1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của phật giáo trong lịch sử trung đại lào

63 633 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vai trò của Phật giáo trong lịch sử trung đại Lào
Tác giả Nguyễn Thị Hơng
Người hướng dẫn Hoàng Đăng Long
Trường học Trường đại học vinh
Chuyên ngành Lịch sử thế giới
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2003
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 208,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì thế, giai đoạn lịch sử Trung đại Lào, Phật giáo đã đóng vai trò to lớntrong việc thống đất nớc về t tởng, trong đời sống chính trị, văn hoá - xã hội, trongnhững cuộc đấu tranh b

Trang 1

Bộ giáo dục - đào tạo Trờng đại học vinh

khoa Lịch sử

======

Nguyễn Thị Hơng

Khoá luận tốt nghiệp đại học

Vai trò của phật giáo trong lịch sử trung

Trang 2

3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 5

2.1 Những con đờng du nhập của Phật giáo vào Lào 14

3.1 Khái quát tiến trình lịch sử trung đại Lào 28 3.2 Vai trò của Phật giáo trong việc thống nhất t tởng giữa các mờng

3.3 Vai trò của Phật giáo trong thời kỳ hng thịnh của vơng quốc Lào

LanXang (thế kỷ XVI-XVII).

32

3.4 Phật giáo và cuộc đấu tranh cho sự nghiệp tái thống nhất đất nớc

3.5 Một số đặc điểm của Phật giáo thời trung đại 55

Trang 3

Phần mở đầu

1 Lý do chọn đề tài:

Phật giáo với lý tởng nhân văn, bác ái, với vai trò nhiệt thành vì con ngời đợcbình đẳng, đợc giải thoát khỏi mọi khổ đau và tai ơng của cuộc đời Chính vì vậy, Phậtgiáo có ảnh hởng sâu sắc trong quần chúng nhân dân ở những nơi mà nó lan toả đến.Trên con đờng truyền bá của mình, Phật giáo đã đợc xứ sở hoa Chăm pa đón nhận thậtnồng nhiệt

Sự đón nhận ấy, thể hiện rõ nhất là vào thế kỷ XIV, sau khi thống nhất quốc gia

về lãnh thổ, Phạ Ngừm lên ngôi, lập quốc gia Lan Xang (Triệu Voi), mở đầu cho lịch sửtrung đại Lào Phạ Ngừm đã đa Phật giáo Tiểu thừa từ Căm pu chia truyền vào trong n-

ớc và thần dân Lan Xang đón nhận đức Phật từ bi vào xứ sở của mình Tại đây, cũnggiống nh mọi nơi khác Phật giáo đến, đã đạt tới đỉnh vinh quang nhất là trở thành quốcgiáo và nó cũng là tôn giáo gần gũi nhất với quần chúng nhân dân Phật giáo đã hoà

đồng đợc với những tín ngỡng cổ truyền nhất của ngời Lào Điều đó, đã làm cho Phậtgiáo gắn bó mật thiết với nhân dân Lào trong quá trình xây dựng và bảo vệ đất nớc củamình

Chính vì thế, giai đoạn lịch sử Trung đại Lào, Phật giáo đã đóng vai trò to lớntrong việc thống đất nớc về t tởng, trong đời sống chính trị, văn hoá - xã hội, trongnhững cuộc đấu tranh bảo về độc lập, chủ quyền cho đất nớc, trong ngoại giao với cácnớc láng giềng, trong việc tái thống nhất đất nớc… Đặc biệt , vào thế kỷ XVI-XVII,Phật giáo đã thể hiện mình rực rỡ nhất trong lịch sử trung đại Lào Đây là giai đoạnphát triển hng thịnh nhất của vơng quốc Lào Lan Xang, sau khi đã đẩy lùi đợc các cuộcxâm lăng của phong kiến Miến Bấy giờ, các triều vua Lào Lan Xang đã ra sức pháttriển, làm phồn thịnh nền kinh tế trong nớc và mở rộng quan hệ ngoại giao với Đại Việt

ở phía Đông, với Ayuthay ở phía Tây Nét nổi bật nhất trong chính sách đối nội thời kỳ

Trang 4

này là sự phát triển của Phật giáo Với sắc lệnh của vua Phôthixalat đầu thế kỷ XVI vềxoá bỏ thờ "Phỉ" (ma), buộc thần dân trong nớc phải thờ Phật và lập tổ chức Phật giáo

thống nhất toàn vơng quốc, khiến càng thêm xác lập vị trí vững vàng của Phật giáo từtrung ơng đến địa phơng Phật giáo trở thành hệ thống t tởng chính thống của vơngquốc Lào Lan Xang Thời kỳ này, các triều vua đều ra sức sử dụng Phật giáo làm công

cụ chấn hng đất nớc, cho nên Phật giáo đã phát triển rực rỡ cha từng thấy ở Lào LanXang Nơi đây đã trở thành trung tâm Phật giáo của toàn khu vực Do vậy, nghiên cứuPhật giáo trong giai đoạn này để thấy đợc ảnh hởng một cách toàn diện của Phật giáo

đối với lịch sử trung đại Lào nói chung và đối với giai đoạn phát triển thịnh đạt của

v-ơng quốc Lào Lan Xang thế kỷ XVI-XVII nói riêng, thật sự thôi thúc chúng tôi chọn vàtìm hiểu đề tài này

Nghiên cứu "Vai trò của Phật giáo trong lịch sử trung đại Lào" không chỉ thấynhững đóng góp của Phật giáo trong việc xây dựng quốc gia Lào Lan Xang thống nhất,trong việc hình thành nền văn hoá với những bản sắc riêng mà còn để hiểu sâu sắc hơn

về sự có mặt của Phật giáo ở nớc Công hoà dân chủ nhân dân Lào hiện nay, góp phầnhiểu thêm về ngời bạn thuỷ chung son sắt của nhân dân Việt Nam

Chính vì những lí do trên, tôi "chọn"Vai trò của Phật giáo trong lịch sử Trung

đại Lào" làm đề tài khoá luận tốt nghiệp đại học cho mình Em xin chân thành cảm ơn

thầy giáo Hoàng Đăng Long đã nhiệt tình hớng dẫn, giúp em hoàn thành khoá luận này

2 Lịch sử vấn đề:

Lịch sử trung đại Lào đợc bắt đầu từ 1353, vua Phạ Ngừm lên ngôi, lập quốc giaLan Xang và kết thúc vào giữa thế kỷ XIX, khi phong kiến Xiêm trực tiếp đặt ách thốngtrị ở Lào Chính vì vậy, những tài liệu ghi chép về lịch sử trung đại Lào là rất nhiều.Nhng cha có một tài liệu nào làm rõ "Vai trò của Phật giáo trong lịch sử trung đại Lào"

một cách trọn vẹn và hệ thống, mặc dù có không ít ngời đã đề cập đến ở những góc độkhác nhau

Trang 5

Cuốn sách "Vai trò của Phật giáo trong đời sống chính trị, văn hoá - xã hội Lào

từ thế kỷ VIII đến thế kỷ XIX" của Tiến sỹ Nguyễn Lệ Thi đã làm rõ vai trò của Phật

giáo trong đời sống chính trị, đời sống văn hoá - xã hội Lào từ suốt thế kỷ VIII đến thế

kỷ XIX, nghĩa là mới ở một số khía cạnh của lịch sử Trung đại Lào

Trong cuốn "Tìm hiểu lịch sử-văn hoá Lào" của nhiều tác giả - NXB KHXH tập

1,2,3 cũng đề cập đến vấn đề này ở lĩnh vực thống nhất t tởng và trong văn hoá

Cuốn "Đất nớc Lào lịch sử và văn hoá" của Giáo s Lơng Ninh cũng đề cập đến

vấn đề này nhng chỉ là một số nét khái quát

Các cuốn: "Văn hoá ba nớc Đông dơng" của Cao Xuân Phổ, Ngô Văn Doanh…, " Văn học của các nớc Đông Nam á" do Nguyễn Tấn Đắc chủ biên; Trong bài "Mấy vấn

Tất cả chỉ mới đề cập đến vai trò của Phật giáo trong một số lĩnh vực nh văn học, vănhoá, kiến trúc…

Trong lịch sử trung đại Lào, Phật giáo có một vai trò rất quan trọng trong việcthống nhất đất nớc về mặt t tởng , trong chính trị, giáo dục, văn hoá, xã hội, trongngoại giao và trong bảo về độc lập đất nớc…Nhng cha có một tác giả nào nghiên cứumột cách toàn diện về "Vai trò của Phật giáo trong lịch sử trung đại Lào" Hy vọng,

trong tơng lai vấn đề này sẽ còn đợc nhiều tác giả đề cập đến

Đối tợng nghiên cứu là tìm hiểu vài nét về đạo Phật ( nguồn gốc ra đời và nộidung cơ bản), tìm hiểu quá trình du nhập của Phật giáo vào Lào, đợc đất nớc này đónnhận và trở thành quốc giáo

Tập trung vào nghiên cứu vai trò của Phật giáo trong lịch sử trung đại Lào trêntất cả các mặt: T tởng, chính trị, giáo dục, văn hoá, xã hội, ngoại giao…

Phạm vi nghiên cứu, về không gian là nghiên cứu vai trò của Phật giáo ở v ơngquốc Lào Lan Xang(nớc Lào thời trung đại), về thời gian bắt đầu từ khi Phạ Ngừm

Trang 6

thống nhất quốc gia, đa Phật giáo thành quốc giáo (thế kỷ XIV) đến khi phong kiếnXiêm trực tiếp đặt ách thống trị ở Lào (giữa thế kỷ XIX).

Với nguồn tài liệu phong phú : tài liệu về Phật giáo, tài liệu về thông sử Lào, vềvăn hoá Lào và cả những tài liệu phần nào đề cập đến đề tài Để làm đề tài này, chúngtôi tiến hành su tầm, đọc tài liệu có liên quan đến Phật giáo cũng nh ảnh hởng của Phậtgiáo đối với lịch sử trung đại Lào Tiến hành so sánh, đối chiếu và xử lý các nguồn tàiliệu Sau đó, kết hợp các phơng pháp chuyên ngành lôgíc, đánh giá phân tích, từ đó rút

ra kết luận cụ thể đúng với lịch sử

Bớc đầu tập dợt nghiên cứu, đề tài này của tôi chắc chắn không tránh khỏi thiếusót, rất mong đợc sự góp ý phê bình của bạn đọc

5 Bố cục của đề tài:

Gồm những phần sau:

Phần mở đầu:

1 Lý do chọn đề tài

2 Lịch sử vấn đề

3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

4 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu

Phần nội dung:

Chơng 1: Khái quát nguồn gốc ra đời và nội dung cơ bản của đạo Phật Chơng 2: Những con đờng du nhập và phát triển của Phật giáo ở Lào Chơng 3: Vai tò của Phật giáo trong lịch sử trung đại Lào.

