Những năm gần đây, vấn đề giáo dục con cáitrong gia đình ở nước ta nói chung và ở Thừa Thiên -Huế nói riêng được nhiều người quan tâm, suy nghĩvà bàn luận, từ các bậc cha mẹ đến các thầy
Trang 1
A.PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài.
Những năm gần đây, vấn đề giáo dục con cáitrong gia đình ở nước ta nói chung và ở Thừa Thiên -Huế nói riêng được nhiều người quan tâm, suy nghĩvà bàn luận, từ các bậc cha mẹ đến các thầy côgiáo, từ các cơ quan công an, pháp luật đến các tổchức đoàn thể xã hội, từ các nhà khoa học đếncác nhà lãnh đạo, các cấp chính quyền Chúng tadễ dàng nhận thấy, trẻ em ngày nay co ï một bộphận không được ngoan ngoãn lễ phép, biết vâng lờibố mẹ và sự khuyên bảo của những người lớn tuổinhư các thế hệ trẻ trước đây Trẻ em nói tục, chưởibậy, vi phạm quy tắc sinh hoạt nơi công cộng đã làmcho nhiều người băn khoăn nhưng nhiều khi phải bỏqua vì chưa tìm ra phương cách giải quyết Các tệnạn xã hội như: nghiện ngập, cờ bạc, đĩ điếm,những hành vi trộm cắp trấn lột tiền bạc, tài sản,xâm hại tính mạng công dân đã làm cho cơ quan phápluật đau đầu khi kẻ phạm tội chưa đến tuổi thànhniên Đó là những biểu hiện của những hành vi sailệch chuẩn mực xã hội của trẻ em mà không ítngười không khỏi lo lắng, băn khoăn đặt câu hỏi: Rồiđây nền đạo đức và văn hoá của xã hội chúng ta sẽ
đi đến đâu và theo xu hướng nào nếu các chủ nhântương lai không được giáo dục cẩn thận từ hômnay?
Thực trạng trẻ em hư ngày càng tăng bởinhiều nguyên nhân: có người đổ lỗi cho cơ chế thịtrường, nạn tham nhũng, thất nghiệp Nhưng mộttrong những nguyên nhân quan trọng được nhiềungười đề cập là do sự giảm sút đáng kể vai tròcủa gia đình trong việc giáo dục con cái Các bậc cha
Trang 2mẹ đã quá kì vọng vào hệ thống giáo dục xã hội(nhà trẻ, trường học ), Vì vậy, giáo dục của họđối với con cái chỉ là sự tiếp tục, sự kéo dài giáodục của các tổ chức trên chứ không phải là giáodục của gia đình với tư cách là một thiết chế giáodục đối với con cái.
Có phải các bậc làm cha làm mẹ vì mãi mêcông việc làm ăn mà buông lõng việc kiểm soát concái, sự thiếu gương mẫu của các bậc cha mẹ tronglối sống hay là sự lúng túng trong việc xác địnhnội dung, phương pháp giáo dục con cái chăng?
Xuất phát từ những lí do trên mà tôi chọn đề
tài “ Vai trò của gia đình trong sự nghiệp giáo dục đào tạo con người Thừa Thiên - Huế “,
bước đầu đưa ra một số giải pháp trên cơ sở các sốliệu khảo sát thực tế ở địa phương, nhằm nâng cao
vị trí, vai trò của các bậc cha mẹ trong việc giáodục đào tạo con em, góp phần tạo ra thế hệ tre ícóđủ năng lực và phẩm chất của người công dân chủnghĩa xã hội, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
2 Tính cấp thiết của đề tài.
Nghiên cứu đề tài này, tôi xuất phát từ hai lí dosau:
- Gia đình chiếm vị trí và vai trò quan trọngtrong việc hình thành và phát triển nhân cách conngười Thừa Thiên - Huế đáp ứng yêu cầu sựnghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Thời gian gần đây, nhiều gia đình ở Thừa Thiên Huế đang có sự giảm sút về trách nhiệm của chamẹ và người lớn đối với việc giáo dục con cái
-3 Lịch sử nghiên cứu đề tài.
Trang 3Gia đình là một tế bào của xã hội, là tập hợpnhững người gắn bó với nhau chủ yếu bằng quanhệ û hôn nhân và quan hê huyết thống.
Vấn đề gia đình từ lâu đã thực sự thu hútsự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu không nhữngtrong nước mà còn cả ngoài nước
Ở trong nước, những năm gần đây, Trung tâmkhoa học xã hội nhân văn quốc gia phối hợp với Bộvăn hoá thông tin, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam đãtổ chức nghiên cứu những vấn đề lí luận về giađình
Đề tài “ Vai trò của gia đình trong sự hình thànhvà phát triển nhân cách con người Việt Nam “ (Mã sốKX-07-09) thuộc chương trình khoa học
công nghệ nhà nước, “ Con người Việt Nam - mụctiêu và động lực phát triển kinh tế - xã hội “ (Mãsố KX-07) đã công bố những kết quả ban đầu làmsáng tỏ các chức năng của gia đình, vai trò của giáodục gia đình trong sự hình thành và phát triển nhâncách của con người Việt Nam
Ở nước ngoài, nhân Năm quốc tế về gia đình(1994) UNESCO đã chủ trì một chương trình nghiêncứu về gia đình và giáo dục gia đình Nhiều cuộcHội thảo, Hội nghị quốc tế đã nhấn mạnh đếnviệc đảm bảo các quyền cơ bản của con người kêugọi các Chính phủ, các tổ chức xã hội quan tâmgiúp đỡ các gia đình làm tròn trách nhiệm đối vớicác thành viên và là hạt nhân của sự phát triển,tiến bộ của cộng đồng, dân tộc và quốc gia
Riêng ở Thừa Thiên - Huế, vấn đề gia đình vàgiáo dục gia đình chưa được nghiên cứu một cáchcó hệ thống Nhiều câu hỏi đặt ra:
Thực trạng đời sống gia đình Thừa Thiên Huế hiện nay ra sao?
Trang 4Gia đình Huế đang phát triển hay đang trong tìnhtrạng khủng hoảng?
-Mô hình gia đình ở Huế trong thời gian tới sẽnhư thế nào?
-Làm sao để phát huy được vai trò của gia đìnhtrong việc giáo dục con người Huế?
