Nghiên cứu lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lợc là nghiêncứu nhiều vấn đề phức tạp nh đờng lối kháng chiến, sự phát triển của kháng chiếnqua nhiều giai đoạn… trong tất cả
Trang 1Phần I
Dẫn Luận
1 Lý do chọn đề tài
Chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 với đỉnh cao là chiến dịch lịch sử Điện
Biên Phủ là giai đoạn phát triển cao nhất của cuộc kháng chiến chống thực dân Phápxâm lợc Nó diễn ra với một quy mô rộng lớn, quyết liệt trên cả nớc và giành thắnglợi hoàn toàn vừa có ý nghĩa quyết định đối với cục diện quân sự vừa có ý nghĩa vềchính trị trên toàn Đông Dơng, dẫn đến thành công của hội nghị Giơnever 1954, đacuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp xâm lợc của nhân dân Việt Nam
đến thắng lợi vĩ đại Thắng lợi đó kết thúc oanh liệt cuộc kháng chiến lần thứ nhất,
đã đánh dấu một bớc ngoặt lớn của cách mạng Việt Nam, giải phóng một nửa nớc ta,
mở đầu thời kỳ cách mạng xã hội chủ nghĩa trên Miền Bắc, góp phần thúc đẩy quátrình tan rã từng mảng lớn hệ thống thuộc địa thực dân cũ của chủ nghĩa đế quốc đẩymạnh thế tiến công của ba trào lu cách mạng trên thế giới vì hoà bình độc lập dân tộcdân chủ và chủ nghĩa xã hội
Chiến thắng Đông Xuân 1953-1954 với đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủkhông chỉ là thắng lợi to lớn của nhân dân ta mà còn là thắng lợi to lớn của nhân dâncác dân tộc bị áp bức trên thế giới Đúng nh Bác Hồ đã từng nói “Điện Biên Phủ nh
là một cái mốc chói lọi bằng vàng của lịch sử Nó ghi rõ nơi chủ nghĩa thực dân lănxuống dốc và tan rã, đồng thời phong trào giải phóng dân tộc khắp thế giới đang lêncao đến thắng lợi hoàn toàn”[5, 18] Vì những ý nghĩa đó, Đại hội Đảng toàn quốclần thứ IX đã đánh giá thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lợc
là một thắng lợi to lớn và vĩ đại của dân tộc ta trong thế kỷ XX
Nghiên cứu lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lợc là nghiêncứu nhiều vấn đề phức tạp nh đờng lối kháng chiến, sự phát triển của kháng chiếnqua nhiều giai đoạn… trong tất cả những vấn đề đó thì mảng đề tài“ vai trò của hậu trong tất cả những vấn đề đó thì mảng đề tài“ vai trò của hậuphơng” có một vị trí rất quan trọng, hậu phơng là một trong những nhân tố quyết
định thắng lợi của cuộc kháng chiến, hậu phơng vừa là nơi chi viện chủ yếu sức ngờisức của cho tiền tuyến, là chỗ dựa tinh thần của tiền tuyến
Đảng ta đã sớm nhận thức đợc tầm quan trọng của việc xây dựng hậu phơng,căn cứ địa kháng chiến, coi hậu phơng là một bộ phận không thể thiếu của đờng lốikháng chiến mà nội dung là giải quyết vấn đề cốt tử của bất kỳ cuộc chiến tranh,cuộc kháng chiến nào: dựa vào đâu, lấy sức đâu mà đánh giặc, tức là giải quyết vấn
đề đất đứng chân và tiềm lực để kháng chiến lâu dài Để chiến thắng kẻ thù xâm lợc,
đặc biệt là trong giai đoạn phát triển cao nhất của cuộc kháng chiến chống thực dân
Trang 2Pháp: Chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 thì Đảng đã chỉ đạo quân dân ta ra sức xâydựng củng cố phát triển hậu phơng, tạo nên thế đứng vững chắc và sức mạnh to lớn
để đẩy mạnh kháng chiến đến thắng lợi
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lợc của nhân ta đã kết thúc đợcgần 50 năm, những vấn đề của cuộc kháng chiến, đặc biệt là chủ đề về hậu phơngkháng chiến đã đợc nhiều nhà sử học, nhiều nhà nghiên cứu khoa học và những họcgiả quan tâm, nghiên cứu
Là một sinh viên chuyên nghành lịch sử chúng tôi mong muốn tìm hiểunghiên cứu về hậu phơng trong kháng chiến chống thực dân Pháp để hiểu thêm mộtcách sâu sắc hơn một giai đoạn của lịch sử dân tộc, hiểu đợc những đóng góp to lớncủa nhân dân Việt Nam trong kháng chiến Đồng thời để củng cố thêm nhận thứccủa bản thân về vai trò của hậu phơng trong kháng chiến chống thực đân Pháp xâm l-ợc
Thiết nghĩ rằng, vấn đề vai trò của hậu phơng đợc nghiên cứu với thái độkhách quan và khoa học, chắc chắn sẽ rút ra đợc những vấn đề bổ ích cho việc học
tập và giảng dạy sau này nên chúng tôi đã chọn đề tài “vai trò của hậu phơng trong
chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 và chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ” làm đề tài
nghiên cứu của mình
2 Lịch sử đề tài.
Vai trò của hậu phơng không phải là một đề tài mới Hậu phơng ra đời từtrong cách mạng Tháng Tám, phát triển qua kháng chiến chống Pháp rồi khángchiến chống Mỹ làm nên đại thắng Mùa Xuân năm 1975 của dân tộc Từ khi ra đời
và trải qua mỗi giai đoạn phát triển, vấn đề hậu phơng và vai trò của nó đã đợcnghiên cứu nhiều
Vai trò của hậu phơng trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 và chiến dịchlịch sử Điện Biên Phủ cũng không nằm ngoài thực tế nói trên Mặc dù vậy sự nghiêncứu này ở nhiều dạng khác nhau, nhiều mức độ phạm vi khác nhau, ở những góc độkhác nhau tuỳ thuộc vào thời điểm nghiên cứu và cách nhìn nhận đánh giá của từngnhà nghiên cứu Tất cả những vấn đề đó đều góp phần quan trọng vào sự thành cônghay không thành công, trọn vẹn hay không trọn vẹn của đề tài nghiên cứu
Đề tài này đã đợc nhiều nhà nghiên cứu, nhiều học giả nghiên cứu dới góc độkhác nhau ở những mức độ khác nhau Có ngời nghiên cứu nó dới dạng là một khíacạnh trong toàn bộ quá trình hình thành phát triển của hậu phơng“Hậu phơng chiếntranh nhân dân Việt Nam 1945-1975” (do tập thể tác giả: Hoàng Phơng, Trịnh VơngHồng, Tang Bồng, Hồ Khang của Viện lịch sử quân sự Việt Nam- Bộ Quốc Phòng-NXBQĐND 1997), có ngời nghiên cứu nó trong việc tìm hiểu nguyên nhân thắng lợi
Trang 3của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp: “Sức mạnh chiến thắng Điện Biên Phủ”(NXB sự thật Hà Nội 1994), có ngời nghiên cứu hậu phơng dới góc độ là để rút ranhững bài học kinh nghiệm: “Tổng kết kháng chiến chống thực dân Pháp Thắng lợi
và bài học” (NXB CT QG 1996)… trong tất cả những vấn đề đó thì mảng đề tài“ vai trò của hậu
Để nâng cao sự hiểu biết về hậu phơng trong kháng chiến chống Pháp nóichung và trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 nói riêng trên tất cả các mặt trậnkinh tế, văn hoá, xã hội, chính trị, quân sự cũng nh để thấy đợc sự phát triển của xãhội Việt Nam, tinh thần cách mạng, tinh thần kháng chiến của nhân dân Việt Namchống đế quốc Pháp xâm lợc Chúng tôi chọn đề tài này không có tham vọng nêu lênmột cách đầy đủ và trọn vẹn hay khám phá, phát hiện ra những nội dung gì mới mẻ
về hậu phơng, về quá trình hình thành, xây dựng và phát triển hậu phơng khángchiến trong toàn bộ tiến trình kháng chiến chống xâm lợc của nhân dân Việt Nam
mà chỉ tìm hiểu về vai trò của hậu phơng trong một giai đoạn ngắn “Chiến cuộc
Đông Xuân 1953 1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ” để củng cố sự hiểu biết củamình về hậu phơng nhằm góp phần giảng dạy tốt môn lịch sử Việt Nam cận hiện đạisau này ở trờng phổ thông
3 Phơng pháp nghiên cứu:
Trên cơ sở dựa vào các tài liệu thu thập đợc có liên quan đến vấn đề hậu
ph-ơng, chúng tôi đã tiến hành xử lý t liệu có liên quan đến đề tài Từ đó phân tích, hệthống hoá kiến thức theo phơng pháp lịch sử và phơng pháp logic để giải quyết vấn
đề Trên cơ sở đó khẳng định đợc vai trò của hậu phơng trong kháng chiến chốngPháp, đặc biệt là trong giai đoạn phát triển cao của cuộc kháng chiến (Đông Xuân1953-1954)
4 Bố cục của đề tài
Ngoài phần dẫn luận và phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần mục lục,
bố cục của đề tài gồm có 2 chơng:
Chơng I: Đặc điểm tình hình địch- ta trớc Đông Xuân 1953-1954
ChơngII: Vai trò của hậu phơng trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 và chiến
dịch Điện Biên Phủ
Do điều kiện thời gian hạn chế, năng lực nghiên cứu, khả năng tiếp cận và xử
lý t liệu có hạn, cho nên chắc chắn rằng không thể tránh khỏi những sai sót vàkhiếm khuyết Chúng tôi rất mong đợc sự chỉ bảo tận tình của các thầy, các cô và
sự góp ý của các độc giả quan tâm