3.1: Khái quát tiến trình lịch sử trung đại Lào

3.2: Vai trò của Phật giáo trong việc thống nhất t tởng giữa các Mờng Lào dớithời Phạ Ngừm (thế kỷ thứ XIV)

3.3: Vai trò của Phật giáo trong thời kỳ hng thịnh của vơng quốc Lào Lan Xang(thế kỷ XVI-> XVII)

Trang 7

3.4: Phật giáo và cuộc đấu tranh cho sự nghiệp tái thống nhất đất nớc thế kỷXVIII đầu thế kỷ XIX ở Lào.

3.5: Một số đặc điểm của Phật giáo Lào thời trung đại

Phần kết luận:

Những đóng góp và hạn chế của Phật giáo trong lịch sử trung đại Lào

Phần Nội dung

Chơng 1Khái quát nguồn gốc ra đời và nội dung cơ bản của đạo Phật

1.1 Khái quát nguồn gốc ra đời của đạo Phật:

1.1.1: Hoàn cảnh ra đời:

Dựa vào bộ luật Manu và một số sử liệu khác, ngời ta biết rằng vào khoảng nửa

đầu thiên niên kỷ I trớc công nguyên, tại miền Bắc ấn Độ đẵ xuất hiện rất nhiều vơngquốc nhỏ Giữa các vơng quốc này, chiến tranh thôn tính rất tàn khốc thờng xuyên xảy

ra Đến đầu thế kỷ V trớc công nguyên, ở đây còn có tới mời sáu quốc gia Trong số đónổi bật lên hai vơng quốc lớn nhất là Magađa (Magadha) và Kôsala Vơng quốcMagađa nằm trên lu vực trung du và hạ du sông Hằng (ngày nay là tỉnh Biha) ở phíaTây- Bắc vơng quốc Magađa là vơng quốc Kôsala (trung tâm ở vùng tỉnh Aút ngàynay)

Giữa 2 vơng quốc này chiến tranh thờng xuyên xảy ra nhằm tranh giành báquyền trên toàn bộ lu vực sông Hằng Mãi về sau, thì Magađa giành đợc thắng lợi.Sang thế kỷ IV trớc công nguyên, dới đời vua Kalasôka thì Magađa chinh phục cả mộtvùng nằm giữa gãy núi Himalaya và sông Hằng, rồi mở rộng cơng giới phía Nam đếntận dãy núi Vinđya và phía Tây đến tận miền Pen giáp Vơng quốc Magađa trở thànhmột quốc gia thống nhất cả miền Bắc ấn Độ Điều đó rất thuận lợi cho sự phát triểncủa mậu dịch trong nớc và nớc ngoài

Trang 8

Cùng với sự mở rộng về lãnh thổ là sự phát triển về kinh tế, nên ách áp bức, bóclột đợc tăng cờng, mâu thuẫn giai cấp trong xã hội Magađa ngày càng sâu sắc Mâuthuẫn xã hội đó đợc phản ánh một phần ở phong trào đấu tranh rộng lớn chống chế độVácna và đạo Bàlamôn, chỗ dựa của chế độ ấy Lúc này ở ấn Độ đã xuất hiện nhiều tr-ờng phái triết học đứng lên chống lại những giáo lý cơ bản của đạo Balamôn về thuyếtluân hồi, thuyết nhân quả, thuyết đời sống cực lạc ở "thế giới bên kia" Những học

thuyết này là mầm mống của những quan điểm duy vật thuộc hệ thống t tởng triết họcSacvađa (Sharvada), một danh từ triết học ấn Độ có nghĩa là "duy vật" Ngời sáng lập ra

trờng phái triết học Sacvađa là Brihaspathi, xuất thân từ chủng tính Vaixia Học thuyếtcủa ông phản ánh lợi ích của nông dân, thợ thủ công và thơng nhân, nên đợc quầnchúng nhân dân lao động thời bấy giờ ủng hộ và tiếp thu

Cũng vào thời kỳ đó (khoảng thế kỷ VI trớc công nguyên) và cũng do nhữngnguyên nhân xã hội nh trên, đạo Phật đã ra đời ở ấn Độ

1.1.2: Sự ra đời của đạo Phật:

Vào khoảng thế kỷ VI trớc công nguyên, đạo Phật ra đời tại ấn Độ Ngời sánglập ra đạo Phật là Xitđácta Gôtama (Siddharta Gautama), là một hoàng tử con vua Sut

đô đa na (Suddhadana) nớc Kapilavaxtu ở chân núi Hymalaya Ông sinh năm 563 trớccông nguyên và mất vào năm 483 trớc công nguyên Ông là ngời có thật trong lịch sử

Nhng sau khi Xitđácta Gôtama qua đời, các môn đồ của ông đã dựng lên mộtcâu chuyện sống động và ly kỳ về cuộc đời ông, câu chuyện ấy kể lại rằng: Phật đã qua

457 tiền kiếp khi đầu thai làm con vua Xakya thì đức Phật là con voi trắng 6 ngà Hoàng hậu nằm mơ thấy con voi trắng đi vào mạn sờn phải của mình, rồi khi sinhcũng từ mạn sờn đó mà ra trong một chuyến về nghỉ sinh ở quê ngoại Năm ông 29tuổi, ông từ bỏ kinh thành và đi tu Ông rủ 5 ngời bạn đến vùng Uruvila ( gần thị trấnGaya- sau này các sách thờng ghi là ông đến núi Tuyết sơn ), tu khổ hạnh suốt 6 nămròng mà chẳng ích lợi gì Thấy mình đã tu sai đờng, ông ăn uống cho lại sức rồi tìm đếnmột gốc cây Pipal lớn, lấy cỏ làm nệm rồi ngồi tập trung suy nghĩ Sau một thời gian

Trang 9

( tơng truyền là 49 ngày đêm) t tởng của ông trở nên sáng rõ Ông đã hiểu ra quy luậtcủa cuộc đời, nỗi khổ của chúng sinh, thấy đợc điều mà bấy lâu tìm kiếm Ông đi tìm 5ngời bạn đã cùng tu khổ hạnh trớc đây để giác ngộ cho họ, rồi cùng với họ trong suốt

40 năm còn lại của cuộc đời đi khắp vùng lu vực sông Hằng để truyền bá những t tởngcủa mình Từ đó, ngời đời gọi Ông là Buddha (Bậc giác ngộ), Cây Pipal nơi ông ngồi

tu luyện, đợc gọi là cây Bodhi (Bồ đề) và trở thành biểu tợng của sự giác ngộ

Nếu bóc đi hết cái vỏ truyền thuyết và huyền thoại thì còn lại cái cốt lõi lịch sử

và sự ra đời của đạo Phật ở ấn Độ vào khoảng thế kỷ VI trớc công nguyên, do một ngời

ấn Độ có thật trong lịch sử sáng lập ra, đó là Phật Thích Ca Mâu Ni

1.2.1 Giáo lý

Tam tạng kinh điển:

Giáo lý Phật tập trung trong "Tam tạng kinh điển" bao gồm có : Kinh, luật, luận.

- Kinh tạng: gồm các sách ghi lời dạy của Phật Thích ca về giáo lý, đợc tập hợptrong 5 bộ kinh: kinh tạng dài của đức Phật, Trung bộ kinh ( gồm những bài thuyếtpháp dài trung bình); Tơng ứng bộ kinh ( những bài thuyết pháp theo từng đề tài); Tăng

bộ kinh( gồm những bài thuyết pháp theo từng pháp) và Tiểu bộ kinh ( gồm những bàikinh xa nhất)

- Luật tạng: là sách ghi những giới luật do Phật định ra làm khuôn phép cho các

đề tử, nhất là những ngời xuất gia đi tu trong sinh hoạt hàng ngày, trong tu đạo học…

- Luận tạng: là những sách đợc các đại đệ tử xây dựng sau khi Ngài qua đời.Mục đích của Luận tạng là nhằm giới thiệu giáo lý Phật giáo một cách có hệ thống;

đồng thời phê bình, uốn nắn những nhận thức sai trái, lệch lạc, những quan điểm xuyêntạc giáo thuyết đạo Phật

Về mặt thế giới quan:

Giáo lý đạo Phật thể hiện ở chủ trơng "vô tạo giả", "vô thờng" và quy luật nhân

duyên

Trang 10

- " Vô tạo giả": Đạo Phật cho rằng thế giới là thế giới vật chất, bản thân vũ trụ

cũng nh các sự vật, hiện tợng trong vũ trụ, không phải do một đấng thần linh nào tạo rabằng những phép mầu nhiệm mà đợc tạo nên bằng những phần vật chất nhỏ bé nhấtcủa vũ trụ Đây chính là nội dung cơ bản mà đạo Phật chống lại đạo Bà lamôn và cũng

là điểm khác biệt rõ nét giữa đạo Phật với đạo Do Thái, đạo Kitô, đạo Ixlam

- " Vô thờng": Trong vũ trụ bao la, mọi sự vật hiện tợng không đứng yên, bất

biến mà luôn luôn chuyển động, biến đổi theo chu trình: thành, trụ, hoại, không ( đốivới các loài vô tình) hay sinh, trụ, dị, diệt ( đối với loại hữu tình), nghĩa là, quá trìnhphát sinh phát triển ( trởng thành), h hoại và tan rã

- Quy luật nhân duyên: Đạo Phật cho rằng mọi sự vật, hiện tợng trong vũ trụchuyển động, biến đổi đều bị chi phối bởi quy luật nhân duyên ( hay thuyết "duyên khởi") tức là sự vật, hiện tợng trong vũ trụ do nhân duyên mà thành ( trong đó nhân là

mầm tạo quả, duyên là điều kiện, là phơng tiện) Khi nhân duyên hoà hợp là sự vật sinh,khi nhân duyên tan ra là sự vật diệt

Về mặt nhân sinh quan:

Một trong những nội dung cơ bản của giáo lý đạo Phật khi thể hiện quan niệm

về con ngời là học thuyết về "khổ và con đờng cứu khổ" Đức Phật từng nói "ta chỉ dạy một điều: khổ và khổ diệt" Cốt lõi của học thuyết này là "Tứ diệu đế" ( bốn chân lý kỳ diệu) hay " Tứ thánh đế" ( Bốn chân lý thánh), đó là:

- "Khổ đế": là chân lý nói về nỗi khổ của ngời đời, đạo Phật cho rằng: Đời là

bể khổ, trong đó con ngời có 8 cái khổ: sinh, lão, bệnh, tử, gần kẻ mình không a, xangời mình yêu, cầu mà không đợc, giữ lấy 5 uẩn Khổ đau là vô tận, là tuyệt đối Đốivới con ngời ngoài khổ đau vô tận không còn tồn tại nào khác Phật nói rằng: "nớc mắt chúng sinh nhiều hơn nớc đại dơng".