Trước thực tế đó, chúng tôi cho rằng, tiếptục nghiên cứu về vai trò giáo dục của gia đình đốivới sự hình thành, phát triển nhân cách của cácthành viên trong gia đình là yếu tố rất quan trọnghiện nay Vì lẽ đó, việc nghiên cứu đề tài này vừalà sự tiếp nối các kết quả mà các nhà khoa họcđã đạt được, mặc khác vừa là sự thể nghiệmquá trình khám phá của chúng tôi, nhằm một lầnnữa khẳng định vai trò của gia đình đối với xã hộiViệt nam nói chung và Thừa Thiên - Huế ngày nay nóiriêng
4 Mục đích nghiên cứu.
Trên cơ sở khảo sát thực trạng giáo dục con emtrong một số loại hình gia đình phổ biến ở ThừaThiên - Huế hiện nay, đề xuất một số kiến
nghị giải pháp (cả về mặt lí luận và thực tiễn)nhằm phát huy vai trò của gia đình trong sự nghiệpgiáo dục con người ở Thừa Thiên - Huế
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Nói đến vai trò của gia đình trong sự nghiệpgiáo dục con người Thừa Thiên - Huế tức là đề cậpđến chức năng giáo dục của gia đình Vì thế, luậnvăn chỉ nghiên cứu gia đình với việc thực hiện chứcnăng giáo dục của gia đình
Quá trình nghiên cứu, đề tài tập trung giảiquyết các vấn đề sau:
Trang 5- Đời sống gia đình Thừa Thiên - Huế đang cóbiến đổi và phát triển như thế nào?
Quá trình thực hiện chức năng giáo dục trongcác gia đình ở Huế ra sao?
-Làm gì để phát huy vai trò của gia đình trongviệc hình thành và phát triển nhân cách con ngườiHuế, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệphoá, hiện đại hoá?
6 Nhiệm vụ nghiên cứu.
6.1 Phân tích vị trí, vai trò của gia đình trong quátrình giáo dục con người Thừa Thiên - Huế
6.2 Khảo sát, đánh giá việc thực hiện chứcnăng giáo dục của các gia đình ở Thừa Thiên - Huếhiện nay và sự kết hợp giữa gia đình với nhàtrường, xã hội trong công tác giáo dục thế hệ trẻ
6.3 Đề xuất những kiến nghị, giải pháp khả thinhằm phát huy vai trò của gia đình trong sự nghiệpgiáo dục, đào tạo con người Thừa Thiên - Huế phùhợp với từng loại cấu trúc, quy mô gia đình trên cácđịa bàn dân cư khác nhau
7 Phương pháp nghiên cứu.
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận.
Phân tích, tổng hợp các quan điểm khoa học vềvấn đề gia đình và giáo dục gia đình đã được đềcập trong các tài liệu, sách vở đã công bố, từ đóhình thành những luận cứ khoa học của đề tài
7.2 Thu thập các số liệu về thực trạng đời
sống gia đình và giáo dục gia đình ở Thừa Thiên Huế
Trang 6-Từ đó đề ra các giải pháp nhằm phát huy vaitrò của gia đình trong sự nghiệp giáo dục con ngườiThừa Thiên - Huế.
7.3 Phương pháp phân tích thống kê.
Xử lý các số liệu thu được bằng thống kêtoán học, tính toán các thông số liên quan đến đốitượng nghiên cứu
8 Kết cấu đề tài.
Để thực hiện hoàn chỉnh đề tài, ngoài phầnmở đầu, phần kết luận, đề tài còn có 2 chương:
Chương I : Cơ sở lí luận và thực tiễn của
vấn đề nghiên cứu
Chương II: Các giải pháp nhằm phát huy vai trò
của gia đình trong sự nghiệp giáo dục đào tạo conngười Thừa Thiên - Huế
Trang 7B.PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ
NGHIÊN CỨU.
I.Cơ sở lí luận:
I.1.Khái niệm gia đình.
Khái niệm gia đình thường dùng để chỉ mộtnhóm xã hội được hình thành trên cơ sở quan hệ hônnhân và quan hệ huyết thống nảy sinh từ quan hệhôn nhân đó (cha mẹ, con cái, họ hàng bên nội, bênngoại) cùng chung sống, có thể bao gồm cả nhữngngười được nuôi dưỡng tuy không có quan hệ huyếtthống Những thành viên trong gia đình gắn bó vớinhau về trách nhiệm và quyền lợi kinh tế, văn hoá,tình cảm Giữa họ có sự ràng buộc về quyền lợi,nghĩa vụ, có tính hợp pháp được Nhà nước thừanhận và bảo vệ Đồng thời, có những quy định rõràng về quyền được phép và những cấm kỵ trongquan hệ tình dục giữa các thành viên trong gia đình
Cần phân biệt khái niệm gia đình và khái niệm hộ:
Hộ được hiểu như một nhóm người ở chungmột mái nhà, có quỹ thu chi chung Hộ gồm nhữngngười có quan hệ ,máu mủ, ruột thịt, họ hàng Cótrường hợp là hộ độc thân sống một mình, cótrường hợp là hai, ba người phụ nữ hay nam giới, hayngười già ở chung với nhau trong một hộ
Tuy nhiên, hiện nay ở cả thành phố và nông thônViệt Nam một gia đình cũng trùng với một hộ Cuộcđiều tra dân số ở Việt Nam năm 1989 đã đưa ra kháiniệm Hộ gia đình với định nghĩa là bao gồm nhữngngười có quan hệ hôn nhân và huyết thống hoặcđược nuôi dưỡng có quỹ thu chi chung
Vậy gia đình là gì?
Trang 8Gia đình là tế bào của xã hội được xây dựngtrên cơ cơ sở quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặcnuôi dưỡng.
I.2.Vai trò của gia đình đối với các cá nhân xã hội.
I.2.1.Đối với cá nhân.
