1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của nho giáo đối với xã hội phong kiến trung quốc

51 4,5K 44
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vai trò của nho giáo đối với xã hội phong kiến Trung Quốc
Trường học Trường Đại Học
Thể loại Khóa luận
Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 158 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ở Trung Quốc ngay từ thời Cổ - Trung đại, ngời ta đã tìm hiểu về Nhogiáo có ngời thì phê phánm, đã kích nhằm tiêu diệt Nho giáo.Còn các môn đệcủa Nho giáo thì lại ra công bảo vệ, chú giả

Trang 1

Mở đầu

I - Lý do chọn đề tài

Văn minh Trung Hoa cổ trung đại là một nền văn minh lớn, khôngnhững ảnh hởng đối với các nớc châu á mà trên phạm vi cả thế giới Đối vớiViệt Nam văn minh Trung Quốc đã ảnh hởng một cách trực tiếp Việt Nam đãtừng bị ngàn năm bắc thuộc của phong kiến Trung Hoa Chúng đã tìm mọicách để đồng hoá dân tộc ta Nhng với tinh thần tự chủ, quật cờng của ngờiViệt Nam không những không bị đồng hoá mà chúng ta còn tiếp thu một cách

có chọn lọc, để bổ sung cho bản sắc văn hoá của dân tộc mình

Ngày nay, để tìm hiểu hơn về truyền thống quý báu của dân tộc ta trongsuốt chiều dài lịch sử, đặc biệt là về đời sống văn hoá tinh thần, chúng takhông thể không tìm hiểu những trờng phái t tởng của Trung Quốc thời cổtrung đại Trong các trờng phái đó thì quan trọng bậc nhất là trờng phái Nhogia, sau đó là nho giáo - hệ t tởng chính thống của giai cấp phong kiến TrungQuốc thời Trung đại

Hiển nhiên đây là vấn đề đã diễn ra cách đây 2500 năm, đã có hàngtrăm thế hệ, hàng ngàn nhà nghiên cứu đề tài hết sức phong phú và lớn laonày Công việc chú giải, bình luận, đánh giá cũng liên tục đợc mở rộng vàphát triển không những ở Trung Quốc mà còn ở nhiềi nớc trên thế giới kể cảchâu á, châu Âu trong đó có Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử Chắc chắn

là mỗi thời đại, mỗi tác giả do chỗ đứng của mình Cho nên có cách nhìn nhận

đánh giá khác nhau, có thể là hoàn thiện nâng cao thêm, có khi phê phán mộtcách quyết liệt, hoặc ngời thì phát triển mặt này, ngời thì phát triển mặt khác

Từ đó , chúng ta tiếp xúc đợc rất nhiều tài liệu khác nhau, đụng chạm

đến nhiều quan điểm khác nhau, và do đó đi theo nhiều hớng khác nhau

Trong khoá luận nhỏ cuả chúng tôi không có ý định và cũng không cókhả năng xâm nhập vào khu rừng hùng vĩ và đầy chông gai ấy, mà chỉ giámtrình bày một nội dung nhỏ chúng tôi cho rằng hợp với năng lực và điều kiệncủa mình Đó là "Vai trò của nho giáo đối với xã hội phong kiến Trung Quốc"

mà thôi

II Lịch sử vấn đề

Việc nghiên cứu, tìm hiểu, đánh giá về nho giáo không phải đến ngàynay mới thu hút sự chú ý của nhiều ngời mà ngay từ thời Khổng Tử đã có rồi

Trang 2

Vì thế nói đến lịch sử vấn đề này thì không còn gì mới lạ nữa, mà đã có khálâu.

Nho giáo không chỉ thu hút sự chú ý của các học giả Trung Quốc, nócòn thu hút sự chú ý củac các học giả nớc ngoài và đông đảo giới học tậpnghiên cứu Việt Nam

Điểm qua lịch sử vấn đề tìm hiểu, nghiên cứu đánh giá về Nho giáo quả

là một vấn đề chiều dài lịch sử lớn quy mô nghiên cứu rộng Song ở đây chỉ

điểm qua những nét nổi bật về lịch sử vấn đề này Vì một mặt do hạn chế vềkhả năng, một mặt do khan hiếm về tài liệu trong và ngoài nớc

ở Trung Quốc ngay từ thời Cổ - Trung đại, ngời ta đã tìm hiểu về Nhogiáo có ngời thì phê phánm, đã kích nhằm tiêu diệt Nho giáo.Còn các môn đệcủa Nho giáo thì lại ra công bảo vệ, chú giải, đào tạo học trò, đồng thời pháttriển những điểm mới trong học thuyết Nho giáo để cho nó ngày càng ở tầmcao hơn và trở thành hệ t tởng thống trị của chế độ phong kiến Trung Quốc

Mà các đại biểu xuất sắc ở từng giai đoạn lịch sử: Mạnh Tử thời Chiến Quốc,

Đổng Trọng Th thời Tây Hán, phái lý học thời Tống

Song các ông này chỉ nhằm mục tiêu là phục vụ ý đồ cho giai cấp thốngtrị mà các ông là những đại biểu chứ cha có sự phê phán, đánh giá những giátrị của Nho giáo

Việc nghiên cứu Khổng Tử đã đợc tiến hành sâu hơn Giới Khổng họcTrung Quốc đã không chỉ dừng lại sự đánh giá t tởng chung của đạo Khổng,

mà còn đi sâu vào từng tác phẩm Nho giáo Từ khảo biện văn sử đến phân tích

đánh giá nội dung tác phẩm đều đợc tổ chức

Cho đến nay đã có hàng loạt công trình viết về Nho giáo ở Trung Quốccũng nh ở Việt Nam Những công trình nghiên cứu đó hoặc là chuyên khảo,hoặc là đăng trong các tạp chí khác nhau Các giáo trình lịch sử thế giới Cổtrung đại đã đề cập đến một khía cạnh nào đó của đề tài Nhng bên cạnh đócòn có nhiều tài liệu quý hiếm nh :

- Cuốn: "Lịch sử t tởng Trung Quốc" của học giả nổi tiếng Trung HoaLã Trấn Vũ, ông đã trình bày khá hoàn chỉnh các mặt triết học, chính trị, đạo

đức, luân lý của Nho học qua các giai đoạn lịch sử của nó và đánh giá đúng sựthật mặt tích cực và tiêu cực của nó

- Cuốn: "Lịch sử văn minh Trung Quốc" của Willdurant, ông cũng đã

đ-a vấn đề Nho giáo rđ-a để nhìn nhận, trong đó ông cũng đã bàn một cách có hệ

Trang 3

thống các mặt triết học, chính trị , đạo đức, luân lý của Nho học và đánh cao ttởng của Khổng Tử trong lịch sử văn hoá Trung Hoa.

- Cuốn: "Nho giáo" của Trần Trọng Kim, ông đã trình bày hoàn cảnh ra

đời của Nho giáo cũng nh nội dung t tởng về triết học, chính trị, đạo đức, luân

lý, giáo dục của học thuyết Nho học qua các giai đoạn lịch sử của nó ở TrungQuốc Đồng thời ông cũng đánh giá về nội dung t tởng Nho giáo bàn về nhữngmặt tích cực và tiêu cực của nó Ông cũng đã bàn đến Nho giáo ở Việt Namthời phong kiến

- Cuốn: "Khổng Tử" của Nguyễn Hiến Lê, ông đã đánh giá một cáchkhách quan về mặt triết học,chính trị, đạo đức, giáo dục.Ông đã làm sáng tỏ b-

ớc tiến của Mạnh Tử trong t tởng Nho gia thời Chiến Quốc

- Cuốn : "Luận ngữ tinh hoa" của Trí Tuệ, ông đã đánh giá, bàn vềnhững lời nói của Khổng Tử đa ra

- Cuốn: "Bàn về Đạo Nho" của Nguyễn Khắc Viện, ông đã lý giải Tứ

th, Ngũ kinh theo cái nhìn mới, đồng thời ông nói lên cốt cách của nho sỹ thờiphong kiến ở Việt Nam, và tác phẩm thơ văn tiêu biểu của các nhà Nho ViệtNam

Ngoài ra,còn có nhiều công trình nghiên cứu về Nho giáo nh :" Nhogiáo xa và nay" của Vũ Khiêu; "Nho giáo với văn hoá Việt Nam" của Nguyễn

Đăng Huy, và nhiều công trình khác

Bên cạnh những tác phẩm đã nói ở trên thì còn nhiều sách, báo, tạp chínói về Nho giáo, nhng do năng lực hạn chế của bản thân chúng tôi cha su tầm,tập hợp đợc Nhng qua đó chúng tôi có thể hình dung đợc rõ hơn về hệ t tởngcủa Nho giáo Trên cơ sở đó để tìm hiểu rõ hơn về vai trò của Nho giáo đốivới xã hội phong kiến Trung Quốc

III Giới hạn, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

- Về mặt không gian: Chỉ tập trung nghiên cứu các sự kiện lịch sử diễn

ra trong phạm vi lãnh thổ Trung Quốc Do chính sách xâm lợc và mở rộnglãnh thổ nên một số nớc láng giềng có liên quan chúng tôi có đề cập đến nhngchỉ có ý nghĩa minh hoạ

- Về thời gian: Phạm vi tìm hiểu bắt đầu từ thời Xuân Thu (Thời kỳKhổng Tử sống và hoạt động đề xớng học thuyết Nho gia) cho đến khi chế độphong kiến Trung Quốc kết thúc (1911 Cách mạng Tân Hợi bùng nổ)

Trang 4

IV Phơng pháp nghiên cứu.