Trang 4Trong thời gian tiến hành nghiên cứu, cùng với sự nỗ lực cố gắng của bảnthân, tôi đã nhận đợc sự hớng dẫn, giúp đỡ về mọi mặt nh phơng pháp, kiến thức, tàiliệu… trong tất cả những vấn đề đó thì mảng đề tài“ vai trò của hậu của thầy Nguyễn Đôn Quế và các thầy, cô trong khoa, của bạn bè đã giúpchúng tôi hoàn thành đề tài của mình Chúng tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cáccô cùng các bạn
Phần: II
Nội dung
Ch ơng I
Đặc điểm tình hình địch ta tr–ta tr ớc Đông Xuân 1953 1954–ta tr
Ngày 23 tháng 9 năm 1945 thực dân Pháp đợc sự giúp đỡ của quân Anh đã trởlại Việt Nam, nổ súng tấn công đánh chiếm Nam Bộ, quân và dân ta với gậy tầmvông đã đứng lên đánh Pháp, mở đầu cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc.Trong quá trình kháng chiến ta càng đánh càng mạnh, càng đánh càng trởng thành,quân địch càng đánh càng yếu và liên tiếp bị thất bại
Chiến dịch Biên Giới Thu Đông 1950 đã đánh dấu một sự chuyển biến lớntrong cục diện chiến tranh Tình hình so sánh tơng quan lực lợng giữa ta và địch đãthay đổi hoàn toàn và chuyển dần sang có lợi cho ta
1.1 Đặc điểm tình hình nớc ta Từ sau chiến dịch Biên Giới THU
ĐÔNG1950
Thắng lợi hết sức to lớn và giòn giã của chiến dịch Biên Giới có ý nghĩa lịch
sử trọng đại Ta đã tiêu diệt đợc một khối sinh lực tinh nhuệ của địch, giải phóng đợcmột vùng đất đai rộng lớn gồm nhiều địa bàn trọng yếu, tạo nên một thế đứng vữngchắc, ta có thêm nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển lực lợng về mọi mặt
1.1.1 Về quân sự
Sau chiến thắng Biên Giới, bộ đội ta đã lớn mạnh vợt bậc, đại thắng quân địchtrong chiến dịch này, quân ta bớc đầu nắm quyền chủ động chiến lợc trên chiến tr-ờng chính Bắc Bộ, các lực lợng vũ trang của ta gồm ba thứ quân trởng thành nhanhchóng, nhất là bộ đội chủ lực
Trang 5Bộ đội chủ lực của ta đã liên tiếp mở các chiến dịch tiến công và phản côngquy mô ngày càng lớn trên chiến trờng Bắc Bộ: chiến dịch Trung Du, chiến dịch đ-ờng số 18, chiến dịch Hà Nam Ninh trong năm 1951; chiến dịch Hoà Bình ĐôngXuân 1951- 1952, chiến dịch Tây Bắc mùa Đông 1952, yếu tố tiến công trên từng h-ớng chiến lợc đã xuất hiện và đang phát triển mạnh mẽ
Trong các chiến dịch nói trên, có những chiến dịch chúng ta đã tiêu diệt gọntừng binh đoàn cơ động của địch, tiêu diệt hàng vạn tên địch trong một chiến dịch,giải phóng những vùng đất đai rộng lớn trên chiến trờng Bắc Bộ, các tỉnh quan trọng
ở vùng biên giới Việt- Trung nh Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Lào Cai
Tỉnh Hoà Bình nằm trên đờng giao thông giữa Việt Bắc và liên khu IV phầnlớn đất đai của miền Tây Bắc đi từ sông Thao đến biên giới Việt- Lào đều lần lợt đợcgiải phóng Nh vậy, căn cứ Việt Bắc- hậu phơng chủ yếu của cuộc kháng chiến đã đ-
ợc củng cố và mở rộng thêm rất nhiều Để có đợc những chiến thắng đó, bộ đôị chủlực của ta đã phải trải qua một quá trình huấn luyện, đào tạo rất lâu cả về lý thuyết vàthực hành, vừa chiến đấu vừa rèn luyện, vừa học tập dần dần trởng thành, từ các đơn
vị nhỏ yếu phát triển thành những trung đoàn, đại đoàn vững mạnh về mọi mặt.Ngoài đại đoàn 308 thành lập tháng 8 năm 1949, từ sau chiến thắng Biên Giới ta đã
có thêm các đại đoàn 304, 312, 316, 320, đại đoàn công pháo 351 và đại đoàn 325(Bình Trị Thiên) Trong quá trình chiến đấu, các đại đoàn, trung đoàn chủ lực đều đã
đợc củng cố về tổ chức, biên chế, đợc tăng cờng trang bị về vũ khí, chủ yếu là do lấy
đợc của địch, một phần do ta sản xuất ra trong hoàn cảnh cực kỳ gian nan thiếu thốn,một phần do sự giúp đỡ của các nớc anh em Trình độ kỹ thuật, chiến thuật, khả năngtác chiến trải qua các đợt huấn luyện lại đợc nâng cao Quân chủ lực của ta đã tíchlũy đợc nhiều kinh nghiệm về đánh vận động và đánh địch trong công sự vững chắc-
đánh công kiên- đã quen dần đánh tập trung với phát triển lực lợng tơng đối lớn, hoạt
động trên một địa bàn tơng đối rộng, đặc biệt thiện chiến trên chiến trờng rừng núi,thực hiện đợc đánh tiêu diệt, tiến sâu, rút nhanh, tích cực chủ động, cơ động linhhoạt
Trong khi chủ lực của ta liên tiếp thu đợc những thắng lợi lớn trên mặt trậnchính diện thì chiến tranh du kích phát triển mạnh khắp các chiến trờng sau lng địch.Trong vùng địch tạm chiếm, dân quân du kích và bộ đội địa phơng đã làm nòng cốtcho toàn dân đánh giặc, đã kết hợp chặt chẽ đấu tranh chính trị với đấu tranh vũtrang, tiến hành hàng loạt những cuộc phá tề trừ gian, ở nhiều địa phơng đã giấy lêncao trào tổng phá tề, diệt đồn bốt, xây dựng chính quyền cánh mạng, chiến tranh dukích đã có bớc phát triển mới, kết hợp chặt chẽ với chiến tranh chính quy Đặc biệttrong chiến dịch Hòa Bình, để phối hợp chặt chẽ với mặt trận chính diện, chủ lực ta
Trang 6thuộc đại đoàn 320 và 316 đã tiến sâu vào vùng sau lng địch, ở đồng bằng sôngHồng, cùng với lực lợng vũ trang địa phơng, kết hợp với phong trào nổi dậy của quầnchúng tiêu diệt, bức hàng, bức rút hàng loạt cứ điểm của địch mở rộng căn cứ dukích, khu du kích, giải phóng hàng triệu đồng bào khỏi nanh vuốt của địch Vùngtạm chiếm của địch bị thu hẹp lại chỉ còn gần 1/3 đất đai và làng mạc, ở gần các đ-ờng giao thông quan trọng và các đô thị lớn
Không chỉ ở chiến trờng chính Bắc Bộ, trên chiến trờng Bình Trị Thiên mặcdầu điều kiện địa hình có phần không có lợi cho ta, chiến tranh du kích vẫn đ ợc giữvững ở Miền Nam Trung Bộ, bộ đội ta đã giữ vững đợc vùng tự do liên khu V, đồngthời cũng đi sâu vào trong lòng địch, mở rộng cơ sở, phát động chiến tranh nhân dân,xây dựng căn cứ du kích ở miền Tây Nguyên chiến lợc ở Nam Bộ cuộc chiến tranhgiữa ta và địch ở đô thị và vùng ven biển diễn ra hết sức gay gắt, vùng tự do khu IX
đợc giữ vững, chiến tranh du kích phát triển rộng khắp
Nhìn chung, cục diện chiến tranh trên chiến trờng chính Bắc Bộ từ mùa Đông
1950 trở đi, quân ta luôn luôn giữ thế chủ động, quân địch vì thế càng lâm vào thế bị
động Lực lợng vũ trang- nòng cốt của cuộc kháng chiến từ chỗ còn non yếu lúc đầu,
đến sau chiến dịch Biên Giới và đặc biệt đến mùa hè năm 1953 đã phát triển và lớnmạnh rất nhiều cả về số lợng và chất lợng, tổng số quân trên cả nớc bao gồm bộ độichủ lực của Bộ Tổng t lệnh, chủ lực của các liên khu và các khu, bộ đội địa phơngcác tỉnh, huyện lên tới hơn ba chục vạn ngời Khối quân chủ lực của Bộ Tổng t lệnhgồm 6 đại đoàn bộ binh và 1 đại đoàn công binh- pháo binh, cùng nhiều trung đoàn
độc lập Bộ đội chủ lực ở liên khu Việt Bắc, khu Tây Bắc, khu Tả Ngạn, khu HữuNgạn, liên khu IV, liên khu V đã đợc tổ chức tới cấp trung đoàn, nơi ít có 1 trung
đoàn, nơi nhiều có 2 trung đoàn, ngoài ra còn có một số tiểu đoàn độc lập Bộ đội địaphơng có nhiều tỉnh đã tổ chức tới cấp tiểu đoàn, nhiều huyện đã có đại đội RiêngNam Bộ là nơi tổ chức bộ đội tập trung khó khăn cũng đã xây dựng đợc một số tiểu
đoàn chủ lực mạnh Ngoài bộ đội tập trung còn có hàng chục vạn du kích khắp cáctỉnh Đông Bắc, Tây Bắc, đồng bằng Bắc Bộ, Bình Trị Thiên, liên khu V và đồngbằng Nam Bộ
Sở dĩ lực lợng vũ trang của ta đặc biệt là bộ đội chủ lực đạt đợc những tiến bộ
rõ nét và nhanh chóng nói trên trớc hết là do Đảng ta đã chú trọng tăng cờng sự lãnh
đạo của Đảng đối với quân đội, ra sức tăng cờng công tác giáo dục chính trị và t ởng, không ngừng nâng cao bản chất cách mạng, bản chất giai cấp của quân đội ta.Các cuộc chỉnh huấn chính trị đã có tác dụng lớn làm cho quân đội nhận rõ mục tiêuchiến đấu của mình: Vì độc lập dân tộc, vì ruộng đất cho dân cày để tiến lên chủnghĩa xã hội Tinh thần yêu nớc và chí căm thù đợc nâng cao Bên cạnh đó, vào mùa
Trang 7t-hè năm 1953 trong khi Đảng ta thực hiện triệt để giảm tô và cải cách ruộng đất thìcác cuộc chỉnh huấn chính trị cũng đợc tiến hành đồng thời đã có một ý nghĩa rất tolớn, tinh thần quyết chiến, quyết thắng, trình độ giác ngộ giai cấp và khí thế cáchmạng của quân đội ta đợc nâng cao một cách rõ nét Đoàn kết nội bộ, đoàn kết quândân, đoàn kết quốc tế, thực hiện chế độ dân chủ nội bộ đi đôi với kỷ luật nghiêmminh, kiên quyết anh dũng trong chiến đấu, tích cực cần cù trong công tác và sảnxuất đã trở thành nề nếp sinh hoạt, chiến đấu và là truyền thống tốt đẹp của quân độita.