Gia đình luôn là tổ ấm đem lại hạnh phúc chomỗi cá nhân Từ khi cất tiếng khóc chào đời đếnsuốt cuộc đời, mỗi cá nhân tìm thấy ở gia đình mìnhsự đùm bọc về vật chất và tinh thần, tiếp thusự giáo dưỡng về mọi mặt, hưởng thụ nhữngniềm vui của cuộc sống, được an ủi khi gặp khókhăn, bệnh tật, rủi ro Gia đình đảm bảo những điềukiện an toàn cho trẻ thơ phát triển, người già có nơinương tựa không bị hiu quạnh cô đơn, người lao độngđược phục hồi sức khoẻ lấy lại sự cân bằng tâm
lí sau những giờ lao động mệt nhọc Đời sống giađình hạnh phúc là nguồn động viên tinh thần hếtsức cần thiết cho mỗi một cá nhân
Gia đình là một tập thể thu nhỏ mà ở đó mốiquan hệ máu mủ, ruột thịt và quan hệ tình cảm,trách nhiệm đã gắn bó các thành viên thành sợi dâyliên hệ thường xuyên, lâu dài, suốt đời người Họquan tâm đến nhau, hy sinh cho nhau không sợ thiệtthòi dù khi có sự xa cách, chia ly, dù cho xã hội cónhững biến chuyển, những đảo lộn to lớn cũngkhó phá nổi những quan hệ này
I.2.2.Đối với xã hội:
Gia đình là tế bào và thiết chế xã hội, là nhântố tích cực thúc đẩy sự phát triển của xã hộithông qua việc thực hiện những chức năng hết sứcquan trọng: tái sản xuất ra con người, duy trì nòi
Trang 9hội, tái sản xuất ra sức lao động qua việc nuôidưỡng chăm sóc sức khoẻ cho các thành viên Gia đìnhgánh vác trách nhiệm nặng nề trong việc tái sảnxuất ra của cải vật chất và tinh thần đáp ứng nhucầu các thành viên gia đình và của xã hội Gia đình làđơn vị tiêu dùng mà những yêu cầu đa dạng, phongphú là yếu tố thúc đẩy sản xuất phát triển Ngoài
ra, gia đình còn đóng vai trò đặc biệt quan trọng trongviệc giữ gìn, phát huy và truyền thụ những giá trịvăn hoá tinh thần cao quí của dân tộc từ thế hệ nàyqua thế hệ khác
I.3.Chức năng giáo dục của gia đình:
Gia đình là một trong những thiết chế cơ bảncủa xã hội Gia đình không chỉ tái sản xuất ra conngười về mặt thể chất mà còn tái sản xuất ra đờisống tình cảm, tâm hồn, văn hoá (tức là xã hộihoá), quá trình biến đứa trẻ từ sinh vật người thànhcon người xã hội
Gia đình là cầu nối giữa cá nhân và xã hội, làkhâu liên hệ giữa con cái với cơ cấu xã hội Gia đìnhtham gia vào tất cả các giai đoạn xã hội hóa trongchu trình sống của con người Ở giai đoạn nào, vai tròcủa gia đình cũng thể hiện rất rõ:
- Ở giai đoạn tuổi còn ẳm ngữa, gia đình là môitrường đầu tiên của đứa trẻ
- Ở giai đoạn tuổi thơ, gia đình đóng vai trò quantrọng trong việc tổ chức và hướng dẫn các hoạtđộng của trẻ Gia đình giúp trẻ nhận thức được cáiđúng cái sai, cái được phép, cái không được phép,hình thành ý thức trách nhiệm thông qua các việclàm cụ thể như giúp cha mẹ, chăm em, biết tựkiềm chế để vượt qua sự tự do của tình cảm
- Ở giai đoạn tuổi thiếu niên, gia đình giúp đỡvà cung cấp cho các em những kinh nghiệm xã hội
Trang 10trong quan hệ ứng xử với những người xung quanh,động viên, thông cảm, nâng đỡ các em khi các em thấtbại hoặc nản chí, giúp các em những kiến thứchiểu biết cần thiết để tự chủ ở giai đoạn tiềndậy thì.
- Ở giai đoạn tuổi trưởng thành, gia đình giúp đỡcác cá nhân trả lời được ba câu hỏi: Làm nghề gì đểkiếm sống? (định hướng nghề nghiệp) Theo lốisống nào? (định hướng giá trị) và Yêu ai? (địnhhướng hôn nhân)
- Ở giai đoạn chuẩn bị kết hôn và làm cha mẹ,gia đình tạo cho cá nhân và động cơ mong muốn đi tớikết hôn, giúp cá nhân biết cách ứng xử khi kết hôn
- Ở giai đoạn bước sang tuổi già, gia đình giúpngười ta học được cách để trở thành người già kểcả việc học cách sống phụ thuộc vào người
khác sau những năm dài sống độc lập Quan trọnghơn, ở giai đoạn này gia đình còn giúp người ta đươngđầu với cái chết
- Ở giai đoạn cuối cùng của chu trình sống làchuẩn bị đón cái chết, gia đình giúp cho các cá nhânkhắc phục được tâm trạng buồn rầu cô đơn vàtiếp nhận cái chết một cách thanh thản
Giáo dục con cái trong gia đình không chỉ là côngviệc riêng tư của bố mẹ, mà còn là trách nhiệmđạo đức và nghĩa vụ công dân của người làm chalàm mẹ
Gia đình đóng góp vai trò của mình vào việcphát triển của con em về các mặt đạo đức, tưtưởng, trí tuệ, thẩm mỹ, thể chất, lao động đểhọ trở thành những công dân gương mẫu
Giáo dục gia đình có những nét đặt thù màgiáo dục nhà trường, giáo dục xã hội không thể có.Đó là tình cảm yêu thương tràn trề của cha mẹ đối
Trang 11với con cái, nên họ sẵn sàng hy sinh các điều kiệnvật chất và tinh thần, dành mọi thuận lợi cho quátrình giáo dục miễn sao con cái nên người.
Đồng thời giáo dục gia đình là nền giáo dụctoàn diện, cụ thể hoá và cá biệt hoá rất cao: Chamẹ giáo dục con cái cách đi đứng, nói năng, chào hỏingười cao tuổi, ông bà, cô dì cho con trai và con gáicũng khác nhau, mang đặc điểm giới tính
Giáo dục là một trong những chức năng cơ bảncủa gia đình: chuẩn bị cho trẻ những hiểu biết, kỹnăng và thái độ cần thiết đối với những sự vật,hiện tượng của thế giới xung quanh để đứa trẻ gianhập vào đời sống xã hội, chăm sóc phát triểnnhững năng khiếu, khả năng hứng thú của trẻ là côngviệc hấp dẫn, tự nguyện của cha mẹ đối với concái Xã hội ngày càng phát triển không hề giảm nhẹmà càng làm tăng tầm quan trọng của giáo dục giađình đối với sự hình thành và phát triển nhân cáchthế hệ trẻ
I.4 Sự phát triển của gia đình Thừa Thiên
- Huế qua các giai đoạn lịch sử :
Cũng như gia đình Việt Nam, gia đình Thừa Thiên
- Huế đã trãi qua các giai đoạn cơ bản Ở mỗi giaiđoạn, tác động của gia đình đến sự hình thànhnhân cách con người có sự phát triển, thay đổi vềnội dung và biện pháp thực hiện Có thể chia racác giai đoạn chính sau:
I.4.1 Gia đình truyền thống:
Ở Thừa Thiên - Huế, sự hình thành các cụmdân cư bắt đầu từ những năm cuối của thập niên
30 của thế kỷ XIV và ổn định thành xóm, thôn ấp,
Trang 12đặt cơ sở cho sự phát triển gia đình Họ thuộcnhiều thành phần nhưng chủ yếu là nông dân laođộng (chiếm hơn 90%) phù hợp với nền kinh tế lúanước tự cung tự cấp Gia đình thường có quy môlớn (gia đình mở rộng) gồm nhiều thế hệ ông bà,cha mẹ, anh em, con cháu cùng chung sống trong mộtmái nhà Các gia đình liên kết với nhau theo họ nộivà rất trọng việc thờ cúng tổ tiên Trong gia đình cótrật tự trên dưới rạch ròi và qui định trách nhiệmrõ ràng cho từng thành viên, sợi dây liên kết cácthành viên chủ yếu là tình cảm thiêng liêng của conngười chứ không phải là những giáo điều khắt khe,khô cứng Nền tảng gia đình thời kỳ này chủ yếu là
chấp hành “Điều lệ hương đáng”, hôn nhân không cần “môn đăng hộ đối” Gia đình truyền thống được
bảo vệ bằng luân lý, phong tục và pháp luật
I.4.2 Gia đình Thừa Thiên - Huế thời kỳ Pháp thuộc:
Thời kỳ này, ít nhiều gia đình Thừa Thiên - Huếchịu ảnh hưởng của nền văn minh công nghiệp (chủyếu tầng lớp tiểu tư sản, trí thức sống ở thànhphố Huế.) Tuy vậy, dù ở bất kỳ tầng lớp nào nềngiáo dục xứ Huế cũng nhằm mục tiêu đào tạo nênnhững con người mang các đặc điểm gọi là tính
cách Huế như : tinh thần hiếu học, “tôn sư trọng
đạo”, tình yêu bà con xóm giềng, quê hương đất
nước, giao tiếp ứng xử tế nhị, thanh nhã
trong cử chỉ lẫn ngôn ngữ đặc biệt đề cao
truyền thống “gia giáo, gia huấn, gia pháp, gia phong”.