Đây là vấn đề mang tính chất trừu tợng, tài liệu lịch sử thành văn vàcác quan điểm đánh giá khác nhau vừa phong phú vừa đa dạng Bởi vậy để xử

lý chúng phục vụ cho đề tài Chúng tôi trớc tiên là sử dụng phơng pháp tổnghợp, phân tích và quan trọng nhất là phơng pháp lôgic lịch sử để mong đạt đợcnhững kết quả đúng với sự thật lịch sử của chúng

Đây là một đề tài không mới, nhng thực tế cha ai nghiên cứu một cáchtrọng vẹn Trong quá trình thực hiện đề tài này chúng tôi gặp không ít khókhăn, với năng lực của bản thân, dựa trên các giáo trình và một số t liệu Cùngvới sự giúp đỡ của các thầy cô giáo trong tổ lịch sử thế giới, đặc biệt là sự h-ớng dẫn tận tình, khoa học của thầy Dơng Văn Ninh đã giúp đỡ tôi hoànthành đề tài này

V Bố cục khoá luận

A Mở đầu

B Nội dung

Chơng 1: Nho gia và Nho giáo

1.1 Nho gia thời Đông Chu

1.2 Nho giáo thời Tây Hán

Chơng 2: Vai trò của Nho giáo đối với xã hội phong kiến Trung Quốc.2.1 Vai trò của Nho giáo trên lĩnh vực chính trị

2.2 Vai trò của Nho giáo trên lĩnh vực xã hội

2.3.Vai trò của Nho giáo trên lĩnh vực t tởng - văn hoá

C Kết luận

Trang 5

Nội DungChơng 1: Nho gia và Nho giáo 1.1 Nho gia thời Đông Chu

Thời Tây chu uy quyền của Thiên Tử còn mạnh, thế lực củacác nớc ch hầu cha phát triển, do đó nói chung trật tự xã hội tơng đối nghiêmchỉnh Nhng đến thời Xuân Thu, vua Đông Chu đã mất dần uy quyền và thếlực, các nớc ch hầu không ngừng đánh nhau, nhiều dòng họ Khanh đại phu

đang chuẩn bị lực lợng để giành ngôi bá chủ Những hiện tợng nh "bề tôi giếtvua, con giết cha, em giết anh thờng xảy ra" [13,147] Đây là thời kỳ trật tựxã hội bị đảo lộn, đạo đức suy đồi, các quy chế của thời Tây Chu bị huỷ bỏ.Trong khi đó đời sống của nhân dân vô cùng cực khổ Chính hoàn cảnh xã hội

ấy đã sản sinh ra những nhà t tởng muốn làm thay đổi tình hình xã hội, chínhlúc đó Khổng Tử đã sáng lập ra phái Nho gia

1.1.1 Khổng Tử ngời sáng lập phái Nho gia

Đời xa ngời đi học đạo của thánh hiền gọi là Nho tức là ngời đã học biếtsuốt đợc lẽ trời đất và ngời, để dạy bảo ngời ta ăn, ở cho phải đạo luân thờng.Nho là bởi chữ nhân đứng bên chữ nhu mà thành ra Nhân là ng ời, nhu là cầndùng, tức là một hạng ngời bao giờ cũng cần đến để giúp cho nhân – quần xãhội Biết đờng mà ăn, ở cho hợp lẽ trời Chữ nhu có nghĩa là chờ đợi, tức làhành động ngời học giỏi đợi ngời ta cần đến sẽ đem tài trí của mình ra màgiúp việc đời Phàm những ngời học Nho thuật thờng là những ngời chuyên vềmặt thực tế hơn mặt lý tởng Bởi vậy từ xa đến nay những ngời Nho học đều

là ngời chực ra cáng đáng việc đời, để làm ích quốc lợi dân chứ không phải làngời yếm thế, cái mục đích ấy là mục đích của những ngời Nho học

Trớc thời Xuân Thu thì những nhà học giả gọi là sĩ thuộc quyền quan t đồ.Những ngời sĩ do quan t đồ chọn lấy cho đi du học văn chơng và lục nghệ là

lễ, nhạc, xạ, ngự, th, số để dùng làm quan coi việc nớc Bởi vậy sách Hán Thnghệ văn chí nói rằng : Nho giáo do ở quan t đồ mà ra Từ cuối thời XuânThu trở đi, Khổng Tử đem phát huy cái học thuyết của Nho gia và định rõnhững điều nh là

- Nói về cuộc biến hoá của vũ trụ, quan hệ đến vận mệnh nhân loại

- Nói về các mối luân thờng đạo lý trong xã hội

Trang 6

- Nói về các lễ nghi trong việc tế trị trời đất, quỷ thần

Những điều ấy thành ra cái thế lực rất to, có ảnh hởng đến t tởng và hành độngcủa cả nhân chứng trong xã hội Bởi vì những điều ấy chính là điều cốt yếucủa một tông giáo, cho nên từ nhà Tây Hán trở đi mới gọi cái học của Nho gia

là Nho giáo và mới tôn Khổng Tử là tị tổ của Nho giáo

Khổng Tử tên là Khâu, hiệu là Trọng Ni (551 TCN-479TCN), ngời nứơc

Lỗ, xuất thân từ tầng lớp sĩ, cha mẹ mất sớm nên “hồi trẻ cũng nghèo hèn”

Ông là một ngời có học vấn rất uyên bác, đã làm đến chức T Khấu của nớc Lỗtrong vòng ba tháng Sau đó Ông từ chức đi đến các nớc Tề, Vệ,Tống,Trần,Thái, Sở để truyền bá t tởng của mình Nhng ở đâu t tởng của Ông cũng không

đợc chấp nhận Cuối cùng Ông lại trở về nớc Lỗ mở trờng dạy học và biên

soạn sách vở lu lại cho đến đời sau Ông đã viết một loạt sách nh Kinh thi,

Kinh th, Kinh lễ, Kinh dịch, Kinh nhạc và Kinh Xuân thu.Trong đó thể hiện rất

rõ t tởng quan điểm của trờng phái Nho gia do Ông sáng lập nên

Học thuyết của Khổng Tử đợc xem là học thuyết quan trọng của vănhoá Trung Hoa, văn hoá phơng Đông và trên một ý nghĩa nào đó của cả loàingời

Nho giáo là một học thuyết chính trị đạo đức gắn bó mật thiết với cácvấn đề tổ chức nhà nớc và quản lý xã hội, về thực chất nó là học thuyết dànhcho ngời trị quốc Với bản chất chính trị và ngay từ đầu nó đã mang tính giaicấp, Nho giáo mang ý nghĩa là một công cụ thống trị , nhằm vào chính trị,vào sự tham chính Vì thế từ nhà Hán đến nhà Thanh, Nho giáo trở thành hệ

t tởng thống trị xã hội Trung Hoa Mệnh trời là hạt nhân của học thuyết Nhogiáo Từ mệnh trời mà con ngời phải ứng xử nh đợc quy định Theo đạotrời, xã hội phải đựơc tổ chức có kỷ cơng, trên ra trên,dới ra dới Quyền tốicao là quân quyền, và đó là cái kỷ cơng cho xã hội Phơng tiện để duy trì kỷcơng đó là “Lễ” chứ không phải trừng phạt bằng pháp luật Mỗi ngời phải làm

đúng bổn phận của mình Muốn thế phải tu thân, lây tu thân làm nền tảng để

tề gia, trị quốc, bình thiên hạ

“ ” Con ngời lý tởng của Nho giáo là con ngời

có các đức tính : nhân, nghĩa, lễ, trí, tín Làm đúng nh thế là quân tử, làm sai

đi là tiểu nhân

Nho gia còn là nội dung của t tởng ở nhiều lĩnh vực của xã hội Phongkiến Trung Quốc Khổng Tử đã là ngời có công mở đầu cho t tởng của Nhogiáo nhng học thuyết của Ông sau này đã đợc học trò của Ông hoàn thiện vàphát triển mạnh ở giai đoạn sau của xã hội Phong kiến Trung Quốc

Trang 7

Nho gia là trờng phái t tởng mà do Khổng Tử sáng lập nên, trong đóthể hiện rõ t tởng của Ông và những t tởng của Nho gia đã làm hệ t tởngchính thống cho nhà nớc Phong kiến Trung Hoa Chính điều đó đã chứng tỏcho vai trò của Khổng Tử là ngời mở đầu, khai sáng Trong đó thể hiện quan

điểm của Ông về thế giới,về chính trị –xã hội, về luân lý đạo đức và cuộcsống con ngời

Quan điểm về thế giới của Khổng Tử chịu ảnh hởng quan niệm về vũ trụcủa ngời Trung Hoa thợng cổ Cho rằng vạn vật đều có chung nguồn gốc vàvận động không ngừng theo “đạo”của nó Ông đã dẫn nhiều lần để đề cập đến

“một đầu mối” (nhất dĩ quán chi)để thể hiện t tởng này và thờng dạy học trò :

“cũng nh dòng nớc chảy, mọi vật đều trôi đi, không có vật gì ngừng nghĩ ”(luận ngữ, T Hãn,16)

Khổng Tử rất tin ở trời, với Ông, trời nh một quan toà công minh cầmcân, nẩy mực phán xét mọi việc Trời quyết định sự thành bại trong cuộc sốngcủa con ngời Vì vậy Khổng Tử đặt hết niềm tin vào ý chí của trời Ôngkhuyên mọi ngời phục tùng ý chí đó và coi việc hiểu biết mệnh trời nh một

điều kiện trở thành con ngời hoàn thiện “Không hiểu mệnh trời không thể làngời quân tử ” (luận ngữ )

Khổng Tử cũng không phủ nhận sự tồn tại của quỷ thần, nhng theo Ôngviệc của quỷ thần là việc cao xa, u uẩn nên đối với quỷ thần con ngời phảikính trọng song chẳng gần gủi làm gì Từ quan điểm vạn vật đều có chungnguồn gốc, cái phức tạp biến sinh từ cái giản dị Khổng Tử cho rằng sự thay

đổi của xã hội làm cho thiên hạ rối ren không phải là nguyên nhân một sớm,một chiều mà là từ một quá trình bắt nguồn từ sự xa đoạ của các thế lực cầmquyền, làm cho “danh”không đợc “chính ”,tức là “danh” không phù hợp với “thực” "Vì quan niệm “danh”không đợc “chính” làm cho xã hội loạn lạc phéptắc kỷ cơng xáo trộn, danh phận không rõ ràng để khôi phục trật tự xã hội.Khổng Tử đã chủ trơng thực hành thuyết “chính danh”"[2,55] Khổng Tử chorằng bất cứ sự vật nào trong xã hội, bao gồm giữa ngời với ngời, giữa việc vớiviệc, giữa vật với vật,đều phải có danh phận nhất định, chỉ có dùng ngôn ngữ

