Đối với những nớc có bề dày lịch sử và văn hoá thì các nhà lãnh đạothờng tìm cách tác động vào lòng tự tôn dân tộc của công dân nhằm tạo ra mộtkhối thống nhất làm cơ sở thực thi một ý đồ
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh
Trang 2Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh
Trang 3Lời cảm ơn
Để hoàn thành luận văn này tôi đã nhận đợc sự giúp đỡ của tập thể Thầy, Cô giáo trong khoa Lịch sử, Khoa Sau Đại học trờng Đại học Vinh, của các bạn học viên cùng sự hớng dẫn nhiệt tình, tận tâm của
PGS TSKH Trần Khánh Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn tới các Thầy Cô, các bạn học viên và đặc biệt là PGS TSKH Trần Khánh ngời
đã trực tiếp hớng dẫn tôi trong quá trình tiến hành nghiên cứu đề tài
Xin gửi tới toàn thể Thầy Cô giáo và các bạn lời chúc hạnh phúc
và thành đạt
Vinh, tháng 12 năm 2009
Học viên
Võ Thị Thanh Bình
Trang 4Mục lục
Trang
a Mở đầu 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề
3 Đối tợng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
4 Nguồn tài liệu
5 Phơng pháp nghiên cứu
6 Đóng góp của luận văn
7 Bố cục của luận văn
B Nội dung
Chơng 1 Nền tảng của sự hình thành bản sắc quốc gia - dân tộc Singapore
1.1 Cơ sở lịch sử và nền tảng xã hội tộc ngời
1.1.1 Điều kiện tự nhiên và lịch sử
1.1.2 Nền tảng xã hội
1.2 Nhu cầu phải xây dựng bản sắc quốc gia - dân tộc ở Singapore
1.2.1 Khuynh hớng dân tộc chủ nghĩa
1.2.2 Sự ảnh hởng của các yếu tố phi văn hoá từ phơng Tây
1.2.3 Nhu cầu ổn định xã hội để phát triển quốc gia
Tiểu kết chơng 1
Chơng 2 Chính sách của Nhà nớc Singapore về xây dựng bản sắc quốc gia - dân tộc (1965 -2005)
2.1 Xây dựng hệ thống thể chế Nhà nớc
2.1.1 Quan niệm về chính quyền
2.1.2 Hệ thống chính trị
2.1.3 Một Nhà nớc đa sắc tộc và đa văn hóa
Trang 52.2 Các chính sách xây dựng bản sắc quốc gia - dân tộc Singapore
2.2.1 Hình thành ý thức hệ quốc gia
2.2.2 Chính sách hòa hợp tôn giáo
2.2.3 Phát triển hài hòa nền văn hóa dân tộc
2.2.4 Tạo nên sự hòa nhập và liên kết dân tộc thông qua chiến lợc giáo dục
2.2.5 Chính sách công bằng xã hội
2.2.6 Chiến lợc phát triển bền vững
Tiểu kết chơng 2
Chơng 3 Nhận xét về quá trình xây dựng bản sắc quốc gia - dân tộc Singapore
3.1 Kết quả của quá trình xây dựng bản sắc quốc gia - dân tộc ở Singapore
3.2 ý nghĩa của sự hình thành bản sắc quốc gia - dân tộc Singapore đối với sự phát triển của đất nớc
3.2.1 Tạo dựng niềm tự hào về Tổ quốc và từ sức mạnh đoàn kết toàn dân
3.2.2 Tạo nên môi trờng chính trị - xã hội ổn định cho sự phát triển bền vững và tiến bộ đất nớc
3.2.3 Góp phần tạo nên sức mạnh đề kháng quốc gia trớc những ảnh hởng mặt trái của toàn cầu hoá
3.3 Nhận định về vai trò của Nhà nớc trong quá trình xây dựng bản sắc quốc gia - dân tộc Singapore
3.3.1 Vai trò của Nhà nớc
3.3.2 Một số vấn đề đặt ra
3.3.3 Một số kinh nghiệm rút ra
c Kết luận
D Tài liệu tham khảo
e Phụ lục
a Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Năm 2005, Singapore kỷ niệm lần thứ 40 ngày độc lập Nhìn lại những năm tháng đã qua, ngời dân Singapore hoàn toàn có đủ lý do để tự hào
về những thành tựu mà họ đã đạt đợc Từ một hòn đảo đất chật ngời đông diện tích chỉ khoảng 699,4 km2, tài nguyên thiên nhiên nghèo nàn, mức sống thấp,
Trang 6Singapore trong một thời gian ngắn đã vơn lên trở thành một nớc công nghiệpmới đợc nhiều ngời a chuộng Tách khỏi Liên bang Malaysia năm 1965, lịch
sử Singapore bớc sang trang mới với muôn vàn khó khăn: Kinh tế chậm pháttriển, thất nghiệp lan tràn, tình hình chính trị thiếu ổn định, trong đó mâuthuẫn sắc tộc có khả năng bùng nổ thành xung đột Đó là cả một vấn đề lớn
mà Chính phủ và nhân dân phải đối mặt Thế nhng, đất nớc nhỏ bé này đã lầnlợt vợt qua thử thách, từng bớc đi lên và trở thành “con rồng nổi trội” trongkhu vực châu á Đây quả là một kỳ tích phát triển, trong đó có đóng góp tolớn của chính sách tạo dựng sự đồng nhất về bản sắc quốc gia - dân tộc màChính phủ Singapore đã và đang theo đuổi trong suốt mấy thập niên qua
1.2 Bản sắc dân tộc là cái cốt lõi đặc trng riêng có của một cộng đồngdân tộc trong lịch sử tồn tại và phát triển, giúp phân biệt dân tộc này với dântộc khác Rõ ràng chúng ta thấy ở mỗi giai đoạn của lịch sử đều xuất hiệnnhững cơ hội cũng nh những thách thức đối với mọi dân tộc, có những dân tộcnày mạnh lên, đồng thời lại có những dân tộc khác yếu đi nếu không biết pháthuy những lợi thế, những thời cơ của mình Bản sắc của mỗi dân tộc chỉ có thể
đợc bộc lộ đầy đủ trớc mỗi bớc ngoặt của lịch sử, mỗi quốc gia chỉ có thể pháttriển lên từ bản sắc của mình trong xu thế chung của thời đại
Singapore là một quốc gia ra đời và phát triển trong một điều kiện rất
đặc thù Đối với những nớc có bề dày lịch sử và văn hoá thì các nhà lãnh đạothờng tìm cách tác động vào lòng tự tôn dân tộc của công dân nhằm tạo ra mộtkhối thống nhất làm cơ sở thực thi một ý đồ chính trị nào đó ở Singapore,
điều này không thể thực hiện đợc, vốn dĩ là một thơng cảng lại có nhiều cộng
đồng sắc tộc chung sống theo bản sắc và tôn giáo riêng, cha ai có thể nói đó làdân tộc Singapore Ngay từ điểm ban đầu, Singapore phải tự tìm con đờngriêng để tồn tại và phát triển Và nhiệm vụ trớc hết là phải xây dựng đợc mộtbản sắc dân tộc từ những nét đặc thù của các cộng đồng ngời nhập c cùng sinhsống trên đảo Ngời Singapore đã đi từ việc giải quyết vấn đề dân tộc, tôntrọng về sự đa dạng văn hoá, bình đẳng về ngôn ngữ và tôn giáo, mặt khácthông qua giáo dục về những giá trị văn hoá của phơng Đông và giáo dục h-ớng nghiệp, tạo cho các sắc tộc sống hoà bình gắn bó với nhau Kết quả là mộtlớp ngời Singapore mới với một bản sắc văn hoá rất đặc trng đã hình thành, họcoi đảo quốc này là tổ quốc thiêng liêng của mình bất luận là họ thuộc nguồngốc dân tộc hay theo tôn giáo nào Đã có tới 90% ngời đợc hỏi và trả lời tựnhận mình là ngời Singapore với một bản sắc dân tộc mới Con số thống kê
Trang 7biết nói này đã chứng minh sự thành công của Singapore trong việc xây dựngbản sắc quốc gia - dân tộc Có thể khẳng định đây là một kỳ tích đã góp phầnquan trọng làm nên “hiện tợng Singapore” hay “thơng hiệu Singapore”
1.3 Quá trình hình thành sự liên kết và hoà nhập các nhóm cộng đồng,phá vỡ những ranh giới tộc ngời và hình thành nên một tổ chức xã hội tộc ngờimới - dân tộc Singapore hiện đại với bản sắc riêng của mình đã xuất hiện ngay
từ những năm đấu tranh chống thực dân và tiến triển một cách mạnh mẽ dới sựcan thiệp tích cực của Nhà nớc Singapore độc lập Xuất phát từ tính đặc thùcủa một xã hội đa nguyên, đa sắc tộc và tôn giáo, đợc hình thành trên nền tảngdân nhập c từ bốn phơng nên Chính phủ Singapore đã thực hiện chính sáchliên kết và hoà nhập dân tộc một cách tự nguyện, nhng có định hớng của Nhànớc và dùng các biện pháp kinh tế - xã hội thay cho mệnh lệnh hành chính hay
áp đặt chính trị Mục tiêu chính của Chính phủ là tạo dựng một bản sắc quốcgia - dân tộc mới, chung cho tất cả ngời dân Singapore, nhng lại tôn trọng vànhấn mạnh sự phong phú và đa dạng về văn hoá, về tính đặc trng văn hoá củamỗi cộng đồng sắc tộc khác nhau Từ chiến lợc và chính sách đúng đắn, cùngvới nỗ lực tích cực của Chính phủ, Singapore đã đạt đợc thành công Công lao
đầu tiên thuộc về những ngời lãnh đạo đất nớc đã điều hành bộ máy Nhà nớcphục vụ quốc gia, phục vụ nhân dân Vai trò của Nhà nớc Singapore trong sựhình thành bản sắc quốc gia - dân tộc là hết sức to lớn và cần đợc khẳng định
1.4 Việt Nam chúng ta trong quá trình xây dựng và phát triển đất nớccần có sự tiếp thu và học hỏi kinh nghiệm thành công của các nớc trên thếgiới Bởi vậy nghiên cứu sự thành công của các nớc để từ đó rút ra bài học chomình là điều cần thiết với chúng ta Singapore không chỉ thành công trongphát triển kinh tế, mà còn giải quyết tốt về vấn đề dân tộc, tôn giáo và xã hộinói chung Kinh nghiệm rút ra từ chính sách tạo dựng bản sắc quốc gia - dântộc của Singapore, trong đó có chính sách giáo dục ngôn ngữ, nghề nghiệp,xây dựng cộng đồng văn hoá v.v luôn là những kiến thức bổ ích, cần đợc tiếpcận và truyền bá rộng rãi, nhất là trong bối cảnh nớc ta đang trên đờng côngnghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế
Chính vì những lý do trên chúng tôi chọn đề tài Vai trò của Nhà n“ ớc trong sự hình thành bản sắc quốc gia - dân tộc Singapore (1965-2005)” làm
đề tài luận văn tốt nghiệp của mình
2 Lịch sử vấn đề
Trang 8Với “câu truyện cổ tích thần kỳ” mà đảo quốc Singapore đã viết lênkhông chỉ tạo ra sự khâm phục cho nhân dân thế giới mà còn thu hút sự khámphá của các nhà nghiên cứu khoa học trong và ngoài nớc Đã có không ít sách,báo, tạp chí viết về sự phát triển của Singapore, trong đó có các công trình liênquan đến vấn đề bản sắc quốc gia - dân tộc bởi đây là một trong những yếu tốlàm nên sức mạnh, nền tảng duy trì sự phát triển bền vững và trờng tồn của
đảo quốc này
Trong số các công trình có cuốn sách bằng tiếng Anh Government and“
politic of Singapore” do Jonh.S.T.Quah; Chan Heng Chee, Seach Chee Meon
chủ biên, xuất bản tại Singapore năm 1987 Trong cuốn sách này có một
ch-ơng viết về bản sắc Singapore (Singapore Identity), trong đó phân tích quátrình hình thành các cộng đồng dân nhập c và sự thay đổi bản sắc của trớc vàsau khi Singapore đợc trao trả độc lập Sự khác nhau về biên giới văn hoá tộcngời, nhất là giữa ngời Hoa, ngời gốc ấn Độ và ngời Malay đợc biểu hiện rõnét trong chơng viết này Đây là nguồn tài liệu quý cho luận văn khi viết về sựhình thành xã hội đa dân tộc, đa tôn giáo tại Singapore
Tiếp đến là bài nghiên cứu với nhan đề Nation- building in Singapore“ ”(xây dựng quốc gia - dân tộc ở Singapore) của tác giả David W Chang, đăngtrên Tạp chí “Asean survey” (số 9.1969), trong đó có rút ra các kinh nghiệm
xây dựng bản sắc quốc gia dân tộc ở Singapore Ngoài ra còn có bài Birth of“
a Nation: National identification in Singapore” (Quốc khánh và nhận diện
bản sắc dân tộc Singapore) của Jonh A Macdougall, cũng đăng ở Tạp chí
“Asean survey”, số 6/1976 Những công trình khoa học này là tài liệu có giátrị cho việc phân tích, lý giải tiến trình tạo dựng bản sắc quốc gia - dân tộcSingapore và đánh giá vai trò của Chính phủ nớc này trong sự nghiệp xâydựng đất nớc
ở Việt Nam, trong những thập niên gần đây cũng có nhiều học giả quan
tâm nghiên cứu về Singapore Trong số các công trình có Xingapo - đặc thù“
và giải pháp” của nhà nghiên cứu, ngoại giao DơngVăn Quảng, xuất bản năm
2007 Cuốn sách trình bày khá rõ nét về những đặc thù của Singapore và đa ragiải pháp mà quốc gia này tiến hành để khắc phục “khiếm khuyết” của mình
Sự “thần kỳ” của Singapore đã đợc khẳng định không chỉ trong thành quả pháttriển kinh tế mà ngay cả trong chính sách phát triển xã hội, hài hoà dân tộc vàvăn hoá mà trong đó các dự án nhằm xây dựng một bản sắc riêng cho dân tộc
đã đợc thực hiện khá thành công
