Đối tợng nghiên cứu Đề tài chủ yếu tập trung làm rõ những vấn đề sau: Vai trò của mặt trận ngoạigiao trong việc thúc đẩy cuộc kháng chiến chống Pháp, phá vòng vây của chủ nghĩa đế quốc
Trang 1bộ giáo dục và đào tạotrờng đại học vinh
Trang 21.1 Sự ra đời của nền ngoại giao hiện đại và những hoạt động đối ngoại
1.1.3 Hoạt động ngoại giao trong trong nổ lực tìm kiếm đồng minh
đẩymạnh cuộc kháng chiến ………
h ơng 2: Vai trò của mặt trận ngoại giao góp phần thúc đẩy cuộc kháng
h ơng 3 : mặt trận ngoại giao với việc kết thúc cuộc kháng chiến chống pháp - 72
Trang 3đất nớc có chiến tranh, hoặc có nguy cơ bị uy hiếp từ bên ngoài, ngoại giao là mộttrong những công cụ quan trọng, pháp bảo đắc dụng nhằm khẳng định độc lập, chủquyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ
Trang 41.2 Cách mạng tháng Tám thành công, khai sinh nhà nớc Việt Nam dân chủcộng hoà, mở ra một kỷ nguyên mới cho lịch sử quốc gia, dân tộc Từ đây, nềnngoại giao hiện đại của nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời và ngày càng trởngthành nhanh chóng trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng, giành độc lập, tự do,thống nhất đất nớc Trong sự nghiệp kháng chiến chống Pháp của dân tộc giai đoạn
1950 - 1954, dới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngoạigiao với vị thế là một mặt trận đấu tranh riêng biệt, song song tồn tại bên cạnh mặttrận đấu tranh chính trị và quân sự, trở thành một mặt trận quan trọng, mủi nhọnxung kích với những đóng góp to lớn, phối hợp với các mặt trận đấu tranh khác, gópphần đa sự nghiệp kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc ta giành đợcnhững thắng lợi vẻ vang
1.3 Mặt khác, nghiên cứu về vai trò của mặt trận ngoại giao trong cuộckháng chiến chống thực dân Pháp giai đoạn 1950 - 1954, đi sâu tìm hiểu nhữngkhía cạnh cụ thể về đờng lối, phơng pháp và nghệ thuật đấu tranh trên mặt trậnngoại giao; một lần nữa chúng tôi muốn khẳng định và tôn vinh tài năng, trí tuệ,cống hiến của những nhà ngoại giao cách mạng Việt Nam cho sự nghiệp đấu tranhgiải phóng đất nớc Những con ngời sinh ra ở một dân tộc “nhợc tiểu, đất khôngrộng, ngời không đông”, nhng họ xứng đáng là đại diện tiêu biểu cho trí tuệ và bảnlĩnh Việt Nam trong cuộc đấu trí cân nảo trên bàn đàm phán với kẻ thù và nhữngtrung tâm quyền lực lớn của thế giới Đó cũng là cách để chúng ta thắp lên lòng tựhào, cùng tinh thần tự tôn dân tộc chúng ta, một dân tộc anh hùng và trí tuệ
1.4 Trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng đất nớc hôm nay, ngoại giao vẫn giữamột vị trí chiến lợc trong quá trình mở rộng các mối quan hệ quốc tế, kinh tế đốingoại cũng nh đa Việt Nam hội nhập sâu hơn vào cộng đồng khu vực và thế giới,
đặc biệt là công cụ quan trọng trong việc duy trì và bảo vệ chủ quyền, lợi ích củaquốc gia dân tộc Tình hình trong nớc và quốc tế hiện nay đang đặt ra cho chúng tanhững cơ hội và những thách thức không nhỏ, đòi hỏi chúng ta phải có đờng lốingoại giao đúng đắn, ứng phó linh hoạt với những biến chuyển phức tạp của tìnhhình khu vực, thế giới Việc kế thừa, vận dụng và phát huy những thành công bàihọc ngoại giao của thời kỳ trớc là vô cùng quan trọng và cần thiết để bảo vệ vữngchắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, cũng nh có những đónggóp to lớn hơn nữa cho mục tiêu chiến lợc công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc,phấn đấu vì mục tiêu “dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”,
do Đảng ta lãnh đạo
Trang 5Với những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài “Vai trò của mặt trận
ngoại giao trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Pháp giai đoạn 1954” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
1950-2 Lịch sử vấn đề
Ngoại giao Việt Nam nhất là giai đoạn kháng chiến chống Pháp đã đợc cácnhà nghiên cứu đề cập từ những góc độ chuyên môn khác nhau, trong đó có nhiềucông trình đã công bố liên quan đến đề tài mà chúng tôi nghiên cứu
Đáng kể nhất là những công trình của nhà báo, luật gia, nhà ngoại giao LuVăn Lợi Gần suốt đời gắn bó với ngoại giao, ông đã mong muốn nghi lại những sựkiện chính của quá trình hình thành và trởng thành của nền ngoại giao Việt Nam
hiên đại Tác phẩm tiêu biểu của ông là cuốn “Ngoại giao Việt Nam 1945- 1995”
nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội - 2004 Đây là cuốn sách đã nghiên cứukhá kỹ về quá trình hoạt động của nền ngoại giao nớc nhà Qua đó ta thấy đợc quátrình trởng thành và lớn mạnh của mặt trận ngoại giao trong 2 cuộc kháng chiến vĩ
đại của dân tộc cũng nh trong sự nghiệp xây dựng và đổi mới đất nớc
Công trình tiêu biểu phải kể đến nữa đó là cuốn “Ngoại giao Việt Nam hiện
đại vì sự nghiệp dành độc lập và tự do( 1945- 1975”, Nhà xuất bản chính trị quốc
gia - 2001 của tác giả Nguyễn Phúc Luân Cuốn sách này đã khái quát quá trình đấutranh và những hoạt động ngoại giao của Đảng và Nhà nớc ta trong suốt 30 năm,bao quát những hoạt động ngoại giao của ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp(1946- 1954) và trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (195V - 1975) Không chỉ hệthống những vấn đề lớn của lịch sử ngoại giao Việt Nam cuốn sách còn nêu lên những
đặc điểm và bài học kinh nghiệm của ngoại giao thời kỳ chiến tranh cách mạng
Bên cạnh đó Học viên quan hệ quốc tế đã công bố nhiều công trình nghiêncứu về ngoại giao và chính sách đối ngoại của Đảng và nhà nớc ta Tiêu biểu nhất
phải kể đến đó là cuốn “Đấu tranh ngoại giao trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân (1945- 1954)” Đây là một công trình nghiên cứu cơ bản về lịch sử đấu
tranh ngoại giao trong suốt cuộc kháng chiến chống Pháp Ngoài ra còn phải kể đến
cuốn “chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác ngoại giao” tác phẩm này đã tái hiện lại
những hoạt động ngoại giao chủ yếu chủ tịch Hồ Chí Minh kể từ khi Ngời về nớclãnh đạo cách mạng năm 1941 tới khi cách mạng tháng Tám thành công và thời kỳsau cách mạng tháng Tám tới khi Ngời qua đời vào năm 1969 Qua đó, cuốn sáchnày đã tổng kết những bài học chủ yếu và kinh nghiệm quý báu trong lĩnh vực
Trang 6ngoại giao của chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc, nhà ngoạigiao kiệt xuất của Việt Nam.
Cuốn “Hoạt động đối ngoại của chủ tịch Hồ Chí Minh trong kháng chiến chống Pháp” của tiến sĩ Đặng Văn Thái (nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội-
2004) đã khái quát những hoạt động đối ngoại của chủ tịch Hồ Chí minh, sự lãnh
đạo kiệt xuất trong lĩnh vực ngoại giao của ngời trong 9 năm kháng chiến chốngPháp và nghệ thuật ngoại giao tài tình của chủ tịch Hồ Chí Minh
Ngoài những công trình chuyên khảo nói trên, vấn đề ngoại giao còn đợc đề cậprải rác trong các công trình thông sử lịch sử Việt Nam, các bài nghiên cứu và báo chí
Nhìn chung những công trình này mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu quátrình phát triển và những hoạt động chủ yếu của ngoại giao Việt Nam, chứ cha cómột công trình chuyên khảo nào viết về vai trò của mặt trận ngoại giao trong cuộckháng chiến chống Pháp giai đoạn 1950-1954 mà đề tài của chúng tôi tập trungnghiên cứu Trên cơ sở kế thừa kết quả của các tác giả đã công bố chúng tôi đi sâu hệthống và phân tích vai trò của mặt trận ngoại giao đối với thắng lợi của cuộc khángchiến chống thực dân Pháp
3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tợng nghiên cứu
Đề tài chủ yếu tập trung làm rõ những vấn đề sau: Vai trò của mặt trận ngoạigiao trong việc thúc đẩy cuộc kháng chiến chống Pháp, phá vòng vây của chủ nghĩa
đế quốc thiết lập đợc quan hệ ngoại giao với các nớc xã hội chủ nghĩa, nêu cao cuộcchiến tranh chính nghĩa của nhân dân ta, củng cố tăng cờng liên minh chiến Việt -Miên - Lào, đặc biệt là tranh thủ sự ủng vật chất, kinh nghiêm chỉ đạo chiến tranhcủa Trung Quốc, Liên Xô Vai trò của ngoại giao trong việc kết hợp với thắng lợiquân sự trên chiến trờng với hoà và đàm tại hội nghị Giơnevơ 1954 kết thúc thắnglợi cuộc kháng chiến chống Pháp
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về vai trò của mặt trận ngoại giaotrong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp giai đoạn từ 1950-1954
Về nội dung: Đề tài tập trung đi sâu phân tích vai trò của mặt trận ngoại giao
đối với sự phát triển và kết thúc thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp
4 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn t liệu
Trang 7Luận văn đợc thực hiện dựa trên những nguồn t liệu chủ yếu sau:
- Tài liệu lu trữ
- Văn kiện Đảng
- Các công trình chuyên khảo viết về ngoại giao
- Hồi ký của các tác giả trong và ngoài nớc
- Báo chí viết và báo điện tử
4.2 Phơng pháo nghiên cứu
Để giải quyết vấn đề mà đề tài đặt ra chúng tôi dựa vào chủ nghĩa duy vậtlịch sử, t tởng Hồ Chí Minh, những quan điểm đờng lối chính sách của đảng làm cơ
sở phơng pháp luận cho việc nghiên cứu Trên cơ sở đó trình bày sự kiện một cáchtrung thực, xem xét sự vận động của lịch sử trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau từ
đó có cái nhìn khách quan chính xác về các sự kiện lịch sử
Để hoàn thành đề tài này chúng tôi sử dụng hai phơng pháp chủ yếu là phơngpháp lịch sử và phơng pháp lôgic Chúng tôi đặc biệt quan tâm xác minh phê pháncác nguồn t liệu vì đề tài của chúng tôi trên cơ sở thu thập nhiều nguồn t liệu khácnhau: t liệu dới dạng hồi ký của các tác giả trong và ngoài nớc và t liệu tập hợp trêncác trang Web
5 Đóng góp của đề tài
5.1 Trớc hết luận văn đi sâu phân tích quá trình phát triển và những hoạt
động ngoại giao chủ yếu của Đảng và nhà nớc ta trong giai đoạn cuối của cuộckháng chiến chống Pháp giai đoạn 1950 - 1954 Qua đó, thấy đợc những đóng góp
to lớn của mặt trận ngoại giao trong thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp
5.2 Bên cạnh đó luận văn đi sâu tìm hiểu những hoạt động ngoại giao cụ thểtrên nhiều phơng diện Từ đó thấy đợc vai trò và những đóng góp to lớn của mặttrận ngoại giao trong việc phá thế bao vây cô lập của chủ nghĩa đế quốc, đa cuộckháng chiến chính nghĩa của nhân dân dân ta đến với nhân loại tiến bộ trên thế giới
và trong việc tranh thủ sự ủng quốc tế cho cuộc kháng chiến của dân tộc ta, cũng cố
và tăng cờng liên minh chiến đấu giữa 3 nớc Đông Dơng Đặc biệt trong việc mởcuộc tiến công trên mặt trận ngoại thúc đẩy giải pháp hoà bình với hội nghịGiơnevơ kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
5.3 Qua việc nghiên cứu vai trò của mặt trận ngoại trong cuộc kháng chiếnchống thực dân Pháp giai đoạn 1950 – Miên – 1954 Luận văn còn rút ra những bài họckinh nghiệm trong đấu tranh ngoại giao, đặc biệt là trong hội nghị Giơnevơ Những
Trang 8bài học về phát huy đúng thời điểm, giành thắng lợi từng bớc làm cơ sở tiến lêngiành thắng lợi hoàn toàn, ngoại giao phải kết hợp chặt chẽ với đấu đấu tranh quân
sự và đấu tranh chính trị, luôn nâng cao tinh thần độc lập, tự chủ sáng tạo trong đàmphán, xử lí linh hoạt mối quan hệ với các nớc lớn là những bài học kinh nghiệmvô giá đóng góp vào kho tàng lí luận của ngoại giao việt Nam, phục vụ cho sựnghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc
5.4 Ngoài ra luận văn còn là nguồn tài liệu tham khảo đáng tin cậy và bổ íchtrong học tập, giảng dạy ở các trờng đại học và phổ thông, khi học phần lịch sử ViệtNam hiện đại, đặc biệt là lich sử trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp
6 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, phần nội dungluận văn gồm 3 chơng
ChơngI: Sự ra đời của nền ngoại giao Việt Nam hiện đại và thắng lợi ngoại giao đầu 1950
Chơng II: Mặt trận Ngoại giao góp phần thúc đẩy cuộc kháng chiến chống Pháp (1950 - 1954)
Chơng III: Mặt trận ngoại giao với việc kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp - Hội nghị Giơnevơ 1954
b NộI DUNG Chơng i
Sự ra đời của nền ngoại giao việt nam hiện đại và thắng lợi ngoại giao đầu năm 1950 1.1 Sự ra đời của nền ngoại giao Việt Nam hiện đại và những hoạt động
đối ngoại đầu tiên của nhà nớc ta
1.1.1 Sự ra đời của nền ngoại giao hiện đại
Cuộc chiến tranh xâm lợc của thực dân Pháp đã biến Việt Nam từ một quốcgia có chủ quyền trở thành một nớc thuộc địa vẫn còn tàn d phong kiến Ngay khithực dân Pháp nổ súng xâm lợc và đặt ách đô hộ lên tổ quốc ta, hàng trăm cuộc đấutranh lớn nhỏ của nhân dân ta liên tiếp diễn ra với mục đích dành lại nền độc lậpcho dân tộc Năm 1930, Đảng cộng sản Việt Nam ra đời đã nhanh chóng khẳng
định vai trò và vị thế trong dòng thác tranh đấu cứu quốc, cứu vong Từ đây, Đảngcộng sản Việt Nam là ngọn cờ duy nhất chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam,lãnh đạo dân tộc Việt Nam vùng lên chống lại ách thống trị của thực dân Pháp, phát
Trang 9xít Nhật cùng bè lũ tay sai phong kiến Dới sự lãnh đạo của Đảng, năm 1945 cuộccách mạng tháng Tám nổ ra và giành đợc thắng lợi, mở ra một trang sử mới cho dântộc ta Cách mạng tháng Tám thành công, nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đờicũng là thời điểm đánh dấu sự ra đời của nền ngoại giao mới, ngoại giao cáchmạng - ngoại giao Việt Nam hiện đại
Tuy nhiên chúng ta phải thấy, ngoại giao Việt Nam hiện đại ra đời không đơnthuần chỉ là con đẻ của cách mạng tháng Tám, nó còn là kết quả tất yếu của quátrình vận động cách mạng trên mặt trận đối ngoại do Đảng ta và Chủ tịch Hồ ChíMinh lãnh đạo trớc khi cuộc cách mạng tháng Tám nổ ra Những nhân tố đó đã tạonên những viên gạch đầu tiên, có vị trí tảng nền cho sự hình thành nền ngoại giaocủa nớc Việt Nam mới