Đồng thời với những hoạt động nhằm nâng cao trình độ cho bộ đội, Đảng vàChính phủ cũng quan tâm và chỉ đạo đẩy mạnh công tác giao thông vận tải, chi việncho tiền tuyến, Bộ Chính trị quyết định thành lập“ Uỷ ban chi viện tuyền tuyến” dophó thủ tớng Phạm Văn Đồng làm chủ tịch uỷ ban để tăng cờng sự chỉ đạo ở cáckhu Nh vậy, nguồn sức ngời, sức của dồi dào của hậu phơng đều đợc huy động tối
đa vào việc chuẩn bị cho Đông Xuân đánh lớn
ta tiến nhanh lên chính quy phù hợp với yêu cầu tác chiến của giai đoạn mới
Năm 1951, sản xuất nông nghiệp của ta gặp khó khăn nghiêm trọng, mùamàng bị thất bát nặng trên cả nớc do hạn hán, lũ lụt, thiên tai, địch hoạ gây nên Vấn
đề thiếu lơng thực trớc đây hầu nh chỉ đặt ra với Việt Bắc nay trở thành vấn đề khókhăn chung trong cả nớc, nhân dân thiếu vốn sản xuất, kỹ thuật canh tác cha đợc cảitiến Mặt khác, kẻ thù lại ráo riết càn quét, ra sức phá hoại sản xuất cớp phá thóc lúa,
do vậy, những khó khăn về lơng thực của ta ngày càng trở nên gay gắt
Thực hiện nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II (tháng 2 năm1951) và Hội nghị Trung ơng lần thứ nhất, ta đã vợt qua nhiều khó khăn, cả nớc giấylên phong trào thi đua tăng gia sản xuất sôi nổi thu đợc những kết quả đáng kể, các
địa phơng đã tăng diện tích trồng lúa, hoa mầu lên gấp nhiều lần so với năm trớc.Công việc sản xuất đã trở thành một cuộc vận động lớn có phơng hớng và kế hoạch
Trang 8rõ rệt Nông dân ta đã ra sức bảo vệ đê điều, làm công tác thuỷ nông và áp dụngnhững cải tiến kỹ thuật canh tác để tăng năng suất Năm 1953 so với 1950, ở nămtỉnh Bắc Cạn, Yên Bái, Tuyên Quang, Phú Thọ, Thái Nguyên diện tích trồng trọttăng 15.288 ha, sản lợng tăng 210% [19, 176] Tình hình sản xuất nông nghiệp củaViệt Bắc năm 1952 so với 1950 tiếp tục ổn định và có những bớc phát triển cao hơn,năm 1950 diện tích lúa chiêm là 117.432 ha, đến năm 1952 tăng 2014 ha ở nhiềunơi khác thuộc tả ngạn liên khu III do mở rộng đợc vùng du kích và căn cứ du kíchphần lớn ruộng đất bị bỏ hoang trong những năm đầu kháng chiến đến năm 1952 đã
đợc cày cấy lại, diện tích hoa mầu: Bông, Đậu, Lạc năm sau đều tăng hơn năm trớc
và sản lợng thu hoạch đợc cũng tăng hơn nhiều ở liên khu IV “vụ chiêm năm 1950Thanh- Nghệ- Tĩnh đã cấy đợc 185.400 ha lúa thu hoạch trên 144.900 tấn Ngoài racòn thu hoạch đợc 155.900 tấn khoai, 10790 tấn ngô”[15, 55]
Qua các cuộc vận động tăng gia sản xuất, nhiều khó khăn về sản xuất lơngthực và cung cấp dần dần đợc khắc phục, năng suất tăng, diện tích trồng trọt, sảnxuất nông nghiệp tăng thêm và phục hồi đã đảm bảo đợc những nhu cầu tối thiểu chochiến tranh và đời sống của nhân dân Các liên khu mở thêm nhiều xởng giấy, xởng
xà phòng, xởng dệt, phát triển các khung dệt gia đình, khuyến khích nghề ơm tơ, dệtlụa, làm nớc mắm, làm đờng, dệt chiếu, sản xuất bông, đay công nghiệp quốcphòng và công nghiệp chế tạo công cụ lao động sản xuất cũng đạt đợc nhiều thànhtựu đáng kể
Đồng thời với việc đẩy mạnh sản xuất, Chính phủ thực hiện chủ trơng tăngthu, giảm chi, thống nhất quản lý tài chính để tránh lạm phát, giữ giá hàng, phát triểnsản xuất, đấu tranh kinh tế với địch, mở mang mậu dịch đối ngoại Để thăng bằngthu chi và chế độ đóng góp công bằng hợp lý, tạo điều kiện đẩy mạnh sản xuất từ sau
1950, Chính phủ đã cải cách chế độ thuế, đáng kể nhất là thuế nông nghiệp Nớc ta
là một nớc nông nghiệp, nông dân chiếm một phần rất lớn trong dân số Việt Nam,việc phát động phong trào cải cách thuế không những có tác dụng to lớn về kinh tế
mà còn là một cuộc vận động chính trị rộng lớn, thông qua công tác thuế nôngnghiệp, lòng yêu nớc, tinh thần ủng hộ Chính phủ của nông dân và ý thức phục vụnhân dân, phục vụ Đảng của số đông cán bộ và đảng viên đã đợc biểu lộ rõ rệt Đó làmột thắng lợi căn bản của ta trên mặt trận kinh tế Nhờ đó, phong trào tăng gia sảnxuất thực hiện“ vụ mùa thắng lợi” đợc thúc đẩy mạnh mẽ, nhà nớc bớc đầu thống kê
đợc về mặt dân số, diện tích, sản lợng Từ đó tiến hành xây dựng kế hoạch pháttriển kinh tế kháng chiến
Trong công tác đấu tranh kinh tế với địch chúng ta cũng thu đợc những kếtquả tốt, thực hiện đợc chính sách thuế công thơng nghiệp, thuế hàng hoá, thuế xuất
Trang 9nhập khẩu Ta đã xuất khẩu đợc một lợng hàng lớn, đồng thời những hàng xa xỉ đã bịcấm nhập vào nớc ta, còn những hàng không cần thiết hay ít cần thiết cũng đợc hạnchế nhập vào, và nh vậy thì hàng hoá trong nớc đợc bảo vệ về mặt giá cả cũng nhtrọng lợng giá trị hàng hoá của mình Từ đó ngành nghề đợc đảm bảo, tình trạngnhập nhiều, xuất ít dần dần đợc khắc phục, sửa chữa Đồng tiền trong nớc sẽ đợc ổn
định, vững giá
Sau chiến dịch Biên Giới, tình hình cuộc kháng chiến phát triển mau lẹ hơn,nhu cầu của bộ đội cũng cần nhiều hơn, để vận động tiềm lực trong nhân dân nhất lànông dân một cách cao nhất, Đảng và Chính phủ đã chú ý quan tâm nhiều đến việcthi hành chính sách ruộng đất Việc giảm tô đã đợc thực hiện ở nhiều nơi nhất là ởNam Bộ, tại đây những nông dân không có ruộng đất hoặc có ít ruộng đất cũng đợctạm cấp ruộng đất, những địa chủ trớc đây, bây giờ xin hiến điền và trả lại lúa thoáitô cho nông dân, nông dân đã có đất đai cày cấy còn đợc vay vốn tín dụng để sảnxuất Tính đến năm 1951: 44.5 vạn nông dân nghèo đã đợc tạm cấp 253.682 haruộng đất của Pháp và Việt gian Chính sách ruộng đất này của Đảng và Chính phủ
đã động viên sâu rộng giai cấp nông dân hăng hái theo Đảng kháng chiến đến cùnggiải phóng quê hơng, nông dân đã hăng hái gia nhập vào các hợp tác hợp tác sảnxuất, vào dân quân du kích, đi bộ đội chủ lực Nhờ vậy, hậu phơng kháng chiến có b-
ớc củng cố vững chắc góp phần quyết định vào thắng lợi của cuộc kháng chiến tronggiai đoạn sau
1.1.3.Về công tác văn hoá- xã hội, giáo dục, y tế
Ngay từ khi tiến hành xâm lợc, bình định Việt Nam, thực dân Pháp đã áp dụngchính sách ngu dân, du nhập văn hoá đồi trụy, các tệ nạn xã hội vào Việt Nam, kìmhãm sự phát triển của xã hội Việt Nam, chia cắt đất nớc, xã hội Việt Nam thànhnhững đơn vị nhỏ cho dễ bề cai trị Đó cũng là thủ đoạn chung của nhiều n ớc đi xâmlợc
Nhân dân Việt Nam vừa phải kháng chiến để giành độc lập dân tộc, toàn vẹnlãnh thổ, đồng thời phải đấu tranh để bảo vệ nền văn hoá truyền thống của dân tộc,xây dựng, phát triển văn hoá của đất nớc, nâng cao trình độ cho nông dân Bác Hồ đãtừng nói“ một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” Kháng chiến muốn thắng lợi, trênmặt trận văn hoá, truớc hết phải nhanh chóng xoá nạn mù chữ cho nhân dân Trongnhững năm kháng chiến đã có 14 triệu ngời thoát nạn mù chữ, trong đó ở vùng tự do
