1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của phật giáo đối với văn hoá trung quốc thời nhà đường ( 618 907)

100 1,5K 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vai trò của phật giáo đối với văn hoá trung quốc thời nhà đường (618-907)
Tác giả Đặng Thị Quỳnh Giang
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Công Khanh
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử thế giới
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2008
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 1,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phật giáo nh một thực thể vănhoá - tôn giáo sống động, góp phần tạo ra văn hiến – văn minh đất nớc; mộtphần quan trọng của đời sống tâm linh, chốn bình an quay về của bao ngời.Bởi vậy, t

Trang 1

Trờng đại học vinh

Trang 2

- Các cán bộ trong Th viện tỉnh Nghệ An và Th viện Quân Đội,

Th viện Quốc Gia, Th viện Đại Học Vinh, Th viện Đại Học

SPHN,… đã nhiệt tình hớng dẫn và cung cấp nhiều tài liệu đáng quý.

- Các thầy cô trong tổ Sử Thế Giới đã tạo mọi điều kiện giúp

đỡ.

- Ngời thân, bạn bè đã tạo mọi điều kiện thuận lợi về vật chất

và tinh thần đối với tôi trong quá trình làm luận văn.

Đặng Thị Quỳnh Giang.

mục lục

Trang phần Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Lịch sử vấn đề 6

3 Phạm vi đề tài 9

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ……… 9

5 Đóng góp của đề tài 10

6 Phơng pháp nghiên cứu 10

7 Bố cục luận văn ……… ……… .10

Nội dung Chơng 1 Sự phát triển cực thịnh của Phật giáo thời Đờng …… …… 11

1.1 Cơ sở, điều kiện cho sự phát triển của Phật giáo thời Đờng 11

1.1.1 Những nhân tố khách quan……… … 12

1.1.2 Những nhân tố chủ quan……… …… 17

1.2 Sự phát triển của Phật giáo thời Đờng 22

Chơng 2 Vai trò Phật giáo trong lĩnh vực văn hoá thời Đờng…… … .31

Trang 3

2.1 T tởng 32

2.2 Văn học… 40

2.3 Kiến trúc 50

2.4 Điêu khắc……… … 61

2.5 Th pháp, hội họa 70

2.5.1 Th pháp……… 70

2.5.2 Hội hoạ……… 75

2.6 Âm nhạc 82

2.7 Phong tục tập quán 86

Chơng 3 Vai trò của Phật giáo đối với sự giao lu văn hoá thời Đờng……… …… .93

3.1 Vai trò Phật giáo trong giao lu văn hoá Trung – ấn thời Đờng… 95

3.2 Vai trò Phật giáo trong giao lu văn hoá Trung – Nhật thời Đờng……… …… 98

3.3 Vai trò Phật giáo trong giao lu văn hoá Trung – Việt thời Đờng……… ……… 102

Kết luận 108

Tài liệu tham khảo 113

phụ lục 120

Phần mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Trang 4

Đạo Phật ra đời từ thế kỉ VI TCN ở ấn Độ, là một trong những tôn giáo vĩ

đại nhất thống lĩnh thế giới tâm linh suốt hơn 2500 năm qua, với số lợng tín đồlớn, lan toả trên phạm vi rộng và ngày càng phát triển mạnh mẽ khắp thế giới

Đây thực sự là tôn giáo sâu sắc nhất, hiểu biết nhất trong lịch sử tinh thần nhânloại Tại quê hơng phát sinh ra Phật giáo, từ thế kỉ VII trở về sau, đạo Phật bắt

đầu lâm vào tình trạng suy sụp, kém phát triển, nó lại trở nên thịnh đạt ở TrungQuốc Thậm chí, từ đây đạo Phật càng lan truyền mạnh mẽ sang nhiều quốcgia khác nh Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam

Nhìn vào lịch sử và văn hoá đất nớc này, chúng ta thấy rằng Phật giáo từlâu đã thâm nhập sâu vào tâm hồn, nếp nghĩ, lối sống của dân tộc Trung Hoa;

đã trở thành một phần bản chất và bản sắc của con ngời nơi đây Trong tâmhồn dân tộc ấy vốn có sẵn mầm mống tinh thần Phật giáo: hiền lành, hiếu hoà,hiếu sinh, yêu thơng đồng loại Khi nói đến truyền thống văn hoá Phật giáoTrung Quốc là nói đến những gì tốt đẹp, cởi mở, giàu nhân tính mà nó manglại cho con ngời, cho đất nớc Phật giáo thực sự là một bộ phận, một viên đátảng của văn hoá t tởng Trung Hoa; hơn thế là một trong những trụ cột vô cùngquan trọng, yếu tố bất ly của cuộc sống toàn diện mà các nhà nghiên cứu lịch

sử đất nớc này sẽ bị hạn chế rất nhiều nếu không tìm hiểu nó

Thật vậy, đạo Phật đã ảnh hởng đến mọi sinh hoạt của ngời Trung Hoa, từtriết lí, t tởng, đạo đức, văn học, nghệ thuật cho đến phong tục tập quán, nếpsống, nếp nghĩ… tìm hiểu và nghiên cứu về vai trò Phật giáo thời Đờng,chúng ta càng thấy rõ hơn nhận định trên Từ quan niệm nhân sinh quan, thếgiới quan, thẩm mỹ, cho đến lời ăn tiếng nói của quảng đại quần chúng ítnhiều đều chịu ảnh hởng của triết lí và t tởng Phật giáo Những câu nói “ở hiềngặp lành”, “tội nghiệp”, “duyên kiếp”, “nhân quả”… là điều phổ biến trongquan niệm ứng xử giữa mọi ngời Ngày đại lễ Phật giáo, ngày rằm, mồng mộthay ngày lễ tết dân tộc, mọi ngời dù bận rộn đến đâu cũng vài lần trong đời

đến viếng cảnh chùa để chiêm bái ch Phật, chung vui lễ hội, hoặc là để gầngũi, tìm hiểu những di tích lịch sử văn hoá dân tộc Thực đúng là: những hoạt

động Phật giáo lịch đại đã đem lại cho Trung Hoa bao di tích và danh lamthắng cảnh đáng tự hào… Từ đó, chúng ta cũng thấy rõ đóng góp to lớn củatôn giáo này trong thời kì phát triển rực rỡ, hoàng kim nhất chế độ phong kiếnTrung Quốc

Trang 5

Ngày nay, những hào nhoáng của một nền văn minh vật chất đã lôi cuốnmột số đông ngời, nhng cơ bản nền văn hoá dân tộc đang còn bền chặt Khiếnngời Trung Hoa dẫu có bị xao nhãng phần nào trong một thời gian, rồi cũnglần hồi trở lại với cội nguồn yêu dấu ngàn xa Phật giáo nh một thực thể vănhoá - tôn giáo sống động, góp phần tạo ra văn hiến – văn minh đất nớc; mộtphần quan trọng của đời sống tâm linh, chốn bình an quay về của bao ngời.Bởi vậy, tìm hiểu về vai trò của nó đối với văn hoá Trung Quốc thời nhà Đờng(618 - 907) là đề tài khá thú vị, hấp dẫn, giúp chúng ta lí giải đợc sức sống lâubền của đạo Phật ở một quốc gia có nền văn minh cao, cũng nh nắm bắt xu thếphát triển hiện nay của tôn giáo này trên mảnh đất ngàn năm văn hiến.

Tuy nhiên, chúng ta cần phải nhìn nhận rõ: Hiện nay tinh thần khaiphóng, dung hoà và phơng tiện của Phật giáo nói chung, Phật giáo Trung Quốcnói riêng đang bị một số ngời lợi dụng, cố tình hiểu sai lệch đi, biến Phật giáo,nhà chùa thành ra tách biệt với xã hội, những sinh hoạt biến dạng nh xin xăm,bói quẻ, cúng kiến mê tín… vốn không phải của đạo Phật Do đó, chúng tôithiết nghĩ, đánh giá vai trò Phật giáo trong nền văn hoá và lịch sử đất nớcTrung Quốc trong giai đoạn hng thịnh nhất, dựa trên tinh thần khoa học vàkhách quan sẽ nhận thấy đợc những mặt tích cực, hữu ích cần duy trì và chốnglại những thiếu sót, sai lệch, để duy trì, phát triển Phật giáo nói riêng, tôn giáonói chung trong sạch, vững mạnh

Qua số lợng t liệu hạn hẹp có đợc, chúng tôi nhận thấy: tuy có nhiều cuốnsách, bài viết xoay quanh vấn đề Phật giáo Trung Quốc, nhng mới chỉ tản mạn

ở những diện nh lịch sử phát triển và các tông phái Phật giáo hay nghệ thuật,kiến trúc Phật giáo nói chung, Còn về vai trò của tôn giáo này trên các lĩnhvực văn hoá trong một giai đoạn lịch sử nhất định cha đợc nghiên cứu nhiều

Đặc biệt, ở thời kì đạo Phật Trung Quốc và chế độ phong kiến Trung Quốcthịnh đạt nhất thì cha đợc đề cập sâu, cha giải quyết một cách hoàn chỉnh Nênchúng tôi hi vọng rằng sẽ cố gắng hệ thống vấn đề này một cách cụ thể, chitiết, rõ ràng hơn, trên cơ sở đó đa ra một số nhận định, ý kiến đánh giá thíchhợp

Không những thế, sự giao thoa, tơng tác kéo dài hàng chục thế kỉ giữa hainền văn minh Trung Hoa và Việt Nam đã tạo nên mối quan hệ khăng khít giữaPhật giáo Việt Nam với Phật giáo Trung Hoa trong nhiều lĩnh vực: triết học,văn học, nghệ thuật… Do vậy, hiểu Phật giáo Trung Quốc không chỉ hiểu văn

Trang 6

hoá Trung Quốc mà quan trọng hơn, đây còn là điều cần thiết để góp phầnnhận diện bản sắc dân tộc mình Những yếu tố tích cực của Phật giáo là mộtphần t tởng văn hoá Việt, sẽ cùng với văn hoá dân tộc Việt Nam nhận định,chắt lọc và cũng là “liều thuốc tốt” chống lại những cặn bã văn hoá ngoại nhậphoặc văn hoá mê tín phát sinh từ bản địa để có nền văn hoá lành mạnh, đậm đàbản sắc

Chúng tôi cũng nghĩ khi đi sâu tìm hiểu về đề tài, rồi liên hệ, mở rộng, sosánh, đối chiếu với các giai đoạn lịch sử trớc – sau, các quốc gia lân cận…Ngời viết sẽ trang bị đợc cho bản thân một vốn hiểu biết nhất định về văn hoá,tôn giáo, tín ngỡng Trung Quốc nói riêng, thế giới nói chung, thấy đợc mốiquan hệ giữa các yếu tố này với nhau để phục vụ tốt hơn nữa công tác giảngdạy lịch sử tại các trờng trung học phổ thông

Với những lý do trên, chúng tôi quyết định chọn Vai trò của Phật

giáo đối với văn hoá Trung Quốc thời nhà Đờng (618-907)” làm đề tài cho

luận văn tốt nghiệp

2 Lịch sử vấn đề

Là một tôn giáo lớn, Phật giáo đã trở thành đề tài nghiên cứu thu hút sựquan tâm của các nhà khoa học xã hội Rất nhiều quốc gia có trung tâmnghiên cứu về đạo Phật Chẳng hạn nớc ta có Phân viện nghiên cứu Phật họccủa giáo hội Việt Nam, Viện nghiên cứu tôn giáo Các tạp chí nghiên cứuPhật học, nghiên cứu Trung Quốc và nhiều tờ báo điện tử về vấn đề này nh:http://www.quangduc.com, http://www.vanhoaphatgiao, http://www.cusi.freehttp://www.thuvienhoasen, http://wwwvietsciences, www.daitangkinhvietnam,http://www.buddhasasana, www.nhipcauthegioi, http://www.thongtinnhatban,http://www.buddhismtoday đều cung cấp rất nhiều thông tin có giá trị vềPhật giáo Trung Quốc, thế giới cũng nh trong nớc

Số lợng sách chuyên khảo và tài liệu về tôn giáo này cũng không ngừngtăng lên, không kém phần phong phú, đa dạng Nhng có một thực tế không thểphủ nhận đợc là ở Việt Nam, các tác phẩm đợc phát hành còn nghiêng nhiều

về nghiên cứu giáo lí, quan điểm Phật học, lịch sử phát triển, giá trị đối với đờisống tâm linh, với giáo dục nếp sống,… hơn là đi vào các mảng văn hoá khác,nếu có lại chủ yếu là của Việt Nam hay một số nớc khu vực Đông Nam á làchính Trong đó, xét riêng về Phật giáo Trung Quốc có một số cuốn tiêu biểu

mà ngời viết đợc biết là:

Trang 7

"Lịch sử Phật giáo Trung Quốc" do hoà thợng Thích Thanh Kiểm viết(NXB Tôn giáo, Hà Nội, 2001), hay cuốn "Lợc sử Phật giáo Trung Quốc" củanhà s Viên Trí (NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 2004), Andrew Skilton cócuốn “Đại cơng lịch sử Phật giáo thế giớí” (NXB Tổng hợp, TP.HCM, 2004),

đều mang tính chuyên môn cao, giới thiệu khá rõ ràng, cụ thể quá trình dunhập, dung hoà, phát triển của đạo Phật ở Trung Hoa

Cuốn sách mang tính tản mạn về giáo lí, về ảnh hởng văn hoá của Phậtgiáo nói chung trong mọi thời kì lịch sử nh "Đàm đạo với Phật Đà" do Lý GiácMinh, Lâm Thấm(NXB Văn học, Hà Nội, 1997) viết đã cung cấp một số t liệu,cũng nh cách nhìn nhận, đánh giá khá thú vị về Phật pháp Hay về mối quan

hệ với chính trị có "Các đế vơng với Phật giáo" của Vơng Chính Bình (NXBVăn hoá thông tin, Hà Nội, 2002) cung cấp t liệu giúp ta lí giải phần nàonguồn gốc sức sống mạnh mẽ của tôn giáo này trong sự gắn bó chặt chẽ t tởng

và chính trị

Có những cuốn sách chuyên sâu từng mảng, từng lĩnh vực trong văn hoáPhật giáo nh: về mỹ thuật Phật giáo có "Tợng Phật Trung Quốc" của Lí LợcTam, Huỳnh Ngọc Trảng (NXB Mỹ thuật, Hà Nội, 1996); "Giải thích về tranhtợng Phật giáo Trung Quốc" do Trơng Đức Bảo, Từ Hữu Vũ, Nghiệp Lộ Hoaviết (NXB Thuận Hoá, Huế, 2004) giới thiệu khái quát lí luận, quan điểm mỹhọc tôn giáo nói chung, đạo Phật nói riêng Nguyễn Bá Hoàn có “Th pháp vàthiền” (NXB Thuận Hoá, Huế, 2002) phân tích sâu sắc mối liên hệ giữa nghệthuật viết chữ và quan điểm, phong cách Thiền tông Robert E.Fisher cung cấpcho độc giả những hiểu biết về tác động qua lại giữa yếu tố linh thiêng củaPhật giáo với việc thể hiện cái đẹp trong “Mỹ thuật và kiến trúc Phật giáo”(NXB Mỹ thuật, Hà Nội, 2002)… Nhng những tác phẩm trên không đề cập

đến một giai đoạn lịch sử cụ thể nào trong thời kì phong kiến Trung Quốc Nhng nh ở phần lí do chọn đề tài chúng tôi đã nêu, đó là trong vốn t liệuhạn hẹp mà ngời viết có đợc thì cha có một cuốn sách nào viết riêng về Phậtgiáo thời Đờng, cha có tác phẩm nào đánh giá vai trò Phật giáo đối với lịch sửvăn hoá Trung Quốc Cũng nh cha xuất hiện t liệu nào đánh giá đầy đủ, toàndiện những vai trò, ảnh hởng trên tất cả các mặt của tôn giáo này trong thời kìphát triển hoàng kim nhất của phong kiến Trung Quốc