Ngay từ đầu trong quan điểm của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cách mạnhViệt Nam là một bộ phận gắn bó khăng khít với cách mạng thế giới Đảng và Bácluôn ý thức rất rõ những tác động sâu sắc của cục diện quốc tế và mối quan hệ của
nó đối với cách mạng Việt Nam Vì vậy, trong khi xác định vai trò quyết định củanhững yếu tố bên trong, Đảng và Bác luôn coi trọng sự hổ trợ của nhân tố bên ngoài
đối với cách mạng nớc ta Thế nên, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọngnhững biện pháp thích hợp về đối ngoại nhằm tranh thủ đồng minh, phân hoá cô lập
kẻ thù với hiệu quả cao nhất trong khả năng và điều kiện cho phép Khi xây dựng ờng lối chỉ đạo chiến lợc cho cách mạng Việt Nam, Đảng ta và Chủ tịch Hồ ChíMinh rất chú trọng, quan tâm đến công tác đối ngoại, hoạt động ngoại giao với mục
đ-đích thêm bạn bớt thù và tranh thủ hết sức những điều kiện thuận lợi từ bên ngoài
Điều này đợc Đảng và Hồ chủ tịch vạch rõ trong hội nghị trung ơng Đảng tháng 5năm 1941 qua một số văn kiện, nghị quyết có tính chất chỉ đạo về mặt t tởng về vấn
đề đối ngoại, nhằm chuẩn bị tiến tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền, cụ thể làmột số nội dung sau:
Trong chơng trình hành động của mặt trận Việt Minh cũng đã nêu ra bốn
điểm có tính chất nguyên tắc làm điểm tựa cơ bản cho công tác đối ngoại
Trang 10“1 liên hiệp thân thiện với tất cả các dân tộc nhỏ yếu đang tranh đấu giànhquyền độc lập
2 huỷ bỏ hết thảy những hiệp ớc mà Pháp đã ký với bất kỳ nào nớc nào
3 kiên quyết chống hết thảy những lực lợng xâm phạm đến quyền tự do,
độc lập của nớc Việt Nam
4 Mật thiết liên lạc với các dân tộc bị áp bức, giai cấp vô sản toàn thế giới”[6, 467]
Đây là những nội dung mang tinh thần cốt lõi, cơ bản về công tác đối ngoại.Cùng với những nội dung chỉ đạo có ý nghĩa đại cơng, định hớng cho côngtác đối ngoại của cách mạng Việt Nam, Đảng ta và Hồ chủ tịch cũng đã có nhữnggiải pháp cụ thể về chính sách đối ngoại trong những thời điểm cụ thể để phù hợpvới những biến đổi nhanh chóng của tình hình qua một số văn kiện quan trọng nh:thông cáo trung ơng gửi các cấp bộ Đảng (21 - 12 - 1941) dới tiêu đề “Cuộc chiếntranh Thái Bình Dơng và trách nhiệm cần kíp của Đảng”; Nghị quyết của Ban thờng
vụ trung ơng Đảng cộng sản Đông Dơng (tháng 2 -1943); chỉ thị “Nhật - Pháp bắnnhau và hành động của chúng ta” (12 - 3 - 1945); nghị quyết hội nghị quân sự Bắckì (tháng 4 - 1945) Trong các nghị quyết này Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đềcập rất cụ thể phơng hớng, nhiệm vụ của công tác đối ngoại trong quan hệ với cácnớc Đồng minh lớn, mà trực tiếp là những thế lực đang nuôi tham vọng tiếp tục đặt
ách thống trị của chủ nghĩa thực dân lên các dân tộc Đông Dơng tại Hội nghị toànquốc của Đảng họp tại Tuyên Quang vào đêm trớc ngày diễn ra tổng khởi nghĩa từ
13 đến 15 tháng Tám, hội nghị đã nêu cho ngành ngoại giao những vấn đề cơ bản:
1 Về ngoại giao, tuy chúng ta đã cố gắng nhiều… nhng cách mạng ViệtNam vẫn cha giành đợc vị trí khả quan trên trờng quốc tế
2 Hiện nay về chính sách ngoại giao chúng ta cần phải nhận ra hai điều:
a Sự mâu thuẫn giữa hai phe Đồng minh Anh, Pháp và Mỹ, Tởng về vấn đề
Đông Dơng là điều ta cần lợi dụng
b.Sự mâu thuẫn giữa Anh, Pháp, Mỹ và Liên Xô có thể làm cho Anh, Mỹnhân nhợng với Pháp để cho pháp quay lại Đông Dơng
3 Chính sách của chúng ta là tránh trờng hợp một mình phải đối phó vớinhiều lực lợng Đồng minh tràn vào nớc ta đặt chính phủ của Pháp Degaulle hay mộtchính phủ bù nhìn khác trái với ý nguyện dân tộc
4 Dù sao chỉ có thực lực của ta mới quyết định sự thắng lợi giữa ta với đồng minh
Trang 115 Với với các dân tộc nhợc tiểu, dân chúng Pháp và Trung Quốc chúng taphải liên lạc và tranh thủ sự giúp đỡ của họ”.
Thông qua các nghị quyết căn bản của Đảng cộng sản Đông Dơng cùng
ch-ơng trình hành động về công tác đối ngoại của Việt Minh, ta có thể dễ dàng nhậnthấy, khi nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà cha ra đời, nhng những chính sách đợccoi là cơ sở, điểm tựa cho một nền ngoại giao hiện đại của một nớc “Tân Việt Nam”
đã hình thành Cụ thể là: kiên quyết bảo vệ quyền độc lập, tự do, xoá bỏ mọi ràngbuộc mà thực dân Pháp đã kí kết với bất kỳ một nớc nào khác Thi hành chính sáchhoà bình, hữu nghị với các dân tộc, tôn trọng quyền tự quyết và bình đẳng với cácdân tộc khác; đoàn kết với Liên Xô, và các nớc cách mạng khác trên thế giới, vớiphong trào công nhân quốc tế Nghị quyết còn chỉ rõ cần tránh trờng hợp cùng mộtlúc phải đối phó với nhiều kẻ thù, cần giữ liên lạc với nhân Pháp, Mỹ và cần phảitranh thủ sự giúp đỡ của họ
Đó là những cơ sở, nền tảng quan trọng trong việc hoạch định chính sách đốingoại của nhà nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà Ngày 28 - 8 - 1945, Bộ ngoại giaochính thức đợc thành lập do Hồ Chủ Tịch trực tiếp phụ trách
Phân tích và dự đoán đúng tình hình thế giới với cách nhìn toàn diện và biệnchứng, xác định rõ tơng quan lực lợng giữa các thế lực thù địch với cách mạngtrong nớc Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng với trung ơng Đảng và chính phủ có cáchnhìn và định hớng đúng cho hoạt động đối ngoại của Việt Nam nhằm giữ vững sựtồn tại của nhà nớc non trẻ, đang trong vòng vây của các thế lực thù địch Đồng thờicũng mở ra một hớng mới trong chính sách đối ngoại của Việt Nam không phải với
t cách là một nhà nớc thuộc địa, mà với t cách là một nhà nớc độc lập, một quốc gia
có chủ quyền - một chủ thể chủ yếu và đầy đủ của công pháp quốc tế Đờng lối nàythể hiện rõ trong bản “Tuyên ngôn độc lập” đợc Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại quảngtrờng Ba Đình ngày 2 - 9 - 1945 Thông qua bản “Tuyên ngôn độc lập”, chủ tịch HồChí Minh khẳng định quyền cơ bản của dân tộc Việt Nam và trịnh trọng tuyên bố vớithế giới: “Nớc Việt Nam có quyền hởng tự do và độc lập và sự thật đã trở thành mộtnớc tự do và độc lập…”, tuyên ngôn còn vạch rõ “Việt Nam tuyên bố thoát ly hẳnquan hệ với thực dân Pháp, xoá bỏ hết những hiệp ớc mà thực dân pháp đã ký với nớcViệt Nam Xoá bỏ mọi đặc quyền của pháp trên đất nớc Việt Nam và khẳng địnhchân lý “Tất cả các dân tộc đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống,quyền sung sớng và quyền tự do”
Trang 12Một tháng sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản “Tuyên ngôn độc lập”khai sinh ra nớc Việt Nam dân chủ Cộng hoà, ngày 3 - 10 - 1945 chính phủ lâmthời nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà do Hồ Chí Minh đứng đầu đã công bố bản
“Thông cáo về chính sách ngoại giao của chính phủ lâm thời nớc Việt Nam dân chủcộng hoà” Đây là lần đầu tiên Đảng và chính phủ ta công bố hoàn chỉnh chính sách
đối ngoại của mình, với nội dung cốt lõi “đa nớc nhà đến tự do độc lập hoàn toàn vàvĩnh viễn” Bản thông cáo cũng đã chỉ rõ “nớc Việt Nam còn đơng ở giai đoạn đấutranh kịch liệt, tất cả chính sách ngoại giao phải có mục đích cốt yếu là giúp cho sự
đấu tranh ấy thắng lợi bằng mọi phơng pháp êm dịu hay kiên quyết” Nớc Việt Namcam kết sẽ cùng với các nớc Đồng minh “xây đắp lại nền hoà bình thế giới” Thôngcáo cũng đã nêu lên những chính sách cụ thể đối với các đối tợng chủ yếu của nớc
ta lúc bấy giờ
“Với các nớc lớn, các nớc trong Đồng minh chống phát xít “Việt Nam hết sức
thân thiện và thành thực hợp tác trên lập trờng bình đẳng và tơng ái”
Với Pháp: Đối với các kiều dân Pháp nếu họ yên tỉnh làm ăn và tôn trọng nền
độc lập của Việt Nam thì sinh mệnh và tài sản của họ đợc bảo vệ theo luật quốc tế.Riêng đối với chính phủ Pháp Degalle chủ trơng thống trị Việt Nam thì kiên quyếtchống lại
Với các nớc láng giềng, đã khẳng định một phơng hớng mới của quan hệquốc tế, Việt Nam nhấn mạnh đến hữu nghị hợp tác và bình đẳng…
Với các nớc tiểu dân tộc trên toàn cầu, chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoàsẵn sàng thân thiện hợp tác chặt chẽ…” [47, 34-35]
Bản thông cáo ngày 3 - 10 - 1945 là một văn kiện cực kỳ quan trọng của nhà
n-ớc Việt Nam dân chủ cộng hoà về công tác đối ngoại Bản thông cáo là những định ớng cơ bản, là nền tảng t tởng cho sự xác lập nền ngoại giao Việt Nam hiện đại
h-Nh vậy, từ các nghị quyết, văn kiện của Đảng cho đến thông cáo của chínhphủ lâm thời nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà ta thấy, nền ngoại giao Việt Namhiện đại ra đời vào đúng thời điểm cơn lốc của cuộc chiến tranh thế giới có ảnh h-ởng sâu sắc đến vận mệnh dân tộc Sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
do Đảng ta lãnh đạo bớc vào giai đoạn vận động quyết liệt nhất Mặc dù vậy, dới sựlãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, ngay từ đầu trong giai
đoạn thành hình, những định hớng cho sự ra đời của nền ngoại giao hiện đại đãkhông chỉ đáp ứng những yêu cầu bức bách của lịch sử dân tộc, mà còn phù hợp với
xu thế của thời đại Nhà nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời và những chính
Trang 13sách của chính phủ mới về công tác đối ngoại là một minh chứng rõ ràng nhất cho
sự hình thành của nền ngoại giao Việt Nam hiện đại Sự ra đời của nền ngoại giaoViệt nam hiện đại nó vừa là sự kế thừa những tinh hoa của ngoại giao Việt namtruyền thống nhằm bảo vệ nền độc lập dân tộc, khẳng định tinh thần tự tôn dân tộc.Nhng mặt khác nền ngoại giao đó cũng đã tiếp nhận những hơi thở cách mạng, hơi thởthời đại từ con đờng cách mạng vô sản, và đợc chỉ đạo bởi các chiến sỹ tiên phong của
Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh Vì vậy, ngay từ buổi đầu xác lập, ngoại giaoViệt Nam hiện đại đã nhanh chóng khẳng định đợc vai trò và vị trí của mình, cũng nh
“choáng váng” các thế lực đế quốc phản động đã “định thần” lại, nhận rõ tình hình,nhanh chóng ổn định lực lợng và điên cuồng tìm mọi thủ đoạn để lật ngợc tình thế
Nhà nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời phải đối phó ngay với các thế lựcthù địch bên ngoài kéo tới để thực thi quyết định của hội nghị Potsđam với danhnghĩa giải giáp quân đội Nhật Miền Bắc là 20 vạn quân Tởng, miền Nam là lực l-ợng quân Anh Sau quân Anh còn có sự hiện diện của 6 vạn quân Nhật đã đầu hàngnhng cha về nớc và quân Pháp Nh vậy, cùng một lúc trên đất nớc ta có mặt gần 30vạn quân chính quy của các thế lực Anh, Pháp, Nhật, Tởng Nguy cơ đe dọa trực tiếp
là âm mu quay trở lại tái chiếm Đông Dơng của thực dân Pháp Bên cạnh đó, các lực ợng phản động trong nớc cũng ngóc đầu dậy chống phá chính quyền cách mạng, chabao giờ trên đất nớc Việt Nam lại có nhiều kẻ thù đến thế
l-Tiềm lực mọi mặt của nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà cha có thời gian cũng
cố và phát triển Chính quyền cách mạng mới hình thành cha đợc một nớc nào trênthế giới công nhận về mặt ngoại giao Lực lợng vũ trang cách mạng còn non trẻ, cha
có nhiều kinh nghiệm chiến đấu Đất nớc thiếu thốn mọi bề vì chủ nghĩa thực dânthống trị trong gần một thế kỷ Khối đại đoàn kết toàn dân đang trong quá trìnhcũng cố Cơ cấu tổ chức bộ máy chính quyền còn phải tiếp tục xây dựng Nhữngkhó khăn chồng chất đè nặng, sự đe doạ của thù trong giặc ngoài, tất cả đặt chính
Trang 14quyền cách mạng trớc một tình thế đặc biệt hiểm nghèo Nền độc lập, tự do của dântộc vừa mới giành đợc đang đứng trớc nguy cơ còn mất Vận mệnh đất nớc nh
Đờng lối đối ngoại cơ bản của nhà nớc ta thể hiện rõ trong bản thông cáo vềchính sách ngoại giao của chính phủ lâm thời nớc Việt Nam dân chủ cộng hoàthông báo ngày mùng 3 tháng 10 năm 1945 và chỉ thị kháng chiến kiến quốc ngày
25 tháng 11 năm 1945, đờng lối ngoại giao của ta là: “kiên trì chủ trơng ngoại giaovới các nớc trên nguyên tắc bình đẳng tơng trợ” Phải đặc biệt chú ý làm sao cho n-
ớc mình ít kẻ thù hơn hết…” trên nguyên tắc “thêm bạn bớt thù” Một cách cụ thể:
Đối với Tởng, ta chủ “Hoa - Việt thân thiện” Đối với Pháp thực hiện độc lập vềchính trị nhân nhợng về kinh tế Trên phạm vi thế giới Đảng chủ trơng “đoàn kếtvới giai cấp vô sản và nhân dân các dân tộc đấu tranh thực hiện triệt để hiến chơngcác nớc liên hiệp, ủng hộ Liên Xô xây dựng hoà bình thế giới, mở rộng chế độ dânchủ ra các nớc, giải phóng các nớc thuộc địa”[54, 151] Đây là những định hớng cơbản về chính sách đối ngoại của nhà nớc ta và đợc nhà nớc Việt Nam dân chủ cộnghoà vận dụng rất mềm dẻo, linh hoạt trong năm đầu tiên sau cách mạng tháng Tám
Trong thời kỳ đầu khi cách mạng tháng Tám mới thành công, để phá vỡ thế
bị bao vây cô lập, nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà cần có sự công nhận của các nớc
đồng minh nên thái độ của chính phủ ta là nhìn chung hoan nghênh quân Đồngminh kéo vào giải giáp quân đội Nhật song lại luôn cảnh giác Để phân hoá kẻ thù,cô lập kẻ thù chính (Pháp) tranh thủ mọi khả năng ủng hộ nền độc lập của ta, chúng
ta đã có những đối sách riêng với từng lực lợng đồng minh Đối với Anh Đảng tachủ trơng giao thiệp bình thờng nhng có thái độ kiên quyết trớc những hành độngdung túng của Anh cho việc trở lại Việt Nam của Pháp – Miên – những hành động ngoàiphạm vi quy định của đồng minh Đồng thời Đảng ta cũng phát động phong trào
Trang 15đấu tranh của quần chúng, biểu thị thái độ hành động dung túng của Anh đối vớiPháp.