và khu du kích đã có hơn 10 triệu ngời biết đọc, biết viết, nạn mù chữ đã đợc thanhtoán về cơ bản trong các vùng kháng chiến [19, 379] Cụ thể, đến năm 1951- 1952
đã có 3791 trờng học cấp I, cấp II, cấp III với 10.250 giáo viên các cấp I, II, III, so
Trang 10với 1949-1950 số trờng học cấp I, II, III là 3047 trờng với 7989 giáo viên trong cáccấp học đó[15, 315]
Nh vậy, mặc dù tỷ lệ giữa năm học trớc và năm học sau về trờng học, giáoviên còn cha tăng nhiều nhng qua đó chúng ta thấy đựơc Đảng ta rất quan tâm chú ý
đến việc phát triển văn hoá giáo dục, nhất là trong điều kiện kháng chiến diễn raquyết liệt Ngoài ra, nhiệm vụ cải tạo t tởng cho văn nghệ sĩ cũng đợc Đảng, Chínhphủ quan tâm và bớc đầu thu đợc kết quả
Về tình hình các công tác vùng sau lng địch cũng đạt đợc những thành tựu
đáng quan tâm, nhất là sau chiến thắng Hoà Bình, dới ánh sáng của nghị quyết Trung
ơng Đảng, số đông cán bộ vùng sau lng địch đã nhận rõ phơng hớng công tác, hìnhthức đấu tranh thích hợp, phát triển đấu tranh du kích chống càn quét ở vùng du kích
và căn cứ du kích, đẩy mạnh phong trào chống áp bức, bóc lột, bắt phu, bắt lính, đòisửa cống, đắp đê ở vùng tạm bị chiếm Nhờ biết dựa vào dân và gan dạ bám sát địaphơng, cán bộ đã vợt đợc nhiều khó khăn to lớn và làm tròn nhiệm vụ Chính sáchcủa địch“ dùng ngời Việt trị ngời Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” đã bị phásản phần nào
Trong điều kiện đất nớc có chiến tranh, nền kinh tế còn nhiều thiếu thốn, trình
độ dân trí thấp, Đảng và nhà nớc rất quan tâm đến sức khoẻ cho nhân dân, phát độngcác phong trào “ăn sạch, uống sạch, ở sạch” nhằm ngăn ngừa phòng tránh các loạibệnh tật Đồng thời, nhà nớc cũng tiến hành cho xây dựng các cơ sở y tế nh bệnhviện, bệnh xá, phòng khám bệnh, trạm cứu thơng, nhà hộ sinh… trong tất cả những vấn đề đó thì mảng đề tài“ vai trò của hậu tiến hành xây dựngcác xởng sản xuất thuốc men phục vụ cho nhu cầu của nhân dân và bộ đội, xúc tiến
đào tạo các cán bộ y tế, y sỹ, bác sỹ, y tá
Nhìn chung, các hoạt động văn hoá, giáo dục, y tế trong những năm đầukháng chiến đến sau chiến dịch Biên Giới hoàn toàn phù hợp với đờng lối khángchiến của Đảng và Chính Phủ đề ra, có ý nghĩa, tác dụng to lớn bồi dỡng sức dân làmtăng tiềm lực của cuộc kháng chiến, góp phần huy động sức mạnh toàn dân vàonhững bớc phát triển tiếp theo của cuộc kháng chiến đến ngày thắng lợi
Trang 11đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh, chính quyền dân chủ nhân dân của ta ngày càngliên hệ mật thiết với các tầng lớp nhân dân và ngày càng đợc kiện toàn củng cố Hội
đồng nhân dân các cấp cũng đợc tổ chức, củng cố, tăng cờng lực lợng chuyên môn,
kỹ thuật, hoàn thành biên chế mới Trong toàn bộ các cấp chính quyền từ trung ơng
đến cơ sở thì củng cố chính quyền cấp xã đợc coi là trọng tâm ở nhiều nơi ta đã loạitrừ đợc những ngời xấu, tăng cờng đợc thành phần công nông trong hội đồng nhândân, trong tổ chức chính quyền Những hoạt động nói trên đã đem lại cho nhân dân
ta từ tiền tuyến đến hậu phơng nguồn sức mạnh chiến đấu mới để có thể vợt quanhững thử thách mới trong chặng đờng đi lên của cuộc kháng chiến
Cùng với những hoạt động nhằm củng cố khối đoàn kết dân tộc thì tình đoànkết liên minh Việt- Miên- Lào là một nội dung của hậu phơng kháng chiến theo quan
điểm của Đảng ta cũng đợc ngày càng đợc thắt chặt chẽ hơn nữa, đã giáng một đònmạnh vào chính sách chia rẽ của địch
Đầu năm 1950, Liên Xô, Trung Quốc và các nớc dân chủ nhân dân khác côngnhận nớc ta, ta đã đặt đại sứ ở Liên Xô, đặt quan hệ ngoại giao với nhiều nớc Những thắng lợi ngoại giao và những hoạt động của ta về mặt quốc tế đã thắt chặtthêm tình hữu nghị giữa nớc ta và các nớc bạn, giáo dục tinh thần quốc tế cho nhândân ta, tăng thêm lòng tin của nhân dân ta đối với lực lợng hoà bình, dân chủ thế giới
do Liên Xô làm trụ cột Cuộc kháng chiến của nhân dân ta ngày càng tỏ rõ là một bộphận khăng khít của phong trào thế giới bảo vệ hoà bình Đại hội toàn quốc cácchiến sỹ thi đua và cán bộ gơng mẫu tháng 5 năm 1952 tổng kết kinh nghiệm phongtrào thi đua chiến đấu, sản xuất và học tập đạt kết quả tốt đã cổ vũ động viên, giáodục tinh thần yêu nớc cho nhân dân Công tác chỉnh Đảng đã nâng cao đợc nhậnthức về lập trờng giai cấp, chính sách, t tởng, nguyên tắc tổ chức của Đảng Đồngthời trải qua các cuộc vận động tăng gia sản xuất, thu thuế nông nghiệp, chống địchcàn quét, xây dựng căn cứ du kích cơ sở Đảng ở nhiều điạ phơng đã đợc củng cốmột phần Công tác xây dựng Đảng có kết quả đã thúc đẩy các công tác khác pháttriển làm cho kháng chiến tiến mạnh và liên tiếp giành đợc thắng lợi
Những thành công mà ta giành đợc trên tất cả các mặt trận quân sự, kinh tế,chính trị, xã hội trong những năm từ đầu kháng chiến đến những năm sau chiến dịchBiên Giới có tác dụng to lớn, thúc đẩy cuộc kháng chiến đến đỉnh cao và giành thắnglợi hoàn toàn Thành quả đó chính là nhờ vai trò to lớn của hậu phơng ngày đêmgắng sức phục vụ cho tiền tuyến Trong giai đoạn tiếp theo– giai đoạn thắng lợi củacuộc kháng chiến thì hậu phơng lại càng đợc tỏ rõ hơn bao giờ hết vai trò và sứcmạnh của mình
Trang 12Tuy nhiên, khi cuộc kháng chiến phát triển đến đỉnh cao thì chúng ta vẫn gặprất nhiều khó khăn nhng những khó khăn đó là những khó khăn của sự trởng thành
để đánh lớn hơn, thắng lợi lớn hơn, chúng ta đánh địch ở khắp các chiến trờng, ở mặttrận chính diện, ở vùng sau lng địch Phải làm thế nào để động viên đợc sức mạnhcủa toàn dân phục vụ cho kháng chiến thắng lợi, khi quân dân ta phải tiến hànhkháng chiến trên điạ bàn rừng núi xa hậu phơng từ 500 đến 700km thì vấn đề đảmbảo lơng thực, thuốc men, đảm bảo đời sống cho bộ đội nơi trận tuyến lại càng khókhăn.Tất cả những khó khăn đó đòi hỏi Đảng, nhà nớc và nhân dân ta phải nỗ lực hếtsức trớc hết là tinh thần quyết tâm khắc phục và đa ra những biện pháp thích hợp đểxây dựng hậu phơng và xây dựng lực lợng kháng chiến
Nhìn chung, đến đầu những năm 50, cuộc kháng chiến của ta tuy có nhữngkhó khăn nhng thuận lợi mới là cơ bản, thắng lợi có tác dụng to lớn và còn tiếp tụcphát huy hơn nữa, mạnh hơn ở giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến Còn những khókhăn ấy chỉ là những khó khăn tức thời và không phải không khắc phục đựơc đối với
Đảng, Chính phủ và nhân dân ta với tinh thần độc lập dân tộc, dân chủ, tất cả đểchiến thắng kẻ thù xâm lợc Thắng lợi đó sẽ là cơ sở để Đảng ta tiếp tục vạch kếhoạch cho giai đoạn tiếp sau
