Trong luật dân sự, ủy thác là hành vi pháp lý được thực hiện dưới hình thức văn bản - hợp đồng ủy thác, theo đó bên được ủy thác, còn gọi bên nhận làm đại lý được nhân danh và được bên ủ
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU TẠI KON TUM
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU TẠI KON TUM
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN : TRẦN VĂN SƠN
Kon Tum, ngày 24 tháng 8 năm 2017
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài: 1
2 Mục tiêu nghiên cứu: 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 2
4 Phương pháp nghiên cứu: 2
5 Bố cục đề tài: 2
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ HOẠT ĐỘNG ỦY THÁC MUA BÁN HÀNG HÓA 3
1.1.NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN 3
1.2.HOẠT ĐỘNG ỦY THÁC MUA BÁN HÀNG HÓA 5
1.3 CÁC YẾU TỐ PHÁP LÝ VỀ HOẠT ĐỘNG ỦY THÁC MUA BÁN HÀNG HÓA 7
1.3.1 Chủ thể 7
1.3.2 Đối tượng của hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa 8
1.3.3 Nội dung của hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa 8
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ỦY THÁC MUA BÁN HÀNG HÓA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KON TUM 11
2.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH MUA BÁN HÀNG HÓA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH11 2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ỦY THÁC MUA BÁN HÀNG HÓA TRÊN ĐỊA BÀN 15
2.3 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ TRONG ỦY THÁC MUA BÁN HÀNG HÓA TRÊN ĐỊA BÀN 21
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ VỀ HOẠT ĐỘNG ỦY THÁC MUA BÁN HÀNG HÓA TRÊN ĐỊA BÀN TRONG THỜI GIAN ĐẾN 23
3.1 NHỮNG CĂN CỨ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 23
3.2 GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ 23
TÀI LIỆU THAM KHẢO 28
Trang 4Ủy thác mua bán hàng hóa có lịch sử hình thành từ khá sớm, khởi nguồn là ủy thác trong thương mại hàng hải Khoảng thế kỷ XIII, do nhu cầu của việc mở rộng quy mô và cường độ buôn bán hàng hoá của thương nhân từ nước này sang nước khác qua đường biển, thương nhân thay vì theo hàng hoá giao tại cảng đến, họ ủy thác cho các thương nhân khác thực hiện công việc đó thay mình và trả thù lao
Ở Việt Nam, trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung, ủy thác khẳng định vai trò và ý nghĩa của nó chủ yếu trong hoạt động xuất nhập khẩu Hiện nay, ủy thác được tìm thấy trong nhiều lĩnh vực thương mại và là giải pháp lý tưởng cho các thương nhân không muốn mất chi phí vào việc mua bán hàng hóa hay đầu tư mà không đem lại hiệu quả
Như vậy, ủy thác đặt ra khi một người hay một tổ chức, pháp nhân không có đủ điều kiện cần thiết (năng lực pháp lý, khả năng tài chính, nguồn nhân lực ) để thực hiện một số hoạt động thương mại, họ cần một thương nhân có năng lực thực tế, sự chuyên nghiệp và hiệu quả để thay họ làm việc đó
Các quy định pháp luật về hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa có thể coi là hành lang pháp lý cần thiết cho các giao dịch ủy thác mua bán hàng hóa được đảm bảo thực hiện trong thực tiễn Tuy nhiên, chế định này chưa được quy định tương xứng với vị trí, vai trò của nó và đòi hỏi của thực tiễn kinh doanh, khi được thực hiện nó còn bộc lộ nhiều hạn chế như: Mâu thuẫn giữa quy định của Luật Thương mại và Bộ luật Dân sự, phạm vi ủy thác giới hạn, thiếu nhiều quy định cần thiết liên quan đến phân chia lợi nhuận chênh lệch phát sinh từ hoạt động ủy thác hay xử lý hàng hoá ủy thác không được tiếp nhận Quá trình nghiên cứu, khảo sát các bản án, quyết định của Tòa án và Trọng tài Quốc tế Việt Nam trong những năm qua cho thấy, có nhiều tranh chấp về hợp đồng
ủy thác mua bán hàng hóa trong đó có nguyên nhân từ những hạn chế này Những bất cập của pháp luật thực định và thực trạng thực thi pháp luật về hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa tại tỉnh Kon Tum cho thấy, sự đòi hỏi khách quan phải hoàn thiện môi trường kinh doanh ở Việt Nam nói chung và tỉnh Kon Tum nói riêng mang tính toàn diện
và đa chiều, trong đó có pháp luật thực định
Do đó, việc chọn đề tài “Các vấn đề pháp lý của hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa tại địa bàn tỉnh Kon Tum – Thực trạng và kiến nghị” làm đề tài báo cáo tốt nghiệp là cần thiết