Để nâng cao vị trí của nhà nớc mới ra đời Việt Nam cần có sự công nhận củacác nớc đồng minh, các nớc có vai trò quan trọng trong quan hệ quốc tế lúc này trớchết là Liên Xô và Mỹ
Với Liên Xô, trong giai đoạn này ta không có tin tức gì chính thức, không cómối liên hệ trực tiếp, nhng nhà nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà đứng đầu là Chủtịch Hồ Chí Minh vẫn hi vọng, tin tởng vào sự giúp đỡ của Liên Xô, cũng nh sự
đồng tình, ủng hộ của d luận tiến bộ thế giới đối với cuộc chiến đấu của ta Cùngngày với bức th gửi Tổng thống Mỹ (22 - 9 - 1945), Chủ Tịch Hồ Chí Minh cũnggửi th cho Stalinne [1, 127] đề cập đến những khó khăn hiện tại của Việt Nam vàyêu cầu đợc sự giúp đỡ Tuy không nhận đợc hồi âm, nhng tháng 10 - 1945, cùngvới gửi điện văn cho Truman thì Hồ Chí Minh cũng gửi điện văn cho Stalinne [55,154], trong bức điện đó Hồ Chí Minh đã thông báo chi tiết về tình hình Đông Dơng
từ tháng 9 - 1940 đồng thời bay tỏ nguyện vọng của chính phủ Việt Nam mongmuốn “cộng tác với liên hiệp quốc để tạo ra một nền hoà bình lâu dài trên thế giới”.Cho đến cuối năm 1945, mọi cố gắng ngoại giao nhằm tìm kiếm sự công nhận củaliên Xô đối với Việt Nam đều không đạt đợc kết quả Sang năm 1946, tiếp tục thựchiện mục tiêu của chính sách đối ngoại “là sao cho các nớc công nhận nền của nớcViệt Nam” [55, 155], thay mặt chính phủ Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh 2 lần gửi
điện văn và công hàm cho ngoại trởng và chính phủ các nớc lớn Xô, Mỹ và Trung Hoa(14 - 1 - 1946 và 18 - 2 - 1946) yêu cầu công nhận nền độc lập của nhân dân ViệtNam Phía Việt Nam vẫn không nhận đợc một hồi âm nào cả
Đối với Mỹ, là một trong những nớc lớn góp phần vào thắng lợi của phe đồngminh trong chiến tranh, lại là nớc có vai trò quan trọng trong Liên Hợp Quốc và cũng
là nớc có ảnh hởng lớn đối với các mối quan hệ quốc tế Chủ tịch Hồ Chí Minh hiểurất rõ điều đó, ngời cho rằng nếu không có sự giúp đỡ của Mỹ và các nớc Đồng minhthì Pháp không thể tái chiếm lại Đông Dơng, trên cơ sở những quan hệ đã có thời kỳtrớc chiến tranh Ngời chủ trơng tiếp tục quan hệ với Mỹ Từ sau ngày giành chínhquyền đến trớc khi kí hiệp định sơ bộ (6 - 3 - 1946), nhân danh chính phủ nớc ViệtNam dân chủ cộng hoà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi ít nhất 11 bức th, điện văn vàcông hàm tới tổng thống Mỹ, chính phủ và Bộ ngoại giao Mỹ Ta yêu cầu Mỹ côngnhận nền độc lập của Việt Nam, khẳng định sự hợp Pháp của nhà nớc Việt Nam dânchủ cộng hoà, kiến nghị để Việt Nam gia nhập liên hợp quốc
Trang 16Việc tiếp tục duy trì quan hệ với ngời Mỹ vào thời gian này đã có những tácdụng nhất định trong việc phân hoá Pháp và Mỹ ở Đông Dơng, ít nhiều cũng làmgiảm thái độ hung hăng của Pháp ở nớc ta; mặt khác cũng tạo thêm thế đứng chonhà nớc cách mạng non trẻ trớc con mắt của thực dân Pháp
Chính sách của Tởng đối với Việt Nam tuy xuất phát từ quyền lợi của Tởngnhng phần lớn là bị sự chi phối của Mỹ Do nhạy bén với tình hình Đảng ta đã tậndụng mối quan hệ Mỹ - Tởng để có thể tranh thủ đợc cả đôi bên, phân hoá Tởng vớiPháp Sự giao thiệp của phía Việt Nam với ngời Mỹ cũng tác động không ít tới thái
độ của các tớng lĩnh Tởng ở miền Bắc Việt Nam đối với Pháp và đối với chính phủViệt Nam Thông qua ngời Mỹ ta đã thúc đẩy thêm phía tởng có thái độ tích cực hơntrong việc ngăn chặn Pháp quay trở lại xâm lợc Việt Nam Song vì phụ thuộc vào Mỹnên khi Mỹ dần chuyển sang ủng hộ Pháp, thì Tởng dù muốn hay không cũng khôngxoay chuyển đợc tình thế Xét cho cùng đúng nh Đảng ta dự đoán, cả Tởng, Mỹ,Pháp…đều gặp nhau ở mu đồ: “Tiêu diệt Đảng ta, phá tan Việt Minh, giúp cho bọnphản động Việt Nam đánh đổ chính quyền nhân dân để lập một chính phủ phản độnglàm tay sai cho chúng” [55, 162] Đảng, chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cónhững chủ trơng, sách lợc đối ngoại phù hợp, chủ động Với phơng châm thêm “thêm bạn bớt thù” Vì thế một mặt cũng cố thêm vị thế chủ nhân đất nớc của chínhphủ Việt Nam, mặt khác khoét sâu thêm mâu thuẩn của kẻ thù, tranh thủ bạn đồngminh, tập trung mũi nhọn vào kẻ thù chính
Đối với Tởng và Pháp 2 kẻ thù nguy hiểm trực tiếp trớc mắt của cách mạngViệt Nam Ngay từ đầu Đảng ta đã sớm nhận ra những âm mu và thủ đoạn của từng
kẻ thù và có sách lợc thích hợp để đối phó Ngay trong bản chỉ thị kháng chiến kiếnquốc ngày 25 - 11 - 1945 Đảng ta đã vạch rỏ: “Trớc sau Trùng Khánh cũng nhợng
Đông Dơng về tay Pháp, miễn là Pháp nhợng cho Tàu nhiều quyền lợi quan trọng”
Để tránh trờng hợp cùng một lúc phải đối phó với nhiều kẻ thù và lợi dụng mâuthuẩn trong hàng ngũ giữa các nớc đế quốc Theo phơng châm phải cân nhắc kỹ lợihại chọn cái ít hại nhất mà làm Đảng, chính phủ và chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủtrơng thực hiện chính sách nhân nhợng với quân đội Tởng giữ vững chính quyền đểchống Pháp
Thực hiện chính sách hòa hoãn với Tởng, ta hạn chế đợc sự chống phá của ởng, dùng Tởng để kiềm chân Pháp ở miềm Nam, tạo điều kiện cho chính quyềncách mạng tập trung mũi nhọn vào kẽ thù chính là thực dân Pháp Xâm lơc
Trang 17T-Đúng nh Đảng ta dự đoán: “Trớc sau Trùng Khánh cũng bằng lòng nhờng
Đông Dơng trở về tay Pháp, miễn là Pháp nhờng cho tàu một số quyền lợi quantrọng” Không thực hiện đợc mu đồ “diệt cộng, cầm Hồ” lại bị tình hình nội chiến ởtrong nớc thúc bách, từ cuối năm 1945 chính quyền Tởng Giới Thạch đã có ý định rútquân khỏi Đông Dơng để tăng cờng lực lợng đối phó với quân Đảng cộng sản TrungQuốc Ngày 28 - 2 - 1946 Tởng và Pháp đã ký với nhau hiệp ớc Trung - Pháp Vớihiệp ớc này Pháp đồng ý nhợng cho Tởng một số quyền lợi quan trọng của pháp trên
đất Trung Quốc, đổi lại Tởng Giới Thạch đồng ý cho quân Pháp thay thế quân Tởngtại miền Bắc Việt Nam
Tình thế ấy đặt nhà nớc cách mạng Việt Nam cần phải lựa chọn ngay, hoặc làchống lại việc quân Pháp vào miền Bắc nớc ta; cũng có nghĩa là chống lại hiệp ớc Hoa
- Pháp; hoặc là thoả thuận với Pháp, đồng ý đa quân Pháp vào miền Bắc với một số
điều kiện của ta Khả năng thứ nhất sẽ dẫn đến chiến tranh, trớc hết là với Pháp, có thểcả với Tởng, đằng sau Pháp và Tởng là Anh, Mỹ Khả năng thứ hai cũng có nghĩa làchấp nhận nớc ta trong tình trạng cha đợc độc lập, sẽ phải tiếp tục cuộc chiến tranh đểdành độc lập trong những điều kiện mới song chỉ còn phải đối đầu với một kẻ thùchính là thực dân Pháp
Trớc tình hình khẩn trơng đó, Đảng ta đã kịp thời đề ra những chủ trơng cụ thểphù hợp với tình hình mới Ngay sau hiệp ớc Hoa- Pháp chính thức đợc ký kết Ngày 3
- 3 - 1946, Ban thờng vụ trung ơng Đảng ra chỉ thị tình hình và chủ trơng, cân nhắc giữ
2 con đờng đánh Pháp hay hoà Pháp Chỉ thị xác định: “vấn đề lúc này không phải làmuốn đánh hay không muốn đánh Vấn đề là biết mình, biết ngời nhận định một cáchkhách quan những điều kiện lợi hại trong nớc và ngoài nớc mà chủ trơng cho đúng”[18, 96] Với tình hình ấy, trung ơng Đảng và Hồ Chí Minh đã phân tích kỹ tình hình
và chủ trơng hoà với Pháp nếu nh Pháp công nhận Đông Dơng tự chủ chứ không phải
là tự trị
Chỉ thị khẳng định rõ: ta chủ trơng hoà với pháp trên nguyên tắc “độc lập
nh-ng liên minh với pháp, Pháp phải thừa nhận quyền độc lập tự quyết của dân tộc ta…
và sự thống nhất quốc gia của ta Ta có thể nhận quyền đóng quân của Pháp trên đấtnớc ta Nhng quyền ấy chỉ có thể là tạm thời và có hạn…”
Trên tinh thần ấy, cân nhắc kỹ lợi hại, ta đã chủ trơng hoà hoãn với Pháp kývới Pháp Hiệp đinh sơ bộ 6 - 3 - 1946
Sau hiệp định sơ bộ, với thiện chí và khát vọng hoà bình, ta tiếp tục chủ trơng
đàm phán với Pháp tại hội nghị trù bị ở Đà Lạt và cuộc đàm phán chính thức ở hội
Trang 18nghị Phôngtennơbơlô Tuy nhiên do thái độ hiếu chiến của Pháp, lập trờng của ta vàPháp khác xa nhau, đàm phán đã không đạt đợc thoả thuận nào trong quan hệ Việt -Pháp.