Trang 8

Do đó, với cơ sở là những cuốn sách nói trên, chúng tôi đã tham khảo một

số tài liệu có liên quan đến tôn giáo và Trung Quốc để tổng hợp, hệ thống lại

Từ đó, hi vọng đa ra một số nhận định đúng đắn, phù hợp

Các cuốn mang tính nghiên cứu chung về tôn giáo nh "Mời tôn giáo lớntrên thế giới", do Hoàng Tâm Xuyên chủ biên (NXB Chính trị quốc gia, HàNội, 1998), có đề cập đến đạo Phật với quá trình phát sinh, truyền bá, pháttriển của nó trên thế giới và ở một số nớc cụ thể, trong đó có Trung Quốc Haycuốn "C.Mác, Ph.Ănghen về vấn đề tôn giáo" Nguyễn Đức Sự chủ biên (NXBKhoa học xã hội, Hà Nội, 1999) Cuốn “Những vấn đề tôn giáo hiện nay”(Viện nghiên cứu tôn giáo, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1994) và “Về tôngiáo” (Viện nghiên cứu tôn giáo, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1994) củanhiều tác giả đã cung cấp cơ sở lí luận, t tởng về tôn giáo nói chung, Phậtgiáo nói riêng rất đúng đắn và khoa học, làm cơ sở, nền tảng để chúng tôi đa

ra đợc những nhận định khách quan, chính xác

Những tác phẩm giới thiệu lịch sử đất nớc, con ngời, phong tục, tập quánTrung Quốc cũng có cung cấp một số t liệu nh "Cội nguồn văn hoá TrungHoa" của Đờng Đắc Dơng (NXB Hội nhà văn, Hà Nội, 2003) hay cuốn "Từ

điển văn hoá cổ truyền Trung Hoa" do Doãn Hiệp Lý chủ biên (NXB Văn hoáthông tin, Hà Nội, 2001)

Để liên hệ nâng cao, đánh giá đợc vai trò, ảnh hởng của Phật giáo Đại ờng đối với quá trình giao lu văn hoá Trung Hoa – các quốc gia khác (nhất làmột số nớc lân cận) từ năm 618 đên năm 907, chúng tôi có tham khảo thêmnhững cuốn sách viết về lịch sử, tôn giáo, văn hoá Nhật Bản, Đông Nam á,…trong giai đoạn này nh: “Hội hoạ Trung Hoa, Nhật Bản”, do Hoàng CôngLuân, Lu Yên viết (NXB Mĩ Thuật, Hà Nội, 2003) giới thiệu hai nền hội hoạ

Đ-và mối giao thoa giữa chúng với nhau…

Nh vậy, ở Việt Nam khi nghiên cứu, tìm hiểu về lịch sử thế giới, nhất làlĩnh vực lịch sử thế giới cổ trung đại thì Phật giáo Trung Quốc nói chung, Phậtgiáo thời Đờng nói riêng luôn là mảng đề tài mở, còn nhiều “khoảng trống” rấthấp dẫn cho những ai muốn tìm hiểu về tôn giáo này

Trang 9

viết giới hạn việc tìm hiểu ở một mặt văn hoá trong giai đoạn lịch sử nhất định,khoảng ba thế kỉ từ năm 618 đến năm 907 - giai đoạn nhà Đờng, thời kì pháttriển thịnh đạt nhất trong lịch sử Phật giáo Trung Hoa.

Văn hoá, nói theo nghĩa đen của nó, là dùng cái đẹp (văn) để giáo hoácon ngời Phật giáo lấy việc độ sanh làm cứu cánh, bởi thế văn hoá có thể đợcxem nh nền tảng của Phật giáo Văn hoá bao hàm nhiều yếu tố, nhiều phơngdiện xã hội rất phức tạp nh khoa học, nghệ thuật, tôn giáo, đạo đức, pháp luật,phong tục, tập quán… Tìm hiểu vai trò đạo Phật, chúng tôi chỉ tập trung vàonhững mặt cơ bản, thể hiện rõ nhất vị trí, tác động của nó là t tởng, văn học,kiến trúc, hội hoạ, th pháp, điêu khắc, âm nhạc, phong tục tập quán và sự giao

lu văn hoá với các quốc gia láng giềng nh ấn Độ, Nhật Bản, Việt Nam…

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:

Luận văn này làm rõ vai trò quan trọng của Phật giáo đối với sự phát triểncực thịnh văn hoá Trung Quốc thời nhà Đờng trên các mặt t tởng, văn học,kiến trúc, điêu khắc, hội hoạ, th pháp, âm nhạc, phong tục tập quán và trongmối giao lu văn hoá Trung Quốc với một số quốc gia láng giềng Để thực hiện

đợc mục đích đó, chúng tôi phải tìm hiểu từ cơ sở, điều kiện để Phật giáo thời

Đờng phát triển, khảo sát sự phát triển của nó từ chiều rộng cho đến chiều sâu,trên cơ sở đối sánh với các vơng triều trớc đó và sau này để thấy đợc vị thế củaPhật giáo về mặt văn hoá

5 Đóng góp của đề tài

Trên cơ sở những tài liệu tham khảo về đất nớc, con ngời Trung Quốc,Phật giáo Trung Quốc và một số tác phẩm nghiên cứu lí luận về tôn giáo,…ngời viết đã cố gắng hệ thống hoá kiến thức để đa ra đợc những hiểu biết về cơ

sở, điều kiện và sự phát triển của Phật giáo nhà Đờng Từ đó, đánh giá vai tròPhật giáo thời này đối với văn hoá Đại Đờng Đồng thời, có kết hợp tìm hiểu

và liên hệ để nêu lên một số nhận xét, đánh giá nhất định về vị trí của tôn giáonày ở tất cả các mặt kinh tế – chính trị – văn hoá - xã hội thời Đờng; cũng

nh sự lan toả ảnh hởng của nó đối với những nớc xung quanh

6 Phơng pháp nghiên cứu

Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, ngời viết đã sử dụng tổng hợpnhiều phơng pháp nghiên cứu khác nhau, trong đó có hai phơng pháp chính.Trớc tiên là phơng pháp lịch sử, đó là phơng pháp nghiên cứu sự kiện lịch sửtrong bối cảnh cụ thể của nó Kết hợp với phơng pháp lôgic, là phơng pháp

Trang 10

nghiên cứu dựa trên hệ thống sự kiện, tài liệu lịch sử cụ thể, ngời viết phân tích

và rút ra nhận định, đánh giá về các vấn đề nghiên cứu

7 Bố cục luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm có 3chơng:

Chơng 1 Sự phát triển cực thịnh của Phật giáo thời Đờng

Chơng 2 Vai trò Phật giáo trong lĩnh vực văn hoá thời Đờng

Chơng 3 Vai trò của Phật giáo đối với sự giao lu văn hoá thời Đờng

Nội dung Chơng 1

Sự phát triển cực thịnh của phật giáo thời đờng

1.1 Cơ sở, điều kiện cho sự phát triển của Phật giáo thời Đờng

Để đánh giá vai trò của Phật giáo nhà Đờng, trớc hết chúng ta tìm hiểu sựphát triển đạo Phật giai đoạn này Tôn giáo từ bi ấy có ở Trung Quốc từ baogiờ? Câu hỏi đó có rất nhiều lời giải đáp Ngời nói thời nhà Chu đã biết tớiPhật giáo, ngời nói thời Tần Thủy Hoàng thì đạo này bắt đầu có Nhng căn cứvào những ghi chép trong nhiều sách sử nh: "Trung Quốc chí", "Nguỵ chí",

"Đông Di truyện" Và căn cứ vào một thực tế, đến đời Hán Vũ Đế (140TCN - 87 TCN) đã mở cuộc chinh phục Tây Vực tạo ra con đờng tơ lụa khiếnviệc thông thơng, giao lu qua lại giữa Trung Hoa với các nớc phía tây trở nên

dễ dàng hơn thì chúng tôi thống nhất với ý kiến của đông đảo nhiều nhà sử học

là đạo Phật vào quốc gia này bắt đầu từ thời Tây Hán

Trong cuốn sách của nhà s Thích Thanh Kiểm tìm hiểu lịch sử Phật giáoTrung Quốc có đa ra nhiều lối phân loại về thời đại Phật giáo Có một cáchphân khu thành năm thời kì Thời kì thứ nhất là "thời đại phiên dịch" (kể từ lúcPhật giáo bắt đầu xâm nhập đến nhà Đông Tấn) gọi nh vậy bởi lúc này cáctăng ni phần nhiều chuyên chú việc phiên dịch kinh điển Thời kì thứ hai là

"thời đại nghiên cứu" (từ Đông Tấn đến Nam Bắc triều) do bên cạnh dịchthuật, đã có xu hớng nghiêng về mặt nghiên cứu

Tiếp đến là "thời đại kiến thiết" (Tuỳ - Đờng), bấy giờ Phật giáo TrungQuốc đã độc lập, hoàn thành về giáo nghĩa của các tôn phái Từ Ngũ Đại đếnnhà Minh gọi là "thời đại kế thừa" Bởi vì, giai đoạn này không có t tởng giáo

Trang 11

học mới xuất hiện mà chỉ kế thừa những giáo học đã phát sinh trớc đó Kể từnhà Thanh trở về sau đợc xem là "thời đại suy vi" - đã không có tăng tài xuấthiện, các tăng ni, tự viện bị đào thải rất nhiều Tất nhiên, không thể phủ nhận

từ thời Trung Hoa dân quốc đến nay, Phật giáo có cơ hội để phục hng

Qua đó chúng ta thấy, lịch sử Phật giáo Trung Quốc trên phơng diện lịch

đại đã trải qua nhiều bớc thăng trầm biến đổi Nh lớp sóng sau phủ lên lớpsóng trớc, các giai đoạn Phật giáo đi sau luôn kế thừa, phát huy thành tựu củacác giai đoạn Phật giáo trớc đó, tuy mức độ đậm nhạt khác nhau Trong đó,cùng với một chế độ phong kiến hùng mạnh, kinh tế phát triển, văn hoá phồnvinh bậc nhất thời kì trung đại - nhà Đờng cũng là giai đoạn đạo Phật đạt đếncực thịnh, dần dần hoàn thành quá trình dân tộc hoá Vậy nhân tố nào đã giúptôn giáo này có đợc vị thế ấy?

1.1.1 Những nhân tố khách quan:

Kể từ khi trở thành một nhà nớc phong kiến thống nhất vào cuối thế kỉ IIITCN đến giữa thế kỉ XIX, Trung Quốc đã trải qua rất nhiều triều đại nối tiếpnhau Trong đó, nhà Đờng ra đời khi Lý Uyên - một viên quan thời Tuỳ, cùngcon mình là Lý Thế Dân khởi binh ở Thái Nguyên (Sơn Tây), giành ngôi báunăm 618; trải qua ba thời kì: Sơ Đờng (618 - 741), Trung Đờng (742 -820) vàHậu Đờng (821 - 907) Vơng triều này tồn tại đến khi Chu Toàn Trung truấtngôi của Ai Đế, tự lên làm vua năm 907 Với thủ đô nằm ở Trờng An (ngàynay thuộc ngoại ô Tây An) - vào thời kì ấy, là thành phố đông dân nhất thếgiới

Nhà Đờng đợc các nhà sử học ví nh đỉnh cao trong nền văn minh Trung

Hoa Đồng thời đợc Murdoch đánh giá: "Thời đó, hiển nhiên là Trung Hoa

đứng đầu các dân tộc văn minh trên thế giới Đế quốc ấy hùng cờng nhất, văn minh nhất, thích sự tiến bộ nhất và đợc cai trị một cách tốt nhất thế giới Cha bao giờ nhân loại đợc thấy một nớc khai hoá, phong tục đẹp đẽ nh vậy"[75;

134] Chính sách tiến bộ, thái bình lâu dài (hơn 100 năm từ 618 đến 755) đãlàm cho đất nớc phú cờng, thịnh trị và tạo điều kiện cho kinh tế, xã hội, vănhoá nghệ thuật phát triển mạnh mẽ

Một đất nớc phồn vinh nh thế, tất nhiên trí thức tăng lữ có đủ điều kiện đểhọc tập, nghiên cứu, tu dỡng, nâng cao phật pháp Dân chúng có điều kiệnchăm lo đến đời sống tinh thần tâm linh Họ ủng hộ tài chính, cúng dờng chocác chùa chiền, tăng ni, tự viện để tỏ lòng tôn kính, đồng thời làm rạng danh

Trang 12

các bậc tiên đế, hay để mãi mãi ghi nhớ ngời thân quá cố Việc làm này cũngnhằm cầu nguyện cho sự thịnh vợng của triều đại, sự trờng thọ của gia tộc, họhàng, cho lợi ích của nhân dân Mọi tầng lớp xã hội đều ủng hộ Phật giáo, sinhhoạt Phật giáo đều thu hút sự chú ý của mọi ngời, tạo nên sự phồn thịnh Phậtpháp.

Mặt khác, nh Kinh Dịch đã viết: “Cùng tắc biến, cực tắc phản”, một sự

vật, một quá trình đạt đến trình độ cao nhất của nó, tất có sự biến đổi về chất

mà thờng là theo chiều hớng ngợc lại Đời Đờng cực thịnh ở thời KhaiNguyên, Thiên Bảo của Đờng Minh Hoàng (Huyền Tông), cũng thời đó đánhdấu một bớc suy thoái quan trọng của nhà Đờng Quá trình phát triển đến cựcthịnh, trong lòng xã hội đã ấp ủ quá nhiều mâu thuẫn, đằng sau vẻ phồn vinh,thịnh trị ẩn giấu bao mầm mống tai hoạ Có thể nói, trong số ba triều đại vẻvang, văn minh nhất của Trung Quốc: Chu, Hán, Đờng - Đờng bề ngoài có vẻrực rỡ nhất, mà bề trong loạn nhất, triều đình bê bối nhất Bọn hoạn quanhoành hành, giết hại ngời hiền năng, bán quan, buôn ngục, đục khoét dânchúng, bạo ác không kể xiết Loạn An Lộc Sơn kéo dài chín năm, gieo tai hoạnặng nề cho Trung Quốc, tàn phá đất nớc này khủng khiếp và man rợ

Theo cách nói của Charles Eliot: Đặc trng nổi trội nhất của Phật giáo là quan hệ thân mật của nó với điều kiện chung của nớc sở tại, cả về chính trị và xã hội Nó đã từng rung lên khi phản ứng lại những thay đổi chính trị đột ngột, ghi lại những thay đổi đó trong các tông phái và thể hiện ra thành nghệ thuật ở những cung độ đặc thù của từng tông phái” [29; 491] Nội u, ngoại

hoạn này đặt Phật giáo đứng trớc hiện thực khắc nghiệt, khó khăn, đòi hỏi phảibiến đổi thích ứng, phù hợp Đó cũng có thể xem nh một động lực thúc đẩytôn giáo này tự hoàn thiện Hơn nữa, đang thái bình bỗng loạn lạc, quảng đạinhân dân không nhìn thấy đờng ra thì cõi Phật bình an, tinh thần từ bi, hỉ xả,chúng sinh đều đợc bình đẳng và đợc cứu độ siêu thoát đã nh một cứu cánh,nâng đỡ, xoa dịu tâm hồn, t tởng “đốn ngộ thành Phật” mê hoặc lòng ngờicàng dễ dàng tiến sâu vào tinh thần quần chúng nh một lối thoát, một sự đền

bù h ảo

Cả thái bình thịnh trị, cũng nh loạn lạc chiến tranh đều ảnh hởng trực tiếp

đến tôn giáo, đặc biệt là Phật giáo Nếu nh ở thời hoàng kim, tăng ni, phật tử

có điều kiện hoằng dơng Phật pháp, vừa tu dỡng, nghiên cứu, nâng cao trình

độ giáo lí theo chiều sâu, vừa xây dựng nhiều chùa chiền, đúc chuông, tô tợng

Trang 13

khắp nơi Thời loạn lạc lại đặt Phật giáo trớc những thử thách, yêu cầu nóphải đi vào đời sống, đi vào chiều sâu của hiện thực Tóm lại, xã hội phức tạpthời Đờng vừa là bối cảnh trực tiếp, vừa là nhân tố khách quan đầu tiên tác