- "Tập đế": Là chân lý nói về nguyên nhân của nỗi khổ Nguyên nhân ấy là "dục vọng" (lòng ham muốn) của con ngời Phật tổ giải thích nguyên nhân sâu xa của sự đau

khổ là do "Thập nhị nhân duyên" ( mời hai nhân duyên) và mời hai nhân duyên này tạo

Trang 11

ra chu trình khép kín trong mỗi con ngời (kiếp luân hồi): Vô minh; Hành; Thức; Danhsắc; Lục nhập; Xúc; Thụ; ái; Thủ; Hữu; Sinh; Lão.

- "Diệt đế": Là phơng pháp diệt trừ nỗi khổ đạo Phật cho rằng muốn thoát khỏi

bể khổ trầm luân thì phải biết tiêu diệt, phải bãi bỏ lòng ham muốn vô chừng Nguồngốc sâu xa của sự khổ não là sự vận hành "thập nhị nhân duyên" mà khởi đầu là "vô minh" Con ngời muốn diệt khổ phải đi tìm gốc rễ gây nên sự vận động của mời hai

nhân duyên, phải bắt đầu từ diệt trừ "vô minh" để không kéo theo những hành động tạo

ra "nghiệp" nữa Và nỗi khổ đợc chấm dứt.

- "Đạo đế" :Là chân lý chỉ ra con đờng diệt khổ Con đờng diệt khổ, giải thoát và

giác ngộ đòi hỏi phải rèn luyện đạo đức (giới); T tởng (định) và khai sáng trí tuệ (tuệ)

Ba môn học này đợc cụ thể hoá trong khái niệm "Bát chính đạo" (tám con đờng chân

chính) Đó là: chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh (thuộc lĩnh vực rèn luyện đạo

đức-"giới"); chính niệm, chính định, (thuộc lĩnh vực rèn luyện t tởng- "định"); chính kiến,

chính t duy, chính tịnh tiến (thuộc về lĩnh vực khai sáng trí tuệ- "tuệ").

1.2.2 Giới luật:

Nội dung chủ yếu của giới luật là những điều kiêng kỵ đối với tín đồ đạo Phật(tu tại gia cũng nh với các tăng ni) nhằm chế ngự dục vọng, từ bỏ các việc ác, khuyếnkhích những việc thiện để đạt tới sự giải thoát Giới luật bao gồm có "ngũ giới" và "thập thiện"

"Ngũ giới": Gồm 5 điều răn cấm:

"Thập thiện": là 10 điều thiện cần làm, gồm:

- 3 điều thiện về thân: không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm

Trang 12

- 4 điều thiện về khẩu: không nói dối, không nói hai chiều, không nói điều ác,không nói thêu dệt.

- 3 điều thiện về ý: không tham lam, không giận dữ, không tà kiến

1.2.3 Tăng chúng (ngời xuất gia tu hành) truyền bá Phật pháp trong thế gian:

Khi còn sống, Phật Thích ca chỉ lo tuyên truyền giáo lý cho các đệ tử chứ Ngàikhông viết giáo lý thành quyển Chính vì vậy sau khi Ngài qua đời, giáo lý nhà Phật đ-

ợc su tập, san định, chỉnh lý và ghi chép lại thành những kinh Phật, chủ yếu qua bốn lầnkết tập kinh điển:

Lần 1: Sau khi Phật Thích ca qua đời (năm 483 trớc công nguyên) thời gian họp

kéo dài 7 tháng Nội dung của đại hội là kết tập lại lời giáo huấn của đức Phật nói vềgiáo lý Chính trong lần kết tập này, trong hàng đệ tử của Phật sinh ra ý kiến bất đồngnhau về giáo pháp và những quy tắc tu hành mà Phật đặt ra

Lần 2: Sau khi đức Phật Thích ca qua đời đợc 100 năm (383 trớc công nguyên)

thờ gian họp kéo dài 8 tháng Nội dung chủ yếu của đại hội này là giải quyết những bất

đồng về việc thực hành giới luật và việc luận giải kinh điển Lần kết tập này các tỳ kheochia làm hai phái: Thợng toạ bộ (phái trởng lão) bao gồm những ngời cao tuổi thuộcphái bảo thủ và Đại chúng bộ gồm các tỳ kheo trẻ tuổi, chiếm đa số thuộc phái canhtân

Lần 3: Diễn ra vào thế kỷ III trớc công nguyên do vua Asôca triệu tập, thời gian

họp kéo dài 9 tháng Tại đại hội này, giáo lý, giới luật cùng với những lời luận giải haiphần trên của đạo Phật đợc ghi thành văn bản

Lần 4: tổ chức vào nửa đầu thế kỷII dới triều vua Kaniska Đại hội này hoàn

chỉnh kinh điển của đạo Phật Cũng từ đây, đạo Phật chính thức phân chia thành 2 pháilớn: phái Tiểu thừa (còn gọi là Phật giáo Nam Tông) và phái Đại thừa (còn gọi là Phậtgiáo Bắc Tông)

Sự khác nhau giữa giữa hai phái đó là:

Trang 13

Phái Tiểu thừa (Hyayara) nghĩa là "cỗ xe nhỏ" hay là "con đờng nhỏ của sự cứu vớt" cho rằng chỉ những ngời xuất gia đi tu mới đợc cứu vớt.Từ đó phái Tiểu thừa chủ

trơng "tự độ giác tha" tức là ngời theo phái Tiểu thừa tự giác ngộ, tự giải thoát chobản thân mình

Phái Đại thừa (Mahayana) nghĩa là "cỗ xe lớn" hay là" "con đờng lớn của sự cứu vớt" thì cho rằng không chỉ những ngời tu hành mà cả những trần tục quy y theo Phật

cũng đợc cứu vớt.Từ quan niệm đó, phái Đại thừa chủ trơng "tự độ tự tha,t giác giác tha" nghĩa là ngời theo Phật giáo đại thừa không chỉ giác ngộ, giải thoát cho mình mà

còn có thể giác ngộ và giải thoát cho nhiều ngời khác

Phái Tiểu thừa cho rằng: sinh tử luân hồi và "Niết bàn" là hai phạm trù khác biệt

nhau, nghĩa là chỉ khi nào thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử thì mới chứng ngộ đợc "Niết bàn" một cách tuyệt đối Phái Tiểu thừa cho rằng "Niết bàn" là cảnh giới yên tĩnh gắn

liền với giác ngộ, sáng suốt, không còn phiền não khổ đau, không còn nhân quả luânhồi, cũng tức là h vô

Phái Đại thừa cho rằng: Luân hồi sinh tử và Niết bàn không chỉ là hai phạm trùkhác biệt Ngay trong quá trình sinh tử (tức là quá trình tồn tại) nếu tu dỡng tốt sẽ cảnhgiới đợc cõi Niết bàn Phái Đại thừa cũng quan niệm Niết bàn là thế giới của các vị Phậtgiống nh thiên đờng của các tôn giáo khác, tức là nơi cực lạc

Về sự thờ phụng giữa phái Tiểu thừa và phái Đại thừa cũng có sự khác nhau

Tại các chùa theo phái Tiểu thừa, nơi chính điện chỉ có tợng PhậtThích ca, ngoài rakhông có pho tợng nào khác

Tại chùa theo phái Đại thừa, nơi chính điện lại thờ rất nhiều tợng Phật Đứng ở vị trícao nhất trên bàn thờ là tợng Tam Thế; ch Phật mời phơng ở ba đời: quá khứ ; hiện tại ;tơng lai Kế đến là tợng Phật Adiđà , Quan Âm Bồ Tát và Đại Thế Chí Hàng thứ bamới đến tợng Phật Thế Tôn (tức đức Phật Thích ca) đợc tạo ở bốn t thế khác nhau thuộcnhững giai đoạn khác nhau, theo truyền thuyết về cuộc đời và sự nghiệp của ông đó làtợng Cửu Long (tức Đức Thích ca sơ sinh) ; Tợng Tuyết Sơn (Đức Thích ca tu khổ hạnh

Trang 14

trên núi Tuyết ); tợng Thích ca thuyết pháp (còn gọi là Đức Thích ca giáo chủ) ; tợngNiết bàn (diễn tả Đức Thích ca đang nhập Niết bàn ).

Nh vậy, Phật Thích ca sáng lập ra đạo Phật lại trở thành vị thờ thứ yếu, còn Adiđà,Quan Âm Bồ Tát là những vị tởng tợng ra, không có thực lại trở thành vị thờ chính

Sự phân hoá đạo Phật thành hai giáo phái chính :Tiểu thừa và Đại thừa, cùng với sựtiếp thu các yếu tố ngoại lai ở những nơi đạo Phật đến đã làm cho đạo Phật trở thànhmột tôn giáo có tính chất quốc tế Phật giáo Tiểu thừa từ Sri lan ca truyền xuống các n-

ớc Đông Nam á , còn Phật giáo Đại thừa truyền qua Pamia sang Tây Tạng rồi vàoTrung Quốc,Triều Tiên, Nhật Bản,Việt Nam

Chơng 2

Những con đờng du nhập và phát triển của Phật giáo ở Lào

2.1 Những con đờng du nhập của Phật giáo vào Lào.

Phật giáo đợc du nhập vào Lào từ bao giờ và theo những con đờng nào? Đó làcâu hỏi từ lâu đã đợc đặt ra cho nhiều nhà nghiên cứu Đã không ít tác giả đa ra nhữngniên đại khác nhau về sự có mặt của Phật giáo ở Lào

Theo tiến sĩ Nguyễn Lệ Thi và đồng nghiệp của bà cho rằng: "muốn tìm hiểu về

sự du nhập của Phật giáo vào Lào, cần phải tìm hiểu tình hình chính trị, kinh tế và xã hội Lào vào thời kỳ quốc gia thống nhất cha ra đời, vì đó chính là thời điểm các mơng Lào tiếp nhận Phật giáo"{4, 16}

2.1.1 Tình hình kinh tế, chính trị, xã hội Lào trớc khi quốc gia thống nhất ra

đời.