Trong thời gian phái đoàn ta sang đàm phán ở Phôngtennơblô, nhận lời mờicủa chính phủ Pháp chủ tịch Hồ Chí Minh cũng dẫn đầu đoàn đại biểu nớc ta sangthăm nớc Pháp Trớc tình hình cuộc đàm phán ở phôngtennơblô tan vở, để toả rõthiện chí hoà bình của Việt Nam, tranh thủ thêm thời gian hoà bình vô cùng cầnthiết cho việc xây dựng đất nớc để bớc vào cuộc kháng chiến chắc chắn sẽ nổ ra.Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký với M Mutê đại diện của chính phủ Pháp bản Tạm ớc
14 - 9 - 1946 Bản tạm ớc tiếp tục nghi nhận cam kết của 2 bên ở hiệp đinh sơ bộ
Ta nhân nhợng thêm cho pháp một số quyền lợi về kinh tế và văn hoá
Với bản tạm ớc 14 - 9 đây là nhân nhợng cuối cùng của ta, nếu nhân nhợng nữa làphạm đến chủ quyền của đất nớc, là hại đến quyền lợi cao trọng của dân tộc Tuy nhiên
đặt trong bối cảnh lúc đó đây là sự nhân nhợng cần thiết để cứu vãn hoà bình
Sau bản Tạm ớc đợc ký kết ta luôn chấp hành nghiêm chỉnh những nội dung
đã đợc ký kết trong bản Tạm ớc, nhng với bản chất hiếu chiến của thực dân Pháp,chúng luôn tìm cách phá hoại bầu không khí hoà bình mà nhà nớc ta tích cực vun
đắp và xây dựng Trong tháng 11 và tháng 12 sau hàng loạt những vụ gây hấn,khiêu khích ta ở Lạng Sơn, Hải Phòng và Hà Nội Đặc biệt trong 2 ngày 18 và 19tháng 12 Móclie liên tục gửi tối hậu th đến cho chính phủ ta mà mục đích là buộcchính phủ ta phải đầu hàng
Thực tế cho thấy khả năng hoà hoãn là không còn, đúng nh Hồ Chí Minhkhẳng định “chúng ta càng nhân nhợng thì dân Pháp càng lấn tới vì chúng quyếttâm cớp nớc ta một lần nữa” Trong hai ngày 18, 19 tháng 12 năm 1946 thờng vụtrung ơng Đảng cộng sản Đông Dơng họp mở rộng quyết định phát động toàn quốckháng chiến Cuộc chiến tranh Việt - Pháp đã chính thức bùng nổ vào 20h ngày 19tháng 12 năm 1946 Bất kỳ một sự nhân nhợng chính đáng nào cũng đều có giớihạn của nó, chính phủ và nhân dân Việt Nam không còn sự lựa chọn nào khác làbuộc phải cầm súng chiến đấu và đó là biện pháp lựa chọn duy nhất đúng để chúng
ta bảo vệ nền độc lập dân tộc trớc giả tâm xâm lợc của thực dân Pháp
1.1.3 Hoạt động ngoại giao trong nổ lực tìm kiếm đồng minh đẩy mạnh cuộc kháng chiến.
Cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, nớc ta ở vào thế bị bao vây cô lập.Trên danh nghĩa nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời nhng cha có một quốc gia
Trang 19nào trên thế giới công nhận và đặt quan hệ ngoại giao chính thức với nhà nớc ta.Chúng ta bớc vào cuộc kháng chiến ở một vị trí địa - chính trị cực kì bất lợi, đất nớc
bị bao vây tứ phía Phía Bắc Trung Hoa dân quốc do Quốc Dân Đảng kiểm soát; ởphía Tây và phía Tây Nam hai nớc láng giềng Lào và Campuchia đã bị Pháp trở lạichiếm đóng và làm bàn đạp bao vây, tấn công nớc ta; vùng biển phía Đông và phíaNam đều bị hạm đội Pháp khống chế
Phá vòng vây để mở rộng quan hệ quốc tế, phá vở thế bao vây, cô lập củachủ nghĩa đế quốc là nhiệm vụ quan trọng có ý nghĩa chiến lợc của ngoại giao ViệtNam thời kì này
Trong buổi đầu của cuộc kháng chiến, ta còn cách trở với Liên Xô, các nớcdân chủ nhân dân, xa khu giải phóng Trung Quốc, Đông Nam á là địa bàn duy nhất
mà ta có khả năng hoạt động ngoại giao, trớc hết có chổ đứng chân, lập cơ quan đểhoạt động tuyên truyền, đề cao tính chất chính nghĩa cuộc đấu tranh của nhân dân
ta Tình hình chính trị ở Đông Nam á lúc này đang thuận lợi cho việc tranh thủ của
ta Tuy nhiên khu vực này luôn luôn có biến động về chính trị Đảng và chính phủ
ta tích cực, tranh thủ xây dựng quan hệ thân thiện với các dân tộc và các nớc ĐôngNám á trên cơ sở lập trờng độc lập dân tộc, chống chủ nghĩa thực dân và thực hiệndân chủ
Thực hiện đờng lối đối ngoại do trung ơng đặt ra, ngay từ đầu cuộc khángchiến, trong chỉ thị “Toàn dân kháng chiến” ngày 12-12-1946 nêu rõ:
Đoàn kết với hai dân tộc Miên, Lào và các dân tộc áp bức trong khối liênhiệp Pháp
Thân thiện với các dân tộc Tàu, Xiêm, Miến Điện, ấn Độ, Nam Dơng và cácdân tộc yêu chuộng dân chủ, hoà bình trên thế giới
Thực hiện chủ trơng nói trên, phơng châm đối ngoại của ta với khu vực ĐôngNam á là tích cực, thận trọng, khôn khéo, nêu cao tinh thần độc lập dân tộc, đoàn kếttoàn dân kháng chiến, đoàn kết với nhân dân châu á chống chủ nghĩa thực dân,giành và bảo vệ độc lập dân tộc, vừa tranh thủ nhân dân châu á ủng hộ và giúp đỡcuộc kháng chiến của ta, vừa cố gắng góp phần của ta vào đoàn kết các dân tộc châu
á giành độc lập dân tộc
Trên cơ sở đờng lối và phơng châm đã đợc vạch ra, hoạt động ngoại giao củanhà nớc ta trong giai đoạn này đã đạt đợc nhiều kết quả và có ảnh hởng tốt đến cuộckháng chiến của nhân dân ta
Trang 20Với hai nớc láng giềng Lào và Campuchia, mặc dù chính phủ Việt Nam dânchủ cộng hoà không đặt quan hệ chính thức với chính phủ hoàng gia hai nớc, nhngchúng ta có mối quan hệ mật thiết và hữu nghị với nhân dân và lực lợng khángchiến ở hai nớc bạn trong việc tổ chức và xây dựng khối liên minh chiến đấu Việt -Miên - Lào.
Đối với các nớc khác trong khu vực Tiếp tục thực hiện chủ trơng khai thôngliên lạc với thế giới, trong những năm 1947-1948, ta đã cử nhiều phái viên sang cácnớc Thái Lan, ấn Độ, Miến Điện, phối hợp với các tổ chức Việt kiều yêu nớc, vận
động chính phủ các nớc này giúp đỡ cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhândân ta
Tại Thái Lan, do những điều kiện hoàn cảnh tơng đối thuận lợi, mà từ những năm1947-1949, Thái Lan trở thành một địa bàn đặc biệt trong các hoạt động đối ngoại củaViệt Nam dân chủ cộng hoà và trở thành cửa ngỏ duy nhất mở ra cho cuộc kháng chiếncủa nhân dân Việt Nam, tiếp xúc liên lạc với thế giới bên ngoài trong một nổ lực và quyếttâm mạnh mẽ, nhằm phá thế bao vây, cô lập của kẻ thù, tìm kiếm đồng minh đẩy mạnhcuộc kháng chiến
Thời kì này ở Thái Lan, ngoài điều kiện thuận lợi là ngời Việt Nam ở thái Lan rất
đông (10vạn ngời), và có nhiều hoạt động yêu nớc trên đất Thái ở Thái Lan lúc này cómột chính phủ tiến bộ do Priđipanômiông làm thủ tớng, thi hành chính sách chống chủnghĩa thực dân và ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam Thủ tớngPriđipanômiông đã có nhiều hành động rất thiết thực, cụ thể giúp đỡ cuộc kháng chiếncủa nhân dân Việt Nam đặc biệt, thủ tớng Priđipanômiông đã công khai bày tỏ thái độủng hộ bằng việc đồng ý cho Việt Nam dân chủ cộng hoà đặt cơ quan đại diện chínhphủ tại thủ đô BăngKốc
Với sự giúp đỡ của chính phủ dân tộc tiến bộ và cộng đồng ngời Việt Nam ở TháiLan, cuối năm 1946 đầu 1947 ta bớc đầu thiết lập đợc cơ quan đại diện của chính phủViệt Nam dân chủ cộng hoà ở BăngKốc (gọi là Phái Viên Quán), đợc hởng quy chế nhcơ quan ngoại giao Từ ngày 14 - 4 -1947, cơ quan chính thức đi vào hoạt động Đồngthời tại đây ta cũng thiết lập đợc phòng thông tin Việt Nam (Việt Nam thông tấn xã).Với việc thiết lập đợc cơ quan ngoại giao và phòng thông tin ngoại giao trên đất Thái,
điạ bàn Thái Lan lúc này trở nên vô cùng quan trọng vì nó là cửa ngỏ duy nhất để tathông ra với thế giới
Thông qua phòng thông tin Việt Nam, công tác tuyên truyền quốc tế về cuộckháng chiến của nhân dân ta đợc tiến hành một cánh tích cực Phòng thông tin Việt
Trang 21Nam ở Băng Kốc đã cho phát hành bản tin Việt Nam bằng tiếng Việt và tiếng Anh.Bản tin đợc gửi đi các nớc ấn Độ, Mianma, Anh, Pháp, Mỹ, Nhật…và gửi cho Việtkiều ở các nơi trên thế giới Ngoài tờ tin Việt Nam, các cán bộ phòng thông tin ViệtNam còn viết bài cho tờ báo “Bankok Post” – Miên – một tờ báo của Thái Lan lúc đó, đểgiới thiệu cuộc kháng chiến của nhân dân ta một cách rộng rãi.
Một hoạt động không kém phần quan trọng mà phái đoàn Việt Nam dân chủcộng hoà ở Băngkốc đã tiến hành trong thời gian này là cũng cố và giữ vững liên lạc vớiViệt kiều ở các nơi trên thế giới Từ phòng thông tin Việt Nam ở Băngkốc, kiều bào ViệtNam ở khắp các nơi trên thế giới đã nhận đợc bản tin Việt Nam và hiểu rõ hơn về cuộckháng chiến của dân tộc mình Thông qua đó kiều bào ở nhiều nơi đã gửi tiền của, thuốcmen và nhiều hàng hoá vật phẩm khác về nớc, góp phần ủng hộ và đóng góp tích cựccho cuộc kháng chiến trong nớc
Với những điều kiện thuận lợi, địa bàn Thái Lan lúc này đã trở thành cửa ngõliên lạc giữa trong và ngoài nớc, giữa miền Nam và miền Bắc, là nơi trung chuyểntài liệu, cán bộ từ Nam ra Bắc, từ Bắc vào Nam Đờng dây liên lạc đợc thiết lập vàgiữ vững trong suốt những năm 1946-1949, theo lịch trình từ Nam Bộ quaCampuchia sang Thái Lan và từ Thái Lan qua Lào về khu Bốn của Việt Nam, đã cómột tác dụng rất quan trọng đối với cuộc kháng chiến của Việt Nam, Lào vàCampuchia Điạ bàn Thái Lan còn là nơi quá cảnh của đoàn đại biểu Việt Nam ra n-
ớc ngoài dự các hội nghị quốc tế, tất cả các đoàn đại biểu Việt Nam ra nớc ngoài
dự các hội nghị quốc tế đều phải dừng chân ở Băngkốc làm thủ tục xuất cảnh trớckhi ra nớc ngoài
Băngkốc cũng là nơi tập kết cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam Côngtác này đợc tổ chức khá chu đáo Mặt hàng tiếp tế chủ yếu là vũ khí có đợc từ cácnguồn: Mua bằng tiền từ trong nớc gửi sang, do chính phủ Thái Lan giúp; do ViệtKiều góp tiền mua và do các công binh xởng của Việt Nam chế tạo nh mìn, lựu đạn
và nhiều các loại vũ khí khác Đặc biệt từ năm 1948, một số cán bộ quân giới đã
đ-ợc trong nớc gửi sang Thái Lan để đẩy mạnh việc chế tạo vũ khí chuyển về nớc.Trong hai năm 1946-1947, chính phủ Priđi thông qua phái đoàn đại diện của chínhphủ Việt Nam ở BăngKốc, đã giúp chúng ta hàng ngàn khẩu súng và tạo điều kiệnthuận lợi để giúp chúng ta vận chuyển số vũ khí này về nớc
Trong lúc cuộc kháng chiến của nhân dân ta còn gặp vô vàn khó khăn, thiếuthốn, việc tiếp tế vũ khí, khí tài từ Thái Lan về nớc đã góp phần quan trọng trong việcchi viện cho các chiến trờng, nhất là chiến trờng Nam bộ, không chỉ có vũ khí mà
Trang 22còn nhiều hàng hoá có giá trị và vô cùng cần thiết cho cuộc kháng chiến nh thuốckháng sinh, linh kiện đài phát thanh, máy ốp-sét để in tiền cũng đã đợc chuyển về n-
ớc trong thời gian này
Thủ đô Thái Lan cũng trở thành địa bàn lí tởng cho các hoạt động đối ngoại
và tuyên truyền quốc tế của nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà Thông qua phái đoàncủa nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà ở đây, ta bắt liên lạc và mở rộng đợc nhiềuhoạt động ngoại giao với các nớc trong khu vực và nhiều nớc trên thế giới nh LiênXô, ấn Đô, Miến Điện, Inđônêxia…
Những hoạt động đối ngoại của Việt Nam dân chủ cộng hoà đang hoạt động
có hiệu quả trên đất Thái Lan, thì từ cuối năm 1948, đặc biệt sang năm 1949 tìnhhình chính trị Thái Lan diễn ra phức tạp Chính phủ mới lên thay chính phủ Priđi đãthi hành một chính sách phản động, thân Mỹ và ngày càng tỏ ra thù địch với ViệtNam dân chủ cộng hoà Hoạt động của cơ quan đại diện chính phủ và phòng thôngtin Việt Nam ở Băngkốc gặp rất nhiều khó khăn và buộc phải hạn chế hoạt động củamình Từ Thái Lan ta chuyển hoạt động đối ngoại sang các nớc khác trong khu vực
ở Miến Điện, sau khi phong trào giải phóng dân tộc giành độc lập Miến Điệntích cực ủng hộ Việt Nam dân chủ cộng hoà chống Pháp Trong năm 1947, pháiviên của ta là Phạm Ngọc Thạch đã đến thủ đô RăngGun để dự quốc khánh Mianma
và chuyển đề nghị của chính phủ Việt Nam về lập văn phòng đại diện Chính phủMianma đã tiếp nhận đề nghị của chính phủ ta Tháng 2-1948, văn phòng đại diệncủa nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà đợc thành lập ở thủ đô Răng Gun và đợc hởngquy chế ngoại giao do Trần Văn Luân làm đại diện chính phủ Cũng nh ở Băngkốc,tại đây cũng có một phòng thông tin Lúc này cơ quan RăngGun thay thế cơ quanBăngkốc không có điều kiện hoạt động nữa mà trở thành cơ quan thông tin cho trongnớc Nhờ đó mà trong nớc nắm đợc tin tức quốc tế Chính phủ Mianma không những