để chỉ rõ danh phận, đồng thời giữ gìn danh phận thì xã hội mới có trật tự, nớcnhà mới yên ổn Cho nên Khổng Tử lấy “chính danh ” làm đầu cho “vi chính

Động cơ “chính danh ”của Khổng Tử là muốn lập lại trật tự Phong kiếnbao gồm các phơng diện nh chính trị, Kinh tế và xã hội Điều mà “chính danh

Trang 8

” của Khổng Tử căn cứ chính là “nhân”và “lễ” Điều mà Khổng Tử kỳ vọng làduy nhất mối quan hệ lẫn nhau trong cuộc sống, xã hội một cách bình thờng

và cố định Cho rằng đó là điều kiện tất yếu của một xã hội yên ổn “chínhdanh”của Khổng Tử dựa vào chế độ lễ, nhạc của ba đời Hạ,Thơng,Chu "Ôngcho rằng những nội dung cơ bản của đạo bậc tiên vơng ấy là vĩnh hằng, muôn

đời không đổi chính điều ấy đã phản ánh đợc tính bảo thủ của t tơng chínhtrị Khổng Tử" [ 18, 47]

Đạo của Khổng Tử cốt lấy đạo nhân làm gốc; lấy hiếu đế, lễ-nhạc làm cơbản cho sự giáo hoá, để gây thành đạo nhân mà thi thố ra ở đời Cho nên làmviệc chính trị là cốt ở việc dùng ngời hiền, sữa mình mà dùng ngời hiền Đạovốn là cái gốc của việc chính trị, cho nên thánh hiền cần lấy sữa mình mà thihành ra khắp thiên hạ Xem thế là biết cái đạo của không gia là để hành độngchứ không để im lặng ngồi yên mà ngắm cảnh đời Cho nên Khổng Tử chorằng ngời có tài, có đức, phải đem cái hay, cái giỏi của mình ra để trị nớc yêndân

Quan niệm của Nho gia về chính trị cho sự loạn lạc trong xã hội do ngờihành chính,chứ không phải ở chính thể Ngời hành chính mà có tài, có đức thìnớc đợc trị nếu ngợc lại thì nớc phản loạn Dẫu chính thể hay đến đâu mà ngờihành chính không ra gì thì cũng hoá ra giở Bởi thế cho nên Nho gia muốnrằng lúc nào ngời cầm quyền hành chính cũng phải kính cẩn, lo sữa mình chongay chính, để dùng ngời hiền mà làm việc nớc việc dân

Theo t tởng của Nho gia thì quân quyền phải để một ngời giữ cho rõ cáimối thống nhất Ngời giữ quân quyền hay gọi là vơng, ta thờng gọi là Vua –Vua phải lo việc trị nớc, dới Vua có quan giúp đỡ Một nớc trị hay loạn là do ởVua và quan giỏi hay dở Bởi thế về đờng chính trị Nho gia lấy cái nghĩaquân thần làm trọng

ở trong nhà thì con phải hiếu với cha mẹ, ở trong nớc thì thần dân phảitrung với quân Hai chữ “trung quân ” ở bất kỳ thời đại nào đều có nghĩachính đáng có lòng trung ấy thì dân mới yên mà nớc mới trị, miễn là quânquyền ấy không trái với lòng dân là đợc Cái quân quyền là cái bảo vật, cáithần khí, quan hệ đến một vận mệnh của xã hội, một dân tộc, nêu không bởicái mệnh trời trao cho Vậy muốn cho chính cái danh hiệu của ngời giữ quânquyền, Nho gia mới cho rằng quân quyền là do mệnh trời mà ra

Nh vậy chính thể của Nho gia tuy là chính thể quân chủ, nhng cái quyền

ông Vua đối với dân không khác gì cái quyền ngời cha đối với các con Ngời

Trang 9

làm Vua trong một nớc phải có đức Ông Vua làm chủ tể cả nớc nhng không

đợc chuyên chế, việc gì cũng phải theo công binh mà làm Khổng Tử muốnlấy đạo đức để hoá ngời hơn là dùng binh pháp mà trị ngời

Đạo của Khổng Tử là đạo trung dung của ngời quân tử, tuy không huyềndiệu, siêu việt nh đạo Lão, đạo phật, nhng cũng cao minh lắm phù hợp vớichân lý Chính những cái đạo nó gắn với chính trị, nhng điều này nó thuộc vềcái học tâm truyền cho nên Khổng Tử không nói rõ, chi mợn lối làm sử màhình dung ra, về sau những môn đệ của Khổng Tử, ai mà lĩnh hội đợc cái vi ýcủa Khổng Tử thì mới đem truyền bá ra ở đời

Có thể nói rằng Toàn bộ học thuyết chính trị, đạo đức xã hội của Khổng

Tử đã đợc thể hiện một cách rõ nét Điều nổi bật là thể hiện hoài bảo chính trịnhất quán của Khổng Tử mong muốn lập lại trật tự xã hội của nhà Chu, muốnlàm đợc sự nghiệp của Chu Công, phục hồi lại cái văn vẽ rực rỡ của đầu đờiChu Thời đại Khổng Tử mà theo Ông lễ, nhạc h hỏng, thiên hạ vô đạo, xã hộiloạn ly Vì thế cần phải khôi phục lễ, tức là những chế định, quy phạm chuẩnmực của thời Tây Chu, tức là nhà Chu để “hữu đạo”, xã hội thái bình “Vua raVua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con ” Đó là một trật tự chặt chẽ, một quan

hệ ngời với ngời ổn định mới đợc xem là cái phúc tuyệt đối Bất cứ sự phá vỡnào đối với chúng đều đợc quan niệm là đối lập với bản thân,cái cơ sở của tồntại vũ trụ là trái mệnh trời Một quan niệm về thế giới nh vậy là rất có lợi chogiai cấp thống trị, vì nó xác định trật tự xã hội hiện tồn là khả năng duy nhất,còn bất cứ sự chênh lệch nào khỏi khả năng đó đều là phi tự nhiên

Qua sự bàn luận giữa Khổng Tử với các học trò xuất sắc của Ông, ngời tanhận thấy t tởng chính trị Nho gia đợc phản ánh thông qua lăng Kinh đạo đứcvới một hệ thông khái niệm : nhân, nghĩa, lễ, trí, tín ; với các mối quan hệgiữa trời –Vua ;quan –dân …Khổng Tử không tách rời đạo đức và chính trịKhổng Tử không tách rời đạo đức và chính trị

Ông đã đạo đức hoá chính trị cũng theo lời Khổng Tử, đạo ngời, cái mauthành hiệu nhất là chính trị, vì thế mà kẻ nho sĩ cốt điều hành đạo Ra giúpVua trị nớc đời xa là cách hành đạo bậc nhất Đối với nhà nho, sở dĩ phảithành ý, chính tâm, tu tâm là để tề gia, trị quốc, bình thiên hạ Nhà nho màyếm thế, trách đời thì không phải là chân nho Do vậy dù bàn nhiều về đạo

đức, lễ nghĩa, trung hiếu …Khổng Tử không tách rời đạo đức và chính trị ng cái cuối cùng Nho gia nhằm vào là uốn nắnnhcon ngời bằng cách đa nó vào trong giới hạn khắt khe của lễ, tiết, chế bản tínhcon ngời, giữ con ngời trong trật tự lý tởng Từ trật tự trong gia đình mở rộng

ra trật tự ngoài xã hội Nhìn chung, nói Nho gia là nói vào đời, giúp đời lo

Trang 10

sửa trị đất nớc Tử Lộ, một trong số những học trò xuất sắc của Khổng Tửnói không ra làm quan là vô nghĩa Mục đích của nhà nho là ra làm quan,tham gia vào bộ máy cai trị.

Những t tởng của Khổng Tử ở đây mới chỉ đợc nêu ra chứ cha đợc thựchiện, do vậy nó mới mang tính chất của ngời khai sáng, mở đầu cho họcthuyết Nho gia mà sau này nhà nớc Phong kiến Trung Quốc đã sử dụng nómột cách triệt để và ngời có công phát triển học thuyết này chính là Mạnh Tử

1.1.2 Mạnh Tử ngời phát triển phái Nho gia thời Chiến Quốc

Sau Khổng Tử, vào cuối thời Xuân Thu ở xã hội Trung Hoa, cuộc đấutranh giai cấp ngày càng lớn mạnh, giai cấp quý tộc cũ ngày càng suy yếu.Giai cấp địa chủ mới dựa vào học thuyết của phái pháp gia để cũng cố chínhquyền Họ chủ trơng dùng vũ lực thôn tính lẫn nhau, để giải quyết cục diệnChiến Quốc, hoàn thành quá trình Phong kiến hoá Giai cấp quý tộc quan liêuthị tộc mà đại biểu t tởng là phái Nho gia , trong đó phần lớn là các thế hệ họctrò của Khổng Tử, đã tiếp thu, phát triển học thuyết của Khổng Tử, muốn đemthực hành nó để mong khôi phục thống nhất và hoà bình cho xã hội đang bịphân chia trong những cuộc chiến tranh triền miên

Xuân Thu là một thời đại loạn, nhng sự hỗn loạn của thời Chiến Quốccòn dữ dội hơn nhiều Sự phổ biến vũ khí bằng sắt đã làm cho cuộc chiếntranh trở nên thảm khốc Đây là một thời kỳ đen tối, “thế đạo suy vi, tà thuyếtbạo hành ” (Mạnh Tử ), nhân dân khốn khổ vì chính trị bạo ngợc, cha có thờinào thậm tệ hơn thời này Suốt năm thế kỷ thời Xuân Thu – Chiến Quốc làthời loạn lạc, luôn xảy ra tranh giành, cớp đoạt, chém giết lẫn nhau “bề tôigiết vua của mình đều có, con giết cha của mình cũng có”( Mạnh Tử) Đứngtrên danh nghĩa bảo vệ Nho gia , bảo vệ học thuyết của Khổng Tử, Mạnh Tử