1.2 Tình hình thực dân Pháp những năm sau chiến dịch Biên Giới.
Nếu ta càng đánh càng thắng, càng đánh càng mạnh, càng đánh càng trởngthành thì đối với địch, địch càng đánh càng yếu, càng trở nên khó khăn lúng túng tỏ
rõ sự thất bại của mình Cục diện chiến trờng Đông Dơng đã tác động mạnh mẽ đếntình hình nớc Pháp về mọi mặt
động viên đợc nhân lực, vật lực để đánh với ta, lại bị nhân dân trong nớc phản đốikịch liệt Trong lúc chiến trờng cần nhiều quân số, binh lực thì binh lực lại thiếu vàphải phân tán để lập nên hàng nghìn cứ điểm lớn nhỏ phòng giữ các địa phơng chúng
Trang 13chiếm đợc, để đối phó với cuộc chiến đấu kiên quyết của nhân dân ta chống lạichúng Việc thực dân Pháp phải phân tán binh lực có nghĩa là lực lợng của chúng đã
bị giàn mỏng và hiển nhiên càng tạo điều kiện thuận lợi cho ta dễ tiêu diệt chúng ởtừng bộ phận, càng chứng tỏ chúng yếu và sơ hở Mặt khác, kẻ xâm lợc bao giờ và ở
đâu cũng muốn và đề ra chiến lợc “đánh nhanh giải quyết nhanh”, nhng cuộc khángchiến của nhân dân các nớc bị xâm lợc đã đánh bại chúng, và ở Việt Nam là một ví
dụ điển hình Thực dân Pháp đã bị thất bại trong chiến lợc “đánh nhanh thắngnhanh” và phải bị động chuyển sang đánh lâu dài, thực hiện âm mu “lấy chiến tranhnuôi chiến tranh, dùng ngời Việt đánh ngời Việt” Điều đó chứng tỏ chúng đã sa lầytrong chiến tranh đồng thời cũng chứng tỏ là chúng yếu thế hơn vì khi chúng dùngngời bản xứ một cách cỡng ép- bắt lính- sẽ ít hiệu quả do tinh thần binh lính suy sụp,giảm sút Xem các con số quân địch bị tiêu diệt từ chiến dịch Biên Giới đến cuốitháng 12/1952, ta thấy tỷ lệ hàng binh, tù binh đã tăng lên nhiều “Từ chiến dịchBiên Giới đến tháng 10/1951 trong số 56.839 binh sỹ địch bị tiêu diệt có 12.301 ngời
đầu hàng hoặc bị bắt làm tù binh, tỷ lệ là hơn 21% Từ chiến dịch Hoà Bình đếntháng 10/1952 trong số 61.791 binh sỹ địch bị tiêu diệt có 15.365 ngời đầu hànghoặc bị bắt làm tù binh, tỷ lệ là gần 25%” [TL 21] Với các thông số trên đây đãphần nào phản ánh đợc tinh thần binh sỹ địch đã thực sự giảm sút, suy sụp và cóchiều hớng ngày càng tăng “Đó là một vết thơng nặng của địch, một vết thơngkhông có thuốc cứu chữa”
Đến năm 1953(tháng11/1953) địch đã bị tiêu diệt khoảng 32 vạn sinh lực [1,175], chất lợng quân đội của địch giảm sút đi nhiều, thành phần lính Âu- Phi tinhnhuệ trong đội viễn chinh Pháp giảm xuống rất nhiều trong khi đó lực lợng ngụyquân lại ngày càng tăng Nếu nh đầu kháng chiến 1946 lính Âu- Phi là 65000 ngờichiếm 73% quân số Pháp- Ngụy, quân ngụy là 27% thì đến năm 1953 lính Âu- Phi là
146000 quân chiếm 31%, ngụy quân là 319000 chiếm 69% [11, 447] Bên cạnh đó
địch không đào tạo kịp cán bộ quân sự để bổ sung những chỗ thiệt hại nên buộc phảibiên chế lại các đơn vị, trớc đây mỗi đại đội có từ 5 hay 6 sỹ quan, đến năm 1952 chỉ
có 2 đến 3 sỹ quan Lực lợng dự bị của địch bị hạn chế rất nhiều
Những nhợc điểm của địch nêu trên càng bộc lộ rõ khi quân ta mở các cuộctiến công trên từng hớng chiến lợc, không chỉ thế địch còn phải rút khỏi nhiều nơi
mà chúng chiếm đợc trớc đây càng chứng tỏ chứng bị sa lầy nguy khốn thờng xuyên
bị uy hiếp mạnh mẽ trên khắp chiến trờng Điều này lý giải vì sao thực dân Pháp lạiliên tiếp bị thất bại
Trang 14Những thất bại trên chiến trờng Đông Dơng cũng nh những khó khăn mà thựcdân Pháp đang phải đơng đầu tại đây đã đẩy chúng vào một tình thế lúng túng,khủng hoảng kinh tế và chính trị trong nớc.