Xã hội Lào thời kỳ quốc gia thống nhất cha ra đời (trớc thế kỷ thứ XIV) là thời

kỳ tồn tại của các bản, các mơng Bản là đơn vị xã hội nhỏ hơn mơng, là các hạt nhânchủ yếu của các mơng Bản Lào là một đơn vị xã hội Lào mang tính cộng đồng sâusắc Tổ chức đời sống xã hội ở bản dựa trên ba thế ổn định : ổn định giữa tiểu gia đình

và họ hàng thân thích, giữa các thế hệ khác nhau và giữa con ngời với chức năng mà

Trang 15

con ngời phụ trách Vấn đề quyền sở hữu đất đai cũng đợc đặt ra không đến nỗi căngthẳng Do dân số thấp mà đất đai lại tốt và rộng cho nên cuộc sống của mỗi thành viêncàng gắn chặt với cộng đồng.

Tính cộng đồng rõ nét của bản làng Lào đợc thể hiện ở chỗ toàn thể các nóc nhà

đợc phân bố thành những tập thể thân tộc và láng giềng Tổ chức của bản theo lối dânchủ Nền dân chủ thể hiện ở chỗ ngời ta không cần tập hợp một đa số mà cần nhất là sựnhất trí Các trởng bản hay "nai bản" đề xuất những vấn đề chỉ đợc quyết định khi cả

cộng đồng nhất trí

Bản Lào chính là nền tảng của nền văn minh và của xã hội Lào Đây là các hạtnhân cơ bản để hình thành các mơng Lào

Trớc khi quốc gia thống nhất ra đời, trên mảnh đất Lào Lan Xang đã định hình

ba trung tâm về chính trị và kinh tế Đó là ba mơng lớn: Xỉ khốt tạ boong: Xiêng ĐôngXiêng Thoong và Phuôn Xiêng Khoảng Trong đó địa vực Xỉ khốt tạ boong bao gồmgiải đất nằm dọc theo trung lu Mè Nặm khoỏng từ Viêng Chăn trở xuống phía Nam.Thủ phủ của Xỉ khốt tạ boong trớc kia là Na khon phạ nôm, bờ phía Nam Mè Nặmkhoỏng, sau chuyển sang Hạt Xai Phong (bờ Bắc Mè Nặm khoỏng, cách Viêng Chănkhảng 20 km về phía Nam ) Mơng lớn Xiêng Đông Xiêng Thoong (sau này là LuổngPhạ Bang) bao gồm một phần giải đất phía Bắc và Tây Bắc Lào Mơng Phuôn XiêngKhoảng nằm ở phía Tây dãy Trờng sơn, là một vùng đất rộng lớn ("Xiêng khoảng" nghĩa

là một mơng rộng lớn)

Ngoài ba mơng lớn trên, phải kể đến vùng đất phía Tây Lào Haripunjaya, saunày là vùng Xiêngmày Lanna Bên cạnh đó còn có những mơng lớn nh: Mơng XiêngXẻn Trong thời kỳ hng thịnh của vơng quốc Lào Lan Xang vào thế kỷ thứ XVI- XVII,Xiêngmày Lanna cũng nh Xiêng Xẻn là những mơng phụ thuộc vào Lào Lan Xang

Về tổ chức chính trị: Ngời đứng đầu các mơng gọi là "Khún", "Chậu khún",

"Phò khún" Về sau đợc đổi thành "Thạo", "Phạ Nha", "Phạ Chậu" Mỗi mơng đều có

Trang 16

quân đội riêng, có tợng binh và bộ binh Địa phận các mơng cha cố định, khi một mơngmạnh lên sẽ xâm lấn mơng láng giềng để mở rộng quyền cai trị.

Kinh tế của các mơng Lào thời kỳ này chủ yếu là kinh tế nông nghiệp: trồng lúanớc ở các vùng ven sông và lúa nơng ở các vùng rừng núi Đó là nền nông nghiệp hoàntoàn dựa vào nớc ma tự nhiên, một năm chỉ sản xuất một vụ vào mùa ma Tuy vậy, cábiệt có những vùng nh đồng bằng Viêng Chăn dã biết làm thuỷ lợi, dẫn thuỷ nhập điền.Các gia phả và Dã sử Viêng Chăn cho biết vào thời kỳ đó, ngời ta đã biết dùng trâu, bòcày kéo Trong các gia đình giàu có, ngời ta đã nuôi nô lệ phục vụ trong nhà Trâu, bò,nô lệ là những tài sản mà ngời ta có thể mua bán , hay đem dâng tặng cho các chùachiền

Tại các vùng đồng bằng ở Chăn Pa Xắc, Luổng Phạ Bang, Phuôn Xiêng Khoảng,Sầm Na, ngời ta cũng đào đợc những công cụ sản xuất bằng đồng: lỡi liềm, hái, lỡi cày

và các đồ trang sức: vòng tay, khuyên tai, … bằng vàng, bạc

Ngoài nghề thủ công làm đồ trang sức, nuôi tằm và dệt vải đã rất phát triển Sựphát triển nông nghiệp và thủ công nghiệp tất yếu dẫn đến trao đổi buôn bán giữa cácvùng Dã sử Luổng Phạ Bang cũng nh câu truyện lu truyền trong dân gian ở đây có kểmột lái buôn giàu có buôn trầu không từ Viêng Chăn lên Xiềng Thoong (Luổng PhạBang) mình đeo đầy vàng, bạc đợc dân chúng thán phục và đợc tôn lên làm "Chậu m-

ơng": Đó là Thạo Chăn Tha Phạ Nít.

Thời kỳ này, tôn giáo và tín ngỡng, mỗi mơng đều có tín ngỡng riêng nh vùngXiềng Đông Xiềng Thoong thờ "Phỉ nác" ngời đứng đầu mơng đợc tôn xng là "Phạ Nha Nác" Các nơi khác thờ "Phỉ phò", "Phỉ mè", "Phỉ phạ", "Phỉ thẻn" (ma bố mẹ, ma

trời) Chung quy lại, đó là tín ngỡng thờ cúng tổ tiên Ngoài ra trong dân gian cũng đãphổ biến thờ cúng vật linh giáo nh các cây cối to, một số loài vật… đợc coi là linhthiêng

Với một nền nông nghiệp, thủ công nghiệp và giao lu buôn bán khá phát triển

nh vậy, xã hội Lào có đủ khả năng tiếp nhận Phật giáo Bản Lào lúc đó có hai đặc trng

Trang 17

cơ bản là phân hoá giai cấp cha cao và nhân dân tin theo những tín ngỡng cổ truyền Đó

là những điểm đặc biệt thuận lợi cho việc xâm nhập Phật giáo vào xã hội Lào

Khi xâm nhập vào các bản Lào, Phật giáo dễ dàng đợc chấp nhận trớc hết vì nó

đến bằng "Jakata" (những câu chuyện tiền kiếp về đức Phật) Cách Jakata kể về các

kiếp trớc đức Phật từng là một động vật, một loại ngời nào đó trong xã hội Do vậy,Phật giáo có thể đi thẳng vào mọi tầng lớp nhân dân, không phân biệt đẳng cấp giàunghèo Mặt khác với chủ thuyết từ bi bác ái, làm điều thiện của đạo Phật với những

điều răn: cấm sát sinh, cấm trộm cớp… rất phù hợp với bản tính hiền hoà của ngời Làovốn sống trong chế độ cộng đồng dân chủ Bên cạnh đó, còn có một lí do khác nữa, đó

là đời sống kinh tế của ngời Lào Do đất rộng, màu mỡ, ít dân, thu hoạch nông nghiệpcao, đã tạo cho con ngời cuộc sống no đủ và dễ dàng Nhờ vậy bản mơng Lào mới đủsức dựng xây chùa tháp, nuôi s, duy trì Phật giáo

2.1.2 Những con đờng du nhập của Phật giáo vào Lào:

Theo Tiến sỹ Nguyễn Lệ Thi và các đồng nghiệp của bà thì Phật giáo vào Làobằng hai con đờng : Hớng phía Tây và Bắc Lào; Hớng phía Nam Để có sự khẳng địnhnày, Nguyễn Lệ Thi và các đồng nghiệp của bà dựa trên các thành quả nghiên cứu vềPhật giáo ở Lào của các nhà nghiên cứu ngời Pháp, ngời Lào, bên cạnh đó còn dựa vàocác dã sử, huyền thoại…

Hớng phía Tây và Bắc Lào:

Theo Dã sử Luổng Phạ Bang thì sự ra đời của thành thị này gắn liền với sự dunhập của Phật giáo Dã sử kể lại rằng: Thở xa xa, có hai nhà s từ những vùng rừng núi

xa xôi, trên đờng truyền bá Phật giáo đã dừng lại ở sông Nặm Khan vì mến cảnhnhững dãy đồi soi mình xuống mặt nớc Trên một quả đồi giữa hai con sông Mè Nặmkhoỏng và Nặm Khan mọc một cây Thoong ( cây bằng đồng) khổng lồ, có chiều cao

107 sải, vòng thân cây rộng 7 sải, nở hoa rực rỡ Hai nhà s bèn hạ trại dới gốc Thoong,dựng một chùa thờ Phật đơn sơ, đêm ngày tụng kinh niệm Phật Từ đó, dân c theo vềngày một đông, lâu dần lập thành mờng lớn Họ dựng một ngôi chùa cho các nhà s ở và

Trang 18

thờ Phật Hai nhà s bèn đặt tên thành này là Xiêng Thoong để kỷ niệm cây Thoong đó.Sau này thành có tên mới là Xiềng Đông Xiềng Thoong ( thành thị có rừng núi baoquanh và có cây Thoong) Vua Chăn Tha Phạ Nít ( trớc Phạ Ngừm 35 đời vua) vốn xuấtthân từ một ngời lái buôn trầu không từ Viêng Chăn tới đã cho xây dựng lại chùaXiêng Thoong thật to, đẹp và dựng một ngôi tháp trên núi Phu Xỉ.

Theo huyền thoại trên thì Phật giáo đã có mặt trớc khi thành thị này ra đời Nhngkhông rõ Phật giáo từ đâu đến, vào lúc nào và thuộc phái nào?