đài thọ mọi chi phí cho sự hoạt động và tồn tại của hai cơ quan, mà còn viện trợ cho
ta một số vũ khí đáng kể cho cuộc kháng chiến
Đầu năm 1948, liên đoàn chống Phát xít Mianma đã đứng ra gửi giúp Việt Nammột số vũ khí, thuốc men, điện đài chuyển tới BăngKốc rồi về Việt Nam Thậm chítháng 8-1948, chính phủ Mianma đã đứng ra điều đình giúp chính phủ Việt Nam dânchủ cộng hoà vay ngoại tệ để mua hàng ngoại quốc, chủ yếu là vũ khí, thuốc và dụng cụ
y tế Đây là một nghĩa cử thể hiện sự ủng hộ và lòng tin vào thắng lợi cuộc kháng chiếncủa nhân dân Việt Nam
Trang 23Cũng trong năm 1947, phái viên chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà PhạmNgọc Thạch sang thủ đô Niuđêli tiếp xúc với chính phủ ấn Độ Kết quả chính phủ ấn Độ
đồng ý cho chúng ta đặt một văn phòng đại diện chính phủ do Mai Thế Châu phụ trách
Ngoài quan hệ ngoại giao với Mianma, Thái Lan, ấn Độ, phái viên chính phủViệt Nam ở Băngkốc còn thiết lập đợc mối quan hệ với chính phủ các nớc Inđônêxia,Pakixittan…thông qua sứ quán các nớc này ở Băngkốc và nhận đợc sự ủng hộ của họ
đối với cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam Đặc biệt tại hội nghị liên á, hai
đoàn đại biểu Việt Nam và Inđônêixia đã có cuộc tiếp xúc và ra tuyên bố chung chốngchủ nghĩa đế quốc Sau hội nghị này, tháng 4-1947, thủ tớng chính phủ Inđônêixia đãgửi điện cho Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ thiện cảm sự ủng hộ của chính phủ và nhândân Inđônêxia với cuộc đấu tranh giành độc lập của Việt Nam và yêu cầu trao đổi đạidiện chính phủ hai nớc
Hoạt động đối ngoại chủ động, tích cực trong những năm đầu của cuộc khángchiến đã đợc nhà nớc ta lựa chọn đúng hớng và đã tỏ ra có hiệu quả trong cuộc đấutranh để phá vở vòng vây, khai thông với thế giới và nâng cao địa vị, uy tiến củachính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà Mặc dù cha nhận đợc sự công nhận chínhthức, nhng ta đã tranh thủ đợc sự công nhận, đồng tình của một số chính phủ trongkhu vực cả về vật chất và tinh thần Trong điều kiện cuộc kháng chiến của chúng ta
đang bị bao vây cô lập của chủ nghĩa đế quốc, thì sự ủng hộ này có ý nghĩa vô cùng
to lớn, tăng cờng tiềm lực và sức mạnh cho cuộc kháng chiến, góp phần thúc đẩycuộc kháng chiến chông Pháp của nhân dân ta giành đợc nhiều thắng lợi
Thông qua các cơ quan đại diện ở nớc ngoài, với sự giúp đỡ của chính phủcác đoàn thể sở tại, chính phủ ta đã cử đại diện tham gia nhiều hội nghị quốc tế vàkhu vực, trong đó đáng chú ý nhất là tham dự hội nghị liên á tháng 4-1947 tổ chứctại Niuđêli, và dự hội nghị ESAPC (hội nghị kinh tế châu á Thái Bình Dơng) tháng3-1949 ở Băngkốc; hội nghị Thanh niên dân chủ thế giới tại Praha tháng 2-1948;hội nghị nhân dân thế giới đấu tranh cho hoà bình tổ chức tại Pari tháng 4-1949; hộinghị liên hiệp công đoàn thế giới tháng 6-1944, tại Milan; hội nghị công đoàn á -
úc ở Bắc Kinh tháng 10-1949…Thông qua những hội nghị này, bạn bè quốc tế hiểuthêm, ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân ta Đồng thời từ 1947 đến 1949 chúng
ta đã lập đợc nhiều phòng thông tin ở nhiều thành phố lớn trên thế giới: Pari, Luân
Đôn, Niuooc, Praha, Niuđêli, RăngGun, Singapo, BăngKốc, Hồng Kông Từ nhữngcơ quan thông tin này, những tin tức, hình ảnh cuộc kháng chiến anh dũng của nhândân ta và lập trờng chính nghĩa của nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà đợc truyền đi
Trang 24khắp thế giới, và đã đem lại những tác dụng to lớn cho cuộc kháng chiến của nhândân ta trong thời gian này
1.2 Thắng lợi ngoại giao đầu 1950
1.2.1 Bối cảnh quốc tế
Tháng 10- 1949 cách mạng Trung Quốc thành công đa tới sự ra đời của nhànớc cộng hoà nhân dân Trung Hoa Nớc Trung Hoa mới ra đời có ý nghĩa nổi bậttrong quan hệ quốc tế, nó làm cho cục diện châu á và tơng quan lực lợng giữa cáchmạng và chủ nghĩa đế quốc, thực dân thay đổi, nghiêng hẳn về phe hoà bình, độclập dân tộc dân chủ và chủ nghĩa xã hôị thế giới Nó buộc các cờng quốc phơng Tâyphải thay đổi chiến lợc để đối phó Với sự có mặt của cộng hoà nhân dân TrungHoa, chủ nghĩa xã hội đã trở thành hệ thống từ Đông sang Tây
Đối với cách mạng, cách mạng Trung Quốc thắng lợi là một cơ hội lớn mởrộng khả năng khai thông liên lạc với các nớc xã hội chủ nghĩa Vòng vây của chủnghĩa đếquốc với cách mạng Việt Nam bị phá vỡ Nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà
có điều kiện thiết lập mối quan hệ trực tiếp với Trung Quốc, Liên Xô và các nớc xãhội chủ nghĩa
Các nớc dân chủ nhân dân Đông Âu và Đông bắc á vợt qua thời kỳ thách thức
về kinh tế, chính trị, xã hội trong công cuộc xây dựng và bảo vệ thành quả cách mạngsau chiến tranh thế giới, tạo cơ sở vững chắc để đi lên con đờng xã hội chủ nghĩa LiênXô thắng lợi trong việc thực hiện kế hoặch kinh tế 3 năm, đang bớc vào thời ký pháttriển kinh tế theo kế hoặch 5 năm lần đầu tiên sau chiến tranh Ngày 10-7-1949 Liênxô thử thành công bom nguyên tử, phá vỡ thế độc quyền nguyên tử của Mỹ Với nhữngthành tự đó, Liên Xô đã cải thiện đợc vị trí cờng quốc của mình trong quan hệ quốc tế,
đứng đầu là hệ thống xã hội chủ nghĩa và cùng với các nớc này tạo ra chổ dựa đáng tincậy của trào lu cách mạng đang đấu tranh cho hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ vàtiến bộ xã hội trên thế giới
Chiến tranh lạnh đã lan sang châu á và trở thành đặc trng trong quan hệ toàncầu Sau hàng loạt các sự kiện: Nớc cộng hoà dân chủ nhân dân Triều tiên ra đời( tháng 9 - 1848); cách mạng Trung Quốc thành công, cộng hoà nhân dân TrungHoa đợc thành lập (1 - 10 - 1949) đồng thời phong trào dành độc lập dân tộc thànhcông đa đến nhiều nớc từng bớc thoát khỏi ách thống trị của các cờng phơng Tâynh: In đônêxia, ấn Độ, Miến Điện…đã buộc các nớc thực dân, đế quốc chuyển sự
đối phó về châu á, nhằm ngăn chặn sự lan tràn của chủ nghĩa cộng sản và dập tắt các
Trang 25phong trào đấu tranh ở khu vực này Điều đáng chú ý là cuộc chiến tranh Đông Dơnglúc này cũng bị lôi cuốn và guồng máy của cuộc chiến tranh lạnh.
Nớc Pháp tiếp tục khủng hoảng về chính trị đi đôi với khủng hoảng về kinh
tế Sau 3 năm theo đuổi cuộc chiến tranh xâm lợc Đông Dơng, nớc pháp đã khôngchịu đựng nổi nhu cầu quá mức của cuộc chiến tranh chính phủ Pháp đã phải thừanhận không thể kết thúc chiến tranh bằng một giải pháp quân sự và cũng không còn
hy vọng lật lại đợc tình thế để đạt đợc những điiêù kiện thuận lợi cho một cuộc điều
đình Rơve tổng than mu trởng quân đội Pháp sau hơn một tháng khảo sát tình hình
ở Đông Dơng (5 - 1949) đã khẳng định Pháp không còn khả năng giành thắng lợitrong chiến tranh và lối thoát của nớc Pháp mới lúc này là để thoát khỏi tình thế khókhăn là đa cuộc chiến tranh Đông Dơng vào kế hoặch chiến lợc của Mỹ Điều đócũng có nghĩa là buổi đầu chuyển giao cuộc chiến tranh cho Mỹ Về phía Mỹ, trớcnguy cơ thất bại ở lục địa Trung Hoa, Mỹ chủ trơng lợi dụng những khó khăn củaPháp, dùng viện trợ quân sự can thiệp sâu vào Đông Dơng, biến Đông Dơng thànhtấm lá chắn cản “làn sóng đỏ” từ lục địa Trung Hoa tràn xuống Đông nam á Trong
điều kiện nh vậy, với sự viện trợ công khai của Mỹ, từ cuối năm 1949 cuộc chiếntranh Đông Dơng trở nên quyết liệt hơn Cuộc chiến tranh Việt Nam lúc này khôngcòn nằm trong khuôn khổ của cuộc chiến tranh Việt- Pháp nửa mà đã trở thành mộtphần của cuộc đối đầu Đông- Tây, trong bối cảnh ngày càng găy gắt của cuộc chiếntranh lạnh
1.2.2 Hồ Chí Minh thăm Trung Quốc, Liên Xô và thắng lợi ngoại giao
đầu năm 1950
Nhận rõ thời cơ và thách thức mở ra từ diễn biến cục diện chiến tranh và xuthế thời cuộc, nhiệm vụ của ngành đối ngoại mới đợc Đảng ta đề ra từ hội nghịtrung ơng lần thứ 6 năm 1949: “ nếu bên trong đại đoàn kết là một nhiệm vụ chínhtrị trung tâm thì bên ngoài, giành lấy sự đồng tình và giúp đổ của các nớc, kiếmthêm bạn Đồng minh là một việc trọng yếu của giai đoạn mới”
Đầu năm 1950, nhận lời mời của Đảng và chính phủ các nớc cộng hoà nhândân Trung Hoa và liên bang cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô Viết, Chủ tịch Hồ ChíMinh dẫn đầu đoàn đại biểu và chính phủ ta lên đờng đi thăm Trung Quốc, LiênXô Đề cập tới mục đích của chuyến đi này, trong cuốn hồi ký chiến đấu trong vòngvây, Đại tớng Võ Nguyên Giáp viết: “ cách mạng Việt Nam tiến hành trong mộthoàn cảnh rất đặc biệt, đã phải vận dụng chiến lợc riêng, sách lợc riêng để tồn tại,
và đi lên giữa muôn vàn khó khăn Có lúc Đảng ta đã phải tuyên bố tự giải tán Nh
Trang 26lời Bác nói, đây là một giải pháp “đau đớn” mà Đảng ta buộc phải làm Rồi khángchiến toàn quốc bùng nổ… mối liên hệ với phong trào cộng sản mà mối liên hệcủa ta với thế giới bên ngoài hầu nh bị gián đoạn Kháng chiến đang chuyển quamột giai đoạn mới Ta cần thông báo với phong trào về tình hình cách mạng ĐôngDơng trong những năm qua vơí những chuyển biến mới, để tranh thủ sự đồng tình
và giúp đỡ, phối hợp ” [14, 403]
Để tạo thuận lợi cho việc Trung Quốc, Liên Xô và các nớc dân chủ nhânkhác công nhân Việt Nam dân chủ cộng hoà Ngày 14 - 1- 1950, chủ tịch Hồ ChíMinh thay mặt chính phủ nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà ra tuyên bố với chính
và nhân dân thế giới, ngời khẳng định tính hợp pháp và chính sách đối ngoại củanớc Việt Nam Dân chủ cộng hoà : Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà là chínhphủ hợp duy nhất của toàn thể nhân dân Việt Nam Căn cứ trên quyền lợi chung,chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao với chínhphủ nớc nào trọng quyền bình đẳng, chủ quyền lãnh thổ và chủ quyền quốc gia củanớc Việt Nam, để cùng nhau bảo vệ hoà bình và xây đắp dân chủ thế giới
Ngày 15 - 1 - 1950 chính Phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà tuyên bố côngnhận nớc Cộng hoà nhân dân Trung Hoa và tỏ ý sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao ViệtNam ở cấp đại sứ Ngày 18 - 1 - 1950 Cộng hoà nhân dân Trung Hoa công nhận nớcViệt Nam dân chủ Cộng hoà là chính phủ hợp pháp, đại diện cho ý chí của nhân dânViệt Nam và sẵn sàng kiến lập quan hệ ngoại giao ở cấp đại sứ với chính phủ ta
Ngày 21 - 1 - 1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Bắc Kinh Trong cuộc hội đàmvới Thủ tớng Chu Ân Lai và các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nớc Trung Quốc, ngời
đã thông báo tình hình cách mạng Việt Nam, đờng lối chủ trơng của Đảng ta và đềnghị Trung Quốc giúp đỡ cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam Trung Quốchoàn toàn đồng tình với đờng lối và chủ trơng của cách mạng Việt Nam do Đảng talãnh đạo và hứa sẽ tích cực giúp đỡ ta về tinh thần và vật chất
Đồng thời với cuộc gặp gỡ trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị chính phủTrung Quốc thông báo cho Stalin biết ngời đang ở thăm Trung Quốc và đề nghị đợc gặpStalin để thông báo cho chính phủ Liên Xô biết về tình cách mạng Việt Nam
Ngày 31 tháng 1 năm 1950 Bộ ngoại giao liên Xô đã gửi cho ngoại giao ViệtNam công hàm thông báo Chính phủ Liên Xô chấp thuận quan hệ ngoại giao vớiViệt Nam Dân chủ cộng hoà và trao đổi đại sứ Bức công hàm có đoạn “sau khi đãxem xét lời đề nghị của chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà và nhận thấy chínhphủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà đại diện cho đa số nhân dân Việt Nam, chính phủ
Trang 27Liên Xô quyết định kiến lập bang giao giữa Liên bang cộng hoà xã hội chủ nghĩaXô Viết và Việt Nam Dân chủ cộng hoà và trao đổi đại sứ” [19, 229].
