Với việc tăng tỷ lệ hàng hoá nông sản đã làm cho hàng hoá bán ra từ hộ nông dân tăng lên, đồng thời các nghành nghề ở nông thôn miền núi cũng ngày một phát triển, tạo cho hộ nông dân nhi
Trang 1A Phần mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam, sự tồn tại của sản xuất hàng hoá là một tất yếu khách quan Chỉ có đẩy mạnh sản xuất hàng hoá mới làm cho nền kinh tế nớc ta phát triển năng động Kinh tế tự nhiên, do bản chất của nó, chỉ duy trì tái sản xuất giản đơn Còn kinh tế hàng hoá, buộc mỗi ngời sản xuất
tự chịu trách nhiệm về hàng hoá do mình sản xuất ra, ngời sản xuất phải quan tâm tới sự tiêu thụ trên thị sao cho sản phẩm của mình làm ra đợc xã hội thừa nhận Chính vì thế mà nền kinh tế trở nên sống động
Huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An là một huyện miền núi, những năm gần
đây, do sự phát triển của kinh tế hàng hoá nên kinh tế xã hội đợc đánh giá là phát triển khá của tỉnh
Trong sự phát triển kinh tế chung của huyện gồm nhiều thành phần tham gia, nhng kinh tế cá thể, trong đó hộ nông dân đã có nhiều đóng góp Hộ nông dân ở Nghĩa Đàn đã khẳng định đợc vai trò của mình trong quá trình chuyển từ nền kinh tế tự nhiên sang nền kinh tế hàng hoá Với việc tăng tỷ lệ hàng hoá nông sản đã làm cho hàng hoá bán ra từ hộ nông dân tăng lên, đồng thời các nghành nghề ở nông thôn miền núi cũng ngày một phát triển, tạo cho hộ nông dân nhiều việc làm đã đa sự tăng trởng về kinh tế của huyện ngày càng cao Các nông trờng quốc doanh đã khoán đất, cây trồng và sản phẩm đến từ hộ nông dân Hợp tác xã nông nghiệp đã giao đất giao rừng cho hộ xã viên đợc quyền sự dụng lâu dài Các chủ trơng chính sách của Đảng và Nhà nớc ngày càng khuyến khích, động viên hộ nông dân phát huy hết tài năng và sức lực của mình để thúc
đẩy nền kinh tế đi lên
Vai trò của kinh tế hộ nông là rất lớn đối với sự phát triển kinh tế của huyện Nghĩa Đàn Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, bên cạnh những mặt mạnh thì kinh tế hộ nông dân còn bộc lộ những tồn tại và thách thức nh vốn đầu
Trang 2t cha đáp ứng đợc yêu cầu cho hộ nông dân đầu t sản xuất Thị trờng tiêu thụ nông sản của hộ nông dân làm ra và giá cả của những sản phẩm đó không ổn
định, phát triển sản xuất, tăng trởng kinh tế của kinh tế hộ nông dân cha gắn với bảo vệ tài nguyên và môi trờng Chính những tồn tại này đã cản trở đến sự phát triển của kinh tế nông hộ nói riêng và kinh tế cuả huyện nói chung trong quá trình phát triển lên nền kinh tế hàng hoá
Những vấn đề trên đang cần đợc xem xét cả về lí luận và thực tiễn nhằm
đa kinh tế Nghĩa Đàn phát triển hơn nữa Đó chính là lí do tôi chọn đề “Vai trò
của kinh tế hộ nông dân đối với sự phát triển kinh tế hàng hoá ở huyện Nghĩa Đàn ”
2 Tính cấp thiết của đề tài
Từ trớc đến nay, nông nghiệp luôn luôn đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong nền kinh tế nớc ta Sản xuất nông nghiệp đã tạo ra lơng thực thực phẩm, nguyên liệu đáp ứng cho nhu cầu sản xuất và tiêu dùng
Trong những năm đổi mới nông nghiệp và nông thôn nớc ta nói chung, huyện Nghĩa Đàn nói riêng đã thu đợc những thành tựu to lớn trên nhiều mặt
mà trong đó kinh tế hộ nông dân có vai trò to lớn
Thành tựu đạt đợc trong nông nghiệp gắn liền với sự đổi mới chính sách của Đảng và nhà nớc Xây dựng kinh tế hộ nông dân tự chủ trong chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần, kinh tế hộ là hình thức tổ chức kinh tế truyền thống của nớc ta rất cần thiết và phù hợp với trình độ phát triển nông nghiệp hiện nay, góp phần thúc đẩy nhanh quá trình chuyển nông nghiệp sang sản xuất hàng hoá Tuy vậy, cho đến nay, trình độ chung về sản xuất nông nghiệp của các hộ nông dân ở Nghĩa Đàn còn thấp Mức độ cơ khí hoá trong sản xuất nông nhgiệp còn rất thấp, lao động thủ công còn phổ biến nên năng suất lao động cha cao, sản xuất của nhiều hộ nông dân vẫn còn trong tình trạng
tự cung, tự cấp, giá cả và khả năng tiêu thụ hàng hoá nông sản gặp nhiều khó khăn
Trang 3Trong gian đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc-nông nghiệp vẫn
đợc xác định là một ngành quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Vì vậy yêu cầu phát triển kinh tế hộ nông dân trong giai đoạn hiện nay là rất cần thiết và có
ý nghĩa thiết thực
3 Lịch sử nghiên cứu đề tài.
Vấn đề kinh tế hộ nông dân đã đợc đề cập trong các văn kiện của Đảng
và nhà nớc và nhiều công trình nghiên dới những góc độ khác nhau của nhiều tác giả đã đợc công bố nh : “kinh tế hộ nông dân ở một số tỉnh duyên hải miền trung- xu hớng vận động và phát triển” của Nguyễn Bá Trà; “phát triển kinh tế
hộ nông dân tỉnh Nghệ An” của Lê Thị Bông; “kinh tế phụ gia đình trong nền kinh tế quá độ”của Nguyễn Ngọc Long
Tuy nhiên ở huyện Nghĩa Đàn cha có tác giả nào nghiên cứu sâu về kinh
tế hộ nông dân Dới góc độ kinh tế chính trị, trên cơ sở kế thừa lí luận cũng nh thực tiễn, luận văn đi sâu vào phân tích vai trò của kinh tế hộ nông dân, xu hớng vận động của nó để từ đó đề xuất một số giải pháp thúc đẩy kinh tế hộ nông dân
ở Nghĩa Đàn phát triển
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích: Luận văn nhằm nghiên cứu và xác định vai trò quan trọng, lâu dài của kinh tế hộ nông dân đối với quá trình phát triển kinh tế hàng hoá ở huyện Nghĩa Đàn
- Nhiệm vụ: + Luận văn làm rõ đặc điểm, vai trò của kinh tế hộ nông dân
+ Thực trạng và xu hớng vận động phát triển của kinh tế hộ nông dân ở Nghĩa Đàn
+ Đề xuất một số giải pháp để phát triển kinh tế hộ nông dân ở Nghĩa Đàn
5 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tợng: Luận văn nghiên cứu đặc điểm, vai trò của kinh tế hộ nông dân trong sự phát triển kinh tế chung của huyện Nghĩa Đàn Từ đó làm rõ
Trang 4thực trạng, xu hớng vận đông của kinh tế nông hộ và tìm ra một số giải pháp nhằm giúp cho kinh tế nông hộ phát triển.