1.2.2 Về kinh tế, tài chính
Thực dân Pháp tuy là nớc thắng trận trong Chiến tranh thế giới thứ II nhng nềnkinh tế tài chính cũng nh mọi mặt của đất nớc đều bị thiệt hại nặng nề, nớc Phápngày càng lâm vào tình trạng khó khăn và kiệt quệ Sau chiến tranh, Pháp đã trở lạixâm lợc Việt Nam, nhng ngay từ đầu nhân dân Việt Nam đã đứng lên đánh Pháp,thực dân Pháp ngày càng lún sâu vào cuộc chiến tranh ở Đông Dơng.Chi phí chochiến tranh ngày càng nhiều, từ 1946 đến 1950, thực dân Pháp đã tốn vào cuộc chiếntranh xâm lợc Việt Nam hơn 534 tỷ Frang, và đến năm 1953 đã tiêu tốn tới hơn 2000
tỷ Frang Sự tiêu tốn ngày càng tăng lên, năm sau gấp nhiều lần so với năm trớc nhngkhông đạt đợc mục đích lại càng làm cho thực dân Pháp thêm lúng túng, càng lâmvào thế bí, mắc kẹt trong chiến tranh
Để đáp ứng nhu cầu chiến tranh, thực dân Pháp vừa ra sức bóc lột nhân dântrong nớc vừa tiến hành áp bức, cớp đoạt, bóc lột nhân dân các nớc thuộc địa, thihành chính sách lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, vơ vét ngày càng nhiều các loại tàinguyên thiên nhiên
Chính sự tiêu hao tiền của đổ vào chiến tranh ngày càng nhiều, Pháp lại ngàycàng sa lầy trong chiến tranh Đông Dơng đã làm cho nhân Pháp hiểu đợc cuộc chiếntranh mà chính phủ Pháp đang tiến hành và càng đẩy mạnh phong trào đấu tranhchống chiến tranh xâm lợc Việt Nam của đông đảo nông dân, công nhân, tiểu t sản
và bắt đầu lan sang một bộ phận t sản Pháp đặc biệt là những nhà t sản có vốn đầu t
Đông Dơng Phong trào đấu tranh chống chiến tranh xâm lợc Việt Nam không chỉdiễn ra ở trong nhân dân Pháp mà đã xuất hiện cả ở trong nội bộ chính giới Phápngày càng mâu thuẫn, chia rẽ và trầm trọng thêm giữa hai phái chủ chiến và chủ hoà.Mặt khác, nhân dân các nớc tiến bộ và đặc biệt là nhân dân tiến bộ ở thuộc địa Phápcũng lên tiếng phản đối mạnh mẽ cuộc chiến tranh của thực dân Pháp và ủng hộcuộc kháng chiến giải phóng dân tộc của nhân dân Việt nam
1.2.3 Chính trị-xã hội
Từ những khó khăn về kinh tế đã dẫn đến những khó khăn về chính trị, thựcdân Pháp ngày càng bị cô lập, càng thêm bối rối Từ tháng 1/1946 đến tháng 6/1953nội các Pháp đã 18 lần đợc lập lên lại bị lật đổ Cao uỷ, Tổng chi huy Pháp ở DôngDơng cũng nhiều lần thay đổi Các chính phủ bù nhìn do Pháp lập ra cũng khôngphát huy đợc tác dụng nh mong muốn
Trang 15Lợi dụng những khó khăn của Pháp và để cứu vãn tình thế đang ngày càng xấu
đi thì Pháp đã phải dựa vào Mỹ Mỹ có cơ hội can thiệp sâu vào chiến tranh ViệtNam và chúng âm mu dần dần thay thế Pháp ở Việt Nam về chính trị, quân sự, kinh
tế để cuối cùng hất cẳng Pháp độc chiếm Việt Nam
Việc đầu tiên chúng làm là làm thế nào để nắm lấy chính phủ bù nhìn, kiểmsoát quân đội bù nhìn, giúp đỡ bọn Việt gian thân Mỹ hoạt động chống Pháp và muachuộc bọn Việt gian thân Pháp Đồng thời tích cực đầu t sang Việt Nam, chiếm đoạtthị trờng và các nguồn lợi kinh tế: cao su, than đá, thiếc của Pháp ở vùng tạm bịchiếm Mâu thuẫn giữa Pháp và Mỹ ở Việt Nam ngày càng gây thêm khó khăn choPháp
Đế quốc Pháp đã nhận viện trợ của Mỹ, nếu năm 1950 là 52.0 tỷ Frang thì đếnnăm 1953 là 285 tỷ Frang chiếm 43,6% ngân sách chiến tranh lúc bấy giờ Ngoài ra,
Mỹ còn cung cấp cho Pháp các phơng tiện chiến tranh nh máy bay, tầu chiến, xetăng, xe bọc thép, xe ôtô vận tải, súng đạn
Nh vậy thông qua việc viện trợ kinh tế, quân sự, can thiệp lôi kéo về chính trịthì đế quốc Mỹ dần dần gạt Pháp nắm lấy quyền điều hành cuộc chiến tranh ViệtNam thay Pháp
Thực dân Pháp- đế quốc Mỹ càng đánh càng suy yếu, đế quốc Mỹ vừa bịgiáng một đòn nặng sau chiến tranh Triều Tiên tuy nhiên vào những năm 1950-1953chúng vẫn còn rất mạnh, có thể nói là đang còn rất sung sức, chúng không dễ dànglùi bớc, thực dân Pháp đợc đế quốc Mỹ hà hơi tiếp sức, chúng lại hung hăng hơn, áchiểm hơn và chắc chắn sẽ còn nhiều âm mu, thủ đoạn
Nhìn chung, sau chiến dịch mùa Đông 1950, tình hình tơng quan lực lợng giữa
ta và địch đã thay đổi về căn bản và đang có lợi cho ta Ưu thế của ta trên chiến ờng đã đợc khẳng định Địch càng đánh càng yếu và nhất định sẽ bị ta đánh bại,buộc chúng phải trả lại độc lập tự do cho nhân ta
tr-Sự thay đổi to lớn về thế và lực giữa ta và địch trên chiến trờng nhất là trênchiến trờng chính Bắc Bộ đã tác động sâu sắc và mạnh mẽ đến mọi hoạt động của ta
ở căn cứ địa, ở những vùng tự do và vùng giải phóng- hậu phơng của cuộc khángchiến Nhiệm vụ của hậu phơng lại càng nặng hơn và quan trọng hơn khi cuộc khángchiến đến giai đoạn cuối
Đến đầu năm 1953, trên chiến trờng chính Bắc Bộ vùng tự do của ta bao gồmhầu hết các tỉnh miền núi rộng lớn ở Việt Bắc, Tây Bắc và tỉnh Hoà Bình thuộc liênkhu III Vùng tạm bị chiếm thu hẹp lại trong phạm vi các tỉnh trung du và đồng bằngduyên hải Đông Bắc và hai khu vực nhỏ ở Tây Bắc là thị xã Lai Châu và Nà Sản( Sơn La) Ngay ở các tỉnh đồng bằng, nơi mà quân Pháp coi là làm chủ thực ra chỉ
Trang 16chiếm một phần nhỏ, đó là các thành phố, thị xã, và miền phụ cận các trục đờng giaothông quan trọng.
ở Trung Bộ, hai vùng tự do rộng lớn nằm trên hai vùng đồng bằng trù phú :vùng tự do Thanh-Nghệ -Tĩnh ở bắc liên khu IV và vùng tự do Quảng Nam, QuảngNgãi, Bình Định, Phú Yên ở đông liên khu V ngày càng đợc củng cố Trong các tỉnhthuộc quyền kiểm soát của địch chiến tranh du kích đều phát triển mạnh
Tại Nam Bộ, vùng tự do khu IX và các căn cứ du kích vẫn đứng vững trớc cáccuộc hành quân đánh phá của địch Phong trào du kích lan rộng đến cả nhiều xã nằmsâu trong vùng tạm bị chiếm Cơ sở kháng chiến đợc gây dựng ở khắp các vùng nôngthôn, đồng bằng và các vùng đô thị
Nh vậy, chúng ta bớc vào chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 trong một điềukiện tơng đối thuận lợi, về tơng quan so sánh lực lợng giữa ta và địch, thế của tamạnh hơn địch gấp nhiều lần Những thắng lợi về quân sự, chính trị, ngoại giao, kinh
tế, văn hoá trớc những năm 1953-1954 sẽ là điều kiện, là cơ sở để hậu phơng ta tiếptục chuẩn bị đầy đủ nhân tài vật lực phục vụ cho kháng chiến đến ngày thắng lợi
Ch ơng II
Vai trò của hậu phơng trong chiến cuộc
Đông Xuân 1953-1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ
2.1 Âm mu của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ Kế hoạch Nava
Nhìn thấy đợc tình hình khó khăn nguy khốn của Pháp cả ở ngay trên đấtPháp và ở chiến trờng Đông Dơng vào đầu năm 1953 đã đặt ra cho chính phủ Phápvấn đề hết sức cấp thiết là phải có những phơng sách, biện pháp để nhanh chóngthoát khỏi cuộc chiến tranh hao ngời tốn của để cứu vãn tình thế, tránh những thấtbại nặng nề hơn mà ngời ta quen gọi là lối thoát- phải tìm ra một “lối thoát vinh dự’’
Trang 17có nghĩa là“ lối thoát trong sự thắng lợi” Để đạt đợc mục tiêu đó thì trớc mắt phải
đẩy mạnh chiến tranh, tìm kiếm những thắng lợi lớn trong quân sự, để có thể xoaychuyển tình hình
Với âm mu mở rộng và kéo dài chiến tranh, ngoan cố đeo đuổi cuồng vọngxâm chiếm Đông Dơng và Việt Nam, thực dân Pháp đợc đế quốc Mỹ hà hơi tiếp sức
đã quyết định thay ngựa giữa dòng, cử Nava sang Đông Dơng thay tớng Salăng
Nava là một viên tớng trẻ có tài quân sự mặc dù cha có tên tuổi và danh tiếng
nh Đờ lát đờ tát xi nhi nhng đã đợc Pháp-Mỹ đánh giá cao và rất hy vọng vào viên ớng này, nhất là tầm nhìn chiến lợc của Nava
Nhiệm vụ của Nava là phải “tìm lối thoát danh dự cho nớc Pháp”, phải giànhlại thế chủ động quân sự trên chiến trờng, làm hậu thuẫn cho một giải pháp chính trị
ở Đông Dơng, để Pháp rút ra khỏi cuộc chiến tranh xâm lợc Đông Dơng mà vẫnkhông mất đi những quyền lợi béo bở, không mất đi vị trí là mẫu quốc và không bịmất mặt trớc thế giới
Nava chính thức nhận chức vào tháng 5/1953 Sau một thời gian ngắn điều tra,nghiên cứu chiến trờng, Nava đã đa ra một loạt những nhận định, trên cơ sở đó đề ramột kế hoạch chiến lợc tơng đối hoàn chỉnh nhằm cải biến tình hình một cách có lợicho Pháp
Nava đã đa ra những nhận định của mình về nguyên nhân làm cho tinh thầnbinh lính Pháp suy yếu là do chính phủ Pháp không xác định rõ ràng mục đích củacuộc chiến tranh, đồng thời Nava cũng đa ra những biện pháp khắc phục cụ thể làchính phủ Pháp vừa phải xác định chủ trơng của mình là tiến hành chiến tranh để bảo
vệ những đặc quyền, đặc lợi nhất định của Pháp ở Đông Dơng, mặt khác, chính phủphải mạnh bạo thừa nhận quyền độc lập của các quốc gia liên kết trong khuôn khổkhối liên hiệp Pháp, thực chất đó là nền độc lập giả hiệu nhằm che đậy cho nhữnghành động gian trá của Pháp Nava cũng xác định Pháp cần sự viện trợ của Mỹ đểtiếp tục chiến tranh vì Pháp và Mỹ có chung mục đích là ngăn ngừa chủ nghĩa cộngsản, nhng không chỉ thế mà Pháp còn phải chiến đấu cho lợi ích của mình nữa
Về tổ chức chỉ đạo chiến tranh, Nava có nhìn nhận, so sánh giữa hai bên Việt:
Pháp-Về phía chính phủ Pháp và quân đội Pháp, Nava cắt nghĩa cho sự thiếu hẳnmột sự lãnh đạo chặt chẽ, kế hoạch tiến hành thiếu chủ trơng cụ thể và liên tục là dokhủng hoảng nội các liên tiếp, tớng tá chỉ huy ở Đông Dơng lại bị thay đổi luôn Còn
về phía ta, Nava thấy rằng quân đội và nhân ta có một mục tiêu chiến đấu rõ rệt:chiến đấu cho một nền độc lập của tổ quốc, có một tinh thần chiến đấu cao, theo một
Trang 18đờng lối kháng chiến kiên quyết rõ ràng dới sự lãnh đạo của Chính phủ nớc ViệtNam dân chủ cộng hoà, đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh.