Trang 9Nguyễn Tấn Đắc (2005) trong cuốn Văn hoá Đông Nam “ á” đã giớithiệu những nét tiêu biểu trong nền văn hoá các nớc Đông Nam á, đặc biệt có
đề cập đến vấn đề “tạo ra một ý thức hệ dân tộc” ở Singapore
Nhà nghiên cứu Trần Khánh (1995) đã cho xuất bản cuốn Cộng hoà“
Singapore - 30 năm xây dựng và phát triển” giúp ngời đọc hiểu đợc sự lao
động sáng tạo của ngời dân Singapore trong suốt 30 năm xây dựng đất nớc từ
1965 đến 1995 Trong công trình này, tác giả cũng có đề cập đến các chínhsách tạo dựng sự đồng nhất về bản sắc quốc gia - dân tộc
Về hệ thống chính trị của Singapore đã đợc giới thiệu với các tác phẩm
Mô hình nền hành chính các n
Vĩnh (1996) Và cuốn Thể chế chính trị một số n“ ớc Asean” của Nguyễn
Xuân Tế (1998)
Lý Quang Diệu - ngời sáng lập ra đảo quốc Singapore ngày nay với
cuốn Bí quyết hoá rồng: Lịch sử Singapore 1965 - 2000“ ” đã cho ngời đọcthấy đợc quá trình phát triển của Singapore một cách chân thực nhất và chínhxác nhất, trong đó cũng có đề cập đến chính sách tạo dựng nguồn nhân lực vàxây dựng ý thức quốc gia - dân tộc
Bên cạnh đó, trên các tạp chí nh : Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam á,Nghiên cứu Kinh tế, tạp chí Dân tộc học, tạp chí Những vấn đề kinh tế thếgiới các nhà nghiên cứu Việt Nam đã có nhiều công trình đề cập đến cáckhía cạnh trong quá trình xây dựng bản sắc quốc gia - dân tộc của Singapore
Trớc hết, phải kể đến bài viết Nhà n“ ớc và sự hình thành bản sắc quốc gia dân tộc Singapore” của nhà nghiên cứu Trần Khánh đăng trên Tạp chí Nghiên
-cứu Đông Nam á số 3/1991 đã khái quát quá trình xây dựng bản sắc quốc gia
- dân tộc ở Singapore Đây là bài viết ngắn, mới nêu vấn đề, cha đi sâu phântích của những yếu tố tác động đến hình thành quốc gia - dân tộc củaSingapore cũng nh vai trò của Nhà nớc trong tiến trình này Tuy nhiên, bài viết
đã không chỉ cung cấp một số t liệu, dẫn chứng mà quan trọng hơn là giúp
ng-ời viết luận văn này tiếp cận khung phân tích vấn đề
Nhiều bài viết khác nh : Geoffreg Benjamin (2001), Logic văn hóa của“
hệ t
“ tởng đa sắc tộc của Singapore” ” (Tạp chí Dân tộc học, số 4); Lê Thanh
Hơng (2004), Tính cộng đồng, tính cá nhân và thành công trong phát triển“
đất nớc của Singapore” (Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam á, số 4); Đỗ Lan
Hiền (1998), Về kinh nghiệm giải quyết mối quan hệ giữa tôn giáo và dân“
tộc ở Singapore” (Tạp chí Triết học, số 1); Trần Khánh (2008), Kinh nghiệm“
phát triển sức mạnh quốc gia của cộng hòa Singapore” (Tạp chí Nghiên cứu
Trang 10Đông Nam á, số 10); Nguyễn Tuệ Anh (1998), Phát triển kinh tế và chính“
sách đảm bảo xã hội - kinh nghiệm của Xingapo” (Tạp chí Nghiên cứu Kinh
tế, số 12); Trần Tuấn (2007), Chăm lo nhà ở cho toàn dân, bài học kinh“
nghiệm của Xingapo ” (Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới, số 9)… Còn có
t liệu số 1388 của Viện Đông Nam á về Chính sách dân tộc của Singapore“
và Malaysia những kinh nghiệm”
Qua các công trình nghiên cứu trên, chúng tôi rút ra một số nhận xét sau:
- Các công trình trên chủ yếu đều tập trung đi sâu nghiên cứu quá trìnhphát triển của Singapore mà trong đó trọng tâm vẫn là phát triển kinh tế và ổn
định xã hội, còn về vấn đề xây dựng bản sắc quốc gia - dân tộc mới chỉ dừnglại ở những khía cạnh nhỏ, riêng lẻ mà cha đợc đề cập, phân tích một cáchtoàn diện và có hệ thống
- Khi trình bày về quá trình xây dựng bản sắc quốc gia - dân tộcSingapore, các bài viết trên còn dừng lại ở mức độ khái quát, cha đi sâu phântích các chính sách cụ thể mà Chính phủ nớc này đề ra và thi hành
Vì vậy, kế thừa những kết quả của các nhà nghiên cứu trong và ngoài
n-ớc, luận văn của chúng tôi hy vọng sẽ trình bày một cách hệ thống và chi tiếtquá trình hình thành bản sắc quốc gia - dân tộc ở Singapore, trong đó sẽ phântích vai trò của Nhà nớc không chỉ trong định hớng chính sách, mà còn trongcả thực thi các biện pháp cụ thể thực hiện định hớng đó
3 Đối tợng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tợng nghiên cứu
Đối tợng nghiên cứu của luận văn là tìm hiểu chính sách phát triển củaCộng hoà Singapore, đặc biệt là chính sách xây dựng bản sắc quốc gia - dântộc
3.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở, nền tảng của sự hình thành bản sắc quốc gia - dân tộcSingapore
- Nêu bật các chính sách của Nhà nớc Singapore về xây dựng bản sắcquốc gia - dân tộc (1965 -2005)
- Nhận xét, đánh giá vai trò của Nhà nớc trong quá trình xây dựng bảnsắc quốc gia - dân tộc Singapore và rút ra một vài bài học kinh nghiệm
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Trang 11Luận văn tập trung nghiên cứu quá trình hình thành bản sắc quốc gia dân tộc ở Singapore thông qua các chính sách mà Chính phủ Singapore độclập đã thực hiện trong vòng 40 năm từ 1965 đến 2005 Sau 40 năm dới sự lãnh
-đạo của Nhà nớc, mà đứng đầu là Đảng Hành động nhân dân, ở Singapore đãhình thành một bản sắc dân tộc riêng Những nỗ lực của nhân dân và Chínhphủ Singapore đã đạt đợc thành công, tạo nên một nguồn sức mạnh cho sựphát triển bền vững cho đất nớc Sở dĩ, chúng tôi dừng lại ở năm 2005 là đểtổng kết 40 năm xây dựng đất nớc của họ, đồng thời là thời điểm tơng đốithích hợp để nhìn nhận các vấn đề một cách khách quan hơn và có đủ tài liệu
để viết luận văn hơn
4 Nguồn tài liệu
Luận văn thực hiện dựa trên các nguồn tài liệu chủ yếu sau:
- Nguồn tài liệu gốc: Bao gồm các bài diễn văn, thông điệp và tuyên
bố của các nhà lãnh đạo Singapore, các tác phẩm của chính Thủ t ớng LýQuang Diệu
- Tài liệu của các trung tâm nghiên cứu trong và ngoài nớc về mọi lĩnhvực lịch sử Singapore, đặc biệt là những nội dung mà luận văn hớng tới Đó làluận án Tiến sĩ, luận văn Thạc sĩ, Cử nhân, những công trình nghiên cứu,những bài báo trên các tạp chí chuyên ngành nh Tạp chí Nghiên cứu ĐôngNam á
- Tài liệu từ các báo nớc ngoài nh Asean survey, và ấn phẩm sách nớcngoài có liên quan đến nội dung đề tài
- Những công trình của các nhà nghiên cứu, các tác giả Việt Nam nhcác loại sách chuyên sâu lĩnh vực lịch sử, chính trị và văn hoá Singapore, cácloại sách mang tính chất giới thiệu, du lịch Singapore
- Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng các số liệu, tin tức từ các địa chỉ
Website: google.com.vn, gov.sg/sgnews.
5 Phơng pháp nghiên cứu
Với đối tợng và phạm vi nghiên cứu đợc xác định nh trên, để giải quyếtnhững vấn đề do đề tài luận văn đặt ra, về mặt phơng pháp luận chúng tôi dựavào chủ nghĩa duy vật biện chứng và đặc biệt là chủ nghĩa duy vật lịch sửcùng lý luận về Nhà nớc của chủ nghĩa Mác - Lênin và quan điểm của Đảng
Từ đó xử lý những nguồn tài liệu và tiếp cận với quan điểm của các học giả,chính khách phơng Tây và của chính Singapore
Trang 12Đây là một đề tài lịch sử nên phơng pháp lịch sử và phơng pháp logic
đ-ợc đặc biệt coi trọng Luận văn dựa trên cơ sở những tài liệu lịch sử, những sựkiện lịch sử có thật để phân tích, xử lý, hệ thống hoá, khái quát hoá vấn đề
Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng các phơng pháp khác nh: phơng pháp sosánh đối chiếu, phơng pháp thống kê nhằm hỗ trợ cho hai phơng pháp chủyếu trên
6 Đóng góp của luận văn
- Trên cơ sở những tài liệu tiếp cận đợc, luận văn cố gắng khôi phục lạimột cách chân thực quá trình hình thành bản sắc quốc gia - dân tộc ởSingapore dới sự lãnh đạo của Chính phủ nớc này trong khoảng thời gian từ
1965 - 2005
- Không chỉ dừng lại ở việc mô tả lịch sử, luận văn còn nêu lên nhữngthành công và rút ra những bài học kinh nghiệm trong quá trình xây dựng bảnsắc quốc gia - dân tộc ở Singapore Đặc biệt đa ra đánh giá về tầm quan trọngcủa Nhà nớc trong định hớng và thực thi các chính sách phát triển nói chung,xây dựng bản sắc quốc gia - dân tộc nói riêng
- Nội dung và t liệu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo,phục vụ nghiên cứu, học tập và giảng dạy về lịch sử Singapore nói riêng vàlịch sử Đông Nam á nói chung
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần dẫn luận, phụ lục, th mục tài liệu tham khảo và mục lụctheo qui định, nội dung của luận văn gồm 3 chơng
Chơng 1: Nền tảng của sự hình thành bản sắc quốc gia - dân tộc
Trang 131.1.1 Điều kiện tự nhiên và lịch sử
1.1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Singapore là một quốc đảo (Island - State’s) có tên đầy đủ là “Cộng hoàSingapore”, do đảo Singapore và 63 đảo nhỏ phụ cận hợp thành, trong đó chỉ
có 20 hòn đảo là có ngời ở và nằm rải rác trong vùng eo biển Singapore
Singapore nằm ở cực Nam bán đảo Malacka, cách đờng xích đạo137km về phía bắc, phía bắc giáp Malaysia và phía đông nam giáp Indonesia.Nhờ vị trí ở chỗ giao tiếp giữa Thái Bình Dơng và ấn Độ Dơng, Singaporenằm trên con đờng biển nhộn nhịp nhất của châu á, nối liền châu âu, Cận
Đông và Nam á, châu úc với Viễn Đông Nh vậy, Singapore là điểm trọngyếu chiến lợc trên con đờng buôn bán, giao lu giữa phơng Đông và phơng Tây
Đồng thời, Singapore còn là điểm quan trọng trên các đờng giao thông chínhcủa đờng không, đờng biển quốc tế và cũng có các đờng nhánh giao thôngthuận tiện với các nớc láng giềng trong vùng Singapore là điểm nối liền ĐôngNam á lục địa với Đông Nam á hải đảo nên đợc xem là điểm cốt tử của khuvực Chính nhờ là cửa ngõ yết hầu của Đông Nam á mà Singapore có tiếngnói quan trọng trong các vấn đề của khu vực và quốc tế, giúp nớc này có đợcquyền tự do hành động và lựa chọn trong các vấn đề kinh tế, chính trị và xãhội Cũng với vị trí tự nhiên thuận lợi đó, Singapore trở thành nơi dừng châncủa các dòng ngời nhập c từ nhiều nguồn gốc khác nhau tạo nên sự đa dạng vềdân số và văn hoá nơi đây
Tổng diện tích của Singapore chỉ là 699,4km2 trong đó đảo lớn rộng604,2km2 Bờ biển dài 150,5km, chiều dài từ đông sang tây trên đảo lớn là42km và từ bắc xuống nam là 23km [38,17] Địa hình thấp, vùng trung tâm cómột số đồi nh Bukit Timah, Bukit Gomak, Bukit Panjang và Bukit Batok ,vùng phía tây có cao nguyên nhấp nhô xen lẫn một số thung lũng, vùng phía
đông tơng đối bằng phẳng kéo dài từ Katong đến Changi
ở Singapore cũng có một vài sông, suối tự nhiên, dài nhất là sôngSungei Selebar dài 15km và sông Singapore dài 3km
Trang 14Singapore nằm trong vùng khí hậu xích đạo nên nhiệt độ và độ ẩmkhông khí khá cao Nhng là quốc gia hải đảo, bờ biển bao bọc xung quanh (độdài của bờ biển khoảng 150km) nên khí hậu quanh năm tơng đối mát mẻ và dễchịu Nhiệt độ giữa ngày và đêm, giữa các mùa trong năm chênh lệch khônglớn Nhiệt độ bình quân cả ngày là 27 độ C Vào những tháng có gió mùa
Đông Bắc khí hậu Singapore trở nên mát mẻ Tháng có nhiệt độ thấp nhấttrong năm là tháng 12 và tháng 1 ở Singapore quanh năm đều có ma, lợng makhá lớn, bình quân năm là 2350mm
Trong khi các nớc trong khu vực có nguồn tài nguyên thiên nhiên giàu
có thì Singapore chỉ có một ít than chì, nham thạch pha lẫn đất sét, đất đai ítmàu mỡ Trớc đây, ở những thung lũng, sờn đồi và những khu đất bằng phẳng
