào trong công nhân mỏ" Sự bền bỉ không mệt mỏi, không quản ngại khókhăn hy sinh, dần dần tập hợp các xu hớng yêu nớc, tiến bộ trong nhân dân,trong các tầng lớp xã hội, vận động và tổ chức quần chúng đứng lên dành độclập
Các lãnh tụ Đảng cộng sản Đông Dơng, nhất là Hồ Chí Minh trong giai đoạnnớc sôi lửa bỏng này đã quan tâm theo dõi diễn biến và sự phát triển của cáchmạng Lào, đa ra những chỉ dẫn về đờng lối và đảng đã cử những Đảng viên u túnhững ngời con dũng cảm, những đơn vị vũ trang sang Lào tiến hành cách mạng
Từ tháng 10/1945 đã mở ra trang lịch sử trọng đại đối với hai nhà nớc Lào vàViệt Nam Đó là thời kỳ khởi đầu quá trình phát triển mối quan hệ gắn bó giữaLào và Việt Nam Ngay sau khi hai nớc đã có chính phủ độc lập đầu tiên tronglịch sử hiện đại, sự giúp đỡ của Việt Nam cho cuộc cách mạng Lào ở giai đoạn
Trang 18này là tiền đề cho một quá trình giúp đỡ trong giai đoạn tiếp theo tích cực, toàndiện hơn.Giành đợc chính quyền từ tay phát xít Nhật, nhng cách mạng Lào cònnon trẻ đã gặp phải nhiều khó khăn do sự phá hoại của kẻ thù và nhiều tàn d lạchậu của xã hội thực dân để lại Chính quyền trung ơng tập trung những ngời củanhiều Đảng phái và các xu hớng chính trị khác nhau Kinh tế kiệt quệ, sản xuất
bị đình đốn, ngân sách nhà nớc không có Quân đồng minh Anh, Tởng vào Làokhông những tìm mọi cách để phá hoại và tiếp tay cho bọn tàn binh Pháp mà còndựa vào vùng nông thôn và rừng núi, lấy đó làm bàn đạp tấn công vào lực lợngcách mạng nhằm lập lại ách thống trị của chúng Trong lúc đó lực lợng vũ trangmới thành lập cha đợc huấn luyện nhiều, vũ khí thô sơ và thiếu thốn
Đây là những khó khăn đối với một nớc Lào nhỏ bé mới giành đợc chínhquyền lại phải đối phó với sự xâm lợc trở lại của bọn đế quốc Pháp Vận mệnhdân tộc Lào đứng trớc một tình thế vô cùng nguy nan
ở Việt Nam, chính quyền cách mạng cũng đang ở vào hoàn cảnh "ngàn cântreo sợi tóc" Nhng với truyền thống đoàn kết yêu nớc, nhân dân hai nớc Việt -Lào đều kiên quyết chiến đấu đến cùng để bảo vệ thành quả cách mạng củamình Đảng cộng sản Đông Dơng đã đề ra chủ trơng" lập mặt trận dân tộc thốngnhất chống thực dân Pháp" "thống nhất mặt trận Việt - Miên - Lào chống Pháp",gửi những cán bộ và lực lợng vũ trang sang giúp chính phủ ở Lào bảo vệ chínhquyền giúp đào tạo cán bộ quân sự, tổ chức phối hợp với Lào đào tạo lớp cán bộ
và đã đào tạo đợc 26 thành viên yêu nớc Lào và Việt kiều Sau đó còn mở tiếpvài khoá huấn luyện nữa
Để bảo vệ chính quyền mới giành đợc và phát triển thực lực nội tại, nhân dânLào cùng phối hợp với quân tình nguyện để chuẩn bị mở các cuộc tấn công lớnnhằm chặn âm mu của dân Pháp còn lăm le tái chiếm đóng Đông Dơng
2.2.2 Xây dựng cơ sở kháng chiến.
Bất kỳ một cuộc cách mạng nào muốn thành công cũng phải có cơ sở cáchmạng vững chắc Đối với dân tộc Lào mặc dù vừa mới dành đợc độc lập, nhng đểgiữ nền độc lập đó thì còn khó khăn hơn nhiều, hiểu đợc hoàn cảnh và điều kiệnkhó khăn đó ngay từ khi còn phôi thai các cơ sở Đảng cộng sản Việt Nam đã tạo
điều kiện giúp đỡ nhân dân Lào xây dựng cơ sở cách mạng tổ chức Đảng
- Giúp Lào xây dựng cơ sở trớc những năm 1945:
Vào những năm cuối của thập kỷ 20 ở Việt Nam đã hình thành 3 tổ chức:
Đông Dơng cộng sản Đảng, An Nam cộng sản Đảng, Đông Dơng cộng sản Liên
Trang 19Đoàn Các tổ chức đã tích cực hoạt động và tiến hành xây dựng các tổ chức cơ sở
Đảng trong nhiều địa phơng và trực tiếp lãnh đạo các cuộc đấu tranh lan rộng lanmạnh khắp Việt Nam
Trớc yêu cầu của lịch sử, Đảng cộng sản Việt Nam đợc thành lập 3/2/1930.Mặc dầu những ngời cộng sản Việt Nam còn ít, nhng đã sớm quan tâm đến việcvận động cách mạng ở Lào, gây dựng các cơ sở cách mạng Tổ chức trực tiếpgiúp đỡ Lào đó là thanh niên cách mạng Đồng Chí Hội và Đảng Tân Việt, địabàn hoạt động chủ yếu là ở miền Trung, họ đã vận động đợc các ái hữu, hội việtKiều yêu nớc, mở lớp huấn luyện cách mạng, vận động các công chức tại công
sở, xí nghiệp của Pháp ở Trung và Hạ Lào, ở Sa Vẳn Nà Khẹt, Pắc Sế, Thà Khẹc
tổ chức thành cơ sở cách mạng và tổ chức Đảng theo tôn chỉ Đảng Tân Việt,trong thời gian đó Hồ Chí Minh giao cho một số đồng chí sang hoạt động ở Lào,ngời rất quan tâm đến tình hình kinh tế - chính trị - xã hội, quan hệ giai cấp, số l-ợng thanh niên, phụ nữ, đời sống văn hoá và lao động
Sau khi Đảng cộng sản Đông Dơng ra đời, những ngời cộng sản Việt Namphụ trách giúp đỡ cơ sở cách mạng và tổ chức Đảng ở Trung - Hạ Lào, tích cựcvận động quần chúng, tuyên truyền, giáo dục, làm rõ bạn thù và từ đó các tổchức cách mạng ra đời nh Công hội đỏ, Nông hội đỏ, Hội tơng tế, Thanh niêncộng sản nhằm đa quần chúng vào đấu tranh cách mạng Tổ chức Đảng giaocho đồng chí Trần Ngọc chịu trách nhiệm tổ chức đờng giao thông liên lạcTrung - Hạ Lào với tỉnh uỷ quảng trị, chuyển tài liệu và các báo cáo của chi bộ
Đảng ở Lào về xứ uỷ và ngợc lại Do sự phát triển của cách mạng Lào còn yếukém nên Đảng viên Lào cha có ai, cho nên lãnh đạo các chi bộ chủ yếu là ngờiViệt Nam nh chi bộ Sa Vẳn Nà Khẹt bí th chi bộ là đồng chí Trần Văn Kiêm
đến năm 1932 các tổ chức của Đảng cộng sản Lào đã đợc công nhận là nhữngchi bộ trực thuộc Đảng cộng sản Đông Dơng Từ đó các cuộc đấu tranh đã cónhững chuyển biến mới ở Lào mà sự kiện tiêu biểu đó là nớc Lào dành đợc độclập tháng 10.1945
Trang 20cuộc sống của nhân dân Do vậy mà nhân dân ngày càng tin vào bộ đội tìnhnguyện Việt Nam và tin chắc chúng ta có thể đánh thắng đợc Pháp.
Ngày 15/2/1949, Ban cán sự hải ngoại của Trung ơng Đảng triệu tập cán bộquán triệt "Đề cơng cách mạng Lào - Miên", nhiệm vụ công tác chủ yếu củacách mạng Việt Nam giúp bạn là "Lấy việc xây dựng cơ sở chính trị, cơ sở chínhquyền, cơ sở du kích, phát triển chiến tranh và xây dựng phát triển Đảng làmmục tiêu hành động", đấy là cẩm nang dẫn đờng trong công tác giúp bạn, thấmsâu vào quần chúng và bộ đội chiến sĩ đang hoạt động ở phía Tây và Tây BắcLào
Để xây dựng đợc cơ sở ở nhiều làng bản cùng một lúc, các dơn vị và tổ côngtác của ta trên mỗi hớng địa bàn đã phân công, mỗi tiểu đội phụ trách từng khuvực, tiểu đội lại phân công ra từng tổ 2 - 3 ngời, mổi tổ phụ trách vài ba làng bảnthờng xuyên đi sâu, đi sát cơ sở, cùng ăn, cùng ở, cùng làm nơng phát rẫy vớidân, tranh thủ mọi nơi mọi lúc để tuyên truyền vận động nhân dân Tuy trình độhiểu biết và uy tín của anh em ta lúc đầu có phần hạn chế, nhng với tinh thần yêunớc căm thù giặc sâu sắc và nhiệt tình cách mạng cao, cán bộ và chiến sỹ khôngquản ngại hy sinh gian khổ, luôn có ý thức kỷ luật tự giác, biết kính già yêu trẻ,biết đứng đắn với phụ nữ, không quấy nhiễu gây phiền hà trong dân, lại biết tôntrọng phong tục tập quán của dân, hết lòng giúp đỡ nhân dân từ việc lớn đến việcnhỏ Do vậy bộ đội ta ở đâu cũng đợc dân tin yêu mến phục, hết lòng giúp đỡ vàbảo vệ
Khi cán bộ, bộ đội ta ở cơ sở đã đợc dân cảm tình họ cùng nhau uống nớc, ănthề, thể theo phong tục của dân Lào Tại buổi lễ mọi ngời đều nói những lời cầuchúc tốt đẹp, bộ đội hứa với dân kiên quyết hi sinh chiến đấu vì dân, trung thànhsống chết với dân, dân hứa với bộ đội, già trẻ trai gái đoàn kết một lòng, khôngphản lại nhau, không làm tay sai cho giặc Pháp, ủng hộ bộ đội Itxala, tham giakháng chiến đến thắng lợi cuối cùng tạo nên những mối quan hệ tình cảm gắn bóvới nhân dân rất chân tình
Nhờ phơng thức hoạt động đúng đắn và sự kiên trì gần dân bám dân để tuyêntruyền vận động, nên dần dần ta và bạn đã làm cho nhân dân phân biệt đợc bộ
đội Lào ít xa la và Việt Nam khác hẳn địch về bản chất, một bên là lính Tây xâmlợc và bọn tay sai bán nớc, một bên là bộ đội cách mạng, cứu nớc cứu dân Từchỗ dân sợ xa lánh, đến chỗ dân tin yêu, mến phục ủng hộ bảo vệ bộ đội Itxala
Đi đôi với công tác truyên truyền vận động, cán bộ bộ đội ta còn giành nhiềuthời gian, công sức hớng dẫn giúp đỡ dìu dắt nhân dân các làng bản trong mọi
Trang 21hoạt động cách mạng và kháng chiến nh tổ chức hớng dẫn việc phòng gian bímật (không nghe, không biết, không thấy khi ngời lạ hỏi) góp gạo nuôi cán bộ.Dần dần qua thử thách rèn luyện thực tế, ta và bạn bồi dỡng, kết nạp nhiều quầnchúng tích cực vào hội Itxala, vào dân quân du kích và cao hơn nữa là đa nhữngthành viên trung kiên, đảng viên, cán bộ thoát ly đi làm cộng sản.