I.4.3 Gia đình Thừa Thiên - Huế trong 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Trang 13Gia đình Thừa Thiên -Huế có những chuyểnbiến lớn trong suốt 30 năm kháng chiến chống Pháp,chống Mỹ và xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Chế độ bao cấp đã dẫn đến sự khủng hoảngnền kinh tế xã hội ngày càng trầm trọng, làm chogia đình và cá nhân phải bó tay chịu thiếu thốnnghèo nàn cả về vật chất lẫn tinh thần Song, sựkết hợp thống nhất chặt chẽ giữa mục tiêu giáodục của gia đình với mục tiêu giáo dục của xã hội,giữa lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể vẫn đượcduy trì Suốt 30 năm chiến tranh, gia đình Thừa Thiên -Huế vẫn là đơn vị kinh tế xã hội cơ bản, họ phảitự nuôi mình, lại còn phải cung cấp lương thựcphẩm nuôi quân, nuôi cán bộ, đóng góp sức ngườisức của cho tiền tuyến Gia đình, giáo dục gia đìnhkết hợp thống nhất với giáo dục xã hội đã hunđúc rèn luyện nên nhân cách người chiến sĩ cáchmạng, anh bộ đội Cụ Hồ, hy sinh tất cả vì sựnghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xãhội, động viên lòng yêu nước của các thành viên giađình già, trẻ, gái, trai đem lại độc lập, tự do, hạnhphúc cho dân tộc, quê hương, đất nước
I.4.4.Gia đình Thừa Thiên- Huế trong điều kiện kinh tế thị trường:
Kể từ 1986 đến nay, cùng với sự đổi mới củađất nước, gia đình xứ Huế có nhiều quyền chủđộng hơn so với trước: quyền sử dụng đất lâu dài ởnông thôn trong việc trồng lúa nước và hoa màu, chủđộng tổ chức và quản lý kinh tế gia đình theohướng thích ứng với yêu cầu của nền kinh tế hànghoá vận hành theo cơ chế thị trường Cấu trúc giađình cũng thay đổi: nếu như gia đình truyền thốngtrước phổ biến là gia đình mở rộng bao gồm nhiềuthế hệ thì nay gia đình mở rộng được thay thếbằng mô hình gia đình hạt nhân Xu hướng sinh ít con
Trang 14trong gia đình là nguyên nhân chính làm cho quy mô giađình ngày càng nhỏ đi.
Vai trò của người phụ nữ trong gia đình ngàycàng được đề cao Trình độ văn hoá , học vấn cuảcác thành viên trong gia đình ngày càng được mởrộng Có thể nói, chưa bao giờ gia đình Việt Nam nóichung và gia đình Thừa Thiên - Huế nói riêng lại cósự thay đổi nhanh chóng, sâu sắc như hiện nay
Tuy nhiên, gia đình hiện tại ở Huế cũng như ởViệt Nam đã và đang biến đổi sâu sắc, đem lại không
ít những thách thức trong quan hệ gia đình và xãhội đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục trẻ nhỏ.Chính nền kinh tế thị trường, chính sách mở cửa, xuhướng hội nhập trong khu vực và quốc tế lànguyên nhân dẫn đến khoảng cách giữa gia đình giàuvà gia đình nghèo(đặc biệt ở nông thôn và miền núi),đó là chưa kể đến các hiện tượng khác như ly hôn,ngoại tình, dân cư nông thôn chuyển ra thành thị Tất cả đã và đang tạo ra những biến động lớn
Bức tranh toàn cảnh của nền kinh tế - xã hộitỉnh nhà theo cơ chế thị trường đã khởi sắc tươitắn, nhộn nhịp và vui vẻ nhưng cũng làm nảy sinhkhông ít trở ngại đối với gia đình và giáo dục giađình ở Thừa Thiên Huế
Vậy, gia đình Thừa Thiên- Huế đang gặp khủnghoảng, đổ vỡ hay đang vận động tiến lên?
Theo đánh giá của số đông của người được hỏi
ý kiến về vấn đề này thì xu hướng phát triển củagia đình Thừa Thiên - Huế hiện nay nói chung là lànhmạnh, đúng hướng Tuy nhiên ở một số gia đình còngặp bế tắc, khó khăn nhưng những khó khăn bếtắc đó chỉ là bước đầu Cùng với thời gian, mô hìnhgia đình mới đã được hình thành qua những nét
Trang 15chấm phá ban đầu và đang được hiện ra ngày càngrõ rệt hơn.
