Cơ sở pháp lý để triển khai các hình thức phổ biến pháp luật Phổ biến, giáo dục pháp luật được hiểu là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ định nhằm đạt mục đích hình thành ở đố
Trang 2Lời cảm ơn
Trớc tiên, tác giả xin đợc bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy Nguyễn Văn Đại- ngời đã tận tình hớng dẫn và có nhiều hớng gợi mở để tác giả phát huy khả năng sáng tạo trong công trình nghiên cứu này.
Qua đây, cho phép tác giả gửi lời cảm ơn chân thành tới tập thể Thầy Cô giáo trong khoa Luật, các cơ quan, đơn vị đã giúp đỡ tác giả về mặt t liệu trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành đề tài nghiên cứu.
Bên cạnh nguồn động viên, giúp đỡ trên, tác giả còn nhận đợc sự
động viên, khích lệ của gia đình, bạn bè và những ngời luôn ở bên tác giả trong những lúc khó khăn nhất Tác giả trân trọng cảm ơn những tình cảm tốt đẹp ấy.
Những nội dung trình bày trong luận văn mới chỉ là kết quả nghiên cứu bớc đầu Mặc dù đã hết sức cố gắng, nhng do thời gian và năng lực
có hạn, quá trình thu thập tài liệu cha đầy đủ nh mong muốn, luận văn không thể tránh khỏi thiếu sót nhất định
Cuối cùng, tác giả chờ đợi những đóng góp ý kiến quý báu của Thầy Cô và các bạn để luận văn đợc hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn !
Tác giả
Lê Viết Thiện
Trang 3M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC
Trang
1 Tính cấp thiết của đề tài……… 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu……… 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu……… 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… 4
5 Phương pháp nghiên cứu……… 4
6 Ý nghĩa của đề tài……… 4
7 Kết cấu của đề tài……… 5
NỘI DUNG 6 Chương I Một số vấn đề có tính chất lý luận – pháp lý về tổ chức và hoạt động của cán bộ tư pháp xã ở Việt Nam hiện nay……… 6
1.1 Khái quát chung về tư pháp xã……… 6
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm về tư pháp xã……… 6
1.1.2 Khái niệm về phổ biến, giáo dục pháp luật ? 7
1.1.3 Cán bộ tư pháp hộ tịch……… 8
1.1.4 Cơ sở pháp lý để triển khai các hình thức phổ biến pháp luật… 9 1.1.5 Các văn bản có giá trị pháp lý của cơ quan nhà nước………… 11
1.2 Vị trí, vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật……… 13
1.2.1 Phổ biến, giáo dục pháp luật tác động vào ý thức của đối tượng 13 1.2.2 Phổ biến, giáo dục pháp luật trong việc giáo dục chính trị tư tưởng 14 1.2.3 Giáo dục ý thức pháp luật và đạo đức……… 14
1.2.4 Giáo dục pháp luật là khâu đầu tiên để triển khai thực hiện pháp luật……… 15
1.3 Các quy định của pháp luật về vị trí, chức năng, vai trò và quyền hạn của tư pháp xã……… 17
1.4 Tổ chức và hoạt động của đội ngũ cán bộ tư pháp cấp xã…… 20
1.4.1 Cơ cấu tổ chức của Ban tư pháp xã……… 20
1.4.2 Hoạt động của Ban Tư Pháp xã……… 20
1.4.3 Hoạt động của các thành viên trong Ban tư pháp xã……… 21
Trang 41.5 Mối quan hệ giữa Ban tư pháp xã với hệ thống các cơ quan nhà
1.5.1 Đối với Ủy Ban Nhân Dân Xã……… 221.5.2 Đối với Hội Đồng Nhân Dân Xã……… 221.5.3 Đối với tổ chức đoàn thể và tổ chức quần chúng xã hội……… 22Chương II Thực trạng và các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt
động của cán bộ tư pháp xã trong công tác giáo dục, tuyêntruyền phổ biến pháp luật ở Việt Nam hiện nay……… 242.1 Thực trạng về tổ chức, hoạt động và chất lượng đội ngũ cán bộ
tư pháp xã ở nước ta hiện nay và khảo sát ở một số địa phương
24
2.1.1 Đánh giá về thực trạng chung trên cả nước……… 242.1.2 Thực trạng về cán bộ tư pháp xã qua khảo sát ở một số địa phương 282.2 Hiệu quả công tác và những hạn chế trong công tác giáo dục,
tuyên truyền phổ biến pháp luật của cán bộ tư pháp xã ở Việt
2.2.1 Các hình thức tuyên truyền……… 382.2.2 Các hình thức áp dụng để đánh giá hiệu quả trong giai đoạn
2.3.2 Công tác xây dựng thể chế về phổ biến, giáo dục pháp luật thời
2.3.3 Một số giải pháp cụ thể……… 582.3.4 Mục đích, ý nghĩa của các phương pháp……… 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là nhà nước của dân do dân và
vì dân, mọi vấn đề trong xã hội đều phải thực hiện trên cơ sở tôn trọng vàbảo vệ quyền lợi của nhân dân Dân biết - Dân bàn - Dân làm - Dân kiểmtra, đó là mục tiêu của chúng ta trên con đường quá độ đi lên xây dựng chủnghĩa xã hội Vậy làm thế nào để người dân thực hiện được quyền làm chủcủa mình? Và phương pháp tiến hành ra làm sao? Hình thức như thế nào?
Đó là những vấn đề lớn mà Đảng và nhà nước đặc biệt quan tâm trongchiến lược phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hộichủ nghĩa
Hiện nay thực trạng người dân hiểu biết và tuân thủ pháp luật cònnhiều hạn chế Tình hình dân trí, nhận thức pháp luật của người dân cònthấp, mức độ vi phạm pháp luật do không hiểu luật còn cao Đó là thựctrạng đáng buồn đang xảy ra trong xã hội Việt Nam hiện nay Vậy làm thếnào để pháp luật đi sâu vào đời sống nhân dân một cách triệt để và có hiệuquả ? Ai sẽ là người giúp nhân dân hiểu đúng vai trò làm chủ của mình mộtcách tích cực nhất ? Và chúng ta sẽ phải chuẩn bị những gì cho quá trìnhtiếp nhận được diễn ra nhanh chóng và toàn diện ? Đó là những vấn đề lớn
mà tất cả chúng ta phải suy nghĩ và tìm ra cách giải quyết phù hợp trongthời gian sắp tới
Bác Hồ từng căn dặn: “Cán bộ phải gần dân - thân dân và kính trọngdân, cán bộ là đầy tớ thật trung thành của nhân dân” Đội ngũ cán bộ, màđặc biệt là cán bộ tư pháp xã có vai trò hết sức quan trọng trong hoạt độngcủa chính quyền cơ sở Cán bộ tư pháp xã là yếu tố cơ bản có tính quyếtđịnh góp phần nâng cao hiểu biết pháp luật trong nhân dân Do đó chúng taphải có cái nhìn rõ ràng, bao quát về những hoạt động cũng như vai trò của
tư pháp xã trong việc giáo dục, tuyên truyền phổ biến pháp luật
Trang 6Nhằm mục tiêu phát triển kinh tế, phát huy tính dân chủ và đạt hiệuquả cao hơn nữa trong công tác quản lý, điều hành đất nước Đảng và nhànước đã đề ra chủ trương cải cách nền hành chính trên cơ sở tôn trọngnhững quy luật khách quan trong đời sống xã hội
Việc xây dựng hành lang pháp lý đủ mạnh, thông thoáng, hiệu quảphải gắn liền với công tác giáo dục tuyên truyền phổ biến pháp luật, để cácquyết định, văn bản luật được thực thi một cách triệt để Trong quá trình ápdụng luật vào thực tiễn đời sống thì vai trò của cán bộ tư pháp xã có vị tríđặc biệt và vô cùng quan trọng Họ không chỉ là những người hiểu và nắmvững các quy định của pháp luật mà hơn thế cán bộ tư pháp xã còn có tráchnhiệm giúp nhân dân tôn trọng và chấp hành triệt để mọi chủ trương chínhsách của Đảng và nhà nước
Trên cơ sở phân tích vị trí của cán bộ tư pháp xã đối với công tác tuyêntruyền phổ biến pháp luật trong cả nước Đề tài thu thập các số liệu về hoạtđộng của cán bộ tư pháp xã tại một số địa phương để làm bật lên ý nghĩa, vaitrò cũng như tầm quan trọng của cán bộ tư pháp xã Qua đó đưa ra một số giảipháp có giá trị về mặt pháp lý, mang tính khoa học để vận dụng tốt hơn trongcông tác giáo dục phổ biến pháp luật trong đời sống nhân dân
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Vấn đề tư pháp xã với vai trò giáo dục, tuyên truyền phổ biến phápluật đang là trọng điểm tranh luận của các học giả, các nhà nghiên cứutrong cả nước Nhiều dự án lớn được xây dựng nhằm thiết lập một cách có
hệ thống không chỉ về mặt lý luận mà còn là những hoạt động đã và đangxảy ra trên thực tế Trong bối cảnh mới với nhiều thuận lợi và thách thứccác hội thảo lớn đã diễn ra Những cuộc trò chuyện, trao đổi của các vị lãnhđạo Đảng và nhà nước đã khẳng định vai trò lớn lao của tư pháp xã trongviệc giáo dục, tuyên truyền phổ biến pháp luật
Tuy nhiên, có thể nhận thấy rằng vấn đề tư pháp xã chưa được quantâm đúng mức Hầu như các đề tài, các công trình nghiên cứu chỉ tập trung
Trang 7tìm hiểu chất lượng đội ngũ cán bộ công chức chính quyền nói chung Mànếu có nói tới cán bộ tư pháp xã thì chỉ xem xét, phân tích trình bày ở mộtđịa phương riêng biệt, cụ thể