Nh vậy, vừa đánh địch vừa xây dựng cơ sở kháng chiến, các đơn vị bộ đội và
đội công tác, cơ sở của ta ở mặt trận Viên Chăn đã giúp bạn và cùng với bạndũng cảm vợt qua mọi khó khăn, nguy hiểm, sáng tạo ra nhiều hình thức nộidung hoạt động phong phú, nên đã nhanh chóng xây dựng đợc cơ sở kháng chiến
ở nhiều bản làng thuộc các vùng Nậm Tòn, Mờng Phơng, Mờng Mẹt, Kaxỉ, BảnNạng và cả một số bản làng thuộc huyện Bôrakham và huyện Khăm Cột (Bắctỉnh Khăm Muộn)
Công tác xây dựng cơ sở mở đến đâu, các tổ chức hội Itxala dân quân dukích và chính quyền bản Tà Xẻng đợc thành lập đến đó Một số nơi nh Nậm Tòn,Mờng Phơng, Xakỷ đã đợc chi bộ Đảng lấy làm nòng cốt lãnh đạo phong tràokháng chiến ở địa phơng Năm 1949, ở tỉnh Viên Chăn có 3.000 hội viên các hộiquần chúng, sang năm 1950 tăng lên 5.000 Tháng 10/1949, ủy ban kháng chiếntỉnh Viên Chăn đợc thành lập
Trong quá trình hoạt động, ta và bạn đã dùng nhiều hình thức phong phú nh:Phục kích, tập kích, kết hợp hoạt động quân sự với vận động chính trị, kêu gọibinh lính địch đào ngũ trở về nhà
ở phía Tây và Tây Bắc Viên Chăn các căn cứ đợc hình thành và sau này cònchuyển sang Thái lan để huấn luyện học tập thêm đội vũ trang này lấy tên là PhàNgừm
Còn ở Sầm Na và Xiêng Khoảng dới sự lãnh đạo của đồng chí Kay XỏmPhôm Vi Hản cùng với các đồng chí khác đạt đợc những thành tựu đáng kể nhcác căn cứ địa mọc lên ở Noọng Hẹt, Mờng Mô, Sầm Tớ Nổi bật là sự hoạt
động có hiệu quả của bộ phận lực lợng vũ trang ngời Mèo ở Xiêng Khoảng dới
sự chỉ huy của Thao Tu Da
ở phía Tây Bắc Lào gần Huội Xài và một phần phía Tây tỉnh Luông PhaBăng là vùng rừng núi trùng điệp, địa thế hiểm trở nằm sâu trong vùng địch tạmchiếm phần lớn đây là các bộ tộc ngời Lự, Cọ, Muxơ, Lanten Để giúp Lào mởmột mặt trận mới ở Tây Bắc Lào các chiến sỹ đội quân tình nguyện Việt Namgiúp bạn xây dựng căn cứ địa vững chắc ở khu trung tâm Bắc Lào nối liền với
Trang 22khu Tây Bắc Việt Nam, các đồng chí Nguyễn Văn Long và Mai Văn Quang đợcgiao nhiệm vụ chỉ đạo hoạt động Việt Kiều ở vùng này.
ở Nậm Bạc quê hơng của hoàng thân Xu Pha Nu Vông, tại đây có nhiều làngbản với nhà nhiều nhà sàn lớn có thể làm nơi đóng quân cho cả một đại đội vàcũng là vựa thóc lớn nổi tiếng của Lào Đây là vùng sâu trong lòng địch cha cócơ sở cách mạng các chiến sĩ đơn vị bộ đội muốn xây dựng căn cứ ở đây phảikhéo léo bằng công tác giáo dục tôn trọng ngời già yếu, mến trẻ, đứng đắn vớiphụ nữ, bố trí các tổ trởng các nhóm xuống bản với dân, giúp dân chữa bệnh, làm
vệ sinh làng bản cùng các tù trởng, tộc trởng đơn vị đã đi sâu phát hiện nhữngngời dân có tinh thần yêu nớc cảm tình với cách mạng, dần dần bôi dỡng kết nạpvào Đảng tổ chức làm chi bộ Đảng đầu tiên của Tà Xẻng, Nậm Bạc do đồng chíKhăn Mun Ti làm bí th.Khi phong trào quần chúng đã phát triển rộng rãi các đơn
vị đã phối hợp giúp đỡ bạn xây dựng chính quyền, lập các đội dân quân du kíchlàm nhiệm vụ canh gác bảo vệ làng bản làm công tác thông tin liên lạc và dẫn đ-ờng cho bộ đội Trên cơ sở lực lợng bán vũ trang, ta giúp bạn thành lập trung đội
bộ đội địa phơng đầu tiên của tỉnh Luông Pha Băng.Sau khi tạo lập đợc căn cứ
đứng chân, xây dựng đợc cơ sở và phong trào kháng chiến khá vững chắc ở khuvực nậm Bạc, đơn vị tổ chức một bộ phận đi xây dựng cơ sở ở các vùng NậmNgà, Mờng Nga Tiếp đó từ Mờng Ngò cử đồng chí Vũ Đạt làm công tác vũtrang tuyên truyền ở Tà Xẻng giáp biên giới Tây Bắc Việt Nam Một cơ sở khác
do đồng chí Quốc Đồng phụ trách xây dựng cơ sở ở vùng Đon Lỏm, ạt Xa, ờng ợp
M-Cuối năm 1950 đầu năm 1951 đơn vị bắt liên lạc với tiểu đoàn 940, do đồngchí Lê Xuân chỉ huy, sau đó bắt liên lạc với đại đội 160 do Đỗ Viết Hơng chỉhuy Việc tập hợp quân với các đơn vị đã tạo ra thế lực mạnh về quân sự của ViệtNam ở Bắc Lào thuộc tiểu đội khu I
Còn ở khu II thuộc phía Tây Luông Pha Băng tiếp giáp Chiềng Rai (TháiLan) do Mai Văn Quang phụ trách xúc tiến khẩn trơng cùng với Phu Mi Vông
Vi Chít làm khu trởng, hoạt động với mục đích giải phóng dân tộc Ngoài việcvận động quần chúng xây dựng quan hệ Lào - Việt và xây dựng đạo đức cáchmạng, ông Phu Mi còn giảng về tác phẩm sửa đổi lề lối làm việc của Chủ tịch hồChí Minh mà ông ấy rất tâm đắc cho cán bộ Kết thúc đợt huấn luyện, đơn vịphân chia thành nhiều tổ gồm cả Việt và Lào đi sâu vào các bản làng làm côngtác vũ trang tuyên truyền, vận động quần chúng xây dựng cơ sở tạo chỗ đứngchân vững chắc mở rộng địa bàn cơ sở hớng Pạc Khẹp cạnh bờ sông MêKông vàXiêng Lôm, Xiêng Om Theo kế hoạch "vết dầu loang" các chiến sĩ đã bám sát
Trang 23cơ sở, ngày đêm lăn lộn với phong trào, cùng ăn cùng ở với dân, tích cực giúpdân sản xuất, tổ chức học chữ cho thanh thiếu niên đợc nhân dân yêu mến và hếtsức giúp đỡ.