là những cánh rừng nhiệt đới nhiều tầng thực vật và động vật hoang dã nh hổ,báo, trăn, ba ba, cá sấu Từ những năm 60 trở lại đây, những cánh rừng nhiệt
đới ngày càng thu hẹp chỉ còn vài nơi đợc giữ làm vờn thực vật quốc gia Mọinguyên liệu cần thiết cho sản xuất đều phải nhập từ bên ngoài, đất canh tác chỉchiếm 1,9% lãnh thổ và diện tích rừng là 4,5% Do vậy, sản xuất nông nghiệpkhông tồn tại và Singapore phải nhập toàn bộ lơng thực và thực phẩm, thậmchí cả nớc ngọt để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nớc
Trong tất cả tiềm năng thiên nhiên của Singapore thì tiềm năng lớn nhất
là các quà tặng của biển Singapore có lối thông với hai đại dơng cho nênnguồn lợi từ biển không chỉ có khả năng thoả mãn các nhu cầu hải sản mà cònxuất khẩu cho nớc khác Quan trọng hơn, vị trí đắc địa đó biến Singaporethành một hải cảng thuận tiện nhất Đông Nam á, có độ sâu cần thiết và kíngió để tránh đợc sóng ở trong vịnh, đảm bảo cho các tàu có trọng tải lớn ravào, giao thơng buôn bán
Tuy nhiên, điều kiện Singapore cũng có nhiều bất lợi cho sự phát triển
đất nớc Diện tích không lớn, mặc dầu Chính phủ đã có nhiều nỗ lực trongviệc lấn biển, san lấp đầm lầy và xây dựng nhiều nhà cao tầng, nhng nhu cầu
về đất để mở rộng và xây dựng các khu công nghiệp mới cũng nh phát triểncác cơ sở hạ tầng không thể đáp ứng đợc Mật độ dân số ngày càng tăng,Singapore trở thành một trong những nơi có giá đất đắt nhất thế giới sauTokyo, London, Hồng Kông và Pari Cùng với diện tích nhỏ hẹp, nghèo tàinguyên, đất đai kém màu mỡ, tài nguyên dới lòng đất quá ít, nguồn tài nguyênthực vật ngày càng suy giảm, nguồn lợi từ biển đang bị đe doạ, nguy cơ ônhiễm nguồn nớc ngày càng lớn Bản thân Thủ tớng đầu tiên của Singapore -
Trang 15Lý Quang Diệu cũng đã nhận xét “Singapore không phải là một đất nớc tựnhiên mà là một đất nớc do con ngời tạo nên, một trạm mậu dịch mà ngời Anh
đã phát triển thành một điểm nút trong một đế quốc hàng hoá rộng khắp thếgiới Chúng tôi thừa hởng một hòn đảo mà không có phần nội địa, một trái timkhông thể xác” [5,19] Nhng Chính phủ Singapore đã ý thức đợc tầm quantrọng của vị trí địa lý mà thiên nhiên đã u đãi ban tặng và khắc phục đợcnhững cản trở nội tại về điều kiện tự nhiên Không có con đờng nào khác,Singapore phải nắm lấy điểm mạnh của mình làm đòn bẩy giúp nền kinh tếphát triển, mở rộng quan hệ quốc tế nhằm đảm bảo sự phát triển thịnh vợngcho đảo quốc Singapore bắt đầu khai thác lợi thế về vị trí địa lý của mình đểxây dựng đất nớc thành một hải cảng lớn, một thị trờng nhập cảng và tái nhậpcảng, một nền công nghiệp hiện đại, một đất nớc hoà bình ổn định và là điểm
du lịch hấp dẫn Đây là yếu tố chi phối không nhỏ đến đờng lối phát triển đấtnớc của Chính phủ Singapore, trong đó có các chính sách về xây dựng bản sắcquốc gia - dân tộc cho mình Chính ý thức tự chủ ngay buổi đầu về những khókhăn và thuận lợi của đất nớc là một phần quan trọng góp phần làm nên bảnsắc Singapore về sau
1.1.1.2 Cơ sở lịch sử
Những tài liệu cũ viết về Singapore rất sơ sài và tên gọi hòn đảo nàycũng không thống nhất Theo tài liệu viết bằng tiếng Hoa, Singapore đợc gọi
là Puluochung có nghĩa là “đảo tận cùng của hòn đảo” Theo trờng ca Java thì
có tên là Temasek, Thị trấn Nớc Năm 1299, Temasek đợc đổi tên thànhSingapura - theo nghĩa của tiếng cổ ấn Độ là “thành phố s tử” Theo truyềnthuyết khi đặt chân lên hòn đảo, vị hoàng tử của đế quốc Sry Vijayan đã trôngthấy một con thú dới nớc mà Ngài lầm tởng là một con s tử nên đất nớcSingapore hiện đại ngày nay có tên là Thành phố S tử
Vào đầu thế kỷ XVI ở châu Âu, chủ nghĩa thực dân đã đợc hình thành
và phát triển mạnh mẽ Trên con đờng tìm kiếm thuộc địa và bành trớng thếlực của các nớc thực dân phơng Tây, Singapore cũng nh những miền đất khác
ở Đông Nam á đã trở thành mục tiêu xâm lợc, trong đó có Bồ Đào Nha vàTây Ban Nha là những nớc tiên phong Năm 1511, thực dân Bồ Đào Nha tiếnhành đánh chiếm vùng đất Malacka, kiểm soát đợc đảo Singapore (1587) vànhanh chóng biến hòn đảo này thành tiền đồn quân sự làm bàn đạp cho việc
mở rộng xâm lợc ra các nớc lân cận Đến thế kỷ XVII, Hà Lan thay chân Bồ
Đào Nha cai trị vùng lãnh thổ này
Trang 16Sang thế kỷ XVIII, sự giành giật thuộc địa ở phơng Đông giữa ngờiAnh và ngời Pháp trở nên gay gắt Thực dân Anh sau khi giành đợc độc quyềnthơng mại ở ấn Độ ráo riết tìm kiếm con đờng thuận lợi sang Đông Nam á,mặt khác việc buôn bán của Công ty Đông ấn vào thế kỷ XIX đang phát đạt
đã dẫn tới yêu cầu cần thiết phải lập ra một trung tâm buôn bán ở phía namquần đảo Malacka Nhà cầm quyền Anh đã giao nhiệm vụ cho StamfordRaffles đi tìm địa điểm để mở rộng thị trờng Ngày 29 tháng 1 năm 1819, ôngdừng chân tại đảo Singapore và nhận thấy đây là một vị trí chiến lợc quantrọng trong việc phát triển kinh tế Đến năm 1824, sau thoả thuận giữa Anh và
Hà Lan, Singapore chính thức trở thành thuộc địa của Anh Sau đó, Anh tiếnhành lập ra “Khu định c eo biển” gồm ba thuộc địa ở sát eo biển Malacka làSingapore, Malacka và Penang, lấy Singapore làm trung tâm hành chính Từkhi thực dân Anh đặt chân lên đất Singapore, ngày càng nhiều nhà buôn TrungQuốc và ấn Độ tới hòn đảo này Suốt trong thời gian đó cho đến Chiến tranhthế giới thứ hai (1939-1945), Singapore nằm dới sự thống trị của thực dânAnh
Khác với sự cai trị của ngời Hà Lan ở Indonesia, ngời Anh thi hànhchính sách mở cửa ở Singapore, chào đón thuyền buôn các nớc dới mọi sắc cờ,biến nơi đây thành thơng cảng không phải thu thuế Với chính sách này, chỉtrong một thời gian ngắn từ một làng chài lới nghèo nàn chỉ có vài chục nócnhà và là địa điểm ẩn náu của những băng cớp biển, Singapore nhanh chóngtrở thành một trung tâm buôn bán chuyển khẩu mậu dịch và phân phối lao
động lớn nhất ở Đông Nam á Sự phát triển của thơng cảng đã thúc đẩy nhanhviệc nhập c Từ một hòn đảo chỉ có dân c tha thớt, năm 1860 Singapore đã có80.792 dân, trong đó ngời Hoa chiếm 61,9%, ngời Malay 13,5%, ngời ấn Độ16,05% và ngời thuộc các sắc tộc khác là 8,55%
Sự phát triển nhanh chóng của đô thị thơng điếm, hải cảng đã thôi thúcgiới quan chức thuộc địa, giáo sĩ và giới nhà buôn mở trờng dạy học Hệ thốnggiáo dục học đờng chính quy theo kiểu nớc Anh đợc áp dụng tại Singapore từnăm 1868 Sang đầu thế kỷ XX, hệ thống giáo dục từ trung cấp và cao đẳng đ-
ợc hình thành Sự kiện này tạo ra bớc ngoặt trong việc truyền bá kiến thứckhoa học phơng Tây tại xứ sở thuộc địa này
Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, Singapore rơi vào tay quân độiThiên Hoàng của Nhật ngày 15 tháng 2 năm 1942 và đổi tên thành Senan,nghĩa là “ánh sáng phơng Nam” Sau khi Nhật bại trận quân Anh quay trở lại
Trang 17Singapore ngày 5 tháng 9 năm 1945 và lập lại hệ thống cai trị của mình Khichế độ quân quản chấm dứt vào tháng 3 năm 1946, Singapore tách khỏi thuộc
địa Straits và trở thành thuộc địa riêng, trong khi Penang và Malacka sáp nhậpvào Liên Bang Malay (Malayan Union) năm 1946
Tháng 7 năm 1947, dới áp lực của giới thơng nhân, Hội đồng Lập pháp
và Hành pháp tách làm đôi Tháng 3 năm 1948, cuộc bầu cử đầu tiên đợc tiếnhành tại Singapore để bầu chọn 6 thành viên của Hội đồng Lập pháp
Tháng 6 năm 1948, Đảng Cộng sản Malay muốn giành chính quyềnbằng bạo lực, tình trạng khẩn cấp đã đợc ban bố và kéo dài 12 năm tạiMalaysia và Singapore Ngày 22 tháng 9 năm 1951, Singapore đợc công nhận
là một thành phố (City) Cuối 1953, Chính phủ Anh lập ra một ủy ban dới sự
điều hành của George Rendel để xem xét lại quy chế pháp lý của Singapore.Những kiến nghị của Uỷ ban này đợc Chính phủ Anh chấp thuận và tạo cơ sởcho việc thành lập một Chính phủ tự trị rộng rãi hơn ở Singapore trong tơnglai
Cuộc bầu cử năm 1955 là cuộc tranh cử tự do đầu tiên trong lịch sửSingapore Số ngời đăng ký đi bỏ phiếu tăng từ 75.000 lên 300.000 ngời, đặcbiệt là ngời Hoa vốn trớc đây không quan tâm đến chính trị Mặt trận Lao
động giành đợc 10 ghế, Đảng Nhân dân hành động (PAP) đợc ba ghế DavidMarshall trở thành Bộ trởng thứ nhất đầu tiên của Singapore ngày 6 tháng 4năm 1955
Trớc sức ép của phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới cũng
nh ở Singapore ngày càng lên mạnh, đặc biệt là những sự kiện trong tháng 5năm 1955 khi diễn ra cuộc xô xát giữa Chính phủ David Marshall với côngnhân hãng xe chở khách Hock Lee Trong những năm 1955- 1958, phongtrào đấu tranh vì nền độc lập thật sự của Singapore ngày càng lên cao buộcChính phủ Anh phải nhợng bộ trao quyền quốc gia tự trị cho ngời Singapore.Theo thoả thuận ký ngày 28 tháng 5 năm 1958 giữa Chính phủ Anh và Chínhphủ bản địa thì Singapore là một quốc gia tự trị nằm trong khối Liên hiệpAnh, đứng đầu Chính phủ là Thủ tớng, có quyền thành lập Nội các riêng củamình Cuộc bầu cử Nghị viện diễn ra vào tháng 5 năm 1959 đã chứng kiến sựthắng lợi của Đảng Hành động nhân dân với 43/51 đại biểu và trở thành
Đảng cầm quyền, Lý Quang Diệu trở thành Thủ tớng đầu tiên của Singapore.Tuy nhiên, do khó khăn trong việc phát triển kinh tế nên ngày 16 tháng 9
Trang 18năm 1963, Singapore tự nguyện gia nhập Liên bang Malaysia với hy vọng sẽdựa vào sự giúp đỡ của Liên bang để xây dựng nền kinh tế của mình
Nhng việc Singapore vào Liên bang đã không đa đến viễn cảnh tốt đẹp
nh hai bên mong muốn Sau hai năm phụ thuộc Liên bang Malaysia, kinh tếSingapore phát triển không nh tính toán ban đầu, trong khi đó mâu thuẫn dântộc giữa ngời Hoa và ngời Malaysia trong cùng Liên bang, cùng với sự căngthẳng trong quan hệ giữa Indonesia với Malaysia và những chính sách bảo hộmậu dịch mà Chính phủ Liên bang thi hành đã cản trở sự phát triển củaSingapore Chính vì vậy, các nhà cải cách dân chủ Singapore lại đấu tranh đểtách khỏi Liên bang
Ngày 9 tháng 8 năm 1965 tại cuộc gặp gỡ giữa Thủ tớng Malaysia làTunka Abdul Rahman với Thủ tớng của Singapore là Lý Quang Diệu,Singapore chính thức tuyên bố tách khỏi Liên bang, trở thành một quốc gia
độc lập có chủ quyền Lý Quang Diệu tuyên bố rằng: “Kể từ hôm nay, ngày 9tháng 8 năm 1965, Singapore sẽ vĩnh viễn là một quốc gia độc lập, dân chủvới đầy đủ chủ quyền, lập nên trên những nguyên lý của quyền tự do và côngbằng hầu mu tìm phúc lợi và hạnh phúc cho nhân dân đang sinh sống trongmột xã hội tối hảo công bằng và bình đẳng” [13,15] Nền độc lập củaSingapore đợc Liên Hiệp Quốc công nhận vào ngày 21 tháng 9 năm 1965.Ngày 22 tháng 12 năm 1965, Singapore tuyên bố thành lập nớc Cộng hoà đầy
đủ và ông yusof bin Ishak trở thành Tổng thống đầu tiên
Bắt đầu từ đây Singapore phải tìm ra con đờng riêng của mình để tồn tại
và phát triển Vấn đề lớn trong lịch sử Singapore từ thời điểm này là làm thếnào tạo ra một bản sắc riêng cho Singapore? Điều gì làm nên nét riêng cho ng-
ời Singapore? Di sản văn hoá của các cộng đồng sắc tộc có thể đợc chuyểnthành bản sắc văn hoá riêng của Singapore?