Vào năm 1925, học giả ngời Pháp là G.Xơđét, khi khảo sát một số chùa tháp ởvùng Đông Bắc Thái Lan ( trong khu vực xa là Tây Lào) đã tìm thấy một số tài liệu vềPhật giáo đợc biên soạn bằng tiếng Pali-Xăngxcrit Trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu

đó, G Xơđét đã công bố bài : " Những tài liệu chính trị và tôn giáo miền Tây Lào".

Trong bài này, tác giả dẫn ra hai tài liệu đợc biên soạn vào đầu thế kỷ XV và XVI

Một cuốn "Jirakakemaline" do RattanaPanra là ngời trụ trì ở một chùa Xiêng

Mày viết vào năm 1516 Phần chính của tác phẩm viết về lịch sử Phật giáo Srilanca.Cuối tác phẩm tác giả ghi chép vê một nhánh của Phật giáo Srilanca đợc truyền bá vàoXiêng Mày

Cuốn thứ 2 là "Camade vicamsa" ra đời vào thế kỷ thứ XV do Boriramsi kể lại

lịch sử Lăm Phun từ buổi đầu du nhập của Phật giáo đến triều vua Adittaraja (thế kỷXI)

Cùng với hai văn bản này, G.Xơđét cũng công bố 7 tấm bia chữ Môn khai quật

đợc ở Tây Lào Từ những tài liệu trên, G.Xơđét đã rút ra lịch sử chính trị và tôn giáo ởTây Lào nh sau: vào thế kỷ thứ VIII những ngời Môn di c từ Lavô đến vùng thợng MèPhinh, nơi c trú của tộc ngời Lavạ Cũng chính ngời Môn đã lập nên ở vùng này hai đôthị mà sau này mở rộng ra thành Lăm Phun và Lăm Pang Say này, Lăm Phun thành thủphủ của đô thị Haripunjaya Từ ngày thành lập, đô thị này đã trải qua những thế kỷ đầybiến động: c dân ở đó vì lẽ họ vốn cùng chung ngôn ngữ và phong tục ít năm sau, khinạn dịch qua đi, dân c ở đây lại quay về định c ở Haripunjaya

Trang 19

Việc truyyền bá Phật giáo vào Lăm phun, Lăm pang ( Tây Lào) do 500 nhà s

am hiểu kinh Phật cùng Camedevi, công chúa xứ Lavô, vợ goá vua xứ Tamannagara.Vậy là trớc khi ngời Khơ Me xâm nhập, Phật giáo đã phát triển mạnh mẽ tại Lavô sau

đó đến Haripunjaya ở đây Phật giáo đã có lúc vấp phải sự chống đối của tín ngỡng bản

địa Bộ "Camadevivansa" đã viết về một ông vua tên là Ramdhayya không tin theo Phật

giáo mà chỉ tin theo phong tục cũ

Dựa vào những tài liệu trên, Tiến sỹ Nguyễn Lệ Thi và những đồng nghiệp của

bà khẳng định rằng "Phật giáo có mặt ở Tây Lào của G.Xơđét là cơ sở đáng tin cậy Với

sự phát triển phồn thịnh của Phật giáo Haripunjaya, Phật giáo đã truyền bá đến các vùng lân cận nh Mờng Xoa (Xiêng Đông Xiêng Thoong) Bởi vì đã từ lâu đời, Haripunjaya

và Xiêng Đông Xiêng Thoong vốn là địa bàn c trú của c dân bản địa ngời Lavạ (sau này

là ngời Lao Thơng) Chính ngời Môn đã truyền bá Phật giáo cho ngời Lavạ ở Haripunjaya và Xiêng Đông Xiêng Thoong Có thể sự có mặt của Phật giáo ở Xiêng Đông Xiêng Thoong cha phải là niên đại Phật giáo có mặt ở Haripunjaya (thế kỷ VIII) vì thiếu chứng cứ khoa học Nhng tại Xiêng Đông Xiêng Thoong , P Lêvy đã tìm thấy ở Vát Tát

và Vát Sáng Kálok hai pho tợng Phật có một đặc trng của tợng Phật Lốp bu ri và Pi mại (Xiêm) và trên cơ sở đó ông cho rằng, niên đại của chúng vào khoảng thế kỷ XII" [4, 23].

Vào thế kỷ thứ XIII, ngời Thay Lào (tiền thân của Lào Lùm) tràn xuống cácvùng Tây và Bắc Lào Năm 1290, Mang Rai, một ông vua Thái đã tấn công và chiếm đ-

ợc Haripunjaya Đây là kỷ nguyên chấm dứt các triều đại Môn và khai sinh ra các triều

đại Thái Chắc chắn rằng, Mang Rai ông vua Thái đã tiếp thu Phật giáo khi tiếp xúc vớidân c Môn và Lavạ ở Haripunjaya Dã sử Yonok (Xiêng Xẻn) ghi lại rằng, chínhMang Rai đã cho xây dựng Vắt Xiêng Man là ngôi chùa cổ nhất ở Xiêng Mày và cho

đúc một pho tợng Phật mà ngày nay còn đợc đặt ở Vắt Kalakột (Xiêng Mày)

Từ khi ngời Thái nắm quyền cai trị và theo Phật giáo, tổ chức tăng giới ở vùngTây Lào mới có quan hệ trực tiếp với tổ chức tăng giới ở Srilanca (Xây Lan) Các nhà sTây Lào xin đợc thụ phong tại Srilanka Nhng ở giai đoạn đầu, Pégou (sau này thuộc

Trang 20

Miến) làm cầu nối nên các nhà s Pégou từng đợc thụ phong tại Srilanka đã thụ phonglại cho các nhà s Tây Lào Về sau, một số nhà s Tây Lào sang học tập tại Srilanka đã đ-

ợc thụ phong và trở thành Bhikhu Khi trở về xứ sở, họ có đủ t cách để đào tạo và thụphong cho xứ mình Khi Phật giáo phát triển mạnh, nhiều nhà s từ Xiêng Thoong vàngay cả một số ngời sẽ kế vị ngôi vua ở Xiêng Thoong cũng đã đến Xiêng Mày học tập

và đợc thụ phong tại đây

Cùng với sự bành trớng của ngời Thái, Phật giáo ngày càng truyền bá mạnhhơn Cũng từ khi có quan hệ trực tiếp với ngời Srilanka , nghi lễ "sang ha" mới xuất

hiện ở Tây và Bắc Lào Sau này từ "sang ha" đổi nghĩa, còn có nghĩa là một tổ chức

Phật giáo

Chúng ta cũng cần xét thêm một vài tài liệu để tìm hiểu thêm về niên đại Phậtgiáo có mặt ở Lào ở Lào hiện còn lu truyền bản anh hùng ca "Thạo Hùng - Thạo Ch-

ơng" Tác phẩm đợc sáng tác vào thế kỷ thứ XVI nhng viết về xã hội Lào khoảng thế kỷ

VIII Truyện kể về những chiến công của ngời anh hùng Thạo Hùng là Chậu mơng

Xiêng Xẻn ( nay là vùng Xiêng Mày Lan na), là thủ lĩnh của những ngời Lavạ Sau khitiến hành cuộc chiến tranh với Kẹopacăn mơng Phuôn Xiêng khoảng và giành chiếnthắng, Thạo Hùng trở thành thủ lĩnh của các mơng Lào Chủ thể Lào lúc này ở trong tayngời Lavạ Nhng sau đó Phạ Nha Phạ Huồn là Chậu mơng Tumvang, thuộc phe đối

địch với Thạo Hùng, đã cho ngời đi mời Thẻn Lo là Chậu mơng Kalông của ngời ThayLào về đánh Thạo Hùng Thạo Hùng đã chiến đấu với Thẻn Lo và chết trên chiến tr-ờng

Sự kiện này không chỉ đợc kể ở truyện Thạo Hùng mà trong bộ "Nị than khún

Bu Lôm" (Bộ lịch sử Lào đầu tiên) cũng xác nhận thủ lĩnh của Thay Lào là Khún Lo

(ông vua Thái đầu tiên ở Lào) đã gây chiến tranh với Thạo Hùng, đánh bại đợc ThạoHùng và lên ngôi ở Xiềng Thoong Thời gian đó, khoảng cuối thế kỷ thứ VIII TuyKhún Lo lên ngôi ở Xiềng Thoong nhng c dân ở Xiềng Thoong lúc này chủ yếu vẫn làngờng La Vạ sinh sống Chắc rằng ngời Thay Lào đã cộng c cùng ngời La Vạ và tiếp

Trang 21

thu Phật giáo từ họ Qua truyện "Thạo Hùng" và truyện "Khún Bu Lôm" , chúng ta thấy

ngời Thay Lào có mặt trên đất này khá sớm, khoảng cuối thế kỷ VIII họ đã khá đông

đảo Nh vậy sự có mặt của họ ở Lào sớm hơn niên đại mà G Xơ đét đa ra chừng nămthế kỷ

Một chi tiết của truyện "Thạo Hùng" cũng đã bổ sung cho tài liệu của G.Xơđét

về sự có mặt của Phật giáo ở Tây Lào : chú của Thạo Hùng có cô con gái xinh đẹp đó lànàng ụa, ngời ông rất muốn gả cho Thạo Hùng Nghe đồn về sắc đẹp của nàng ụa.Thạo keo Pa căn ở mờng Phuôn Xiêng Khoảng bèn sai sứ giả đến cầu hôn Nhng vì chanàng ụa không gả , nên sứ giả đành quay về Nàng ụa vì thơng tình ngời ở xa, bèn viếtmột lá th cho Thạo keo Pa căn để an ủi Vậy lá th đó viết bằng chữ gì nếu không phải làchữ Xăngxcrít do Phật giáo du nhập đến? Cho nên chúng ta cũng hy vọng rằng Phậtgiáo cũng có mặt ở Xiêng Đông Xiêng Thoong trớc cả thế kỷ thứ VIII, và đến thế kỷthứ VIII thì ngời Thay Lào đã tiếp thu Phật giáo khi chủ thể chuyển sang tay họ Tuynhiên chúng ta phải chờ đợi thêm những bằng chứng của khảo cổ học cung cấp Phậtgiáo vào Tây và Bắc Lào thuộc về phái nào? Chính G.Xơđét ngời đã đa ra những cứ liệutrên cũng nói rằng: Ông cha biết đợc Nhng nếu xét chung lịch sử Phật giáo, vào thời

kỳ đó Phật giáo ấn Độ đã phân chia làm hai phái: phái Bắc Tông sang Tây Tạng vàTrung Quốc rồi sang Nhật Bản,Triều Tiên, Việt Nam; còn phái Nam Tông sangSrilanca rồi vào Đvaravati, Pégou Có thể Phật giáo vào Tây Lào thế kỷ VIII thuộc pháiNam Tông Théravađa

Phật giáo vào Lào theo hớng phía Nam:

Nếu nh phía Tây và Bắc Lào sớm có sự du nhập của Phật giáo theo hớng Srilanca

do ngời Môn truyền bá thì trái lại vùng đất Nam Lào lại sớm ảnh hởng của Phật giáoKhơ me (Cam pu chia) Vùng đất này không chỉ chịu ảnh hởng của Phật giáo màBàlamôn giáo cũng đã từ lâu xâm nhập vào vùng đất Nam Lào theo đờng Khơ me Mộttác giả của Trung Quốc là Quốc Hởng bằng nhiều nguồn tài liệu đã chứng minh rằng:

Từ thế kỷ VI đến thế kỷ XII Phật giáo ở Chân Lạp (Khơ me) là Phật giáo Đại thừa

Trang 22

cùng song song tồn tại với Bàlamôn giáo lúc này đã chuyển thành ấn Độ giáo, nhng haitôn giáo này không bài trừ nhau.