Đến giữa năm 1949 đơn vị đã xây dựng đợc cơ sở chính trị rộng rãi ở 4Tổng: Pạc Khọp, Xiêng Lôm, Xiêng òm, Xay Nha, Bu Ly Ngoài các tổ chứcquần chúng yêu nớc cũng nh ở khu I ta và bạn đã tích cực vận động các tù, tộctrởng chọn lựa những ngời tốt để giao phó một số cơng vị chủ chốt trong hệthống chính quyền mới Các trờng tiểu học đợc giúp đỡ mở lớp, các hội hètruyền thống đợc tổ chức, các bài hát kháng chiến đợc phổ biến Cùng với việcxây dựng chính quyền và các đoàn thể quần chúng, các đội dân quân du kíchcũng đợc thành lập
ở phía Đông Lào tiếp giáp với Việt Nam có các vùng Ha Phăn, Sa Văn, khu
3, 4 đợc giao nhiệm vụ trực tiếp cho quân tình nguyện Việt Nam phối hợp giúpbạn Tháng 4/1948 thành lập "Đoàn vũ trang công tác Miền Tây" hoạt động vũtrang tuyên truyền xây dựng cơ sở, đoàn gồm 15 đồng chí cán bộ tỉnh uỷ vàhuyện uỷ cùng một đội vũ trang 20 ngời rút từ trung đoàn 52 Căn cứ vào tìnhhình đoàn chủ trơng tập trung lực lợng xây dựng cơ sở ở khu vực Phú Lệ trớc,sau đó từ Phú Lệ cơ động lên phía Bắc Sơn La, Lai Châu xuống phía Nam đếncác vùng Hồi Xuân - La Hán (Thanh Hoá) và phía Tây là Sầm Na, Bắc XiêngKhoảng (Lào) rất thuận tiện Phú Lệ là vùng cơ sở cách mạng, trớc đây đoàn TâyTiến I đã hoạt động ở đây một thời gian.Đến Phú Lệ xây dựng cơ sở trong tìnhhình chính trị, kinh tế ở địa phơng còn nhiều khó khăn, phức tạp nhân dânnghèo đói lại bị chế độ thổ ty lang đạo áp bức bóc lột nặng nề
Tháng 9/1948 đoàn đợc liên khu 3 bổ sung đại đội 74 và tiếp tế, bảo đảm đờisống, bộ đội và tạo điều kiện gây dựng cơ sở ở khu vực đứng chân thuận lợi hơn
Đoàn quyết định kết hợp quân sự, chính trị đập tan thế lực của bon đầu sỏ lang
đạo phản động, giải phóng nhân dân, mở rộng phạm vi hoạt động của ta, xâydựng cơ sở vững chắc ở vùng biên giới Thời kỳ đầu, dân sợ hãi bỏ chạy, chỉ cònngời già và trẻ em ở lại, không muốn tiếp xúc với ta Trớc tình hình đó, đơn vị vũtrang tiền tuyến, đi sâu, đi sát chăm nom sứ khoẻ, giúp dân sản xuất cải tiện ph -
ơng pháp sản xuất canh tác, đơn vị chú ý giữ nghiêm kỷ luật, không đụng đến cáikim, sợi chỉ của dân, không những thế còn chia sẻ với dân từng bát cơm tấm áo,từng viên thuốc chữa bệnh hàng ngày, nhờ vậy, từng bớc đa dân vào các hội quầnchúng, thành lập chính quyền kháng chiến, xây dựng dân quân du kích, đấutranh chống địch từ thấp đến cao, tiến tới cắt đứt liên hệ với địch, không đi phunộp thuế cho địch
Trang 24Đầu năm 1950 đã xây dựng đợc hai cơ sở kháng chiến ở hai huyện Mờngxôi, Sầm Tớ và khu vực hạ lu sông Mã thuộc Lào, tiến sâu vào khu vực XiềngLuồng, Xờng Mèn, Xờng Việt Các lãnh địa này trớc là hậu phơng của địch naythành một vùng du kích rộng lớn của ta nối liên lạc với khu 4 và ban xung phongLào Bắc do đồng chí Kay Xỏn Phôm Vi Hản kết hợp với ban chỉ huy và các đơn
vị chủ lực liên khu 10 đang họat động ở Bắc Lào góp phần tạo cơ sở cho việcthống nhất mặt trận thợng lào sau này
ở phía Trung Lào ta và bạn phối hợp xây dựng huyện Tà Ôi và MờngNoong thành hai căn cứ vững chắc ở Nam đờng 9, nối liền với 2 tỉnh Quảng Trị
và Thừa Thiên Huế (Việt Nam), giúp bạn đẩy mạnh công tác vũ trang tuyêntruyền, xây dựng các tổ chức quần chúng để mở rộng các khu căn cứ Ban cán sựTrung Lào và đoàn 120 do Trờng Sinh trởng đoàn thống nhất tổ chức Còn các
đội vũ trang công tác liên khu 4 đợc còn điều động thêm 100 cán bộ xã, huyệncủa 4 tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh - Bình để bổ sung cho các đội vũ trang Đoàn
120 đã giúp đỡ Lào Itxala phát triễn lực lợng xây dựng củng cố 4 vùng căn cứrộng lớn và liên hoàn, gồm 600 bản với 3 vạn dân trải dọc biên giới Việt - Lào
Từ các căn cứ đã xây dựng, ta lần lợt đa các đơn vị vũ trang tuyên truyền xuốngvùng sau lng địch phát động tổ chức nhân dân xây dựng cơ sở chính trị và vũtrang bí mật ở khu Huội Mừn, La Há Nặm, Kèng Koọc, Nậm Cha Lộ, Na Nhôm,Hỉn Bun và bắt đầu liên lạc với Viên Chăn tiến về đồng bằng trong thời gian tới.Tóm lại: Trải qua thời gian 5 năm từ 1946 đến 1950 công tác xây dựng cơ sởthu đợc nhiều thắng lợi phong trào kháng chiến Lào và có chính phủ đã có bớctiến rất dài, kháng chiến Lào đã có một cơ đồ tơng đối vững vàng và khang trang
có mặt trận Itxala là cơ quan lãnh đạo thực sự của cách mạng Lào, chính quyềnnhân dân đợc xây dựng và phát triển với các vùng căn cứ địa kháng chiến ngàycàng mở rộng với quy mô to lớn, thiết thực Ngoài việc tập trung xây dựng tổchức các đoàn thể, chính quyền kháng chiến, quân du kích, cán bộ tình nguyệncũng rất chú trọng đến tổ sản xuất, đời sống văn hoá, y tế và đoàn kết dân tộc.Với những nỗ lực bền bỉ của quân tình nguyện, phong trào kháng chiến đợcnhen nhóm và đến cuối năm 1949 chiến tranh du kích đã xuất hiện trên nhiềuvùng nông thôn, miền núi ở Lào hạn chế các cuộc lùng sục tự do của địch vàocác bản mờng Cuối năm 1949 chính quyền kháng chiến đợc thiết lập Không chỉ
ở cơ sở mà cả ở các cấp khu (Thợng, Trung, Hạ Lào) và đến tháng 8/1950 chínhphủ kháng chiến Trung ơng đợc thành lập
Trang 25Giúp bạn xây dựng cơ sở và phong trào kháng chiến từ không đến có, từ nhỏ
đến lớn, từ cơ sở đến từng vùng và toàn quốc, là đóng góp quan trọng của bộ độitình nguyện Việt Nam đối với sự nghiệp kháng chiến của bạn
2 2.3 Xây dựng lực lợng cách mạng.
Giúp bạn xây dựng lực lợng cách mạng và lực lợng vũ trang là một trongnhững nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Đảng và nhà nớc ta đặc biệt là trực tiếp
đối với đội quân tình nguyện Việt Nam tại Lào
Trong tổ chức xây dựng lực lợng trên cơ sở các đơn vị Lào Itxala và Việtkiều giải phóng xây dựng trong những ngày dầu khởi nghĩa, chính quyền mới và
uỷ ban Lào Pên Lào cùng với hội Việt kiều cứu quốc ở các tỉnh thành phố, đã
động viên kêu gọi nhiều thanh niên, học sinh, sinh viên, viên chức chức yêu nớctham gia các lực lợng vũ trang, đa quân số bộ đội Lào - Việt tăng lên gấp nhiềulần
ở Viên Chăn, ngoài lực lợng tự vệ ở các khu phố và các xí nghiệp, cơ quan,ban chỉ huy liên quân tập trung đợc hơn 600 quân, tổ chức thành 4 đội chiến đấugồm 3 đại đội Việt Kiều và một đại đội Lào Itxala Đại đội Lào gọi là đại đội đặcbiệt có gần 200 quân, do ông Sột Phết La Xý làm đại đội trởng
ở SaVẳn Na Khệt, ngoài lực lợng tự vệ các khu phố Lào và các "giáp" Việtkiều, Ban chỉ huy liên quân tập hợp đợc gần 200 quân, tổ chức thành hai đại độichiến đấu của Lào Itxala và Việt kiều giải phóng quân
Đặc biệt ở thị xã Thà Khẹt, ngoài lực lợng tự vệ của Lào và Việt kiều ở cáckhu phố đợc tổ chức huấn luyện tơng đối tốt, ban chỉ huy quân tập trung đợc gần
800 quân tổ chức thành 4 đại đội chiến đấu gồm: Hai đại đội Lào Itxala và hai
đại đội Việt Kiều giải phóng quân Ban chỉ huy liên quân do hoàng thân Xu Pha
Nu Vông trực tiếp làm chỉ huy trởng, ông Xỉng ka lô làm chỉ huy phó phụ tráchlực lợng vũ trang Lào, đồng chí Nguyễn Chánh làm chỉ huy phó phụ trách lực l-ợng vũ trang Việt Kiều
ở khu vực Mờng Xề Pôn và Mờng Phìn, Nam - Bắc đờng số 9 nối liền với thịtrấn Lao Bảo thuộc tỉnh Quảng Trị, các lực lợng yêu nớc Lào do ông Thao Ô vàThao Kê phụ trách đã thành lập một đại đội gọi là "Đại đội mờng Sê Pôn" doSuVăn Thon Phá Nu Vông làm đội trởng
ở khu vực Lạc Xao, Khăm Cợt, Na Pê (thuộc tỉnh Khăm Muộn) các lực lợngyêu nớc Lào do ông Thao Xay, ông Thao Xốm phụ trách, thành lập một trung
đội Lào Itxala ở Napê
Trang 26Để giúp số cán bộ trung đội, tiểu đội biết cách quản lý và chỉ huy chiến đấu,ban chỉ huy liên quân ở thủ đô Viên Chăn và hai thành phố Nà Khẹc, Sa Vẳn NàKhẹt, đã mở lớp bồi dỡng ngắn ngày về nhiệm vụ công tác cho cán bộ trung đội,tiểu độ với thời gian một tháng, mỗi nơi mở 2 đến 3 lớp.