Từ sau năm 1965, Singapore chuyển sang một giai đoạn mới với chiếnlợc kinh tế hớng ngoại, ráng sức đa toàn bộ các hoạt động kinh tế của mìnhhoà nhập vào hệ thống kinh tế thế giới và xây dựng một hệ thống pháp lý toàndiện, nhằm khuyến khích đầu t và phát triển Cùng với việc thực hiện chiến lợccông nghiệp hớng ra xuất khẩu, Singapore chủ trơng phát triển các ngành dịch
vụ tài chính và thơng mại quốc tế Với những chính sách và biện pháp kinh tếmới, trong khoảng 15 năm, từ một nớc với nền kinh tế chuyên buôn bánchuyển khẩu, Singapore đã trở thành một nớc có nền công nghiệp chế biến -chế tạo phát triển với một hệ thống dịch vụ kinh doanh và du lịch hấp dẫn,
Trang 19một trong những trung tâm thơng mại, hàng hải và tài chính quốc tế Đầunhững năm 80, quốc đảo nhỏ bé này đã trở thành một nớc công nghiệp mới(NIC), một “con rồng” ở châu á đợc nhiều ngời ngỡng mộ Mức thu nhậpbình quân theo đầu ngời tăng từ 435 USD (năm 1960) lên 22.000 USD (năm2000) Năm 1967, Singapore là một trong năm thành viên sáng lập ra Hiệp hộicác quốc gia Đông Nam á (ASEAN).
bè cập bờ với mọi sắc cờ Vì thế, Singapore dần dần phát triển thành trung tâmbuôn bán - môi giới và phân phối lao động cho cả khu vực Đông Nam á Và
từ đó, dòng ngời nhập c đến đây từ Trung Quốc, ấn Độ, bán đảo Malacka vàcác đảo lân cận của Indonesia tăng lên nhanh chóng, mở đầu sự hình thành xãhội đa dân tộc Singapore - một xã hội đợc tạo nên trên nền tảng dân nhập cnhiều sắc tộc, đa tôn giáo, phong phú và đa dạng về văn hoá và pha trộn nhiềuhình thái kinh tế - xã hội
Theo số liệu thống kê năm 1871, dân số Singapore đã lên tới 97.111
ời, trong số đó có 26.148 ngời nói tiếng Malay chiếm 27% bao gồm 19.250
ng-ời gốc Malay, 3.239 ngng-ời Java, 1.992 ngng-ời Bugis, 1.634 ngng-ời Boyanese và cácdân tộc thiểu số khác Ngời Hoa có 54.572 ngời (56%) Ngời ấn Độ vàMianma có 11.501 ngời bao gồm khoảng 9.000 ngời Tamil, 1.000 ngời Bengan
và các dân tộc khác Có gần 2.000 ngời Âu - Mỹ, trong số đó 800 là ngời Anh.Ngời lai âu - á có khoảng 2.000 ngời Ngoài ra, 780 ngời thuộc các dân tộckhác, trong đó hơn một nửa là ngời ảRập [23,182]
Trang 20Do buôn bán phát triển làm ăn phát đạt, dòng ngời nhập c vàoSingapore gia tăng một cách mạnh mẽ, nhất là từ đầu thế kỷ XX trở đi Cứ 10năm trong khoảng thời gian 1901-1957, số ngời nhập c vào nớc này vợt trên100.000 ngời Con số đó giảm xuống còn 33.000 trong khoảng 13 năm (1957-1970) [23,182] Từ đầu những năm 70 trở đi, số ngời nhập c vào Singaporengày càng giảm Nguyên nhân là do Chính phủ chỉ tiếp nhận những ngời nhập
c có trình độ khoa học kỹ thuật và tay nghề cao Năm 1989, dân số nớc nàylên tới 2.685.400 ngời, gồm 2.038.000 ngời Hoa, chiếm 75,9%; 408.000 ngờiMalay (15,2%); 174.000 ngời ấn Độ (6,5% bao gồm cả ngời Pakistan,Bangladet và Xri Lanca); Ngời các dân tộc khác (chủ yếu là ngời Âu, ngời lai
âu - á, ngời Nhật và ngời ảRập) có 64.000 ngời, chiếm 2,4% [23,183]
Trớc khi Nhật xâm chiếm hòn đảo này (1941), số ngời sinh ra tại đây có
tỷ lệ không lớn Theo thống kê năm 1931, số ngời sinh ra tại địa phơng chỉ đạt39% tổng số dân c của đảo Con số đó tăng lên 56% vào năm 1947 và đạt tới77% vào năm 1980 Hiện nay có khoảng 80% dân số Singapore sinh ra tại địaphơng Họ là con cháu của những ngời nhập c, thuộc thế hệ thứ hai và thứ ba
Từ nửa sau thế kỷ XIX trở đi, ngời Hoa trở thành nhóm cộng đồng dântộc chính, chiếm tỷ lệ nhiều nhất trong cơ cấu dân c Singapore Nhóm ngờiHoa đầu tiên có mặt tơng đối sớm, tính từ thời điểm 1819 trở đi Họ là nhữngngời di c từ Trung Quốc nhng đã có dịp sống ở bán đảo Malay và ở Indonesia,làm quen với hệ thống buôn bán cũng nh luật lệ của Anh và Hà Lan Nhómthứ hai là những ngời Hoa đã từng sống lẫn lộn với ngời Malay và ngời TháiLan bản địa qua nhiều thế hệ Họ thông hiểu phong tục tập quán của ngời địaphơng và đại bộ phận trong số họ làm nghề buôn bán nhỏ, thợ thủ công Saukhi Singapore trở thành cảng tự do buôn bán sầm uất, họ di c sang đây tìm cơmay Họ nhanh chóng thích nghi với luật lệ kinh doanh và cai trị của Anh, đây
là một vốn quý vô cùng cho sự phồn thịnh sau này của Singapore Nhóm thứ
ba số lợng vô cùng đông đảo nhập c ồ ạt vào Singapore là những ngời rời bỏTrung Quốc từ giữa thế kỷ XIX trở đi Họ hầu nh không hiểu biết luật tục tạiSingapore và phần lớn thuộc những ngời ven biển phía nam tỉnh Phúc Kiến.Thế nhng, cũng có nhiều ngời làm nghề buôn bán ở các thị tứ, đã từng quenvới những nớc Nam Dơng Họ đến Singapore tìm cơ hội buôn bán, hoặc sửdụng Singapore nh một cái cầu chuyển tiếp đi các nớc khác trong khu vực.Nhóm nhập c ồ ạt này không những đã tạo ra một bớc ngoặt trong cơ cấu dân
c Singapore (từ một nhóm cộng đồng dân tộc thiểu số trở thành nhóm cộng
Trang 21đồng dân tộc đa số) mà còn biến Singapore trở thành thị trờng cung cấp lao
động Theo số liệu thống kê năm 1880, có tới 50.000 ngời Hoa nhập c vàoSingapore, năm 1900 là 200.000 ngời, năm 1921 tăng lên 250.000 ngời[23,184] Nhiều ngời trong số họ sau một thời gian sinh sống, lại di c sang nớckhác hoặc quay trở về Trung Quốc Cũng nh ở các nớc khác trong khu vực,ngời Hoa ở đây đã đợc chia thành năm nhóm nhỏ theo thổ ngữ và tiếng địa ph-
ơng mà họ ra đi Đó là nhóm ngời Phúc Kiến, ngời Triều Châu, ngời Quảng
Đông, ngời Hải Khẩu và ngời Hải Nam
Nhóm ngời di c sớm nhất đến Singapore là từ các đảo Indonesia lân cận
nh ngời Java, Bugia và Baline Họ chủ yếu làm nghề buôn bán nhỏ và làm thuê.Những ngời này sống lẫn lộn, lấy vợ gả chồng với ngời Malay bản địa Quátrình hoà nhập của họ diễn ra mau lẹ, bởi vì họ có chung chủng tộc, tôn giáo vànền văn hoá Theo số liệu thống kê năm 1824, dân số Singapore lên tới 10.683ngời, trong đó ngời Malay có 6.431 ngời chiếm 60%, trong khi đó ngời Hoa chỉmới chiếm 31%, ngời ấn Độ 7% [23,185]
So với các cộng đồng khác, tỷ lệ ngời Malay sinh ra ngay tại Singaporelớn hơn Ví dụ, năm 1931 số ngời Malay sinh ra tại đây chiếm 71% tổng sốdân c của họ, trong khi đó ngời Hoa chỉ đạt 35%, ngời ấn Độ 18% và ngời cácdân tộc khác là 39% Đến năm 1980, những con số trên vẫn giữ nguyên thứbậc của nó theo thứ tự tơng ứng là 81%, 79%, 60% và 32% [23,185] Sở dĩ cóhiện tợng này là do tỷ lệ ngời Hoa nhập c vào Singapore cao hơn ngời Malay
và các dân tộc khác trong thời thuộc địa Từ ngày Singapore đợc độc lập tớinay, tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên của ngời Malay cao hơn ngời Hoa và cácdân tộc khác Thực trạng này cũng diễn ra ở liên bang Malaysia láng giềng
Ngời ấn Độ ồ ạt nhập c vào nớc này gắn liền với quá trình thuộc địahoá của Anh tại Singapore và Malay Ngời Anh đã tuyển chọn hàng trăm binhlính, công chức giúp việc (chủ yếu là cảnh sát) ngời Tamil từ miền Nam ấn
Độ đa đến đây để mở rộng và củng cố bộ máy thuộc địa Kể từ 1823 trở đi,hàng trăm ngời phạm tội từ ấn Độ, Xri Lanca bị đày đến đây lao động khổ sai,hết hạn lao dịch, họ ở lại luôn Singapore tìm cơ hội làm ăn Ngoài ra, có hàngtrăm ngàn ngời đợc tuyển mộ từ ấn Độ tới đây làm việc theo khế ớc hợp đồngdới sự giám sát của Chính phủ ấn Độ thuộc địa Mãn hạn hợp đồng, họ xin ctrú tại đảo này Đến năm 1910, chính quyền Anh tại Singapore cấm ngời ấn
Độ nhập c theo kiểu này Thế nhng dòng ngời ấn Độ nhập c vào Singaporevẫn tăng lên mạnh mẽ đặc biệt từ đầu những năm 20 đến những năm 40 củathế kỷ XX Khác với trớc kia, họ di c đến đây cùng gia đình và quần tụ xung
Trang 22quanh những khu phố ấn Độ vốn đã hình thành từ trớc đó, nh khu vựcSerangoon Road Dần dần, họ kiếm đợc công ăn việc làm nh làm cảnh sát, kếtoán, kỹ thuật máy móc, giáo viên, hoặc tự mở cửa hiệu buôn bán Từ đầunhững năm 50, dòng ngời ấn Độ nhập c vào Singapore hầu nh dừng lại vìChính phủ Singapore và ấn Độ kiểm soát gắt gao vấn đề này Năm 1990, cộng
đồng ngời ấn Độ chiếm khoảng 6,4% tổng số dân c nớc này, trong đó có 2/3
là ngời Tamil Họ đến đây từ ấn Độ, Pakistan, Bangladet, Xri Lanca thậm chí
Ngoài ba cộng đồng dân tộc chính, ở Singapore còn có cộng đồng ngờichâu Âu và một số nhóm ngời khác sinh sống Theo số liệu thống kê 1980,trong tổng số dân các nhóm cộng đồng còn lại đó có 44,9% là ngời Âu, 19,7%
là ngời Âu - á, 14,7% ngời Nhật và 4,6% ngời ả Rập [23,187]
Ngời Âu bao gồm ngời Pháp, Đức, Italia, Hà Lan và ngời nói tiếng Anhgồm ngời Anh, Scotlen, Mỹ, Canada, Ôxtrâylia và Niu Dilân Ngời thuộc nhóm
Âu di c đến đây từ thời thực dân, con cháu của họ hầu hết là những nhà t sản vàgiữ chức vụ quan trọng trong các ngân hàng, hãng kinh doanh, trong bộ máyhành chính nhà nớc hoặc là các chuyên gia về công nghệ
Ngời ảrập có mặt ở đảo này từ thế kỷ XIII, họ là những thơng nhân
đến khu vực Đông Nam á kiếm cơ may và mang theo đạo Hồi đến đây Hiệnnay, ở Singapore có khoảng vài ngàn ngời ả rập, họ quần tụ ở khu phố gọi làChợ ả rập
Ngời Nhật Bản nhập c vào Singapore tăng lên nhanh chóng gắn liền với
sự xâm chiếm của họ ở khu vực đông Nam á trong chiến tranh thế giới thứhai Từ cuối những năm 60, do có sự phát triển mau lẹ về quan hệ thơng mạigiữa Nhật Bản và Singapore có nhiều ngời Nhật xin nhập quốc tịch Singapore,
họ đã lập nên những công ty và đại lý lớn Hiện nay, đại đa số họ là những
ng-ời khá giả và đợc Chính phủ Singapore trọng dụng
Ngoài các nhóm tộc ngời nói trên ở Singapore còn có cộng đồng nhỏ béngời Acmêni Họ di c đến đây từ giữa thế kỷ XIX, hiện nay ở trung tâm thànhphố Singapore gần cạnh đờng Orchar Road còn giữ lại đờng phố Acmêni
Trang 23Từ đầu thế kỷ XX, ở Singapore xuất hiện một số ngời Việt, phần lớn họ
là ngời Bắc Việt Nam đi theo tàu buôn ngời Anh từ Hồng Kông, Thợng Hải.Vì không quen với luật lệ cai trị của Anh và phong tục địa phơng nên rất ít ng-
ời trong số họ ở lại Singapore sinh cơ lập nghiệp Sau khi Chính phủ Sài Gònsụp đổ, một số quan chức sứ quán Ngụy tại Singapore đã xin định c tại nớcnày Ngoài ra, một số nhà buôn ngời Hoa, ngời Âu từng sống ở Việt Nam, lấy
vợ ngời Việt có quan hệ buôn bán với Singapore, sau 1975 di c sang đảo nàysinh sống Những năm gần đây có nhiều ngời Việt di tản sang Mỹ, ngời Âulấy vợ ngời Việt hải ngoại cùng vợ con đến Singapore tìm cơ hội làm ăn đãnâng số ngời Việt tại đảo quốc này lên con số hàng chục ngời Từ cuối nhữngnăm 70, hàng chục ngàn ngời Việt tị nạn đổ xô vào các nớc đông Nam á,trong đó có Singapore Song Chính phủ nớc này không tiếp nhận họ Chỉ cókhoảng vài ngàn ngời Việt tị nạn đợc phép tạm trú trong một thời gian ngắntại đảo Galăng (ngoài khơi Singapore) Những ngời này dần dần đợc thanh lọc
và đa đi định c ở các nớc âu - Mỹ
Nh vậy, Singapore là một quốc gia - thành phố trẻ đợc hình thành trênnền tảng dân nhập c đa sắc tộc Tính đến tháng 6 năm 2005, số dân Singapore
là 4.351.400, trong đó ngời mang quốc tịch Singapore là 3.553.500 với mật độdân số là 6.222 ngời/km2 Cộng đồng ngời Hoa đông nhất chiếm 76,3%; tiếp