Các đề tài chưa làm rõ được vai trò của cán bộ tư pháp xã trong việctuyên truyền phổ biến pháp luật Mặt khác chưa có sự thống nhất về quanđiểm cũng như có cái nhìn toàn cảnh thực trạng cán bộ tư pháp xã trong cảnước Đó là lý do mà vấn đề tư pháp xã vẫn là hướng nghiên cứu đầy mới
mẻ không chỉ đối với các cấp lãnh đạo mà còn thu hút được sự quan tâm,hưởng ứng của nhân dân trong cả nước
Với cái nhìn mới trên cơ sở phân tích, đánh giá đúng mức vai trò củacán bộ tư pháp xã Đề tài đi sâu vào nghiên cứu vai trò của cán bộ tư pháp
xã trong công tác giáo dục, tuyên truyền phổ biến pháp luật trên quy mô cảnước Trong quá trình nghiên cứu có những điều tra mang tính chất chuyênmôn tại một số tỉnh thành để làm dẫn chứng Trên cơ sở đó có sự so sánh,đánh giá thực trạng tư pháp xã một cách chính xác, toàn diện Đưa ranhững đề xuất, khuyến nghị có giá trị pháp lý nhằm hoàn thiện hơn hệthống lý luận trong công tác giáo dục, tuyên truyền phổ biến pháp luật của
tư pháp xã
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu toàn diện về pháp luật hiện hành liên quan tới
Vị trí- chức năng - nhiệm vụ - quyền hạn của tư pháp xã Từ đó làm rõ hơntầm quan trọng của cán bộ tư pháp xã trong công tác giáo dục, tuyên truyềnphổ biến pháp luật Đồng thời đưa ra những kết luận, khuyến nghị, giảipháp để nâng cao trình độ am hiểu pháp luật trong nhân dân và thực thipháp luật trong đời sống xã hội
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm hướng đến làm sáng tỏ những vấn đề sau :
Trang 8 Tìm hiểu chất lượng cũng như vai trò của đội ngũ cán bộ tư pháp
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu vai trò và những hoạt động của cán bộ tưpháp xã trong công tác giáo dục, tuyên truyền phổ biến pháp luật
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, đề tài sử dụng kết hợp các phương phápnhư phương pháp luận Mác xit - phương pháp lô gic - phương pháp thống
kê - phương pháp phân tích - phương pháp điều tra, phỏng vấn - phươngpháp Liệt kê - phương pháp so sánh - phương pháp chuyên gia
Trong số các phương pháp được sử dụng để nghiên cứu thì phươngpháp phân tích, phương pháp thống kê được sử dụng chủ yếu
6 Ý nghĩa của đề tài
Về mặt lý luận: Là cơ sở để nhà nước ban hành các quy định, cácchính sách có liên quan đến cán bộ tư pháp xã Từ đó tạo ra cơ sở lý luậncho việc ban hành những quy định về trách nhiệm, quyền và nghĩa vụ của
Trang 9cán bộ tư pháp xã trong việc tuyên truyền phổ biến pháp luật ở Việt Namgiai đoạn hiện nay.
Về mặt thực tiễn: Trên cơ sở phân tích, bình luận, đánh giá, luận vănbiểu hiện rõ nét thực trạng cán bộ tư pháp xã trong việc tuyên truyền, phổbiến pháp luật trong giai đoạn hiện nay Từ những khó khăn, hạn chế trongviệc áp dụng pháp luật đề tài mạnh dạn đưa ra một số giải pháp nhằm gópphần hoàn thiện các chế định có liên quan đến công tác tuyên truyền phổbiến pháp luật của đội ngũ cán bộ tư pháp xã
7 Kết cấu của đề tài
Chương I: Một số vấn đề có tính chất lý luận – pháp lý về tổ chức vàhoạt động của cán bộ tư pháp xã ở Việt Nam hiện nay
Chương II: Thực trạng và các giải pháp nhằm nâng cao chất lượnghoạt động của cán bộ tư pháp xã trong công tác giáo dục, tuyên truyền phổbiến pháp luật ở Việt Nam hiện nay
Trang 10NỘI DUNG
CHƯƠNG I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CÓ TÍNH CHẤT LÝ LUẬN - PHÁP LÝ VỀ
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁN BỘ TƯ PHÁP XÃ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1 Khái quát chung về tư pháp xã
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm về tư pháp xã
Với nghĩa pháp lí chung nhất, “Tư pháp được quan niệm như là một ýtưởng về một nền công lí, đòi hỏi việc giải quyết nhũng tranh chấp xảy ratrong xã hội phải đúng pháp luật, phù hợp với lẽ công bằng, bảo đảm lòngtin của nhân dân và xã hội vào pháp luật, góp phần duy trì trật tự pháp luật,bảo đảm sự an toàn pháp lí cho cá nhân, sự ổn định và phát triển của xãhội” [17,70]
Theo ngữ nghĩa Hán Việt thì tư pháp là trông coi, bảo vệ pháp luật
Xét theo khía cạnh thể chế nhà nước, thì tư pháp được hiểu là mộttrong ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, trong đó quyền tư phápđược hiểu đồng nghĩa với quyền xét xử chỉ do tòa án thực hiện Vì vậy ởcác nước này, nói đến cơ quan tư pháp tức nói đến tòa án
Ở nước ta, quyền lực nhà nước thống nhất nhưng có sự phân công vàphối hợp giữa ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp
Như vậy, quyền tư pháp là một trong ba quyền hợp thành quyền lựcnhà nước, được hiểu là hoạt động xét xử của các tòa án và những hoạt độngcủa cơ quan nhà nước khác trực tiếp liên quan đến hoạt động xét xử của tòa
án như điều tra, truy tố, bổ trợ tư pháp nhằm bảo vệ chế độ, pháp chế xã hộichủ nghĩa, lợi ích hợp pháp của công dân
Trang 11Tư pháp là một hệ thống tòa án nhân danh quyền tối cao hoặc nhànước để thực thi công lý, một cơ chế để giải quyết các tranh chấp.
1.1.2 Khái niệm về phổ biến, giáo dục pháp luật
Phổ biến, giáo dục pháp luật là một từ ghép hai từ phổ biến pháp luật
và giáo dục pháp luật
Phổ biến pháp luật có hai nghĩa:
Nghĩa hẹp: Là giới thiệu tinh thần pháp luật cho đối tượng của nó
Nghĩa rộng: Là truyền bá pháp luật cho mọi tầng lớp nhân dân cả nước.Trong các văn bản của ta, nghĩa này được sử dụng nhiều hơn nghĩa hẹp
Giáo dục pháp luật là một khái niệm rộng bao gồm cả quá trình nângcao tri thức pháp luật cho đối tượng và bằng mọi cách (Thuyết phục, nêugương, ám thị ) hình thành tình cảm, niềm tin pháp luật cho đối tượng, từ
đó nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luậtcủa đối tượng
Cả cụm từ phổ biến giáo dục pháp luật có hai nghĩa [16,82]:
Nghĩa hẹp: Là việc truyền bá pháp luật cho đối tượng nhằm nâng caotri thức, tình cảm niềm tin pháp luật cho đối tượng từ đó nâng cao ý thứctôn trọng pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của đối tượng
Nghĩa rộng: Là công tác, lĩnh vực, ngạch (theo nghĩa thông thường màkhông phải nghĩa trong pháp luật về cán bộ công chức) Phổ biến giáo dụcpháp luật bao gồm tất cả các công đoạn phục vụ cho công tác phổ biến,giáo dục pháp luật:
- Định hướng công tác phổ biến,giáo dục pháp luật;
- Lập chương trình, kế hoạch phổ biến,giáo dục pháp luật;
- Áp dụng các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật;
- Triển khai chương trình, kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật;
Trang 12- Tổng kết công tác phổ biến giáo dục pháp luật;
- Đúc rút kinh nghiệm, nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực tư pháp;
- Nâng cao trình độ lí luận về phổ biến giáo dục pháp luật
- Kiểm tra, đôn đốc, uốn nắn, sơ kết công tác phổ biến giáo dụcpháp luật;
1.1.3 Cán bộ Tư pháp hộ tịch
Theo nghị định 158/2005/NĐ-CP của Chính phủ về đăng ký và quản
lý hộ tịch thì cán bộ Tư pháp hộ tịch là công chức cấp xã, giúp Ủy bannhân dân cấp xã thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn trong đăng ký và quản
lý hộ tịch “Đối với những xã, phường, thị trấn có đông dân cư, số lượngcông việc hộ tịch nhiều, thì phải có cán bộ chuyên trách làm công tác hộtịch, không kiêm nhiệm các công tác tư pháp khác” [28]
Cán bộ Tư pháp hộ tịch phải có đủ các tiêu chuẩn của cán bộ côngchức cấp xã theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và phải cóthêm các tiêu chuẩn sau đây:
- Có bằng tốt nghiệp trung cấp luật trở lên;
- Được bồi dưỡng nghiệp vụ về công tác hộ tịch;
- Chữ viết rõ ràng
“Việc tuyển dụng, sử dụng, quản lý, khen thưởng, kỷ luật đối với cán
bộ Tư pháp hộ tịch được thực hiện theo quy định chung của pháp luật đốivới công chức cấp xã” [28] Cán bộ Tư pháp hộ tịch phải thực hiện nhữngnghĩa vụ và được hưởng những quyền lợi của cán bộ, công chức mà phápluật quy định đối với công chức cấp xã
Cán bộ Tư pháp hộ tịch không được làm những việc sau đây:
Cửa quyền, hách dịch, sách nhiễu, gây khó khăn, phiền hà cho cơquan, tổ chức, cá nhân khi đăng ký hộ tịch;
Trang 13 Cố ý cấp các giấy tờ hộ tịch có nội dung không chính xác.