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu đặc điểm, vai trò của kinh tế hộ nông dân trong những năm khoán sản phẩm cuối cùng đến ngời lao động theo chỉ thị 100 đến nay Trong quá trình phân tích có so sánh với thời gian trớc đó
7 Cấu trúc của luận văn.
- Luận văn gồm có phần mở đầu, phần nội dung, phần kết và danh mục các tài liệu tham khảo
- Nội dung của luận văn gồm hai phần với sáu tiết
Phần 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về kinh tế hộ nông dân ở nớc ta.
1.1 Khái niệm
1.2 Vai trò của kinh tế hộ nông dân đối với sự phát triển kinh tế hàng hoá ở
huyện Nghĩa Đàn
1.3 Xu hớng phát triển của kinh tế hộ nông dân ở Nghĩa Đàn
Phần 2: Thực trạng và những giải pháp chủ yếu để phát triển kinh tế hộ nông dân ở Nghĩa Đàn.
2.1 Thực trạng phát triển kinh tế hộ nông dân ở Nghĩa Đàn
2.2 Những tồn tại và thách thức
2.3 Những giải pháp chủ yếu để phát triển kinh tế hộ nông dân ở Nghĩa Đàn
Trang 5B Nội dung
Phần 1 Một số vấn đễ lí luận và thực tiễn về kinh tế hộ
nông dân ở nớc ta
1.1 Khái niệm.
Nói đến kinh tế hộ thì trên thế giới ngời ta đã bàn đến rất nhiều ở thế kỉ
XIX, Mác-Ăngghen khi bàn về nông dân Châu Âu đã đề cập đến “hộ nông dân nhỏ Châu Âu” là mầm mống phát triển các quan hệ kinh tế t bản Hai ông cho rằng, do tự khai thác nguồn lao động gia đình mà hộ có mức sống bền vững Hoặc Lê Nin khi phân tích kết cấu xã hội nông thôn nớc Nga đã lu ý rằng hộ khai thác triệt để năng lực sản xuất để đáp ứng những nhu cầu đa dạng của gia
đình và xã hội
Những năm gần đây, hộ đợc rất nhiều ngành khoa học quan tâm Sự quan tâm nghiên cứu về hộ và kinh tế hộ của các nhà khoa học đã đánh dấu thời kỳ thay
đổi thái độ đối với hộ để có những chính sách kinh tế-xã hội cho hộ
Trong một số từ điển chuyên ngành kinh tế cũng nh từ điển ngôn ngữ thì
hộ là tất cả những ngời sống chung cùng một nhà Nhóm ngời đó bao gồm những cùng chung huyết tộc và những ngời làm công
Về phơng diện thống kê, liên hợp quốc cho rằng: “hộ là những ngời cùng sống chung dới một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ” [1;8]
ở Hà Lan trong cuộc thảo luận quốc tế lần thứ t(1980) về quản lý nông trại, các đại biểu nhất trí rằng “hộ là đơn vị cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất, tái sản xuất, tiêu dùng và các hoạt động xã hội khác”[1;8]
Raul I tarna, giáo s trờng đại học tổng hợp Liôbon khi nghiên cứu cộng
đồng nông dân trong quá trình quá độ ở một số nớc Châu á đã chứng minh “Hộ
là một tập hợp những ngời cùng chung huyết tộc có liên quan mật thiết với nhau trong quá trình sáng tạo vật phẩm để bảo tồn chính bản thân họ và cộng đồng”
Trang 6Qua các khái niệm trên đây về “hộ” ta thấy: hộ là một nhóm ngời cùng huyết tộc hay không cùng huyết tộc Họ cùng sống chung hay không sống chung dới một mái nhà Có chung một nguồn thu nhập và ăn chung Và cùng tiến hành sản xuất chung.
Riêng ở Việt Nam, khái niệm hộ đợc bắt đầu chú ý khi hợp tác xã làm ăn thua lỗ Trong một thời kỳ dài, do việc sử dụng cơ chế bao cấp quan liêu với lối làm ăn tập thể đã không đáp ứng đợc yêu cầu phát triển của lực lợng sản xuất trong nông nghiệp, nên ngày càng tỏ ra yêu kém, thiếu năng động Đặc biệt là hiệu quả phân phối lợi ích ngày càng giảm Kinh tế hộ là mô hình để phân biệt với kinh tế tập thể Nó là đơn vị kinh tế độc lập nằm trong mối quan hệ bị chi phối bởi kinh tế tập thể và kinh tế hộ đợc quan niệm nh là các hoạt động kinh doanh của một đơn vị kinh tế độc lập Do đó không thể đồng nhất kinh tế hộ với kinh tế gia đình mặc dù giữa chúng có những điểm chung Tuy nhiên từ trớc
đến nay ngời ta vẫn mặc nhiên thừa nhận “hộ” là “gia đình”, “kinh tế hộ” là “là kinh tế gia đình”
Nh vậy, ta có thể hiểu kinh tế hộ là mô hình kinh tế có cơ cấu tổ chức bao gồm nhiều thành viên liên kết lại với nhau trong quan hệ gia đình và đó có thể hạn chế đến mức thấp nhất các mâu thuẫn, ở đó có sự nhất trí cao trong tổ chức quản lý và phân phối Hộ có khả năng xử lý nhanh nhạy những bất trắc xảy ra trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, hạn chế đợc tiêu dùng lãng phí, tập trung cho đầu t sản xuất
Cơ cấu của hộ rất đa dạng, phong phú, nhiều ngành nghề, do đó kinh tế
hộ là một hình thức kinh tế phát triển từ nhiều nguồn thu nhập
Bên cạnh đó ta cũng thấy hoạt động sản xuất của hộ có khả năng khai thác tận dụng tối u mọi tiềm năng sẵn có nh lao động, nguồn vật t nhàn rỗi, sản phẩm phụ của nông nghiệp và hộ có khả năng truyền lại nghề cho các thế hệ trong gia đình
Tuy nhiên, trớc đây chúng ta thờng hiểu một cách phiến diện, cho rằng kinh tế hộ nông dân là kinh tế gia đình, kinh tế tự cung tự cấp, phân tán lạc hậu,
Trang 7vô tổ chức, nhng trên thực tế kinh tế hộ không diễn ra nh chúng ta quan niệm Sản xuất nông nghiệp là một quá trình sản xuất phụ thuộc lớn vào điều kiện tự nhiên cả sản phẩm đầu ra lẫn đầu vào, điều này nó khác với qúa trình sản xuất công nghiệp nên trong quá trình sản xuất thì ngời sản xuất phải hết sức nhạy bén, linh hoạt và thích ứng với cơ chế thị trờng.