đến là cộng đồng ngời Malay 13,8%; cộng đồng ngời ấn Độ, Pakistan và XriLanca 8,3% và 1,7% ngời gốc khác
Có thể nói về phơng diện lịch sử, dân Singapore là những ngời nhập cnên có đặc tính rất cần cù lao động, biết đoàn kết với nhau vào những thời
điểm khó khăn nhất và thậm chí trong những thời điểm hoàn cảnh thay đổi
Lý Quang Diệu đã khẳng định bản lĩnh của ngời Singapore qua câu nói: “Thếgiới không nợ chúng ta sinh kế Chúng ta không thể sống bằng cái bát đi xin”[5,67] Sáng tạo, cần cù, thông minh, ham học hỏi đã trở thành cốt cách khôngthể thiếu của mỗi ngời dân Singapore
1.1.2.2 Xã hội đa văn hoá
Mỗi nhóm cộng đồng dân tộc trên mang nét đặc trng riêng về bản sắc
và nền văn hoá của mình Những ranh giới giữa các nhóm cộng đồng đó đợcbiểu hiện qua sự khác nhau về tôn giáo, ngôn ngữ và nghề nghiệp ngay từ khi
Trang 24biên giới văn hoá đợc thể hiện qua tín ngỡng giữa ngời Hoa và ngời Malay dớithời thuộc địa Anh rất rõ ràng Ngời Âu và ngời lai Âu - á thì hầu nh 100%trong số họ theo Thiên chúa giáo (99,5% năm 1891) [23,189] Khác với nhómcộng đồng trên, ngời ấn Độ có sự khác nhau về tín ngỡng Cũng theo số liệuthống kê năm 1931 có 26,1% theo Đạo Hồi, 6% theo Đạo Xích và tín ngỡngkhác Theo số liệu năm 1980 có tới 56% dân c Singapore từ 10 tuổi trở lêntheo Phật giáo và Đạo giáo [23,189] Trong thực tế, những ngời theo hai tínngỡng này hầu hết là ngời Hoa Thế nhng họ kết hợp lòng tin của mình vớigiáo huấn Khổng Tử Trong đó 1.517.660 ngời Hoa Singapore năm 1980 (từ
10 tuổi trở lên) thì có 580.334 theo Đạo giáo, 520.174 theo Phật giáo Trong
số ngời theo đạo phật của nớc này có 1.268 là ngời ấn Độ, 317 là ngời Malay
và 7.381 ngời các dân tộc khác (chủ yếu là ngời Nhật) Ngời theo đạo Hồichiếm 16% (326.867 ngời) tổng c dân Singapore từ 10 tuổi trở lên Hầu nhtoàn ngời Malay theo Hồi giáo (99,4%) Có 10% (203.517) dân c Singaporetheo đạo Thiên chúa, trong số đó 79% là ngời Hoa, 8% là ngời ấn Độ và sốcòn lại là ngời các dân tộc khác Ngời theo đạo Hindu chỉ chiếm 4% tổng sốdân c Singapore từ 10 tuổi trở lên (72.401 ngời) Tín đồ của đạo này chủ yếu
là ngời ấn Độ chỉ có 65 ngời Hoa, 60 ngời Malay và 96 ngời thuộc các cộng
đồng khác theo tín ngỡng này Ngoài ra khoảng 13% dân c Singapore từ 10tuổi trở lên không có tín ngỡng (vô thần) [23,189]
Ngời Hoa di c đến Singapore mang theo tín ngỡng của mình Họ tin vàlàm theo giáo huấn hiền triết của Khổng Tử, Mạnh Tử và Lão Tử Nhiều đềnthờ, đình chùa đợc xây dựng theo kiểu cách và màu sắc của từng nhóm thổngữ ngời Hoa (Bang) Hiện nay có nhiều đền thờ Bang, dòng họ ngời Hoa trởthành công trình văn hóa bất hủ của quốc gia nh các đền thờ Thian Hockkeng, Sion Lin và Hong San See
Nghi lễ thực hành của ngời Hoa theo Phật giáo pha trộn và đan quyệnchặt chẽ với nghi lễ của Đạo giáo, Khổng giáo Đây là nét riêng, đặc trng về
đạo Phật của ngời Hoa tại Singapore Phần lớn tín đồ phật giáo ở nớc nàythuộc Mahayana (Đại thừa) Phần còn lại thuộc trờng phái Theravada (Tiểuthừa) Hoạt động của Phật giáo ở quốc gia này đợc sự bảo trợ của tổ chức Phậtgiáo Sangha Singapore, Liên đoàn Phật giáo Singapore và trung tâm Phật giáocủa khu vực cũng nh thế giới
Những huyền thoại tôn giáo và nét độc đáo về văn hóa dân tộc của ngờiHoa đợc thể hiện ở các kiểu kiến trúc chùa chiền, nhà cửa Con rồng là biểu t -ợng cho sức mạnh tự nhiên đợc trang trí ở mọi nơi trong khu phố ngời Hoa
Trang 25Đạo Hồi đợc truyền bá tới khu vực Đông Nam á từ thế kỷ XII, sang thế
kỷ XIV trở thành một tôn giáo chính của dân c Malay, Indonesia và dân cmiền nam Thái Lan Tín ngỡng này đợc ngời Malay và ngời Indonesia di csang Singapore mang theo, nhân lên từ thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX Hiệnnay, ở Singapore có hàng chục nhà thờ Hồi giáo, chủ yếu do các tín đồ tựnguyện đóng góp xây dựng Các hoạt động của các nhà thờ nằm dới sự chỉ dẫn
và điều hành của Hội Hồi giáo Singapore
ấn Độ giáo du nhập vào Singapore gắn liền với sự nhập c của ngời ấn
Độ từ đầu thế kỷ XIX Những đền thờ lớn nổi tiếng đợm màu sắc văn hóamiền Nam ấn Độ đợc xây dựng tại đây từ giữa thế kỷ XIX nh Sri Mariamman
ở đờng phố South Bruge Road (xây dựng năm 1843), Thandaiynthapami ởTank (1859) và Srinlvasa Perumal ở Sarangoon Road Hiện nay, ở Singapore
có gần 20 đền chùa của ngời ngời ấn độ Từ năm 1917, ngời theo đạo Hindulập nên Hội đồng t vấn của mình Hội đồng không những trông nom việc nghi
lễ ở các đền chùa mà còn giúp chính phủ về tôn giáo Có nhiều tổ chức cứutrợ của địa phơng và quốc tế thờng xuyên chi phí tài chính cho việc phục hồi
và phát triển các công trình kiến trúc nghệ thuật của đạo Hindu Đền chùa củangời ấn độ không chỉ là nơi tiến hành nghi lễ trong các ngày hội tôn giáo, màcòn là nơi họp mặt của cộng đồng trong các ngày nghỉ cuối tuần, năm mới,các ngày hội truyền thống của dân tộc và ngày quốc khánh của nớc này.Ngoài sinh hoạt tôn giáo ở đền chùa, các tín đồ Hindu còn cầu nguyện ngaytại nhà riêng, hoặc ở các cơ sở kinh doanh buôn bán hay sản xuất của họ
Ngời Âu đi tìm thuộc địa, sử dụng thiên chúa giáo nh một công cụ đểthiết lập bộ máy cai trị của mình Tại Singapore, nhà thờ Công giáo đầu tiên
đợc xây dựng từ khi ngời Anh cha đặt đợc nền thống trị Đến năm 1820, ở
đảo này mới chỉ vẻn vẹn 12 ngời theo đạo công giáo Sau 8 năm, con số đótăng nhanh lên tới 200 ngời Mãi tới năm 1825, Hội đồng truyền giáo Hà Lan
và năm 1829 Hội đồng truyền giáo Pháp mới gửi đến đây các cha cố lànhnghề và họ lập nên thánh đờng lớn và trung tâm giáo dục tôn giáo tạiSingapore Tòa thánh lớn nhất đợc xây dựng xong năm 1832 ở Bras BasahRoad Theo số liệu lu trữ đến năm 1841, số tín đồ Công giáo có 500 ngời.Các hoạt động Công giáo nằm dới sự kiểm soát trực tiếp của Tòa thánhVatican
Ngay sau khi thiết lập quyền cai trị của mình, ngời Anh bắt tay xâydựng nhà thờ Tin lành đầu tiên tại Singapore Suốt hơn 140 năm cai trị (1819-
Trang 261959) tín đồ đạo này tăng dần theo thời gian Phần lớn họ đến đây từ các thị tứcủa bán đảo Malacka, từ ấn Độ và Trung Quốc Năm 1975, Chính phủ chophép các tín đồ Tin lành lập Hội đồng thánh đờng dân tộc Singapore, chăm loviệc giáo dục đạo đức tin và giúp Chính phủ trong việc tôn giáo và giáo dục.Năm 1980 có 10% số dân theo Thiên chúa giáo, trong đó có gần một nửa(91.042 ngời) theo đạo Công giáo La Mã và phần còn lại (112.475 ngời) theo
đạo Tin Lành
Ngoài các tôn giáo chính nh đã nêu, ở Singapore còn có một số ngờitheo đạo Xích Tín đồ đạo này năm 1980 mới chỉ vẻn vẹn có 16 ngời Hiệnnay, có tới khoảng 10 nhà thờ của tín đồ đạo Xích hoạt động tại nớc này Nhànớc cho phép họ thành lập Hội đồng t vấn và đợc giúp đỡ của Bộ phát triểnquốc gia
Theo bài phát biểu của Bộ trởng Cao cấp Goh Chok Tong tại Diễn đànJeddah tổ chức ngày 21 tháng 2 năm 2005 tại ảRập, ở Singapore ngời theo
đạo Phật và đạo giáo chiếm 51%; đạo Hồi: 15%; đạo Cơ Đốc: 15%; đạoHindu: 4%; 15% còn lại là những ngời vô thần hoặc theo đạo Xích, Do Thái,
đạo Zoroastrianism và đạo Bahai
Nh vậy, Singapore - một quốc gia đa tôn giáo Nhà nớc không nhữngkhông ngăn cấm tự do tín ngỡng, mà còn tạo điều kiện cho các tín đồ giữ gìn
và phát triển bản sắc văn hóa của mình thông qua việc giáo dục ở các nhàthờ
Một trong những đặc điểm văn hóa nổi bật ở Singapore là sự đa dạng vềngôn ngữ Mỗi nhóm cộng đồng dân tộc tại đây không những gìn giữ đợcngôn ngữ mẹ đẻ của mình mà còn sử dụng đợc ngôn ngữ của dân tộc kháctrong giao tiếp hằng ngày Không những thế, trong mỗi nhóm cộng đồng cũng
có nhiều thổ ngữ khác
Dới thời thuộc địa Anh, số ngời Hoa, Malay, ấn Độ nói đợc tiếng Anhchiếm tỷ lệ nhỏ bé Theo số liệu năm 1931, mới chỉ có 9,4% ngời Hoa, 4,7 %ngời Malay và 14,1% ngời ấn Độ biết tiếng Anh Năm 1947, con số đó mớichỉ đạt tỷ lệ khiêm tốn 8,7%, 6,2% và 18,6% Số ngời biết đọc và viết bằngtiếng Malay (lúc đó đợc coi là tiếng bản địa chính) cũng chiếm tỷ lệ rất thấptrong số ngời Hoa, ngời ấn Độ và ngời Âu Số liệu năm 1947 cho thấy chỉ có0,9% ngời Hoa; 4,6% ngời ấn Độ và 9,6% ngời Âu tại Singapore biết tiếngMalay [23,193] Nh vậy, trớc khi thực dân Anh trao trả quyền tự quản, đại đa
số dân c Singapore vẫn giữ và sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ làm ph ơng tiện chính
Trang 27trong giao tiếp sinh hoạt Sự ngăn cách trong giao tiếp giữa ngời ấn Độ vàngời Âu đợc thu hẹp hơn so với các nhóm cộng đồng khác song vẫn còn rấtlớn, 4 ngôn ngữ chính: Tiếng Hoa, tiếng Malay, tiếng Tamil, tiếng Anh đợcsong song phát triển và sử dụng trong từng cộng đồng Riêng ngời Hoa còn
có thổ ngữ của các địa phơng nh tiếng Quảng Đông, tiếng Phúc Kiến, tiếngTriều Châu, tiếng Hải Khâu và tiếng Hải Nam Những biên giới về ngôn ngữnày ngày càng đợc thu hẹp sau ngày Singapore độc lập
1.1.2.3 Ranh giới nghề nghiệp giữa các nhóm dân tộc
Cấu trúc nghề nghiệp của xã hội đa dân tộc Singapore ít ranh giới hơn
so với cơ cấu dân c, dân tộc và văn hoá Do môi trờng tự nhiên và chính sáchphát triển kinh tế - xã hội của chính quyền thuộc địa nên đại đa số dân cSingapore dới thời cai trị của Anh làm nghề buôn bán, dịch vụ và giao thôngvận tải đờng biển Song mức độ tham gia hoạt động kinh tế của các nhómcộng đồng trong cơ cấu ngành nghề của nớc này lại khác nhau
Trong cơ cấu dân c - dân tộc ngời Hoa tại Singapore thì ngời Phúc Kiếnchiếm tỷ lệ đông nhất (40% trớc khi Singapore giành độc lập) Họ chủ yếulàm nghề buôn bán xuất nhập khẩu, vận tải đờng biển, kinh doanh ngân hàng
và chiếm vị trí trội hơn cả so với các nhóm khác Sau đó là ngời Triều Châuchiếm 23% tổng số ngời Hoa Còn ngời Quảng Đông, lúc mới nhập c đến đảo,phần lớn chiếm lĩnh nghề nông nghiệp Trong số họ có nhiều ngời làm nghềthủ công nh nghề gỗ, hàn kim loại, làm đồ trang sức vàng bạc và thợ may Ng-
ời Hải Khẩu và ngời Hải Nam không nhiều, chủ yếu làm công nhân bốc vác ởbến cảng, làm vờn
Ngời Malay trớc đây chủ yếu làm nghề nông, đánh cá và làm dịch vụgiao thông vận tải Họ có vị trí thấp nhất trong bậc thang địa vị kinh tế - xã hội
Do đặc điểm phát triển dân số nên cộng đồng ngời Hoa chiếm tỷ lệ lớnnhất trong sự phân bố sức lao động giữa các dân tộc Theo số liệu năm 1931, thìlực lợng lao động ngời Hoa chiếm tới 73,7% tổng số lao động của Singapore (t-
ơng đơng với tỷ lệ dân c của họ là 74%) Cộng đồng ngời Malay chiếm gần13% tổng số dân c nhng sức lao động của họ chỉ chiếm có 8,5% Trong khi đó
Trang 28ngời ấn Độ chỉ chiếm 9% tổng số dân c nhng sức lao động của họ đạt tới gần14% Sự phân bố lao động của mỗi nhóm cộng đồng dân tộc trong các lĩnh vựchoạt đông kinh tế đợc miêu tả trong bảng thống kê sau:
Bảng: Phân bố lao động trong các ngành kinh tế và dịch vụ dân sinh, tính theo nhóm dân tộc và tỷ lệ % (năm 1931).