Mô hình gia đình mới trước hết phải giữ gìn vàphát huy những giá trị đạo đức tốt đẹp của giađình truyền thống Đó là lòng chung thủy, tình nghĩavợ chồng, sự hy sinh cho con cái, cho gia đình khônghề quản ngại, tính toán thiệt hơn, sự kính trọng,lòng biết ơn đối với cha mẹ, ông bà, tổ tiên, cố
gắng giữ gìn truyền thống “lá lành đùm lá rách
” Đồng thời gia
đình xứ Huế mới cũng phải biết tiếp nhận nhữngtinh hoa của văn hóa hiện đại Đó là sự tự do lựachọn trong kết hôn, đảm bảo dân chủ trong tình yêu,lấy tình yêu làm cơ sở của hôn nhân, trong quan hệgiữa các thành viên trong gia đình, sự quan tâm đếnnhu cầu nguyện vọng chính đáng của cá nhân
Như vậy để xây dụng mô hình gia đình mới ởThưa Thiên - Huế, cần phải có sự kết hợp giữatruyền thống và hiện đại như thế nào?
Có thể phác thảo mô hình gia đình mới ở ThừaThiên - Huế trên những nét lớn như sau:
- Gia đình có quy mô nhỏ, con cái được nuôidưỡng khỏe mạnh, được học hành chu đáo
- Cả bố và mẹ đều là những người chủ giađình, cùng chăm lo nuôi dưỡng con cái, vun đắp chohạnh phúc gia đình bền vững
- Có nền kinh tế vững mạnh
- Tiếp thu những điều hay của văn hóa hiệnđại và kế thừa những giá trị truyền thống, nhữngphong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc, quê hương,dòng họ (kể cả những yếu tố đạo đức tiến bộcủa các tôn giáo như : Phật giáo, Thiên chúa giáo )
II Cơ sở thực tiễn:
Trang 16II.1 Thực trạng đời sống của gia đình Thừa Thiên - Huế hiện nay
Gia đình Thừa Thiên - Huế đang ở trong giaiđoạn quá độ cùng đồng thời chịu ảnh hưởng của banền văn minh nhân loại Ở Thừa Thiên - Huế cókhoảng 76% lực lượng lao động và hơn 80% dân cưsống ở nông thôn Thừa Thiên Huế cũng đang trên conđường công nghiệp hóa, đô thị hóa với chính sách mởcửa nên ảnh hưởng của nền văn minh công nghiệpđang tác động hàng ngày vào cuộc sống các gia đìnhThừa Thiên - Huế
Mặt khác, gia đình Thừa Thiên - Huế còn chịuảnh hưởng của quá trình đất nước chuyển từ nềnkinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền
kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế theođịnh hướng xã hội chủ nghĩa Chính vì thế nên sựquá độ của gia đình Thừa Thiên- Huế từ truyềnthống sang hiện đại là một quá trình diễn ra vôcùng phức tạp, trong đó những nét sinh hoạt cổxưa cùng tồn tại với những kiểu sinh hoạt rất hiệnđại Việc giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa giađình truyền thống tốt đẹp và việc tiếp nhận kịpthời những giá trị tinh thần hiện đại quả thật khôngdễ dàng
Những số liệu điều tra sau đây sẽ cho ta thấymột số nhận định bước đầu về sự biến đổi vàthực trang gia đình Thừa Thiên- Huế hiện nay
II.1.1.Số hộ và quy mô hộ ở Thừa Thiên -Huế:
Năm 2000, Thừa Thiên -Huế có 124.458 hộ giađình trong đó có 118.193 hộ sống ở nông thôn Nhữngnăm trở lại đây, tốc độ phát triển hộ gia đình tăngnhanh do nhiều nguyên nhân: Ở nông thôn chính sáchchia ruộng đất theo nhân khẩu thúc đẩy các cặpthanh niên sau khi kết hôn đã tách hộ nhanh để xin
Trang 17đất canh tác và đất thổ cư Ở thành phố việc táchhộ gắn liền với việc xin cấp nhà ở Ngoài ra còn cóviệc di dân chủ yếu ở các gia đình trẻ đi làm kinh tếmới , đi ra các thành phố đô thị để làm ăn.
Việc tách hộ cùng với quá trình thực hiệnkế hoạch hóa gia đình đã khiến cho quy mô hộ nhỏ
đi Trung bình hộ cuối năm 2000 ở Thừa Thiên - Huếlà 4,68 ở thành phố và 4,67 ở nông thôn Quy mô giảmchưa đáng kể do tỷ lệ sinh ở Thừa Thiên - Huế còncao, năm 2000 tỷ lệ sinh 2,12%, tỷ lệ chết 0,49%,tỷlệ tăng tự nhiên 1,6%
II.1.2.Loại hình gia đình ở Thừa Thiên- Huế:
Ngay xã Thủy An thuộc thành phố Huế, qua sốliệu điều tra năm 2000, trong tổng số 3146 hộ có90,09% gia đình thuộc loại gia đình đầy đủ (có cả bốlẫn mẹ) Gia đình cha dượng mẹ kế chiếm 1,45%,còn lại 8,45% gia đình phụ nữ cô đơn Loại hình giađình này có các dạng:
- Góa chồng sống với con cái
- Không chồng nhưng có con
- Ly hôn, ly thân
Có nơi loại hình gia đình phụ nữ cô đơn chiếmtỷ lệ khá cao như thôn Ngũ Tây chiếm 16,2%, thônNhất Đông chiếm 15,9%
Đối với loại hình gia đình phụ nữ cô đơnthường mức thu nhập của họ rất thấp, đời sốnggặp nhiều khó khăn đặc biệt là việc chăm sóc giáodục con cái, vì thế cần phải có các chính sách kinhtế xã hội phù hợp đối với loại hình gia đình này
II.1.3.Cấu trúc gia đình ở Thừa Thiên- Huế :
Ở Thừa Thiên - Huế, cơ cấu gia đình nhiều thếhệ (ba thế hệ trở lên chiếm một tỷ lệ đáng kể).Nơi thấp nhất (thành phố Huế ) là 23,1%, cao nhất(Nam Đông) là 46,09% Trong thời gian tới, cơ cấu gia
Trang 18đình trở nên phổ biến, trong khi đó tuổi thọ của conngười ngày càng tăng nên vấn đề chăm sóc ngườigià, người sống cô đơn đang nổi lên gay gắt.
II.1.4.Mức sống của các gia đình ở Thừa Thiên Huế:
-Theo số liệu điều tra tại xã Thủy An thuộcThành phố Huế cho thấy: trong tổng số 3146 hộ có28,7% hộ có đời sống khá, 65,5% số hộ có mứcsống trung bình, còn lại 5,7% số hộ còn trong tìnhtrạng nghèo đói
Trong các gia đình đã có sự thay đổi khá toàndiện về mục đích, động cơ, quá trình tiến hành vàphân công lao động làm kinh tế, về hưởng thụ vànâng cao chất lượng cuộc sống Trong tổng số 3146hộ đã có 2736 hộ dùng điện, chiếm 59.9 %, số hộkhông có nước máy chiếm 57%, nhà ở không có hố
Trang 19
Qua bảng thống kê trên cho thấy, trong các giađình ở Thừa Thiên - Huế dù là miền xuôi hay miềnnúi hoặc thành phố thì trình độ học vấn của ngườichồng đều cao hơn so với vợ Đó là lý do mà một số
ý kiến cho rằng con cái thường ít nghe lời mẹ hơnbố
II.2 Thực trạng giáo dục gia đình ở Thừa Thiên - Huế hiện nay.