Kinh tế hộ dựa trên cơ sở kinh tế chung mà mỗi thành viên đều có nghĩa
vụ và trách nhiệm, đều có ý thức tự giác đóng góp làm tăng quỹ thu nhập của mỗi hộ đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của mỗi thành viên
Nhìn chung ta thấy, hộ là đơn vị sản xuất và tái sản xuất chứa đựng các yếu tố của quá trình tái sản xuất nh lao động, đất đai,vốn, kỹ thuât, nguồn thu nhập và hộ là đơn vị sản xuất tự thực hiện quá trình tái sản xuất dựa trên việc phân bổ các nguồn lực vào các ngành sản xuất để thực hiện tốt các chức năng của nó Chính trong quá trình đó, hộ có mối liên hệ chặt chẽ với các đơn vị kinh
tế khác và với hệ thống kinh tế quốc gia Khai thác các năng lực của hộ sẽ góp phần thúc đẩy hệ thống kinh tế quốc gia phát triển
1.2 Vai trò của kinh tế hộ nông dân đối với sự phát triển kinh tế hàng hoá ở Nghĩa Đàn.
1.2.1 Quá trình nhận thức về kinh tế hộ của Đảng ta.
Thắng lợi của nhân dân ta chống lại hai cuộc chiến tranh biên giới đã lập lại hoà bình, ổn định để tiếp tục xây dựng đất nớc Nhng chúng ta lại phải đối mặt với những khó khăn, thử thách mới gay gắt Đó là nền kinh tế xã hội nớc ta lâm vào khủng hoảng trầm trọng Sau gần 40 năm chiến tranh liên tục đã làm cho việc khắc phục hậu quả chiến tranh rất phức tạp và kéo dài, những sai lầm khuyết điểm trong việc duy trì mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung qua liêu bao cấp quá lâu Nếu nh trong thời kỳ chiến tranh thì việc sử dụng mô hình này
là đúng vì nó tập hợp đợc sức ngời, sức của cho cuộc chiến tranh thì trong thời bình, việc sử dụng cơ chế bao cấp với lối làm ăn tập thể sẽ không tốt Bởi vì nó không đáp ứng đợc yêu cầu phát triển của lực lợng sản xuất trong nông nghiệp, nên ngày càng tỏ ra yếu kém, thiếu năng động, đặc biệt là hiệu quả phân phối
Trang 8lợi ích cho xã viên ngày càng tụt dần, không đảm bảo tái tạo sức lao động đã bỏ
ra, nên không kích thích đợc sản xuất phát triển Từ đó dần dần mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất tập thể tập trung với trạng thái của lực lợng sản xuất đang đòi hỏi đợc giải phóng, mà đặc biệt lao động, vốn, kinh nghiệm của từng hộ nông dân đang cần đợc mở rộng sự phát triển nhng lại bị cơ chế quản lý tập trung của hợp tác xã kìm giữ, ràng buộc, thậm chí có nơi hộ nông dân tìm cách phát triển thì bị gán ghép là tiểu t sản
Chính vì sai lầm đó mà sản xuất lơng thực không đạt chỉ tiêu 21 triệu tấn
mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV đề ra, bình quân lơng thực giảm từ 274,4kg/ngời/năm(1976) xuống 268.2kg/ngời/năm (1980) Nhà nớc ta phải nhập khẩu 1.274000 tấn lơng thực vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu Trong khi đó
so với năm 1975, đến năm 1980 dân số nớc ta đã tăng thêm 6 triệu ngời Vấn đề
an ninh lơng thực, công ăn việc làm, giáo dục, y tế trở thành nỗi lo của toàn
Đảng, toàn dân Một yêu cầu lớn lúc này cho Đảng và nhân dân ta là làm gì và làm nh thế nào để khắc phục những mặt cha hoàn thiện đó?
Với bản lĩnh cách mạng vững vàng và xuất phát từ thực tiễn, Đảng và nhân dân ta bằng trí tuệ và lao động sáng tạo của mình đã kiên trì tháo gỡ khó khăn,từng bớc tìm ra chủ trơng đổi mới
Dấu hiệu đổi mới bắt đầu từ hội nghị TW lần thứ 6 khoá IV tháng 9/1979 Dới ánh sáng của nghị quyết TW6 đã đem lại một số tiến bộ trong sản xuất nông nghiệp nhng những khó khăn về kinh tế trong năm 1979 đã phản ánh chủ trơng chính sách của Đảng và nhà nớc cha thay đổi đồng bộ
Trong khó khăn, một số địa phơng đã mạnh dạn làm thử cách quản lý mới đó là “khoán chui”-một hình thức khoán sản xuất đến nhóm và ngời lao
động Ghi nhận những kết quả tích cực của hình thức này nh năng suất tăng, tiết kiệm chi phí sản xuất, thúc đẩy tính tích cực của ngời lao động
Ngày 21/10/1980 ban bí th TW Đảng ra thông báo cho phép các địa
ph-ơng mở rộng khoán sản phẩm và khoán việc
Trang 9Ngày 13/1/1981 Ban bí th ra chỉ thị 100 CP/TW cải tiến công tác khoán,
mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và ngời lao động trong hợp tác xã nông nghiệp Chỉ thị 100 của ban bí th TW là một bớc tiến lớn, nó đã phát huy tốt tiềm năng lao động, đất đai, tiền vốn của ngời nông dân trong việc thu nhập ở phần vợt khoán Theo đuổi mục tiêu khoán đã trở thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy nông dân hăng hái sản xuất, tăng năng suất cây trồng, vật nuôi để có thu nhập cao hơn trên mảnh đất khoán Tình trạng làm chung ăn chung dẫn đến hiện tợng “cha chung không ai khóc” đã đợc khắc phục một bớc đáng kể Tính chủ động, tháo vát, có sáng kiến và tinh thần cần cù lao động của ngời nông dân đã đợc thể hiện rõ trên mảnh đất nhận khoán Những năm sau đó, động lực khoán mới của ngời nông dân dần dần giảm sút, nhiều hiện tợng tiêu cực phát sinh, thậm chí có không ít nơi nông dân bắt đầu trả ruộng khoán, phần vợt dới những mức độ khác nhau không đủ bù đắp nỗi sự thua thiệt về thu nhập trong phần vợt khoán Sở dĩ nh vậy chủ yếu là vì cơ chế khoán theo chỉ thị 100 cha thực sự tạo ra động lực sản xuất cho ngời nông dân trong phần vợt khoán ở
đây ngời nông dân hởng thụ kết quả lao động của mình theo cơ chế cộng điểm, nhng cộng điểm lại bị những ngời điều hành tổ chức sản xuất tập thể chi phối quá nhiều cho những công việc không có tính chất sản xuất, làm cho giá trị ngày công của những ngời trực tiếp sản xuất bị giảm sút nặng nề Đó là cha kể
đến các trờng hợp nh nông dân còn phải đóng nhiều khoản khác nhau có tính chất bao cấp bất hợp lý, việc chi quá nhiều cho bộ máy quản lý phình ra, việc tham ô tài sản tập thể của những cá nhân tiêu cực trong bộ máy quản lý Nghị quyết TW2 và đặc biệt là nghị quyết 10 của bộ chính trị đã vạch rõ phơng hớng để khắc phục những thiếu sót nói trên bắt đầu khôi phục đợc nhiệt tình hăng hái của ngời nông dân Theo Nghị quyết 10 của Bộ chính trị, cơ chế khoán dựa trên mức và đơn giá sản phẩm, gắn kế hoạch sản xuất với kế hoạch phân phối ngay từ đầu Diện tích ruộng giao khoán đợc ổn định trong 5 năm (đối với cây công nghiêp dài ngày và rừng thời gian giao khoán còn dài hơn nữa) Bỏ việc quy định máy móc hợp tác xã lo 5 khâu, xã viên lo 3 khâu Thay vào đó,