Từ giữa năm 1947, các đơn vị Việt kiều giải phóng quân và các độ công táccơ sở đợc bổ sung quân số, vũ khí và sắp xếo thành ba lực lợng; một lực lợng vềtham gia kháng chiến ở nam Bộ Việt Nam, một lực lợng sang giúp nớc bạnCămpuchia và một lực lợng sang Lào hoạt động trở thành các dơn vị vũ trangtuyên truyền và các đôi công tác cơ sở hoạt động trên trục đờng 13 và dọc theo
lu vực sông Mêkông, từ tỉnh Viên Chăn xuống đến khu Trung Lào
ở Viên Chăn, các lực lợng đợc phái sang hoạt động lúc đầu chỉ có 70 ngời,
đợc tổ chức thành hai đơn vị do đồng chí Đinh Văn Khang chỉ huy chung.Nhiệm vụ của đoàn là phối hợp với bộ phận Lào Itxala xây dựng lực lợng, xâydựng cơ sở vũ trang tuyên truyền, tác chiến tiêu hao địch
Dựa vào sự giúp đỡ về các mặt của bà con Việt Kiều ở Đông Bắc Thái Lan vàMiến Điện giáp biên giới Lào, viện trợ một số vũ khí, đạn dợc, cơ quan lãnh đạo
và chỉ huy mặt trận Tây Bắc Lào, khẩn trơng xúc tiến việc tuyển quân, tập hợpthanh niên từ làng bản, thành những đội quân đợc vũ trang chuẩn bị đánh địch
Do vậy, địch đi đến đâu nhân dân thực hiện vờn không nhà trống đến đó, trên cơ
sở đó chọn những ngời trung thành hoạt động hăng hái tích cực thành lập nêncác đội quaan du kích, từ những lực lợng nhỏ của từng bản sau này gộp lại thốngnhất thành một đội quân hùng mạnh Nh vậy là lực lợng vũ trang Lào đợc nângcao dần về số lợng và chất lợng, ngày càng hoàn chỉnh cân đối giữa các binhchủng, giữa tổ chức chỉ huy, bảo đảm vật chất kỹ thuật và lực lợng trực tiếpchiến đấu Trong việc giúp bạn xây dựng lực lợng vũ trang, Đảng ta đặc biệt coitrọng việc xây dựng đội ngũ cán bộ trung kiên
Khi cuộc kháng chiến bắt đầu, đội ngũ cán bộ của bạn còn rất mỏng, số
Đảng viên của Lào còn rất ít Để giúp bạn làm chủ sự nghiệp cách mạng củamình, tự đảm nhiệm mọi cơng vị lãnh đạo, chính quyền cũng nh chỉ huy lực lợng
vũ trang, các đơn vị quân tình nguyện đã coi nhiệm vụ bồi dỡng, đào tạo cán bộcho bạn là nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết
Với tinh thần đồng chí, đồng đội, cán bộ và chiến sĩ tình nguyện đã sát cánhcùng với bạn chiến đấu, công tác Từ hoạt động hàng ngày nh kèm cặp bạn, nângcao lòng tự tin của bạn, từ mỗi đợt công tác ở cơ sở hoặc sau mỗi trận chiến đấu
ta cùng bạn tổ chức tổng kết, đúc rút kinh nghiệm để bạn tự nâng cao năng lực
Trang 27lãnh đạo, chỉ huy một cách thiết thực Công tác bồi dỡng, đào tạo cán bộ giúpbạn đã đợc bộ đội tình nguyện triển khai tích cực và hiệu quả, đã bồi dỡng đợccho bạn gần 1000 cán bộ Trung - Sơ cấp đủ để tổ chức hàng chục tiểu đoàn chiến
đấu Cuối 1953 đầu 1954 số Đảng viêng ngời Lào có hơn 300 đồng chí và có tới
600 cán bộ trung kiên đủ điều kiện để phát triển Đảng Đội ngũ Đảng viên, cán
bộ trởng thành qua cuộc kháng chiến là vốn quý của cách mạng Lào Nhiều
đồng chí trong số này đã trở thành cán bộ lãnh đạo, chỉ huy cao cấp, giữ nhữngtrọng trách của Đảng, Nhà nớc và quân đội nhân dân Lào hiện nay Công tác xâydựng đội ngũ cán bộ đạt đợc những kết quả nh vậy đã giúp cho hàng ngũ cácchiến sĩ Lào vững mạnh đã cùng với chiến sĩ tình nguyện Việt Nam nêu cao tinhthần trách nhiệm, lòng yêu nớc, dốc hết sức lực xây dựng hùng mạnh lực lợngcách mạng, dới lãnh đạo của những cán bộ tài ba
Công tác xây dựng lực lợng và vận động quần chúng đứng dậy chống Pháp
đã thu đợc những kết quả khả quan năm 1949, quân đội giải phóng đã có khoảng1.000 ngời, ngoài đội Látxuvông là đơn vị tiền thân của quân đội giải phóngLào, ở các vùng cũng có những đơn vị vũ trang khác nh ở Thợng Lào có đơn vịXệt Thả Thi Lat, Xu Li Nha Vông Xa, ở Viên chăn có đơn vị Phà Ngùm hạ Lào
có đơn vị Xay Chắc Ka Phát cùng với lực lợng dân quân du kích đợc xây dựng
ở các bản, làng, căn cứ địa quân đội giải phóng Lào vừa đánh địch vừa làmcông tác vận động quần chúng ở những vùng mà họ hoạt động gây dựng cơ sởkháng chiến Sự ra đời của quân đội giải phóng nhân dân Lào chứng tỏ sự trởngthành mạnh mẽ của lực lợng kháng chiến nhân dân Lào, chứng tỏ cuộc chiếntranh nhân dân mà các lực lợng kháng chiến Lào đã và đang xây dựng ngày càngcủng cố và phát triển rộng rãi không ngừng với chất lợng cao Cách mạng Làogiờ đây đã xây dựng đợc 3 vùng giải phóng, vùng Viên Chăn, vùng khu I thợngLào, vùng khu II gồm 3 tỉnh giáp Xiêm phía nam Luông Pha Băng Đó là thế
đứng chân vững chắc ở trong nội địa Lào
ở Trung Lào lực lợng vũ trang đợc xây dựng thành nhiều đại đội và hoạt
động mạnh phối hợp quân sự giữa miền Trung Việt Nam và Trung Lào Các lựclợng vũ trang phát triển bao gồm hàng nghìn dân quân bản, Tà Xẻng, một số đội
du kích thoát ly và một số đơn vị chủ lực Itxala nh đội Lat xa vông ở Hủa Phăn,
đội Xay Xết Tha Thi Lạt ở Trung Lào, đội Xay Chắt Kà Phắt ở Hạ Lào, đội PhàNgăn ở Viên Chăn, đội Pắt Chay ở Xiêng Khoảng đã lần lợt ra đời
Để có vũ khí trang bị cho các đội quân du kích ngày càng phát triển, tháng4/1949 ban chỉ huy quân tình nguyện Việt Nam khu I lập một công binh xởngnhỏ ở vùng bộ tộc Muxơ thuộc Tà Xẻng (tổng) Mờng Xạ, Xởng gồm 5 cán bộ và
Trang 2814 chiến sĩ do đồng chí Phú làm xởng trởng, đồng chí Lâm xởng phó Mặc dùtrang bị xởng còn thô sơ, nhng năm 1950 anh em đã sản xuất đợc trên 800 quảlựu đạn, hơn 500 địa lôi và sửa chữa 50 khẩu súng cho các đơn vị bộ đội và dânquân Ngoài nhiệm vụ sản xuất anh em còn làm công tác dân vận, tổ chức nhândân 3 bản Muxơ ở gần xởng vào hội Itxala, lập 3 đội du kích và kết nạp đợc 5
Đảng viên cộng sản ngời Muxơ Trong 6 trận chiến đấu chống địch đánh vàocông binh xởng, anh em đã phối hợp với du kích loại khỏi vùng chiến đấu 6 tênlàm bị thơng 15 tên đợc tuyên dơng khen thởng Trang bị vũ khí chủ yêu là súngtrờng, súng kíp, một số lựu đạn và giáo mác, cung tên Mỗi trung đội khá lắm chỉ
có vài ba tiểu liên, các đại đội tập trung có một, hai khẩu trung liên Riêng các
đơn vị ở thành phố nhờ lấy đợc nhiều súng đạn của Nhật nên đợc trang bị kháhơn các tỉnh, thành Mặc dầu đã xây dựng đợc công binh xởng, nhà công binh x-ởng cũng chỉ mới sửa chữa súng hỏng hóc và sản xuất đợc phần bom mìn, lựu
đạn cùng các loại vũ khí thô sơ cung cấp cho bộ đội và các khu căn cứ sử dụng
đánh địch
Trong tình hình vừa mới cách mạng vừa thắng lợi nhà nớc Lào mới thànhlập, khả năng kinh tế còn rất hạn hẹp nên mọi nhu cầu về đời sống vật chất tinhthần của quân đội đều phải dựa vào sự quyên góp và giúp đỡ trực tiếp của cáctầng lớp nhân dân Lào và bà con Việt Kiều Các đơn vị Lào Itxala và Việt Kiềugiải phóng quân phân tán cùng ăn ở và làm việc với dân, lúc cần tập trung huấnluyện chiến đấu thì nhờ các mẹ, các chị em phụ nữ quyên góp nấu nớng tổ chức
ăn tập thể, quần áo, giày dép, võng bạt chủ yếu là cá nhân tự túc và gia đìnhgiúp đỡ Nhà nớc mỗi tháng cấp phát một ít tiền "kíp" hoặc tiền "đông dơng" cũ
để bộ đội chi dùng thêm
Đầu năm 1950, ủy ban kháng chiến khu I đợc thành lập do ông Tà Xẻng(chánh tổng) Mờng Long làm chủ tịch và mặt trận Itxala do ông Khăm Đi ngờimờng làm chủ tịch Đồng thời trung đội, bộ đội địa phơng thoát ly đầu tiên cũng
đợc tổ chức bao gồm con em các bộ tộc Lự, Co, Đoi của các Tà Xẻng Mờng Xạ,Mờng Long, Mờng Năng tham gia
Trong thời gian này quân giải phóng nhân dân Trung Quốc đã giải phóng cảvùng Hoa Nam Khu I không còn trong tình thế bị cô lập nữa Đợc tỉnh Vân Namgiúp đỡ một số vũ khí và quân trang, các lực lợng vũ trang của ta và bạn ở khu I
có điều kiện thuận lợi để xây dựng và phát triển Sau 2 năm xây dựng và chiến
đấu, vợt qua nhiều khó khăn phức tạp khu I đã đứng vững, thực sự trở thành mộtcăn cứ du kích đáng tin cậy đầu tiên trên mặt trận Tây Bắc Lào, khu I đã hoànthành tốt nhiệm vụ đợc giao, giúp bạn xây dựng phong trào kháng chiến phát
Trang 29huy sức mạnh tại chỗ của cách mạng Lào Sau này khu I còn bổ sung lực lợngcho các đơn vị ở phía Đông Lào.