Các ngành kinh tế
và dịch vụ dân sinh
Ngời Hoa
Ngời Malay
Ngời ấn
Độ
Ngời các dân tộc khác
15,323,60,231,2
30,59,2
31,27,02,519,6
5,47,9
15,617,23,650,3
2,610,1
5,820,520,240,8
Số liệu đó cho thấy rằng số ngời Hoa làm nghề dịch vụ dân sinh (nh dạyhọc, chữa bệnh, văn phòng, khách sạn, ăn uống) và thơng mại, tài chính chiếm
tỷ lệ cao nhất trên tổng số lao động của họ Trong khi đó chỉ có 0,2% số lao
động ngời Hoa tham gia vào bộ máy hành chính quản trị và phòng thủ Lực ợng lao động của ngời Malay có mặt nhiều hơn cả trong lĩnh vực giao thôngvận tải, bu điện viễn thông, sản xuất nông nghiệp và đánh cá, trong khi đó chỉ
l-có 7% số lao động hoạt động ở lĩnh vực buôn bán và tài chính Có hơn mộtnửa số lao động ngời ấn Độ hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ dân sinh, nhngchỉ có 5% trong nông nghiệp và đánh cá Hầu hết lực lợng lao động của cácnhóm cộng đồng khác (chủ yếu là ngời châu Âu) tham gia vào lĩnh vực dịch
vụ dân sinh, bộ máy hành chính cai trị và phòng thủ, buôn bán, tài chính, sảnxuất công nghiệp Họ hầu nh không làm nghề nông, giao thông vận tải và bu
điện
Nh vậy, đã có sự chuyên môn hoá nghề nghiệp bên trong mỗi cộng
đồng và giữa các nhóm dân tộc Những ranh giới của cơ cấu nghề nghiệp này
Trang 29dần dần đợc thu hẹp lại trong quá trình cải cách kinh tế - xã hội dới thời Thủ ớng Lý Quang Diệu cầm quyền.
t-1.2 Nhu cầu phải xây dựng bản sắc quốc gia dân tộc ở Singapore
1.2.1 Khuynh hớng dân tộc chủ nghĩa
Trong lịch sử đã cho thấy ở đâu có sự liên kết giữa tôn giáo và sắc tộcthì ở đó dễ xảy ra những “kích động”, những xung đột về tôn giáo hoặc vấn đềdân tộc Những ngời công dân cùng một sắc tộc, một tôn giáo luôn cảm nhận
về tính cộng đồng rất cao Họ có thể cùng liên kết thành một tụ điểm, mộtnhóm ngời sẵn sàng đấu tranh chống lại hoàn cảnh bất lợi với họ Xã hộiSingapore là một xã hội hỗn dung nhiều dân tộc, nhiều tôn giáo và nhiều ngônngữ nên vấn đề xung đột sắc tộc, tôn giáo là một vấn đề nghiêm trọng
ở Singapore có nhiều dân tộc sinh sống và làm ăn nhng trong nhữngnăm đầu mới độc lập, không ai tự nhận mình là ngời Singapore khi đợc hỏi,
mà họ chỉ nhận mình là ngời Trung Quốc, ngời Malay hay ngời ấn Độ Thựctrạng này nói lên rằng những chủng tộc sống ở Singapore không có tình cảmgắn bó với Singapore, chẳng qua họ đến đây là vì miếng cơm manh áo, sốnggửi ở nhờ Và cũng chính vì thế mà thờng dẫn đến những cuộc xung đột giữanhóm chủng tộc này với nhóm chủng tộc khác, đẩy xã hội vào loạn lạc triềnmiên
Trong thời gian Nhật chiếm đóng Trung Quốc và các nớc Đông Nam á,chủ nghĩa dân tộc của ngời Hoa ở khu vực này, đặc biệt là ở khu vực Malay(lúc đó bao gồm cả Singapore) dâng lên rất mạnh Chính sách “chia để trị” củangời Nhật nh: đối xử tốt hơn với ngời Malay, dùng ngời Malay đàn áp ngờiHoa, đã làm bùng nổ sự thù hằn dân tộc giữa ngời Hoa và ngời Malay Sự nghi
kỵ và thù hằn dân tộc giữa hai nhóm cộng đồng này đợc nhân lên từ khi Nhật
đầu hàng đồng minh (1945) Khi cách mạng Trung Quốc thắng lợi (1949) thìchủ nghĩa dân tộc của ngời Hoa bị phân cực thành cực tả do Đảng Cộng sảnMalay lãnh đạo và cực hữu do Quốc dân Đảng kiểm soát Trên thực tế cả haitrờng phái chính trị này đều nuôi dỡng chung một chủ nghĩa dân tộc Đại Hán,hớng về quê cha đất tổ Đại đa số họ không có tinh thần hoà nhập và xây dựngmột quốc gia Singapore mới độc lập và phồn thịnh Sinh viên và học sinh ngờiHoa không muốn học tiếng Anh và tiếng Malay, mà chỉ say sa học tiếng Hoaphổ thông (tiếng Bắc Kinh) Sách giáo khoa sử dụng giảng dạy ở các trờngHoa chủ yếu xuất bản ở Thợng Hải và Đài Bắc Học sinh đợc học nhuần
Trang 30nhuyễn các môn nh văn học, lịch sử và địa lý Trung Hoa Năm 1954, học sinhcác trờng Hoa tẩy chay việc dạy tiếng Anh và gây ra ẩu đả với cảnh sát
Trong lịch sử Singapore đã có nhiều cuộc bạo loạn, mặc dù về bản chấtlúc đầu là chống lại chế độ thuộc địa nhng rồi lan sang cả lĩnh vực văn hoá.Trong những năm 1945 – 1956, làn sóng phản đối “nền văn hoá vàng” (vănhoá đồi truỵ) do sinh viên khởi xuớng, ban đầu nhằm chĩa vào những ảnh hởng
đồi bại của văn hoá phơng Tây, rồi lan sang cả việc phản đối cả những giá trịcủa văn hoá Trung Hoa truyền thống, vì họ cho nó là bảo thủ, cản trở phongtrào đấu tranh và xây dựng đất nớc Trong thời gian này, Chính phủ buộc phảiban hành sắc lệnh đăng ký việc học hành, cảnh sát có quyền kiểm soát trờnghọc và việc xuất bản sách báo Lập tức, những ngời Trung Hoa coi làn sóngphản đối văn hoá Trung Quốc và sắc lệnh trên là một ý định “kìm hãm”, một sựtuyên chiến với nền văn hoá giáo dục theo lối Trung Quốc của họ
Để thoát khỏi ách thống trị của Anh, và để có nền tảng kinh tế vữngchắc, năm 1963 Singapore sáp nhập với Liên bang Malaysia, nhng vì căngthẳng giữa ngời Hoa và ngời Malay, ngày 9 tháng 8 năm 1965 Singapore buộcphải tách khỏi Liên bang này, đợc tổ chức lại thành một quốc gia độc lập nằmtrong khối thịnh vợng chung Nớc Cộng hoà Singapore ra đời
Tách khỏi Liên bang Malaysia, Cộng hoà Singapore non trẻ phải đốimặt với nguy cơ suy thoái kinh tế trầm trọng cùng với sự đối đầu củaIndonesia và mọi quan hệ kinh tế bị cắt đứt Malaysia cũng quyết định xuấtnhập khẩu trực tiếp bỏ qua Singapore ở thời điểm này Singapore đang là mộtnớc thuộc thế giới thứ ba, đói nghèo, có tỷ lệ tăng dân số rất cao, tình trạngdịch vụ y tế và nhà ở kém, nạn thất nghiệp và mù chữ tràn lan Thêm vào đó,
an ninh xã hội thấp, các băng đảng tội phạm hoành hành, sự căng thẳng giữangời Hoa và ngời Malay đã bùng nổ trớc đó (vụ Malia xảy ra do một phánquyết sơ xuất của vị quan toà ngời Anh, đẩy một ngời lai Hồi giáo vào nữ tuviện; vụ thứ hai xảy ra trong đám giễu hành của ngời Hồi giáo nhân ngày sinhcủa Nhà tiên tri Mohammad ở quận Guylang làm 36 ngời chết, nhiều ngời bịthơng) vẫn luôn có nguy cơ bùng phát
Sự tách khỏi Liên bang Malaysia của Singapore là do nhiều nguyênnhân liên quan đến sự bất ổn định chính trị mà hai năm liên kết đợc ví nh
“cuộc hôn nhân bất hạnh” [42,220] Trong bài viết “Nation building inSingapore” của David W Chang cũng đề cập đến những nguyên nhân này:
“Cuộc xung đột chủng tộc trong nớc và chủ nghĩa Cộng sản đã trở thành mối
Trang 31đe doạ chính tiềm tàng nhất đối với đất nớc mới này Những ngời ấn Độ vàMalay đã tách biệt với phần đa ngời Trung Quốc bởi ngôn ngữ, tôn giáo vàvăn hoá Tổ chức Liên hiệp Malay ở Singapore có mối liên hệ mật thiết với đốitác của nó ở Malaysia, cũng nh Đảng Nhân dân hành động đã có với nhiềuhoạt động chính trị ở Malaysia Những cuộc bạo loạn chủng tộc mùa hè năm
1964 đã cho thấy sự bùng nổ của nạn phân chia sắc tộc Thêm vào đó, sự đốilập lẫn nhau về chính trị giữa Malaysia và Singapore cha bao giờ chấm dứttrên cây cầu bắc qua hoặc trớc hoặc sau sự liên kết vào năm 1963” [55,766]
Khuynh hớng dân tộc chủ nghĩa trên đã gây cản trở đến quá trình hoànhập và phát triển quốc gia trong một thời gian dài sau ngày độc lập (1965),Singapore bị mất phơng hớng, lúng túng trong việc giải quyết vấn đề dân tộc(sắc tộc, tôn giáo và ngôn ngữ) Singapore là một nớc độc lập nhng hầu nhkhông có ai nhận mình là ngời Singapore mà chỉ là ngời của các sắc tộc sinhsống ở đây Điều đó nói lên rằng, ngời ta không có tình cảm gắn chặt vớiSingapore Lý Quang Diệu nói: “Singapore không có ngời bản xứ, mọi ngời
đều từ nơi khác đến vì nơi đây dễ kiếm tiền Những ngời đến đây vì tiền thìkhi không còn dễ kiếm tiền nữa họ sẽ ra đi kiếm tiền nơi khác Nhng quốc gianào cũng vậy, không phải bao giờ cũng nằm trong điều kiện phát triển thuậnlợi, có thuận lợi và cũng có lúc khó khăn, khúc khuỷu Khi gặp khó khăn, nếunhân dân cả nớc không xúm vào khắc phục thì quốc gia đó sẽ bị huỷ diệt Chonên cần thiết phải tạo thành một quan niệm, làm cho mọi ngời yêu mến đất n-
ớc này và tự nguyện giữ gìn đất nớc, tự nguyện xây dựng đất nớc tốt đẹp hơn”
Trong một cuộc họp Quốc hội vào năm 1965, Thủ tớng Lý Quang Diệulúc bấy giờ đã nhận định rằng: “Thật là ngu xuẩn khi tin rằng chúng ta có thểtách bạch một cách rõ ràng ngôn ngữ, văn hoá, giáo dục khỏi những tình cảmsâu nặng, những thói quen đã gắn chặt với bản sắc dân tộc của ngời dânSingapore Nếu chúng ta để xảy ra sự đối đầu giữa các chủng tộc, thì chúng ta
đang nắm lấy một hiểm hoạ vô cùng to lớn”