Trang 10những khâu nào mà hộ nông dân làm đợc thì để họ tự lo, nhờ đó thu nhập của
ng-ời nhận khoán tăng lên một cách tơng xứng
Với chủ trơng ai giỏi nghề gì làm nghề đó, một số lợng ruộng đất nhất
định đợc dành để chia – thêm cho những nông hộ có tiềm lực kinh tế và biết làm ăn Những nông hộ bình thờng hoặc làm ăn kém chỉ đợc giao một số lợng khoán tối thiểu đủ để bảo đảm điều kiện sinh sống bình thờng và phù hợp với khả năng canh tác của họ, hoặc chuyển sang làm nghề khác thích hợp hơn ở một số nơi, do có diện tích đất đai, ao hồ nhiều hoặc có những mảnh đất xấu, ít sinh lợi, ngời ta tiến hành thí điểm đấu thầu cho các hộ xã viên có tiềm năng lao
động, vốn và kĩ thuật Thực tế ở một số địa phơng cho thấy, với cách làm trên, mức giao khoán và sản lợng đạt đợc trên các ruộng đất này cao hơn nhiều so với cách giao khoán cũ, nhờ đó mà cả nông hộ, tập thể đều có lợi Chính vì có
động lực sản xuất nên năng suất lao động cao, sản lợng lơng thực tăng, từ chỗ hàng năm chúng ta phải nhập khẩu lơng thực thì đến năm 1989 chúng ta đã xuất khẩu đợc gạo
Ngày nay, hộ nông dân đã trở thành đơn vị sản xuất tự chủ, nhiều nông hộ ở một số vùng đã trở thành đơn vị sản xuất hàng hoá Với t cách là ngời làm chủ
t liệu sản xuất, quan hệ với thị trờng, ngời lao động đã quan tâm đến hiệu quả
kinh tế, sử dụng có hiệu quả hơn t liệu sản xuất và sức lao động 1.2.2 Vai trò
của kinh tế hộ nông dân trong quá trình phát triển kinh tế
hàng hoá ở huyện Nghĩa Đàn
Nghĩa Đàn là một huyện miền núi có nền kinh tế khá phát triển Nhng để phát triển mạnh mẽ hơn lực lợng sản xuất thì phải xã hội hoá và chuyên môn hoá lao động Quá trình đó chỉ diễn ra một cách thuận lợi trong một nền kinh tế hàng hoá Kinh tế hộ nông dân cùng với các thành phần kinh tế khác đã và đang góp phần thúc đẩy quá trình đó
Trớc đây kinh tế hộ đợc xem là hình thức “kinh tế phụ gia đình “, bổ sung cho kinh tế tập thể Nhng khi các hợp tác xã làm ăn thua lỗ, các hộ nông dân lại càng làm ăn có lãi, khẳng định vị trí độc lập của mình thì vai trò của hộ
Trang 11nông dân đối với quá trình phát triển kinh tế của huyện là rất lớn, đặc biệt là sau Nghị quyết 10 của Bộ chính trị.
Kinh tế hộ nông dân trớc đây là đơn vị tự cung tự cấp thì ngày nay đã trở thành đơn vị sản xuất hàng hoá, thay đổi cơ cấu sản xuất theo nhu cầu của thị trờng, trở thành những đơn vị kinh doanh tổng hợp, kinh doanh tổng hợp nông nghiệp kiêm nghề dịch vụ, thủ công nghiệp
Hộ nông dân đã góp phần giải quyết nhu cầu lơng thực trong huyện và góp phần làm tăng tỷ lệ hàng hoá lơng thực trong tỉnh, đồng thời góp phần cung cấp nguyên liệu phục vụ cho công nghiệp chế biến nh mía, dứa, từ đó năng cao thu nhập và đời sống của hộ nông dân
Nếu nh năm 1991, bình quân lơng thực đầu ngợi là 119,2kg thì năm 1996
là 155kg và năm 2000 đạt 180kg/ngời /năm Tỷ lệ hộ khá tăng lên rõ rệt, hộ nghèo và đói đang ngày một giảm xuống :
Kinh tế hộ nông dân ở Nghĩa Đàn đã khai thác có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, tiềm năng lao động, đất đai, ngành nghề, tạo ra nhiều nông sản
Trang 12hàng hoá cho huyện, đặc biệt là vùng nguyên liệu mía cho nhà máy đờng NAT and LILE và nguyên liệu dứa cung cấp cho nhà máy chế biến hoa quả Nhng từ khi nhà máy hoa quả hộp Nghĩa Đàn ngừng hoạt động thì các hộ nông dân ở
đây mất đi thị trờng vốn có, việc trồng dứa từ đó ngày một giảm đi, chỉ còn một
ít dứa trồng ở vờn nhà, trồng trên các bờ chống xói mòn
Tuy nhiên, thị trờng dứa lại quá hấp dẫn nên từ cuối năm 1999, công ty cây ăn quả Nghĩa Đàn kết hợp với tổng đội thanh niên xung phong Quỳnh Thắng- Quỳnh Lu thực hiện hợp đồng sản xuất dứa nguyên liệu cho công ty thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao- Ninh Bình Lợi ích kinh tế của việc trồng dứa
là rất cao Theo các cán bộ chuyên môn công ty cây ăn quả Nghĩa Đàn cùng các
hộ nông dân trồng dứa xã Nghĩa Bình (Nghĩa Đàn) thì sau khi đã trừ đi chi phí sản xuất, mỗi ha dứa sẽ thu đợc gần 6 triệuđồng/ mỗi vụ Nếu thị trờng ổn định thì trồng 1 ha dứa sẽ thu đợc giá trị gấp ba lần trồng các cây hàng năm khác trên cùng loại đất Dứa là cây thích ứng rộng với các loại đất, dễ trồng, dễ thu hoạch, có hiệu quả kinh tế nhanh Ngày nay với những tiến bộ kỹ thuật mới, ngời ta có thể cho dứa chín quanh năm Chính vì thế có ngời đã nói dứa là “ cây
ăn đá nhả vàng”, là cây "xoá đói giảm nghèo"
Cũng nh cây dứa, cây mía đợc các hộ nông dân ở Nghĩa Đàn coi là cây xoá đói giảm nghèo Là cây công nghiệp ngắn ngày, có khả năng tái sinh rất mạnh, thích hợp với nhiều vùng sinh thái khác nhau Các nông hộ ở đây đã ký hợp đồng sản xuất mía với nhà máy đờng TATE and LILE nên họ yên tâm sản xuất và trong những năm gần đây việc trồng mía ở Nghĩa Đàn tăng rất nhanh :
Năm Diện Tích(ha) Sản Lợng(tấn)
Trang 13ở Nghĩa Đàn có nhiều hộ nông dân có đất từ 3 ha trở lên đã trồng mía và vơn lên làm giàu.
Kinh tế hộ nông dân phát triển góp phần chuyển dịch cơ cấu ngành, cơ cấu thành phần trong nông nghiệp nông thôn miền núi Nghĩa Đàn, tạo điều phủ xanh đất trống đồi trọc, bảo vệ rừng cân bằng sinh thái
Cụ thể cơ cấu nông- lâm- ng nghiệp giảm tỷ trọng còn công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thơng mại dịch vụ ngày càng tăng :
đang phát triển
Trớc năm 1993 do việc khai phá để mở ra 8 nông trờng quốc doanh cùng với sự di c, chen c dân miền xuôi lên làm ăn, tốc độ phá rừng diễn ra cực kỳ nhanh, bình quân mỗi năm Nghĩa Đàn mất 1000 ha rừng Nhng hiện nay, cùng với chơng trình 327/CP, dự án 4304, chơng trình 5 triệu ha, cùng với việc giao
đất giao rừng cho các nông hộ nhận khoanh nuôi, bảo vệ, diện tích rừng đợc phục
Trang 14hồi và tăng lên Việc chặt phá rừng làm nơng rẫy đã đợc hạn chế đến mức thấp nhất Rừng ở Nghĩa Đàn đang ở thời kỳ khôi phục lại.