đã có công hệ thống hoá,sửa đổi và bổ sung thêm vì yêu cầu của thời đại Để làm sáng rõ và bảo vệ t tởng Nho gia của Khổng Tử,Mạnh Tử đã đikhắp các nớc ch hầu để truyền bá t tởng và chủ trơng của mình Mạnh Tử đãphát triển thế giới quan duy tâm Khổng Tử lên đỉnh cao Trong quan điểm vềthế giới Mạnh Tử cho rằng trời là một đấng anh minh tối cao, sáng tạo và chiphối vạn vật trong vũ trụ Thậm chí, theo Mạnh Tử từ chí khí, tâm tính conngời cho đến các nguyên tắc đạo đức luân lý của đời sống xã hội cũng đều dotrời phú cho

Trang 11

Đặc biệt Mạnh Tử đã đề ra thuyết “tính thiện ” Nói tính thiện là nói bảnnguyên tinh thần, tức là cái thiên lý của trời phú cho chứ không phải là nói cáitính gồm cả tính dục của ngời ta Tất cả đều phải thiện

Mạnh Tử lấy nhân – nghĩa làm bản tính ngời ta, thì việc chính trị tấtcũng phải lấy nhân nghĩa làm gốc Mạnh Tử thừa nhận chính thể quân chủ,nhng Ông cho thiên hạ là của chung chứ ngời làm vua không đợc lấy thiên hạlàm của riêng của mình Cái quyền trị dân là do trời giao cho, tức là do lòngdân ng thuận cho ai thì ngời ấy đợc

Dân và trời đã tơng quan với nhau Bởi cái t tởng ấy, cho nên trong cáichính trị triết lý của Mạnh Tử có cái tinh thần duy dân, việc trị dân, trị nớc chỉ

có phép dân là trọng hơn cả Chính trị của Nho gia lấy sự bảo dân làm cốt Học thuyết của Mạnh Tử về đờng chính trị là cốt lấy sự hoà bình mà bảotồn lấy dân Đó là do sự cảm súc của hoàn cảnh đơng thời, dân tình khổ sở vìnổi Vua chúa tranh quyền, tranh lợi, thiên hạ loạn lạc Cho nên Ông muốn

đem cái đạo lớn của thánh hiền mà khuyên răn mọi ngời, khiến cho ai nấy

đều hồi tởng lại, lấy nhân nghĩa mà đối với quốc gia để cứu vớt muôn dân.Chính sách của Ông là chính sách cứu đời

Thực hiện “ nhân chính” các bậc Vua chúa hiền minh phải giữ mìnhkhiêm cung, sinh hoat tiết kiệm, gia huệ với bề tôi và thu thúê cho dân cóchừng mực thôi Muốn lo cho đời sống của nhân dân đợc sung túc, làm cho

đất nớc đợc phồn vinh Vua chúa phải thực hiện các chính sách thi hành chế

độ điền địa công bằng

Trong việc chính trị, ngoài lấy nhân nghĩa làm gốc, coi “dân là qúy, xãtắc là thứ,vua là thờng ”, thực hiện cải cách Kinh tế, thi hành chế độ điền địa,cải thiện đời sống nhân dân Mạnh Tử còn chủ trơng phải tiến hành giáo hoádân đó cũng là nhiệm vụ trọng yếu của phép trị nớc

Với những t tởng về lý luận, giáo dục, chính trị, xã hội, với học thuyết

“nhân chính ”và quan điểm nhân bản sâu sắc, cùng với những biện pháp cảicách Kinh tế – xã hội thiết thực của Ông, thực sự đã có ý nghĩa tích cực đốivới đời sống xã hội đơng thời Đó là những tinh hoa trong lịch sử phát triển ttởng Trung Quốc Có thể nói với Mạnh Tử thì con tim Ông luôn h ớng vềnhân dân nhng khối óc của Ông lại thuộc về giai cấp mà ông đại diện Dù sao

về phơng diện Lịch sử, Mạnh Tử đã xứng đáng đợc đời sau tôn vinh ông là bậc

á thánh của Nho giáo

Trang 12

T tởng chính trị – xã hội của Mạnh Tử cũng xuất phát từ sự kêu gọi tudỡng đạo đức và học tập Ông đề ra thuyết “tâm tính luận”, chủ trơng “tínhthiện” Theo Ông tính ngời vốn lơng thiện, con ngời mới sinh ra đã có đủnhân, nghĩa, lễ, trí, đủ đức hiếu với cha mẹ, trung với vua, kính để với bề trênnhng sở dĩ con ngời trở nên xấu là vì con ngời thiếu suy nghĩ bỏ mất lơng tâmcủa mình Vì vậy, con ngời phải tu dỡng không ngừng, mà con đờng tu dỡngtốt nhất là học Có nh thế lòng tốt mới không bị mất đi, tính ngời đợc pháthuy, đó là cái đạo của học vấn cũng nh Khổng Tử, Mạnh Tử đề cao sự họchành, theo Ông mọi ngời nếu chịu khó học tập, tu dỡng đạo đức thì đều có thểtrở thành ngời tốt và trở thành thánh hiền cũng có thể trở thành Nghiêu,Thuấn Khổng Tử cũng đã từng nói với học trò của mình : “ta chẳng phảisinh ra là tự nhiên hiểu đợc đạo lý Ta là ngời hâm mộ Kinh thi của thánh hiền

đời xa, cho nên ta cố gắng mà tìm học đạo lý” [5,64] Đó là quan niệm về giáodục mang nhiều yếu tố tích cực và tiến bộ, con đờng học vấn mở ra cho tất cảmọi ngời

Đạo lý mà Khổng Tử đề cập đến chính là quan niệm “vơng đạo ” và

“nhân chính ” trong t tởng chính trị cuả Mạnh Tử Ông chủ trơng chống việcdùng vũ lực thôn tính lẫn nhau giữa các nớc Từ đó đề ra t tởng “thân dân ”haychính trị đợc lòng dân Dân phải đợc dạy dỗ, giáo dục theo lễ nghĩa Quantâm hàng đầu của Khổng – Mạnh trong mục tiêu đào tạo là dạy con ngời có

đạo đức, trớc hết là trung tín, hiếu đễ và cao hơn nữa là yêu thơng mọi ngời, làhớng về điều nhân Để nâng cao sự tu dỡng đạo đức, Nho gia dùng hai biệnpháp :học văn và học lễ Văn để làm cho hiểu biết rộng rãi, còn lễ là để điềuchỉnh mức độ, nghi thức,hành vi ứng xử, giao tiếp …Khổng Tử không tách rời đạo đức và chính trịvăn là học vấn trong cácKinh điển xa bao gồm văn hiến và tri thức lịch đại Thi, th, lễ, nhạc Khôngchỉ là văn chơng, nghệ thuật,tri thức học vấn mà còn là lời nói của thánh hiền,

là đạo của trời

Nho gia là một học thuyết chính trị gắn với đạo đức, không những chủtrơng con ngời “từ thiên tử cho đến thứ nhân ai ai cũng phải tu dỡng làm gốc”

mà còn hy vọng ngời quân tử do sự tu dỡng đạo đức mà gây ảnh hởng sangchính trị, mà thể hiện đạo đức và hành chính, làm cho xã hội bình trị “văn dĩtải đạo ”, do vậy phục vụ rất đắc lực cho t tởng chính trị Nho giáo CảKhổng Tử và Mạnh Tử đều nói nhiều đến t cách ngời cầm quyền, đến bổnphận họ phải sửa mình, phải làm gơng cho dân, phải giáo hoá dân Tuy nhiên

t tởng của Khổng Tử – Mạnh Tử ở thời kỳ này vẫn cha đợc xã hội Trung

Trang 13

Quốc châp nhận T tởng “đức trị ” nó không phù hợp với xã hộiTrung Quốclúc bấy giờ, cái gì cũng phải lấy từ lòng nhân ra để thực hiện, giáo hoá màtrong lúc này xã hội Trung Quốc đang dần tiến lên xã hội Phong kiến, cầnphải có biện pháp mạnh mới có thể sử dụng đợc Chính nhà Tần áp dụng

“pháp trị ” đã giúp nhà Tần thống nhất Trung Hoa về một mối, mở đầu chothời kỳ xã hội Phong kiến Trung Quốc

Sau Mạnh Tử thì có một ngời cũng đề cao tởng Nho gia của Khổng

Tử đó chính là Tuân Tử là ngời theo học thuyết của Khổng Tử, đề cao nhân,nghĩa, lễ, nhạc, chủ trơng “ chủ nghĩa chính danh ”, trọng vơng khinh bá, nh-

ng lại tơng phản với t tởng của Khổng Tử và Mạnh Tử cả về thế giới quan lẫntriết học chính trị –xã hội, và chính những t tởng triết học của Ông về vơngchế, pháp hành, chính danh, quân đạo …Khổng Tử không tách rời đạo đức và chính trịlại trở thành tiền đề cho t tởng củapháp gia sau này

Tuân Tử tuy là một cự tự trong Nho gia nhng vì Ông hấp thụ cáikhông khí đời Chiến Quốc, cho nên Ông thiên về mặt biện luận mà bỏ mất cáilối tâm học uyên bác của Khổng Tử Ngoài những cái điểm chung của Nhogia thì Tuân Tử có cái đặc biệt đó là ông bài xích thuyết của trời (thiên mệnh)

đề cao “tính ác”

Trong quan điểm về thế giới, trái với học thuyết “thiên mệnh ” củaKhổng Tử, Tuân Tử đã đa ra một thế giới quan thể hiện rõ tính chất duy vật vôthần của Ông Theo Ông đạo trời luôn diễn ra theo lẽ tự nhiên nhất định,không liên quan gì đến đạo ngời, trời không có ý thức gì cả Trên cơ sở thếgiới quan duy vật và t tởng vô thần, Tuân Tử đã phát triển học thuyết về tnhiên một cách cao hơn,Ông đã giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa con ng-