1.1.4 Cơ sở pháp lý để triển khai các hình thức phổ biến pháp luật
Phổ biến, giáo dục pháp luật được hiểu là hoạt động có định hướng, có
tổ chức, có chủ định nhằm đạt mục đích hình thành ở đối tượng được tácđộng tri thức pháp lý, tình cảm và hành vi phù hợp với đòi hòi của hệ thốngpháp luật hiện hành, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhànước, quản lý xã hội và nâng cao trình độ văn hoá pháp lý của công dân.Hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật là cách thức tổ chức hoạt độngphổ biến, giáo dục pháp luật, cách tiến hành một hoạt động cụ thể để đạtđược mục đích hình thành ở đối tượng tình cảm, tri thức và hành vi pháp lýphù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của pháp luật Hình thức phổ biến, giáo dụcpháp luật giữ vai trò hỗ trợ hoặc tác động trở lại đối với kết quả chung củahoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật Nếu nội dung pháp luật phù hợp,thiết thực, dễ hiểu, gần gũi nhưng hình thức tổ chức mờ nhạt, thiếu sángtạo, xa rời thực tiễn thì tất yếu sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáodục pháp luật
Vì lẽ đó, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật luôn được xã hội (Nhànước, tổ chức, công dân) quan tâm ở cả nội dung và hình thức phổ biến,truyền tải pháp luật, thông tin pháp lý để đối tượng được tác động hình
Trang 14thành được thói quen, tình cảm đối với pháp luật và có hành vi xử sự phùhợp, có ý thức chấp hành, tuân thủ pháp luật.
Ngày 7/12/1982, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Chỉ thị số315/CT về việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật đã xácđịnh: Hình thức tuyên truyền cần phong phú, hấp dẫn, thích hợp với từngloại đối tượng “Cần sử dụng rộng rãi báo chí, phát thanh, truyền hình vàcác hình thức văn hoá, nghệ thuật khác để phổ biến pháp luật” [22] Báochí, đài phát thanh, truyền hình chú ý thường xuyên có mục tuyên truyềngiáo dục pháp luật bằng các hình thức nói chuyện, giải đáp pháp luật, biểudương người tốt, việc tốt, phê phán những hiện tượng vi phạm pháp luật.Trong các bài báo như tin tức, mẩu chuyện, bình luận, xã luận… cần có ýthức phân tích khía cạnh pháp lý của vấn đề, qua đó mà giáo dục ý thứcpháp luật cho người đọc Xuất bản sách phổ thông giới thiệu văn bản phápluật của nhà nước Xây dựng chương trình, biên soạn tài liệu để đưa giáodục pháp luật vào các trường học Tiếp đó, Chỉ thị số 300/CT ngày22/10/1987 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về một số công tác trước mắtnhằm tăng cường quản lý Nhà nước bằng pháp luật đề ra yêu cầu: “Triểnkhai mạnh mẽ công tác tuyên truyền và giáo dục pháp luật, huy động lựclượng của các đoàn thể chính trị, xã hội, nghề nghiệp, các phương tiệnthông tin đại chúng tham gia vào đợt vận động thiết lập trật tự kỷ cương vàcác hoạt động thường xuyên xây dựng nếp sống và làm việc theo pháp luậttrong các cơ quan Nhà nước và trong xã hội” [23]
Trong Chỉ thị số 02/1998/CT-TTg ngày 07/01/1998 của Thủ tướngChính phủ về việc tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật tronggiai đoạn hiện nay và Quyết định số 03/1998/QĐ-TTg đã chỉ rõ “chú trọnghình thức tuyên truyền miệng trong việc phổ biến, triển khai thực hiện cácvăn bản pháp luật cần thiết cho từng đối tượng, nhất là cán bộ chính quyềncấp cơ sở, các tầng lớp nhân dân” và “xác định rõ các biện pháp phổ biến,
Trang 15giáo dục pháp luật cho từng đối tượng như tuyên truyền miệng, biên soạntài liệu, các phương tiện thông tin đại chúng” [31].
Ngày 17/1/2003, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số13/2003/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật từnăm 2003 đến năm 2007 trong đó dành một mục lớn (mục II) quy định cáchình thức, biện pháp phổ biến, giáo dục pháp luật chủ yếu Thông tư số01/2003/TT-BTP ngày 14/3/2003 quy định một số hình thức phổ biến, giáodục pháp luật như phương tiện thông tin đại chúng, hệ thống loa truyềnthanh cơ sở, tủ sách pháp luật, biên soạn tài liệu pháp luật, cuộc thi tìm hiểupháp luật, câu lạc bộ pháp luật, tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý, giáo dụcpháp luật trong nhà trường
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 37/2008/QĐ-TTgngày 12/3/2008 phê duyệt Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật từ năm
2008 đến năm 2012, trong đó đề ra “Đổi mới, nâng cao hiệu quả các hìnhthức, biện pháp phổ biến, giáo dục pháp luật hiện có; triển khai trên diện rộngnhững hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật mới đang phát huy hiệu quả trênthực tế…” [36]
1.1.5 Các văn bản có giá trị pháp lý của cơ quan nhà nước
Tiêu chuẩn, chế độ, chính sách của công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp
xã được thực hiện theo Nghị định số 114/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 10năm 2003 của Chính phủ quy định về cán bộ, công chức xã, phường, thịtrấn, Nghị định số 121/2003/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2003 của Chínhphủ về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn
và Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16 tháng 1 năm 2004 của Bộtrưởng Bộ Nội vụ về việc ban hành quy định tiêu chuẩn cụ thể đối với cán
bộ, công chức xã, phường, thị trấn
Điều 81 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chínhphủ về đăng ký và quản lý hộ tịch quy định: “Đối với những xã, phường,
Trang 16thị trấn có đông dân cư, số lượng công việc hộ tịch nhiều, thì phải có cán
bộ chuyên trách làm công tác hộ tịch, không kiêm nhiệm các công tác tưpháp khác” [28] Tuy nhiên, ở nước ta có hai biên chế chính thức ở mỗi xã,trong đó, một người phụ trách tư pháp, một người phụ trách hộ tịch cònkhiêm tốn Hầu hết, các đơn vị tư pháp cấp xã khác, đều chỉ có một ngườiđảm trách tư pháp - hộ tịch Có một số xã nhờ cân đối được nguồn kinh phíđịa phương, nên đã mạnh dạn ký hợp đồng ngoài biên chế để có thêm mộtcán bộ hỗ trợ công tác hộ tịch
Ngày 16-12-2004, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định212/QĐ-TTTg gồm 4 Đề án [34]:
- Đề án thứ nhất là đưa thông tin pháp luật đến cán bộ, nhân dân thôngqua phương tiện thông tin đại chúng và các thiết chế văn hoá thông tin ở cấpxã;
- Đề án thứ hai là xây dựng và đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vậnđộng chấp hành pháp luật trong cộng đồng dân cư;
- Đề án thứ ba là tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật vềkhiếu nại, tố cáo ở cấp xã;
- Đề án thứ tư là phát huy vai trò của cơ quan và cán bộ tư pháp trongviệc phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ nhân dân cấp xã
Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thúy Hiền, Phó trưởng Ban soạnthảo dự án Luật phổ biến, giáo dục pháp luật, cho rằng công tác phổ biến,giáo dục pháp luật trên phạm vi cả nước thời gian qua đã có nhiều chuyểnbiến tích cực, đáng ghi nhận Tuy nhiên, thực tiễn quản lý nhà nước và thựchiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật thời gian qua còn gặp khó khăn,bất cập, chưa xây dựng được một văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lựcpháp lý cao để điều chỉnh toàn diện công tác này “Việc xây dựng vàthông qua dự án Luật phổ biến, giáo dục pháp luật là cần thiết nhằm khắc
Trang 17phục những hạn chế, bất cập trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và mọicông dân về vị trí, vai trò của pháp luật và công tác phổ biến, giáo dục phápluật trong đời sống xã hội” [6].