Về quân sự, Nava cũng nhận định rằng tình hình chiến sự bất lợi cho quân độiviễn chinh vì quân đội nhân dân Việt Nam đã lớn mạnh rất nhiều, có tinh thần chiến
đấu anh dũng, xả thân vì quyền lợi của độc lập tự do, lại có một lực lợng cơ độngmạnh gồm nhiều s đoàn, có khả năng mở những chiến dịch tiến công tơng đối lớn,
đồng thời chiến tranh du kích phát triển khắp nơi, uy hiếp lực lợng của chúng Vềphía quân đội viễn chinh Pháp thì ngày càng lâm vào tình trạng phân tán và bị động,phần lớn lực lợng đều bị bó chân làm nhiệm vụ phòng ngự trong hàng nghìn đồn bốtrải rác trên khắp các chiến trờng Chính vì vậy mà quân đội viễn chinh ngày càngyếu
Nava đã nêu ra những nhận xét kết luận sau khi phân tích các hớng chiến lợc
Hớng thứ hai: là hớng Tây Bắc Việt Nam và Thợng Lào Đây là chiến trờngrừng núi quân đội viễn chinh có nhiều sơ hở vì trớc đây các tớng tá Pháp chỉ coitrọng đồng bằng, coi đồng bằng là vị trí “then chốt của Đông Nam á” nên khi tổchức chiến trờng miền núi có nhiều thiếu sót, binh lực bố trí phân tán, điều kiện tiếp
tế khó khăn, địa hình lại không có lợi cho quân đội viễn chinh Chính những điều đó
có thể gây cho Pháp nhiều thiệt hại lớn cả về quân sự chính trị nếu quân đội ViệtMinh mở những cuộc tiến công quy mô lớn, mới, vì thế cần phải đề phòng NhngNava tỏ ra yên tâm hơn khi nghĩ quân ta không có khả năng dùng lực lợng bộ đội lớnvì điều kiện đảm bảo vấn đề cung cấp, chi viện với quy mô lớn trong thời gian dài
đối với một chiến trờng ở xa hậu phơng là khó khăn, khó thực hiện đợc Nava chorằng ta chỉ có thể dùng một lợng binh lực có hạn mở những cuộc tiến công trong thờigian tơng đối ngắn
Hớng thứ ba: là ở miền nam Đông Dơng Nava cho rằng nếu chủ lực ta mởcuộc tiến công lớn về hớng này thì có thể gây nên một sự đảo lộn lớn hơn trên chiếntrờng và thu đợc nhiều thắng lợi, vì thế cần phải kiên quyết ngăn không cho chủ lực
ta vợt khỏi chiến trờng miền Bắc
Trang 19Đối với chiến trờng Miền Nam, Nava cho rằng trải qua mấy năm tiến hànhchiến tranh mà quân Pháp cứ để cho quân ta giữ vững các tỉnh nhiều ngời, nhiều của
ở liên khu V, và một vùng tự do khá rộng ở khu IX Nam Bộ, đó là một thất sách lớnvì ta có thể dựa vào những chỗ đứng chân đó để tăng cờng lực lợng gây nên nhữngnguy hiểm mới uy hiếp chúng [4,46]
Trên cơ sở những nhận định nói trên, Nava và bọn tớng tá Pháp-Mỹ đề ra một
kế hoạch tác chiến quy mô nhằm giành lại thế chủ động và trong thời gian ngắngiành lấy một thắng lợi quyết định cụ thể là kế hoạch này nhằm trong vòng 18 tháng
có thể tiêu diệt đợc phần lớn bội đội chủ lực của ta, buộc ta phải điều đình với chúng
Kế hoạch này đợc mang tên Nava và đợc thực hiện theo hai bớc:
Bớc 1: Trong Thu Đông 1953 và mùa Xuân 1954 giữ thế phòng ngự chiến lợc
ở miền Bắc, thực hiện tấn công chiến lợc ở miền Nam Cụ thể là trong Thu Đông
1953 tập trung lực lợng cơ động mạnh ở đồng bằng Bắc Bộ, mở những cuộc càn quétdữ dội để đánh phá các căn cứ du kích và khu du kích của ta Mở những cuộc tấncông uy hiếp vùng tự do để tiêu hao lực lợng ta, buộc ta phải bị động chống lại Pháp.Sau đó bớc vào đầu 1954, khi ta đã bị tiêu hao một bộ phận lực lợng chúng sẽchuyển phần lớn lực lợng cơ động vào chiến trờng Miền Nam mở những cuộc hànhbinh lớn nhằm mục đích chiếm đóng tất cả các vùng tự do còn lại của ta, nhất làvùng tự do liên khu V và vùng tự do khu IX của ta ở Nam Bộ
Bớc 2: Đến Thu Đông 1954, Pháp sẽ da toàn bộ lực lợng ra miền Bắc chuyểnsang thế tiến công chiến lợc trên chiến trờng miền Bắc giành lấy những thắng lợiquân sự to lớn buộc ta phải điều đình trong một tình hình có lợi cho chúng, hoặc tiêudiệt chủ lực ta [4, 48-49]
Để thực hiên kế hoạch nói trên Nava đã tìm mọi biện pháp mà có thể tập trungmột lực lợng quân số đông nhất, áp dụng chính sách thâm độc “lấy chiến tranh nuôichiến tranh, dùng ngời Việt trị ngời Việt” Đồng thời Nava đã tăng cờng xin lực lợng
từ Pháp sang và từ các nơi đến để xây dựng lực lợng cơ động
Đến Thu Đông 1953 địch đã tập trung đợc một lực lợng cơ động gồm 84 tiểu
đoàn trên khắp các chiến trờng Đông Dơng, chúng đã dùng mọi thủ đoạn giã man,tàn bạo để bần cùng hoá nhân dân ta trong vùng tạm chiếm, càn quét, vây bắt, lừabịp, dụ dỗ, lu manh hóa Thanh niên để đi lính cho chúng Chúng càn quét đi cànquét lại nhiều lần, tàn sát nhân dân, vây bắt thanh niên, dồn dân vào các khu tậptrung để tiện bề kiểm soát Chúng ra sức đánh phá các căn cứ du kích của ta, pháhoại kinh tế, phá hoại lực lợng dự trữ của ta, dùng mọi thủ đoạn để thực hiện kếhoạch thâm độc mở rộng quân ngụy của chúng
Trang 20Chúng cho quân nhảy dù sâu vào hậu phơng của ta, tập kích ở nhiều nơi gâycho ta những khó khăn và tổn thất Ngoài ra, chúng còn sử dụng lực lợng tay saiphản động tăng cờng hành động biệt kích mở rộng những vùng thổ phỉ ở các khu vựcsát biên giới ta và các nớc bạn Địch đã tiến hành tuyên truyền huênh hoang cho cáccuộc hành quân uy hiếp bình định vùng tự do, vùng tạm bị chiếm của ta, chúng chorằng chúng đã thu đợc thắng lợi, giành đợc quyền chủ động, quân ta đã bị chúng tiêuhao Điều này càng làm cho các tớng tá Mỹ hết sức lạc quan và càng tin vào Nava.