ời với tự nhiên, giữa chủ thể và khách thể

Trong t tởng của Tuân Tử, ông đề cao “tính ác”,không chấp nhận “tínhthiện ” của Mạnh Tử Ông cho rằng nếu muốn thống trị đợc đất nớc thì khôngthể lấy cái tâm mà thực hiện đợc mà phải thực hiện bằng hành động và việclàm Theo ông, tính ngời tuy ác nhng nếu ra sức tu dỡng, rèn luyện, học tậpthì có thể cải hoá để trở nên thiện đợc Nhng để giáo hoá đạo đức con ngời,nếu nh Khổng _Mạnh chủ trơng pháp tiên vơng thì Tuân Tử lại cho rằng xanay cùng một đạo, cùng một lý, nêu theo phơng pháp của các bậc thánh vơngthời tam đại, ngũ đế thì quá xa, chẳng có ai chứng thực và không hợp thời.Vậy thì phơng pháp trị nớc, giáo hoá dân tốt nhất là pháp hậu vơng Chính vìvậy một trong t tởng quan trọng của Tuân Tử đó là học thuyết về xã hội

Trang 14

Theo Tuân Tử để duy trì trật tự, bổn phận, trách nhiệm của mổi thành viêntrong cộng đồng xã hội, làm cho đời sống xã hội không có tranh đoạt, rốiloạn, tất yếu phải có quy tắc, thể chế xã hội Chính vì thế mà nhà nớc và lễnghĩa ra đời Quan điểm của Tuân Tử về nguồn gốc của nhà nớc và thể chế xãhội chính là sự công khai, tán dơng tính hợp lý của chế độ đẳng cấp Nó đã trởthành căn cứ lý luận để giai cấp quý tộc mới xây dựng và duy trì nền thống trịcủa chúng đối với nhân dân lao động Trung Quốc đơng thời

Trong học thuýêt về xã hội, mặc dù Tuân Tử đề cao nhân nghĩa, trọng

lễ nhạc trong đạo đức trị nớc, coi “quân tử nh cây nêu, cây nêu ngay thì bóngngay, quân tử nh cái mâm, mâm tròn thì nớc tròn” Phê phán cách trị nớc bằngquyền lực tàn bạo, nhng ông cũng rất chú trọng đến phơng pháp trị nớc bằnghình pháp Bởi vì, theo Tuân Tử, mặc dù lễ là nguồn gốc của trị nhng chỉ có lễthôi cha đủ để trị nớc, giáo hoá dân mà con phải nghiêm hình trọng phạt chỉ

có lễ pháp kết hợp mới khiến cho quốc gia hợp văn lý, quy trị Vì thế,ôngchủ trơng : “nguyên lý trị nớ,lễ – nghĩa hình phạt” Trong t tởng trọng pháp,Tuân Tử luôn coi trọng cả hai mặt thởng và phạt Ông cho rằng pháp luậtnghiêm minh có thể ngăn cấm điều bạo ngợc, ghét bỏ điều ác, răn đe những

điều xấu cha xảy ra ; pháp lệnh thi hành, phong tục tốt đẹp Chính những t ởng này của ông đã làm thay thế, chuyển hẳn t tởng “lễ trị ”sang phơng pháp

t-“pháp trị”chính điều đó đã tạo dựng lên một nền chính trị chuyên chế nhà Tần

T tởng Nho gia ở thời Đông Chu đã không đợc trọng dụng, không ai dùng

và qua thời gian nó cũng đã biến thiên đi Đến nhà Tần nó đã bị dán đoạn, saukhi đánh bại sáu nớc lớn Hàn,Triệu,Nguỵ,Sở,Yên, Tề, thống nhất Trung Quốc.Công việc đầu tiên la Tân Thuỷ Hoàng xây dựng bộ máy nhà nớc chuyên chếtrung ơng tập quyền,để thực hiện đợc thì nhà Tần đã thực hiện đờng lối củaphái pháp gia Nho gia không còn đợc dùng vì với t tởng của Nho gia khôngphù hợp với xã hội Trung Quốc lúc này Nhà Tần thống nhất chính thức thiếtlập nên xã hội phong kíên Trung Quốc, trờng phái Nho gia đã bị huỷ bỏ

T tởng “pháp trị” đã rất phù hợp với xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ,

ph-ơng pháp cai trị của Tần Thuỷ Hoàng là “mọi việc đều dùng pháp luật đểquyết định, khắc bạc, không dùng nhân đức, ân nghĩa ” Với phơng pháp caitrị của nhà Tần thì một số nhà nho thờng dẫn những câu trong Kinh th, Kinhthi và các tác phẩm thời Chiến Quốc để phê phán đờng lối thống trị tàn bạocủa Vua Tần Vì vậy Tần Thuỷ Hoàng ra lệnh bắt nhân dân phải nộp các loạisách thi, th và các tác phẩm của học giả thời Chiến Quốc cho quan điạ phơng

Trang 15

để đốt đi Tần Thuỷ Hoàng đã đem chôn sống 460 nhà nho ở Hàm Dơng và

ra lệnh “ hai ngời giám bàn với nhau về Kinh th, Kinh thi thì chém giữachợ,lấy đời xa để chê đời nay thì giết cả họ’’[ 22, 41] Với việc đốt sách vàchôn nho của nhà Tần đã làm cho Nho giáo bị gián đoạn, không sử dụng đ-

ợc Tuy với lệnh trên thì nó rât có hại cho văn học nhng không phải vì thế màNho giáo mất đi

Với chính sách khủng bố và bóc lột triệt để, đặt ra pháp luật rất tànkhốc Vì vậy nhà Tần đã không tồn tại đợc lâu đến 202 TCN, thì nhà Tần sụp

đổ theo t tởng “ Pháp trị ’’ cũng không đợc trọng dụng Với sự hng thịnh củanhà Hán Nho gia đã đợc nhà Hán lựa chọn làm hệ t tởng của mình, đến Hán

Vũ Đế thì đã độc tôn Nho học, từ đây Nho gia đã đợc phát triển mạnh hơn

2 Nho giáo thời Tây Hán

1.2.1 Sự ra đời của nhà Tây Hán

Sau khi nhà Tần thống nhất Trung Quốc, thực hiện xây dựng một nhà

n-ớc trung ơng tập quyền, nhà Tần đã sử dụng phơng pháp “ pháp gia ’’ và đãlấy t tởng “ pháp trị ’’ làm hệ t tởng thống trị của mình Với đờng lối pháp trị,nhà Tần đã đa ra những chính sách thống trị rất tàn bạo đối với nhân dânTrung Quốc Họ vô cùng cực khổ “ Mặc nh bò ngựa, ăn nh chó lợn ” cho nênlòng căm phẫn, oán giận lan tràn khắp cả nớc

Ngay sau khi Tần Thuỷ Hoàng chết, khởi nghĩa nông dân bắt đầu bùng

nổ Tin khởi nghĩa truyền đi, nhân dân ở các nơi đều nổi dậy chiếm lấy căn cứquan quân nhà Tần Do sự phối hợp chặt chẽ họ đã chiếm đợc nhiều vùngrộng lớn Trong lúc này lợi dụng phong trào nông dân, nhà Tần không cònmạnh nữa bọn quý tộc của sáu nớc muốn lợi dụng cơ hội này để khôi phục lạicục diện chia cắt thời Chiến Quốc Trong khi đó cục diện nổi dậy của nôngdân ngày càng phát triển rộng rãi ở nhiều nơi thì trong nội bộ hàng ngũ nghĩaquân nảy sinh chia rẽ, mâu thuẫn với nhau, giết hại lẫn nhau Nhân cơ hội nàytớng Tần là Chơng Hàm đa quân đánh thẳng vào căn cứ địa của nông dân vàcuộc khởi nghĩa của nông dân bị thất bại Tuy nhiên ngọn lửa chiến tranh dothủ lĩnh nông dân nhóm lên vẫn tiếp tục bùng cháy và ngày càng lan rộngkhắp cả nớc và đã nỗi lên hai thủ lĩnh la Lu Bang và Hạng Vũ Dần dần mọithắng lợi đều tập trung vào hai đám Vũ Trạng lớn dới quyền của Lu Bang vàHạng Vũ Nhà Tần đã bị lật đổ

Trang 16

Sau khi lật đổ nhà Tần một triều đại Phong kiến theo đờng lối pháp trị,thì cuộc chiến tranh giành đế vị tiếp tục kéo dài tới năm năm, cuộc chiến giữaHán – Sở đã diễn ra Hạng Vũ chiếm u thế mạnh hơn, nhng ông lại không đ-

ợc lòng ngời, chỉ chủ trơng tranh giành quyền lực mà không chú ý tới dân, tráivới nguyện vọng của nhân dân Trái với yêu cầu của xã hội, nên chẳng baolâu bọn vơng hầu cùng tớng tá nỗi loạn tự lập khắp nơi Ngợc lại Lu Bang lạithực hiện những biện pháp phù hợp với lòng dân, tuyên bố thiết lập quân luật,huỷ bỏ hết mọi hình phạt nghiêm khắc, chính sách tàn ác, của nhà Tần, nênnhân dân mừng rỡ đón tiếp Lu Bang đa ra biện pháp “ giết ngời phải đềnmạng, hại ngời và cớp bóc phải đền tội ”, ngoài ra còn cho phép nhân dân càycấy trên ruộng đất của vua Tần và miễn thuế cho gia đình binh sĩ Chính vớinhững chính sách tiến bộ đó mà đi đến đâu cũng đợc nhân dân ủng hộ, thế lựcngày càng lớn mạnh

Chính đợc sự đồng lòng của nhân dân, năm 202 TCN, Lu Bang tấn côngHạng Vũ và giành đợc thắng lợi Sau khi đánh bại Hạng Vũ, Lu Bang xnghoàng đế, hiệu là Hán cao Tổ và lập ra nhà Tây Hán

Hệ t tởng đầu đời Hán vẫn cha đợc thống nhất, cha có một hệ t tởngthống trị chính thống, mà vẫn chủ trơng mọi quyền lực tập trung vào chínhquyền trung ơng và đề cao hơn nữa uy quyền của Hoàng Đế Nhng đến thờiHán Vũ Đế thì ông dã dùng phơng pháp “ đức trị ’’của Nho gia Chính vì vậy