Tiếp theo Trung Quốc và Liên Xô, trong năm 1950 hàng loạt các nớc dân chủnhânm dân lần lợt chính thức công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với chính phủViệt Nam Dân chủ cộng hoà
Ngày 31 - 1 - 1950, chính phủ cộng hoà dân chủ nhân Triều Tiên
Ngày 2 - 2 - 1950, Chính phủ cộng hoà nhân dân Tiệp khắc và Chính Phủcộng hoà dân chủ Đức
Ngày 3 - 2 - 1950, Chính phủ cộng hoàn nhân dân Rumani và chính phủCộng nhân Hunggari
Ngày 4 - 2 - 1950, chính phủ cộng hoà nhân BaLan
Ngày 8 - 2 – Miên – 1950, Chính phủ cộng hoà nhân Bungari
và Chính phủ Việt Nam đã tiến hành từ khi nớc Việt Nam Dân chủ cộng hoà đợcthành lập, nhằm mục đích giải toả những sự hiểu lầm và ngộ nhận do thiếu thông tin vàthông tin không đầy đủ từ phía những nhà lãnh đạo Liên Xô với đờng lối chiến lợc vàsách lợc của những ngời cộng sản Việt Nam, từ đó tiến tới hoàn toàn ủng hộ và trựctiếp viện trợ vật chất cho cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam
Trong các cuộc hội đàm với các nhà lãnh đạo Đảng và nhà nớc Liên Xô,Stalin yêu cầu Hồ Chí Minh giải thích tình hình Việt Nam và Đông Dơng mà theo
có nhiều điều khó khăn, đặc biệt là về việc Đảng cộng sản Đông Dơng tuyên bố tựgiải tán năm1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thông báo cho các nhà lãnh đạo LiênXô về cuộc cách mạnh tháng Tám và sự ra đời của Chính phủ Việt Nam Dân chủcộng hoà; về tình thế cực gian nguy sau cách mạng tháng Tám, cách mạng ViệtNam đã phải vận dụng những sách lợc riêng để tồn tại và đi lên giữa muôn vàn khókhăn, Đảng cộng sản Đông Dơng tuyên bố tự giải tán là một biện pháp đau đớn cầnphải làm
Trang 28Sau khi nghe chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày, Stalin và những nhà lãnh đạoLiên Xô đã thông cảm với những khó khăn của cách mạng Việt Nam, và hoàn toànnhất trí với đờng lối, sách lợc của Đảng cộng sản Việt Nam trong những năm qua.Chính phủ Liên Xô hứa sẽ tích cực viện trợ cho công cuộc kháng chiến và kiếnquốc sau này của Việt Nam Stalin khẳng định: “Liên Xô sẵn sàng giúp đỡ ViệtNam tất cả những gì có thể” “Từ nay trở đi đồng chí có thể tin tởng ở sự giúp đỡcủa chúng tôi đặc biệt là thời điểm sau cuộc kháng chiến, chúng tôi có nhiều hànghoá, chúng tôi sẽ chuyển cho các đồng chí qua Trung Quốc Nhng vì điều kiện tựnhiên trở ngại, chủ yếu Trung Quốc sẽ giúp đỡ các đồng chí Những gì Trung Quốcthiếu chúng tôi sẽ cung cấp” [59, 182].
Trong thời gian ở Matxcơva Hồ Chí Minh còn có cuộc gặp với Mao Trạch
Đông Chủ tịch nớc Trung Quốc đang dẫn đầu đoàn đại biểu Đảng cộng sản TrungQuốc thăm liên Xô lúc này đang ở Matxcơva Mao Trạch Đông hoàn toàn tán thànhvới Stalin về việc giúp đỡ và viện trợ cho cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam
Cũng trong thời gian ở Macxcơva, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn có những cuộcgặp với đại diện Đảng cộng sản Pháp và nhiều tổ chức quốc tế để tranh thủ sự đồngtình và ửng hộ của các lực lợng tiến bộ trên thế giới đối với cuộc chiến đấu chínhnghĩa của nhân dân Việt Nam
Đầu tháng 3 năm 1950, Hồ Chí Minh rời Maxcơva về Bắc Kinh, Trung Quốc.Ngày 11.3.1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh , lên đờng về nớc, kết thúc thắng lợi chuyến
đi thăm Trung Quốc và Liên Xô
1.2.3 ý nghĩa của thắng lợi ngoại giao đầu 1950
Sau 5 năm chiến đấu đầy khó khăn, gian khổ trong vòng vây của chủ nghĩa
đế quốc, thắng lợi ngoại giao đầu 1950 thực sự là “một đại thắng lợi về chính trị”của nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà Thắng lợi đó là kết quả của sự nghiệp đấutranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam, của chính sách đối ngoại đúng đắn vớinhững hoạt động đối ngoại tích cực, năng động và không mệt mỏi của chính phủViệt Nam dân chủ cộng hoà Với thắng lợi ngoại giao này, tiếp theo là thắng lợiBiên giới (Thu Đông 1950) Việt Nam phá hẳn thế bao vây của địch Cuộc khángchiến của nhân dân ta đợc nối liền với hậu phơng quốc tế rộng lớn
Sự kiện Trung Quốc, quốc gia đầu tiên trên thế giới công nhận và đặt quan hệngoại giao với Việt Nam dân chủ cộng hoà đã trở thành một mốc son trong lịch sửquan hệ Việt - Trung và là sự mở đầu vô cùng thuận lợi để Việt Nam bớc vào hàng ngũcác nớc dân chủ trên thế giới năm 1950 Đánh giá về sự kiện này, xã luận báo Sự Thật,
Trang 29ngày 25-1-1950 đã viết: “cửa ngõ phía Bắc đã mở rộng Từ nay, về mặt ấy, ở sát cạnh
ta, không phải là một bạn đồng loã của thực dân phản động Pháp nữa, mà là nớc cộnghoà dân chủ nhân dân Trung Hoa, một nớc, sau Liên Xô đã đem lại hoà bình và dânchủ thế giới, đây là thắng lợi lớn nhất từ đầu thế kỷ 20 đến nay ” [19, 226]
Việc Liên Xô công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam dân chủ cộnghoà là một sự kiện quan trọng trong lịch sử quan hệ Việt Nam – Miên – Liên Xô Qua sự kiệnnày, chính phủ Liên Xô không chỉ tạo ra những tiền đề về pháp lý quốc tế cho sự hợptác toàn diện giữa 2 dân tộc Việt Nam - Liên Xô, kéo theo sự công nhân và đặt quan hệngoại giao của các nớc trong phe xã hội chủ nghĩa với chính phủ Hồ Chí Minh, mà còngóp phần quyết định vào việc cô lập chính phủ bù nhìn Bảo Đại, nâng chính phủ ViệtNam dân chủ cộng hoà lên vị thế mới trên trờng quốc tế Từ nay nớc Việt Nam dânchủ cộng hoà đã đợc chính thức thừa nhận là một quốc gia độc lập, có chủ quyền,thành viên của phe xã hội chủ nghĩa
Lập quan hệ ngoại giao với Liên Xô, Trung Quốc và các nớc dân chủ nhân khác
đầu năm 1950 là thắng lợi ngoại giao, cũng là thắng lợi chính trị to lớn của Việt Namtrong kháng chiến Nhận định về sự kiện các nớc công nhận và đặt quan hệ ngoại giaochính phủ ta, Nghị quyết ban thờng vụ trung ơng Đảng cộng sản Đông Dơng ngày 4-2-
1950 viết: “Việc Liên Xô, Trung Quốc và các nớc dân chủ nhân dân sốt sắng thừanhận và đặt bang giao với Việt Nam, chứng tỏ phe dân chủ thế giới do Liên Xô lãnh
đạo quyết tâm giúp đỡ Việt Nam, đặt Việt Nam một cách công khai và chính thứctrong hàng ngũ các nớc dân chủ thế giới… Việc thừa nhận ấy làm trớc khi quốc hộiPháp chuẩn y hiệp định bù nhìn 8-3…và cũng là một cú đánh vào bọn phản động Mỹ-Anh đang mu tính can thiệp vào chiến tranh Việt- Pháp.” [ 8, 222]
Trong bối cảnh Mỹ tăng cờng can thiệp vào cuộc chiến tranh Đông Dơng, coi
Đông Dơng là tiêu điểm nóng của cuộc chiến tranh lạnh Thắng lợi ngoại giao đầunăm 1950 đã góp phần quan trọng cải thiện vị trí quốc tế của cuộc chiến tranhchống xâm lợc ở Đông Dơng, tạo thành một hậu phơng rộng lớn làm cơ sở thực tiễn
để thay đổi tơng quan lực lợng ở chiến trờng và điều quan trọng là mở ra một thời
kỳ mới cho hoạt động ngoại giao nớc ta Lần đầu tiên Việt Nam dân chủ cộng hoà
có đợc một hệ thống cơ quan ngoại giao từ châu Âu sang châu á và tăng cờng đợcmạng lới hoạt động quốc tế rộng khắp của mình Từ đây cuộc kháng chiến của nhândân ta đợc thế giới quan tâm và ngày càng ủng hộ mạnh mẽ
Đánh giá thắng lợi ngoại giao đầu 1950, trong lời kêu gọi nhân dịp kỷ niệmcách mạng tháng Tám Ngày 19 - 8 - 1950, chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Mấy năm
Trang 30kháng chiến đã đa lại cho nớc ta một cuộc thắng lợi to nhất trong lịch sử Việt Nam,tức là 2 nớc lớn trên thế giới Liên Xô - Trung Quốc dân chủ và các nớc dân chủnhan dân đã thừa nhận nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà là một nớc ngang hàngtrong đại gia đình dân chủ thế giới Nghĩa là ta đứng hẳn về phía dân chủ và nhậpvào khối 800 triệu nhân dân chống đế quốc Chắc rằng cuộc thắng lợi đại chính trị
ấy sẽ là cái đà cho những thắng lợi quân sự sau này” [51 151,152] ?
Từ đây, cuộc cách mạng giải phóng của dân tộc ta trở thành tiền đồn chốngchủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân ở Đông Nam á; cuộc kháng chiến của việtNam là một bộ phận khăng khiết của cuộc đấu tranh của phe xã hội chủ nghĩa vàcủa xu thế đấu tranh cho hoà bình độc lập dân tộc, dân chủ dân sinh, tiến bộ xã hộithế giới Ngoại giao có điều kiện đẩy mạnh tuyên tuyên quốc tế để tranh thủ sự giúp
đỡ vật chất và sự ủng hộ tinh thần của các lực lợng dân chủ trên thế giới, nâng cao
địa vị của Việt Nam dân chủ cộng hoà trên trờng quốc tế
Tóm lại, trong giai đoạn 1945- 1950, nền ngoại giao non trẻ của nớc ViệtNam dân chủ cộng hoà vừa mới ra đời đã đảm nhận và hoàn thành những nhiệm vụlớn lao mà lịch sử dân tộc đặt ra Trong năm đầu tiên sau cách mạng tháng Támbằng những hoạt động đối ngoại tích cực, mềm dẻo, tự chủ và linh hoạt dân tộc ta
đã giữ vững đợc chính quyền cách mạng - thành quả của cuộc cách mạng thángTám, tranh thủ đợc thời gian hoà bình quý báu chuẩn bị những điều kiện cần thiếtbớc vào cuộc kháng chiến toàn quốc Khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, đấtnớc nằm trong vòng vây thù địch của chủ nghĩa đế quốc Bằng những hoạt động đốingoại tích cực ta đã mở rộng đợc hoạt động ngoại giao ra các nớc trong khu vực,thiết lập đợc các cơ quan đại diện ngoại giao ở Thái Lan, Miến Điên, ấn Độ…vànhiều phòng thông tin ở hầu khắp các quốc gia trên thế giới Đầu năm 1950, vớichuyến công du bí mật của chủ tịch Hồ Chí Minh sang Trung Quốc, Liên Xô đã đalại kết quả thực tế Liên Xô, Trung Quốc và tiếp đó là hàng loạt các nớc dân chủnhân dân khác chính thức công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với nhà nớc ta…thắng lợi ngoại giao đầu 1950, ta phá vở đợc thế bao vây cô lập của chủ nghĩa đếquốc, nối liền cuộc kháng chiến của nhân dân ta với hậu phơng quốc tế rộng lớn.Thúc đẩy sự nghiệp kháng chiến của nhân dân ta giành đợc nhiều thắng lợi to lớnhơn trong giai đoạn tiếp theo
Trang 31Chơng II mặt trận ngoại giao góp phần thúc đẩy cuộc
kháng chiến chống Pháp (1950 - 1954) 2.1 Đờng lối đối ngoại của Đảng sau thắng lợi ngoại giao đầu 1950
Từ ngày 21 - 1 đến ngày 3 - 2 - 1950, hội nghị toàn quốc của Đảng đợc nhómhọp để nhận định tình hình, đề ra chủ trơng, chính sách đáp ứng với tình hình mới.Hôị nghị xác định: “Đông Dơng hiện thời là hai thế lực dân chủ chống đế quốc và
đế quốc phản dân chủ tranh chấp nhau Nên phe dân chủ càng sốt sắng ủng hộ ta,
và bọn đế quốc Mỹ- Anh cũng đang ra sức xúc tiến việc giúp đỡ thực dân Pháp vàcan thiệp thẳng vào Đông Dơng hòng biến Đông Dơng thành căn cứ chống cộng ở
Đông Nam á và một căn cứ điểm chiến lợc trong kế hoặch chuẩn bị chiến tranh
đánh phá Liên Xô và các nớc dân chủ nhân dân
Đông Dơng hiện thời là một tiền đồn của khối dân chủ ở Đông Nam áchống đế quốc Cuộc kháng chiến của các dân tộc Đông Dơng mật thiết gắn bó vớicuộc thanh đấu bảo vệ hoà bình của nhân dân các nớc trên thế giới Nhân dân đánhthực dân Pháp không những để dành tự do, độc lập thật sự cho tổ quốc mình mà còn
để bảo vệ hoà bình dân chủ thế giới” [8, 211]
Hội nghị đã đề ra chủ trơng công tác đối ngoại của Đảng trong giai đoạn mới.Hoàn thành thống nhất Việt Minh - Liên Việt trong phạm vi toàn quốc, xâydựng mặt trận dân tộc thống nhất ở Lào - Miên, tiến tới thiết lập mặt trận dân tộcthống nhất của các dân tộc Đông Dơng
Tích cực tham gia và hởng ứng cuộc vận động bảo vệ hoà bình thế giới Xúctiến ngoại giao và đẩy mạnh tuyên truyền quốc tế để giành lấy sự giúp đỡ của cáclực lợng dân chủ trên thế giới về vật chất cũng nh về tinh thần, nâng cao địa vị củanớc Việt Nam dân chủ cộng hoà trên trờng quốc tế làm cho kháng chiến Lào, Miên
đợc thế giới giúp đỡ
Trang 32Hội nghị cũng đề ra nhiệm vụ đối ngoại cụ thể.