Kinh tế hộ nông dân là đơn vị sản xuất kinh doanh tự chủ, do đó góp phần giải quyết lao động trong khoảng thời gian nhàn rỗi giữa các vụ mùa, tạo thêm thu nhập ngời lao động, sử dụng hợp lý và có hiệu quả đồng vốn nên có
điều kiện tái sản xuất mở rộng không ngừng
Trớc đây ở Nghĩa Đàn, các nông hộ chỉ là những đơn vị sản xuất thuần nông, thời gian nhàn rỗi cao, nên lao động d thừa trong khoảng thời gian nhàn rỗi giữa các vụ mùa rất lớn, họ không biết tạo cho mình việc làm để giải quyết
số lao động d thừa đó Nhng hiện nay, khi tế nông hộ đã phát triển, là đơn vị sản xuất tự chủ, họ biết sử dụng hợp lý và có hiệu quả đồng vốn của mình bỏ ra nên các nông hộ ở đây đã chuyển từ sản xuất lúa kết hợp cây trồng vật nuôi khác, sử dụng triệt để diện tích sản xuất sẵn có của mỗi nông hộ thì việc làm cũng đợc tạo ra, lao động đợc thu hút nhiều hơn và thu nhập tăng lên Nghĩa Đàn là huyện miền núi nên các nông hộ ở đây đã đẩy mạnh các hoạt động sản xuất cây công nghiệp gắn với phát triển lâm nghiệp, tận dụng các loại sản phẩm rừng nguyên liệu, sản phẩm cây công nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi đại gia súc ở Nghĩa
Đàn, rất nhiều hộ nông dân đã phát triển sản xuất thành kinh tế trang trại với sự kết hợp giữa nông lâm ng nghiệp và hiệu quả kinh tế của các trang trại này năm sau thờng cao hơn năm trớc
Sự lớn lên về thu nhập của từng nông hộ ở Nghĩa Đàn là tiền đề vật chất cho sự phát triển nông thôn miền núi, xây dựng cở sở vật chất trong nông thôn, trờng học, trạm xá, giao thông mà trong đó 2/3 là mức đầu t do nhân dân đóng góp
Nhờ sự tăng trởng trong nông nghiệp, đặc biệt về cây mía, cùng với sự hỗ trợ của tỉnh, của nhà máy đờng trong xây dựng chở mía và chơng trình 135, dự
án trung tâm cụm xã xây dựng kết cấu hạ tầng, dới sự chỉ đạo tích cực của địa phơng, với phơng châm nhà nớc và nhân dân cùng làm, công tác xây dựng cơ bản và phát triển mạng lới giao thông vận tải 5 năm 1996-2000 ở Nghĩa Đàn
Trang 15tiến bộ rõ rệt Tính đến năm 2000 lới điện quốc gia đã vơn tới 31/32 xã và đến năm 2002 là 32/32 xã, ngoài quốc lộ 48, 15A, tỉnh lộ 545, 598, hệ thống giao thông nông thôn toàn huyện mở mới và nâng cấp lên rất nhiều, đặc biệt là mở
đến các vùng mía và cơ bản đảm bảo thông suốt hàng hoá trong mùa ma Đờng nhựa do các xã tự xây dựng(tỉnh hộ trợ nhựa) đạt 17,5 km Ngoài chơng trình
135, nhân dân đóng góp xây dựng ngói hoá trờng học cho con em để giảm phòng học tạm bợ bằng phòng ngói xây dựng Đạt 100% xã có trạm ngói hoá để phục vụ khám và điều trị ban đầu cho nhân dân Hệ thống kênh mơng đợc bê tông hoá phát huy hiệu quả tới tiêu cho lúa rất tốt
Các thành phần kinh tế có tác động rất lớn đến sự phát triển của kinh tế hộ nông dân, đồng thời khi kinh tế hộ nông dân phát triển tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế khác cùng phát triển Đảng chủ trơng thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị tr-ờng định hớng XHCN, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh
Cùng với sự phát triển của kinh tế hộ nông dân thì nhu cầu hợp tác giữa những nông hộ sản xuất kinh doanh ngày càng tăng Để đạt đợc năng suất cao trong quá trình sản xuất thì hộ nông dân cần áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào công nghệ và sản xuất, từng nông hộ khó có thể thực hiện điều này và các hợp tác xã
sẽ giúp hộ nông dân trong việc này Hình thức hợp tác xã với t cách nh một hình thức tổ chức tự nguyện của những nông hộ nhằm giải quyết có hiệu quả những công việc nh thuỷ lợi, phòng trừ sâu bệnh Sự hợp tác này không làm mất đi vai trò tự chủ của nông hộ trong quá trình sản xuất kinh doanh
ở Nghĩa Đàn hiện nay, kinh tế nông hộ đang từng bớc mở rộng sản xuất, kinh doanh, do đó nó đòi hỏi kinh tế nhà nớc phải củng cố, hoàn thiện hơn nữa
hệ thống các tổ chức kinh tế để kinh tế nông hộ có điều kiện phát triển Cụ thể : củng cố, hoàn thiện kết cấu hạ tầng nông nghiệp, đặc biệt là các cơ sở điện lực, giao thông Hệ thống tổ chức dịch vụ nông nghiệp đáp ứng yêu cầu sản xuất
Trang 16kinh doanh nông nghiệp về vốn, vật t, tiêu thụ sản phẩm Hệ thống tổ chức bảo hiểm cho sản xuất nông nghiệp nh phòng trừ sâu bệnh, bảo vệ cây trồng vật nuôi Nhờ sự hỗ trợ về vốn của các ngân hàng tín dụng mà làm giảm bớt nạn cho vay nặng lãi trong dân.
Kinh tế nông hộ ở Nghĩa Đàn phát triển, đặc biệt về nông-lâm nghiệp, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nớc ngoài đầu t vào, điều này đã giải quyết
đợc các sản phẩm do hộ nông dân sản xuất ra, giải quyết đợc việc làm cho khá nhiều lao động, đa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất làm cho năng suất tăng nhanh, nâng cao thu nhập cho kinh tế nông hộ Các doanh nghiệp nớc ngoài đã kết hợp quá trình chuyển giao vốn và chuyển giao kỹ thuật cho hộ nông dân bằng nhiều hình thức khác nhau nh mở lớp tập huấn, xây dựng các quy trình trồng mía năng suất cao trên đất đồi, nhà máy đã mạnh dạn đầu t vốn, mở rộng đờng vào các vùng mía tập trung
Kinh tế nông hộ, các tổ chức kinh tế quốc doanh trong nông nghiệp, kinh
tế hợp tác và kinh tế t bản đã tạo cho kinh tế huyện Nghĩa Đàn thành một hệ thống tổ chức kinhn tế thống nhất Trong hệ thống âý, các hình thức trên có mối quan hệ tác động hỗ trợ, thâm nhập vào nhau và ngày càng có quan hệ mật thiết, tạo điều kiện cho nhau cùng phát triển và nó có tác dụng làm cho kinh tế nông hộ ở Nghĩa Đàn có sự ổn định lại vừa năng động, tự điều chỉnh cao, có
điều kiện phát huy hết những tiềm năng vốn có của mình và ngày càng khẳng
định vai trò tích cực của mình trong sự phát triển kinh tế của huyện
Hiện nay chúng ta đang xây dựng và phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trờng có sự quản lý cuả nhà nớc và xác định điểm xuất phát là phát triển nông nghiệp, xem nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, kết hợp nông - lâm - ngnghiệp và công nghiệp chế biến thành một cơ cấu kinh tế tiến đến nền nông nghiệp hàng hoá phát triển toàn diện mà chủ thể của nó chính là hộ nông dân
Tóm lại, với việc xác định hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ đã tạo tiền đề cho kinh tế hộ nông dân phát triển, khắc phục tình trạng tự cung tự cấp, thúc đẩy phân công lao động xã hội, phát triển ngành nghề mới, tạo ra nhiều
Trang 17việc làm cho ngời lao động, khai thác có hiệu quả nguồn lực, sử dụng hợp lý và tiết kiệm mọi tài nguyên, lao động, đồng thời thu hút mọi nguồn lực bên trong