Trong phạm vi bài viết, chúng tôi chỉ nêu lênnhững kết quả ban đầu nghiên cứu việc giáo dụccon cái trong các gia đình ở xã Thuỷ An (thuộc Thànhphố Huế ) trên các phương diện sau:
II.2.1 Nhận thức về trách nhiệm của gia đình đối với việc giáo dục con cái:
Ở Thừa Thiên - Huế nói chung và ở xã Thuỷ Annói riêng phần lớn các gia đình đều nhận thức rõviệc nuôi dưỡng chăm sóc và giáo dục con cái(68,01%), còn lại 31,99% số gia đình chưa nhận thứcđúng đắn vấn đề này Thường đó là những gia đìnhmà cả bố lẫn mẹ mãi lo việc làm ăn, kinh doanhkhông dành thời gian giáo dục con cái, hướng dẫn,kiểm tra việc học tập giao lưu bạn bè của chúng.Họ phó mặc việc giáo dục con em cho hệ thốngnhà trẻ, lớp mẫu giáo, nhà trường cùng các đoàn
Trình độ học vấn Mù chữ Cấp I Cấp II Cấp III CĐSP Đại Học
Vùng
Vơ ü Nông thôn 57.01% 37.45 3.61 1.92
0 0
Chồng miền núi 15.21 53.87 17.03 12.87 0.99 0.2
(Nam Đông)
Vợ Nông thôn 0.99 50.9 28.7 14 3.4 2
Chồng miền xuôi 0.99 37.0 35.04 20.1 4.06 2.08
(Phú Vang)
Trang 20thể xã hội với ý nghĩ đơn giản là chỉ cần cung cấpđầy đủ các điều kiện vật chất cho con cái họchành là được.
Trong số đó phải kể đến những gia đình bốmẹ bất hoà, ly hôn, ly thân Hằng năm, ở xã Thuỷ Ancó tỷ lệ ly hôn trên 50 vụ vào khoảng 0.12 đến 0.13%.Sự ổn định của hôn nhân và gia đình đang bị đe dọa.Đây là một trong những nguyên nhân làm tăng tìnhtrạng trẻ em hư Theo số liệu của Sở Lao động,Thương binh và Xã hội, cũng như chi cục phòngchống tệ nạn xã hội năm 2000 cho biết : toàn tỉnhcó 2354 trẻ em hư và phạm pháp Hiện tượng giatăng trẻ em hư đang là sự nhức nhối của toàn xãhội và của từng gia đình
II.2.2 Nội dung giáo dục trong các gia đình Thừa Thiên -Huế:
Ở Thừa Thiên - Huế phần lớn các gia đình đãchú ý trang bị cho trẻ những kiến thức cần thiết,những kinh nghiệm sống, cách cư xử để sau nàychúng có thể đảm nhận vai trò mà xã hội giao phó
Tuy nhiên, tùy theo từng địa phương, từng vùngmiền mà nội dung kiến thức trang bị cho trẻ có khácnhau Nếu ở nông thôn cha mẹ dạy cho con cái kinhnghiệm sản xuất nông nghiệp, thì ở thành phố, thịxã cha mẹ lại dạy cho con cái cách kinh doanh, buônbán Bên cạnh đó, các gia đình Thừa Thiên - Huế cũngchú ý đến việc vun đắp cho trẻ những tình cảmnhân hậu, sự nhường nhịn hy sinh cho người mìnhyêu quý, tình yêu gia đình
Ngoài ra việc giáo dục truyền thống (dòng họ,quê hương) việc dạy dỗ con gái công việc nội trợ,chăm sóc gia đình, rèn luyện ý thức và thiên chức
Trang 21người mẹ cũng được các gia đình Thừa Thiên Huế quan tâm.
-Tuy nhiên vẫn còn (15->20%) gia đình chưa thựchiện được các nội dung nêu trên, làm giảm sút vaitrò của mình đối với việc giáo dục con cái
II.2.3 Phương pháp giáo dục trong gia đình ở Thừa Thiên - Huế:
Về phương pháp giáo dục con cái đã được cácbậc làm cha, làm mẹ ở xã Thủy An cho biết: Giảnggiải thuyết phục con để hiểu được điều họ muốn,làm theo họ: 61,3% thông qua cử chi hành vi gươngmẫu của cha
mẹ để dạy con: 20,7% Ra lệnh bắt làm là 13,2%.Để con tự hành động 7.4% Đánh mắng 6.9%
Kết quả điều tra cho thấy, hầu như tất cả cácgia đình đều tự nhận là dùng phương pháp giảnggiải thuyết phục, trường hợp dùng hình phạt, đánhmắng thường là lúc con cái còn nhỏ nhưng cũng cókhi với cả con đã lớn (rất ít)
Hiện nay, một phương pháp giáo dục con cáiđang được khôi phuc và ngày càng có ý nghĩa đó làhoạt động của dòng họ Hoạt động của dòng họchủ yếu là giáo dục con cháu Xã Thủy An có ba dònghọ đông nhất, điển hình là dòng họ Phạm Quacuộc nói chuyện với Bác Phạm Đệ cán bộ về hưuđược biết: Những năm gần đây Bác đang gia công xâydựng một nội quy giảng giải cho con cháu lịch sửtổ tiên, giáo dục sự giúp đỡ cưu mang với nhữnggia đình thiếu thốn Có thể lược thảo bảng quy ướcnội tộc họ Phạm như sau:
- Luôn nhớ về cội nguồn, không làm gì xấu ảnhhưởng đến thanh danh dòng họ
Trang 22- Từ đường là nơi thờ cúng hội họp hàng năm,mọi người phải đóng góp cho việc tu sửa, thămviếng.
- Con cái phải lễ phép nghe lời cha, chú
- Họ hàng đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau
Như vậy, trong bảng quy ước nội tộc họPhạm có 4 điều thì 3 điều mang nội dung giáo dụccon cháu Chính việc nêu gương con cháu làm vẻ vangtộc họ hay phê bình con cháu làm giảm thanh danhcủa dòng họ hằng năm đã phần nào đóng góp vàoviệc giáo dục gia đình
Tuy vậy, vẫn còn không ít các gia đình
(13->19%) lơ là trong việc thực hiện các quy ước nộitộc làm ảnh hưởng đến họ tộc cũng như việc giáodục con em
Trang 23II.2.4 Vai trò của giáo dục gia đình đối với con cái ở các giai đoạn phát triển.