động sâu sắc đến sự phát triển của đạo Phật Trong bối cảnh đó, về mặt luân lí,thẩm mĩ và với t cách là một nhân tố trong văn minh vật chất, Phật giáo đã có

sự phát triển mạnh mẽ

Thứ nữa phải kể đến là nhờ vào sự hộ pháp của giai cấp thống trị nhà Đ ờng Phó Dịch (555 - 639) - một nhà khoa học tự nhiên và vô thần luận từng

-tâu với Đờng Thái Tông rằng: "Tín ngỡng của Phật giáo không chỉ đơn thuần

là vấn đề tín ngỡng mà còn là một vấn đề chính trị" [9; 207] Quả đúng nh

vậy, không thể phủ nhận giữa tôn giáo và nhà nớc có mối quan hệ chặt chẽ vớinhau Về chính sách tôn giáo, chính quyền trung ơng chủ trơng khoan dung

đối với mọi tôn giáo Dù có nhận mình là tín đồ Đạo giáo, Đờng tộc là concháu Lão tử… các vua Đờng cũng không ép buộc nhân dân theo tín ngỡng đó.Lúc bấy giờ có thêm nhiều đạo mới du nhập vào Trung Hoa nh NestorianChristianity (Cảnh giáo – một phái Kitô giáo ở Tây á), Islam (Hồi giáo),Manichaeism (Mani giáo)… nhng đạo Phật vẫn mạnh nhất

Không thể phủ nhận từ khi Phật giáo du nhập vào Trung Quốc, nó đã cómối quan hệ theo nhiều dạng khác nhau với giai cấp phong kiến Nhìn chung,các vị đế vơng ở các triều đại đều mong muốn bảo vệ, phát triển, lợi dụng tôngiáo này Nhng đến đời Đờng, liên hệ trên trở nên rất phức tạp, vừa có nhân tốmang tính chất cá nhân, vừa mang tính chất chính trị, có yếu tố ngẫu nhiên,

đồng thời có yếu tố tất nhiên; làm cho lực lợng thống trị Đại Đờng tạo điềukiện cho đạo Phật hng thịnh Điều này có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân

Cụ thể là:

Đa số các vua Đờng đều ủng hộ Phật giáo ở mức độ khác nhau Vì bảnchất tôn giáo này là khuyên chúng sinh giữ tâm hồn thanh tịnh, diệt đi mọiham muốn, cố gắng làm những điều thiện để đợc lên cõi Niết Bàn Nên họ sửdụng Phật giáo nh một công cụ t tởng làm tê liệt ý chí phản kháng của nhândân, chấm dứt mọi đấu tranh, xung đột, góp phần thống nhất, ổn định nớc nhà,giữ địa vị thống trị của mình

Điều này đợc ghi nhận trong lịch sử nhà Đờng nh sự kiện vua Thái Tônglên ngôi (năm 626) sau khi làm chính biến Huyền Vũ Môn, giết chết anh trai

là thái tử Lý Kiến Thành và em ruột Lý Nguyên Cát Để tránh mâu thuẫn đổ

Trang 14

dồn về phía ông và giành đợc sự ủng hộ của các nhân sĩ, ông đã sử dụng Phậtgiáo nh một phơng tiện đánh lạc hớng lòng ngời

Thậm chí nh Võ Tắc Thiên đã lợi dụng đạo Phật để đạt đợc mu đồ củamình Trong quá trình "cách mạng Võ Chu" bà dùng các sa môn Phật giáo nhmột ngọn cờ đầu Chính tăng ni qua cuốn "Kinh Đại Vân" viết năm 689, do

đón bắt ý muốn của Võ Hậu, đã tạo ra căn cứ lý luận để nhà Chu thay cho nhà

Đờng Sách tích cực chứng minh bà là ngời gánh vác thiên mệnh, là vị Bồ táthoá thân làm quốc vơng Không những thế, các nhà s còn rất tích cực tronghoạt động đề nghị Họ gây ra những cuộc náo loạn đòi quan lại triều đình vàhoàng gia phải phế truất Duệ Tông Lý Đán, mời thái hậu lên làm đế vơng Vìvậy, Võ Tắc Thiên sau khi nhận ngôi báu đã tởng thởng công lao, ra sức hộpháp cho đạo Phật

Bên cạnh nhu cầu chính trị của quốc gia, một số duyên nợ cá nhân cũnglàm cho không ít đế vơng Đại Đờng dành tình cảm cho Phật giáo Võ TắcThiên đã từng đội tóc đi tu ở chùa Cảm Nghiệp hay Lý Thái Tông đã thực sự

bị chinh phục bởi tài năng, phẩm giá của nhà s Huyền Trang… Cũng có nhiềuvua quan tôn sùng Phật giáo thực sự làm tôn giáo này càng thêm phát triển

Đời Đờng có bảy lần rớc xá lợi Phật nhằm cầu chúc cho xã tắc yên vui mãimãi Ví nh Đờng Hiến Tông - ngời thờng xuyên đến tế lễ ở chùa có xá lợiPhật Ông đã tổ chức đám rớc rất linh đình, gồm đông đảo quan lại, quầnchúng nhân dân do nhà vua đích thân dẫn đầu Quang cảnh rầm rộ, nhiều tín

đồ còn làm những hoạt động nh tự đốt tóc mình, coi tay mình là ngọn nến mà

đốt lên thể hiện lòng thành tâm hớng về đạo Phật Điều đó cho thấy trongtâm thức mọi ngời và một số bậc đế vơng, họ thực sự tôn sùng và tin tởng vàogiáo lí của Thích Ca Mâu Ni

Nh vậy, so với các triều đại trớc, đến nhà Đờng, mối quan hệ nhà nớc vớiPhật giáo càng trở nên chặt chẽ Trong mối quan hệ này, ai nơng tựa vào ai, aichi phối ai? Nếu ở phơng Tây thời kì trung đại, thần quyền cao hơn vơngquyền hay nh ở ấn Độ, tăng nhân xuất thế không phải vái vua thế tục thì ởTrung Quốc - lại coi trọng vơng đạo lên trên hết Đối với mọi tôn giáo, quyềnlực các giáo phái không đợc cao hơn quyền lực của nhà vua, những sinh hoạttrong đời sống tín ngỡng không đợc phép quấy nhiễu, phá hoại đời sống chínhtrị quốc gia Vơng quyền chi phối thần quyền, biến Phật giáo thành một trongnhững "tôn giáo chấn hộ quốc gia"

Trang 15

ở một đất nớc coi trọng vơng đạo lên trên hết nh Trung Quốc, sự nâng

đỡ, ủng hộ của các bậc đế vơng là nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự hngthịnh của Phật giáo Đúng nh hoà thợng Pháp Lâm đã lý giải cho hiện tợngchùa chiền, tự viện đợc xây dựng khắp nhiều châu, số ngời xuất gia đông đảo

ở thời Đờng là "kết quả của lòng thành tâm của hoàng đế và sự đoàn kết một

lòng, một dạ giữa vơng triều với nhân dân" [9; 197]

1.1.2 Những nhân tố chủ quan:

Trong sự thịnh vợng ấy, công của các ông vua rất lớn, nhng không phải làtất cả Họ là ngời tăng cờng thợng duyên, còn nguyên nhân chính, cơ sở chínhvẫn là giới tín đồ, nhất là giới lãnh đạo Phật giáo Khi mà tín đồ có đạo hạnh

và lòng tin tởng mạnh mẽ, các nhà truyền đạo có nhãn quang sáng suốt thì dùvơng quyền muốn phá đạo cũng chỉ phá đợc phần nào Ngợc lại, khi tín đồthiếu đức tin, các nhà tu hành thiếu tinh thần tiến thủ, nhiệt tâm vì đạo, dùhoàng đế có nâng đỡ cũng chỉ nâng đỡ đợc một phần thôi Cho nên bao giờcũng do ở bên trong mà ra cả Đạo Phật đời Đờng đạt đến đỉnh cao cũng nhờvào những nỗ lực, nhiệt tình, tâm huyết của các bậc cao tăng lúc bấy giờ trongviệc học tập, dịch kinh, truyền đạo, sáng lập ra những giáo phái phù hợp với

đông đảo quần chúng nhân dân hoặc điều chỉnh một số giáo lí cũ cho thíchứng đời sống tâm linh dân tộc Trung Hoa

Điều này có đợc là do, sau một thời gian dài biên dịch kinh Phật, giớităng ni nhận thức rõ sự thiếu sót, tơng phản trong hệ thống kinh sách đợcphiên dịch từ Phạn văn sang Hoa ngữ đang hiện hành Họ cảm thấy cần phải

bổ sung và kiện toàn hệ thống ấy từ cội nguồn của chúng Cũng vào thời điểmnày, ảnh hởng chính trị, ngoại giao của nhà Đờng đã lan rộng đến nhiều nớcnhỏ ở vùng Trung á Để có đợc mối bang giao tốt đẹp với Đại Đờng, số tiểuquốc ấy thờng tạo mọi thuận lợi cho các phái đoàn Phật tử hành hơng ấn Độ,mỗi khi họ đi ngang qua địa phơng mình Đây là điều kiện tốt khiến nhiều nhà

s lên đờng đến ấn Độ học đạo để trên cơ sở đó về nớc chỉnh lí kinh sách, giáo

lí… cho phù hợp

Tiêu biểu là nhà s Đờng Huyền Trang (596 - 664) Ông tên tục thuộc họTrần, ngời ở huyện Uyển S, tỉnh Hà Nam, xuất gia vào cuối đời Tuỳ Sau mộtthời gian học tập giáo lí nhà Phật, bậc cao tăng này đã không thoả mãn vớinhững bản dịch kinh Ngài quyết định lên đờng sang Tây phơng (ấn Độ), tìmcác bản gốc chính để so sánh, kiểm nghiệm Trải qua gần mời bảy năm trời (từ

Trang 16

năm 628 đến mùa xuân 645), Tam Tạng trở về Trờng An, mở dịch trờng quymô lớn, dịch 57 bộ kinh luận gồm 1335 quyển [1; 123] Đồng thời, sáng lập ramột tông phái mới của đạo Phật là Pháp Tớng tông với những triết lí sâu xa,huyền diệu, cuốn hút bao nhà trí thức đi theo

Đến nh Đờng Thái Tông – Lí Thế Dân, một nhà vua vốn dĩ không hứngthú gì với giáo lí Phật giáo, thậm chí còn thờng xuyên ám chỉ việc Lơng Vũ

Đế (502 - 549) hết lòng hộ pháp Phật giáo mà dòng họ của Võ Đế vẫn bị tiêuvong, đền miếu hoang tàn … Sau khi gặp gỡ, đàm đạo triết lí nhà Phật vớiHuyền Trang, ông vua tài ba này thực sự thay đổi chính kiến, ông mời cácdanh tăng vào cung để tiện thảo luận, khẳng định Khổng – Lão không thểnào so sánh với đạo Phật Và đặc biệt, vua rất tin tởng Tam Tạng sẽ làm hếtsức xiển dơng Phật pháp vì quyền lợi nhân dân

Có thể nói, đóng góp to lớn của Huyền Trang đã vợt ra ngoài phạm vi tôngiáo của mình Đúng nh lời ca tụng của Trơng Khởi Quân, Ngô Kháp Hợp

trong cuốn "Trung Quốc triết học sử thoại" rằng: "cao tăng Huyền Trang nửa

đời cầu kinh, nửa đời dịch kinh Ông có tinh thần tuẫn vì đạo của một nhà tôn giáo, có nhiệt tình cứu thế của một nhà t tởng Vì Phật giáo, vì nền văn hoá Trung Quốc, vì thế giới nhân loại ông đã cống hiến cả đời mình"[43; 286].

Bản thân các nhà s Phật giáo không chỉ tích cực truyền đạo mà lúc này họcòn khôn khéo có nhiều hành động gần gũi, phục vụ giai cấp thống trị để nơngtựa vơng đạo phát triển hng thịnh tôn giáo của mình Nh cuốn "Đại Đờng TâyVực kí" Đờng Tam Tạng bỏ ra hơn một năm cùng các đệ tử biên soạn, ghi lạinhiều phong tục, tập quán, tình hình địa lí, chính trị, xã hội những nớc mà ngài

đi qua, một phần cũng xuất phát từ việc đón bắt ý muốn của vua Thái Tôngmuốn tìm hiểu tình hình các nớc phía tây, nhằm chinh phục Tây Đột Quyết.Hay căn cứ vào bức bích hoạ màu vẽ mời ba vị hoà thợng cứu vua Đờng, ở nửabắc của bức tờng sau điện Bạch Y trong chùa Thiếu Lâm Chúng ta càng có sửliệu để chứng minh đóng góp của tăng chúng trong cuộc chiến tranh giànhthiên hạ thời kì nhà Đờng, khi võ tăng chùa Thiếu Lâm dới sự chỉ huy của ChíThao, Đàm Tông đã giúp Tần vơng Lý Thế Dân dẹp đợc Vơng Thế Sung vàonăm thứ ba Võ Đức, tức là năm 620

Một nhân tố khác tác động lớn đến sự phát triển Phật giáo giai đoạn này

là yếu tố kinh tế tự viện Theo đạo Phật nguyên thủy ở ấn Độ, đời sống các

tăng lữ rất giản dị: "Tam y, nhất bát, nhật trung nhật thực, thụ hạ nhất túc", có

Trang 17

nghĩa là có ba loại áo, một cái bát, ngày ăn một bữa, ngủ dới gốc cây Khi Phậtgiáo mới truyền vào Trung Quốc, các tăng ở đây cũng bắt chớc theo lối sốngvân du, cầm bát xin ăn Nhng điều này không phù hợp với tâm lý văn hoá vànhu cầu xã hội của một dân tộc trọng nông Do vậy, dần dần những nhà s đãtham gia vào cuộc sống lao động Tuy nhiên, phải đến đời Đờng, Mã Tổ ĐạoNhất cùng đệ tử là Bách Trợng Hoài Hải sáng lập ra Tùng Lâm Thanh Quy,

đặt ra quy thức thiền lâm cho cả thiên hạ Trong đó, yêu cầu tăng ni, phật tửngoài thời gian tu đạo phải tự cày ruộng để nuôi sống bản thân, sống cuộcsống nông thiền, một ngày không làm, một ngày đừng ăn - thì nền kinh tếchùa viện mới chính thức đợc đặt cơ sở ra đời và phát triển

Thời phong kiến, nông nghiệp là ngành quan trọng nhất Trong đó, chế độ

sở hữu ruộng đất là cơ sở nền tảng của hình thái tổ chức nhà nớc, là cơ sở tìmhiểu tình hình kinh tế - chính trị đất nớc ở đây, chúng tôi nghĩ rằng nếu căn

cứ vào một nhận xét của cuốn "Cựu Đờng th" quyển 101 "Tân thế phủ truyện"

là "mời phần tài sản trong thiên hạ thì Phật có bảy, tám" [14; 303] để đánh

giá thành phần kinh tế này vào bậc nhất là không phù hợp Vì chúng ta phảighi nhận vị trí của hoàng trang, quan trang và điền trang của địa chủ quan liêu.Nhng dựa vào sự kiện năm 845, vua Đờng Vũ Tông ra lệnh "bỏ Phật" tức làchỉ giữ lại một số s sãi, chùa chiền rất hạn chế, đã tịch thu đợc hàng chục triệukhoảnh ruộng (mỗi khoảnh tơng đơng 15 mẫu) [9; 303] - mà ta có thể thấy sốlợng đất đai của nhà chùa cũng không phải là ít Thậm chí, vợt trội hơn rấtnhiều so với diện tích ruộng chùa những thời kì trớc đó và cả sau này