và bên ngoài, đẩy nhanh việc ứng dụng khoa học và công nghệ vào sản xuất
1.3 Xu hớng vận động của kinh tế hộ nông dân ở Nghĩa Đàn.
Nghĩa Đàn là một huyện miền núi, đất đai chủ yếu thích hợp với các loại cây công nghiệp lâu năm (nh cà phê, cao su, quế), cây ăn quả (cam, bởi, vải, mít) và cây công nghiệp ngắn ngày (mía, lạc, đậu, vừng ) chỉ có rất ít phù sa trong những thung lũng bồn địa và bãi ven sông suối dành cho việc canh tác lúa mùa và cây rau quả thực phẩm
Nhìn chung điều kiện và môi trờng kinh tế, sinh thái tự nhiên tạo ra các u thế đối với các hộ nông dân ở vùng này trong việc phát triển đồi rừng mà trớc hết là các cây công nghiệp, cây ăn quả và chăn nuôi đại gia súc
ở một số xã của huyện, nhất là ở những xã có diện tích đất đai lớn, kinh
tế hộ nông dân ở đây phát triển theo hớng hình thành trang trại nông- lâm- ng nghiệp với mô hình VACR
Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp nông thôn Thành phần trong mô hình kinh tế trang trại này bao gồm: cây rừng, cây ăn quả hoặc cây công nghiệp nh cao su, mía, cà phê và chuồng trại chăn nuôi gia súc lớn, gia cầm; ao cá; cuối cùng là ruộng lúa hay nơng thâm canh
Với việc trồng rừng, các nông hộ tuy lúc đầu phải đầu t vốn và lao động, sau đó phải bỏ công sức ra hàng năm, trong thời gian dài (8 đến 10 năm) cha cho sản phẩm thu hoạch nhng đến cuối chu kỳ thì tích luỹ đợc một khoản tiền lớn Ngoài ra các nông hộ ở đây còn có thể tỉa cành, ngọn và cây con làm củi trong quá trình chăm sóc, nuôi dỡng
Kinh doanh các vờn cây ăn quả hay cây công nghiệp thì khoảng 3 đến 5 năm đầu phải lo vốn đầu t, lao động và chăm sóc nhiều hơn, nhng sau đó lại thu hoạch sản phẩm đều đặn hàng năm, nên thu hồi vốn nhanh và mau có lãi
Trang 18Việc trồng rau hoặc cây lơng thực thì chủ yếu để giải quyết nhu cầu cuộc sống hàng ngày.
Việc chăn nuôi cũng chia thành hai loại: chăn nuôi các loại gia súc lớn thích hợp với mục tiêu tích luỹ lâu dài, còn chăn nuôi tiểu gia súc, gia cầm thì cũng nhằm tự túc tự cấp
Quá trình hình thành kinh tế trang trại ở Nghĩa Đàn cũng là quá trình chủ trang trại đầu t mở rộng diện tích canh tác bằng cách cải tạo đất hoang hoá, đất trống đồi núi trọc, bãi bồi Trong quá trình sử dụng lao động, các chủ trang trại
đã quan tâm đến việc bồi dỡng kỹ thuật, đến thu nhập của ngời lao động Lao
động chủ yếu của kinh tế trang trại là những lao động có sẵn của mỗi nông hộ, ngoài ra còn thuê mớn lao động bên ngoài trên cơ sở thoả thuận giữa chủ trang trại và ngời làm thuê Do xu hớng phát triển của trang trại và quy mô trang trại tiếp tục đợc mở rộng, tái sản xuất ngày một đi vào thế ổn định, đầu t chiều sâu, nhu cầu sử dụng lao động trong các trang trại ngày một tăng nên kinh tế trang trại sẽ là nơi giữ vai trò tích cực phân bố lại lực lợng lao động trong nông nghiệp
Các nông hộ ở Nghĩa Đàn đã biết kết hợp khéo léo các cây, con dài ngày
và ngắn ngày, do đó các hộ nông dân ở đây đã có những bớc phát triển bền vững, có điều kiện tích luỹ và mở rộng dần bộ phận sản xuất hàng hoá trong kinh tế nông hộ Nhờ sớm khẳng định đợc vai trò của mình, nên các trang trại cơ bản nhận đợc sự ủng hộ và bảo hộ của chính quyền địa phơng
Tuy nhiên kinh tế trang trại vẫn gặp không ít khó khăn, vớng mắc trên
b-ớc đờng phát triển, đó là một số chính sách về giao đất, chuyển nhợng đất, việc thuê mớn, sử dụng lao động chậm đợc xác định rõ ràng trong hệ thống chính sách nhà nớc
Để sớm khắc phục những khó khăn trên, trên cơ sở tổng kết thực tiễn hình thành, phát triển kinh tế trang trại, Đảng và chính phủ đã đề ra quan điểm phát triển kinh tế trang trại “kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ nông dân, nhằm mở rộng
Trang 19quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông lâm thuỷ sản Phát triển kinh tế trang trại nhằm khai thác, sử dụng có hiệu quả đất
đai, vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý, góp phần phát triển kinh tế nông nghiệp bền vững, tạo việc làm, tăng thu nhập, khuyến khích làm giàu đi đôi với xoá đói giảm nghèo, phân bổ lại lao động, dân c, xây dựng nông thôn mới Quá trình chuyển dịch lao động tích tụ ruộng đất và hình thành trang trại gắn liền với quá trình phân công lại lao động ở nông thôn, từng bớc chuyển dịch lao
động nông nghiệp sang làm việc ở các ngành phi nông nghiệp” [2;478]
Với quan điển phát triển, cùng với các chính sách mà chính phủ đã đề ra, kinh tế trang trại của các nông hộ ở Nghĩa Đàn sẽ từng bớc ổn định và sớm phát triển
Sự liên kết giữa nông hộ với các cở sở công nghiệp và doanh nghiệp nông- lâm nhà nớc đang là một xu hớng mang lại nhiều lợi ích cho nông hộ ở
đây
Vẫn là hình thức kinh tế nông hộ nhng không phải là biệt lập mà tham gia ngày càng rộng rãi và đan xen, liên doanh liên kết sâu sắc hơn Hình thức tổ chức hợp tác xã trớc đây không hoàn toàn phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế
Các nông hộ còn liên kết với các doang nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, trở thành những khâu không thể thiếu đợc trong qúa trình phát triển của những doanh nghiệp Bởi kinh tế hộ nông dân ngày càng thoát khỏi những đơn
vị kinh tế tự cung tự cấp, trở thành những đơn vị kinh tế sản xuất hàng hoá, làm