Nhng điều đó chẳng kéo dài đợc bao lâu, khi quân chủ lực ta di chuyển lênTây Bắc ngày càng quy mô hơn, các đại đoàn chủ lực của ta ở trung du và nhiều nơikhác nh đại đoàn 308, 312 và 351 đợc chuyển lên Tây Bắc và khi đó để đối phó lạithì địch đã nhảy dù xuống cánh đồng Mờng Thanh đánh chiếm Điện Biên Phủ, quyết
định tăng cờng cho Điện Biên Phủ và tiếp nhận cuộc chiến đấu với chủ lực ta ở đó.Sau một thời gian ngắn đắn đo nghiên cứu, Nava đã quyết định xây dựng Điện BiênPhủ thành một pháo đài bất khả xâm phạm để uy hiếp quân đôị và nhân dân ta.Việcquân dân ta ngay từ đầu đã tiến lên Tây Bắc càng gây cho địch một sự chú ý, tin chắc
ta sẽ tấn công lên Tây Bắc và điều động quân ở các nơi khác đến Tây Bắc Nh thế,
địch sẽ lơ là trong việc canh giữ ở các chiến trờng khác càng tạo thêm điều kiện đểquân ta dễ dàng tiêu diệt chúng hơn Và càng ngày địch càng co cụm cố thủ ở ĐiệnBiên Phủ với một niềm tin an toàn và chắc thắng, rằng Điện Biên Phủ sẽ nghiền nát
bộ đội Việt Minh khi quân chủ lực Việt Minh tấn công Điện Biên Phủ Nhng tất cảchỉ bộc lộ rõ hơn tính kiêu ngạo thực dân mà thôi
Nhìn một cách toàn diện việc Nava sang Đông Dơng thay Salăng và cho ra đời
kế hoạch Nava nó xuất phát từ thế thua, thế bị động để cứu nguy, cứu vãn cho quân
đội viễn chinh Pháp ở chiến trờng Đông Dơng Vì thế mà khi ta mạnh hơn, chủ độnghơn trong hành động sẽ khiến cho địch thấy hoang mang, lo sợ Khi đó ắt hẳn địch
sẽ thất bại, ta chủ động tích cực chuẩn bị mở các cuộc tiến công và thắt chặt dầnvòng vây xung quanh Điện Biên Phủ bằng một chủ trơng và kế hoạch tác chiến mớitrong Đông Xuân 1953-1954
2.2 Chủ trơng kế hoạch tác chiến của ta trong Đông Xuân 1953-1954.
Tình hình thế giới và trong nớc đầu những năm 1950 có nhiều chuyển biến cólợi cho cuộc kháng chiến của nhân dân ta Chủ nghĩa xã hội đợc hình thành và xáclập ở nhiều nơi, phong trào giải phóng dân tộc cũng thu đợc kết quả to lớn làm tanrã từng mảng hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân, đế quốc đã cổ vũ mạnh mẽcho cuộc kháng chiến của nhân ta chống thực dân Pháp ở trong nớc những thắng lợilớn về quân sự từ sau chiến dịch Biên Giới, những thành tích đạt đợc trong các côngtác văn hoá, y tế, giáo dục, kinh tế và chính trị đã tạo điều kiện thuận lợi cho toàn
Trang 21quân, toàn dân ta nỗ lực tiến hành chuẩn bị mọi yêu cầu thiết yếu phù hợp với sựphát triển của cuộc kháng chiến Đảng ta đã tiến hành họp Hội nghị Trung ơng lầnthứ IV(tháng 1/1953) và ban hành nhiều chỉ thị sau đó, bớc đầu đã chuẩn bị cho sựhình thành chủ trơng kế hoạch của ta trong Đông Xuân 1953-1954.
Về mặt quân sự, Hội nghị nhận định: “mặc dầu bị thất bại nặng, địch càngngày càng tăng cờng lực lợng, chiếm giữ các đô thị lớn, các vùng chiến lợc quantrọng và nêu rõ phơng hớng chiến lợc của ta là “tránh chỗ mạnh đánh chỗ yếu”,đểphân tán lực lợng địch và tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng vùng tự do, quân đội taphải đánh địch ở những nơi địch sơ hở, đồng thời phải hoạt động mạnh ở sau lng
địch Phơng châm tác chiến của bộ đội chủ lực là vận động chiến là chính, công kiênchiến là phụ Trên chiến trờng sau lng địch ở Bắc Bộ và Nam Bộ thì du kích chiến làchính”[12, 303]
Nhng từ sau khi quân đội Mỹ thua ở Triều Tiên, Đảng ta dự đoán âm mu mớicủa Pháp-Mỹ là ra sức tăng cờng lực lợng và mở rộng chiến tranh xâm lợc Tình hìnhquân sự vào mùa hè năm 1953 chuyển biến mau lẹ, nhất là từ khi t ớng Nava đợc cửlàm Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dơng Nava đã khảo sát chiếntrờng và đa ra kế hoạch Nava-âm mu mới của đế quốc Phap-Mỹ Từ đó, trên chiến tr-ờng Đông Dơng, tại các vùng địch hậu và hậu phơng của ta liên tục bị địch càn quét,quấy rối ở nhiều nơi: Nam Bộ, Bình-Trị Thiên, đồng bằng Bắc Bộ, Việt Bắc,TâyBắc, Thợng Lào, bộ phận chủ lực của ta cùng các lực lợng vũ trang địa phơng vàquần chúng nhân dân tích cực đứng lên chống càn bảo vệ, củng cố vùng tự do
Trong hoàn cảnh đó, Bộ Tổng tham mu triển khai nghiên cứu tình hình cụ thểcác chiến trờng và cân chắc kĩ khi nhận định âm mu của địch Từ đó, xây dựng chủtrơng kế hoạch ngay trong Thu Đông 1953-1954 Căn cứ vào phơng hớng chiến lợc
đề ra từ Hội Nghị Trung ơng lần thứ IV, Bộ Chính Trị ban chấp hành Trung Ương
Đảng đã họp bàn về nhiệm vụ trong Đông Xuân 1953-1954
Phơng châm tác chiến của ta là: tích cực chủ động, cơ động, linh hoạt, bất ngờ,tiến ăn chắc, thắng ăn chắc, chắc thắng thì đánh, phải đánh cho kỳ thắng, nếu khôngchắc thắng thì không đánh, phải biết kết hợp tác chiến giữa bộ đội chủ lực, bộ đội địaphơng và dân quân du kích, kết hợp tác chiến giữa hớng sau với hớng chính diện vàkết hợp tác chiến trên cả ba nớc Đông Dơng
Bộ Chính trị xác định chủ trơng của ta là: “sử dụng một bộ phận chủ lực mởnhững cuộc tấn công vào những hớng địch sơ hở, đồng thời tranh thủ cơ hội tiêu diệt
địch trong vận động ở những hớng địch có thể đánh sâu vào vùng tự do của ta, tronglúc đó, đẩy mạnh chiến tranh du kích ở khắp các chiến trờng sau lng địch và tích cực
Trang 22tiến hành mọi sự chuẩn bị cần thiết trong nhân dân và bộ đội địa phơng, dân quân dukích, các vùng tự do để cho chủ lực rảnh tay làm nhiệm vụ” [16, 287].
Bộ Chính trị nhất trí kế hoạch tác chiến cụ thể trên chiến trờng Miền Bắc vàMiền Nam:
“Trên chiến trờng miền Bắc, sử dụng một bộ phận chủ lực tiến công lên hớngTây Bắc, tiêu diệt quân địch còn chiếm đóng Lai Châu, giải phóng hoàn toàn khuTây Bắc Phối hợp với quân giải phóng Lào, tiến công vào hớng Trung Lào, tiêu diệtsinh lực địch mở rộng vùng giải phóng Bố trí lực lợng bộ đội chủ lực để sẵn sàngtiêu diệt địch nếu chúng tăng viện lên Tây Bắc hoặc đánh sâu vào Việt Bắc ở hớng
đồng bằng, đẩy mạnh chiến tranh du kích củng cố và phát triển các căn cứ du kích vàkhu du kích
Trên chiến trờng Miền Nam: tập trung phần lớn chủ lực của liên khu V mởcuộc tiến công lên chiến trờng miền núi Tây Nguyên ra sức tiêu diệt một bộ phậnsinh lực địch, giải phóng một bộ phận đất đai ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ, đẩymạnh chiến tranh du kích tăng cờng hoạt động đánh nhỏ ăn chắc, tiêu hao và tiêudiệt từng bộ phận nhỏ sinh lực địch, đẩy mạnh ngụy vận, mở rộng các căn cứ du kích
và khu du kích”[12, 314]
Đó là phơng châm, chủ trơng kế hoạch tác chiến đúng đắn kịp thời và sáng tạo
đợc Đảng ta vạch ra trong Đông Xuân 1953-1954, đồng thời với việc lãnh đạo, chỉ
đạo quân dân ta về mặt quân sự thì trên mặt trận khác: chính trị, kinh tế, văn hoá,ngoại giao cũng đợc Đảng ta quan tâm chú ý và có kế hoạch cụ thể, rõ ràng để từ đóchuẩn bị mọi điều kiện cần thiết cho quân ta có thể thu đợc thắng lợi theo kế hoạch.Việc quan tâm đến các mặt trận phi quân sự là một nhiệm vụ chiến lợc để xây dựngmột hậu phơng vững mạnh đảm bảo mọi điều kiện cần thiết cho bộ đội nơi chiến tr-ờng
Đảng ta đã tiến hành phát động quần chúng thực hiện chính sách ruộng đất làtriệt để giảm tô, thc hiện giảm tức, chia lại ruộng đất công, chia hẳn ruộng đất củathực dân Pháp và Việt gian cho nông dân, chủ yếu là triệt để giảm tô, nhằm thoả mãnbớc đầu yêu cầu chính đáng về kinh tế của nông dân, xây dựng khối công nông liênminh vững chắc, củng cố và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất kiện toàn bộ máychính quyền dân chủ nhân dân, xây dựng căn cứ địa-hậu phơng kháng chiến ngàycàng vững mạnh Phong trào thi đua yêu nớc với khẩu hiệu “tất cả cho tiền tuyến, tấtcả để chiến thắng” đợc Đảng ta phát động đã phát triển mạnh mẽ trên mọi mặt, mọilĩnh vực
cho chiến trờng