Ngày nay, khi khảo sát một số di tích Phật giáo ở vùng Trung và Nam Lào, ngời

ta vẫn còn thấy nhiều dấu ấn của Bàlamôn giáo điều đó chứng tỏ trớc đây, tại vùng nàyPhật giáo và Bàlamôn giáo song song tồn tại Chỉ đến khi Phật giáo mạnh lên mới thắngthế, nhng dấu tích Bàlamôn giáo vẫn còn sâu đậm Nhữnh dấu tích của Bàlamôn giáocòn thấy ở Vắt Phu (Chăm pa xắc), Nam Lào là tợng thần Indra ảidavata, tợng thầnCiva múa…Tại Vắt In Hăng ở Xạ Vẳng nạ khệt cũng có những bức phù điêu chạm trổthần Siva với vợ của mình là nữ thần Pácvati cỡi bò Nan đin.Tại Thạt Luổng và Hỏ PhạKẹo ở Viêng Chăn còn chôn nhiều Linga (dơng vật của thần Civa, tợng trng cho sứcmạnh của thần) là vật thờ cúng của Bàlamôn giáo trớc kia

Ngoài ra nh chúng ta đã biết trớc khi Phật giáo du nhập, ngời Lào còn có tục thờcúng tổ tiên và thờ vật linh giáo Nhiều di tích ở Lào ngày nay là thờ Phật , nhng trớckia cha phải đã thờ Phật Ví dụ nh: Thát Xỉ Khốt tạ boong ở Thà Khẹc (tỉnh KhămMuộn) trớc kia là nơi thờ thành hoàng mơng là Phạ Nha Khốt tạ boong Vát Xỉ Mơng(Viêng Chăn ) xa kia là nơi thờ thành hoàng mơng Viêng Chăn là nàng Xỉ Mơng

Qua đây, chúng ta thấy ở vùng đất Trung và Nam Lào vốn là địa bàn c trú củanhiều ngời dân Khơ me và ngời La Vạ Đây là nơi đế quốc Khơ me Ăng co từng thốngtrị từ thế kỷ VIII đến thế kỷ XIII Ngời Khơ me trong thời kỳ hùng mạnh của mình, đãtừng dùng đất này làm bàn đạp để tấn công vùng đất Haripunjaya của ngời Môn và LaVạ Đây cũng là nơi chứng kiến sự thắng thế dần dần của Phật giáo đối với Bàlamôngiáo Chính ngời Khơ me đã truyền bá Phật giáo cũng nh truyền bá Bàlamôn giáo cho

c dân bản địa Những đền đài thờ Bàlamôn giáo dần dần đợc chuyển hẳn thành nơi thờPhật

Theo các dã sử và huyền thoại thì Vắt In Hăng ở Xạ Vẳn nạ khệt tơng truyền

đ-ợc dựng vào thế kỷ thứ I và từ đó về sau trở thành nơi thu hút nhiều tín đồ Phật giáo.Thạt Xỉ khốt tạ boong ở Thà Khẹc cũng đợc dựng vào thế kỷ thứ nhất và tơng truyền

Trang 23

đây từng là nơi nghỉ chân của Đức Phật Thạt Phạ nôm ở Nạ Khọn Phạ nôm cũng đợcdựng vào thế kỷ thứ I Thạt Luổng (Viêng Chăn ) còn đợc huyền thoại cho rằng: Đây làmột trong 84 ngàn ngọn tháp đã đợc vua Asôka ( ấn Độ) cho xây dựng vào thế kỷ thứIII Dã sử còn kể rằng dới một viên đá của Thạt Luổng có đặt sợi tóc của Đức Phật Nhvậy, các công trình trên, từ khi có mặt của Phật giáo đều đã đợc coi là các công trìnhPhật và Phật giáo đã khoác lên nó "tấm áo cà sa" của mình bằng các huyền thoại.

Ngoài ra, trong một số cuộc khai quật khảo cổ học gần đây ở đồng bằng Viêng Chăn,ngời ta đã tìm thấy một số tợng Phật có mang những đặc trng của tợng Khơ me Hiệnnay các hiện vật đó đợc trng bày ở "hỏ Phạ kẹo" (bảo tàng quốc gia Lào).

Đến đây, tình hình xẩy ra cũng tơng tự nh ở Bắc Lào Vào thế kỷ thứ XIII (hoặc

có thể sớm hơn), khi ngời Thay Lào từ phía Bắc tràn xuống chiếm lĩnh vùng Trung vàNam Lào, họ cũng đợc tiếp thu Phật giáo từ c dân bản địa Còn Phật giáo đợc du nhậpvào Lào theo hớng phía Nam thuộc về phái nào thì các nhà nghiên cứu cũng cha có cácbằng chứng xác thực Có thể, đây là Phật giáo dung hoà với Bàlamôn giáo nh ởCampuchia thời kỳ này Dù sao, chúng ta cũng phải chờ đợi thêm những chứng cứ dokhảo cổ học cung cấp

Tuy Phật giáo xâm nhập vào Lào từ hai hớng: phía Tây và phía Bắc theo đờngSrilanca do ngời Môn truyền bá và phía Nam do ngời Khơ Me truyền bá nhng do giaothông khó khăn và sự cách biệt của các bản mơng Lào nên chúng ta không thấy rõ sự

đấu tranh giữa hai luồng Phật giáo đó Phật giáo đã xâm nhập một cách "hoà bình" vào

các bản nơng Lào với sự bắt đầu bằng các Jataka, những câu chuyện kể về tiền kiếpcủa đức Phật Tại đây, Phật giáo đã tham dự vào đời sống nông nghiệp của ngời Lào vớicác lễ nghi của họ, cho nên nó dễ dàng ăn sâu bám rễ vào trong lòng xã hội Lào Vớimột nền kinh tế đã phát triển, đủ khả năng duy trì Phật giáo nên ngời Lào đã dựngchùa, nuôi s và đào tạo tại chỗ những ngời kế cận mình Nhờ vậy, "ngay từ thời Lào còn

là các mơng, Phật giáo tựa nh một sợi dây vô hình ràng buộc và gắn liền các bản mơng Lào, tạo tiền đề cho quốc gia thống nhất ra đời" [4, 29]

Trang 24

2.2 Phật giáo trở thành quốc giáo ở Lào.

2.2.1 Quốc vơng Chậu Phạ Ngừm:

Ngời đầu tiên thực hiện đợc sự nghiệp thống nhât nớc Lào Lan Xang và lên ngôiquốc vơng ở Xiêng Đông Xiêng Thoong là Chậu Phạ Ngừm Do vai trò quan trọng củaChậu Phạ Ngừm trong lịch sử nớc Lào khiến cho cuộc đời ông từ khi sinh ra đến lúc lênngôi đã đợc huyền thoaị hoá trở thành dị thờng Dã sử Lào kể rằng: Vừa lọt lòng ChậuPhạ Ngừm con trai quốc vơng Phạ Nghiễu đã có đủ 33 chiếc răng Triều thần cho rằng

đó là "điều quái dị" bèn quyết định phải thả trôi sông cậu bé Ngời ta làm một chiếc bè,

trên đó có cậu bé cùng một số ngời hầu và vú nuôi của cậu bé thả trôi sông Mè Nặmkhoỏng Khi bè trôi đến Thác Khôn thì đợc ngời Khơ Me vớt, đem về tâu vua Vua Khơ

Me đã cu mang, cho nuôi dỡng Chậu Phạ Ngừm trong triều đình Ăng co Đây là điểmrất đáng lu ý, vì sau này do ảnh hởng của Phật giáo Ăng co mà Chậu Phạ Ngừm đã xinvới vua Khơ Me cho truyền bá Phật giáo vào Lào Trong vòng 4 năm ( 1349-1353)bằng vũ lực và mu lợc tài ba của mình, Chậu Phạ Ngừm đã thống nhất các mơng vàdựng nên vơng quốc Lào Lan Xang vẻ vang

Nớc Lan Xang thời Chậu Phạ Ngừm bao gồm hầu hết các mơng Thay Lào từXípXỏngbănna ( địa giới giữa XípXỏngbănna và Luổng Nặmthà) đến Thác Khôn (tỉnhXỉphănđon) giữa dãy Trờng Sơn về phía Đông và đông Pha Nha Phay ( Đông bắc TháiLan) về phía Tây thành một địa bàn rộng lớn trên hai bờ vực Mè Nặm Khoỏng Sựthống nhất của vơng quốc Lan Xang cũng có những điểm riêng biệt khác với quốc gialáng giềng Đó là sự ràng buộc lẫn nhau giữa quốc vơng và các chậu mơng địa phơng

Sự ràng buộc đó do bởi các chậu mơng có thể là họ hàng thân tộc với Châu Phạ Ngừmhoặc là tay chân thân cận, từng chiến đấu trong công cuộc thống nhất đất nớc với ông.Tuy vây, mức độ thống nhất của vơng quốc còn ở giai đoạn cha cao Bản thân Chậu PhạNgừm cũng nh những ngời kế vị ông sau này phải đấu tranh nhằm chống lại cáckhuynh hớng cát cứ, cho dù tại các mơng xa xôi, Chậu Phạ Ngừm đã phải tự tay sắp đặtngời thân tín của mình vào chức chậu mơng