Trong xây dựng lực lợng cách mạng Đảng ta chú trọng việc xây dựng tổ chứclãnh đạo Trớc đây (1946) ở liên khu IV có phòng ngoại vụ phụ trách công tácvận động chính trị và quân sự của Lào, vấn đề chỉ đạo quốc dân trong phạm vikhu IV nh Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hoá, đối với Lào có vùng Na Pê phối hợpvới Hà Tĩnh cùng tiến hành giúp đỡ nhau Chỉ huy của Lào ở các cấp do đồng chíngời Lào đảm nhận, bên cạnh sự giúp đỡ của các đồng chí quân tình nguyện ViệtNam
Ngày 13/8/1950 Đại hội mặt trận Dân tộc thống nhất Lào Itxala họp tại một
địa điểm ở căn cứ Việt Bắc, 150 đại biểu ở các địa phơng, các đoàn thể quầnchúng cách mạng, các lực lợng vũ trang, các tổ chức tôn giáo và thân sĩ tiến bộ,
từ các vùng căn cứ kháng chiến và vùng địch kiểm soát của Lào về tham dự Đạihội nhất trí thông qua Cơng lĩnh chính trị 12 điểm, xác định mục tiêu chiến đấucủa nhân dân Lào "Đoàn kết với Việt Nam và Cămpuchia, đánh đuổi thực dânPháp, can thhiệp Mỹ và bọn tay sai bán nớc, tiến lên xây dựng một nớc Lào độclập, dân chủ thống nhất và thịnh vợng” Đại hội quyết định thống nhất các tổchức Lào Itxala, thành lập mặt trận "Neo Lào Itxala" và "Chính phủ kháng chiếnLào" Hoàng thân Xu Pha Nu Vông đợc cử làm chủ tịch mặt trận kiêm thủ tớngchính phủ, Đồng chí Kay Xỏm Pôm Vi Hản làm bộ trởng bộ quốc phòng Đạihội cũng nhất trí cử Hoàng thân Phết xa Rạt làm cố vấn của mặt trận và chínhphủ
Đây là một sự kiện lịch sử quan trọng, đánh dấu bớc phát triển mới của cuộckháng chiến của quân và dân Lào làm cho thế và lực cách mạng Lào đợc tăng c-ờng và liên minh chiến đấu Việt - Lào thêm củng cố vững chắc
Ngày 25/8/1950 Thủ tớng chính phủ kháng chiến Lào ra quyết định tổ chứcnớc Lào thành 4 khu
Khu Tây Bắc gồm 2 tỉnh Bò Kẹo (Ha Khoóng) và Lạn Xạng (Luông PhaBăng)
Khu Bắc Lào, gồm 4 tỉnh Xi Xá, Tà Nạc (Viên Chăn); Xiêng Khoảng, ủaPhăn (Sầm Na) và Nhọt U (Phong Xa Lỳ)
Khu hạ Lào gồm 2 tỉnh Xêkông (Atôpơ) và Chăm Pa Xắc (tỉnh Sa Ra Vanhợp cùng tỉnh Chăm Pa Xắc)
Trang 30Các khu Trung Lào và Hạ Lào đều thành lập mặt trận Lào Itxala và uỷ bankháng chiến ở Bắc Lào do ủy ban mặt trận và chính phủ Trung ơng lãnh đạo chỉhuy trực tiếp đến các tỉnh về cơ cấu chỉ huy lực lợng quân sự ở Trung ơng Bộquốc phòng đợc thành lập, do đồng chí Kay Xỏm Phôm Vi Hản làm Bộ trởng,giúp việc cho Bộ trởng có đồng chí Xing Ka Pô Chum La Na Ny, đồng chí ThaoHằng và một số cán bộ Theo yêu cầu của bạn, ngoài quan hệ phối hợp giúp đỡthờng xuyên, ban cán sự lâm thời Thợng Lào đã cử một "Tổ cán bộ biệt phái"của quân tình nguyện Việt Nam trực tiếp giúp bạn xây dựng, các lực lợng vũtrang bạn trong vòng ba năm (1948 - 1950) Các lực lợng quân tình nguyện ViệtNam tại Lào đã giúp bạn, cùng với bạn vợt qua muôn vàn khó khăn thử thách,phát động, tổ chức quần chúng, xây dựng lực lợng ba thứ quân, từng bớc hìnhthành thế trận chiến tranh nhân dân trên các địa bàn Với nỗ lực phấn đấu của cảhai lực lợng Việt - Lào, chúng ta từng bớc làm thay tơng quan đổi lực lợng trênchiến trờng Lào, góp phần đánh bại một bớc âm mu của thực dân Pháp "Bình
định nhanh chóng nớc Lào làm bàn đạp, tấn công xâm lợc Việt Nam"
Tóm lại: Với tinh thần quốc tế vô sản trong sáng, các đồng chí tình nguyệnViệt Nam có mặt ngay từ đầu cuộc kháng chiến của nhân dân Lào, cùng chia ngọt
sẻ bùi với cách mạng Lào Dới hình thức đại đội và tuyên truyền hỗn hợp nh: Đại
đội và trung đội vũ trang tuyên truyền hỗn hợp, đại đội Tây Tiến 1, đại đội TâyTiến 2 hoạt động ở Sầm Na, năm 1947 đội xung phong Lào Bắc ra đời, năm 1948các chiến sĩ quốc tế Việt Nam góp phần không nhỏ vào việc xây dựng và pháttriển nhanh chóng các lực lợng cách mạng Lào trên khắp 3 miền Bắc - Trung -Nam Trong xây dựng lực lợng cách mạng, đội quân tình nguyện Việt Nam đãhoàn thành tốt các công việc:
Xây dựng đợc một lực lợng vũ trang của giai cấp công nhân, của nhân dânlao động, của quốc gia dân tộc Lào
Trong mỗi hoàn cảnh, mọi điều kiện mọi tình huống vừa hợp tác vừa giúp đỡbạn tổ chức, xây dựng các đơn vị lực lợng vũ trang trên các mặt chính trị, quân
sự, hậu cần, kỹ thuật
Qua rèn luyện chiến đấu và công tác, từng bớc theo sự phát triển của chiếntranh cách mạng Lào quân tình nguyện Việt Nam đã giúp lực lợng vũ trang làonâng cao chất lợng và phát triển số lợng, không ngừng phát triển tổ chức lực lợng
vũ trang bạn càng ngày càng hoàn chỉnh
Trang 31Dựa vào quần chúng xây dựng lực lợng vũ trang từ nhỏ yếu, dần dần tiến lênthành bộ đội chủ lực của từng quân khu, từng địa bàn trọng điểm chiến lợc, bộ
đội của tỉnh, huyện, dân quân, tự vệ của từng bản xã, cơ quan xí nghiệp ra đời.Xây dựng từ phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân và thông quaphong trào đấu tranh mà rèn luyện, xây dựng phát triển các đơn vị vũ trang, lấyxây dựng chất lợng làm cơ sở đồng thời đã tích cực phát triển về số lợng xemgiải quyết số lợng là một vấn đề thờng xuyên quan trọng
Xây dựng đội ngũ cán bộ "Nhằm vào những thành phần u tú của nhân dânlao động và những thanh niên trí thức cách mạng
Trang bị, ý thức "Tự sản xuất để tự túc lấy của địch và đồng thời tranh thủ sựchi viện từ bên ngoài, nâng cao hiệu quả sử dụng trang bị viện trợ để khôngngừng nâng cao sức chiến đấu
Then chốt thành công của quân tình nguyện Việt Nam đó là giúp bạn xâydựng lực lợng cách mạng vững mạnh trung thành tuyệt đối với lợi ích của dântộc, của giai cấp, quan hệ thuỷ chung với liên minh chiến đấu 3 nớc Đông Dơng Tuy nhiên, trong quá trình giúp bạn xây dựng lực lợng cách mạng, lực lợng
vũ trang đội quân tình nguyện của ta không thể tránh khỏi một số sai lầm nh làcha nhận thức đúng và kịp thời một số vấn đề có tính quy luật của chiến tranhgiải phóng dân tộc nên đã phạm phải một số sai sót có tính đờng lối nh
Giúp xây dựng bộ đội chủ lực tập trung cấp trung lữ - đoàn bộ binh chậm,cha chủ động giúp quy hoạch đúng nên khả năng tự lực của các đơn vị yếu
Chiến tranh giải phóng dân tộc Lào cũng phải tuân thủ theo quy luật của mộtcuộc chiến tranh chung là phải đi từ chiến tranh du kích tiến lên chiến tranhchính quy Thực tiễn chiến tranh đã phủ định những quan điểm cho rằng "Chiếntrờng Lào là chiến trờng phối hợp nên chỉ là chiến trờng du kích" Dù là phối hợpnhng Lào vẫn có tính độc lập riêng của cách mạng Lào Thắng lợi cuối cùng củaLào trực tiếp chính trên chiến trờng do quân đội nhân dân Lào làm nòng cốt có
sự liên minh với lực lợng vũ trang Việt Nam
Giúp xây dựng bộ đội chủ lực Lào chậm và chấp hành cha nghiêm chỉnh ờng lối và quan điểm của Đảng ở chỗ, làm nghĩa vụ quốc tế tức là phải tạo mọi
đ-điều kiện nâng cao vai trò dân tộc của bạn cả trong cách mạng và trong chiếntranh cách mạng
Phải đánh thắng địch về quân sự mới kết thúc chiến tranh đây là quy luật củamọi cuộc chiến tranh Dù liên minh chiến đấu trực tiếp với quân đội ta có lực l-
Trang 32ợng mạnh trên chiến trờng, quân đội ta cũng phải tích cực giúp bạn xây dựngbằng đợc bộ đội chủ lực đủ mạnh đánh bại từng kế hoạch của thực dân Pháp
2 2.4 Phối hợp liên minh chiến đấu trên các chiến trờng Lào (giai đoạn
1945 - 1950).