Tiến sỹ Phan Trung Hiền, Phó Trưởng khoa Luật (Đại học Cần Thơ)cho rằng, cần quy định một chế độ “thưởng, phạt” rõ ràng đối với các cơquan, tổ chức trong việc cung cấp các thông tin pháp luật vì “đã được quyđịnh là phải công khai, phải cung cấp” [4] Phó Giám đốc Sở Tư pháp tỉnhLong An Nguyễn Văn Lâm đề nghị cần quy định rõ ràng hơn về tráchnhiệm của người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, đoàn thể trong việc phổbiến giáo dục pháp luật và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan này với cơquan Tư pháp các cấp Đồng thời, xác định rõ quyền hạn về chỉ đạo, hướngdẫn, kiểm tra của cơ quan Tư pháp các cấp đối với đội ngũ làm công tácphổ biến, giáo dục pháp luật như báo cáo viên pháp luật, pháp chế của các
Sở ngành
1.2 Vị trí, vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
1.2.1 Phổ biến, giáo dục pháp luật tác động vào ý thức của đối tượng
Với nhiều hình thức, biện pháp khác nhau, phổ biến, giáo dục phápluật nâng cao nhận thức và tác động trực tiếp đến ý thức của đối tư ợng.Trước hết, các hoạt động này tạo ra sự quan tâm đối với pháp luật Từchỗ không để ý đến sự tồn tại của pháp luật, đối tượng được phổ biến,giáo dục bắt đầu dành sự quan tâm của mình đối với pháp luật, đồngthời sự hiểu biết về pháp luật cũng ngày càng được nâng cao Pháp luậtchính là phương tiện hàng đầu để Nhà nước quản lý xã hội và cũng làphương tiện cho mỗi người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
“Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giúp cho đối tượng nhận thứcđược những giá trị cao đẹp ấy của pháp luật và biết sử dụng phươngtiện hữu hiệu đó trong cuộc sống” [10]
Trang 18Một vai trò hết sức quan trọng của phổ biến, giáo dục pháp luật là tạođược niềm tin vào pháp luật Khi đã có niềm tin, đối tượng sẽ biết tự điềuchỉnh hành vi của mình theo đúng các quy định của pháp luật Khôngnhững thế, họ còn có ý thức phê phán, lên án những hành vi vi phạm, đingược lại với các quy định của pháp luật.
1.2.2 Phổ biến, giáo dục pháp luật trong việc giáo dục chính trị tư tưởng
V.I Lê-nin đã nhấn mạnh: "Luật là biện pháp chính trị, là chính trị".Đường lối chính trị của Đảng ta - chỗ dựa của công cuộc đổi mới mọi mặt vềchính trị, kinh tế, xã hội đã đi vào tất cả các mặt của hoạt động lập pháp, chỉđạo nội dung của pháp luật Có thể thấy rằng, ý thức pháp luật là một bộ phậncủa ý thức chính trị Vì vậy, khi thực hiện giáo dục pháp luật sẽ tạo ra khả năngcho việc giáo dục chính trị, hình thành ở đối tượng giáo dục những hiểu biếtnhất định về chính trị Ngược lại, “giáo dục chính trị có những sự đan xen nhấtđịnh trong nội dung của mình những tư tưởng pháp lý” [10]
1.2.3 Giáo dục ý thức pháp luật và đạo đức
Đạo đức là những tiêu chuẩn, những nguyên tắc ứng xử được dư luận
xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con người đối với nhau vàđối với xã hội
Trong các quan niệm về công bằng, thiện ác, nhân đạo, tự do, lươngtâm, danh dự không có sự đối lập giữa pháp luật và đạo đức Pháp luật làchỗ dựa và là cơ sở của việc hình thành đạo đức mới Các nguyên tắc cănbản của đạo đức mới được thể chế hoá thành các quy phạm pháp luật Do
đó, pháp luật bảo vệ và phát triển đạo đức, bảo vệ tính công bằng, chủnghĩa nhân đạo, tự do, lòng tin và lương tâm con người Giáo dục đạo đứctạo nên những tiền đề cần thiết để hình thành ở công dân sự tôn trọng sâusắc đối với pháp luật Ngược lại, giáo dục pháp luật tạo ra khả năng thiếtlập trong đời sống thực tiễn thường ngày những nguyên tắc đạo đức, củng
cố các nghĩa vụ đạo đức, thiết lập lập trường không dung thứ với các biểuhiện chống đối xã hội
Trang 19Có thể nói, “Giáo dục pháp luật và giáo dục đạo đức cùng tác độngvào lòng tin của con người đối với sự cần thiết tuân theo những nguyêntắc cơ bản của đạo đức mới, lòng tin đối với giá trị xã hội của pháp luật
và lòng tin đối với những quy phạm đạo đức và pháp luật trong đời sốngthực tế hàng ngày, hướng đến hoàn thiện những mối quan hệ lẫn nhaugiữa con người với con người” [10]
1.2.4 Giáo dục pháp luật là khâu đầu tiên để triển khai thực hiện pháp luật
Sự khẳng định vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội gắn liền vớiquá trình không ngừng nâng cao ý thức và tính tích cực tham gia của mọitầng lớp nhân dân trong việc bảo vệ pháp luật Tăng cường pháp chế xã hộichủ nghĩa (mà một trong những yếu tố cấu thành là sự phát triển của nhậnthức pháp luật và văn hoá pháp lý của nhân dân) Mở rộng và hoàn thiệnnền dân chủ sẽ không có ý nghĩa khi không thực hiện được một cách toàndiện, hiệu quả công tác giáo dục pháp luật cho cán bộ và nhân dân
Việc thực thi và chấp hành pháp luật phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khácnhau, trong đó có yếu tố ý thức pháp luật và văn hoá pháp lý của nhân dân.Đặc trưng rõ nét của ý thức pháp luật - thể hiện thái độ của các thànhviên trong xã hội đối với kỷ cương, pháp luật là sự đánh giá và ghi nhậntính công bằng của pháp luật xã hội chủ nghĩa Pháp luật chỉ có thể trởthành công cụ có tác dụng điều chỉnh những hành vi đúng đắn khi sự cầnthiết của nó đối với xã hội được ghi nhận, chấp nhận, khi mà nghĩa vụ chấphành các quy định của pháp luật thực sự trở thành nhu cầu chấp hành mộtcách tự nguyện và có ý thức của bản thân mỗi người Bởi thế có thể coi ýthức pháp luật như là tiền đề tư tưởng cho sự củng cố và phát triển nềnpháp chế
Trong thực tế, không phải lúc nào việc chấp hành pháp luật cũng trởthành ý thức tự nguyện Bởi vậy trong điều kiện hiện nay, vai trò của giáodục pháp luật là hình thành ý thức pháp luật, góp phần giúp mỗi người
Trang 20nhận ra tính công bằng của pháp luật, chấp hành pháp luật trên cơ sở tựnguyện, xuất phát từ nhu cầu của bản thân, mà không phải do sự sợ hãi trư-
Tóm lại, giáo dục pháp luật với những phương thức khác nhau, trong
đó có phổ biến, tuyên truyền pháp luật, tạo điều kiện cho việc nâng caotrình độ văn hoá pháp lý của người dân Đồng thời, sự phát triển của vănhóa pháp lý cũng chịu ảnh hưởng trực tiếp của hoạt động thực thi pháp luậtcủa các cơ quan Nhà nước Hiệu quả tác động này lại phụ thuộc vào trình
độ văn hoá pháp lý của đội ngũ cán bộ, công chức; phụ thuộc vào việc họthực thi đúng pháp luật, có thái độ tôn trọng pháp luật Bởi vậy, thực hiệnnhiệm vụ nâng cao văn hoá pháp lý đòi hỏi không chỉ nâng cao trình độvăn hoá chung của nhân dân mà còn phải tăng cường năng lực thực thipháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức các cơ quan Nhà nước Một trongnhững nguyên nhân của tình trạng vi phạm pháp luật là do trình độ văn hoápháp lý của một bộ phận nhân dân, trong đó có cả cán bộ, công chức cònthấp Rõ ràng, việc nâng cao văn hoá pháp lý có quan hệ gắn bó mật thiếtvới việc tiếp tục tăng cường pháp chế
Trong quá trình xây dựng xã hội công bằng, dân chủ và văn minh thì mộttrong những điều kiện quan trọng là làm sao để người dân được tham gia tíchcực vào các hoạt động quản lý xã hội bằng pháp luật Tăng cường dân chủcũng có nghĩa là mở rộng sự tham gia của người dân vào các hoạt động lập
Trang 21pháp, hành pháp và tư pháp, thực hiện giám sát hoạt động của các cơ quanNhà nước Chính điều này đã nâng cao trách nhiệm của mỗi người trong xãhội Phổ biến, giáo dục pháp luật góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy sựlớn mạnh của tính tích cực, đảm bảo hành trang kiến thức pháp lý cần thiếtcho sự tham gia vào hoạt động xây dựng pháp luật và thực thi pháp luật.