Các s sãi nắm đợc một số ruộng đất trong tay, trớc hết do chính sách quân

điền Đầu thời nhà Đờng có quy định: mỗi sa môn đợc chia 30 mẫu, ni cô đợc

20 mẫu - tức là nhà nớc thừa nhận tính hợp pháp của thành phần kinh tế này.Vậy nếu dựa vào số liệu cuốn "Almanach - Những nền văn minh thế giới" ởtrang 703 có thống kê số tăng ni vào giai đoạn đầu triều Đờng là 300.000 ngờithì nhà nớc đã cấp cho chùa chiền gần chín triệu mẫu ruộng Nhng trên thực

tế, con số đó còn lớn hơn nhiều do có sự ban thởng của triều đình, sự hiến tặngcủa nhân dân ở thời Trung và Hậu Đờng, khi chế độ quân điền phá sản, điềntrang trở thành hình thái tổ chức chủ yếu của chế độ kinh tế phong kiến thì các

tự viện đã tìm cách mở rộng, chiếm hữu nhiều ruộng đất, kể cả mua ép củanông dân nh chùa Lễ Tuyền (Sơn Đông) có điền trang 15 sở [1; 124]

Trang 18

Điều này đã tạo ra những tác động không nhỏ bởi vì việc xuất gia vào cửaPhật đồng nghĩa với việc vứt bỏ mọi nghĩa vụ xã hội Các tăng ni không phải

đi lao dịch, không phải đóng tô thuế cho nhà nớc, nh một ngời đã tổng kết:

"Phật giáo không phải dạng thấp hèn, ngời theo Phật giáo rất cao thợng, ngời

quy y Phật cũng rất cao quý, nhìn lên không bằng thiên tử, nhìn xuống thì hơn

ch hầu, một tấc lụa cũng không phải đem cống nạp cho quan phủ, một đấu gạo cũng không phải đem nộp cho quốc khố, ra vào tuỳ ý ung dung, thoải mái"

[9; 177] Chúng ta không thể phủ nhận hiện tợng lắm kẻ đi tu vì sức hấp dẫncủa kinh tế tự viện, vì muốn trốn tránh các nghĩa vụ phong kiến, làm số lợngtăng ni phát triển mạnh Ngợc lại, khi nắm trong tay nhiều ruộng đất và nhânlực, nhà chùa cũng sử dụng cỡng bức siêu kinh tế để bóc lột nông dân khôngkém gì những chủ điền trang khác, tạo nguồn của cải, vật chất dồi dào, phục

vụ việc xây chùa, tô tợng, đúc chuông, thực hiện lễ nghi, chấn hng Phật pháp.Nguyên nhân không kém phần quan trọng khiến Phật giáo hấp dẫn TrungQuốc, phát triển cực thịnh thời Đại Đờng, đấy chính là sức hút của chính bảnthân nó sau một thời gian dài du nhập ở tôn giáo ấy, lúc bấy giờ ngời ta cóthể dễ dàng nhận thấy một sự thích ứng mềm dẻo, phù hợp với mọi tầng lớpnhân dân

Lúc này, Phật giáo Đại Thừa nở rộ những tinh hoa về giáo lí - Tôn chỉ củaphái Đại Thừa là truy tìm bản nguyện Phật Đà, vứt bỏ sự giảng giải, phân tíchnhững vấn đề cành ngọn vụn vặt, làm Phật pháp sống động, thành ra tính dângian, tính chung nhất, tính thực dụng, tính đời sống So với những tôn giáo thờcúng (vu thuật) của Trung Quốc, t tởng luân hồi, nhân quả của Phật giáo cósức hấp dẫn mê hoặc hơn nhiều Sự an hoà, hiền hậu, vị tha của đạo Phật làmcho con ngời tĩnh tại, linh hồn đợc hởng nhiều khoái lạc ở trần gian Nó đápứng cái nhu cầu tâm linh mà Khổng giáo bỏ lơ, còn Đạo giáo chỉ thoả mãn đợc

đôi phần của quần chúng lao động

Đồng thời, những vấn đề đức lí sâu xa, những quan điểm thâm trầm,những luận điểm đặc sắc về các mặt phân tích khái niệm, suy lí lôgic cũng nhchiêm nghiệm vũ trụ, nhân sinh, phản tỉnh lí tính con ngời của Hoa Nghiêmtông, Pháp Tớng tông, Thiền tông,… trong giai đoạn triết học Nho - Đạo đình

đốn đã tạo nên sức hút mạnh mẽ tầng lớp trí thức về với đạo Phật Khi đi sâuvào mọi giai cấp, tầng lớp, tôn giáo này sẽ có vai trò, ảnh hởng sâu sắc đến

Trang 19

nhiều lĩnh vực kinh tế – văn hoá - chính trị – xã hội Và ngợc trở lại, nhữngdấu ấn ấy sẽ càng làm Phật giáo thêm sức sống, thêm sự phát triển.

Điều đó khiến cho triều đại nhà Đờng khi thay thế nhà Tuỳ dù có trở vềvới truyền thống Trung Quốc, lấy ý thức hệ Khổng giáo làm nền tảng cho hệthống chính trị quốc gia, vẫn không bỏ đi đặc thù tôn giáo trong lòng ngời dân

t đời Hậu Chu, triều Thế tôn – trong sử gọi là tam Võ, nhất Tôn pháp nạn) …tôn giáo này vẫn đạt đến đỉnh cao thịnh vợng nhất dới vơng triều Đờng

1.2 Sự phát triển của Phật giáo thời Đờng

Với những cơ sở, điều kiện thuận lợi trên, có thể nói Phật giáo thời nhà

Đờng đã phát triển mạnh mẽ, cờng thịnh bậc nhất trong lịch sử Phật giáoTrung Quốc - đạt đến đỉnh cao không đời nào sánh kịp Biểu hiện nào để

Vậy mà ở triều Đờng, với sự quyến rũ của nền kinh tế tự viện, sự trốntránh mọi nghĩa vụ lao dịch, cũng nh xuất phát từ tinh thần hớng đạo… làmcho số lợng ngời đi tu tăng lên một cách vô cùng mạnh mẽ Cuốn "Almanach -Những nền văn minh thế giới" có đa ra số liệu là khoảng 300.000 nhà s [76;703] nhng ngay cả số lợng khổng lồ đấy cũng chỉ là con số nhà nớc kiểm soát

đợc qua tờ độ điệp (giấy chứng nhận tăng ni) chứ thực tế chắc còn lớn hơnnhiều lần Vì đến năm thứ t của Thái Hoà (830), bộ từ (bộ quản lí tôn giáo và

tế lễ) nhận thấy có quá đông tăng ni cha làm lễ xuất gia, thọ giới luật trong

Trang 20

nhân dân, liền tâu lên vua Đờng Văn Tông xin đặt ra lệ thu 2.000 xu để cấp tờ

độ điệp cho những ngời này Và nhà vua đã kinh hoàng nhận ra "mối hiểmhoạ tiềm ẩn" của nền thống trị phong kiến khi có đến 70 vạn ngời xin cấp tờchứng nhận [9; 288] Nó cho thấy số s sãi thời Đờng vô cùng lớn, vợt hẳn mọivơng triều trớc đó và cả các triều đại sau này cũng không sao có đợc

Đi kèm với điều đó là hệ thống chùa tháp, tự viện trải khắp đất nớc đúng

nh hoà thợng Pháp Lâm đã nhận xét: "từ khi Phật giáo đợc du nhập tới nay

chùa và tháp thờ Phật có ở khắp chín châu" [9; 197], lúc này có khoảng

50.000 ngôi chùa lớn nhỏ [14; 103] - không thời đại nào sánh kịp Nh vậy, sốlợng tăng ni, tự viện thời Đờng lớn nhất, phong phú nhất, tác động sâu sắc tớinguồn thuế khoá và lao dịch của nhà nớc

Triều Đờng còn đánh dấu sự phát triển cực thịnh của Phật giáo khi hoànthiện và nâng việc dịch kinh bớc sang một giai đoạn mới - "tân dịch thời đại"

Sự cải cách, đổi mới này thể hiện cụ thể, rõ nét từ hình thức tổ chức cho đếnphơng pháp dịch thuật

Trớc đây, những tác phẩm kinh Phật thờng do từng cá nhân các nhà s tựdịch ra Hán văn để truyền bá Kĩ thuật phiên dịch nh thế rõ ràng bộc lộ nhiềunhợc điểm, sai sót, hiệu quả không cao Đến năm thứ 3 Đờng Trinh Quán(629), nhà nớc bắt đầu thiết lập dịch trờng, mời bậc cao tăng đến làm việc Với

sự giúp đỡ, quản lí của giai cấp thống trị, công việc biên dịch trở nên có hệthống, xây dựng đợc một loại quy chế vô cùng nghiêm ngặt, gồm chín giai

đoạn (tuyên đọc Phạn văn, chứng nghĩa, chứng văn, nghe hỏi, cầm bút viết,

sửa văn, tham dịch, san định, nhuận văn) do chín nhóm phụ trách Thông

th-ờng, mỗi bộ phận có một thủ lĩnh cùng vài ngời phiên dịch có trách nhiệm đọc

kĩ bản kinh gốc (Sanskrit) rồi dịch ra tiếng Hán; ngời thẩm tra ý nghĩa của bảnkinh Sanskrit; ngời viết lời phiên dịch ấy ra Hoa ngữ; ngời thẩm tra ý nghĩa đ-

ợc chuyển dịch sang tiếng Hoa; ngời nhuận văn; ngời đọc và sửa bản thảo vàngời hiệu đính tiếng Hoa …

Do đó, chất lợng văn dịch đợc đảm bảo những giáo lí, lễ nghi, quanniệm nhà Phật từ giai đoạn khởi thuỷ ở ấn Độ đợc tiếp thu và hiểu một cách

đầy đủ, đúng đắn, toàn diện hơn Nhiều tác phẩm đã vợt qua khuôn khổ Phậtgiáo trở thành những công trình văn hoá - lịch sử của toàn nhân loại nh trớc táccủa dịch giả Huyền Trang Và đây cũng là thời kì sự nghiệp phiên dịch kinhsách đạt thành tựu vĩ đại nhất cả về số lợng với 400 bộ kinh trong toàn bộ

Trang 21

2.000 bộ kinh (67.000 quyển) mà các nhà s dịch đợc từ khi đạo Phật truyềnvào Trung Quốc [14; 103].

Đặc biệt, trong số bốn nhà biên dịch kinh nổi tiếng nhất Trung Hoa là Cu

Ma La Thập, Cha Đơ Ra, Huyền Trang, Nghĩa Tĩnh, giai đoạn này có hai ngời.Riêng Huyền Trang đã vợt núi, băng rừng sang ấn Độ, nghiên cứu học tậpsuốt mời mấy năm trời ròng rã từ năm 628 đến năm 645, tại học phủ cao nhất

ấn Độ lúc bấy giờ là chùa Nalanđa Khi về nớc, ông mang theo mấy trăm bộkinh luận, tổ chức một dịch trờng quy mô lớn, trong gần 20 năm dịch 57 bộkinh luận gồm 1.335 quyển [1; 123]

Đồng thời với quá trình các sách kinh điển Phật giáo đợc du nhập vàphiên dịch, mục lục những kinh điển đạo Phật (bao gồm tên tuổi của dịch giả

và đề mục kinh sách mà họ dịch) cũng đợc biên soạn Riêng giai đoạn nhà ờng đã kế thừa thành tựu của triều Tuỳ để biên soạn ra hơn 10 loại mục lụckinh điển nhà Phật, gồm 50 quyển Trong số đó “Khai Nguyên Thích GiáoLục” do Trí Thăng biên soạn vào năm 730 là tác phẩm có giá trị nhất Đây làmột bảng tóm tắt tất cả nhan đề kinh sách hiện hành, hệ thống hoá theo thứ tựthời gian, tên tuổi của các dịch giả cùng với đề mục, số lợng chơng phẩm mà

Đ-họ phiên dịch Nếu một cuốn kinh có nhiều bản phiên dịch thì số bản cùng vớidanh tánh ngời dịch, thời gian và địa điểm phiên dịch đợc ghi chú rõ ràng.Việc làm này có giá trị lớn vì nó trở thành căn cứ quan trọng để ngời đời saudựa vào đó mà dễ dàng viết và khắc in kinh Phật không bị nhầm lẫn

Điểm thứ ba thể hiện sự phát triển của tôn giáo này ở thời Đờng chính là,sau một quá trình dài tiếp thu, dung nạp những yếu tố dân tộc, Phật giáo đãchính thức đợc Trung Quốc hoá Một tôn giáo, khi đã thành một tập tục bámchắc vào đời sống xã hội, trở thành một hiện tợng xã hội của một dân tộc, thời

nó đã thực sự có chỗ đứng vững chắc Giai đoạn này xứng đáng đợc gọi là

"thời đại kiến thiết" bởi trải qua sự thanh lọc, bồi bổ dới các thời Nguỵ - Tấn,Nam Bắc triều đã dần hình thành nhiều tông phái mới mang màu sắc TrungQuốc Nh là Luật tông do Đạo Tuyên sáng lập dựa vào kinh Tứ Phân Luật,Pháp Tớng tông do Đờng Huyền Trang kiến lập, phái Hoa Nghiêm có thể tựhào là Phật giáo Trung Quốc về đời Đờng do hoà thợng Đỗ Nhuận, y theo kinhhoa nghiêm sáng lập ra

Cũng có nhiều tông phái xuất hiện từ trớc, song đến giai đoạn này mớiphát triển mạnh mẽ, mang đậm nét đặc trng Trung Hoa, tạo nên hiện tợng

Trang 22

“trăm hoa đua nở” trong các học phái Phật giáo Thiền tông ra đời lúc Bồ Đề

Đạt Ma sang Kiến Nghiệp (Nam Kinh) (520 - 527) trở thành vị sơ tổ Nhng lúc

ấy, nó bị ảnh hởng rất nhiều bởi t tởng Lão – Khổng, phải đến thời Đờng với

ông tổ thứ sáu là Huệ Năng (638 - 713), dù t cách tổ s của ông bị tranh cãisong bậc cao tăng này đã đa phái Thiền lên một tầm cao mới, mang tính độclập, nổi tiếng và là một tông phái chính của Phật giáo Nó bị phân thành nhiềudòng lu truyền khác nhau dới đời Đờng, bao gồm Vi Ngỡng, Tào Động, VânNgôn, Pháp Nhãn Thiền tông cùng năm phái đợc phân nhánh từ sau Trung Đ-ờng mang đậm nét dân tộc, có ảnh hởng sâu sắc, lâu dài đối với lịch sử và sựphát triển Trung Hoa

Nh vậy, sự ra đời của nhiều tông phái Phật giáo mang nguồn linh hứng từ

ấn Độ nhng đậm đà sắc thái Trung Hoa đã đa tôn giáo này sánh vai với các ờng phái học thuật bản địa, để cùng nhau mang lại lợi ích và phát triển tâmlinh cho ngời dân, đồng thời cho thấy sự hng thịnh Phật pháp Sự xuất hiệnnhiều bậc cao tăng thạc đức cùng với tổ chức các tông phái Phật giáo mangtính quy củ, ảnh hởng không những trong giai đoạn ấy mà còn đến tận các thờikì sau; không những trong phạm vi Trung Quốc mà còn quảng bá đến tận cácnớc khác nh Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam…

tr-Sự hoàn thiện về hệ thống giáo lí và tổ chức giáo hội là biểu hiện thứ t rấtquan trọng để đánh dấu thời kì vàng son rực rỡ của Phật giáo thời Đờng

đạo Phật lúc mới du nhập vào Trung Quốc cha hình thành đợc một hệthống giáo lí phù hợp với văn hoá truyền thống Trung Quốc nên phải dựa vàoHuyền học Ngụy - Tấn, Nam Bắc triều Qua sự nỗ lực không mệt mỏi củanhững bậc cao tăng nh Đạo An, Huệ Viễn, Tăng Khải mà cuối cùng vào thời