Cuộc khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 ở Lào đã diễn ra trong bối cảnh vừa
đấu tranh giành chính quyền từ tay phát xít Nhật, vừa tiến hành cuộc đấu tranhbảo vệ chính quyền chống bọn thức dân Pháp trở lại xâm lợc Vì vậy, quá trìnhkhởi nghĩa và chiến tranh cách mạng gắn chặt với nhau Các lực lợng vũ trangcách mạng của Việt kiều và các đơn vị quân đội Lào Itxala đợc hình thành vàphối hợp chiến đấu, góp phần quan trọng, đảm bảo cho cuộc khởi nghĩa giành đ-
ợc thắng lợi
Cùng với cuộc cách mạng tháng tám năm 1945 ở Việt Nam, tháng lợi củacuộc cách mạng tháng tám năm 1945 ở Lào đã mở ra "kỷ nguyên mới cho nhândân các dân tộc Lào đứng lên làm chủ vận mệnh đất nớc mình" Đồng thời cũng
mở ra kỷ nguyên mới về quan hệ đặc biệt Việt - Lào cùng đoàn kết giúp đỡ nhauvì những mục tiêu chung của cả hai dân tộc
ở Lào, sau các cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở một số thành phố, thịtrấn nh Viên Chăn hay thành phố Nà Khẹc, thành phố Sa Vẳn Nà Khẹc đây lànhững trung tâm chính trị - kinh tế - quân sự bao gồm cả thủ đô và kinh đô củaVơng quốc Lào, khởi nghĩa đánh đuổi bọn thực dân Pháp ra khỏi Lào Những sựkiện mở đầu đó có ý nghĩa to lớn mang tầm vóc toàn quốc
Trong thời gian chống thực dân Pháp trở lại xâm lợc (10/1945 - 5/1946) cáclực lợng vũ trang Lào và Việt Kiêu đã phải đơng đầu với sự chống phá của nhiềuthế lực đế quốc khác Các chính phủ Mỹ, Anh, Trung Hoa dân quốc khôngnhững cha công nhận nền độc lập của Lào và Việt Nam mà còn có ý đồ bành tr-ớng thế lực của họ ở khu vực này Còn chính phủ Pháp do tớng Đơ gôn cầm đầuthì tuyên bố trắng trợn, coi nh Đông Dơng vẫn là thuộc địa của Pháp Với ý đồ
đó chính phủ Pháp gấp rút tổ chức đạo quân viễn chinh sang Đông Dơng, đồngthời lệnh cho bon tàn binh Pháp ở Lào tập hợp lại liên tiếp đánh chiếm một số cứ
điểm trên các trục đờng 7, 8, 9, 12, 13 nhất là những nơi không có lực lợng vũtrang quần chúng, chuẩn bị địa bàn cho hoạt động quân sự mở rộng sau này
Trang 33- Đợc nhân dân các bộ tộc Lào hết sức giúp đỡ, liên quân Lào - Việt và các
đơn vị quân đội Việt Nam hoạt động ở vùng biên giới Việt - Lào đã tích cực chủ
động phản công, phản kích địch, đánh thắng một số trận quan trọng, gây cho
địch nhiều thiệt hại
ở khu vực hai tỉnh Thanh Hóa, Sầm Na ngày 20 tháng 10 năm 1945 một đơn
vị quân đội Việt Nam thuộc tỉnh Thanh Hoá hoạt động ở vùng mờng Dơng, giápMờng Sầm Tớ tập kích một đơn vị quân Pháp ở Mờng Láp, diệt đại đội bộ phậnquân địch trong đó có tên MuTin chỉ huy đơn vị, thu nhiều vũ khí
ở Khăm Cợt, Napê biên giới tỉnh hà Tĩnh, đơn vị đồng chí Châu thuộc chi
đội Phan Đình Phùng (sau là trung đoàn 103) đợc nhân dân giúp đỡ đã tích cựcchiến đấu ngăn chặn địch ở gần Napê sau này đơn vị này đợc bổ sung lực lợng tổchức thành trung đoàn có nhiệm vụ canh giữ Napê do đồng chí Trờng Sinh trựctiếp chỉ đạo Đi đôi với nhiệm vụ chiến đấu ngăn chặn địch, trong thời gian hoạt
động ở biên giới đơn vị đồng chí Châu và đồng chí Trờng Sinh tích cực giúp bạnxây dựng đợc một trung đội Lào Itxala, đợc trang bị vũ khí và tham gia chiến
đấu sau này
ở khu vực đờng số 9 giáp Quảng Trị (Việt Nam) đợc nhân dân giúp đỡ.Ngày 3/11/1945 đã tấn công đơn vị Germain (đơn vị lấy theo tên chỉ huy) buộc
địch rút về Tây Nam Các đơn vị vũ trang Lào - Việt đã bám sát chiến đấu ngănchặn địch từng bớc diệt và làm bị thơng nhiều tên Địch gặp khó khăn bi tổn thấttrong chiến đấu và gặp khó khăn trong sinh hoạt vì không nhận đợc tiếp tế, đãlàm cho binh lính chán nản mất tinh thần chiến đấu buộc chúng phải rút lui
ở khu vực Viên Chăn, ban chỉ huy liên quân chủ động tổ chức đánh địch lấnchiếm, hai trung đội Lào - Việt đã tập kích trung đội ở bản Nà Khà, loại khỏivùng chiến đấu 10 tên còn lại chạy vào rừng Ngày 14 tháng 10 năm 1945 trung
đội liên quân Lào - Việt phục kích tiểu đôi quân tuần tiểu trên đờng số 13 từYlay đến Na Khà (Bắc Viên Chăn 3Km) diệt 7 tên trong đo có thiếu uý Đu Laychỉ huy tiểu đội
Phát huy thắng lợi, ngày 19/11/1945, Ban chỉ huy liên quân tập trung một lựclợng lớn hơn, gồm đại độ Lào Itxala và hai đại đội Việt Kiều giải phóng quân,tập kích tiểu đoàn chiếm đóng khu vực bản cơn (Đông Bắc Viên Chăn 65 Km)loại khỏi vòng chiến đấu hai trung đội địch ở hai tiền tuyến phía Nam và phíaBắc Ban Cơn Ngày 21/1/1946, liên quân Lào - Việt tiêu diệt 4 điểm tiền tiêu hai
điểm Bắc Bản Cơn và hai điểm ở bản Kha Nhuy và Bản Bò Ca, loại khỏi vòngchiến đấu 70 tên Pháp và ngụy Lào
Trang 34Các trận đánh của liên quân Lào - Việt cuối 1945 đầu 1946 đã làm thất bạimột bớc tiến công lấn chiếm của địch, buộc chúng phải co về phòng thủ, cố giữcác địa bàn chiếm đóng.