Trang 25

Nh thế, Chậu Phạ Ngừm đã mở đờng cho sự thống nhất các mơng Lào Sự thànhlập vơng quốc Lan Xang (tức vơng quốc Lào) cho việc xác định căn bản lãnh thổ quốcgia và chiều hớng phát triển của dân tộc Nó tạo điều kiện để hình thành văn hoá dântộc Lào trên cơ sở kết hợp hài hoà những yếu tố văn hoá khác nhau của các tộc ngời vàcác địa phơng, đồng thời tiếp thu những thành tựu văn hoá thế giới để sáng tạo nên nềnvăn hoá độc đáo, cũng gắn liền với giai đoạn lịch sử này mà ngời mở đờng là Chậu PhạNgừm

2.2.2 Phật giáo trở thành quốc giáo dới triều Chậu Phạ Ngừm:

Trớc khi quốc gia thống nhất ra đời, Phật giáo đã tồn tại ở các bản mơng Lào

nh-ng cha chiếm đợc vị trí độc tôn Nhnh-ng nh-ngay sau khi thốnh-ng nhất đất nớc, Chậu PhạNgừm lên ngôi vào năm 1353 ở Xiêng Đông Xiêng Thoong, ông đã cho truyền Phậtgiáo từ Campuchia (lúc này là Phật giáo Tiểu thừa) vào Lào Lan Xang Vậy thì tại saoChậu Phạ Ngừm lại cho đa Phật giáo ồ ạt từ Campuchia vào Lào Lan Xang? Có rấtnhiều lý do Lý do trớc hết, đó là do sau khi thống nhất quốc gia, thì ở các mơng lớnvẫn có nhiều mu đồ gây cát cứ riêng Chính vì điều đó mà Chậu Phạ Ngừm đã nghĩ đếnyếu tố tinh thần để ràng buộc các mơng và ông đã tìm thấy ở Phật giáo có thể là công

cụ để thống nhất đất nớc về mặt t tởng Thêm vào đó, chúng ta đã biết, Chậu PhạNgừm từ khi đợc vua Khơ Me cu mang đã sống và lớn lên ở triều đình Ăng co thời kỳ

đạo Phật rất thịnh hành và đã chịu ảnh hởng sâu sắc của tôn giáo này Do ảnh hởng của

đạo Phật mà ngay sau khi thống nhất đất nớc, trong lời huấn thị với các chậu mơng vànhân dân trong lễ lên ngôi, Chậu Phạ Ngừm đã đề ra việc "cần duy trì luật pháp để không có trộm cớp, giết ngời và bạo loạn" Đó chính là điều răn thứ nhất và thứ hai của

Phật giáo ( không đợc sát sinh, không đợc trộm cắp)

Một lý do khác nữa, theo nhiều tài liệu cho biết : Từ khi về sống với chồng ởtriều đình Xiêng Thoong, nàng Kẹo Kênh Nha, hoàng hậu Lan Xang, vốn là công chúaCampuchia lại là một tín đồ Phật giáo rất thành tâm, đã thụ ngũ giới tại gia khi bà theochồng sang nớc Lào Hoàng hậu thấy nhân dân và các quan lại phần nhiều sùng bái quỷ

Trang 26

thần, tổ tiên, anh linh…Họ thờng giết trâu, voi để tế lễ quỷ thần một cách hết sức mê tín

và tàn nhẫn Nhng dã man hơn, có nơi còn có lễ giết ngời lấy máu đề thờ thần củaBàlamôn Bà cảm thấy xót xa trong lòng Bà nhận thấy rằng nếu ở nớc Lào nh thế nàythì khó mà sống đợc theo cách sống của tín đồ Phật giáo , nên bà yêu cầu Chậu PhạNgừm đa Phật giáo từ Campuchia sang Nếu không thì bà sẽ xin về nớc Và đơng nhiên

là Chậu Phạ Ngừm vui vẻ nhận lời rồi cẩn thận tuyển chọn sứ giả, viết sẵn bức quốc th,sắm sửa các loại lễ vật gồm 30 vạn bạc, ba vạn vàng, các loại châu báu mang đi hiếndâng cho bố vợ là quốc vơng Campuchia, thỉnh cầu nhà vua phái cử bậc cao tăng có đức

độ và tài năng mang theo kinh điển "Tam tạng" đến Lào truyền bá đạo Phật Quốc vơng

Campuchia đã chuẩn y lời xin trên của Chậu Phạ Ngừm Vào năm 1357, một đoàntruyền giáo Khơ Me gồm 20 nhà s tinh thông kinh "Tam tạng" với ngời dẫn đầu là Phạ

Mạ Hả Paxamăn Tạthêra, thầy dạy cũ của Chậu Phạ Ngừm với nhiều thợ đúc tợng Phật,thợ kim hoàn và những ngời hầu cũ của Chậu Phạ Ngừm ở triều đình Ăng co đã mangtheo kinh Phật và tợng Phật Phạ Bang vào Lào

Theo sứ giả Trung Quốc là Chu Đạt Quang, ngời đã đến triều đình Ăng co vàothế kỷ XIII thì Phật giáo ở Khơ Me lúc này là Phật giáo Tiểu thừa, trong chùa chỉ thờmột tợng giống hình dạng của Phật Thích ca Chắc chắn Phật giáo đợc truyền vào Làothời Phạ Ngừm cũng là Phật giáo Tiểu thừa với việc thờ một tợng Phật là tợng Phật PhạBang

Do đạo Phật đợc truyền vào từ hai hớng (Bắc và Tây bắc; phía Nam) nên khôngphải ngay từ đầu Phật giáo Khơ me đã đợc hoan nghênh ở Xiêng Đông XiêngThoong Sử cũ còn ghi lại, trên đờng đi, đoàn truyền bá đợc hoan nghênh nhiệt liệt.Khi tợng Phật Phạ Bang đợc rớc đến Viêng Chăn, c dân Viêng Chăn nô nức ba ngày

đêm mang hơng hoa đến lễ Phật Nhng sự hoan nghênh đó chỉ ở những vùng chịu ảnhhởng của Khơme là Nam và Trung Lào Chính vì điều trên, có thể do sợ c dân Xiêng

Đông Xiêng Thoong cha chấp nhận ngay nên tợng Phật Phạ bang phải để lại ViêngChăn, hai trăm năm sau mới đợc rớc pho tợng nổi tiếng ấy về Xiêng Đông Xiêng

Trang 27

Từ đó, Xiêng Đông Xiêng Thoong mới bắt đầu xây dựng các chùa thờ Phật kiểuKhơ me Đầu tiên ngời ta dựng chùa cho nhà s Phạmạhapaxa Măntạthera ở Sau đó, cdân ở đây xây một số chùa mới và Xiêng Đông Xiêng Thoong trở thành trung tâm Phậtgiáo của toàn vơng quốc.

Trong lịch sử nớc Lào, Chậu Phạ Ngừm không chỉ là ngời thống nhất quốc gia

mà ông còn là ngời đã đa Phật giáo lên địa vị quốc giáo

2.3 Nhận xét về quá trình du nhập và phát triển của Phật giáo ở Lào:

Trớc khi quốc gia thống nhất ra đời, đạo Phật đợc truyền bá vào Lào bằng haicon đờng (hớng phía Tây và Bắc Lào; hớng phía Nam Lào) khoảng thế kỷ VIII ở phíaTây và Bắc Lào theo đờng Srinlanka, do ngời Môn truyền bá vào cho những c dân bản

địa Lào, đến khi ngời Thái tràn xuống vùng đất Lào ngày nay thì đã tiếp thu đạo Phật từ

c dân bản địa và làm cho tôn giáo này thịnh lên Hớng phía Nam là do ngời Khơ Metruyền bá vào Khi đó, ngời Khơ Me đang sống dới triều đại Ăngco, Phật giáo ở đâyphát triển mạnh cho nên nó đã ảnh hởng đến cả vùng Nam và Trung Lào

Nhng do giao thông khó khăn và sự cách biệt giữa các mơng Lào, cho nên trongsuốt giai đoạn từ thế kỷ VIII đến đầu thế kỷ XIII, đạo Phật chỉ tồn tại trong các mơngriêng lẻ Và cũng vì lý do đó, nên ta không thấy có sự đấu tranh giữa hai luồng Phậtgiáo Mà trong giai đoạn này Phật giáo đã xâm nhập một cách "hoà bình" vào các mơng

Lào với sự xâm nhập lúc đầu bằng các "Jataka" (những câu chuyện kể về tiền kiếp của

Đức Phật) "Hơn nữa, cho đến khi xâm nhập vào Lào, tôn giáo này đã trải qua hơn 1000 năm cọ xát và hoà nhập với nhiều cơ tầng văn hoá bản địa ở nhiều dân tộc Cho nên khi

đến Lào, Phật giáo đã nhanh chóng bén rễ sâu rộng vào mọi tầng lớp xã hội Lào" [3, 73]

Thêm vào đó, lúc này các mơng Lào có một nền kinh tế đã phát triển, đủ khảnăng để duy trì Phật giáo, nên ngời Lào đã dựng chùa, nuôi s và đào tạo tại chỗ nhữngngời kế cận mình

"Do vậy, hoàn toàn ngoài ý muốn, đạo Phật tựa nh một chất keo gắn liền các ờng cổ Lào, tạo tiền đề cho quốc gia thống nhất đợc thành lập" [6, 73] Nhng, lúc này

Trang 28

m-Phật giáo cha thắng thế đạo Bàlamôn và tín ngỡng của c dân các mơng Đến khi ChậuPhạ Ngừm thực hiện thành công sự nghiệp thống nhất nớc Lào Lan Xang và lên ngôiquốc vơng ở Xiêng Đông Xiêng Thoong (1353), ngay sau đó ông đã cho đa Phật giáo

từ Campuchia (Phật giáo Tiểu thừa) truyền bá ồ ạt vào trong nớc, nâng Phật giáo trởthành quốc giáo ở Lào Từ đây, Phật giáo ở Lào bớc vào giai đoạn phát triển mạnh mẽ,dần dần chiếm địa vị độc tôn Chính vì vậy, Phật giáo đã đóng một vai trò vô cùng quantrọng trong việc thống nhất t tởng, trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nớc, trongviệc hình thành và phát triển nền văn hoá dân tộc… Vì có vai trò quan trọng nh vậy, nênPhật giáo đã không tách rời với lịch sử quốc gia Lào mà nó gắn liền với sự thăng trầmcủa lịch sử, đặc biệt là ở giai đoạn lịch sử trung đại