Cả giới học giả và Chính phủ Singapore còn nhận ra rằng, tôn giáokhông chỉ là yếu tố xúc cảm mà còn là một yếu tố bất ổn định Nếu đợc sửdụng cho mục đích chính trị sai lầm, thì tôn giáo có thể đa lại những biến
động xã hội ngoài sự mong đợi Để ngăn chặn điều có thể xảy ra đó, Chínhphủ cần phải vạch ra giới hạn rõ ràng cho mọi hoạt động thuyết giáo và hành
đạo Năm 1991, Quốc hội Singapore đã thông qua một sắc lệnh cho phép duytrì hoạt động tôn giáo theo tinh thần “không trói chặt” cũng “không tự do”
Trang 32Bởi kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, trong thập niên 80 đã có thời kỳ việcgiảng dạy tôn giáo trong các trờng học đợc coi nh một trong những môn họcchính, với hy vọng truyền thụ cho học sinh những giá trị đạo đức của tôn giáo.Chẳng hạn, Khổng giáo đã đợc xem nh một chuẩn mực đạo đức xã hội có giátrị vĩnh viễn, và đợc đa vào các nội dung trong trờng học Nhng rốt cục, kếhoạch không thành công vì những bài giảng về tôn giáo nói chung đã bị đanxen với các bài thuyết giáo và có một vài trờng hợp còn có sự so sánh mộtcách thiếu thiện chí giữa các tôn giáo với nhau Việc giảng dạy tự do ấy sớmhay muộn cũng đặt các tôn giáo vào tình trạng đối đầu, dễ xảy ra những xung
đột tôn giáo Mặt khác, Nhà nớc sẽ rơi vào lúng túng trong việc quản lý hoạt
động tôn giáo Thực tế đã có một vài cuộc thuyết pháp nhằm mục đích tuyêntruyền chống đối, làm mất uy tín quốc gia, nh một nhóm Hồi giáo cực đoan đãchống đối lại cách mạng, phong trào “thần học giải phóng” của phái Kitô giáo
đã kêu gọi những tín đồ của họ chối bỏ việc phục vụ đất nớc Tôn giáo có thể
đợc coi nh một đại diện đầy quyền lực đối với xã hội, nó tựa nh một nhà nớckhi có một số quyền lực nhất định đối với những tín đồ của nó, lại có thể tậphợp đợc số đông ngời trung thành với lý tởng của nó và kích thích tinh thầncủa số đông ấy
1.2.2 Sự ảnh hởng của các yếu tố phi văn hoá từ phơng Tây
Mọi ngời đều biết, muốn vợt qua nớc Singapore của thập kỷ 60 nghèonàn, lạc hậu, hỗn loạn, để xây dựng nên một Singapore mới phồn vinh, pháttriển, giàu mạnh thì cần phải học tập phơng Tây, tiếp thu khoa học kỹ thuậttiên tiến của phơng Tây, cũng nh mọi thành quả văn hoá u tú của phơng Tây
Đây là con đờng duy nhất để đi đến thành công, để có thể gia nhập nhóm cácnớc tiên tiến trên thế giới Do vậy, mở cửa là nhịp cầu đi đến thành công Đảoquốc nằm ở phía nam eo biển Malacka này không chỉ mở cửa với ấn Độ Dơng
và Thái Bình Dơng, mà còn hớng ra với biển cả và bầu trời của toàn thế giới
Mở cửa là quốc sách của Singapore
Mở cửa và học tập phơng Tây đã đem lại cho sự nghiệp xây dựng kinh
tế một sự phát triển, phồn vinh to lớn Gần 30 năm, GDP của Singapore tăngtrởng gấp khoảng 10 lần, tổng giá trị sản phẩm bình quân đầu ngời đạt 13.000USD Thế nhng, đúng nh Lý Quang Diệu đã nói, biến đổi trực tiếp do pháttriển kỹ thuật đa lại là hai cái khác nhau Song song với việc đa văn hoá phơngTây vào, ảnh hởng của văn hoá phơng Tây và quan niệm giá trị phơng Tây đã
Trang 33nhanh chóng gây ra những “biến đổi” về văn hoá Singapore Sự biến đổi này
có mặt tích cực, đồng thời cũng đem lại những ảnh hởng xấu, kéo theo sự suythoái về đạo đức cho xã hội Singapore Chẳng hạn: Sự xa xỉ mù quáng theo
đuổi lối sống hởng thụ phơng Tây, tệ mại dâm, văn hoá đồi truỵ, lập sòng bàibạc t nhân, nghiện hút Điều làm ngời ta lo ngại hơn là sự xâm hại và ảnh h-ởng của quan niệm giá trị chủ nghĩa cá nhân cực đoan phơng Tây đối với gia
đình Trẻ em quen thuộc với những ngôn ngữ, minh tinh của Disney,Hollywood, những quảng cáo của phơng Tây, thậm chí còn sùng bái, khiếncho mọi ngời phải suy nghĩ
Một số ngời có học của Singapore, bao gồm các nguyên lão khai quốc
có tuổi đời cao nh Lý Quang Diệu, Ngô Khánh Thuỵ đều có những nhận thứckhá tỉnh táo trớc những vấn đề và tệ nạn tồn tại trong xã hội phơng Tây NgôKhánh Thuỵ đã từng nói: “Không thể sao chép những thứ của phơng Tây, phải
có quan niệm giá trị của bản thân chúng ta Những chuyện kỳ quái xảy ra ởphơng Tây rất nhiều, nếu chúng ta cứ sao y nguyên, thì chúng ta cũng sẽ họcnhững cái xấu, điều này tất sẽ gây sự phá hoại vô cùng to lớn đối với sức sốngcủa nền kinh tế, sự phát triển của nền kinh tế chúng ta” [7,115] Họ rút ra mộtkết luận sâu sắc là: Hiện đại hoá không có nghĩa là phơng Tây hoá “Songsong với hấp thụ nền văn hoá tiên tiến phơng Tây, phải kế thừa và giữ lạinhững nhân tố có lợi của văn hoá phơng Đông, nhằm giữ đợc cân bằng, xoá
bỏ những phần xấu xa trong văn hoá phơng Tây”
Các nhà lãnh đạo Singapore dốc sức xây dựng hiện đại hoá đất nớc,
đồng thời không ngừng nhắc nhở mọi ngời chú ý, cùng với sự phát triển kinh
tế và nâng cao đời sống của nhân dân, đặc biệt là thanh niên ngày càng bị ảnhhởng bởi t tởng hởng thụ và lối sống truỵ lạc của phơng Tây Ngời Singapore
đa số là học tiếng Anh nên rất dễ tiếp xúc với sách báo, phim ảnh Anh, Mỹ,trong đó tuyên truyền những nội dung tiêu cực, suy đồi, quan niệm giá trị cánhân chủ nghĩa cực đoan, tình dục, bạo lực, nghiện hút Một nhân sĩ có tiếng
ở Singapore nhận xét rằng, có một số ngời bắt chớc phơng Tây, nhấn mạnh cánhân hoặc an toàn lợi ích của “cái tôi”, không biết quý trọng sự phồn vinh và
ổn định mà cả nớc đã vất vả kể từ ngày thành lập đất nớc đã giành đợc Họhọc tiếng Tây, chữ Tây, sùng bái mù quáng, cái gì cũng đòi bắt chớc chế độ, ttởng và chủ nghĩa phơng Tây, không chịu du nhập một cách chọn lọc mô thứcdân chủ, tự do ngôn luận và nhân quyền nớc ngoài, đòi bắt chớc nguyên xi đavào trong nớc
Trang 34Đối với “cơn giông tố Âu Mỹ”, nếu không ra sức ngăn chặn thìSingapore sẽ xuất hiện khuynh hớng phơng Tây hoá xã hội nghiêm trọng, hậuquả của nó thậm chí còn có thể ảnh hởng đến sự phồn vinh và sống còn của
đất nớc Trên cơ sở những ý tởng sâu sắc có tầm chiến lợc đó, Chính phủSingapore đã áp dụng một loạt biện pháp ngăn ngừa, trong đó, một mặt quantrọng là tăng cờng việc quản lý đối với môi trờng thông tin tuyên truyền đạichúng
Bất kể lĩnh vực kinh tế, khoa học kỹ thuật hay lĩnh vực t tởng văn hoá,bất kể của nớc nào, của dân tộc nào, miễn là những thứ có lợi cho phát triển vàphồn vinh đất nớc, những thứ tiên tiến, “cái hay thì nghe”, đều đợc Singaporetiếp thu, học tập và sử dụng Mặt khác, đối với những thứ tiêu cực có hại chophát triển kinh tế, tiến bộ và ổn định xã hội thì bị hạn chế nghiêm ngặt và phảitìm cách loại trừ ở đây luôn khẳng định quan niệm giá trị phơng Đông,chống “phơng Tây cả gói”
1.2.3 Nhu cầu ổn định xã hội để phát triển quốc gia
ổn định xã hội là điều kiện tiên quyết để phát triển kinh tế của một đấtnớc, riêng đối với Singapore thì điều kiện này càng cần thiết Thời kỳ mới độclập, xã hội Singapore loạn lạc triền miên không dứt: gồm cả loạn lạc, bãi công
và phân biệt sắc tộc Đất nớc không có tài nguyên, chỉ có một điều kiện thuậnlợi duy nhất là vị trí địa lý tốt Để phát triển, Singapore chỉ có dựa vào sức ng-
ời, môi trờng và dịch vụ mới có thể tồn tại và phát triển cho nên phải tạo ra
đ-ợc một môi trờng xã hội ổn định Có xã hội ổn định thì các nhà đầu t nớcngoài mới an tâm, kinh tế Singapore mới có cơ phát triển Muốn làm đợc điều
đó cần phải giải quyết nhiều vấn đề nổi cộm mà một trong số đó là vấn đề dântộc và hình thành bản sắc quốc gia
Ngay từ khi lên nắm quyền lãnh đạo, PAP đã chủ trơng “một cuộc cáchmạng xã hội bằng hoà bình”: xoá đói nghèo bằng phát triển kinh tế theo hớng
T bản chủ nghĩa nhanh, mà chìa khoá chính là công nghiệp hoá trên quy môlớn, thu hút vốn đầu t nớc ngoài Tuy vậy, trong những năm đầu, kế hoạchphát triển kinh tế không mấy khả quan vì tình hình chính trị thiếu ổn địnhkhông thu hút đợc đầu t nớc ngoài Năm 1971, trong cuộc hội thảo về Chủnghĩa t bản và chế độ dân chủ, Thủ tớng Lý Quang Diệu khi nêu những nhân
tố quan trọng dẫn tới sự thành công của đất nớc đã khẳng định: “Không có cụcdiện chính trị ổn định cũng nh sự lãnh đạo chính trị hợp lý thì không thể nói
đến phát triển kinh tế Đầu t xây dựng nhà máy chắc chắn là rất ít, chức vị làm
Trang 35việc cũng chắc chắn là rất ít, số ngời thất nghiệp chắc chắn là rất nhiều, tìnhhình nguy hiểm cho an ninh nội bộ cũng chắc chắn sẽ phát sinh từ đó” Ôngcòn xếp thứ tự ba vấn đề: chính trị, kinh tế và an ninh căn cứ vào tính chấtquan trọng của nó đối với tiền đồ của thế hệ trẻ [47,78].