1.3 Các quy định của pháp luật về vị trí, chức năng, vai trò và quyền hạn của tư pháp xã
Theo nghị định 158/2005/NĐ-CP của Chính phủ về đăng ký và quản
lý hộ tịch, cán bộ Tư pháp hộ tịch giúp Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiệncác nhiệm vụ sau đây [28]:
Thụ lý hồ sơ, kiểm tra, xác minh và đề xuất với Chủ tịch Ủy bannhân dân cấp xã xem xét, quyết định việc đăng ký hộ tịch theo quy địnhcủa Nghị định này;
Thường xuyên kiểm tra và vận động nhân dân đi đăng ký kịp thờicác sự kiện hộ tịch Đối với những khu vực người dân còn bị chi phối bởiphong tục, tập quán hoặc điều kiện đi lại khó khăn, cán bộ Tư pháp hộ tịchphải có lịch định kỳ đến tận nhà dân để đăng ký những sự kiện hộ tịch đãphát sinh
Sử dụng các loại sổ hộ tịch, biểu mẫu hộ tịch theo quy định của Bộ
Trang 22Thông tư liên tịch số 01, ngày 28/4/2009 của Bộ Tư pháp và Bộ Nội
vụ quy định cán bộ tư pháp - hộ tịch cấp xã, phường thị trấn gọi chung làcấp xã tham mưu giúp cho Ủy Ban Nhân Dân cùng cấp tổ chức thực hiện
12 nhiệm vụ, quyền hạn gồm: “Ban hành, tổ chức thực hiện chương trình,
kế hoạch, quyết định, chỉ thị về công tác tư pháp cấp xã; tổ chức, thực hiệnviệc tự kiểm tra các quyết định, chỉ thị do Ủy Ban Nhân Dân cấp xã banhành; rà soát văn bản pháp luật do Hội Đồng Nhân Dân, Ủy Ban Nhân Dâncấp xã ban hành; tổ chức, thực hiện chương trình, kế hoạch phổ biến, giáodục pháp luật; hoạt động hòa giải; hộ tịch; chứng thực; phối hợp với cơquan thi hành án trong việc thi hành án dân sự ” [37]
Ban Tư pháp chịu sự quản lý toàn diện, trực tiếp của Ủy ban nhân dâncấp xã, đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra về chuyên mônnghiệp vụ của phòng Tư pháp huyện
Người giữ chức danh công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã làm côngtác chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọichung là Ủy ban nhân dân cấp xã), có trách nhiệm giúp Ủy ban nhân dâncấp xã quản lý nhà nước về công tác tư pháp trong phạm vi địa phương Ủyban nhân dân cấp xã thành lập Ban Tư pháp gồm có Trưởng ban do Chủtịch hoặc một Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã đảm nhiệm, công chức
Tư pháp - Hộ tịch và các thành viên kiêm nhiệm khác do Ủy ban nhân dâncấp xã quyết định để phối hợp tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạnnhư sau [26]:
Trình Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành các văn bản về công tác
tư pháp ở địa phương; tổ chức lấy ý kiến nhân dân về các dự án luật, pháplệnh theo hướng dẫn của Ủy ban nhân dân cấp huyện và sự chỉ đạo của Ủyban nhân dân cấp xã;
Giúp Ủy ban nhân dân cấp xã tự kiểm tra các Quyết định, Chỉ thị
do Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành;
Trang 23 Xây dựng kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàntrình Ủy ban nhân dân cấp xã và tổ chức thực hiện kế hoạch sau khiđược phê duyệt;
Giúp Ủy ban nhân dân cấp xã chỉ đạo, hướng dẫn việc xây dựngquy ước, hương ước thôn, làng, ấp, bản, cụm dân cư phù hợp với quy địnhpháp luật hiện hành và chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước;
Hướng dẫn hoạt động của các Tổ hòa giải; bồi dưỡng, cung cấptài liệu nghiệp vụ cho tổ viên Tổ hòa giải ở địa phương theo sự hướng dẫncủa cơ quan tư pháp cấp trên; trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã xemxét, quyết định việc miễn nhiệm tổ viên Tổ hòa giải;
Thực hiện việc trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượngchính sách theo quy định của pháp luật;
Trực tiếp quản lý việc khai thác, sử dụng Tủ sách pháp luật ở xã,phường, thị trấn; tổ chức việc phối hợp khai thác, sử dụng, trao đổi giữa Tủsách pháp luật ở xã, phường, thị trấn với các tổ chức, đơn vị khác;
Giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện việc đôn đốc thihành án theo hướng dẫn của cơ quan thi hành án cấp huyện và thực hiệncông tác hành chính - tài chính trong việc đôn đốc thi hành án;
Thực hiện đăng ký và quản lý hộ tịch ở địa phương; thực hiệnmột số việc về quốc tịch thuộc thẩm quyền theo quy định pháp luật;
Giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện chứng thực chữ
ký của công dân Việt Nam trong các giấy tờ phục vụ cho việc thực hiện cácgiao dịch dân sự ở trong nước; chứng thực di chúc, văn bản từ chối nhận disản và các việc khác theo quy định của pháp luật;
Báo cáo định kỳ và đột xuất về tình hình thực hiện nhiệm vụtrong các lĩnh vực công tác được giao với Ủy ban nhân dân cấp xã vàPhòng Tư pháp;
Thực hiện các nhiệm vụ khác do Ủy ban nhân dân cấp xã giao
Trang 241.4 Tổ chức và hoạt động của đội ngũ cán bộ tư pháp cấp xã
1.4.1 Cơ cấu tổ chức của Ban tư pháp xã
Theo quy định của pháp luật về chức năng, nhiệm vụ, và tổ chức các
cơ quan chuyên môn giúp Ủy ban nhân dân quản lý nhà nước về công tác
tư pháp ở địa phương thì ban tư pháp xã bao gồm (Trưởng ban tư pháp xã
và cán bộ công chức tư pháp)
Trưởng Ban tư pháp xã: Là người lãnh đạo, điều hành công việc củaban tư pháp do chủ tịch hoặc phó chủ tịch Ủy ban nhân dân xã đảm nhiệm.Trưởng ban tư pháp xã chịu trách nhiệm cá nhân trong quá trình tiến hànhthực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao phó Phối hợp cùng tập thể ban
tư pháp trong việc thực hiện nhiệm vụ do Ủy ban nhân dân và cơ quan nhànước cấp trên giao phó Trưởng ban tư pháp có nhiệm vụ đôn đốc, kiểm tracông tác chuyên môn; phân công công tác cho các thanh viên cấp dưới;điều hành, quyết định những vấn đề thuộc nhiệm vụ của ban tư pháp xã
“Thông qua vai trò điều hành mà hoạt động của ban tư pháp xã có sự thốngnhất, nhịp nhàng và mang lại hiệu quả” [18,9]
Công chức tư pháp: là người trực thuộc bộ phận “một cửa” đảm nhậnviệc giải quyết hồ sơ hộ tịch, công chức, chứng thực cho người dân Cótrách nhiệm phối hợp với các cơ quan như tòa án, công an để thực thi cáccông việc có liên quan tới thi hành án dân sự Công chức tư pháp xã và cácthành viên kiêm nhiệm khác do Ủy ban nhân dân xã quyết định
1.4.2 Hoạt động của Ban Tư Pháp xã
Phiên họp là hình thức hoạt động quan trọng của Ban Tư Pháp tạicác địa phương Thông qua các phiên họp, Ban tư pháp thực hiện phần lớncông việc theo chức năng và nhiệm vụ theo quy định của pháp luật
Theo quy định Ban Tư pháp xã mỗi tháng họp một lần và giao banvào đầu tuần do trưởng ban (Chủ tịch Ủy ban nhân dân ) triệu tập Trongtrường hợp cần thiết trưởng ban có thể triệu tập phiên họp bất thường theoyêu cầu của chủ tịch Ủy ban nhân dân
Trang 25“Tại các phiên họp Ban tư pháp thảo luận tập thể và quyết địnhnhững vấn đề quan trọng sau”[18,10]:
- Đề ra chương trình hoạt động trong cả nhiệm kỳ và hàng năm
- Ban hành và tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch, quyết định,chỉ thị, về công tác tư pháp ở cấp xã
- Theo dõi, kiểm tra tình hình thực hiện sau khi được cấp có thẩmquyền quyết định hoặc phê duyệt
- Thực hiện việc tự kiểm tra các quyết định, chỉ thị do Ủy ban nhândân cấp xã ban hành
- Rà soát văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân, Ủy bannhân dân cấp xã ban hành
- Đề ra các phương án, chương trình, kế hoạch mới phù hợp với điềukiện, hoàn cảnh của địa phương nhằm đảm bảo công tác tư pháp được thựchiện đúng, đảm bảo an ninh trật tự xã hội
1.4.3 Hoạt động của các thành viên trong Ban tư pháp xã
Hoạt động của trưởng ban tư pháp mang tính chất thường xuyên và
có tác dụng rất lớn đến hiệu quả hoạt động của Ban tư pháp Từ đó ta có thểthấy được vai trò quan trọng của trưởng ban trong hoạt động quản lý tưpháp cấp cơ sở nói riêng và thể hiện tính thống nhất của quyền lực nhànước nói chung
- Trưởng ban có quyền triệu tập, chủ tọa các phiên họp củ Ban tư pháp
- Ra các quyết định mà tập thể ban tư pháp đã thông qua
- Chịu trách nhiệm tổ chức, kiểm tra việc thực hiện tất cả các quyếtđịnh đã thông qua
- Đối với cấp dưới, trưởng ban có quyền phê chuẩn việc miễn nhiệm,cách chức, điều động, bãi nhiệm, khen thưởng, kỷ luật
Hoạt động của công chức tư pháp mang tính chất thường xuyên và
ổn định, ảnh hưởng không nhỏ đến việc giải quyết các công việc của ban tưpháp xã “Các thành viên được phân công, sắp xếp, bố trí, chịu trách nhiệm
Trang 26ở từng bộ phận cụ thể với từng lĩnh vực chuyên môn nhất định nhưng phảiđảm bảo hoạt động thống nhất theo cơ chế quản lý của nhà nước” [18,11].