- T đầu 1946 cho đến thánh 6/1946 liên quân Lào và đội quân tình nguyệnViệt Nam đã đánh địch bằng những trận quyết chiến bảo vệ các thành phố và thịtrấn lớn nh Thà Khẹt
Còn ở thủ đô Viên Chăn, dới sự chỉ huy của tớng Lơ CơLéc quân Pháp ráoriết kế hoạch đánh chiếm Viên Chăn, đã viện trợ thêm 200 quân nhảy dù và một
số đơn vị máy bay trinh sát để chi viện cho cuộc tiến công
Về lực lợng cách mạng yêu nớc Lào, rút kinh nghiệm từ cuộc kháng chiến SaVẳn Nà Khẹt và thà Khẹ để bảo toàn lực lợng lâu dài, xứ uỷ Lào thông qua pháiviên chính phủ Việt Nam tại Viên Chăn đã bàn bạc thống nhất với chính phủ độclập lâm thời Lào Itxala, đề ra chủ trơng vừa chiến đấu tiêu hao địch, cản bớc tiếncủa chúng, tổ chức nhân dân Lào và Việt Kiều di tản ra khỏi thành phố, chuyểnchính phủ lên Luông Ba Bảng và đa lực lợng vũ trang về nông thôn và miền núi,tiếp tục tiến hành cuộc kháng chiến
Thực hiện chủ trơng đó chỉ huy liên quân Lào - Việt cũng tổ chức lực lợngchiến đấu cho phù hợp với tình hình nhiệm vụ mới Đại bộ phận lực lợng vẫn tiếptục chiến đấu ngăn cản bớc tiến của địch
Ngày 2/4/1946, Pháp tập trung lực lợng gồm 5 đại đội bộ binh, 1 đại đội tậpkích cơ giới trang bị pháo cùng máy bay, súng cối tổ chức thành hai cánh quân.Cánh thứ nhất ở phía Tây khu vực Xi Khay Cánh thứ hai phía Đông Nam tiếnvào khu vực Thát Luống nhng để bị liên quân dùng súng trờng, lựu đạn và súngcối phục kích chặn đánh Sau 6 tháng anh dũng chiến đấu, tiêu hao tiêu diệt đợcmột bộ phận quan trọng sinh lực địch bảo vệ nhân dân và chính phủ di tản antoàn sang Thái Lan và luông Pha Băng liên quân Lào - Việt rút toàn bộ lực l ợng
ra khỏ thủ đô Viên Chăn Ngày 25/4/1946, Pháp tiến vào chiếm thành phố
Nh-ng Viên Chăn chỉ còn vờn khôNh-ng nhà trốNh-ng, gây nhiều khó khăn cho bọn xâm
l-ợc Phải mất một tháng sau thực dân Pháp mới ổn định đợc tình hình, tổ chức
bộ máy ngụy quyền
ở kinh đô Luông Pha Băng và ở Mờng Phôn Hồng và Mờng Kaxy, để bảo
đảm an toàn, chính phủ độc lập lâm thời Lào Itxala kể cả Hoàng thân Phết Xa Rạtcũng thực hiện những kế hoạch nh trên tiếp tục chiến đấu và tản c
Trang 35Đến đây cuộc chiến đấu bảo vệ các thành phố, thị trấn giải phóng của Làochống Pháp trở lại xâm lợc đã cơ bản chấm dứt, chính phủ độc lập lâm thời LàoItxala đợc thành lập trong cuộc khởi nghĩa giành chính quyền tháng tám 1945 Tuy chỉ tồn tại trong thời gian ngắn, nhng đã có những đóng góp quan trọngtrong việc đề cao danh nghĩa độc lập của nớc Lào và tăng cờng quan hệ đoàn kếtchiến đấu chống kẻ thù chung giữa chính phủ nhân dân hai nớc Việt - Lào.
Các đơn vị Việt Kiều giải phóng quân và quân đội Lào Itxala đợc tổ chứcthành liên quân Lào - Việt từ đầu cuộc khởi nghĩa Tuy liên quân còn nhiều khókhăn hạn chế nhng đã thực sự đoàn kết giúp đỡ nhau Nâng cao tinh thần cáchmạng và ý chí chiến đấu, tích cực chủ động đánh địch Cùng nhân dân lập nhiềuchiến công xuất sắc trong những ngày đầu kháng chiến, để lại những bài học quýbáu cho sự nghiệp đoàn kết liên minh chiến đấu đặc biệt những năm sau này
- Bớc vào năm 1947, cách mạng Lào còn gặp nhiều khó khăn, do lực lợngkháng chiến còn mỏng, chính phủ kháng chiến trớc sự tấn công vũ trang củathực dân Pháp phải rút qua đất Thái lan Đứng trớc tình hình đó Đảng cộng sản
Đông Dơng chủ trơng chuyển dần lực lợng kháng chiến Đông Lào vào Việt Namlàm hậu phơng để tiếp tục kháng chiến Bộ t lệnh liên khu bốn giao cho các banchỉ huy tỉnh đội có biên giới chung với Lào, cử cán bộ đơn vị vũ trang đi cùng đểphối hợp giúp đỡ thực hiện các nhiệm vụ đợc giao
ở khu vực đờng số 9, đại độ 55 bộ đội địa phơng tỉnh Quảng Trị đợc giaonhiệm vụ phối hợp giúp đỡ đại đội "Mờng Sêpôn"
ở đờng số 12, đại đội 6 bộ đội tỉnh Quảng Bình phối hợp giúp đỡ đại đội ờng Bô Lu Pha, hoạt động ở tỉnh Khăm Muộn
M-ở khu vực đờng số 8, đại đội tiểu đoàn Trờng Sinh thuộc trung đoàn 103 đợcgiao nhiệm vụ phói hợp với đơn vị ông Thao Xay chỉ huy, trở lai hoạt động ở khuvực Napê, Lạc Xao, Bản Tôn đến nhôm Ma Rạt
ở phía Đông tỉnh Xiêng Khoảng, tiểu đoàn 265 của liên khu bốn hoạt dộng
độc lập ở đờng số 7, khu vực biên giới Việt - Lào phối hợp với đơn vị ông ThaoBun, Thao Phăn chỉ huy trở lại hoạt động ở Mờng Mộc, Mờng Ngàn Đồng thời
đại đội 219 một đơn vị phần lớn là con em Việt Kiều do Võ Khắc về làm đội ởng và Vũ Văn Điệt làm chính trị viên đợc giao nhiệm vụ đặc biệt bảo vệ con đ-ờng liên lạc quốc tế bí mật Việt - Lào - Thái và xây dựng căn cứ địa ở khu vựcMờng Mộc (Đông Nam Xiêng Khoảng)
Trang 36tr-ở khu vực Xiêng Khoảng, Nam Hủa Phăn vốn là các chiến sỹ cán bộ "Biệt
động đội đờng 9" hoạt động ở hai huyện Mờng Noòng, Tà Ôi do Nguyên VănHiến và Phạm Bảo phụ trách và cùng hai ngời Lào là Cà Tè và Cà Tầng (dân ca
Tà Ôi) hoạt động ở đờng số 7 phía Tây Nghệ An, đợc giao nhiệm vụ phối hợpgiúp đỡ đội vũ trang tuyên truyền "Tây tiến" do ông Thao Mu phụ trách và đơn
vị "Xiềng xích" do ông Phìa óm chỉ huy, trở lại hoạt động ở Tây Nam tỉnh HủaPhăn bao gồm cả Tà Xẻng của huyện Sầm Tớ
Tháng 2/1947 đợc nhân dân giúp đỡ, các lực lợng vũ trang Lào - Việt tậpkích đồn Na Pê, quân và dân ta xung phong vào đồn và Đăng ga Lô dùng mã tấulựu đạn đánh địch, diệt 20 tên Pháp và Nguỵ Lào Và cùng thời gian này đánh
địch tại nhiều nơi ở tỉnh Sầm Na, nhanh chóng làm chủ phòng tuyến Sông Mã Sầm Tớ "Tây Tiến" thể hiện tinh thần tích cực chủ động tiến công địch của cáclực lợng vũ trang Việt Nam
-Tháng 4/1947 địch gồm 80 tên đánh càn quét vùng biên giới Lào - Việt chặn
đánh ở Mờng Pao, Mờng Dơng phá tan cuộc càn quét của Pháp xuống Mờng
Mộ, diệt đợc 7 lính Pháp và 5 tên ngụy Lào
Cuối năm 1947 đội vũ trang tuyên truyền Lào - Việt dới sự lãnh đạo của
đồng chí Cay Xỏm Pôm Vi hản và Thao Ma đã từ Tây Bắc Việt Nam tiến về hoạt
động ở Kiềng Khọ, và một đội khác gồm 30 chiến sĩ về hoạt động ở Hủa Mờng,cả 2 căn cứ này đều ở tỉnh Sầm Na nơi mà địch bị liên quân Lào - Việt giáng chonhững đòn mạnh mẽ
Ngày 13/12/1947 ủy ban kháng chiến hành chính khu IV thành lập "Phòngbiên chính" chuyên trách "công tác vận động và quân sự giúp Lào" trong liênminh chiến đấu chống ngoại xâm quân dân 2 nớc Việt - Lào những năm 1945 -
1947 là giai đoạn chiến đấu rất khó khăn, quyết liệt sối động, giành đợc thắng lợi
có tính chất cơ bản mở đầu kỷ nguyên mới của cuộc đấu tranh giải phóng dântộc, tiến lên phát triển lực lợng, đẩy mạnh phong trào kháng chiến trong cả nớc.Tuy nhiên, trong thời gian đầu, việc giúp xây dựng lực lợng cho bạn Lào ởcác địa phơng còn chậm các lực lợng quân sự và chính trị của Việt Nam sanggiúp bạn mới khoảng trên 1.000 ngời, lại hoạt động phân tán ở nhiều vùng, nêncha có đủ cơ sở và lực lợng để giúp bạn và cùng bạn làm nòng cốt đẩy mạnhcuộc kháng chiến của toàn nhân dân, đập tan mọi âm mu hành động xâm lợc củathực dân Pháp
- Sau thất bại Việt Bắc 1947, đế quốc Pháp buộc phải chuyển sang chiếnlựoc đánh kéo dài, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, kết hợp quân sự với lừa bịp
Trang 37chính trị, đẩy mạnh, bình định vùng kiểm soát Bên cạnh đó tình hình quốc tế
và Đông Dơng có những chuyển biến quan trọng, ảnh hởng trực tiếp đến cuộckháng chiến của nhân dân Lào và các lực lợng vũ trang liên quân Lào - Việt.Liên Xô ngày càng đợc củng cố và lớn mạnh, tạo điều kiện giúp đỡ các nớcdân chủ nhân dân Đông Âu và Ban Căng khôi phục và phát triển kinh tế chống