Đờng, triết học Phật giáo trỗi dậy mạnh mẽ Có thể nói, Phật giáo thời Đờng

đã thoát ra khỏi các t tởng Phật giáo xơ cứng từ thời đại trớc và phát triểnthành một hệ t tởng mới để về sau các ngài Bát Nhã, Thiệu Vô Uý… kế thừa.Lúc này, giáo lí đạo Phật hấp dẫn đợc nhà trí thức với triết lý sâu xa,những chiêm nghiệm sâu sắc về nhân sinh, vũ trụ chứ không đơn thuần là sựrăn dạy khô khan Chẳng hạn, các tông phái đều coi "tâm" là bản nguyên cuốicùng của vũ trụ Giáo lý chính của phái Hoa Nghiêm là "pháp giới duyênkhởi" phản ánh tập trung nhất vũ trụ quan Phật giáo, xem kết cấu vũ trụ chỉ làmột mạng lới quan hệ không đầu, không cuối, không biên giới, là nhân và quảcủa nhau, tiếp giáp, xâm nhập lẫn nhau không ngăn cách Chính việc dựa vào

Trang 23

t duy lý tính để trình bày thứ vũ trụ quan duy tâm đã đẩy t duy biện chứngTrung Quốc lên một giai đoạn phát triển tơng đối cao

Mặt khác, Phật giáo cũng thu hút đợc quần chúng nhân dân lao động vớinhững t tởng dễ hiểu, lễ nghi đơn giản Nh phái Tịnh Thổ tông, quan niệm chỉcần thờng xuyên tụng niệm "nam mô a di đà Phật" thì sau khi chết linh hồn cóthể đợc lên cõi Niết Bàn Chính những giáo lý vừa t biện cao siêu, vừa đơngiản gần gũi đấy của Phật giáo thời Đờng đã làm tôn giáo này phổ biến đợcsâu rộng trong mọi tầng lớp nhân dân

Về tổ chức giáo hội, vào Đại Đờng, giáo đoàn Phật giáo đợc phát triển từNam Bắc triều đến nay đã trở nên hoàn bị và toàn thịnh, trở thành một tổ chức

nh các tổ chức xã hội khác, hoàn toàn phụ thuộc quyền chi phối của quốc gia

Nó hoạt động nh một ngời bảo vệ tôn giáo Ban đầu, giáo hội Phật giáo nằmtrong Hồng Lô tự (một cơ quan trung ơng), đến thời Võ Tắc Thiên thì trựcthuộc Từ bộ, trong Lễ bộ Với chức tăng lục thống nhiếp tăng ni, ở châu quận

có tăng chính quản hạt các giáo đoàn địa phơng, tạo nên sự thống nhất quản líPhật giáo trong cả nớc

Có triều đại trong thời kì này, nhà s còn tham gia vào bộ máy chínhquyền Khi Võ Tắc Thiên làm vua, vì bà lên ngôi với danh nghĩa Bồ Tát ứngthế nên các vị hoà thợng đơng nhiên đợc dự việc triều chính Những việc giámsát quân sự không thể không có tăng sĩ tham gia (nh nhà s Tiết Hoài Nghĩa hailần đợc bổ vào chức Tân bình đạo hạnh quân đại tổng quản và Đại bắc đạohạnh quân đại tổng quản dẫn quân tiến đánh Đột Quyết)

Để kiểm soát đợc Phật giáo, nhà Đờng đã phải có nhiều biện pháp quản lýtôn giáo này Nếu ở ấn Độ, xuất gia là công việc hoàn toàn xuất phát từ ýmuốn của cá nhân và gia đình ngời đó thì ở Trung Hoa lúc này xuất gia, thọgiới lại liên quan đến pháp luật xã hội Ai muốn đi tu đều phải đợc sự xácnhận và tuân thủ các quy định của triều đình Thậm chí, những triều đại trớc, tìkheo chỉ bị nhà nớc xử trị khi phạm các trọng tội nh cớp của, giết ngời còntội nhẹ đợc xử theo giới luật Phật giáo Đến nhà Đờng, nếu vi phạm bất cứpháp luật nào, tăng ni cũng bị xử phạt nh dân thờng

Thời Đờng còn phân chia tu sĩ làm ba loại để dễ quản lý: Có tăng quansống ở chùa viện do triều đình xây dựng, đợc sự hỗ trợ của nhà nớc; t tăng dogiai cấp quý tộc giàu có nâng đỡ và giới tu sĩ bình dân sống trong chùa chiềnhoang vắng, xa xôi, cuộc sống chủ yếu dựa vào quần chúng tín đồ Điều này

Trang 24

cho thấy, Phật giáo đã lan rộng và dân tộc hoá cao độ, len lỏi khắp nhiều nơi,trong mọi tầng lớp.

Tự viện cùng các tăng lữ ý thức đợc rằng bổn phận của họ không chỉ cótrách nhiệm chăm sóc, giúp đỡ đời sống tinh thần mà còn quan tâm đến đờisống vật chất cho ngời dân Bắt đầu từ lúc này, nhà chùa có đặt ra những Bi

Điền viện, Dỡng Bệnh viện ở các tự lớn trong thiên hạ để giúp ngời nghèocùng, bệnh tật, dới sự tài trợ của ngân khố nhà nớc mà ngời đứng ra trôngnom, quản hạt là tăng ni Tức là, vai trò xã hội của chùa chiền đã đợc triều

đình công nhận, trợ giúp Thông qua các chơng trình từ thiện trên, giới tăng niPhật giáo có thể chăm sóc, phục vụ cho ngời già yếu, những ngời nghèo khổ,không chỗ nơng tựa, không ngời cứu giúp Đặc biệt, trong những lúc bão lụt,hạn hán, mất mùa, giới tăng sĩ Phật giáo trực tiếp tham gia công tác cứu tế đểxoa dịu nỗi đau khổ của xã hội… Có thể nói rằng đây là một chơng trìnhkhông chỉ đem đến lợi ích thiết thực cho xã hội mà còn tạo nên vị thế cho Phậtgiáo Trung Hoa thời đại Đờng trong đời sống hàng ngày của ngời dân, chabao giờ mọi giáo lí, nghi thức Phật giáo đi sâu vào tiềm thức, vào hành độngthực tế của ngời dân đến thế Nó biểu hiện nhuần nhuyễn, cụ thể qua nhữngtập tục dân gian

Phật giáo đến các nớc á Đông cứ nh là một tôn giáo bản địa mỗi bộphận của nó tiếp xúc với một nền văn hoá hay tôn giáo dân tộc đặc thù, từ đóphát triển một loạt truyền thống có khuynh hớng văn hoá nghiêng về Phậtgiáo Vì vậy, không thể phủ nhận một biểu hiện tiêu biểu cho sự phát triển đạoPhật Trung Quốc giai đoạn này là vai trò to lớn của nó đối với sự phát triểnvăn hoá thời nhà Đờng nói riêng và văn hoá đất nớc nói chung Sự lan rộng,truyền bá ảnh hởng của Phật giáo Đại Đờng sang nhiều quốc gia khác Đâyvừa là hệ quả của sự phát triển nhng đồng thời cũng chính là biểu hiện rõ ràng,

cụ thể nhất cho sự phát triển Điều này chúng tôi sẽ phân tích ở hai chơng sau

Tiểu kết chơng 1:

Nh vậy, Phật giáo không đời nào thịnh hơn đời Đờng, toàn diện từ kiếnthiết hạ tầng đến học thuật tông phái, triết học và nghệ thuật Sự phát triểnkhông những về bề rộng mà cả bề sâu: Bề rộng ở số lợng tự viện, tăng ni,những giáo phái nở rộ mạnh mẽ Bề sâu ở chỗ những ngời trí thức uyên thâmtheo học đạo Phật đã làm sáng rõ cái yếu chỉ, nâng giáo lý của nó lên bớc pháttriển cao Nó vừa tác động mạnh mẽ đến đời sống tu học trong phạm vi đơng

Trang 25

đại, kéo dài đến tận các thế kỉ sau của bản thân Phật giáo Trung Hoa; vừa tạonên tác động sâu sắc trên mọi lĩnh vực kinh tế - văn hoá - chính trị - xã hộiTrung Quốc Đại Đờng và lan truyền ảnh hởng ra các quốc gia lân cận Đặcbiệt là vai trò, vị trí to lớn của Phật giáo đối với văn hoá giai đoạn này.

Tuy nhiên, chúng tôi thiết nghĩ rằng ta không thể vì thế mà đánh giá giai

đoạn này Phật giáo là quốc giáo đợc Vì đây là thời điểm quan trọng của sựhoà hợp tam giáo Trên thực tế, dù giai cấp phong kiến có sự sắp xếp vị thứkhác nhau giữa Nho - Đạo - Phật thì sự đối xử với chúng đều khá mềm dẻo,công bằng nhằm phục vụ lợi ích đất nớc, chứ không để một tôn giáo nào quávợt trội, lấn lớt mọi tôn giáo khác Và tất nhiên, ngợc lại Nho giáo khi đợc giaicấp cầm quyền phong kiến sử dụng làm công cụ thống trị về mặt ý thức hệ t t-ởng thì có điều kiện để tác động ảnh hởng đến các lĩnh vực khác trong đất nớc.Nhng không vì thế mà nó sẽ chắc chắn có vai trò hơn các t tởng, tôn giáo kháctrong lĩnh vực văn hoá Điều đó phụ thuộc nhiều vào nỗ lực từng tôn giáo, t t-ởng trong từng thời kì và sự thu nhận của quần chúng nhân dân, các nhà nghệ

Theo quy luật tự nhiên, cực thịnh là bắt đầu suy Phật giáo cũng vậy, giai

đoạn cuối mà nhất là từ sau nhà Đờng, tôn giáo này không còn giữ đợc địa vịcủa mình Nhng văn hoá là yếu tố có tính độc lập tơng đối, không phải nhanhchóng bị tác động biến đổi Nhiều lĩnh vực văn hoá giai đoạn này với sự tác

động của giáo lí, lễ nghi Phật pháp mà đạt đến đỉnh cao trong nghệ thuật Phậtgiáo và trong nghệ thuật nói chung của đất nớc Nhng có những lĩnh vực màphải đến giai đoạn sau vai trò, vị trí của Phật giáo sau một thời gian dài tác

động, nhất là từ nhà Đờng đặt cơ sở, nền móng đến lúc đó mới đạt tới đỉnh caothì chúng ta cũng phải công bằng ghi nhận cả những tác động của Phật giáo

Đại Đờng đến chúng từ trớc đó

Trang 26

Có lẽ trên thế giới hiếm có một dân tộc nào có một nền văn hoá tồn tạivừa lâu đời, vừa liên tục, bền bỉ nh Trung Quốc Ngời Trung Quốc đặc biệt có

ý thức bảo tồn nền văn hiến của mình Mặc dù trải qua bao thăng trầm lịch sử,bao cơn động loạn và binh đao, bao lần nền văn hoá ấy bị vùi dập, thậm chí bịhuỷ diệt, rồi lại hồi sinh mạnh mẽ và mang sức sống mới Họ cũng là dân tộc

đặc biệt coi trọng lịch sử, đến mức tôn sùng quá khứ Đó có lẽ là đặc điểm củakiểu t duy nông nghiệp, đợc củng cố bởi tinh thần bảo thủ của Nho gia Thànhthử đến nhà Đờng thì nền văn hoá học thuật và nghệ thuật Trung Quốc đã có

bề dày lịch sử, ít dân tộc đơng thời nào sánh kịp

chúng ta khẳng định Trung Hoa đã có một nền văn minh - văn hoá riêng,

đặc sắc, lâu đời từ trớc khi Phật giáo xuất hiện ở đây, nhng đến cả nớc nàycũng mang ơn đạo Phật, nếu không phải về sự hình thành nền văn hoá thì chí ítcũng là về sự phát triển của nền văn hoá ấy Điều này rất tiêu biểu trong thời kì

Trang 27

nhà Đờng – thời kì đạo Phật phát triển thịnh đạt nhất Nhìn từ mặt phát triểncủa nền văn hoá truyền thống Trung Quốc, Phật giáo lúc này, sau thời gian dàixâm nhập, lu truyền, một mặt làm giàu nội hàm nền văn hoá ấy; một mặt trongthời gian dài cùng với hệ t tởng Nho gia, Đạo giáo so sánh, xung đột, tranhluận, dung hợp, đến thời Đờng, Phật giáo đã trở thành một trong ba bộ phậntrụ cột không thể thiếu đợc, kết hợp nên những đặc tính cơ bản của nền vănhoá Trung Hoa

Phật giáo liên hệ nhiều, tác động nhiều đến t tởng, văn học, kiến trúc,

điêu khắc, th pháp, hội hoạ, âm nhạc, lễ hội hơn là khoa học tự nhiên Vìnhững lĩnh vực trên có u thế trong mặt tình cảm, ý thức, chúng tạo nên mốiquan hệ gắn bó chặt chẽ giữa cái thiêng, trừu tợng với cái tục và với cuộc sốnghằng ngày Nên khi xét vai trò của tôn giáo này đối với văn hoá Đại Đờng,chúng ta cũng chỉ xem xét những lĩnh vực cơ bản nhất, bộc lộ rõ sự tác độngcủa Phật giáo nhất

Ngợc lại, chúng ta biết rằng chính văn hoá nghệ thuật có thể xem nh

ph-ơng tiện mạnh nhất, hiệu lực nhất, để dễ dàng đa những giáo lí uyên thâm củaPhật giáo vào ý thức của ngời dân Nó có giá trị vô cùng lớn lao trong việc làmnhớ lại, hỗ trợ và củng cố những chân lí bất diệt của đạo Phật ở đây có sự đanquyện vào nhau về mặt lịch sử, khi tác động qua lại trở nên phức tạp, chúngsản sinh ra những hình tợng độc đáo, đôi khi rất khó tách rời “vỏ” khỏi “hạt”– tôn giáo khỏi nghệ thuật

2.1 T tởng

Ngay từ thời cổ đại, ở Trung Quốc đã xuất hiện nhiều trờng phái t tởngkhác nhau Ngoài những triết thuyết mang nặng yếu tố chính trị, còn có nhữngnhà t tởng muốn đi sâu giải thích bản chất thế giới, bản chất con ngời,… cáctôn giáo cũng góp mặt và giữ vai trò khá quan trọng trong lĩnh vực t tởngTrung Quốc, đặc biệt là Phật giáo

Nếu Xuân Thu – Chiến Quốc là thời đại phát triển tự do của các họcphái, làm nên hiện tợng “Bách gia tranh minh” (Trăm nhà đua tiếng) đa triếthọc, t tởng chính trị Trung Quốc phát triển mạnh nhất trong thời kì đó; thìsang giai đoạn nhà Hán thống trị “độc tôn Nho thuật, bãi truất bách gia” khiếncho suốt hơn 2000 năm lịch sử phong kiến Trung Hoa, về cơ bản chỉ có sựthống trị của t tởng Nho giáo - về cơ bản không có tự do nói chung, tự do t t-ởng nói riêng

Trang 28

Đành rằng đã là xã hội phong kiến Trung Quốc thì bao giờ Nho giáo cũng

là xơng sống ý thức hệ của chế độ; nhng đời Đờng có một hiện tợng khá độc

đáo trong lịch sử dân tộc thời kì trung đại, đó là giai cấp thống trị cho phép t

-ơng đối tự do t tởng Hiện tợng này có thể xem là một quan điểm lịch sử tíchcực của nhà nớc Lý - Đờng so trong lịch sử dân tộc và so cả với thế giới đơngthời Khi không chỉ ở phơng Đông, mà ở phơng Tây - nhà thờ Thiên Chúa giáo

đang phong toả xã hội trong “đêm trờng trung cổ”

Giai cấp thống trị thời Đờng đã giải quyết một cách hợp lý về cơ bản mâuthuẫn và sự đấu tranh giữa Nho - Đạo - Phật, thúc đẩy việc hoà hợp ba đạo này