2 Mục tiêu nghiên cứu:
Trang 52
Đề tài nghiên cứu làm sáng tỏ các quy định pháp lý về hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa Đồng thời, phân tích, đánh giá, nhìn nhận thực trạng hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa tại tỉnh Kon Tum Trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp, kiến nghị góp phần hoàn thiện chính sách pháp luật của Nhà nước về vấn đề pháp lý của hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa tại địa bàn tỉnh Kon Tum
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu về vấn đề pháp lý của hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu về hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa
Phạm vi về không gian: Nghiên cứu thực tiễn về hoạt động hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa tại tỉnh Kon Tum
Phạm vi thời gian: Giới hạn trong Luật Thương mại hiện hành
4 Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, về chiến lược cải cách tư pháp trong thời gian tới Đồng thời, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu luật học cụ thể như: Tổng kết kinh nghiệm, chuyên gia, thống kê, phân tích so sánh và một số phương pháp nghiên cứu cụ thể khác
5 Bố cục đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, bài báo cáo gồm 03 chương:
Trang 6
3
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ HOẠT ĐỘNG ỦY THÁC MUA BÁN HÀNG HÓA 1.1.NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN
Khái niệm về ủy thác
Ủy thác là việc giao cho cá nhân, pháp nhân - bên được ủy thác, nhân danh người
ủy thác để làm một việc nhất định mà người ủy thác không thể làm trực tiếp hoặc không
muốn làm
Trong luật dân sự, ủy thác là hành vi pháp lý được thực hiện dưới hình thức văn bản - hợp đồng ủy thác, theo đó bên được ủy thác, còn gọi bên nhận làm đại lý được nhân danh và được bên ủy thác, bên giao làm đại lý trả tiền chi phí hoặc được trích trả một số tỷ lệ % tiền thu được để làm một số việc hoặc mua, bán một số hàng hóa nhất định Bên được ủy thác chỉ được làm và chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi được ủy thác Nếu bên được ủy thác hoạt động vượt khỏi phạm vi ủy thác thì phải tự chịu trách nhiệm Hợp đồng ủy thác phải ghi rõ đầy đủ họ, tên, địa chỉ, trụ sở, tài khoản nếu là pháp nhân, phạm vi, nội dung ủy thác, quyền, quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên
và do các người có đủ thẩm quyền ký kết vào hợp đồng
Khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa
Theo quy định tại khoản 8 Điều 3 Luật thương mại năm 2005 thì “Mua bán hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thỏa thuận”
Hợp đồng mua bán hàng hóa có bản chất chung của hợp đồng, nó là sự thỏa thuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ mua bán Luật thương mại không đưa ra định nghĩa về hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại, nhưng có thể dựa vào khái niệm hợp đồng mua bán tài sản trong Bộ luật dân sự để xác định bản chất của hợp đồng mua bán hàng hóa Theo Bộ luật dân sự 2015, hợp đồng mua bán hàng hoá là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hoá cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thoả thuận Hàng hóa được hiểu là động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai, và các vật gắn liền với đất Như vậy, hàng hóa thuộc tài sản và có phạm vi hẹp hơn tài sản Từ đó cho thấy, hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại là một dạng cụ thể của hợp đồng mua bán tài sản Điểm phân biệt giữa hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại và hợp đồng mua bán tài sản khác là: đối tượng hàng hóa và mục đích sinh lời
Quan hệ mua bán hàng hoá được xác lập và thực hiện thông qua hình thức pháp lý
là hợp đồng mua bán hàng hoá, một dạng riêng của hợp đồng mua bán tài sản trong giao lưu dân sự
Khái niệm về ủy thác mua bán hàng hóa
Trang 74