ăn có hiệu quả hơn và ngày càng phát triển, họ có nhu cầu hợp tác với nhau, chính điều này làm cho hợp tác xã ngày càng phát triển
Cũng trong quá trình sản xuất kinh doanh, kinh tế nông hộ không ngừng cạnh tranh và do đó đã mang lại hiệu quả kinh tế cao, từ đó nhiều hộ nông dân ở Nghĩa Đàn đã chuyển sang kinh doanh nhiều loại dịch vụ cùng với hợp tác xã
Cụ thể là:
Trang 20Dịch vụ vốn: nhu cầu vốn đầu t cho nông nghiệp là hết sức cấp bách, đòi hỏi nguồn vốn rất lớn, nhất là trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn Bởi vậy hợp tác xã cần tìm mọi cách để đáp ứng số vốn cho các nông hộ mở rộng sản xuất
Dịch vụ cung ứng vật t, thiết bị: để phục vụ tốt nông nghiệp và kinh doanh có hiệu quả của các hộ nông dân, hợp tác cùng các hộ nông dân cần tiến hành đồng bộ hàng loạt giải pháp liên quan đến sản xuất của nông hộ Cần cung cấp đầy đủ các loại giống mới mà các hộ nông dân cần, phù hợp với điều kiện sinh thái của huyện và cho năng suất cao, chất lợng tốt
Hợp tác xã cũng cần cung cấp đầy đủ các loại phân bón cho các nông hộ trong quá trình sản xuất nhằm làm cho cây trồng phát triển tốt, khoẻ mạnh, cho hiệu quả sản xuất cao
Bảo vệ thực vật là một công việc hết sức quan trọng trong sản xuất của các nông hộ, vừa bảo vệ mùa màng, tăng năng suất các loại cây trồng, vừa góp phần cải thiện môi sinh, môi trờng Để bảo vệ tốt môi trờng sinh thái thì chỉ trừ sâu bằng biện pháp hoá học khi thật sự cần thiết mà biện pháp đầu tiên là kiểm dịch thực vật, nhằm ngăn chặn sự lây lan, phát tán của các côn trùng gây bệnh
từ nơi này đến nơi khác qua nhập khẩu nông sản hay giống cây trồng
Dịch vụ cơ khí: đang có xu hớng phát triển, đây là xu hớng phát triển tất yếu của phân công lao độn, sử dụng lao động trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Trong quá trình phát triển kinh tế, nông hộ đã mở rộng sản xuất theo cả chiều rộng lẫn chiều sâu nên cần phải cơ giới hoá trong quá trình sản xuất và chế biến nông sản Việc sử dụng cơ giới hoá sản xuất nông nghiệp có tác dụng mạnh mẽ đến quá trình chuyển dịch cơ cấu nông thôn, nghĩa là tác
động việc chuyển dịch một phần lao động nông nghiệp sang làm ngành nghề khác, đa dạng hoá trong sản xuất nông nghiệp, tăng số lợng sản phẩm hàng hoá,
để làm thay đổi và tăng thu nhập của nông thôn Thực hiện cơ giới hoá công việc làm đất bằng máy cày và máy bừa đã làm năng suất tăng lên 7 đến 8 lần so với cày bừa bằng trâu, sử dụng máy đập lúa tăng năng suất lên 12 lần, đã làm
Trang 21giảm bớt đáng kể nhu cầu lao động trong thời vụ, giải phóng đợc lao động sang làm nghề khác Một số nông hộ có vốn đã thấy đợc nhu cầu to lớn này nên đã chuyển sang kinh doanh các loại máy phục vụ sản xuất nông nghiệp nhng chỉ phục vụ đợc số lợng nhỏ mà nhu cầu về cơ giới hoá nông nghiệp lại rất lớn, điều
đó đòi hỏi các hợp tác xã phải tìm cách đáp ứng nhu cầu này của hộ nông dân Bên cạnh hoạt động bán còn có hoạt động bảo hành sửa chữa máy cho các nông
hộ và hớng dẫn họ sử dụng
Dịch vụ thuỷ lợi: ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn có 4 nhiệm vụ
về phát triển: nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ lợi và nông thôn Sự nghiệp phát triển thuỷ lợi và bảo vệ đê điều và công trình thuỷ lợi là một quá trình phấn đấu bền bỉ
và lâu dài, có ý nghĩa sâu sắc đến sự phát triển bền vững của nông thôn Dịch vụ thuỷ lợi phải bảo đảm tính tổng hợp liên ngành và tính xã hội ngày càng cao, trớc hết phải gắn bó với phát triển nông nghiệp toàn diện, nuôi trồng thuỷ sản, giao thông vận tải, với phát triển nông thôn và các ngành kinh tế khác Cần từng bớc hiện đại hoá công trình thuỷ lợi để tiết kệm điện, nớc, đất đai và điều hành việc tới tiêu kịp thời, chủ động đi đôi với hợp lí khoa học Đối với vùng khan hiếm nớc, trồng rau màu, cây công nghiệp, cây ăn quả, cần mở rộng công nghệ tới phun, tới nhỏ giọt để tiết kiệm nớc cho dân sinh, cho công nghiệp, hạn chế thiên tai, bảo vệ môi trờng
Dịch vụ tiêu thụ sản phẩm : hàng hoá nông sản của các nông hộ sản xuất
ra tiêu thụ còn gặp nhiều khó khăn, để hạn chế bớt khó khăn, hợp tác xã cần phát triển mạng lới kinh doanh hàng hoá nông- lâm sản với sự tham gia của mọi thành phần kinh tế Các nông hộ nắm vững thông tin thị trờng để sản xuất những sản phẩm có thị trờng tiêu thụ với số lợng và chất lợng theo yêu cầu của thị trờng, chuyển từ cung cách làm ra để ăn sang làm ra để bán Hợp tác xã làm
đầu mối tiêu thụ sản phẩm cho nông hộ, các công ty nhanh chóng củng cố để có
đủ năng lực làm đầu tàu chiếm lĩnh thị trờng, chủ động nắm bắt nhu cầu thị ờng, tìm kiếm khách hàng tiêu thụ sản phẩm cho hộ nông dân Công ty ký hợp
tr-đồng tiêu thụ sản phẩm với hộ nông dân
Trang 22Dịch vụ kỹ thuật trồng trọt : hợp tác xã cung cấp cho hộ nông dân những giống tốt, cung ứng cho hộ nông dân từ việc thực hiện quá trình sản xuất giống đến khâu làm mạ, cấy, chăm sóc, khử lẫn thu hoạch làm giống Đồng thời với đội ngũ cán bộ kỹ thuật có năng lực, có kinh nghiệm làm việc của công ty giống cây trồng của huyện, số cán bộ kỹ thuật chỉ đạo sản xuất đã bám sát đồng ruộng thúc dục nông dân thực hiện thâm canh ruộng giống, khử lẫn triệt để trớc lúc thu hoạch, kiểm tra loại bỏ những ruộng không đủ tiêu chuẩn.