ông dã lựa chọn Nho gia làm hệ t tởng của nhà Tây Hán Năm 136 TCN, ông

ra lệnh bải bỏ các học thuyết khác đề cao Nho học Từ đó, Nho học đã trởthành hệ t tởng chính thống và công cụ thống trị tinh thần để bảo vệ chế độPhong kiến suốt hai nghìn năm lịch sử ở Trung Quốc Cũng chính vì vậy nhàTây Hán đã bớc vào thời kì thịnh đạt cả về chính trị và Kinh tế

"Với chủ trơng thống nhất quốc gia, tôn thờ một vị minh quân và dùngnhân, lễ để trị quốc"[6, 211] Nho học đã đợc chọn làm cơ sở t tởng và lí luậncho nền thống trị của giai cấp Phong kiến Vì vậy Nho học đợc phục hng vàphát triển thêm một bớc mới

Từ một trào lu triết học mang tính xã hội, Nho học đợc coi là hệ t tởngchính thống của nhà nớc Phong kiến , giữ địa vị chi phối ngày càng mạnh mẽ

đối với mọi hoạt động của nhà nớc Phong kiến Trớc thời Tây Hán, ngời tahọc Nho học chủ yếu là để mở mang trí tuệ, học đối nhân xử thế, học làm ng-

ời Từ thời Tây Hán trở đi, nói học Nho học cũng có nghĩa là trớc hết và chủ

Trang 17

yếu là học làm quan, học chăm dân, học phép trị dân, học làm cha mẹ củadân

Cũng từ thời Tây Hán, quá trình tôn giáo hoá đối với Nho học bắt đầu.Tất nhiên đây là một quá trình khó khăn diễn ra một cách chậm chạp và vấpphải rất nhiều lực cản khác nhau "Nho học cha bao giờ là một tôn giáo theo

đúng nghĩa của từ này, xong đời thờng vẫn gọi là Nho giáo vì quá trình tôngiáo hoá ấy"[ 23, 24 ] Cùng với sự ra đời của nhà Tây Hán thì Nho giáocũng đợc sử dụng và phát triển mạnh mẽ trở thành hệ t tởng thống trị của nhàTây Hán Nhng về thực chất Nho học cũng đã có nhiều biến thái khác nhau

Đây là sự biến thái nhằm phù hợp với vị trí mới của nó trên vũ đài chính trị và

t tởng, kết qủa là một thế hệ Nho giáo mới xuất hiện đó là Hán nho

Ngời có nhiều đóng góp trong việc phát triển Nho học đời Tây Hán là

Đổng trọng Th Có thể nói rằng ông đã là ngời làm thay đổi diện mạo đờisống, văn hoá, t tởng của xã hội Trung Quốc và Nho giáo có thêm một bớcphát triển mới

1.2.2 Đổng Trọng Th và sự hình thành Nho giáo

Triều Tần bị lật đổ Triều Hán lên thay, trong thời kỳ đầu vẫn cha cómột đờng lối rõ ràng Đến thời Hán Vũ Đế (140 – 87 TCN), Trung Quốcmuốn củng cố nền thống nhất nhng không gây nên mâu thuẩn căng thẳng vớinhân dân một vấn đề đặt ra là Trung Quốc nên lựa chọn phái nào là hệ t tởngchỉ đạo cho đờng lối trị nớc và đề nghị của Đổng Trọng Th đợc Hán Vũ Đếchấp nhận

Đổng Trọng Th (179 – 104 TCN) quê ở vùng Hà Bắc ngày nay ThờiHán Cảnh Đế (156 – 141 TCN), ông đợc làm “ bác sĩ” chuyên việc giảng cáctác phẩm Kinh điển của nhà Nho năm 140 TCN Đổng Trọng Th đã trình bàyquan điểm và chủ trơng trị nớc của mình bằng hệ t tởng Nho giáo Vì vậy,năm 136 TCN Hán Vũ Đế ra lệnh “bãi truất bách gia, độc tôn Nho thuật” Từ

đó Nho giáo trở thành hệ t tởng chính thống của xã hội Phong kiến TrungQuốc

T tởng của Đổng Trọng Th chủ yếu là kính dâng mệnh trời, đề caoquyền lực tối thợng Hoàng Đế, minh định danh phận của mỗi hạng ngời và trịnớc theo khuôn mẫu của Kinh Xuân Thu Đổng Trọng Th theo cái vi ý trongsách Xuân Thu, công nhận cái quan niệm thiên nhân tơng dữ, nghĩa là trời vàngời quan hệ với nhau, nhng t tởng của ông lại hớng về chủ nghĩa thần quyền

Trang 18

và quyết chắc rằng việc gì xảy ra ở đời cũng do ý trời định cả Cho nên ông ờng lấy âm dơng và ngũ hành mà giải thích những hiện tợng ở đời.

Đổng Trọng Th đã đẩy tính duy tâm Nho gia thêm một bớc nhất là về cáclĩnh vực triết học, đạo đức làm cho học thuyết Nho gia mang màu sắc thầnhọc

Về triết học: Đổng Trọng Th có hai điểm mới đó là thuyết “ thiên nhâncảm ứng” tức là quan hệ tác động qua lại giữa trời và ngời, đồng thời dùng âmdơng – ngũ hành để giải thích mọi sự vật Đổng Trọng Th khẳng định: “ Trời

là thuỷ tổ của muôn vật cho nên bao chùm tất cả không có ngoại lệ”, cho rằngmọi vật đều do trời sinh ra và xếp đặt, mà trời không bao giờ thay đổi cho nên

sự xắp đặt ấy cũng không thay đổi Giữa trời và ngời lại có mối quan hệ qualại, “khi quốc gia xắp bị h hỏng về sự mất đạo, trời đem tai biến để tránh bão

mà ngời ta không biết tự xét, trời đem quái dị để làm cho sợ hãi Thế mà ngờikhông biến đổi thì sự bại vong mới đến”

Ngợc lại “ việc ngời ứng lại với lòng trời, cốt ở hai chữ cờng miễn” màthôi Cờng là mạnh mẽ, miễn là cố gắng

Đồng thời Đổng Trọng Th còn dùng thuyết âm dơng – ngũ hành để kếthợp với thuyết trời sinh vạn vật của ông và do đó ông cũng phát triển thuyết

âm dơng – ngũ hành Nh ông cho rằng: “ giữa trời đất có hai khí âm dơngbao trùm, con ngời giống nh nớc ngập cá, chỗ khác làm nớc Cơ thể thấy hoặckhông thể thấy mà thôi” Trong hai yếu tố âm dơng ấy ông quyết đoán rằng d-

ơng là đức của trời, âm là hình phạt của trời, trời thích đức không thích hìnhphạt, do đó trời trọng dơng không trọng âm Chính vì vậy, trong bốn mùa chỉ

có mùa Đông không lợi cho vạn vật

Đổng Trọng Th còn dùng ngày, tháng, bốn mùa trong năm và âm dơngngũ hành để giải thích cấu tạo của con ngời Ông nói: “ trời lấy những con sốtrong một năm mà sinh ra cơ thể ngời, cho nên những đất nhỏ gồm 366 đốt,

đó là ứng với số ngày, đốt lớn chia ra làm 12 phần, đó là ứng với số tháng.Trong ngời có ngũ tạng đó là ứng với con số ngũ hành, bên ngoài có bốn taychân, đó là ứng với bốn mùa, lúc nhắm, lúc mở là ứng với ngày đêm, lúc cứng,lúc mềm là ứng với mùa Đông, mùa Hạ, lúc vui, lúc buồn là ứng với âm d-

ơng”

Về sự biến đổi của tự nhiên và xã hội, quan điểm của Đổng Trọng Th làsiêu hình bất biến Ông cho rằng: “ đạo bắt nguồn từ trời, trời không đổi” Vì

Trang 19

vậy “ phàm nhân luân, đạo lý, chính trị, giáo hoá, tập tục, văn nghĩa, tất cả đều

nh cũ, sửa đổi làm sao đợc? Do vậy, các vua chỉ thay đổi hình thức của chế độchứ không thay đổi nội dung của đạo”

Nh vậy, về triết học, Đổng Trọng Th, là một nhà t tởng vừa duy tâmkhách quan, vừa mang tính thần bí

Về mặt đạo đức, Đổng Trọng Th đối với sự phát triển của t tởng Nho gia

là phạm trù tam cơng, ngũ thờng, lục kỷ các nhà nho trớc thời Tần hay nói đếnngũ luân là năm mối quan hệ: Vua tôi, cha con, anh em, vợ chồng, bạn bè.Trong năm mối quan hệ ấy trừ quan hệ bạn bè, các quan hệ khác đều là quan

hệ phục tùng Từ ngũ luân Đổng Trọng Th chọn ra ba mối quan hệ quan trọngnhất tạo thành tam cơng đó là: Vua tôi, cha con, chồng vợ

Thời Khổng Tử, Mạnh Tử, các quan hệ ấy chỉ là quan hệ xã hội thuần tuý,nhng Đổng Trọng Th xuất phát từ quan điểm thần bí của mình, cho rằng quan

hệ phục tùng ấy là do trời quy định Ngũ thờng là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín,những nội dung này có trong t tởng của Khổng Tử và Mạnh Tử nhng cha nêuthành hệ thống Mạnh Tử chỉ mới nêu ra nhân, nghĩa, lễ, trí và ví bốn chức đó

nh tứ chi của ngời ta Đổng Trọng Th đã thêm vào chữ tín và tạo thành ngũ ờng

Cùng với tam cơng – ngũ thờng thì còn phạm trù lục kỷ, Đổng Trọng Thcũng đã đóng góp nhiều đó là sáu mối quan hệ với những ngời ngang hàng vớicha mẹ, anh em, họ hàng, thầy giáo, bạn bè

"Tam cơng – ngũ thờng là do Đổng Trọng Th nêu ra đã trở thành nhữngtiêu chuẩn đạo đức chủ yếu của Nho giáo và đã đóng vai trò rất quan trọngtrong việc bảo vệ trật tự xã hội Phong kiến ở Trung Quốc" 14, 16