1.5 Mối quan hệ giữa Ban tư pháp xã với hệ thống các cơ quan nhà nước khác
1.5.1 Đối với Ủy ban nhân dân xã
Quan hệ của cán bộ Tư pháp với Ủy ban nhân dân xã là quan hệphục tùng Trưởng Ban tư pháp chịu trách nhiệm trước Chủ tịch Ủy bannhân dân xã về kết quả công tác của đơn vị mình, có trách nhiệm thực hiệnđúng chế độ báo cáo thường xuyên kết quả thực hiện nhiệm vụ và toàn bộcác hoạt động của Ban cho Ủy Ban Nhân Dân xã
Phối hợp với các Ban của Ủy ban nhân dân để giúp Ủy ban nhândân chuẩn bị tốt các nội dung cần triển khai trong kế hoạch phát triển kinh tế
Cán bộ tư pháp xã, thị trấn thực hiện các nhiệm vụ thuộc lĩnh vựcngành mình phụ trách Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn có trách nhiệmphối hợp với cán bộ Tư pháp trong việc chỉ đạo hoạt động của ban Tư pháp
ở địa phương [19,13]
1.5.2 Đối với Hội Đồng Nhân Dân Xã
Là bộ phận giúp việc cho Hội đồng nhân dân trong việc triển khaichính sách chủ trương và các văn bản pháp luật trong công tác tư pháp
Ngược lại Hội đồng nhân dân tao điều kiện để cán bộ tư phápthực hiện tốt nhiệm vụ của mình [19,13]
1.5.3 Đối với tổ chức đoàn thể và tổ chức quần chúng xã hội
Phối hợp với các cơ quan có chức năng trong việc xây dựngchương trình làm việc, lịch công tác, cung cấp thông tin, tư liệu phục vụkịp thời sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ủy ban nhân dân
Cán bộ tư pháp có trách nhiệm quan hệ thường xuyên với các tổchức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các Hội quần chúng để nắm bắt vàcung cấp các thông tin có liên quan đến chỉ đạo điều hành hoạt động củaChủ tịch và các Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân
Trang 27 Giúp Chủ tịch và các Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thực hiệnquy chế phối hợp giữa thường trực Ủy ban nhân dân và Ủy ban Mặt trận Tổquốc Việt Nam.
Đối với nhân dân phải thật sự là cầu nối đáng tin cậy nhằm tạo ramối quan hệ bền vững giữa cơ quan nhà nước với quần chúng nhân dântrong xã “Giải quyết tất cả những vướng mắc của nhân dân về tư pháp - hộtịch, góp phần xây dựng mối đoàn kết bền vững ở địa phương” [19,14]
Trang 28CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁN BỘ TƯ PHÁP XÃ
TRONG CÔNG TÁC GIÁO DỤC, TUYÊN TRUYỀN PHỔ BIẾN
PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1.Thực trạng về tổ chức, hoạt động và chất lượng đội ngũ cán bộ tư pháp xã ở nước ta hiện nay qua khảo sát ở một số địa phương
2.1.1 Đánh giá về thực trạng chung trên cả nước
* Thiếu về “lượng”, non về “chất”
Giám đốc Sở Tư pháp Cà Mau Nguyễn Tiến Hải cho rằng: “Theo quyđịnh, tư pháp cấp xã chỉ có một công chức, nhưng có tới 12 đầu việc Trong
đó, có những việc liên tục phải đi xuống thôn, xóm lại có việc chỉ ngồi giảiquyết ngay tại chỗ Chỉ có một cán bộ, vậy ai đi xuống cơ sở, ai ở lại tiếpdân?” [20,10] Ông Hải kiến nghị: “Cần sớm có nghiên cứu toàn diện vàthay đổi cơ bản với đội ngũ cán bộ tư pháp cấp xã, phường, đặc biệt là nângcao chất lượng đội ngũ này…” [20,10]
Ở cấp xã, cán bộ tư pháp được coi là “đầu tàu” để thúc đẩy quá trìnhcải cách hành chính nhà nước Tuy nhiên, theo lãnh đạo Bộ tư pháp,cán bộ tư pháp xã, phường hiện tại chưa thực hiện hoặc chưa đủ khảnăng đảm đương thực hiện các công việc trên Lý do là những hạn chế
về chuyên môn nghiệp vụ và kiến thức Các cán bộ tư pháp xã hầu hếtkhông được đào tạo dài hạn mà chỉ qua các lớp tập huấn, kiến thức vànghiệp vụ còn chắp vá Cụ thể như “Tại Thanh Hoá, tính đến tháng3/2008, số lượng cán bộ tư pháp xã có 649 người; trong đó trình độchuyên môn đại học luật, cao đẳng luật chỉ có 44 người (chiếm 6,7%);trung cấp luật là 445 người (chiếm 70%); đại học, cao đẳng khác 22người (3,3%); vẫn còn 125 người có trình độ trung cấp khác (19%),
Trang 29chưa có chuyên ngành luật và 13 người chưa đào tạo, 104 người chưađược bồi dưỡng nghiệp vụ tư pháp” [20, 10]
* Tư pháp ở xã quá tải với công việc, ít người nhưng nhiều việc
Theo thống kê của Bộ Tư pháp, cán bộ tư pháp xã, phường, hiện tại có
12 đầu việc Trong đó, 2 việc mới được chuyển từ các cơ quan chuyêntrách là chứng thực các bản sao và thi hành án dân sự (án nhỏ, không quá
500 ngàn đồng) Ít người, nhiều việc, dẫn đến tình trạng công việc ứ đọng.Trong đó, việc thi hành án dân sự – một trong những việc mới của cán bộ
tư pháp hiện nay, thì tỷ lệ thi hành chỉ đạt chưa đến 45% số án cần thi hành.Cũng “theo thống kê của Bộ Tư pháp, mỗi xã, phường có 1 cán bộ tư pháp.Trong đợt khảo sát do Bộ Tư pháp tiến hành cuối năm 2007 tại 20% số xã,phường, thì công việc có nơi đã gấp 6-7 lần so với trước khi việc chứngthực, thi hành án chuyển về” [15]
Về thực trạng đội ngũ cán bộ tư pháp xã hiện nay, mới đây, Công ty
tư vấn Invest Consult Group đã tổ chức một đợt khảo sát, nghiên cứu độclập Theo khảo sát này thì công việc chính của cán bộ tư pháp xã,phường là: Đăng kí hộ tịch, chứng thực, hòa giải, giải quyết khiếu nại,
tố cáo, chứng thực bản sao, thi hành án dân sự, tham mưu giúp việc cho
Ủy Ban Nhân Dân trong việc ra các quyết định quản lý và xử lý côngviệc hàng ngày, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật Cũng theokhảo sát trên, hiện nay, gần như 100% cán bộ tư pháp xã là các tuyêntruyền viên pháp luật Dưới góc độ này, cán bộ tư pháp đã trở thành các
“chuyên gia” tư vấn pháp luật
Phó giám đốc Sở Tư pháp Hà Nội Phạm Xuân Phương cho biết, hiện tại
Sở đang phải điều động rất nhiều cán bộ xuống “nằm vùng” tại các xã,phường để giải quyết công việc “Rất nhiều công việc đòi hỏi phải có chuyênmôn cao, nhưng cán bộ tư pháp xã, phường không thể tự mình có thể giảiquyết được, nên Sở Tư pháp phải điều động cán bộ xuống đó giải quyết Mộtmặt là giải quyết những khó khăn trước mắt cho các xã, mặt khác cũng là hình
Trang 30thức tập huấn, tăng cường trình độ cho cán bộ tư pháp xã, phường…” [15].Cũng theo ông Phương, việc chuyển thi hành án, chứng thực về xã, phườngkhiến cán bộ tư pháp quá tải trong công việc Để giải quyết vấn đề này cầntăng cường đội ngũ cán bộ tư pháp xã, phường có trình độ, am hiểu về phápluật và quy trình giải quyết công việc Bên cạnh đó, cần có cơ chế đãi ngộ đểthu hút lao động có trình độ đại học về công tác tại xã, phường.