để phục vụ lợi ích đất nớc Nhiều khi, những tăng ni, đạo sĩ, nhà nho tranhbiện kịch liệt Họ có thể mời hoàng đế can thiệp Danh nho trong thiên hạ làmquan trông coi việc học, đề cao địa vị xã hội của nhà nho - Đó là những việcthích ứng về mặt chính trị Các đế vơng Đại Đờng có họ Lý giống với Lão Tửnên ngời Đạo giáo thế kỉ VII ra sức lợi dụng "mối quan hệ họ hàng" đáng ngờ

ấy để tăng cờng thế lực Tuy nhiên, chính những nhà tu hành Phật giáo lạigiành đợc sự u đãi thờng xuyên nhất, sự ủng hộ của kẻ thống trị, hình thànhnhiều tông phái mạnh mẽ nh Thiên Thai, Duy Thức, Hoa Nghiêm, Thiền Tông tạo ra sự đối kháng cân bằng giữa tam giáo

Tiêu biểu nh vua Đờng Thái Tông Lý Thế Dân đã dùng uy thế và sự khônkhéo của mình, giữ mối quan hệ tốt đẹp với Nho - Đạo - Phật Vừa lên ngôi đãcho xây trờng Quốc Tử Học, truy tôn Khổng tử là “Tiên thánh”, triệu tập nho

sĩ biên soạn và chỉnh lí kinh điển Nho gia để tỏ rõ sự tôn trọng của mình đốivới Nho giáo Lấy tiền ngân khố xây dựng chùa ở những nơi giao tranh mởmang lãnh thổ đất nớc Rồi lại ra chiếu nói rằng: tổ tiên Đạo giáo cũng là tổtiên của hoàng thất (nhà vua)… Tạo nên cảnh vào ngày lễ đất nớc học sĩ tamgiáo liền tề tựu luận giảng trớc điện đình

Về t tởng, điều quan trọng của chính sách trên là đã góp phần tạo nên sựtịnh thịnh, hoà hợp của ba hệ t tởng lớn của đất nớc là Nho – Phật - Đạo ởTrung Quốc, nếu Nho - Đạo có nguồn gốc bản địa thì Phật giáo là một tôngiáo ngoại lai, nên tất yếu khi truyền bá vào nó phải có sự nơng tựa, đấu tranh,xung đột với những tín ngỡng bản địa thì mới có thể dung nạp và đứng vữngtrên mảnh đất này Vào thời Nam Bắc triều, tuy Phật giáo, Đạo giáo thịnhhành, nhng học thuyết Nho giáo vẫn chiếm vị trí quan trọng Tình hình tamgiáo Nho – Phật - Đạo đều song song tồn tại đang từng bớc hình thành Theo

Trang 29

sự thống nhất của triều Tuỳ, mâu thuẫn nội bộ giai cấp có hoà hoãn, phản ánhtrên hình thái ý thức đã biểu hiện thành khuynh hớng điều hoà tam giáo Songphải đến nhà Đờng, với việc ra sức lợi dụng chủ nghĩa duy tâm tôn giáo Phậtgiáo, Đạo giáo; việc chú trọng quy phạm luân lý của Nho giáo; trên cơ sở vậtchất quan trọng là sự thống nhất và ổn định lâu dài của đời sống xã hội; cănbản đã hình thành tình hình tam giáo đồng nguyên Vậy chính giai đoạn nhà

Đờng – khi Phật giáo đạt đến đỉnh cao cũng là lúc đánh dấu thời điểm quantrọng của sự hoà hợp Nho - Đạo - Phật Sự dung hoà này mang tính chất tựnhiên chứ không khiên cỡng nh ở thời Tống về sau

Chúng ta hãy thử tìm hiểu: vì sao lại có đợc sự hoà hợp này? Chúng ta sẽnhận thấy ngoài nguyên nhân khách quan thuận lợi cho nền t tởng đất nớc nêutrên thì vai trò, công lao của sự hoà hợp ấy nằm phần lớn trong nỗ lực của bảnthân Phật giáo

Trớc hết, đạo Phật là tôn giáo cởi mở, không hẹp hòi, giáo điều, cứngnhắc – tôn giáo của trí tuệ, tình thơng, luôn rộng mở, không có chỗ cho thànhkiến, mâu thuẫn chủng tộc, dân tộc, đẳng cấp, tín ngỡng … chính bản thânPhật giáo luôn có thái độ đúng đắn với những tôn giáo khác, nh lời huấn đạo

của Phật mà A Dục Vơng đã cho khắc trên đá: "Phải tôn trọng các tôn giáo

khác - làm nh vậy không chỉ giúp tôn giáo của mình phát triển mà còn là sự tận tình với tôn giáo khác Làm khác đi là phơng hại đến tôn giáo khác, là sự

đào mồ cho tôn giáo mình"[9; 256].

Thấm nhuần giáo lý này nhng phải đến đời Đờng, sau một quá trình dài

du nhập, nhất là trải qua hai lần diệt pháp tàn khốc thời Bắc Ngụy - Thái Vũ

Đế Thác Bạt Đạo, Bắc Chu - Vũ Đế Vũ Văn Ung, tăng ni càng thấy nhu cầuthích ứng với văn hoá Trung Quốc, đặc biệt với hai tôn giáo lớn Nho - Đạocàng trở nên bức thiết Các Phật tử luôn giới hạn sự phát biểu để tránh tự cangợi tông phái của mình, tránh nhục mạ tông phái khác, mọi nhiệt tình phátbiểu luôn thận trọng ngay cả những thời điểm phù hợp nhất Cùng lúc này,Phật giáo Đại Thừa nở rộ những tinh hoa - Tôn chỉ của phái Đại Thừa là truytìm bản nguyện Phật Đà, vứt bỏ sự giảng giải, phân tích những vấn đề cànhngọn vụn vặt mà làm Phật pháp sống động, thành ra tính dân gian, tính chungnhất, tính thực dụng, tính đời sống Do đó, giai đoạn này Phật giáo trở nên thếtục hoá, gần gũi, hoà quyện với những tôn giáo khác

Trang 30

Không những thế, khi xét đến mặt giáo lý đạo Phật, chúng ta nhận thấyngoài tính thích ứng linh hoạt của lý luận, nó còn có hai khả năng trên phơngdiện thuyết pháp phù hợp với mọi giai tầng xã hội khác nhau Trớc hết, so vớinhững tôn giáo thờ cúng (vu thuật) của Trung Quốc, t tởng luân hồi, nhân quảcủa Phật giáo có sức hấp dẫn mê hoặc hơn nhiều nên dễ dàng thích ứng với tínngỡng của đông đảo quần chúng Thứ hai là, hệ thống triết học Phật giáo tinh

tế, t biện Đặc biệt trong thời Đờng khi tôn giáo này đạt đến trình độ t duy biệnchứng cao nhất, có phong cách đặc sắc riêng thì những học giả Nho - Đạocũng bị lôi cuốn chinh phục tạo nên sự giao thoa tam giáo mạnh mẽ

Thời Đờng, các trí thức đều bị giáo lý đạo Phật hấp dẫn Đến nh Hàn Dũmột ngời bài xích tới mức báng bổ tôn giáo này Thậm chí, còn chủ trơng áp

chế nó bằng phơng pháp đơn giản, thô bạo "nhân kì nhân, lỗ kì c, hoả kì th"

(cải tạo con ngời, lấy chỗ ở, đốt kinh sách) Nhng chính ông lại mô phỏng hệthống truyền pháp từ đời này sang đời khác của Phật giáo để giúp cho Nho giatạo ra cái đạo thông nối liền từ Nghiêu, Thuấn, Vũ đến Khổng, Mạnh đã có

ảnh hởng to lớn về hình thái ý thức các triều đại sau

Dới tác động của đạo Phật, giới đạo sĩ lúc này ngoài phơng thuật bùaphép, cũng bắt đầu chuyển hớng nghiên cứu và phát huy lý luận tôn giáo Nhà

đạo sĩ, học giả Đạo giáo đầu đời Đờng - Thành Huyền Anh với "Lý bỉnh sinh"nổi tiếng, kế thừa các lý của Trang Tử, Quách Tợng và Cát Hồng Song chủ tr-

ơng quên ngôn tìm lý đầy triết lí sâu xa thì rõ ràng là học tập kế thừa, chịu ảnhhởng lớn của t tởng giải thích lý bằng bất khả t nghị của Phật giáo lúc bấy giờ.Thậm chí, sự dung hợp tam giáo về mặt t tởng còn đợc bộc lộ trong sự tơng

đồng về nhiều tập quán, lễ nghi hành đạo cuả chúng Chẳng hạn, trớc thời ờng, Tống Văn Minh bắt các môn đồ của ông sống độc thân theo lối các thầy

Đ-tu Phật giáo - Nhng điều này lúc ấy còn cha phổ biến Phải đến Đại Đờng tục

lệ này mới lan rộng, tới mức trong cộng đồng đạo sĩ đầy rẫy những ngời sống

độc thân nh các tăng ni

Vậy sự dung hợp trên với vai trò, vị trí quan trọng của Phật giáo, sẽ tạonên tác dụng gì về mặt t tởng của xã hội Trung Quốc thời Đại Đờng?

Nhà nghiên cứu Đặng Thai Mai trong cuốn "Xã hội sử Trung Quốc" đã

đ-a rđ-a nhận định là: bớc vào giđ-ai đoạn này thì t tởng "xuất thế" củđ-a ấn Độ đã cócơ ăn sâu vào mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội Trung Hoa (hay nói cáchkhác là Phật giáo đã có ảnh hởng mạnh mẽ, sâu rộng) Đặc biệt trong bối

Trang 31

cảnh, về mặt học thuật với bầu không khí chán chờng của luồng t tởng Nho

-Đạo, học thuật thành ra xa hẳn với thực tế, mất đi xu hớng tiến bộ cũng nh mọitinh thần sáng tạo, nó trở nên buồn tẻ, suy đồi đến tột độ

Đánh giá này phần nào cũng có tính hợp lý của nó, vì Ngô Vinh Chính,Vơng Miện Quý khi viết "Đại cơng lịch sử văn hoá Trung Quốc" đã khẳng

định: đến thời Đờng, triết học Nho - Đạo đình đốn Tuy nhiên, đó là do "cửaNho" đạm bạc không giữ nổi nhân tài Nho giáo thích hợp với chế độ quânchủ, đời Đờng lại đợc trọng, có lẽ còn hơn đời Tây Hán Nhng Nho học lúcnày chỉ thịnh về mặt văn chơng, khoa cử, còn về mặt t tởng thì rất sút Đạogiáo cũng rất sôi nổi song vẫn chú trọng vào việc tu nhân, bùa phép,… làchính Còn bấy giờ triết học Phật giáo, với trí tuệ sâu xa đã có những luận

điểm đặc sắc về các mặt phân tích khái niệm, suy lí lôgic cũng nh chiêmnghiệm vũ trụ, nhân sinh, phản tỉnh lí tính con ngời Vậy liệu có phải cả nềntriết học Trung Hoa nói chung lúc này suy thoái không, nhất là khi tam giáo

đã có sự dung hợp?

Rõ ràng những thành tựu độc đáo về t tởng của đạo Phật thời Đờng đã cóvai trò quyết định trong việc mở ra một chơng mới trong lịch sử triết họcTrung Quốc Nếu triết học cổ đại Trung Quốc chủ yếu là nhận thức kinhnghiệm mà nhẹ về t duy lý luận, trọng việc tìm hiểu thế giới hiện thực nh việctrị quốc an bang, nghiên cứu, thảo luận mối quan hệ giữa con ngời với thiênnhiên, xã hội mà thiếu sự bàn luận, nghiên cứu hiện tợng tinh thần nh cănnguyên bản thể vũ trụ, nguồn gốc sinh mệnh, chỗ quay về sau khi chết,… thìthời Đờng với nhiều tông phái phát triển, đủ loại sách đồ sộ, phong phú, luận

điểm tinh tế, tỉ mỉ, triết lý sâu xa, tranh luận sôi nổi về cái "tâm", đem t duy lýtính để trình bày về vũ trụ quan duy tâm, đã đẩy t duy biện chứng Trung Quốclên một giai đoạn phát triển tơng đối cao

Cho dù nhìn tổng thể mà nói, lí luận Phật giáo là sự phản ánh méo mó và

đảo lộn của thế giới khách quan nhng triết học Phật giáo tự thân đã bao hàmmột trí tuệ cực kì thâm sâu, sự khảo sát đối với vũ trụ và nhân sinh, sự phântích đối với các khái niệm, sự tìm hiểu thảo luận về thế giới bên kia, tất cả đều

có một hệ thống lí luận độc đáo Nên rút cục, nó đã đề xuất đợc vấn đề, hơnthế còn tìm cách dùng phơng thức triết học t biện để giải quyết, ảnh hởng sâusắc đến tiến trình phát triển, biến hoá của triết học Trung Quốc cổ trung đại

Trang 32

Lúc này, Phật giáo làm chủ triết học Trung Quốc Các nhà triết học có tduy cao, những trớc tác triết học tiêu biểu, phần lớn đều thuộc lĩnh vực Phậthọc Có thể khẳng định, đạo Phật lúc bấy giờ, một mặt làm giàu phơng thức tduy cho kho tàng triết học Trung Hoa; mặt khác, thông qua các t tởng nh tâmtánh nhiễm tịnh, kiến tánh thành Phật, thể dụng tơng tức,… của những tôngphái xuất hiện đời Đờng nh Pháp Tớng tông, Hoa Nghiêm tông,… đã làm rộnglĩnh vực nghiên cứu của triết học, làm lớn chiều sâu t duy, tiếp tục duy trì, đẩymạnh mạch nguồn phát triển của triết học Trung Hoa trong hoàn cảnh các t t-ởng triết học khác ở đây gặp nhiều khó khăn

Không những thế, sự phát triển của Thiền tông giai đoạn này với giảithích mọi ngời đều có Phật tính, nêu cao cái gọi là có giác ngộ và trí tuệ tiênnghiệm Điều này thông với tính thiện luận trời phú, lơng tri, lơng năng củaMạnh Tử, qua đó đi đến những chỗ nhất trí giữa Nho – Phật Nên giáo nghĩaThiền tông phát triển mạnh mẽ, phong phú, đa dạng giai đoạn này còn có vaitrò trực tiếp đối với sự hình thành Tâm học của Vơng, Lục (Lục Cửu Uyên, V-

ơng Dơng Minh) trong Lý học thời Tống, Minh sau này Tạo nên một đặc sắccủa Lý học Tống Nho là nhà nghiên cứu Nho học đơng thời khó lòng hiểu rõbản chất t tởng này nếu không hiểu Phật giáo

Nh vậy, t tởng Nho - Đạo - Phật lúc này vừa có sự khác nhau, vừa hấpthu, hoà nhập vào nhau Với vai trò chủ đạo của Phật giáo đã thúc đẩy nền triếthọc Trung Quốc có một số nhân tố, một vài khâu trong khảo sát t duy con ngời

là tinh tế, sâu sắc hơn các phái triết học trớc kia Đồng thời, nhờ có sự học tậptiếp thu lẫn nhau càng khiến cho những lễ nghi tôn giáo thêm phong phú, gầngũi với đời sống ngời dân Học thuyết lí luận phong kiến của Phật giáo, Đạogiáo và Nho giáo tạo thành ba sợi dây t tởng đối với nhân dân

Còn đối với bản thân Phật giáo thời Đờng, sự dung hợp giữa lý tởng thuầndơng của Khổng Tử, đạo học thâm trầm của Lão Tử và sự an hoà, hiền hậu, vịtha của đạo Phật làm cho con ngời tĩnh tại, linh hồn đợc hởng nhiều khoái lạc

ở trần gian Có thể nói, Phật giáo Trung Quốc kể từ đời Đờng đã thoát ra khỏicác t tởng Phật giáo từ thời Đông Tấn và Nam – Bắc triều, phát triển thànhmột hệ t tởng mới, mang tính dân tộc cao độ, khiến tôn giáo này đi sâu vàoquần chúng Các đời sau dù Phật giáo có chiều hớng suy vi hơn nhng nhờ nềntảng vững chắc trên mà đạo Phật vẫn tiếp tục có ảnh hởng ngày càng lớn trongdân gian