Về chính trị, Đổng Trọng Th không có chủ trơng gì mới mà chỉ thừa kếchủ trơng truyền thống của phái Nho gia , nh thống nhất và nhân chính tuynhiên thời Đổng Trọng Th, Trung Quốc đã thống nhất rồi, vì vậy đối với vấn

đề thống nhất,ông chỉ bổ xung hai điểm: một là, ông dùng thần học để giảithích sự thống nhất, cho rằng sự thống nhất là quy luật của trời đất, là lẽ tấtnhiên t xa tới nay; hai là, không chỉ thống nhất về lãnh thổ, chính trị mà cònphải thống nhất về t tởng Chính vì thế Đổng Trọng Th đề nghị những cái gìkhông thuộc vào khoa lục nghệ của Khổng Tử đều phải bãi bỏ, không để cùngtồn tại Những thuyết sai lệch phải chấm dứt, sau đó kỷ cơng mới quy về mộtmối, pháp chế mới sáng tỏ và dân mới biết chỗ mà theo Chính đề nghị này

Trang 20

của ông, Hán Vũ Đế chỉ đề cao Nho học và cấm các học thuyết khác để khỏilung lạc t tởng nhân dân Về đờng lối nhân chính, Đổng Trọng Th nêu ra cácbiện pháp cụ thể là hạn chế sự phân biệt giàu,nghèo, bỏ tệ chuyên quyền giếtngời và chú trọng đến việc giáo dục

Đổng Trọng Th dẫn lời của Khổng Tử “không sợ nghèo mà sợ không đều

” Từ đó, ông cho rằng nếu có chỗ tích trữ nhiều thì có sự trống rỗng giàuthì quá kiêu, nghèo thì quá lo Lo thì trộm cớp, kiêu thì bạo ngợc, đó làchuyện thờng tình của mọi ngời Vì vậy phải làm cho ngời giàu vừa đủ để tỏ

rõ sự sang trọng Nhng không đến mức kiêu, ngời nghèo đủ để nuôi sống

nh-ng khônh-ng đến mức phải lo Lấy đó làm mức độ để điều chỉnh Nh vậy thì củacải vô tận mà trên dới đều yên, do đó dễ dàng thịnh trị Muốn vậy thì phải

“hạn chế độ ruộng t của dân để cấp cho những ngời không đủ, ngăn chặn đờngchiếm đoạt, muối sắt đều giao về cho dân, bỏ nô tỳ, trừ hết các tệ chuyênquyền giết ngời, giảm nhẹ thuế khoá, bỏ bớt lao dịch cho dân đợc hồi sức”

Đổng Trọng Th còn dùng ý trời để chứng minh quan điểm của phân phối củamình Trời không cho hai lần, có sừng thì không có răng hàm trên Do đó cócái lớn thì không có cái bé Đó là số trời, đã có cái lớn mà muốn kiêm cả cái

bé, trời không thể thoả mãn đợc huống chi là con ngời

Bên cạnh việc chăm lo đến đời sống Kinh tế của dân, Đổng Trọng Th còncho rằng giáo dục cũng chính là một biện pháp cần thiết trong việc trị nớc.Nếu không lấy giáo hoá để để dề phòng thì không ngăn đợc sự rối loạn của xãhội Vì vậy những ngời làm vua đời xa đều hiểu rõ điều đó, cho nên họ cứngồi yên mà trị thiên hạ Ai cũng coi giáo hoá là việc lớn cho nên đã lập trờngthái học để dạy cả nứơc, đặt nhà trờng, nhà tự để đặt các thôn ấp, lấy nhân làmcho dân thấm thía, lấy nghĩa để uốn nắn dân, lấy nghĩa để tiết chế dân, chonên hình phạt rất nhẹ mà lệnh cấm không bị vi phạm Đó là vì giáo hoá đợc thihành và phong tục tốt đẹp Đổng Trọng Th cũng nhấn mạnh thêm rằng đờnglối chú trọng giáo dục không chịu trọng hình phạt ấy cũng là ý của trời Ôngnói :“ngời làm vua phải theo ý trời để làm việc cho nên phải chú trọng việcgiáo hoá bằng đạo đức mà không chú trọng hình phạt Hình phạt không phải

là thứ dùng để trị đời đợc”

Đối với thuyết tính thiện, tính ác của Mạnh Tử và Tuân Tử, Đổng Trọng

Th đa ra một thuyết triết chung là tính ngời vừa thiện vừa ác Ông lập luậnrằng trời ban ra có hai khí âm, dơng, con ngời ta đều có hai bản tính thiện và

ác Ông còn chia tính ngời làm ba bậc phù hợp với ba tầng lớp khác

Trang 21

nhau :tính thiện là của các thánh nhân, tính ác là của những ngời bị trị, tínhvừa thiện vừa ác là của những ngời trung bình ông cho rằng ý trời sinh ngời

ra phú cho cái chất để làm điều thiện, bởi vậy mới sinh ra thánh nhân để theo

ý trời mà dạy ngời những điều nhân nghĩa, lấy nhân mà yêu ngời, lấy nghĩa

mà sửa mình, dạy bảo dân chúng, khiến cho mọi ngời đều đợc yên vui mà sinhhoạt ở đời Những bậc ấy cầm quyền chính trị theo nghĩa lý mà định ra chế

độ, làm cho trên dới phân minh, giầu nghèo có trật tự trên không tàn bạo, dớikhông lo buồn Đó là việc trọng yếu trong việc trị nứơc

Nh thế, với Đổng Trọng Th, học thuyết của Khổng Tử đã đợc nâng lênthành một hệ thống lý luận tơng đối hoàn chỉnh Đồng thời với quyết định

“độc tôn nho thuật ” của Hán Vũ Đế 136 TCN, Nho gia bắt đầu trở thành hệ

t tởng làm cơ sở cho đờng lối trị nớc ở Trung Quốc,nhng nó đợm màu sắc thầnhọc hoặc tôn giáo hơn so với cội nguồn của nó Hơn na, do việc biến các sáchthi, th, lễ, dịch, xuân thu thành năm quyển Kinh điển (ngũ Kinh) và thầnthánh hoá Khổng Tử, Nho học từ trờng phái t tởng đã biến thành nh một đạogiáo nên Nho gia đợc gọi là Nho giáo Nhng cũng từ đó học thuyết này trởthành cơ sở lý luận và t tởng của chế độ Phong kiến Trung Quốc trong suốthơn hai nghìn năm Lịch sử và có ảnh hởng hết sức sâu sắc đối với xã hộiTrung Quốc sau này

Trang 22

Chơng 2

vai trò của Nho giáo đối với xã hội Phong kiến Trung Quốc

2.1 Vai trò của Nho giáo trên lĩnh vực chính trị

Từ thời thợng cổ xã hội của Trung Quốc, đã có những t tởng khác so vớicác nớc khác Thống trị một nớc đều theo chế độ gia tộc Việc chính trị chỉcốt giữ cho gia tộc đợc yên ổn Sự sống chết bất thờng của con ngời ta chorằng đó là từ quỷ thần mà ra Ngay từ buổi đầu họ đã tin vào trời, nhng ôngtrời nh thế nào là rõ rệt Đại để những t tởng và công việc của các đế vơng nhbát quái của vua Phục Hi, cữu trù của vua Hạ Vũ là lấy làm gốc lý học :điểnhình chế độ của vua Nghiêu- Thuấn cùng những điển, mô, huấn, cáo của cácthánh quân hiền tớng đều lấy làm nền luân lý,chính trị Nhũng ngời học giả

đời trớc phải biết rõ những điều ấy thì mới ra ứng dụng trong xã hội đợc Ngời thời thợng cổ vẫn lấy cái đạo của các đế vơng ngày trớc làm chính

đạo, nhng thờng con nhà quý phái, hoặc số ít ngời có thiên t đặc biệt mới học

đựơc mà thôi Dân chúng thì phải làm ăn khó nhọc phục dịch việc vua, việcquan, lắm điều khổ sở Khi trong nớc có ông vua nhân từ, tiết kiệm thì dân đ-

ợc yên c lạc nghiệp, nếu phải ông vua ham chơi, xa xỉ hoặc hay sinh sự chiếntranh thì dân gian bị nhiều điều hà khốc Phàm ngời đời đã bị cực khổ mà lạihọc hành không có, việc hay dở không biết thê nào, tất phải chìm đắm trong

mê hoặc của các t tởng huyễn hoặc, không thực tế Chính vì vậy sự ra đời vàphát triển của Nho gia từ thời Xuân Thu – Chiến Quốc trở đi đã có tác dụngthúc đẩy sự phát triển xã hội Phong kiến Trung Quốc Với t tởng “ đức trị ”lấy nhân để cẩm hoá lòng ngời và chính Nho gia đã đa sự hiểu biết , học thứccủa ngời dân Trung Quốc thời bấy giờ lên một bớc mới của xã hội Nh vậyvai trò của Nho giáo rất lớn, trở thành hệ t tởng chính thống của nhà nớcPhong kiến Trung Quốc

Từ khi nhà Chu lên nối ngôi thiên tử , vẫn theo lối phong hầu kiến ấp,chia thiên hạ ra làm hơn bảy mơi nớc, để phong cho những ngời công thần vàcác con cháu làm ch hầu Những nớc ch hầu ấy đều có quyền tự chủ, nhnghàng năm phải triều cống thiên tử, đem quân đi tòng chinh Nớc Trung Quốcthủa ấy nằm quanh quẩn sông Hoàng Hà, vào chừng khoảng năm sáu tỉnh ởphía bắc của nớc Trung Quốc ngày nay Khi nhà Chu còn thịnh thì trật tự còn

đợc phân minh, nhng từ khi nhà Chu suy nhợc, phải dời đô về phía đông ở đất

Trang 23

Lạc ấp, mệnh lệnh của thiên tử không ai theo Các nớc ch hầu phân ra đến

160 nớc Chiến tranh ngày càng kịch liệt, cơng thờng đổ nát, nhân dân đồthán Ch hầu ai mạnh thì làm bá cả thiên hạ, nh nớc Tề, nớc Tấn,nớc Tống, n-