Quá tải công việc tư pháp cấp xã, cũng có nguyên nhân do người cán bộ
tư pháp chưa đáp ứng yêu cầu về trình độ, năng lực Hiện nay, số lượng côngchức tư pháp cấp xã chưa đạt chuẩn còn cao Đa số Cán bộ tư pháp - hộ tịch làngười làm việc lâu năm, có kinh nghiệm, chứ không phải là cán bộ đã qua đàotạo, có trình độ, bằng cấp chuyên môn Luật, dẫn đến việc họ không đủ nănglực, trình độ thực hiện nhiệm vụ được giao, gây tồn động công việc Tiếnhành rà soát nhiệm vụ, quyền hạn của tư pháp cấp xã; thực trạng đội ngũ côngchức tư pháp - hộ tịch cấp xã, từ đó tiếp tục củng cố, kiện toàn tạo bướcchuyển biến mạnh mẽ về tổ chức đội ngũ này Đó cũng là một trong nhiềugiải pháp làm cho công tác tư pháp cơ sở hoạt động mạnh hơn, góp phần thựchiện cải cách tư pháp trong cả nước đạt hiệu quả cao hơn
* Cán bộ tư pháp - hộ tịch cấp xã: công việc, công việc và công việc
Cán bộ tư pháp - hộ tịch cấp xã còn là người trực thuộc bộ phận mộtcửa, đảm nhận việc giải quyết hồ sơ hộ tịch, công chứng, chứng thực chongười dân Công chức tư pháp cấp xã còn có trách nhiệm phối hợp với các
cơ quan: Tòa án, Thanh tra, Công an, Thi hành án dân sự thực hiện một sốcông việc như: tống đạt giấy triệu tập đương sự, xác minh lý lịch, phối hợpthẩm tra tài sản để tiến hành thi hành án Với những phần việc như trên,trong khi chỉ có một biên chế Cán bộ tư pháp - hộ tịch cấp xã cấp xã khó cóthể hoàn thành được công việc
Ông Trịnh Minh Chấn - Trưởng phòng Tư pháp thành phố Bến Trecho biết: “Hiện nay, số đầu việc của Cán bộ tư pháp - hộ tịch cấp xã quánhiều (hơn 12 đầu việc) trong khi đó, hầu hết các phường chỉ có một cán
Trang 31bộ, nên khó đảm đương và hoàn thành tốt công việc theo đúng thời gianquy định” [5] Chẳng hạn như ở phường 2, là một phường trung tâm củathành phố Bến Tre, công tác công chứng, chứng thực đã quá tải Theo bàTrần Thị Kim So - Cán bộ tư pháp - hộ tịch cấp xã của phường, hàng ngày
có khoảng 70 đến 80 lượt người dân từ các phường khác đến đây yêu cầuchứng thực giấy tờ Vào thời gian chuẩn bị diễn ra kỳ thi tốt nghiệp trunghọc phổ thông, thi đại học và cao đẳng, số lượng người đến chứng thực cònđông hơn nữa Công việc ở bộ phận một cửa gần như chiếm hết giờ hànhchính, Cán bộ tư pháp - hộ tịch không còn thời gian để thực hiện các côngtác khác như: tuyên truyền phổ biến pháp luật, trợ giúp pháp lý, tổ chức hòagiải, Trong khi đó, tuyên truyền phổ biến pháp luật và hoạt động hòa giải
là hai nhiệm vụ khó, đòi hỏi người cán bộ vừa phải có trình độ kiến thứcpháp luật, vừa phải có thời gian, phải đi cơ sở nắm tình hình sự việc cầnhòa giải Hiện nay, ở cấp xã, Cán bộ tư pháp - hộ tịch thường phối hợp vớicác ban ngành đoàn thể địa phương tổ chức buổi tuyên truyền phổ biếnpháp luật, sinh hoạt câu lạc bộ pháp luật cho người dân vào ban đêm, đi cơ
sở nắm tình hình dân cư vào những ngày cuối tuần Nhưng đây cũng làphương cách tạm thời, không mang tính hiệu quả lâu dài Còn công tác ràsoát văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dâncấp xã ban hành, hầu như Cán bộ tư pháp - hộ tịch thực hiện không nhiều
và hiệu quả cũng chưa rõ rệt [5]
* Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật để nâng cao ý thức chấp
hành của các tầng lớp nhân dân
Nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về ý thức tôn trọng và chấp hànhpháp luật của cán bộ, nhân dân, ngày 12/3, Thủ tướng Chính phủ đã cóQuyết định số 37/2008/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phổ biến, giáo dụcpháp luật từ năm 2008 đến năm 2012 [1]
Mục tiêu cụ thể của Chương trình là đến hết năm 2012, từ 80-90%người dân trên toàn quốc được tuyên truyền pháp luật chung và các văn bản
Trang 32pháp luật chuyên ngành liên quan đến từng nhóm dân cư theo các địa bàn
và đối tượng khác nhau; 95% người sử dụng lao động được tuyên truyền,phổ biến các quy định pháp luật liên quan tới hoạt động của doanh nghiệp;70% người lao động được tuyên truyền, phổ biến pháp luật về quyền, nghĩa
vụ của công dân và người lao động; 95% thanh thiếu niên được tuyêntruyền, phổ biến, giáo dục pháp luật liên quan trực tiếp tới đối tượng này Chú trọng tuyên truyền pháp luật về hội nhập kinh tế quốc tế; thựchành tiết kiệm, chống lãng phí; an toàn giao thông
Chương trình tập trung tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật chosáu nhóm đối tượng gồm: Cán bộ, công chức, viên chức; người dân thànhphố, người dân nông thôn, đồng bào dân tộc thiểu số; cán bộ, chiến sĩ tronglực lượng vũ trang; thanh thiếu niên; người sử dụng lao động, người laođộng trong các doanh nghiệp; người nước ngoài ở Việt Nam và người ViệtNam ở nước ngoài
Nội dung pháp luật được lựa chọn tuyên truyền phù hợp với từng đốitượng, địa bàn Tập trung tuyên truyền văn bản pháp luật liên quan trực tiếp đếnđời sống cán bộ, nhân dân, trong đó, chú trọng tuyên truyền, phổ biến quy địnhpháp luật liên quan đến hội nhập kinh tế quốc tế; phòng, chống tham nhũng;thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; phòng, chống các tệ nạn xã hội; an toàngiao thông; vệ sinh an toàn thực phẩm; thực hiện quy chế dân chủ cơ sở
2.1.2 Thực trạng về cán bộ tư pháp xã qua khảo sát ở một số địa phương
a) Nghệ An với việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật ở huyện miền núi
Nghệ An hiện có 10/20 huyện miền núi, trong đó có 5 Huyện miền núicao, với các dân tộc Thái, Mông, Khơ Mú, Ơ Đu, Thổ, cùng sinh sống, sảnxuất Với đặc điểm địa hình phức tạp, chia cắt bởi núi rừng hiểm trở, giaothông đi lại khó khăn, kinh tế chậm phát triển, trình độ dân trí thấp, nhiều
hủ tục lạc hậu còn tồn tại Vì thế “các thế lực thù địch và bọn tội phạm hay
Trang 33lợi dụng tình hình này để hoạt động, làm ảnh hưởng đến an ninh chính trị,trật tự an toàn xã hội” [15].
Nắm rõ vai trò của việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luậttrong đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào vùng biên giới, trong thời gianqua, các cấp, các ngành trong tỉnh đã có nhiều hoạt động tích cực để phổbiến, giáo dục pháp luật cho nhân dân, góp phần nâng cao nhận thức chínhtrị, nâng cao hiểu biết xã hội, hiểu biết pháp luật, giúp đồng bào làm chủđược cuộc sống, sớm xây dựng kinh tế gia đình thoát khỏi đói nghèo, xâydựng và bảo vệ Tổ quốc
Nâng cao trình độ dân trí cho đồng bào dân tộc, đồng bào vùng biêngiới là một trong những mối quan tâm hàng đầu của các cấp, các ngànhhiện nay Theo số liệu của ngành Toà án, trong hàng ngàn vụ án được thụ
lý hàng năm, thì tỷ lệ các vụ án mà bị cáo là người ở các vùng miền núi,đồng bào các dân tộc thiểu số là rất lớn (trên 50%) Tuy nhiên, số vi phạmnày chủ yếu do bị lôi kéo, dụ dỗ, nhất là trong các đường dây buôn bán,vận chuyển ma tuý Chính vì vậy, việc nâng cao trình độ dân trí, đồng thờiphổ biến, giáo dục pháp sẽ là cách tốt nhất luật giúp cho đồng bào thựchiện đúng quy định của pháp luật
Trong thời gian qua, Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dụcpháp luật tỉnh, trong đó Sở Tư pháp đóng vai trò chủ trì đã phối hợp với cácngành, các cấp, thực hiện nhiều biện pháp, triển khai nhiều kế hoạch phổbiến, giáo dục pháp luật một cách rộng rãi trong mọi tầng lớp nhân dân.Đối với đồng bào dân tộc miền núi, vùng biên giới, nhiều hình thức đãđược lồng ghép để tuyên truyền đạt được hiệu quả cao nhất
Thông qua cơ quan tư pháp, các hình thức: mở hội nghị tập huấn phápluật; tổ chức trợ giúp pháp lý lưu động; in sao băng đĩa, tờ rơi, tờ gấp cónội dung pháp luật; tuyên truyền qua mạng lưới truyền thanh cơ sở; tổ chứccác cuộc thi tìm hiểu pháp luật; xây dựng các bảng tin, trạm tin ở các cụmdân cư Hai năm lại đây, đã có 15.000 buổi tuyên truyền đã được tiến hành,
Trang 34hơn 6.000 cuốn tập san đã được cấp phát phục vụ cho công tác tuyêntruyền Các huyện như: Quế Phong, Anh Sơn, Con Cuông, Tương Dương
đã tổ chức được các cuộc thi tìm hiểu pháp luật bằng thi hiểu biết hoặc sânkhấu hoá, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia
Phối hợp với Sở Tư pháp còn có các ngành cấp tỉnh tích cực triển khainhư: Sở Giáo dục Và Đào tạo đã mở các lớp tập huấn cho đội ngũ giáo viêngiảng dạy giáo dục công dân ở các huyện miền núi; Tỉnh đoàn phối hợp vớicác ngành chức năng mở hội nghị tập huấn cho đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở
10 huyện miền núi Ngoài ra, Sở Tư pháp đã biên soạn và phát hành hơn10.000 cuốn sổ tay pháp luật và hơn 22.000 tờ gấp có nội dung pháp luậtliên quan đến đời sống của người dân miền núi Các cơ quan thông tấn, báochí trên địa bàn tỉnh cũng đã xây dựng nhiều chuyên trang, chuyên mục đểtuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật Để công tác tuyên truyền phổbiến giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số, vùng biên giới đạtđược hiệu quả cao, có tác dụng sâu rộng, thì nhất thiết sự tuyên truyền đóphải gắn với thực tế trước mắt, không thể áp dụng một khuôn mẫu như đốivới các huyện miền xuôi
Có được kết quả như trên, trước hết là nhờ có sự quan tâm lãnh đạocủa lãnh đạo cấp tỉnh, huyện Trong thời gian qua, nhất là sau khi Phòng
Tư pháp được tái thành lập, cán bộ tư pháp cơ sở liên tục được tập huấnnghiệp vụ về công tác hoà giải, công tác tuyên truyền, xây dựng và banhành văn bản Phòng tư pháp thường xuyên kiểm tra gắn bó với xã, thịtrấn
Tuy vậy, công tác tư pháp xã, thị trấn trong những năm qua vẫn cònnhiều tồn tại, hạn chế Còn nhiều xã chưa xây dựng kế hoạch tuyên truyềnphổ biến giáo dục pháp luật, cả năm không tổ chức tập huấn một lớp nào.Mặc dù có kế hoạch của huyện giao cho triển khai tuyên truyền luật phòngchống tham nhũng, luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí nhưng vẫn còn
Trang 35chưa thực hiện; tủ sách pháp luật có nhưng số lượng đầu sách còn nghèonàn Khai sinh quá hạn còn nhiều, nhất là các xã vùng giáo, vùng biển.Trường hợp chết không khai tử còn khá phổ biến, còn vi phạm luật hônnhân và gia đình trong kết hôn ở một số xã.