II.2.4.1.Đối với con cái ở lứa tưổi trước tuổi học.
Ỏí giai doạn này, trẻ em bắt đầu có nhưngmối quan hệ với xã hội bên ngoài, mở rộng giaotiếp và bắt đầu chịu ảnh hưởng của bạn bè, nhàtrường, ti vi, tranh ảnh Vì thế mà gia đình cần phốihợp với vườn trẻ và lớp mẫu giáo quan tâm đếnchế độ sinh hoạt, hoạt động vui chơi có ích, việcphát triển ngôn ngữ của trẻ
Qua số liệu điều tra, hầu hết các gia đình ởxã Thủy An đã bắt đầu quan tâm đến chế độ ănuống của trẻ nhất là cách dạy trẻ ứng xử đểchuẩn bị cho các em vào lớp một Từ đó cho thấy,những đứa trẻ không được đến lớp mẫu giáo màtừ gia đình chuyển thẳng vào trường Tiểu học thìrất khó thích ứng với môi trường giáo dục ở nhàtrường Ngay ở thị xã cũng có một số trẻ vào lớpmột mà chưa qua lớp mẫu giáo, hàng năm có tới 62%số trẻ em không được gia đình trang bị đầy đủ tâmthế để vào lớp một (đặc biệt ở nông thôn), vì thếmà các em rất bỡ ngỡ khi đến trường đến lớp trongnhững ngày đầu
II.2.4.2 Đối với con cái ở lứa tuổi học sinh Tiểu học.
Qua tìm hiểu một số địa bàn (thôn 2 Tam Tây,thôn Nhất Đông, Ngũ Tây) cho thấy: Phần lớn gia đìnhxã Thủy An(82%) đã quan tâm đến việc học hành củacon cái như: góc học tập, giá để sách vở, dụng cụhọc tập, vui chơi , quan tâm đến việc cư xử cũngnhư giúp đỡ các em làm tròn công việc của trường,của lớp giao cho (công tác Sao, Đội ) Tuy nhiên vẫn
Trang 24còn hơn 20% gia đình chưa thực sự chú ý đến concái trong độ tuổi này.
II.2.4.3 Đối với con cái ở lứa tuổi học sinh Trung học cơ sở.
So với trước đây, sự quan tâm của gia đình đốivới trẻ ở lứa tuổi này có phần giảm sút về:
- Quan tâm đến việc học hành và đạođức 75%
- Kiểm tra bài vở 58,3%
- Khuyến khích tham gia công tác xã hội vàchuẩn bị cho việc gia nhập vào Đoàn thanh niêncộng sản 37,5%
- Quan tâm đến nhóm bạn của con em27%
II.2.4.4 Đối với các em ở lứa tuổi học sinh Phổ thông trung học
Ở lứa tuổi này, các gia đình ở xã Thủy An đãthực sự chú ý đến việc khuyến khích các em tựhọc, tự rèn luyện mình để trở thành người laođộng có ích cho xã hội (54,2%), chú ý đến quan hệbạn bè khác giới của con em (39,98%), đặc biệt làviệc giúp các em lựa chọn nghề nghiệp đúng đắn(59,81%)
Tuy nhiên, do tỉ lệ quan tâm của gia đình đối vớicon cái trong lĩnh vực quan hệ bạn bè khác giớithấp cho nên biểu hiện sai lầm trong quan hệ namnữ ngày một tăng
II.2.4.5.Đối với lứa tuổi con cái đến tuổi kết hôn.
Phần lớn các gia đình xã Thủy An đã quan tâmđến việc hôn nhân cũng như quan tâm lứa tuổi kếthôn của con cái (59,8%) Song không ít những gia đìnhđể mặc vấn đề này cho con cái tự định liệu Vàđó chình là nguyên nhân dẫn đến tình trạng ly hôn
Trang 25đối với một số cặp vợ chồng trẻ mới cưới nhautrong một thời gian ngắn.
II.2.5 Chi phí của gia đình Thừa Thiên- Huế cho việc học tập của con cái.
Thống kê chi phí của các gia đình cho việc họctập của con cái thu được kết quả như sau:
Trong số 163 gia đình được chọn mẫu phỏngvấn thì có 8,9% số gia đình có mức chi dưới 1% choviệc học tập của con so với tổng chi trong năm;18,1% số gia đình chi từ 1%->2%; 23,9% số gia đìnhchi từ 2%->3%; 8,9% số gia đình chi từ 3%->4%; 35,4%số gia đình chi từ 4->10%
Trong khi đó chi cho ăn của gia đình chiếm tỷ lệcao nhất chẳng hạn: 37% số gia đình chi cho ănchiếm 50% so với tổng chi, 25,5% số gia đình chi cho
ăn chiếm từ 51->60%, 23% số gia đình chi cho ănchiếm từ
61->70% và cũng hơn 20% gia đình chi cho ăn chiếm từ70% trở lên so với tổng chi
Qua đó cho thấy, so với các mức chi của gia đìnhthì chi phí cho việc học tập của con là thấp nhất
Hy vọng rằng các gia đình cần tăng cường đầu tưcho con học tập bởi lẽ chỉ có như thế mới tạo điềukiện cho thế hệ trẻ có đủ kiến thức phong phú, đadạng hiện đại làm hành trang khi bước vào thế kỷXXI này
II.2.6.Những khó khăn mà các gia đình gặp phải
trong giáo dục con cái
Qua số liệu điều tra cho thấy, hơn 60% gia đình
ở xã Thủy An gặp phải khó khăn lớn nhất trong việcgiáo dục con đó là tác động tiêu cực của môi trườngxã hội; 50,81% gia đình gặp phải khó khăn về sựhạn chế trình độ văn hóa để dạy con; 48,2% giađình cho biết vì quá bận nên không có thời gian quan
Trang 26tâm đến việc học của con cái và khoảng 38,9% hạnchế về kinh nghiệm giáo dục con.
III.Dự báo xu hướng phát triển của các gia đình Thừa Thiên - Huế trong thời gian tới.
Dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn, có thểdự báo trong thời gian tới gia đình Thừa Thiên - Huếsẽ có những biến đổi như sau:
III.1 Mức độ đô thị hóa tăng sẽ dẫn đến việctăng số hộ gia đình sống ở các thành phố, thị xã.Theo đó, số hộ nông thôn sẽ giảm (hiện nay hơn 90%vào năm 2010 giảm xuống còn khoảng 65->70%)
III.2 Gia đình khẳng định được tính độc lập,chủ động cao hơn
III 3 Nếp sống văn minh, văn hóa của các dântộc, thuần phong mĩ tục của cố đô Huế từng bướckhắc phục hỗ trợ cho các gia đình thực hiện tốtchức năng của mình, giúp cho các hộ gia đình cócuộc sống ổn định, con cái có điều kiện học hành(ở miền xuôi cũng như miền núi)
III 4 Tỷ lệ tăng dân số giảm (từ 1.6% như hiệnnay xuống còn 0,75% năm 2010)
III 5.Dưới sự tác động của cơ chế thị trườngdẫn đến tình trạng hụt hẫng trong nhiều gia đìnhThừa Thiên - Huế, thêm vào đó là hiện tượng ly hônsẽ tăng (nhất là ở thành phố), từ đó làm ảnh hưởngđến sự bền vững trong các gia đình Thừa Thiên -Huế
III.6 Số người lao động có công ăn việc làm,mở rộng và phát triển cơ sở sản xuất (đặc biệt làdịch vụ du lịch) Từ đó làm giảm tệ nạn xã hội, đờisống gia đình ổn định
Trang 27CHƯƠNG II:
CÁC GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH TRONG SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC ĐÀO TẠO CON NGƯỜI THỪA THIÊN - HUẾ
I.Giải pháp về nội dung và phương pháp giáo dục gia đình:
I.1.Giải pháp về nội dung giáo dục gia đình:
I.1.1 Nội dung giáo dục gia đình vừa phải bao
gồm những giá trị của con người Thừa Thiên -Huế truyền thống vừa mang những đặc điểm của con người Thừa Thiên- Huế hiện đại.
Huế là một trong những vùng đất giàutruyền thống lịch sử và văn hóa Là nơi đào tạo nênnhững nhân tài cho đất nước Truyền thống giáodục gia đình ở Huế đặc biệt đề cao”gia giáo, giahuấn, gia pháp, gia phong ” nên đã mang lại nhữnghiệu quả rất lớn Nền giáo dục gia đình của xứHuế ở bất kỳ tầng lớp nào cũng nhằm mục tiêuđào tạo nên những con người mang các đặc điểmđược gọi là tính cách Huế như: tinh thần hiếuhọc, tình yêu bà con hàng xóm, tình yêu quê hươngđất nước Vì thế, đặc điểm con người xứ Huếtruyền thống mang những nét tính cách đó là:
- Tinh thần yêu nước
- Lao động cần cù
- Sự thông minh hiếu học, có ý thứctrách nhiệm
- Tôn sư trọng đạo
Cùng với những nét tính cách con người xứHuế, hiện nay cùng với cả nước Thừa Thiên -Huếđang bước vào một giai đoạn phát triển mới, côngnghiệp hóa, hiện đại hóa Giai đoạn phát triển này
Trang 28đặt ra trước con người xứ Huế những thách thứccũng như cơ hội mới.
Những thành công của công nghiệp hóa, hiệnđại hóa gắn chặt và tùy thuộc vào chiến lượcphát triển nguồn nhân lực Đó chính là cơ hội đểcon người Thừa Thiên - Huế phát huy hết các mặtmạnh của mình, đóng
góp vào sự nghiệp xây dụng đất nước cũng nhưsự nghiệp phát triển của Thừa Thiên - Huế
Để đáp ứng yêu cầu đó, con người xứ Huếthời đại mới cần có phẩm chất và năng lực sau:
- Có tay nghề, kỹ năng và năng suất lao độngcao
- Tôn trọng kỹ cương phép nước, pháp luật vàcác chuẩn mực xã hội
- Có trình độ học vấn ngày càng cao
- Có khả năng tư duy độc lập và sáng tạo
- Thích ứng nhanh với những thay đổi của môitrường
- Có văn hóa trong lối sống và cư xử , kết hợpcác giá trị truyền thống và hiện đại
Cùng với nhà trường, các gia đình xứ Huế nênđưa những phẩm chất và năng lực này vào nộidung giáo dục gia đình góp phần quan trọng trongviệc hình thành nhân cách cho con cái mình Chính vìvậy, nội dung giáo dục gia đình cần hướng vàoviệc xây dựng con người Thừa Thiên - Huế hiện đạimang đậm đà bản sắc quê hương xứ Huế
I.1.2.Nội dung giáo dục gia đình phải phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của con cái:
Ở mỗi giai đoạn phát triển, trẻ có những đặcđiểm riêng về tâm lý Chính những đặc điểm nàyquy định nội dung, phương pháp giáo dục nói chungvà giáo dục gia đình nói riêng
Trang 29Trẻ từ 0->1 tuổi:
Trẻ mới chỉ là những thực thể tự nhiên hoàntoàn phụ thuộc vào người lớn, đặc biệt là mẹ Lúcđầu là thời kỳ cộng sinh trong bào thai, khi ra đời chođến lúc mọc răng còn bú mẹ, trẻ với mẹ hòa mìnhvào một về tâm lý, thông qua nét mặt, âm thanh, cửchỉ, điệu bộ trẻ tỏ thái độ hài lòng hay không hàilòng Ở giai đoạn này, trẻ xuất hiện hoạt động giaotiếp cảm xúc trực tiếp với những người xung quanh.Chính vì thế cho nên thời kỳ này
người lớn mà trước hết là người mẹ cần thườngxuyên giao tiếp với trẻ Điều này có ý nghĩa quyếtđịnh đến sự hình thành và phát triển tâm lý cho trẻ
ở giai đoạn này Đây là hoạt động chủ đạo đầu tiêntrong đời sống của trẻ mà người lớn cần chú ý quantâm
Trẻ từ 1->3 tuổi:
Ở lứa tuổi này do trẻ mở rộng quan hệ vớithế giới đồ vật nên hoạt động giao tiếp cảm xúctrực tiếp với người lớn đã bị hạn chế Lúc này trẻbiết các thao tác với đồ vật (cầm, ném, tìmkiếm ), do vậy ở lứa tuổi này các bậc cha mẹcần chú ý tạo điều kiện để trẻ hoạt động với đồvật càng phong phú càng giúp trẻ hình thành các thaotác với đồ vật nhanh hơn
Trẻ từ 3->6 tuổi:
Ở lứa tuổi này, trẻ đã độc lập chủ động vềmặt sinh học, đôi khi tỏ ra bướng bỉnh, muốn tựkhẳng định mình (đòi tự mặc quần áo, rửa bát ),bắt chước người lớn trong các trò chơi đóng vai theochủ đề Thông qua trò chơi trẻ tập thích nghi với cuộcsống xã hội, biết tự kìm chế, thoát khỏi sự chiphối của tình cảm Vì thế, ở giai đoạn này cần phảichuẩn bị đầy đủ về mặt tâm thế, tổ chức các