sự lũng đoạn và bao vây của Mỹ và các nớc Tây Âu Do vậy phong trào đấutranh giành độc lập dân tộc tiếp tục phát triển ở châu Phi, châu á, đặc biệt là
Đông Nam á và Trung Cận Đông
ở Đông Dơng sau hơn hai năm kháng chiến, nhất là sau chiến thắng oanhliệt của quân và dân Việt Nam trong Thu Đông 1947, cục diện chiến tranh đãthay đổi giữa lực lợng ta và địch và nó đã tác động mạnh mẽ đến cả chiến trờngLào và Cămpuchia Từ đây, cuộc chiến tranh của quân và dân Lào cũng bớc vàothời kỳ đấu tranh giằng co, quyết liệt với địch
Đó là những điều kiện để mở rộng sự liên minh chiến đấu giữa 3 nứoc ĐôngDơng mà lực lợng mạnh nhất là Việt Nam dân chủ cộng hoà
Để thống nhất chỉ huy và chỉ đạo các chiến trờng theo đề nghị của tổng bộchỉ huy 25/2/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra sắc lệnh tổ chức các liên khu ở ViệtNam Trên cơ sở đó, tháng 5/1948 chủ trơng nhiệm vụ giúp bạn Lào về quân sự.Liên khu 10 giúp bạn ở các tỉnh Thợng Lào, liên khu 3 giúp bạn ở hai tỉnh HủaPhăn và Xiêng Khoảng, Liên khu 4 giúp các tỉnh Trung Lào, liên khu 5 giúp cáctỉnh Hạ Lào và Đông Bắc Miên
Do đặc điểm chiến trờng Lào bị phân cách, nên sự phát triển của phong tràocách mạng và kháng chiến ở các khu vực không đều nhau, ở Đông Lào và TâyLào đã tổ chức vận động nhân dân, thiết lập đợc một số căn cứ kháng chiến thì ởBắc Lào và Hạ Lào đến cuối 1947 cha có hoạt động đáng kể gì Vì vậy, cùng vớiviệc giúp bạn ở hai phía Đông và Tây Lào thì chấn chỉnh và tăng cờng hoạt động
đặc biệt ở hai khu vực Hạ Lào (gắn với chiến trờng Tây Nguyên và Bắc Miến) và
Đông Bắc Lào (gắn với chiến trờng chính Bắc Bộ Việt Nam) khẩn trơng giúp bạnxây dựng căn cứ và đẩy mạnh chiến tranh du kích đó là nhiệm vụ cấp bách và hếtsức quan trọng để đủ điều kiện xung kích trên chiến trờng
Sau một thời gian chuẩn bị, ngày 19/8/1948, các đơn vị Việt - Lào làm lễ xuấtquân về căn cứ Tà Ngô để trở về Lào hoạt động, đồng chí Phạm Văn Đồng đã căndặn: "Chỉ có vận động nhân dân Lào kháng chiến, thì ta mới có thể đánh thắng giặcPháp" Từ Tà Ngô lực lợng chia thành 3 bộ phận tiến sang đất Lào, hai tiểu đội Việt
Trang 38Nam và một tổ công tác dân vận có nhiệm vụ khảo sát địa thế, dân c, gây cơ sở hoạt
động lâu và nắm tình hình địch trong vùng
Trong thời gian ta hoạt động ở đây, quân địch tiến hành hai cuộc hành quânlùng sục từ Atôpơ và Xaravan đến tận biên giới Việt - Lào Các lực lợng vũ trangLào - Việt đã tổ chức một số trận đánh ở Đắc Rai, Đắc Dung, Bắc Hà, BăngNhơn, buộc địch phải co cụm lực lợng cố thủ lại Những vùng này dân c tha,trình độ dân trí thấp, kinh tế nghèo nàn, bệnh tật nhiều Lại bị địch chia rẽ kích
động hằn thù dẫn đến xô xát đổ máu, do vậy quân địch ở đây không đông nhngchúng lập đợc hệ thống tề ngụy tay sai, khống chế đợc dân và gây nhiều khókhăn cho lực lợng kháng chiến Nửa năm đầu dân cha hiểu vì sao ta có mặt ở
đây, nên còn tránh né tiếp xúc với ta, một số chiến sỹ bạn phát sinh t tởng biquan không muốn kéo dài hoạt động ở vùng này, cán bộ chiến sỹ Việt Nam cũngmất dần sự hào hứng lúc đầu, nếu không có phơng pháp giải quyết kịp thời thìkhó có thể xây dựng căn cứ phát triển lực lợng ở 3 tỉnh Hạ Lào kịp với các vùngkhác Nên tháng 2/1948 Lào gửi tiếp đoàn thứ hai sang liên khu 5 nhờ Việt Namhuấn luyện và bổ sung trang bị vũ khí Để giúp bạn xây dựng khu kháng chiếnHạ Lào cử đồng chí Nguyễn Chỉnh Cầu làm bí th lãnh đạo và đẩy mạnh phongtrào kháng chiến ở Hạ Lào
Ngày 5/9/1949, ta tiến hành một đợt chỉnh huấn quân sự - chính trị để lạimột đơn vị vũ trang tuyên truyền bám chiến trờng theo dõi địch và chuẩn bị cơ
sở dọc hành lang tiến quân sắp tới Trong thời gian bộ đội tập trung chỉnh huấn,
bộ phận hậu cần do đồng chỉ Nguyễn Tấn Tôn phụ trách đa tăng cờng củg cố cơquan, lập đội vận tải, xây dựng hệ thống kho, trạm, vận chuyển bố trí một khối l-ợng quân nhu, vật dụng đủ cấp phát cho bộ đội ta và bạn trên đờng hành quân vàmang vác theo khi tiến quân vào vùng sau lng địch
Tháng 10/1949, theo kế hoạch đã định, các lực lợng Lào - Việt đã bắt đầutiến quân sang phía tây sông Mê kông theo hai hớng chính là Atôpơ, lực lợngcủa ta có các đại đội 200 và đại đội 44, hai đại đội vũ trang tuyên truyền Hớngthứ hai là tiến vào vùng địh hậu Xaravan gồm một đội vũ trang tuyên truyền của
ta do Trần Trọng Khâm chỉ huy và một tổ dân vận trên đờng tiến về thợng nguồnsông Xê kông, quân ta đụng độ với quân địch, nhng lực lợng vẫn đợc bảo toàn.Sau vài ngày ta và bạn củng cố lực lợng và tiến sâu vào vùng sau lng địch, rồitiến sang phía Tây hoạt động xây dựng cơ sở ở đồn Pha Phố, đây là khu vực trùphú của thị trấn Phia Phay, tạo bàn đạp để vợt sông Mê kông tiến vào miền Tâytỉnh Chăn Pa xắc đông dân nhất Hạ Lào Bất ngờ trớc sự xuất hiện lực lợng của
ta địch hoảng sợ tháo chạy khỏi Phia Phay vào thị xã Pạc Xế, bỏ trống cả vùng
Trang 39dọc đờng 13 và tả ngạn sông Mêkông Lợi dụng tình hình lực lợng Lào - Việt
đẩy mạnh hoạt động vũ trang tuyên truyền vào sát thị xã Pạc Xế gây ảnh hởngchính trị trong toàn tỉnh Chăm pa xắc
ở Trung Lào quân tình nguyện Việt Nam sang giúp Lào đợc tăng cờng, tiểu
đoàn độc lập 364 sang phối hợp với Pa Thét Lào hoạt động ở Nam Bắc đờng số
9 Về phía lực lợng kháng chiến Lào năm 1949 là năm có những chuyển biến
đáng kể Ngày 20/1/1949, quân đội Lào Itxala đợc thành lập Ngày 1/3, tạiAtôpơ khu kháng chiến Hạ Lào đợc thành lập Tháng 10.1949 uỷ ban khángchiến tỉnh Viên Chăn ra đời Đầu tháng 11/1949 quân và dân Lào phối hợp với
bộ đội Việt Nam trong chiến dịch sông Mã thu đợc nhiều thắng lợi lớn Liênquân Lào - Việt cùng du kích địa phơng tập kích thắng lợi ở đồn Kiềng Khọ, giảiphóng một vùng rộng lớn 4.000 km2 dọc theo sông Nậm Ma Nhân đà thắng lợiliên quân Lào - Việt bao vây Sầm Tớ phản công buộc địch phải rút lui khi chúng
điều một tiểu đoàn và hai đại đội từ Mộc Châu Mai Sơn (Sơn La) định chiếm lạiKiềng Khọ
Cuối năm 1949 hàng loạt căn cứ giải phóng đã đợc xây dựng trên địa bàntoàn quốc Lào, các lực lợng Việt - Lào đã tổ chức nhiều trận tập kích và giành đ-
ợc tháng lợi nh ở: Khang Ngô, Thích Ngôn, Phạ Phô diệt gọn một trung đội Âu
- Phi bắt sống 19 tên, thu nhiều vũ khí, phá tan cuộc càn quét ngay tại địa đầuvùng căn cứ, buộc địch phải quay về phòng thủ Atôpơ Bên cạnh đó có liên khu
10 tích cực giúp bạn phát động tổ chức phong trào kháng chiến ở các tỉnh BắcLào, đây là khu vực vùng núi hiểm trở nối liền với khu Tây Bắc và căn cứ địaViệt Bắc, nơi tập trung cơ quan lãnh đạo của trung ơng Đảng và chính phủ khángchiến Việt Nam, sau này liên khu 10 đợc bổ sung thêm đại đội 844 tổ chức thành
đội vũ trang tuyên truyền số 74 xây dựng cơ sở kháng chiến xung quanh khu vựcthị xã Sầm Nứa
Liên khu 10 thống nhất với ban chỉ huy xung phong Lào Bắc mục đích mởthông biên giới Việt - Lào, lực lợng tham gia chiến dịch về phía Việt Nam cótriung đoàn 138, tiểu đoàn 910
Tháng 11/1949, chiến dịch mở màn ta phối hợp giúp bạn tiêu diệt Xiềng Khọlần thứ hai, kết quả là loại khỏi vòng chiến đấu 4 tên ngời Pháp, một đại đội
địch chiến thắng làm rung chuyển hệ thống phòng ngự của địch, quân ta tiếptục công kích, địch hoảng sợ rút chạy khỏi 9 vị trí dọc sông Mã từ Xiềng Khọ
đến Xốp Hào, phòng tuyến sông Mã của địch bị phá vỡ trên một đoạn đờng dài