Tổng thống Singapore nhiệm kỳ 1985 - 1993 Hoàng Kim Huy nói “ổn
định chính trị là cơ sở đạt đợc thành tựu kinh tế của Singapore” Thủ tớng GohChok Tong nói “muốn có kinh tế phồn vinh, trớc tiên phải đảm bảo nền chínhtrị ổn định” Bộ trởng lao động Lý Ngọ Toàn nói “ổn định chính trị và côngnghiệp hài hoà là nhân tố quan trọng nhất trong thành công của Singapore”[7,236]
Trong một bài phát biểu khác ngày 9 tháng 5 năm 1991 trong Hội thảo
“Triều - Nhật tân văn”, Lý Quang Diệu đã nói về tầm quan trọng của việc giữvững ổn định chính trị với các nớc châu á, trong đó có Singapore: “ởSingapore, ngời Anh đã để lại cho chúng ta bộ máy Chính phủ đại nghị của
họ Vấn đề của chúng ta trớc sau vẫn là vấn đề duy trì ổn định nh thế nào Vìtrong xã hội có nhiều chủng tộc, ngôn ngữ và tôn giáo khác nhau này có nhân
tố không ổn định trong việc thực hiện mỗi ngời một lá phiếu Chúng ta buộcphải coi ổn định chính trị là nhiệm vụ hàng đầu” [47,250]
Tiểu kết chơng 1
Singapore là một đất nớc của ngời nhập c Khi thuộc về Anh năm 1819,
ở đây chỉ có vài trăm ngời Malay sinh sống một cách đơn giản bằng nghề
đánh cá Đến những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, nơi này đã trở thànhmột thành phố - quốc gia thịnh vợng với dân số khoảng 2,7 triệu ngời và thunhập đầu ngời cao nhất châu á, chỉ sau Nhật Bản
Địa lý là mặt then chốt trong lịch sử Singapore Toạ lạc tại đỉnh cuốicủa bán đảo Malay, cách lục địa qua một dải nớc nông và hẹp, Singapore làmột hòn đảo nòng cốt trong vùng vịnh Malacka Lịch sử Singapore đã tiếntriển xung quanh việc chuyển vị trí chiến lợc của mình thành lợi nhuận thơngmại trong khi giữ mối quan hệ tốt đẹp với các nớc láng giềng
Singapore là một thành phố - quốc gia có đặc thù về dân tộc khi cónhiều sắc tộc cùng sinh sống nh ngời Hoa, ngời ấn, ngời Malay và các dân tộckhác Mỗi dân tộc có đặc trng riêng về văn hoá, ngôn ngữ, tôn giáo cũng nhtrong cơ cấu nghề nghiệp Dới thời cai trị của Anh, Singapore hầu nh còn giữnguyên vẹn những giá trị văn hoá khác nhau của một xã hội nhiều dân tộc.Ngời Malay theo Hồi giáo, nói tiếng mẹ đẻ, mang phong tục tập quán Malay
Trang 36Ngời ấn Độ theo Hindu giáo, nói tiếng Tamil và mang chế độ đẳng cấp NgờiHoa thờ cúng tổ tiên, thuộc thành viên của dòng họ và nói tiếng Hoa địa ph-
ơng (chủ yếu là tiếng Phúc Kiến) Ngời Anh là ngời theo Thiên chúa giáo,mang phong tục luật lệ của Anh và nói tiếng Anh Mặt khác, những yếu tố phivăn hoá từ “nguồn văn hoá” phơng Tây cũng là một nguy cơ với Singapore Vìthế, yêu cầu đặt ra cho sự ổn định và phát triển đất nớc này là phải giải quyếttốt vấn đề dân tộc
Một nét lớn trong lịch sử Singapore là những nỗ lực liên tục trong việckhẳng định cá tính của Singapore Là một ngời Singapore có nghĩa là nh thếnào? Làm sao để chuyển hoá nền văn hoá của các sắc tộc đang sinh sống ở
đây thành một nền văn hoá đặc trng Singapore? Đó là những câu hỏi mà ngờiSingapore đặt ra trong quá trình hình thành bản sắc quốc gia - dân tộc mình từnhững đặc thù lịch sử
Trang 37Chơng 2
Chính sách của Nhà nớc Singapore về xây dựng
bản sắc quốc gia - dân tộc (1965 - 2005)
2.1 Xây dựng hệ thống thể chế Nhà nớc
2.1.1 Quan niệm về chính quyền
Do Singapore có nhiều đặc thù nên ngay hệ thống chính trị nớc nàycũng khác các nớc Vì chỉ là một hòn đảo và lại mới tách ra từ Malaysia năm
1965, nên Singapore phải xây dựng mọi thứ từ đầu Một câu hỏi đặt ra là phảibắt đầu từ đâu? Đối với những nớc có bề dày lịch sử và văn hoá thì các nhàlãnh đạo thờng tìm cách tác động vào lòng tự tôn dân tộc của công dân nhằmtạo ra một khối thống nhất làm cơ sở thực thi một ý đồ chính trị nào đó ởSingapore, điều này không thể thực hiện đợc Vốn dĩ chỉ là một thơng cảng lại
có đến ba cộng đồng sắc tộc cùng chung sống theo bản sắc và tôn giáo riêng,các nhà lãnh đạo Singapore phải bắt đầu từ con số không Đấy là cha kể tớinhững can thiệp từ bên ngoài Ông Rajaratnam, một trong những nhà sáng lập
ra Singapore hiện đại đã từng nói: “Là ngời Singapore không phải xuất phát từ
ý nghĩ tổ tiên, dòng giống mà từ lòng tin và sự lựa chọn” [38,51]
Trớc tiên, các nhà lãnh đạo Singapore cần định hớng cho đợc chiến lợctổng thể và các bớc đi cụ thể trong đó xác định đợc bớc đầu tiên là quan trọngnhất Chính xuất phát từ đặc thù có một không hai này mà lãnh đạo Singapore
đã quyết định xây dựng hệ thống thể chế nhà nớc trớc khi nghĩ đến khái niệmbản sắc dân tộc Từ việc xây dựng hệ thống thể chế gắn sự tồn tại của n ớcCộng hoà Singapore với truyền thuyết của hòn đảo nh là một tiền định và tạo
ra biểu tợng quốc gia là con S tử biển (Merlion)
Cùng với Nhà nớc và biểu tợng quốc gia, khái niệm công dân Singaporedần dần hình thành bất luận dòng máu chảy trong họ và nền văn hoá lâu đờicủa ông cha họ Quan niệm này không chỉ đem lại cho Singapore sự thần kỳ
về phát triển kinh tế mà đặc biệt đã hình thành nên một quốc gia - dân tộc thật
sự, mặc dù cho đến nay vẫn còn nhiều thứ vay mợn
Xã hội Singapore có những đặc thù về tự nhiên, địa lý, kinh tế và chiếnlợc, không giống nớc nào kể cả với những nớc nhỏ nh Đan Mạch, Niu Dilân
Do vậy, hệ thống chính trị của Singapore không thể “tự do, đối lập, cởi mở vàcạnh tranh chính trị” theo kiểu phơng Tây đợc Dân chủ với Singapore là cơchế điều chỉnh để đáp ứng đợc những nhu cầu của đất nớc Khi trả lời câu hỏi
Trang 38của Chủ tịch trờng Đại học Harvard về tơng lai của Singapore trong 40 nămnữa tại buổi Hội thảo trong khuôn khổ Hội nghị thờng niên của Quỹ Tiền tệquốc tế (IMF) và Ngân hàng thế giới (WB) họp ở Singapore từ ngày 11 đếnngày 20 tháng 9 năm 2006, ông Lý Quang Diệu đã nói: “Hệ thống chính trịSingapore chỉ dựa trên tiêu chí tài năng và cần một loại ngời đặc biệt có nănglực để vận hành hệ thống đó Một Chính phủ yếu kém có nghĩa là cáo chungvới Singapore Singapore phải tránh cả hai thái cực: hoặc các tớng lĩnh quân
đội, hoặc phe đối lập lên nắm quyền, vì cả hai thái cực đó đều dẫn đến sự sụp
đổ của Singapore Điều kiện duy nhất để Singapore tồn tại và hội nhập vào thếgiới hiện đại là bộ máy chính quyền phải gọn nhẹ, hiệu quả và trong sạch”
2.1.2 Hệ thống chính trị
Singapore là một nớc Cộng hoà Nghị viện dựa theo mô hình Westmintercủa Anh Hệ thống chính trị Singapore hoạt động dựa trên nguyên tắc đa Đảng,nhng gần giống với chế độ dân chủ độc Đảng vì kể từ khi giành đợc độc lập đếnnay, Đảng Nhân dân hành động (People’s Action Party - PAP) liên tục cầmquyền trong khi đó phe đối lập lại quá yếu Singapore hiện có 24 Đảng đăng kýhoạt động chính thức, nhng ngoài Đảng cầm quyền (PAP) ra thì chỉ có 3 Đảng
là có hoạt động đáng kể Đó là Đảng Lao động (WP), Đảng Dân chủ Singapore(SDP), và Liên minh Dân chủ Singapore (SDA)
Trang 39- Hiến pháp
Singapore có Hiến pháp riêng vào ngày 16 tháng 9 năm 1963 khi trởthành một bang thuộc Liên bang Malaysia Sau đó, Singapore tách khỏiMalaysia (1965), Hội đồng Lập pháp đã thông qua Đạo luật độc lập củaSingapore vào ngày 22 tháng 12 năm 1965 và tiến hành sửa đổi Hiến pháp N-
ớc Cộng hoà Singapore đợc tổ chức theo chế độ đại nghị, một viện, đứng đầu
là Tổng thống Nghị viện bầu ra Tổng thống Các cơ quan Lập pháp, Hànhpháp và T pháp đợc quy định rõ trong Hiến pháp
- Tổng thống
Theo Hiến pháp Singapore, Tổng thống là nguyên thủ quốc gia Trớcnăm 1991, Tổng thống do Quốc hội bầu ra, nên chỉ có vai trò khánh tiết.Tháng 1 năm 1991, Singapore sửa đổi Hiến pháp quy định Tổng thống đợcbầu ra theo thể thức phổ thông đầu phiếu trực tiếp và có nhiệm kỳ 6 năm Đây
là một trong những thay đổi thể chế và chính trị lớn nhất trong lịch sử củaSingapore Tổng thống đầu tiên do dân trực tiếp bầu ngày 28 tháng 8 năm
1993 là ông Ong Teng Cheong
Một điểm đáng lu ý trong hệ thống chính trị Singapore là theo Hiếnpháp, bên cạnh Tổng thống có Hội đồng Tổng thống về các quyền thiểu số(Presidential Council for Minority rights) Hội đồng này có nhiệm vụ xem xétmọi dự luật đã đợc Quốc hội thông qua để xác định xem liệu có điểm nàomang tính chất phân biệt tôn giáo và sắc tộc không Nếu đợc Hội đồng nàychấp nhận thì dự luật sẽ đợc đệ trình lên Tổng thống để ban hành Hội đồnggồm chủ tịch, một th ký và 15 thành viên đều do Tổng thống bổ nhiệm theokhuyến nghị của Nội các
Tổng thống hiện nay là ông Stellapan Rama Nathan, nhậm chức nhiệm
kỳ đầu tiên ngày 1 tháng 9 năm 1999 và bắt đầu nhiệm kỳ thứ hai ngày 1tháng 9 năm 2005
- Nội các
Nội các của Chính phủ bao gồm các Bộ, Ngành và Thủ tớng Đảng nàochiếm đợc nhiều ghế nhất trong Nghị viện thì sẽ đợc Tổng thống lựa chọn ng-
ời u tú nhất của Đảng đó làm Thủ tớng Các thành viên khác của Nội các cũng
là những ngời do Tổng thống bổ nhiệm từ những đại biểu Nghị viện, sau khi
đã đợc Thủ tớng nhất trí Nội các Chính phủ chịu trách nhiệm tập thể trớcNghị viện các công việc của mình Hiện nay trong Nội các Chính phủSingapore gồm có 1 Thủ tớng và 14 Bộ trởng
- Quốc hội (Nghị viện)
Trang 40Đại biểu Nghị viên do dân bầu ra bằng phơng thức phổ thông đầuphiếu và bỏ phiếu kín Theo Hiến pháp một nhiệm kỳ của đại biểu Nghị viện
là 5 năm Ba tháng trớc khi nhiệm kỳ của đại biểu Nghị viện kết thúc, sẽ tổchức bầu cử Công dân Singapore từ 21 tuổi trở lên, đủ tiêu chuẩn theo Hiếnpháp quy định, thuộc bất kỳ đảng phái chính trị nào, đ ợc quyền ứng cử vàbầu cử vào Nghị viện
Đứng đầu và điều hành các hoạt động của Nghị viện là Chủ tịch Nghịviện Nếu Chủ tịch vắng mặt thì Phó chủ tịch sẽ làm thay Cả hai chức này đều
do các thành viên của Nghị viện bầu ra
- Cơ quan T pháp
Quyền lực T pháp ở Singapore đợc thực thi thông qua Bộ pháp luật và
hệ thống toà án Bộ pháp luật có ba nhiệm vụ chính là: Giám sát việc pháttriển hệ thống pháp luật ở Singapore; Xây dựng và thể chế hoá các chính sách
và tập tục; Phát triển vững chắc chế độ sở hữu tri thức
Hệ thống t pháp ở Singapore bao gồm Toà án Tối cao và các Toà ántrực thuộc Trong Toà án Tối cao có Toà Đại hình và Toà Phúc thẩm Chánh
án Toà án Tối cao do Tổng thống bổ nhiệm sau khi tham vấn Thủ tớng
2.1.3 Một Nhà nớc đa sắc tộc và đa văn hóa.
Hệ thống chính trị của Singapore cũng đợc xây dựng trên cơ sở hìnhthành ba cơ quan quyền lực độc lập nhau: Lập pháp, T pháp và Hành pháp, nh-
ng nó mang một sắc thái riêng của một quốc gia đặc thù nh Singapore
Hệ thống này mang đậm nét một Nhà nớc đa sắc tộc và tôn giáo Để
đảm bảo sự hài hoà về mọi mặt trong xã hội, ngoài các đạo luật và quy địnhhành chính nghiêm ngặt trấn áp mọi hành vi phân biệt sắc tộc và tôn giáo,Singapore còn lập ra các thể chế đặc thù Đó là Hội đồng Tổng thống về cácquyền thiểu số, các khu vực bầu cử theo Đại diện cộng đồng Do phe đối lậpquá yếu và để cho thể thức dân chủ đa Đảng hoạt động thực chất, Hiến phápSingapore quy định trong Quốc hội có một nghị sĩ lựa chọn đại diện cho phe
đối lập và 9 nghị sĩ chỉ định đại diện cho các khuynh hớng t tởng khác nhautrong xã hội
Số ghế trong Nghị viện cũng đợc quy định phù hợp để đảm bảo vấn đềsắc tộc Trong 84 ghế đợc bầu trực tiếp thì có 75 ghế đợc phân bổ để tranh cử
ở 14 khu vực bầu cử theo đại diện cộng đồng tuỳ theo số lợng cử tri của mỗicộng đồng sắc tộc trong khu vực bầu cử đó Khu vực bầu cử theo Đại diệncộng đồng (GRCs) đợc thành lập theo sửa đổi Hiến pháp năm 1988 Mục đích