Trang 33

Ngời Trung Quốc có câu: "cây cát mọc ở Hoài Nam thì sinh ra hạt cát

nhng trồng nó ở Hoài Bắc thì lại có hạt chỉ" Đạo Phật sinh ra ở ấn Độ nhng

phát triển mạnh mẽ, hình thành những đặc điểm mới ở Trung Quốc Triều đại

Đờng có rất nhiều tông phái với giáo lý vợt xa so với Phật giáo tại quê hơngcủa nó - điều này không thể phủ nhận là có đóng góp to lớn của sự hoà hợptam giáo

Có thể dễ dàng nhận thấy: trong thời kì nhà Đờng không có hệ thống ýthức nào đủ mạnh chống đối Phật giáo về t tởng Nhng giai cấp cầm quyềncũng không vì thế mà sử dụng Phật giáo nh một học thuyết thống trị, bởi nh

Đờng Thái Tông Lý Thế Dân từng nói: “Xa kia Lơng Vũ Đế có những ý nghĩ

và chí hớng hào hoa cao thợng, đối xử tốt với các phật tử, giữ gìn những gì tốt

đẹp nhất của Thích Ca giáo, … suốt ngày chỉ bàn đến đau khổ và giải thoát, suốt ngày chỉ bàn đến đau khổ và giải thoát, cha từng bàn về quân sự Về sau khi có chiến tranh loạn lạc, ch thần trong triều không ai biết cỡi ngựa Truyện đó cũng đã là một tấm gơng” [9; 201] –

Phật giáo không thế là đạo trị quốc phù hợp trong thời đại phong kiến, nhất làgiai đoạn chế độ quân chủ đạt tới đỉnh cao Do đó, ta không thể vì sự thịnh đạt

và vai trò nó đối với nền t tởng Trung Hoa lúc này mà xem Phật giáo Đại ờng là quốc giáo

Đ-Chính sách lợm lặt, tiếp nhận nhiều học thuật, tôn giáo thời Đờng nhằmmục đích củng cố cơ sở xã hội phong kiến, nhng đã làm xuất hiện cảnh tợngtrăm nhà đua tiếng về học thuật và văn hoá Điều đó chắc chắn cũng làm tầnglớp trí thức mở rộng tầm mắt, “trăm hoa đua nở”, hình thành nên nhiều trờngphái, phong cách khác nhau trong nhiều lĩnh vực văn hoá Với t cách là yếu tố

ý thức hệ thuộc kiến trúc thợng tầng, sự tịnh thịnh dung hoà và hội nhập lẫnnhau của các t tởng tôn giáo triết học, với vai trò chủ đạo của Phật giáo đã tác

động sâu sắc lên toàn thể chế và lên tất cả các bộ môn nghệ thuật thời đó Vìgiai đoạn này, Nho – Phật - Đạo có sự hoà hợp nên ta có thể thấy nhiều tácphẩm, nhiều công trình thể hiện dấu ấn của cả ba tôn giáo, đôi khi rất khó táchbiệt Nhng về cơ bản, suốt thời Đờng từ thế kỉ VII đến đầu thế kỉ X, triết họcPhật giáo thâm nhập sâu vào mọi mặt, đẩy lùi Khổng giáo, Đạo giáo để chiếmvai trò số một trong địa hạt văn hoá

2.2 Văn học

Văn học Trung Quốc thời cổ trung đại là nền văn học rất phong phú vềnội dung; tinh tế, sâu sắc về t tởng; đa dạng, điêu luyện về hình thức thể hiện;

Trang 34

phát triển linh hoạt qua mỗi thời, phản ánh chân thực mỗi giai đoạn lịch sử,mỗi vơng triều; hấp dẫn ngời đọc mọi thời đại, vợt không gian một nớc và thờigian một vơng triều Thật sự là nền văn học lớn với phú thời Hán, thơ đời Đ-ờng, từ đời Tống, kịch thời Nguyên và tiểu thuyết Minh – Thanh

Từ thời Xuân Thu – Chiến Quốc, văn học Trung Quốc đã bắt đầu pháttriển Đến thời Tây Hán, t tởng Nho giáo đợc đề cao Đây là một trờng phái coitrọng học vấn Vì vậy, từ giai đoạn này trở về sau những ngời có thể cầm bútviết văn trong thiên hạ trở nên phổ biến Đặc biệt, đến thời Tuỳ Đờng, nềngiáo dục Trung Quốc có bớc phát triển quan trọng, chế độ khoa cử bắt đầu ra

đời, trong đó văn chơng trở thành thớc đo chủ yếu của tài năng, văn học càng

có những thành tựu lớn lao Sở dĩ các hình thức văn học lúc ấy phát sinh, pháttriển, hoặc thu đợc thành tựu và trở thành phồn thịnh là do điều kiện lịch sử cụthể và phức tạp đơng thời quyết định, đồng thời cũng do các nhân tố truyềnthống của bản thân các hình thức văn học ấy quyết định; khiến cho văn họcTrung Quốc Đại Đờng nở rộ nhiều thể loại nh thơ ca, từ, phú,… với nhiều vănnhân kiệt xuất

Văn học là tấm gơng phản chiếu tâm t, tình cảm con ngời Khi đạo Phật

đợc truyền bá rộng, thấm sâu vào đời sống nhân dân, tăng sĩ và các danh sĩ,văn nhân kết bạn ngày càng nhiều, kết hợp với sự phổ cập phơng thức giảngkinh tự viện thì tất yếu sẽ có tác động đến tâm hồn ngời nghệ sĩ, đến nguồn đềtài của văn chơng Trong văn học giai đoạn này, Phật giáo có vai trò quantrọng, một phần nhờ vào sự biến động của thời đại, ngoài ra còn là kết quảphát triển của các môn phái mới, sự truyền bá Phật giáo đại chúng,… tởng tPhật giáo lan sâu, rộng tới hầu hết các khía cạnh văn học, mang đến cho nómột chiều sâu trí tuệ và giá trị tinh thần lớn lao vai trò của tôn giáo này đếnvăn học có thể chia ra làm hai loại: trực tiếp (từ những kinh sách hay từ nhữngtác phẩm văn học đề cao t tởng Phật giáo do nhà s sáng tác), gián tiếp (qua cáctác phẩm do nhà văn chịu ảnh hởng đạo Phật viết)

Nói đến văn học nghĩa là nói đến tính nghệ thuật trong văn chơng, do đókhông phải toàn bộ kinh sách Phật giáo đều có tính văn học Nhng Phật giáo

Đại Đờng thực sự đã có một nền văn học thật hoành tráng Khi đại thừa pháttriển, kinh điển Phật giáo trở thành một kho tàng quý báu về văn học, nh “Duy

Ma kinh”, “kinh Pháp Hoa”, “kinh Hoa Nghiêm”,… vừa phong phú về ngôn

từ, hình ảnh, vừa thoáng đạt trong cách nghĩ, cách nhìn,… Nếu từ góc độ văn

Trang 35

học mà thởng thức thì đây có thể xem là những bộ tiểu thuyết tuyệt diệu Vìkhi tuyên dơng tất cả chúng sanh đều có khả năng đạt đến trí tuệ của Phật thìxây dựng nhiều ngụ ngôn mỹ lệ, hình tợng sinh động trong việc tu hành từthấp đến cao,… biến chúng trở thành những tác phẩm văn học vĩ đại và tráng

lệ của nhân loại Các bộ luận lớn liên tiếp xuất hiện với văn phong chặt chẽ,khúc chiết Rồi các bộ ngữ lục, thi kệ, văn thị chúng, sớ giải, sử truyện… mỗiloại một sắc thái riêng, vô cùng đa dạng và đặc biệt Đợc văn nhân các thời đạiyêu thích, xem nh tác phẩm thuần văn học

Ngoài ra, những tác phẩm dịch thuật giai đoạn này cũng nói lên tính chất

đặc thù của văn học Phật giáo Khi chuyển ngữ từ Phạn sang Hán, các dịch giả

đã sáng tạo một phong thái dịch thuật đặc biệt mà qua đó các nhà khảo sát cóthể nhận định và tìm ra nét tơng đồng, dị biệt của những tác phẩm phiên dịchtừng nớc Nếu tính giản đơn là nét đặc thù của văn học Phật giáo Nhật Bản,tinh thần phóng khoáng là sở trờng của ngòi bút Phật giáo Việt Nam, thì tínhbiền ngẫu là nét đặc sắc của Phật giáo Trung Quốc đã đợc hình thành từ Đại

Đờng

Thời Đờng, trong bầu không khí văn chơng sôi nổi, thịnh đạt, các hoà ợng càng tích cực sáng tác văn thơ Bởi đây là một phơng tiện hữu hiệu đểtruyền bá giáo lý của Thích Ca Giai đoạn này xuất hiện nhiều tăng s nổi tiếng

th-mà tác phẩm của họ có tầm ảnh hởng rộng lớn ở Trung Hoa lúc bấy giờ, hoàvới tâm cảm chung của hồn thơ Đông á Thi văn Phật giáo cũng bát ngát sắchơng giữa tự tình dân tộc Những thiền s phần nhiều đều có sáng tác biểu hiệntính sáng tạo độc lập, hứng tác siêu tuyệt và phong cách tự tại, an nhiên Thi caPhật giáo phần lớn miêu tả tâm cảnh khai ngộ của Thiền tăng Trong triều Đại

Đờng, thi ca Phật giáo nhiều vô số kể, hoặc những bài rải rác trong các Ngữlục, hoặc những áng thơ gom thành thi tập, hoặc những trờng ca chuyển tải nộidung chứng đạo,…

Tác phẩm tiêu biểu đời Đờng còn lu giữ đợc là cuốn truyện kí Phật giáo

"Đại Đờng Tây vực kí" do Huyền Trang kể, Biện Cơ soạn lời văn Thuật lạichuyện Tam Tạng sang ấn Độ cầu pháp, cùng những điều tai nghe, mắt thấy ở

138 nớc, tình hình các thành bang, các vùng Nội dung đề cập tới cả địa hìnhsông núi Trung á, Nam á với ngôn ngữ trau chuốt, nhiều khái niệm, phạmtrù, thuật ngữ mới đợc du nhập Bộ này chứa những tài liệu rất quý cho cácnhà khảo cổ học ấn Độ và Trung á sau này, đợc dịch ra nhiều thứ tiếng: Anh,

Trang 36

Pháp, Nga, Nhật, Đức… Và đã giúp các học giả ấn sửa lại nhiều điều sai lầmtrong lịch sử của họ về thế kỉ VII Công việc dịch kinh của ông chẳng nhữnglàm cho đạo Phật phát triển mạnh ở Đông á mà còn ảnh hởng lớn đến ngônngữ và văn học Trung Hoa

Tuy nhiên, trong khoảng thời gian này vai trò của Phật giáo đến văn họcchủ yếu là qua con đờng gián tiếp Vốn dĩ ngay khi xâm nhập vào Trung Hoa,triết lí đạo Phật đã đi vào trong nhiều tác phẩm văn thơ, song phải đến giai

đoạn Đại Đờng, dấu ấn Phật giáo mới thực sự sâu sắc và đậm nét Mang đếncho nền văn học vốn dĩ đã rất phát triển phong phú, đa dạng này một nội dungmới, văn thể mới, tình ý mới…

Trớc hết là đóng góp vào sự phát triển thú vị của văn học với việc nângcao trình độ nhiều thể loại văn học và góp phần làm nảy sinh những thể loạivăn học mới

Nói đến văn học thời Đờng, chúng ta không thể không nói đến thơ Đờng,

đỉnh cao về nghệ thuật thơ ca Trung Quốc và là một trang sáng ngời trong lịch

sử văn học thế giới Nó đã đặt cơ sở nghệ thuật, phong cách, luật thơ cho nềnthơ ca đời sau Thể loại này thể hiện một số dấu ấn sâu sắc của triết lý pháiThiền Tông Trớc đời Đờng, đạo Phật chỉ tác động đến nội dung và một ít từhội nhng khi Thiền Tông trỗi dậy (giai đoạn từ Lục Tổ Huệ Năng, 638 - 713),thi nhân chịu ảnh hởng sâu sắc của thiền Bởi thiền làm cho tâm hồn lắng dịu,hiền hoà, ung dung, tự tại, tâm niệm nh nhất, nên tạo cho lòng ngời cảm giácthanh khiết nh nớc suối đầu nguồn, êm dịu nh gió thu lay động, nh trăng nontrên sờn núi cảm nhận đợc cái hồn của cảnh vật Thiền và thơ đều là nhuyếu thể nghiệm nội tâm, xem trọng gợi ý và hình tợng ẩn dụ, đều tìm cầu ýngoài lời Do vậy, thiền và thơ có mối quan hệ rất sâu sắc Thi nhân đa thiềnvào thơ, lấy thiền trợ thơ, chúng đan xen vào nhau khiến thơ ca đời Đờng trởnên nhuần nhuyễn, sinh động hơn trớc Thơ là thêm hoa gấm cho thiền khách,thiền là dao cắt ngọc cho nhà thơ Kết hợp với lí luận Không của Bát Nhã, lenlỏi thấm nhuần và thúc đẩy mãnh liệt cho nội dung thơ ca phong phú, cảnhtình đa sắc thái, hình thành loại thi cảnh điềm nhiên tịch tịch, nhàn nhã, tự tại.Thậm chí, thiền thơ hứng khởi còn trực tiếp dẫn tới lý luận về thơ ca mới -

"lấy thiền nói thơ" với ba mặt là thiền tham thi (chỉ cách thức ngâm vịnh, ởng thức thơ ca Thái độ thởng thức không câu nệ đến câu chữ mà muốn thểnghiệm tình ý sâu xa từ bên trong), thiền hành thi (là muốn dùng sự khác biệt

Trang 37

th-giữa các nhà thiền để cân nhắc, bình luận chỗ hay, chỗ dở của thơ ca), thiềnluận thi (muốn mợn cái cao kiến nhà thiền để bàn xem nên làm thơ nh thếnào).