“1 Tố cáo bằng đủ mọi cách mu mô gây chiến của bọn đế quốc do Mỹ cầm đầu
2 Tố cáo chính sách can thiệp của Mỹ – Miên – Anh giúp đỡ thực dân Pháp và bọn
6 Thực hiện sự giúp đỡ của Liên Xô, cùng các nớc dân chủ nhân dân Đông
Âu và Việt Nam về mọi mặt, làm cho các nớc đó thiết thực giúp đỡ cuộc khángchiến của Việt Nam, Lào, Cao Miên.” [ 8, 202]
Trớc sự phát triển vợt bậc của cuộc kháng chiến và những diễn biến mới củatình hình thế giới, tháng 2 năm 1951, trung ơng Đảng đã triệu tập Đại hội toàn quốccủa Đảng đề ra đờng lối đối ngoại trong giai đoạn mới
Về hoạt động đối ngoại trong giai đoạn này nh đại hội Đảng II đề ra là phục
vụ cho mục tiêu lớn nhất của cuộc kháng chiến là: tiêu diệt bọn thực dân Pháp và
đánh bại bọn can thiệp Mỹ, giành thống nhất độc lập hoàn toàn, bảo vệ hoà bình thếgiới Đảng ta cho rằng: “… muốn đợc hoàn toàn giải phóng, các dân tộc Đông Dơngkhông ngừng phải đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mà còn phảichống chính sách can thiệp của đế quốc Mỹ” [51, 144] Mỹ càng can thiệp sâu hơnvào Đông Dơng thì mâu thuẫn giữa Mỹ với Pháp càng tăng lên, đồng thời sự chuyểnhoá lực lợng càng trở nên phức tạp hơn Những điều này trở thành cơ sở để nhà nớc ta
định ra chính sách đối ngoại và phơng hớng tập hợp lực lợng bên ngoài, kịp thờichuyển hớng hoạt động ngoại giao và vận động quốc tế trong bối cảnh kẻ thù tiềmtàng đã trở thành đối thù cụ thể và cuộc kháng chiến bớc sang một giai đoạn mới
Về chủ trơng và đờng lối đối ngoại, tuyên ngôn của Đảng chỉ rõ: “Đảng Lao
Động Việt Nam chủ trơng dân tộc Việt Nam đoàn kết chặt chẽ và giúp đỡ hai dântộc Việt - Miên - Lào kháng chiến giành độc lập, cùng Việt Nam hoàn toàn giảiphóng Đông Dơng; tích cực ủng hộ phong trào giải phóng của các dân tộc bị ápbức, đoàn kết chặt chẽ với Liên Xô, Trung Quốc và các nớc dân chủ nhân dân khác,liên hiệp mật thiết với nhân dân Pháp và nhân dân các thuộc địa Pháp đang góp phầnvào công cuộc chống đế quốc, gìn giữ hoà bình và dân chủ thế giới” [9, 476]
Trang 33Đại hội đề ra những nguyên tắc của chính sách ngoại giao nh sau:
“1 Những nguyên tắc của chính sách ngoại giao là nớc ta và các nớc tôn trọng
độc lập, chủ quyền lãnh thổ, thống nhất quốc gia của nhau và cùng nhau bảo vệ hoàbình và dân chủ thế giới
2 Đoàn kết chặt chẽ với Liên Xô, Trung Quốc và các nớc dân chủ nhân dânkhác và tích cực ủng hộ phong trào giải phóng thuộc địa và nửa thuộc địa Mở rộngngoại giao nhân dân; giao thiệp thân thiện với chính phủ nớc Lào và tôn trọng chủquyền của Việt Nam, đặt quan hệ ngoại giao với các nớc đó theo nguyên tắc tự do,bình đẳng và có lợi cho cả hai bên” [9, 476]
Đại hội cũng đề ra những nhiệm vụ của công tác đối ngoại trong giai đoạn này là:Xúc tiến việc đặt các cơ quan ngoại giao và tăng cờng quan hệ ngoại giao vớicác nớc xã hội chủ nghĩa và dân chủ nhân dân anh em
Tích cực giúp đỡ cuộc kháng chiến của các dân tộc Khơ me và Lào
Có kế hoạch theo dõi và đã kích kịp thời những mu mô và hành động ngoạigiao của thực dân Pháp và nguỵ quyền các nớc, nhất là các nớc Đông Nam á
Tăng cờng đoàn kết với nhân dân Pháp và nhân dân Mỹ để tiến tới nhữnghình thức đấu tranh có hiệu quả để chống đế quốc Pháp – Miên – Mỹ
Phát triển ngoại giao nhân dân, đặc biệt chú trọng tham gia các cuộc vận
động lớn trên thế giới và thắt chặt quan hệ giữa các đoàn thể dân chủ của nhân dânViệt Nam với các đoàn thể của nhân dân thế giới
Chính sách và nhiệm vụ đối ngoại của Đảng ta đợc xác định trong Đại hội lần
II (tháng 2 - 1951) là cơ sở chỉ đạo mọi hoạt động đối ngoại của Đảng và Chính phủ
ta trong suốt thời kỳ còn lại của cuộc kháng chiến
2.2 Ngoại giao với việc tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của các nớc xã hội chủ nghĩa
2.2.1 Tranh thủ sự giúp đỡ về mặt vật chất
Cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta, sau 5 năm chiến đấu trongvòng vây thù địch của chủ nghĩa đế quốc, vợt qua mọi khó khăn thử thách cuộckháng chiến của nhân dân ta bớc đầu dành đợc những thắng lợi lớn Tuy nhiên từ
đầu năm 1950 trở đi cuộc chiến tranh Việt- Pháp bớc vào giai đoạn quyết liệt, Mỹngày càng can thiệp trực tiếp vào cuộc chiến tranh Việt Nam và viện trợ ngày cànglớn cho Pháp, âm mu quốc tế hoá cuộc chiến tranh Việt Nam Điều đó cũng cónghĩa là cuộc kháng chiến của dân tộc ta lúc này không chỉ phải đơng đầu với một
kẻ thù là thực dân Pháp mà đằng sau Pháp là cả một hệ thống các nớc t bản chủ
Trang 34nghĩa đứng đầu là đế quốc Mỹ Điều này đặt cuộc kháng chiến của nhân dân ta
đứng trớc những thách thức mới Việc hớng ra bên ngoài để tranh thủ sự viện trợcủa bạn bè quốc tế, của các nớc anh em xã hội chủ nghĩa nhằm tăng cờng tiềm lựccho cuộc kháng chiến là một yêu cầu cấp thiết đặt ra
Trớc khi cách mạng Trung Quốc thành công, ngày 10 - 8 - 1949, Đảng cộngsản Đông Dơng đã gửi công th cho Đảng cộng sản Trung Quốc yêu cầu viện trợ choViệt Nam kháng chiến Công th nêu rõ: “Đứng trớc những vấn đề khó khăn về kỹthuật mà điều kiện kinh tế cha cho phép vợt qua, đứng trớc tình hình gấp rút phải làm
để chuyển sang chiến lợc mới, chúng tôi không thể không yêu cầu các đồng chí giúp
đỡ chúng tôi về súng, đạn, dụng cụ, cán bộ… Trong những khoản chúng tôi yêu cầu,
có khoản nào các đồng chí không giúp đợc, xin các đồng chí gửi lời đề nghị củachúng tôi cho Liên Xô và nói hộ những khó khăn của chúng tôi cho các đồng chíLiên Xô rõ…” [19, 237]
Tiếp đó, tháng 9, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cử ngời sang Trung Quốc trực tiếpliên lạc với trung ơng Đảng cộng sản Trung Quốc yêu cầu viện trợ Nhng yêu cầu việntrợ của Việt Nam Dân chủ Công hoà chỉ đợc Trung Quốc và Liên Xô đáp ứng sauchuyến đi thăm Trung Quốc, Liên Xô của Chủ tịch Hồ Chí Minh đầu năm 1950
Trong chuyến thăm Trung Quốc, Liên Xô của chủ tịch Hồ Chí Minh đầu
1950 Hồ Chí Minh không chỉ tranh thủ đợc Trung Quốc, Liên Xô và hàng loạt cácnớc dân chủ nhân dân công nhận nền ngoại giao của Việt Nam mà hai nhà nớcTrung Quốc và Liên Xô đồng ý viện trợ quân sự và giúp đỡ vật chất cho cuộc khángchiến của nhân dân ta Sự viện trợ đó là nguồn vật chất vô cùng quý giá để đẩymạnh cuộc kháng chiến của nhân dân ta chuyển lên những bớc phát triển mới
Trong buổi làm việc tại Matxitcơva có cả Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh đềnghị Liên Xô, Trung Quốc giúp đỡ cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam Ngời
đề nghị Liên Xô giúp trang bị cho ta 10 đại đoàn bộ binh và 1 trung đoàn pháo caoxạ Xtalin nói: “yêu cầu của Việt Nam không lớn Nên có sự phân công giữa TrungQuốcvà liên Xô Liên Xô hiện đang phải lo nhiều cho các nớc Đông âu TrungQuốc sẽ giúp Việt Nam những thứ đang cần Những thứ gì Trung Quốc cha có, thìhãy lậy trong số hàng Liên Xô đã viện trợ cho Trung Quốc chuyển cho Việt Nam,
và sẽ đợc Liên Xô hoàn trả” [15, 14] Mao Trạch Đông nói: “Việt Nam cần trang bị
10 đại đoàn để đánh thắng Pháp, trớc mắt hãy trang bị cho 6 đại đoàn để đánh thắngPháp Việt Nam có thể đa ngay một số đơn vị sang nhận vũ khí trên đất Trung Quốc.Tĩnh Quảng Tây sẽ là hậu Phơng trực tiếp của Việt Nam” [15, 14]
Trang 35Ngay sau những thoả thuận trên đã đợc thực hiện Trung Quốc, Liên Xô đãtích cực ủng hộ cho cuộc kháng chiến của nhân dân ta, “ Liên Xô đã viện trợ choViệt Nam 1 trung đoàn pháo cao xạ 37 ly và một số xe vận tải cùng thuốc quân y”[59, 182] Trung Quốc cũng đã nhanh chóng thực hiện những cam kết Trung Quốcnhận trang bị vũ khí cho một số đại đoàn bộ binh và một số đơn vị pháo binh, vậnchuyển viện trợ của Liên Xô cho ta “Tháng 4 năm 1950, hai trung đoàn 308 của tatheo đờng Hà Giang qua Mông Tự (Vân Nam) nhận vũ khí Tiếp theo một trung
đoàn của 312 đi theo đờng theo đờng Cao Bằng qua Hoa Đông (Quảng Tây) TrungQuốc cũng đã chở gấp vũ khí sang cao Bằng để trang bị tiếp tế cho hai trung đoànkhác phải ở lại chiến trờng đối phó với quân địch” [15, 15]
Sự viện trợ to lớn và đắc lực của Trung Quốc và Liên Xô góp phần thúc đẩycuộc kháng chiến của nhân dân ta giành đợc thắng lợi lớn Thắng lợi đầu tiên củaquân và dân ta có sự giúp đỡ của Liên Xô và trung Quốc là thắng lợi biên giới 1950
Thu Đông 1950, ta quyết định mở chiến dịch Biên Giới nhằm khai thông biêngiới phía Bắc, nối liền hậu phơng với các nớc xã hội chủ nghĩa Viện trợ của TrungQuốc là nguồn cung cấp quan trọng cho chiến dịch Mặc dù lúc này Trung Hoa giảiphóng cha đợc bao lâu, đất nớc còn gặp nhiều khó khăn lại phải lo đối phó với cuộcchiến tranh Triều Tiên do Mỹ phát động Song Đảng chính phủ và nhân dân TrungQuốc vẫn dành cho cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam sự giúp đỡ kịp thời,hiệu quả “chỉ tính riêng từ tháng 5 đến thắng 12- 1950, ta đã tiếp nhận từ TrungQuốc 1020 tấn vũ khí đạn dợc, 108 tấn quân trang, quân dụng, 2634 tấn gạo, 20 tấnthuốc và dụng cụ quân y, 800 tấn hàng quân giới, 30 xe ô tô, 120 tấn xăng dầu vàphụ ting ô tô…cùng với những cổ vũ về tinh thần và trao đổi giúp kinh nghiệmchiến đấu, sự chi viên vật chất nói trên góp phần làm tăng sức mạnh chiến đấu củaquân và dân ta, giúp ta có điều kiện để đẩm bảo hậu cần cho một chiến dịch lớn”[59, 202] Có thể nói cùng với sự chuẩn bị chu đáo, kịp thời của quân và dân ta chochiến dịch Biên giới, thì sự chi viện của các nớc anh em xã hội chủ nghĩa đã gópphần làm tăng sức mạnh của ta trên chiến trờng, xoay chuyển cục diện chiến tranh
có lợi cho ta, với chiến thắng Biên giới 1950 ta gìành đợc thế chủ động trên chiếntrờng chính Bắc Bộ, khai thông đợc biên giới phía bắc với hậu phơng quốc tế rộnglớn
Viện trợ của Liên Xô, Trung Quốc cho cuộc kháng chiến của nhân dân ta, làmột qúa trình liên tục, với khối lợng ngày càng lớn, càng về cuối cuộc chiến tranh sựviện trợ càng nhiều, cần thiết và hiệu quả cho cuộc kháng chiến của nhân dân ta
Trang 36Theo Phrăngxoagioayô, tác giả cuốn “ Trung Quốc với việc giải quyết cuộc chiếntranh Đông Dơng lần thứ nhất” thì: “Ngày 18 - 1 - 1950, cùng ngày, Trung Hoa dânquốc công nhận Việt Nam dân chủ cộng hoà, một hiệp định đầu tiên về quân sự đợc
ký kết mà theo nguồn tin của Trung Hoa quốc gia, thì Bắc kinh sẽ giao 15.000 súngtrờng tịch thu đợc của Nhật và 10.000 súng các bin Mỹ cùng với đạn dợc tơng ứng.Việt Minh bắt đầu nhận vũ khí này từ mùa xuân Viện trợ này đã đem lại sức nặng
đáng kể cho Việt Minh khoảng tháng 9 và thắng 10 năm 1950 Nh mọi ngời đều biết,cuộc tiến công này đa lại thảm bại cho quân đội Pháp- Việt ( Đông Khê, Thất Khê,Cao Bằng đều thất thủ” [53, 82- 83]
Bớc sang năm 1951, Trung Quốc viện trợ cho ta với khối lợng vật chất ngàycàng lớn Phrăngxoagioayô viết: “bắt đầu từ năm 1951 viện trợ Trung Quốc đợc cungcấp cho Việt Minh theo hiệp định ký kết mùa hè và mùa thu năm đó Nam Ninh(Quảng Tây) là nơi ký hiệp định trở thành trung tâm chủ yếu của Việt Minh”[50,84].Viện trợ của Trung Quốc còn tăng lên nữa trong năm 1952, khối lợng đạt khoảng 6nghìn tấn Cũng bắt đầu từ năm 1952 còn có thêm một số vũ khí từ các nớc xã hộichủ nghĩa khác Ngày 9 - 11 - 1952 Pháp thu đợc một kho vũ khí mà Trung Quốccung cấp cho Việt Nam cho biết 50 % trung liên do Tiệp Khắc sản xuất và số vũ khícòn lại có nguồn gốc từ Mỹ, Nhật Bản
Từ năm 1953, số lợng vật t chiến tranh mà các nớc viện trợ cho ta khoảng
1000 tấn mỗi tháng, trong đó có nhiều loại vũ khí hạng nặng nh đại bác, trọng liênphòng không … Ngoài ra “cũng trong năm 1953, các nớc anh em còn viện trợ cho