Việc thực hiện Nghị định số 35 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội cònlúng túng trong cấp lại giấy khai sinh Việc cấp giấy khai sinh (bản sao)còn tuỳ tiện, cá biệt có xã còn sử dụng giấy khai sinh ngoài luồng Phần lớncác xã chưa miễn thu lệ phí đăng ký khai sinh cho hộ nghèo theo quy địnhtại Nghị định số 24/2006/NĐ-CP ngày 6/3/2006 của Chính phủ, chưa trích30% kinh phí lệ phí hộ tịch cho cán bộ tư pháp và các cá nhân có liên quan.Cán bộ tư pháp chưa kiểm tra, rà soát văn bản vi phạm pháp luật, chưa dámmạnh dạn thể hiện quan điểm đúng sai khi Hội đồng nhân dân và Ủy bannhân dân xã ban hành văn bản trái thẩm quyền, việc chứng thực của Ủy bannhân dân xã còn sai thẩm quyền - có cán bộ tư pháp tự ý bỏ việc 45 ngày,tham mưu trái pháp luật trong việc cải chính hộ tịch Một số cán bộ tư pháp
xã, thị trấn chưa đầu tư khi nghiên cứu, học tập thêm, chưa nhiệt tình côngtác, ý thức kỷ luật kém Về khách quan, cán bộ tư pháp được giao nhiềuviệc như phó công an hộ khẩu, thư ký tiếp dân cần phải phối hợp thực hiệncũng như tích cực kiểm tra, đôn đốc đối với việc thực hiện công tác tuyêntruyền Kết hợp tuyên truyền với thực hiện tốt quy chế dân chủ ở địaphương, để người dân thật sự tin và làm theo
b) Tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật về biển - đảo cho cán
bộ, nhân dân vùng biển ở Thanh Hóa
Thanh Hóa có 6 huyện, thị xã vùng biển với 47 xã, 401 thôn, làng,khối phố ven biển, dân số 411.659 người “Khu vực này, lao động chủ yếulàm nghề khai thác, đánh bắt thủy sản, trình độ dân trí còn hạn chế, nhất là
số lượng thuyền trưởng, máy trưởng không được cấp giấy phép, khôngđược cấp bằng chuyên môn chiếm tỷ lệ cao” [2]
Trang 36Bên cạnh đó, số cán bộ, công chức cấp xã, phường, thôn, khối phốchưa qua đào tạo còn nhiều Hơn nữa, trong những năm qua công tác phổbiến, giáo dục pháp luật ở các xã, phường ven biển chưa được chú trọng,
do đó nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật của đội ngũ cán bộ cấp xã
và nhân dân còn hạn chế Xuất phát từ thực trạng trên, Ủy Ban nhân dântỉnh đã xây dựng và triển khai Đề án “Nâng cao nhận thức pháp luật chocán bộ, nhân dân các xã, phường ven biển” [2] Đề án được triển khai trong
4 năm (từ 2006 - 2010)
Ngay sau khi đề án được ban hành, Sở Tư pháp đã chủ động phối hợpvới các ngành Thủy sản, Bộ đội Biên phòng, hội nông dân, hội phụ nữ thực hiện nhiều chương trình, kế hoạch đẩy mạnh công tác tuyên truyền,phổ biến, giáo dục pháp luật đến các xã, phường vùng biển bằng các hìnhthức đa dạng như: Mở các lớp tập huấn pháp luật, tuyên truyền qua hệthống loa truyền thanh, panô, thông qua các buổi sinh hoạt câu lạc bộ phápluật, tủ sách pháp luật, các hội thi tìm hiểu pháp luật Căn cứ vào đề án,ban chỉ đạo thực hiện đề án đã phân nhóm để xác định đối tượng, lựa chọncác văn bản pháp luật phù hợp để tuyên truyền tới cán bộ nòng cốt cấpthôn, khu phố và nhân dân Nội dung tuyên truyền tập trung vào các quyđịnh về bảo đảm an ninh chủ quyền vùng biển; các hiệp định phân địa lãnhhải; vùng đặc quyền kinh tế về thềm lục địa Vịnh Bắc bộ giữa Việt Nam vàTrung Quốc; Hiệp định nghề cá Việt Nam - Trung Quốc và các văn bảnpháp luật về hoạt động khai thác thủy sản
Ngành Tư pháp tỉnh cũng đã đầu tư, trang bị hàng trăm tủ sách phápluật cho các thôn, khối phố Một số huyện còn trích ngân sách xây dựngthêm nhiều tủ sách pháp luật như Hậu Lộc, Hoằng Hóa Các tủ sách phápluật đã được cán bộ, nhân dân đến tìm đọc, tham khảo ngày càng nhiều.Bên cạnh đó, nhiều địa phương quan tâm xây dựng các câu lạc bộ pháp luật
- đây là một loại hình tuyên truyền hiệu quả, đáp ứng nhu cầu tìm hiểu
Trang 37pháp luật của nhân dân Sở Tư pháp đã phối hợp với các cơ quan hữu quanbiên soạn hơn 10.000 cuốn tài liệu pháp luật, 50.000 tờ gấp pháp luật phátcho cán bộ, nhân dân các xã, phường ven biển và các đối tượng là chủ tàu,lái tàu Tài liệu, tờ gấp được biên soạn ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu, có nộidung liên quan đến hoạt động của các cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị
xã hội như: tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân,
tư pháp cấp xã; nghiệp vụ đăng ký quản lý hộ tịch; công chứng chứng thực;Quy chế dân chủ ở cơ sở; Luật Khiếu nại tố cáo; Luật Đất đai; Luật Biểnđảo; các Quy định pháp luật về nuôi trồng, đánh bắt thủy sản
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác triển khai thực hiện đề
án vẫn còn những hạn chế như ở một số địa phương, vai trò của cấp ủyĐảng, chính quyền chưa thực sự coi trọng nhiệm vụ phổ biến, giáo dụcpháp luật, dẫn đến chất lượng tuyên truyền còn hời hợt, chưa sâu; nhiềuvăn bản pháp luật ảnh hưởng đến đời sống và sản xuất hàng ngày nhưngnhiều người dân vùng biển chưa biết đến hoặc nắm chưa vững
Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về biển đảonhằm nâng cao kiến thức pháp luật và ý thức chấp hành pháp luật cho nhândân, góp phần ổn định chính trị, an toàn xã hội, thúc đẩy kinh tế - xã hội ởvùng biển phát triển
C) Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật ở Yên Bái
Những năm qua, công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luậttrên địa bàn tỉnh Yên Bái đã đạt được nhiều kết quả khả quan, góp phầnnâng cao nhận thức, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật cho cán bộ vànhân dân Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, công tác này bộc lộ nhiều hạnchế cần sớm được khắc phục kịp thời để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ tronggiai đoạn hiện nay
Một trong những yếu tố quan trọng trong công tác tuyên truyền phổbiến giáo dục pháp luật, đó là đội ngũ những người tham gia vào hoạt động