Trong thời kì này, Trung Quốc đã xuất hiện nhiều nhà thơ lớn: Lý Bạch,

Đỗ Phủ, Bạch C Dị Trong đó, nhiều thi nhân nổi tiếng đã để lại những bàithơ mang phong vị Phật giáo nh Vơng Duy, Mạnh Hạo Nhiên, Hàn Sơn Tử,Liễu Tông Nguyên Và ở đây, ngời chúng ta muốn nói đến là Phật thi VơngDuy (701 – 761) - lời xng tụng đó đã minh chứng cho những ảnh hởng củaPhật giáo đến ông Ông lấy tự là Ma Cật, thờng kết bạn, đàm luận với các nhà

s, mỗi lần bãi triều về lại đốt hơng ngồi một mình tụng niệm kinh Phật, khiếncho t tởng ấy ảnh hởng sâu sắc đến ngôn từ và cảm xúc trong thơ ông Là ngờisay mê thuyết thiền định, tác giả lấy cái thiền để cảm nhận tinh tế, nhạy bén

về thiên nhiên, nắm bắt đợc mọi màu sắc, thanh âm và động thái của tự nhiênrồi phác họa, miêu tả lại bằng thơ một cách trôi chảy, nhuần nhuyễn với ýcảnh độc đáo, xúc động lòng ngời Ngôn ngữ của ông mới mẻ, cô đọng, súctích, điêu luyện trong giản dị toát ra vẻ hoa lệ, đẹp đẽ Chẳng hạn nh trong bài

"Tân di ổ ":

"Mộc mạt phù dung hoa

Sơn trung phát hồng ngạc Giản hộ tịch vô nhân Phân phân khai thả lạc"

Dịch thơ:

"Chót cây hoa phù dung

Trổ hồng trong rừng núi Nhà khe không có ngời Trổ xong rồi lại rụng"

Dờng nh ông lấy thơ để thuyết pháp, để diễn tả tinh tế cái nhãn quan Phậtgiáo bao trùm nhân sinh, một sự suy niệm về bản tính với cảm xúc an hoà vàsầu muộn Đấy chính là sự tĩnh tại của bậc thiền s trớc dòng thời gian trôi.Những cảm xúc, lí luận, những tác giả, tác phẩm ấy đã đặt cơ sở, nền móngcho thơ Thiền thời Tống sau này tiếp tục thịnh hành sâu sắc hơn, lí thú hơn.Thời Đờng không chỉ thịnh đạt về thơ ca mà còn là giai đoạn phồn vinhcủa thể loại truyền kì Đặc điểm lớn nhất của truyền kì là kể lại những việc kìlạ Tác giả thông qua các tình tiết li kì và nhân vật đủ loại mà thể hiện cách

Trang 38

nhìn đối với xã hội: nụ cời châm biếm, sự bất mãn với những hiện tợng xấu xa;niềm tin, ớc mơ về một cuộc sống tốt đẹp,… Tên gọi của thể loại này bắtnguồn từ những câu chuyện của Bùi Hàng - đời Đờng đợc chính ông biên tập

và phổ biến trong thiên hạ với cái tên “Truyền kì”

Truyền kì đời Đờng đạt đến thành công với những ý tởng độc đáo, táihiện đợc bức tranh thế giới trần tục muôn màu, muôn sắc, với ngôn ngữ cô

đúc, sinh động, uyển chuyển, đấy chính là nhờ đóng góp to lớn của Phật giáo.Các văn nhân Trung Hoa vốn ít tởng tợng, hay thuyết ý, ngôn ngữ ngắn gọn,

ẩn dụ từ thiên nhiên, phạm trù tởng tợng có hạn định, cụ thể,… Khi tăng cờng

đọc, dịch kinh Phật, tiếp thu những truyện tân kì trong kinh Phật mà viết ranhững truyện thần quái, đã bắt chớc lối viết lan man, ngoa dụ, khuynh hớngtrừu tợng và trí tởng tợng không giới hạn của ấn Độ Họ chịu khó tởng tợngnhiều chi tiết, gọt đẽo câu văn cho bóng bẩy nên tác phẩm của họ đã có giá trị

Ví dụ nh cốt truyện "Đậu Dơng tạp trở" dẫn thuật câu chuyện Đỗ TửXuân trong tục huyền quái lục lấy từ "Thiên trúc", chuyện Cố Thủ Tích sai ng-

ời giữ Đan Táo bắt nguồn từ "Đại Đờng Tây vực kí" Truyện kiếm hiệp trongtruyền kì cũng không phải không quan hệ với "thành tựu kiếm pháp" ghi trongkinh điển Mật Tông đấy là sự tác động vô cùng quan trọng của Phật giáo vềmặt tình tiết câu chuyện Nh vậy, theo đà các đô thị đời Đờng phát triển vàthích ứng với nhu cầu của thị dân, tiểu thuyết truyền kì đã phát triển Bản thân

nó thực sự là khóm hoa lạ, mới, đẹp của văn học đời Đờng, nhng nó cũng mở

đờng cho sự phát triển của nhiều thể loại văn học khác

Cụ thể là, Trung Quốc trớc thời Đờng không có các tác phẩm tiểu thuyết

và kịch tuồng Tiểu thuyết ở Trung Quốc đợc thoát thai từ những thần thoại,truyền thuyết viễn cổ, truyện ngụ ngôn Tiên Tần, tạp kí dã sử nhng trongmắt văn nhân trớc triều Đờng, đây là một loại không đứng đắn nên ít ngời chịuviết Phải đến thế kỉ VIII, nó mới có đầy đủ các yếu tố với t cách một thể tàivăn học độc lập cần phải có nh tình tiết, kết cấu, hình tợng nhân vật Đó lànhờ vào truyền kì, nhờ vào việc học tập kinh Phật bởi Phật kinh rất coi trọngkết cấu và bố cục của hình thức, các tác phẩm nh “Phật sở hành tán kinh”,

“Phật bổn hạnh kinh”, “Tu lại kinh”, “Duy Ma Cật sở kinh” vốn dĩ đã đợc xem

là những truyện dài, tác phẩm bán tiểu thuyết hoặc tiểu thuyết thúc đẩy cácvăn nhân Đại Đờng bắt đầu chú tâm, trau dồi đến thể loại này

Trang 39

Nh vậy, truyền kì đời Đờng đánh dấu tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc đãbớc vào giai đoạn chín muồi, chuyển biến từ thô sơ, mộc mạc đến tinh vi, hoàn

mĩ, có vị trí quan trọng trong văn học sử, nhất là ở các vơng triều sau này.Trong đó, điển tịch phong phú, t tởng sâu sắc của Phật giáo có vai trò khá sâurộng từ cung cấp đề tài đến cấu tứ, thậm chí cả trong phong cách sử dụng ngôn

từ, khắc hoạ chi tiết

Từ Nam Bắc triều về sau, Phật giáo vì thu hút tín đồ, mở rộng ảnh hởng,bắt đầu phổ biến phơng pháp hoằng pháp Các hoạt động hoằng pháp dùngthông tục ngôn ngữ tuyên giảng Phật pháp, cũng trực tiếp dẫn tới sự ra đời củavăn học thuyết xớng nh biến văn, bảo quyển, đàn từ, cổ từ,… Những câuchuyện của cuộc đời đức Phật vẽ thành những bức tranh đặc sắc gọi là “biếnhiện” đến đời Đờng phát triển thành câu chuyện Phật kinh gọi là biến văn, lúcbiểu diễn vừa biểu hiện rõ tranh vẽ, vừa hát nội dung câu chuyện Bức tranh đógọi là biến tớng, bản gốc của câu chuyện hát đó gọi là biến văn Biến văn thời

Đờng là một loại thuộc “kinh biến”, đại để thuật lại chuyện trong kinh Phật,

nh “Duy ma cật kinh biến văn”, “Giáng ma biến văn”, “Đại lục càn liên minhgian cứu mẫu văn”,… Trong đó, truyện Mục Liên cứu mẹ đợc lu truyền rấtrộng rãi, đợc nhân dân yêu thích Biến văn từ nội dung Phật giáo dần dần giảmnhẹ ý nghĩa tôn giáo mà mở rộng nhân vật lịch sử, câu chuyện dân gian, từbiến văn diễn biến thành nhiều hình thức khác nh bảo quyển thời Tống (là mộtloại chuyện kể pha tạp văn vần và văn xuôi kế thừa trực tiếp từ biến văn lấy hátnói làm chủ) và gián tiếp ảnh hởng tới hát nói, các cung điệu, kể chuyện lịch

sử, tiểu thuyết bạch thoại,…

Không chỉ làm phát triển phong phú, đa dạng các thể loại văn học TrungQuốc thời Đờng nh ở trên đã phân tích, Phật giáo còn có vai trò thứ hai vôcùng quan trọng về mặt ngôn ngữ Khi các nhà s sáng tác những tác phẩm vănhọc và biên dịch một khối lợng lớn kinh Phật thì dấy lên phong trào đại sĩ phuhọc tập tiếng Phạn khiến cho nhiều khái niệm, phạm trù, thuật ngữ mới đợc

du nhập, làm đa dạng, phong phú kho tàng ngôn ngữ Trung Hoa Đây thật sự

là sự mở rộng thực chất của quốc ngữ Về cơ bản, từ ngữ Trung Hoa đến lúc ấy

đã giàu thêm đợc khoảng ba vạn năm ngàn tiếng, căn cứ vào bộ Phật giáo đại

từ điển, có tiếng dịch âm tiếng Phạn nh nát bàn, sát na, phù đồ,… có tiếng

dịch nghĩa tiếng Phạn nh vô minh, nhân duyên, chân nh,… Mà thêm đợc 3,5vạn tiếng là thêm đợc 3,5 vạn ý niệm Về mặt ngôn ngữ học, trong điển tịch

Trang 40

Phật giáo xuất hiện điển cố u mĩ và các từ ngữ mới có tính nghệ thuật thẩm mĩ,làm giàu kho tàng ngôn ngữ văn học của Trung Quốc, nhiều từ ngữ thậm chí

đã trở thành ngôn ngữ sử dụng hằng ngày của ngời dân nh: thế giới, thực tế,

giác ngộ, tịnh độ, bỉ ngạn, công án, phiền não, giải thoát, nhân duyên, chân

đế, phơng tiện, hiện hành, tác dụng, bình đẳng, trang nghiêm, tơng đối, tuyệt

đối, tri thức, bất nhị pháp môn, tam sanh hữu hạnh, ngũ thế đầu địa, lục căn thanh tịnh, thiên long bát bộ, đại thiên thế giới, thiên nữ tán hoa… suốt ngày chỉ bàn đến đau khổ và giải thoát,

Cả kết cấu ngữ pháp, phơng pháp dùng từ ngữ của văn học cũng biến đổi.Lối viết không dùng h từ, đối ngẫu mà hay đảo trang của kinh Phật đã tác

động nhiều về phơng diện âm vận làm quốc ngữ càng sinh động, uyển chuyển.Văn học Trung Quốc nh “kinh th” vốn xem trọng nhân sự; tản văn Trang Tửnhìn xa trông rộng, thuận với tự nhiên; Hán phú chủ yếu miêu tả sông núi mâygió, mà chủ trơng của Phật giáo là nhân sinh và quan sát vô thờng khổ không,biết đợc cái chuyển biến huyển hoá của vũ trụ, từ đó xây dựng cảnh tình mớicho văn nhân Tác phẩm văn học từ thời Đờng đến nay phê phán nhân sinh vũtrụ, đối với nhiều sự việc tự nhiên làm phê bình siêu việt, tuyên truyền biểu d -

ơng điều tốt, căm ghét điều xấu, nêu lên ý nghĩa và mục đích chính của nhânquả Phật giáo Không những thế, văn học vốn có của Trung Quốc tơng đối ítsức ảo tởng, ít tính siêu việt thời gian, không gian, ảo tởng siêu hiện thực màchú trọng về sự tả thực Tức là làm cho một số truyện thần tiên cũng có ý đơngiản mà Phật giáo thì giàu sức tởng tợng trên trời, dới đất, không chút gò bó,không bị hạn chế của không gian, thời gian tam thiên, đại thiên thế giới vôcùng, vô tận, có sắc thái lãng mạn rất lớn, thúc đẩy chủ nghĩa văn học lãngmạn phát triển

Đóng góp quan trọng cuối cùng phải nhắc đến là, khi Phật giáo phát triển,tiếp nhận Phạn văn cũng phát triển theo, dẫn đến cải biến trong chữ viết Nếu

nh ngôn ngữ Trung Quốc là ngôn ngữ kí hiệu, trong hình thái chữ viết phầnlớn là đơn âm, không có hệ thống văn phạm thì ngôn ngữ ấn Độ theo thứ tựchữ cái, nhiều âm tiết, hệ thống văn phạm chuẩn mực, chi li Các vị cao tăngTrung Quốc nhờ vậy đã phỏng tạo ra chữ cái để ứng dụng, nên mới có “KiếnKhê Quần Nghi” của Thủ Ôn đời đờng chế tác 36 chữ cái [43; 369] và cũngthời điểm bấy giờ việc tiếp xúc, dung hoá giữa hai ngôn ngữ Trung - ấn đợc

đẩy mạnh

Ngày đăng: 22/12/2013, 14:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Đức An, Phạm Hồng Việt: Lịch sử thế giới trung đại, Q1, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1978 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử thế giới trung đại
Nhà XB: NXB Giáo dục
2. D Quan Anh, Tiền Chung Th, Phạm Ninh: Lịch sử văn học Trung Quốc, T1, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn học Trung Quốc
Nhà XB: NXB Giáo dục
3. Andrew Skilton: Đại cơng lịch sử Phật giáo thế giớí, NXB Tổng hợp TP.HCM, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cơng lịch sử Phật giáo thế giớí
Nhà XB: NXB Tổng hợp TP.HCM
4. Triều Tâm ảnh, Minh Đức: Sử Phật giáo thế giới – ấn Độ Trung Quốc – , T1, NXB Thuận Hoá, Huế, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử Phật giáo thế giới "– "Ên §é Trung Quèc
Nhà XB: NXB Thuận Hoá
5. Trịnh Ân Ba, Trịnh Thu Lôi: Văn học Trung Quốc , NXB Thế giới, Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Trung Quốc
Nhà XB: NXB Thế giới
6. Trơng Đức Bảo, Từ Hữu Vũ, Nghiệp Lộ Hoa: Giải thích về tranh tợng Phật giáo Trung Quốc, NXB Thuận Hoá, Huế, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải thích về tranh tợng PhËt giáo Trung Quốc
Nhà XB: NXB Thuận Hoá
7. Trần Vĩnh Bảo: Một vòng quanh các nớc Trung Quốc – , NXB Văn hoá thông tin, Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vòng quanh các nớc Trung Quốc
Nhà XB: NXB Văn hoá thông tin
8. Vơng Chính Bình, Lầu Quân Tín, Tôn Nhân Tông (cb): Bộ thông sử thế giới vạn năm (T1), NXB Văn hoá thông tin, Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ thông sử thế giới vạn năm
Nhà XB: NXB Văn hoá thông tin
9. Vơng Chính Bình: Các đế vơng với Phật giáo, NXB Văn hoá thông tin, Hà Néi, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các đế vơng với Phật giáo
Nhà XB: NXB Văn hoá thông tin
10. Trơng Tú Bình: Trung Quốc đệ nhất danh thắng, NXB Thế giới, Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc đệ nhất danh thắng
Nhà XB: NXB Thế giới
11. Giản Chi, Nguyễn Hiến Lê: Đại cơng triết học Trung Quốc, Q1, Q2, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, TP Hồ Chí Minh, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cơng triết học Trung Quốc
Nhà XB: NXB Thành phố Hồ Chí Minh
12. Minh Chi: Tôn giáo học và tôn giáo vùng Đông á, Trờng đại học Tổng hợp, TP. Hồ Chí Minh XB, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôn giáo học và tôn giáo vùng Đông á
13. Minh Chi: Các vấn đề Phật học, Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam XB, Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các vấn đề Phật học
14. Ngô Vinh Chính, Vơng Miện Quý: Đại cơng lịch sử văn hoá Trung Quốc, NXB Văn hoá thông tin, Hà Nội, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cơng lịch sử văn hoá Trung Quèc
Nhà XB: NXB Văn hoá thông tin
15. Lý Duy Côn: Trung Quốc nhất tuyệt, Tập1 (1997), Tập 2 (2004), NXB Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc nhất tuyệt
Tác giả: Lý Duy Côn: Trung Quốc nhất tuyệt, Tập1 (1997), Tập 2
Nhà XB: NXB Văn hoá thông tin
Năm: 2004
16. Denis Huisman: Mỹ học, NXB Thế giới, Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹ học
Nhà XB: NXB Thế giới
17. Đờng Đắc Dơng (cb): Cội nguồn văn hoá Trung Hoa, Tập 2, NXB Hội nhà văn, Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cội nguồn văn hoá Trung Hoa
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
18. Đaisaku Ikêđa: Phật giáo một ngàn năm đầu, NXB Chính trị quốc gia, Hà Néi, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật giáo một ngàn năm đầu
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
19. Lâm Hán Đạt, Tào D Chơng: Lịch sử Trung Quốc 5.000 năm, NXB Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Trung Quốc 5.000 năm
Nhà XB: NXB Trẻ
80. Encarta Reference Library DVD 2007 81. Tài liệu Internethttp://www.vietsciences.org http://www.thuvienhoasen.org/ Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

H2.2: Sơ đồ mặt cắt vẽ theo nguyên lí thấu thị - Vai trò của phật giáo đối với văn hoá trung quốc thời nhà đường ( 618   907)
2.2 Sơ đồ mặt cắt vẽ theo nguyên lí thấu thị (Trang 56)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w