ớc Sở ,nớc Ngô, nớc Việt…Khổng Tử không tách rời đạo đức và chính trị.Rồi nớc nọ kiêm tính nớc kia thiên tử cũng không

có đủ uy quyền mà ngăn cấm đợc Trong thời Xuân Thu loạn lạc nh thế, đạo

đế vơng đời trớc mờ tối, ngời đời say đắm về đờng công lợi, không ai thiết gì

đến nhân nghĩa nữa Nhng cũng vì thế cục biến loạn, dân tình khổ sở, ngờitrong nớc mới lo nghĩ tìm cách sửa đổi thiên hạ Vậy nên các học thuyết mớihng thịnh lên Thủa ấy có Khổng Tử đem phát minh cái đạo của thánh hiền

ra, lập thành một học thuyết lấy nhân, nghĩa, lễ, trí mà dạy ngời, lấy cơng ờng mà hạn chế nhân dục dể giữ trật tự ở trong xã hội cho vững bền

2.1.1 Chính sách cai trị.

Thời Phong kiến ở Trung Quốc chính sách cai trị của các triều đại chủyếu là theo Nho giáo , lấy “đức trị ” để cai quản đất nứơc và áp dụng trongmọi lĩnh vực

Thời Xuân Thu – Chiến Quốc, xã hội Trung Quốc đã phân tranh, xnghùng, xng bá, bị chia năm sẽ bảy Năm 221 TCN nhà Tần thống nhất TrungQuốc Nhà Tần sử dụng chính sách cai trị đối với nhân dân quá tàn ác, thốngtrị theo đờng lối “pháp gia ”sử dụng luật pháp để giải quyết mọi vấn đề trongxã hội, không dùng ân đức, nhân nghĩa Với những chính sách hà khắc trênnên năm 202 TCN nhà Tần đã bị sụp đổ, nhà Hán lên thay

Nhà Hán kế tiếp nhà Tần duy trì quốc gia thống nhất, khuyến khíchphát triển sản xuất và tập trung chính quyền vào trong tay Hoàng Đế NhàHán thực hiện nhiều chính sách đáp ứng đợc nguyện vọng của nhân dân, xoá

bỏ mọi chính sách hà khắc của nhà Tần,thực hiện đờng lối trị nớc đó là “đứctrị” Nhà Hán đã lựa chọn hệ t tởng Nho giáo làm hệ t tởng để trị nứơc Vì nóvừa bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị, điều hoà những quan hệ giữa cáclãnh chúa Phong kiến, làm cho trật tự xã hội đợc ổn định Trứơc đây với chínhsách của nhà Tần nhân dân bị “ nghẹt thở” thì đến nhà Hán với đờng lối “đứctrị” thì nhân dân đã có phần nào lối thoát

Sang nhà Đờng các vị vua cũng thực hiện chính sách tơng đối mềm dẻo,linh hoạt nhằm xoa dịu mâu thuẫn giai cấp Những chính sách tiến bộ này vềkhách quan mà xét thì cũng nhằm phục vụ giai cấp thống trị,bảo vệ lợi íchcũng nh ngai vàng của các vị Vua Mặt khác đã làm cho đời sống của nhândân đợc cải thiện, cuộc sống dể chịu hơn dới xã hội Phong kiến Tuy nhiên

Trang 24

các chính sách cai trị này chỉ đợc thực thi một cách đầy đủ ở thời kỳ sơ Đờng

mà thôi Những t tởng theo đờng lối “đức trị” đó đã dần dần bị mai một đicùng với thời gian Bởi về sau cuộc đấu tranh để tranh giành ngôi báu ngàycàng diễn ra quyết liệt Các Hoàng Đế chỉ lo nghĩ đến lợi ích của bản thân vàngày càng xa rời quần chúng Do vậy, những chính sách nhợng bộ nhân dâncủa nhà Đờng chỉ mang tính chất giai đoạn Thay vào đó là chính sách đàn áp,bóc lột, bòn rút nhân dân ngày càng thậm tệ Đối với bên ngoài nhà Đờng chothi hành chính sách xâm lợc nhằm mở rộng lãnh thổ, gây ảnh hởng đến các n-

ớc trong khu vực, đặc biệt là các nớc xung quanh

Đến đời nhà Tống, đặc biệt là Nam Tống do bị ngoại tộc xâm lợc,chiến tranh liên miên, cho nên triều Tống lúc bấy giờ rất hèn nhát và đầuhàng Nhà Nguyên đặt ách thống trị ngoại tộc, nên xa rời t tởng Nho giáo Sang thời Minh, Minh Thái Tổ đã cảm thông đợc các nỗi khổ của nhândân và cũng đồng thời hiểu đợc sức mạnh của họ Ông nói: “Nếu đi nhanh thìNgã, cung giơng quá mạnh thì bị gẫy, dân bức bách quá thì loạn, đạo của kẻ

bề trên là việc chính trị phải rộng rãi, vả lại, rộng rãi thì đợc dân, không rộngrãi thì mất dân” Từ nhận thức đó Vua Minh thực hiện nhiều chính sách, biệnpháp nhằm khôi phục và phát triển Kinh tế, ổn định tình hình xã hội, giảm bớtnỗi cực khổ của nhân dân Để phát triển sản xuất, triều đình Minh kêu gọinhân dân trở về quê sản xuất Nông dân khai khẩn đất hoang đợc quyền sởhữu vĩnh viễn Chính phủ còn khuyến khích trồng bông, quy định mỗi nông hộ

có từ 5-10 mẫu ruộng, phải trồng nửa mẫu bông Ngoài ra triều đình còn coitrọng thuỷ lợi, trong vòng vài chục năm đã xây dựng đợc hơn bốn vạn côngtrình thuỷ lợi, sửa chữa lại sông ngòi và đê điều ở hơn một vạn nơi Triều đìnhcũng chú ý giảm nhẹ thuế khoá và cứu trợ cho nhân dân những nơi bị mấtmùa

Ngoài ra vua Minh đã trả lại tự do cho những ngời bị biến thành nô tỳtrong thời gian loạn lạc, đồng thời cấm cỡng bức hoặc mua bán dân tự do làmnô tỳ.Triều đình còn bãi bỏ những hình phạt tàn khốc trớc kia nh thích chữvào mặt…Khổng Tử không tách rời đạo đức và chính trị Vì vậy nay ra lệnh nghiêm cấm nếu quan lại tham ô, sâu mọt làmhại dân của Trẫm thì tội giết không tha Quan lại tham ô sẽ bị xử bằng các cựchình nh chém, bêu đầu, tùng xẻo, giết cả họ Chính nhờ những chính sách nóitrên mà 30 năm đầu đời Minh Kinh tế vững mạnh, xã hội ổn định và đời sốngnhân dân đợc cải thiện

Trang 25

Sau khi chinh phục đợc Trung Quốc, vua Thanh ra sức cũng cố bộ máynhà nớc chuyên chế trung ơng tập quyền và thi hành chính sách mua chuộcgiai cấp địa chủ ngời Hán, bảo vệ quyền lợi ruộng đất của họ, thu hút nhiều tríthức ngời Hán vào bộ máy quan lại, đề cao Nho học và thực hiện giảm nhẹ tôthuế và xoá bỏ các thứ nh su cao thếu nặng không hợp lý cuối đời Minh Nh-

ng mặt khác nhà Thanh vẫn thi hành chính sách áp bức dân tộc, những chức

vụ chủ chốt đều do ngời Mãn nắm giữ

Nói chung chính sách cai trị các triều đại Phong kiến Trung Quốc đềulựa chọn t tởng Nho giáo, thực hiện đờng lối “Đức trị” để trị nớc Theo thuyết

"Tề trị bình" thì mục tiêu, cũng là bình thiên hạ Các triều đại Phong kiếnTrung Quốc đều muốn mở rộng ảnh hởng ra các vùng khác Hầu nh các triều

đại đều thực hiện chính sách bành trớng ra bên ngoài

Nhà Hán đã thực hiện cuộc viễn chinh vừa để đẩy nhân khẩu thừa rabên ngoài, vừa để xâm chiếm thêm đất đai và mở rộng thêm nơi buôn bán.Hán Vũ Đế đã tổ chức đánh đuổi Hung Nô, đô hộ Tây Vực, chinh phục NamViệt, Triều Tiên Kết quả của việc mở rộng bờ cõi của nhà Hán là biên cơngTrung Quốc đợc mở rộng hơn , văn hoá các nớc á Châu giao lu, càng làmphong phú thêm, bọn địa chủ và thơng nhân cớp đợc nhiều tài sản

Cũng nh nhà Hán, đến nhà Đờng vai trò của Nho giáo khá lớn mạnhtrong mọi lĩnh vực và xã hội trật tự Cho nên, nhà Đờng cũng đã thực hiệnbành trớng ra bên ngoài - Đờng Thái Tông và các vua Đờng đã tiêu diệt Đông

Đột Quyết, đô hộ Tây Đột Quyết và Tây Vực, thống trị Cao Ly, Bách Tế, Tân

La, Giao Châu Quân viễn chinh Đờng, bắt đầu vào Trung á, xung đột vớiquân đội ả Rập Việc mở rộng lãnh thổ, bành trớng thế lực ra bên ngoài đã đaTrung Quốc trở thành nớc lớn trên thế giới

Sau này nhà Thanh cũng thực hiện sự bành trớng lớn mạnh thế lực rabên ngoài nhằm đa đất nớc Trung Quốc đạt tới đỉnh cao của sự thống trị

Nh vậy, Nho giáo không chỉ là một hệ t tởng chính thống để trị nớccủa xã hôi Phong kiến Trung Quốc mà nó còn có một vai trò to lớn cho sự mởrộng, bành trớng thế lực ra bên ngoài của các triều đại Trung Quốc

2.1.2 Tổ chức bộ máy nhà nớc

Từ thời Thợng cổ thì bộ máy tổ chức nhà nớc Trung Quốc đang còn rấtsơ khai, cũng có ngời đứng đầu là Vơng và ở dới là dân nhng đang có sự gầngủi, cha thực sự phân phong thứ bậc Sang thời Xuân Thu – Chiến Quốc

Ngày đăng: 22/12/2013, 14:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w