ta 500 xe vận tải, trong đó có một số lớn loại xe vận tải kiểu Môlôtôva do Liên Xôsản xuất Ngoài các thứ đó có thêm một số vũ khí hạng nhẹ nh trung liên (710khẩu), tiểu liên (1500 khẩu), 6000 súng cá nhân, cùng với đạn dợc, 3000 bộ quânphục, thiết bị thông tin liên lạc, 120 máy thu phát, 20 tổng đài, 70 máy điệnthoại…” [53, 85]
Khối lợng viện trợ vật chất của các nớc đợc đa vào nớc ta chủ yếu qua cáccon đờng: từ Quảng Tây, hàng đợc chở sang Cao Bằng, rồi hớng về Thái Nguyênbằng đờng số 3, hoặc Lạng Sơn bằng con đờng số 1; từ Vân Nam hàng đợc chuyểnvào Hà Giang, rồi Tuyên Quang, hoặc qua Lào Cai và Sông Hồng, hoặc qua con đ-ờng mòn từ Lào Cai – Miên – Lai Châu Từ những điểm này phần lớn hàng viện trợ TrungQuốc đợc phân phối về Miền Bắc và Miền Trung
Trong chiến cuộc Đông Xuân 1953 – Miên – 1954, đỉnh cao là chiến dịch ĐiệnBiên Phủ cuộc kháng chiến của nhân dân ta nhận đợc sự chi viện ngày càng lớn của
Trang 37Trung Quốc, Liên Xô Vào thời điểm cuối năm 1953 đầu 1954 khối lợng viện trợcủa Trung Quốc tăng lên, gần 4000 tấn hàng mỗi tháng, trong đó có khoảng 2000tấn lơng thực Vào tháng 12 Trung Quốc trang bị cho ta các xe vận tải, các xe kéopháo 75 và 105, pháo cao xạ và một số đạn dợc rất lớn Bộ chỉ huy quân sự Phápcho biết “từ đầu 1954, Việt Minh đã yêu cầu Trung Quốc viện trợ bổ sung đạn dợc,
xe và vũ khí Cuối tháng 2, Trung Quốc giúp đỡ và trang bị cho Việt Minh mộttrung đoàn pháo phòng không 37 ly Khi trận chiến ở Điện Biên Phủ bắt đầu mức
độ viện trợ của Trung Quốc vợt quá mọi dự đoán” [53, 87- 88] Ngoài sự giúp đỡ về
vũ khí, trang bị chiến tranh, Trung Quốc còn chi viện cho khối lợng lớn hàng lơngthực, thực phẩm, đảm bảo hậu cần cho chiến dịch, “nhờ sự giúp đỡ của Trung Quốc,Việt Minh sẽ nuôi đợc 70.000 dân công và hơn 35.000 chiến sĩ, cộng tất cả là 105
đến 110 ngàn ngời” [57, 113]
Tháng 4 – Miên – 1954, tớng Nava đã tóm tắt tình hình nh sau: “chiến tranh bắt đầugia tăng từ khi có tin họp hội nghị Giơnevơ Nhờ sự chi viện của Trung Quốc, đây làmột cuộc chiến tranh khác mà bộ chỉ huy quân sự Việt Nam đang tiến hành Đó làcuộc chiến tranh hiện đại thực sự có sự can thiệp của pháo binh, súng phòng không,vận chuyển bằng ô tô trên những con đờng có giá trị, việc thông tin liên lạc khôngthể coi thờng đợc” [53, 87] ] Sau này trong hồi ký của mình khi nói về nguyênnhân thất bại của Pháp ở Điện Biên Phủ, Nava phải thừa nhận rằng “nguyên nhânsâu sa là sự yếu kém của chúng ta về lực lợng và phơng tiện… ớc sức mạnh ngàytrcàng gia tăng của Việt Minh nó đã dẫn ta tới thất bại” [31, 238] Điều này một phầnnào chứng toả sự viện trợ của Trung Quốc, Liên Xô làm gia tăng sức mạnh, tiềm lựccho cuộc chiến đấu của ta ở trận đọ sức quyết tại Điện Biên Phủ, góp phần khôngnhỏ vào thắng lợi của ta trên chiến trờng, xoay chuyển cục diện chiến tranh, kếtthúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Pháp
Có thể nói, với đờng lối ngoại giao đúng đắn của Đảng và nhà nớc ta, từ sauthắng lợi ngoại giao đầu 1950, ta đã tranh thủ đợc sự đồng tình ủng hộ của các nớcxã hội chủ nghĩa anh em mà đặc biệt là của hai nớc anh em Liên Xô và TrungQuốc Sự ủng hộ này đợc thể hiện trên nhiều phơng diện, trong đó có sự ủng hộ,giúp đỡ to lớn về mặt vật chất Trong 4 năm từ 1950- 1954, Trung Quốc, Liên Xô
và các nớc dân chủ nhân dân đã cung cấp cho cuộc kháng chiến của ta: “21.517 tấnhàng viện trợ bao gồm: 4.253 tấn vũ khí đạn, 703 tấn nguyên liệu quân giới, 5.069tấn xăng dầu, 9.590 tấn gạo, thực phẩm, 1.505 tấn quân trang, 157 tấn thuốc vàdụng cụ quân y; 200 tấn phơng tiện thông tin, 40 tấn phơng tiện công binh Với tổng
Trang 38giá trị lên tới 136 triệu nhân dân tệ (khoảng 34 triệu rúp) Trong đó, có một khối lợnglớn vũ khí trang bị kỹ thuật: 24 khẩu sơn pháo 75mm, 24 khẩu lựu pháo 105 mm, 76khẩu pháo cao xạ 37mm (của Liên Xô), 12 khẩu pháo hoả tiễn H6 (của Liên xô), 715
xe ô tô vận tải (trong đó có 685 xe của Liên Xô) [3, 459] Số hàng nói trên chiếm 20/%tổng số vật chất mà quân đội Việt Nam sử dụng trên chiến trờng miền Bắc trong thời
kỳ này Điều quan trọng là, với những vũ khí và phơng tiện vận tải nhận đợc khả năngcơ động và tiến công của quân đội ta đợc cải thiện đáng kể
Bên cạnh viện trợ hàng hoá trực tiếp Việt Nam còn nhận đợc một số viện trợgián tiếp của Trung Quốc và các nớc dân chủ nhân dân khó khó có thể tính toán đợc
“Trung Quốc, Liên Xô còn cung cấp mọi nhu cầu vật chất cho sứ quán Việt Nam ởthủ đô 2 nớc; cung cấp tài chính cho các đoàn cán bộ đi tham quan, học tập kinhnghiệm; dự các hội nghị quốc tế; đào tạo cán bộ, cử cố vấn, chuyên gia sang giúpViệt Nam Trung Quốc đã giúp ta huấn luyện và trang bị nhiều đơn vị chiến đấuhoàn chỉnh Cho phép ta đợc đặt một số bệnh viện, xí nghiệp quân giới trên đấtTrung Quốc ” [59, 203-204]
Tóm lại, phát huy thắng lợi ngoại giao đầu 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh và
Đảng ta đã chủ trơng tăng cờng hoạt động đối ngoại với Liên Xô, Trung Quốc vàcác nớc dân chủ nhân dân khác Hoạt động theo hớng trên trong những năm 1950– Miên – 1954 đã thu đợc những kết quả to lớn Sự ủng hộ về tinh thần và vật chất to lớncủa các nớc xã hội chủ nghĩa anh em đã làm cho lực lợng kháng chiến tăng lên
đáng kể, góp phần quan trọng vào thắng lợi trên mặt trận quân sự Đồng thời, với
sự ủng hộ của các nớc anh em, vị thế và uy tiến của nớc Việt Nam dân chủ cộnghoà ngày càng đợc khẳng đinh và nâng cao trên trờng quốc té, tạo môi trờng quốc
tế thuận lợi cho cuộc kháng chiến trong giai đoạn này
2.2.2 Tranh thủ sự giúp đỡ về kinh nghiệm chỉ đạo chiến tranh
Cùng với những hoạt động nhằm tranh thủ sự viện trợ, giúp đỡ về vật chất, từ
1950 trở đi, qua con đờng ngoại giao, Đảng và chính phủ ta đã hết sức tranh thủ sựgiúp đỡ của các nớc anh em, đặc biệt là hai nớc anh em lớn Liên Xô, Trung Quốc,trong việc đề nghị hỗ trợ, giúp đỡ sự nghiệp kháng chiến của nhân dân ta trên phơngdiện kinh nghiệm chỉ đạo chiến tranh
Đối với cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc ta, từ 1950 trở đi, tranh thủgiúp đỡ về kinh nghiệm chỉ đạo chiến tranh của Liên Xô, Trung Quốc mang một ýnghĩa hết sức to lớn
Trang 39Trong suốt những năm tháng “chiến đấu trong vòng vây”, cuộc kháng chiếncủa nhân dân ta chống thực dân Pháp xâm lợc đã có những bớc tiến nhất định Đờnglối kháng chiến của Đảng, chính phủ ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu vạch ra
đã khẳng định đợc tính đúng đắn, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của cách mạngnớc ta Mặc dù đã có những trởng thành đáng ghi nhận trên nhiều phơng diện, tuynhiên chúng ta vẫn cha có thể giành đợc quyền chủ động trên chiến trờng Quân đội
ta, tuy lớn mạnh, có khả năng bẻ gãy các âm mu, đẩy lùi các cuộc càn quét, tiếncông của địch Nhng trớc thời điểm 1950, cuộc chiến đấu của nhân dân ta chống lạithực dân Pháp vẫn đang thiếu những kinh nghiệm trong công tác chỉ đạo một cuộcchiến tranh hiện đại
Trong 5 năm chiến đấu, xuất phát từ tơng quan lực lợng giữa ta và địch,
ph-ơng châm tác chiến cơ bản, chủ đạo của quân đội ta là “du kích chiến”, “vận độngchiến” Lực lợng của ta mới phát triển mạnh ở việc xây dựng bộ đội địa phơng vàdân quân du kích, chúng ta vẫn còn thiếu những binh đoàn chủ lực làm nòng cốtcho những trận đánh lớn Chúng ta cha có nhiều các loại vũ khí hiện đại trang bịcho quân đội Bộ đội ta mới chỉ có kinh nghiệm trong phòng ngự, chống vây quétcủa địch Mục tiêu trong từng trận đánh chúng ta đề ra mới chỉ dừng lại ở cái đích
là sự tiêu hao sinh lực Địa bàn hoạt động truyền thống của ta về cơ bản vẩn bị bólại trên khu vực rừng núi
Trong khi đó thực dân Pháp, có trong tay những đội quân chính quy, hiện đại
và thiện chiến, đợc đặt dới sự chỉ đạo trực tiếp của những vị tớng là những ngời từngdạn dầy trận mạc trên nhiều chiến trờng á, âu, Phi Quân đội Pháp đợc trang bị cácloại vũ khí tối tân nhất trong thời điểm bấy giờ Đại tớng Võ Nguyên Giáp phải thừanhận: “Trớc đây ta thờng hiểu sức mạnh của địch là ở vũ khí, trang bị hiện đại, chỗyếu của địch là tinh thần, một công cụ xâm lợc, một đội quân đánh thuê Nay tathấy rõ thêm cái mạnh của quân đội nhà nghề Chỉ huy Pháp đều đợc đào tạo chínhquy theo chuyên ngành từ những trờng quân sự có kinh nghiệm lâu đời Quân độiPháp có một đội ngũ chuyên môn về binh khí, kỹ thuật Binh sỹ đều đợc luyện tập
kỹ trớc khi tung ra chiến trờng Cách đào tạo này kết hợp với những loại vũ khí hiện
đại sẽ phát huy cao độ trong những trận đánh lớn Công tác tham mu tình báo trongquân đội Pháp rất có nề nếp Địch biết cách khai thác mọi yếu tố để tìm hiểu tìnhhình và những hoạt động của quân ta Quân Pháp đặc biệt giỏi trong bố trí phòngngự…” [15, 298-299] Các cố vấn, chuyên gia quân sự Trung Quốc cũng phải thừa
Trang 40nhận: “Pháo binh Pháp rất giỏi và quân Pháp rất giỏi trong chiến đấu hợp đồng cácbinh chủng” [15, 299]
Mặt khác, muốn đa sự nghiệp kháng chiến tiến lên một bớc cao hơn, dành lạithế chủ động chiến trờng, thì yêu cầu đặt ra là chúng ta không chỉ dừng lại ở chiếntranh du kích, mà phải phát triển lên chiến tranh chính quy, chúng ta không chỉ
đánh tiêu hao mà phải vơn tới đánh tiêu diệt, không chỉ chiến đấu trên địa bàn rừngnúi, chúng ta phải tiến tới việc đa quân về trung du đồng bằng, không chỉ đẩy mạnhxây dựng bộ đội địa phơng và dân quân du kích mà phải xây dựng, phát triển hệthống các binh đoàn chủ lực, mở rộng cả về số lợng và chất lợng quân đội chínhquy Chúng ta phải tính tới thành lập các đại đoàn, các binh chủng mới để đáp ứngcông cuộc kháng chiến đặt ra Nhng trớc những đòi hỏi mới của sự nghiệp khángchiến, kinh nghiệm chỉ đạo chiến tranh chúng ta vừa yếu, lại vừa thiếu Chúng tacha có những trận đánh lớn để rút ra bài học kinh nghiệm cấn thiết Quy mô cáctrận đánh, các chiến dịch mới chỉ dừng lại ở cấp tiểu đội Quân đội ta trớc chiếndịch Biên Giới cha khi nào trong một trận đánh có sự phối kết hợp chiến đấu giữacác binh chủng, quân đội chúng ta cũng cha đa dạng hoá các binh chủng chủ lực
Bộ đội ta cha hiểu, biết nhiều về các loại vũ khí hiện đại Có thể thừa nhận một điềurằng, trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nớc và giữ nớc của dân tộc, ông cha ta đã
để lại rất nhiều những bài học kinh nghiệm quý giá sau mổi cuộc chiến tranh giữ
n-ớc hoặc chiến tranh giải phóng Tuy nhiên vào thời điểm chúng ta chống lại thựcdân Pháp, trớc một kẻ thù hoàn toàn mới so với kẻ thù truyền thống, chúng ta khôngthể nói rằng chúng ta có đầy đủ những kinh nghiệm, kiến thức trong việc chỉ đạomột cuộc chiến tranh hiện đại
Chính vì vậy, bên cạnh sự nỗ lực của chính bản thân, đúc kết kinh nghiệmqua từng trận đánh, từng chiến dịch, nghiên cứu hình thái của những cuộc chiếntranh hiện đại, phát huy cao độ một cuộc chiến tranh lấy điểm tựa là nhân dân,
Đảng, Chính phủ, đứng đầu là Hồ Chủ Tịch thông qua biện pháp ngoại giao, cũng
đã nhận thấy rõ tầm quan trọng không chỉ là ở việc tranh thủ sự giúp đỡ về mặt vậtchất, mà yêu cầu về lĩnh hội, tiếp nhận, tranh thủ sự giúp đỡ trong kinh nghiệm chỉ
đạo chiến tranh cho cuộc kháng chiến của nhân dân ta cũng là một công việc hếtsức cấp thiết Từ năm 1950 trở đi, thông qua biện Pháp ngoại giao chúng ta đã tranhthủ đợc những kinh nghiệm chỉ đạo chiến tranh quý giá của Hồng Quân Liên Xô và
đặc biệt là cuộc chiến đấu của giải phóng quân Trung Quốc trớc kia Bởi lẽ HồngQuân Liên Xô đặc biệt là Giải phóng quân Trung Quốc là những đội quân đã có rất