Chơng 3

Vai trò của Phật giáo trong lịch sử Trung đại Lào

3.1 Khái quát tiến trình lịch sử Trung đại Lào (Từ giữa thế kỷ XIV đến thế kỷ XIX).

Lịch sử Trung đại Lào, đợc mở đầu với sự kiện Chậu Phạ Ngừm thống nhất đấtnớc Vơng quốc Lào (hay gọi là vơng quốc Lào Lan Xang) ra đời và đặt kinh đô ởXiêng Đông Xiêng Thoong "Đó là bớc ngoặt và sự bắt đầu của một thời kỳ lịch sử mới, trên đó đã căn bản hình thành những yếu tố nền tảng của nớc Lào hiện đại: Lãnh thổ, tộc ngời và văn hoá " [2,51]

Để xây dựng và phát triển đất nớc, Chậu Phạ Ngừm đã thiết lập một hệ thốngchính quyền từ trung ơng đến địa phơng, chia vơng quốc thành các châu mờng, xâydựng và phát triển quân đội, xây dựng và phát triển đạo Phật thành công cụ tinh thần đểcủng cố nhà nớc thống nhất, chống lại mu đồ cát cứ của các châu mờng Về đối ngoại,Chậu Phạ Ngừm chú trọng bang giao với các nớc láng giềng

Trang 29

Sau khi thống nhất hơn một thế kỷ, nớc Lào Lan Xang trở thành một quốc giakhá hùng mạnh Tuy mức độ tập quyền cha cao, nhà nớc trung ơng cũng đã kiểm soát

đợc các địa phơng Năm 1560, kinh đô Viêng chăn đợc xây dựng và trở thành thủ đôcủa nớc Lan Xang

Nửa cuối thế kỷ XVI, dới sự lãnh đạo tài tình của Xệt Tha Thi Lạt, nhân dân LàoLan Xang đã anh dũng đoàn kết chiến đấu bảo vệ đất nớc chống lại sự xâm lợc củaphong kiến Miến (Mian ma ngày nay) năm 1563, năm 1569 và năm 1574

Trong cuộc xâm lợc Lào Lan Xang lần thứ ba của quân xâm lợc Miến, nhà nớcphong kiến Lan Xang rơi vào tay phong kiến Miến Điện Suốt những năm phụ thuộc,nhân dân Lào Lan Xang vẫn không ngừng đấu trành giành độc lập dân tộc Tiêu biểu làcuộc khởi nghĩa ở Attap Sau 24 năm lệ thuộc, Nakeo lên ngôi và ra tuyên bố, Lào LanXang là một quốc gia độc lập (1591) Từ đó, quốc vơng Lào Lan Xang đạt đến giai

đoạn toàn thịnh trong tất cả các lĩnh vực : quân sự, thơng mại, ngoại giao và chính trị, ttởng

Tuy vậy, sự phục hng của Lào Lan Xang chỉ rực rỡ dới triều Sulinha Vôngsa(1637-1694) Vào nửa sau thế kỷ thứ XVII thiết chế phong kiến Lan Xang đã đợc xâydựng khá hoàn chỉnh và phát triển đến trình độ cao Nền kinh tế phát triển và đời sốngcủa ngời dân Lào đợc nâng lên… Nhng sau khi Sulinha Vông sa chết, do thiếu một mộtcơ sở kinh tế - xã hội thống nhất và vững mạnh, Lào Lan Xang đã lâm vào tình trạngphân liệt cát cứ Nhà nớc quân chủ tập quyền tan rã Đất nớc bị chia cắt thành ba tiểuquốc: MơngViêng chăn, Mơng Chăm pa xắc; Mơng Luổng Phạ bang Những xung đột

và tranh chấp giữ các mơng đã làm suy yếu đất nớc, tạo cơ hội cho những hoạt độngcan thiệp và xâm lợc của nớc ngoài

Năm 1779, sau hơn một năm chiến đấu dũng cảm chống lại quân xâm lợc Xiêm,nớc Lào Lan Xang trở thành thuộc quốc của Xiêm Từ đây, nhân dân các bộ tộc Lào lạibớc vào một trang sử đấu tranh phá bỏ ách thống trị của Xiêm, giành độc lập, tái thốngnhất đất nớc Truyền thống đấu tranh của nhân dân lại đợc tô thắm bằng cuộc khởi

Trang 30

nghĩa của Chậu A Nụ (1827-1828) Tuy bị thất bại, nhng tinh thân chiến đấu dũng cảmcủa nghĩa quân còn sống mãi trong lịch sử anh hùng bất khuất chống ngoại xâm.

Tình trạng cát cứ của các vơng triều Lào, sự đô hộ của phong kiến Xiêm đã tạocơ hội cho Pháp can thiệp và xâm chiếm Lào, biến nớc Lào thành một xứ thuộc Pháp

Đến đây, lịch sử trung đại Lào kết thúc và nhân dân Lào bớc sang thời kỳ lịch sửmới,lịch sử cận đại với sự đấu tranh chống lại Thực dân Pháp giành độc lập cho dân tộc

3.2 Vai trò của Phật giáo trong việc thống nhất t tởng giữa các mơng Lào dới thời Chậu Phạ Ngừm.

Trớc khi quốc gia thống nhất ra đời, trên lãnh thổ Lào lúc này tồn tại với nhiềumơng lớn riêng lẻ nh: Mơng Xỉkhốt tạbong nằm dọc theo trung lu Mè Nặm Khoỏng, từViêng chăn trở xuống phía Nam; Mơng Xiêng Đông Xiêng Thoong bao gồm phần đất

đai phí Bắc và Tây bắc Lào; Mơng Phuôn Xiêng Khoảng nằm ở phía Tây dãy TrờngSơn; Mơng Xiêng mày Lan na; Mơng Xiêng xẻn…Tất cả các mơng này tồn tại riêngbiệt nhau, nhìn chung cha có sự giao lu về kinh tế, văn hoá giữa các mơng với nhau.Các mơng đều có quân đội riêng, có nền kinh tế biệt lập và đặc biệt là tín ngỡng riêng

Nh vùng Xiêng Đông Xiêng Thoong thờ "Phỉ nác" (ma nớc); các nơi khác thì lại thờ

"Phỉ phò", "Phỉ mè", "Phỉ phạ","Phỉ thẻn" (ma bố, ma mẹ, ma trời)… Chung quy lại, đó

là tín ngỡng thờ cúng tổ tiên Ngoài ra trong các mơng cũng đã phổ biến việc thờ cúngvật linh giáo nh các cây cối to, một số loài vật… đợc coi là linh thiêng

Nh chúng ta đã biết, cơ sở của t tởng chính là tín ngỡng Nhng lúc này, nớc Lào

đang trong tình trạng bị chia cắt về lãnh thổ, về t tởng… Chính vì vậy, việc thống nhấtlãnh thổ và t tởng giữa các mơng Lào là rất quan trọng Nó tạo điều kiện cho quốc giathống nhất ra đời Giống nh các quốc gia cổ đại Phơng Đông khác, nhà nớc Lan Xangngay từ khi mới ra đời đã cần có một t tởng phù hợp với xu hớng củng cố nền thốngnhất quốc gia và xây dựng chế độ chuyên chế trung ơng tập quyền

Trang 31

Vào giữa thế kỷ XIV, quốc gia thống nhất độc lập đầu tiên đã đợc thành lập.Chậu Phạ Ngừm, ngời anh hùng kiệt xuất đã thống nhất mọi miền đất nớc thành mộtkhối thống nhất và dựng nên vơng quốc Lào Lan Xang.

Để củng cố quốc gia thống nhất, Chậu Phạ Ngừm và những ngời kế vị ông saunày đã phải đấu tranh chống những khuynh hớng cát cứ Trớc tiên về mặt chính quyền,Chậu Phạ Ngừm luôn luôn quan tâm đến việc lập chính quyền tập trung vững mạnh.Hầu hết các Chậu mơng đều do Chậu Phạ Ngừm chỉ định Họ là những ngời thân cậnhoặc thần phục nhà vua Chậu Phạ Ngừm đã xây dựng một đội quân hùng mạnh Độiquân đó đợc các Chậu mơng địa phơng vị nể Mặt khác, để có chính quyền tập trungvững mạnh, Chậu Phạ Ngừm đã dùng Phật giáo nhằm thống nhất đất nớc về mặt t t-ởng Sở dĩ Chậu Phạ Ngừm chọn Phật giáo làm cơ sở thống nhất đất nớc về t tởng vì

ông đã nhìn thấy đợc vai trò của Phật giáo trong đời sống tinh thần của nhân dân LanXang Trớc khi quốc gia thống nhất ra đời, Phật giáo đã du nhập vào các bản mơngbằng con đờng "hoà bình , ” những Jataka (những câu chuyện kể về tiền kiếp của đứcPhật) Nó đợc dân bản tiếp thu một cách tự nguyện Các nhà s đã hành hơng đến đây đểtruyền bá đạo Phật Với bản chất hiền hoà của mình, nên khi vào các bản m ơng Lào,Phật giáo đã kết hợp khéo léo với các tôn giáo và tín ngỡng khác ( đạo Bàlamôn, tín ng-ỡng đa thần giáo…) của ngời Lào Do vậy, "ngay từ thời Lào còn là các mơng, Phật giáo

đã tựa nh một sợi dây vô hình ràng buộc và gắn liền các bản mơng Lào, tạo tiền đề cho quốc gia thống nhất ra đời" [4,29]

Ngay sau khi lên ngôi, Chậu Phạ Ngừm đã cho truyền bá ồ ạt Phật giáo Tiểuthừa từ Campuchia vào Lào và đa Phật giáo trở thành quốc giáo Việc làm đó của ChậuPhạ Ngừm không ngoài mục đích : thống nhất đất nớc về mặt t tởng và củng cố vơngquyền của mình

Cũng giống nh các vơng triều phong kiến phơng Đông khác, Chậu Phạ Ngừmmuốn thần thánh hoá ngai vàng của mình, làm cho chính quyền quân chủ trở nênthiêng liêng Chậu Phạ Ngừm đã chọn Phật giáo Tiểu thừa, một giáo phái của Phật giáo

Ngày đăng: 22/12/2013, 14:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w