Dịch vụ thú y : các nông hộ ở Nghĩa Đàn có số lợng gia súc gia cầm lớn,
đến năm 2002 huyện Nghĩa Đàn có tổng đàn trâu bò 35106 con, lợn có 54054 con Với số lợng lớn nh vậy, lại phân bố trên khắp các xã, địa hình phức tạp, khó khăn Bên cạnh đó, cơ sở vật chất kỹ thuật vẫn còn yếu kém, hệ thống kiểm nghiệm thuốc và kiểm tra thú y cha có, dẫn đến việc giám sát chất lợng thú y nói riêng, vác xin nói chung gặp nhiều khó khăn Hệ thống giết mổ tập trung cha đợc thiết lập, tình trạng gết mổ tự do, phân tán đang là mối lo dịch bệnh lây lan và vệ sinh thực phẩm không an toàn làm ảnh hởng đến sức khoẻ ngời tiêu dùng Do đó cần phải làm tốt công tác dự tính, theo dõi, xác minh, phát hiện dịch bệnh, đề ra các biện pháp xử lý hợp lý, hiệu quả Kiểm tra vệ sinh thú y tại các điểm giết mổ và tiêu thụ sản phẩm động vật phân tán, góp phần ngăn chặn lây lan dịch bệnh, đảm bảo thực phẩm an toàn cho ngời tiêu dùng
Tóm lại, từ kinh tế tự cấp tự túc chuyển sang kinh tế hàng hoá là xu hớng chung, bao trùm toàn bộ tiến trình phát triển của kinh tế nông hộ ở huyện Nghĩa
Đàn Và những xu hớng phát triển này có tác dụng quan trọng trong việc thúc
đẩy nền kinh tế tự nhiên của huyện lên nền kinh tế hàng hoá theo hớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn miền núi Nghĩa Đàn
Trang 23Phần 2 thực trạng và những giải pháp chủ yếu để phát
triển kinh tế hộ nông dân ở Nghĩa Đàn
2.1 Thực trạng phát triển kinh tế hộ nông dân ở Nghĩa Đàn
2.1.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội ảnh hởng đến sự phát triển kinh tế hộ nông dân ở huyện Nghĩa Đàn.
• Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
- Vị trí địa lý: Huyện Nghĩa Đàn nằm khoảng từ 19013' vĩ độ bắc và 105035'
độ kinh đông
Phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hoá
Phía Nam giáp huyện Tân Kỳ và huyện Quỳnh Lu
Phía Đông giáp huyện Quỳnh Lu và tỉnh Thanh Hoá
Phía Tây giáp huyện Quỳ Hợp
Có diện tích tự nhiên là 73000 ha, chiếm 4,5% diện tích tự nhiên của tỉnh Nghệ An
- Địa hình :
Nghĩa Đàn có địa hình khá thuận lợi so với các huyện trung du miền núi của tỉnh Huyện có đồi núi không cao, thoải dần từ tây bắc xuống đông nam, bao quanh là các dãy núi có độ cao từ 300m đến 400m Vùng trung tâm gồm nhiều dãy đồi bát úp thấp và thoải, xen kẽ giữa chúng là các thung lũng bằng phẳng với độ cao trung bình từ 50m đến 70m
Do đặc điểm địa hình, bề mặt của huyện Nghĩa Đàn 8% diện tích tự nhiên là đồng bằng, 65% là đồi núi thấp thoải, 27% là núi tơng đối cao đã tạo cho địa phơng nhiều vùng đất thoải bằng Với quy mô diện tích lớn, thuận lợi phát triển kinh tế nông – lâm kết hợp cho hiệu quả cao
- Thổ nhỡng :
Theo các tài liệu mới nhất của sở địa chính Nghệ An thì Nghĩa Đàn có
12 loại đất thuộc hai nhóm lớn theo nguồn gốc phát sinh :đất thuỷ thành và
đất địa thành
Trang 24Nhóm đất thuỷ thành có diện tích 17400 ha chiếm 24,3% đất toàn huyện.Nhóm đất này phân bố tơng đố tập trung nên đã sử dụng hầu hết để trồng cây lơng thực, cây ăn quả có giá trị cao nh nhãn, cam và nguyên liệu mía.
Nhóm đất địa thành có diện tích 54132 ha, chiếm 74,4% diện tích tự nhiên của huyện, thích nghi với nhiều loại cây công nghiệp, cây ăn quả Đây chính là thế mạnh, là địa bàn lớn để phát triển lâu dài các ngành kinh tế của huyện
Tổng diện tích tự nhiên 72769 73000 73000Diện tích đất nông nghiệp 19261,62 25477,68 25477,68
Đất cha sử dụng 188028,26 26135,05 25477,68Tổng diện tích gieo trồng 20858 22507 22600(Nguồn: Báo cáo tổng hợp quy hoạch sử dụng đất đai Huyện Nghĩa Đàn thời kỳ 1998 - 2010 - Phòng nông nghiệp Nghĩa Đàn)
- Thời tiết khí hậu :
Nhìn chung thời tiết khí hậu trên địa bàn toàn huyện thuận lợi cho cây trồng, vật nuôi phát triển
Trang 25Tài nguyên khoáng sản ở Nghĩa Đàn có nhiều loại nh :đá bọt ba gian, đá vôi, sét gạch ngói, thiếc.
• Điều kiện kinh tế- xã hội
Là một huyện nằm trong vùng Tây Bắc Nghệ An, Nghĩa Đàn có diện tích tự nhiên là 73000 ha, dân số 185000 (số liệu năm 2000 ) thuộc huyện có mật độ dân số cao nhất trong vùng (243 ngời/km2), trong khi mật độ dân số chung của toàn vùng là 98 ngời/km2, cao hơn mật độ dân số của tỉnh (170 ngời/km2 ) Huyện có một thị trấn và 31 xã, trung tâm hành chính kinh tế của huyện là thị trấn Thái Hoà
+ Về nông – lâm nghiệp :
Kinh tế nông nghiệp: phát triển đúng hớng và liên tục tăng trởng, bình quân hàng năm tăng 6%, từng bớc phá thế độc canh, tăng nhanh sản phẩm hàng hoá Nổi bật trong sản xuất nông nghiệp là sản xuất lơng thực và mía nguyên liệu
Trang 26Kinh tế lâm nghiệp : suy giảm có thể nói là ở mức nặng nề do chính con ngời gây ra Rừng hiện tại chỉ còn là rừng nghèo kiệt, rừng tái sinh Tuy vậy, với các dự án 327, 661, việc trồng rừng tập trung cũng nh khoanh nuôi bảo vệ rừng phát triển tốt, đã ngăn chặn đợc cơ bản nạn phá rừng thông qua việc giao
đất giao rừng cho các chủ hộ
+ Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng cơ bản, giao thông vận tải :
Nghĩa Đàn cha có đại công nghiệp cơ khí, chỉ có nhà máy trung quy mô 250B đã mở rộng thị trờng, đa dạng hoá sản phẩm và đáp ứng đủ nhu cầu sửa chữa ô tô, máy kéo các loại
Đối với xây dựng cơ bản, huyện đã chú trọng xây dựng kết cấu hạ tầng
điện, đờng, trờng, trạm xá, kênh mơng bê tông, chợ nông thôn
- Về các vấn đề xã hội :
Đời sống kinh tế – văn hoá xã hội của nhân dân trong 10 năm đổi mới
đi vào ổn định và có nhiều mặt đợc cải thiện, tỷ lệ hộ đói nghèo toàn huyện giảm mạnh
Lĩnh vực văn hoá - xã hội chuyển biến tích cực, giáo dục phổ thông, dạy nghề đã tăng về số lợng và nâng cao chất lợng
Công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ ban đầu đợc quan tâm, đảm bảo khám và điều trị cho nhân dân trong huyện
Giảm tỷ lệ tăng dân số đều đặn nhờ công tác kế hoạch hoá gia đình
Thực hiện tốt chế độ đối với các đối tợng chính sách