Trên thế giới, các hoạt động trung gian thương mại đã xuất hiện từ lâu, do nhu cầu của việc mở rộng quy mô và cường độ buôn bán hàng hoá của thương nhân Có thể nói, khởi nguồn của việc sử dụng hoạt động trung gian này bắt nguồn từ thời kỳ mà việc vận chuyển hàng hoá từ nước này sang nước khác bắt đầu được thực hiện bằng đường biển (khoảng thế kỷ XIII) Các thương nhân, thay vì theo hàng hoá giao tại cảng đến, họ uỷ thác cho thương nhân khác thực hiện công việc đó thay mình và trả thù lao Đó là khởi nguồn của việc sử dụng uỷ thác trong thương mại
Cùng với sự phát triển của thương mại toàn cầu, đặc biệt từ nửa sau thế kỷ XIX, khi các quan hệ quốc tế gia tăng đáng kể thì uỷ thác trong thương mại, đặc biệt uỷ thác mua bán hàng hoá hay xuất nhập khẩu và một số hoạt động trung gian khác càng trở nên
có ý nghĩa
Đến nay, ở hầu hết các nước đều tồn tại các hoạt động thương mại qua trung gian, trong đó có uỷ thác (đại diện) mua bán hàng hoá Ở Việt Nam, uỷ thác là hoạt động thương mại qua trung gian được lưu ý sớm nhất
Trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hoá tập trung, uỷ thác thương mại chủ yếu tồn tại trong khu vực kinh tế có yếu tố nước ngoài Các khu vực kinh tế khác, hoạt động này chưa có điều kiện để hình thành Thời kỳ này, một số văn bản pháp luật của Bộ ngoại thương (sau này là Bộ Thương Mại) dưới hình thức Thông tư, được ban hành để điều chỉnh các hoạt động uỷ thác xuất nhập khẩu và đặt đại lý mua bán hàng hoá ở nước ngoài
Khi đất nước tiếp nhận nền kinh tế thị trường, trước những đòi hỏi bức thiết của việc sử dụng các hoạt động thương mại qua trung gian, Luật thương mại 1997 ra đời, có những quy định cơ bản về hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa và một số hoạt động trung gian thương mại khác như đại lý mua bán hàng hoá, môi giới thương mại, đại diện cho thương nhân Sau hơn bảy năm thi hành, Luật thương mại năm 1997 bộc lộ nhiều bất cập cần phải sửa đổi, bổ sung, tạo điều kiện thúc đẩy phát triển thương mại trong nước
và quốc tế
Bản chất của ủy thác mua bán hàng hóa là một quan hệ hợp đồng, trở lại với nguồn gốc ban đầu của hợp đồng, đó là sự xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền, nghĩa vụ pháp lý Cụ thể trong quan hệ này là các quyền, nghĩa vụ liên quan đến công việc mua bán hàng hóa, được tiến hành trên cơ sở thoả thuận uỷ thác giữa hai bên, bên uỷ thác và bên nhận uỷ thác
Theo quy định tại Điều 155 Luật Thương mại, uỷ thác mua bán hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó bên nhận uỷ thác thực hiện việc mua bán hàng hoá với danh nghĩa của mình theo những điều kiện đã thoả thuận với bên uỷ thác và được nhận thù lao
Trang 85
thuận giữa các bên trong đó bên nhận uỷ thác thực hiện việc mua bán hàng hoá với danh nghĩa của mình theo những điều kiện được thoả thuận với bên uỷ thác và bên ủy thác có nghĩa vụ trả thù lao cho việc ủy thác của bên được ủy thác
Như vậy, uỷ thác mua bán hàng hoá theo quy định tại Luật Thương mại là hoạt động thương mại mà theo đó bên nhận uỷ thác - là thương nhân - thực hiện việc mua bán hàng hoá với danh nghĩa của mình theo những điều kiện đã thỏa thuận với bên uỷ thác và được nhận thù lao ủy thác thông qua hình thức hợp đồng bằng văn bản là chủ yếu Về bản chất, hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa có thể được xem là một giao dịch dân sự đặc thù liên quan đến việc mua bán hàng hóa
1.2.HOẠT ĐỘNG ỦY THÁC MUA BÁN HÀNG HÓA
Luật thương mại không đưa ra định nghĩa về hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa, song với biểu hiện đầy đủ các yếu tố của một hợp đồng dịch vụ, hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa được hiểu là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên nhận uỷ thác thực hiện công việc mua bán hàng hoá với danh nghĩa của mình theo những điều kiện đã thoả thuận với bên uỷ thác và được nhận thù lao uỷ thác
Hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa được xác lập trên cơ sở có đề nghị giao kết và
có chấp nhận đề nghị giao kết hay thoả thuận được tạo ra và xác định bởi nghĩa vụ về công việc mua, bán hàng hoá có điều kiện giữa bên uỷ thác và bên nhận uỷ thác
Như vậy, Hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa mang bản chất của hợp đồng dịch
vụ nhưng chứa đựng trong đó các dấu hiệu của hợp đồng uỷ quyền
Hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa mang bản chất của hợp đồng dịch vụ hay Hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa là hợp đồng dịch vụ dân sự trong thương mại Về phương diện chủ thể, bên nhận uỷ thác, thực thể cung ứng dịch vụ thương mại chuyên nghiệp được thuê thực hiện công việc mua bán hàng hoá, nhân danh chính mình cho bên thuê và được trả thù lao theo thoả thuận
Về đối tượng, công việc mua bán hàng hóa là đối tượng đặc thù của dịch vụ dân sự trong thương mại
Về nội dung, Hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa chứa đựng các điều khoản của hợp đồng dịch vụ, thoả thuận về công việc phải làm, thời hạn, thù lao
Yếu tố uỷ quyền được thể hiện ở nghĩa vụ thực hiện công việc của người thụ uỷ trong phạm vi được uỷ quyền và được nhận thù lao theo thoả thuận Tuy nhiên, uỷ thác không đồng nhất với uỷ quyền Về bản chất của hành vi, uỷ quyền trong dân sự là hành
vi giao cho người khác sử dụng một số quyền mà pháp luật đã trao cho mình; uỷ thác trong mua bán hàng hóa là hành vi giao cho người khác làm thay công việc mua bán hàng hóa cho mình Do đó, về tư cách chủ thể khi thực hiện hành vi, bên được uỷ quyền thực hiện công việc được uỷ quyền nhân danh bên uỷ quyền; bên nhận uỷ thác thực hiện công việc được uỷ thác nhân danh chính mình
Về phạm vi, bên được uỷ quyền có thể được uỷ quyền thực hiện một hoặc nhiều hành vi thương mại trong khi ủy thác mua bán hàng hóa mang tính vụ việc, thu hẹp trong lĩnh vực mua bán hàng hóa Về năng lực pháp lý, bên được uỷ quyền có thể là cá nhân,
Trang 96
thương nhân hay tổ chức, tuỳ thuộc vào hành vi được uỷ quyền; bên nhận uỷ thác phải là thương nhân, đặc biệt phải có giấy phép kinh doanh phù hợp với hàng hoá được uỷ thác mua bán Như vậy, uỷ thác có dấu hiệu của uỷ quyền dân sự nhưng không phải uỷ quyền dân sự trong thương mại
Đối với hợp đồng mua bán hàng hóa thông thường, hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa cũng có những điểm tương đồng và khác biệt Về bản chất, quan hệ hoạt động
ủy thác mua bán hàng hóa là quan hệ ba bên, sử dụng dịch vụ trung gian thương mại; quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa là quan hệ mua bán trực tiếp Về phương diện chủ thể, bất kỳ cá nhân, thương nhân hay tổ chức cũng có thể trở thành chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa trong khi hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa có yêu cầu đặc thù đối với năng lực chủ thể của bên nhận uỷ thác
Về hình thức, hợp đồng mua bán hàng hóa có thể được thể hiện dưới bất kỳ hình thức nào trong khi hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa bắt buộc về hình thức Tuy nhiên, chúng có điểm tương đồng đáng lưu ý, cùng hướng đến mua bán hàng hóa Điều này dẫn đến trong hợp đồng có nhiều điều khoản quy định tương tự nhau, chẳng hạn: chủng loại hàng hoá, số lượng, chất lượng, quy cách, giá, địa điểm, phương thức, thời hạn giao hàng
Như vậy, hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa, hợp đồng ủy quyền và hợp đồng dịch vụ cùng có chung đặc điểm là sử dụng trung gian trong thực hiện các quyền, nghĩa
vụ pháp lý Điểm khác biệt thể hiện trên phương diện bản chất hợp đồng, các yếu tố chủ thể, đối tượng và hình thức Hợp đồng mua bán hàng hóa không được xếp vào nhóm các hợp đồng trên, bởi đây là quan hệ mua bán trực tiếp giữa các bên giao kết hợp đồng, không sử dụng yếu tố trung gian Tuy nhiên, giữa hợp đồng mua bán hàng hóa và hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa có chung nhiều điều khoản, việc phân biệt các loại hợp đồng này trong mối liên hệ với hợp đồng ủy quyền và hợp đồng dịch vụ có ý nghĩa quan trọng trên cả phương diện lý luận và thực tiễn
Bất kỳ chủ thể nào cũng có thể tự mình thực hiện hành vi mua bán hàng hóa thông thường Tuy nhiên, ở những điều kiện nhất định, do hạn chế về khả năng tự nhiên hoặc khả năng pháp lý, các chủ thể không thể thực hiện được hành vi đó, họ phải thông qua thực thể có khả năng thực hiện hành vi này Do vậy đòi hỏi tất yếu phải có uỷ thác
Ủy thác mua bán hàng hóa mang bản chất của uỷ quyền nhưng không đồng nhất với uỷ quyền bởi bên nhận uỷ thác không nhân danh người chủ uỷ quyền và vì thế không phải uỷ quyền dân sự trong thương mại Hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa là một dạng đặc thù của hợp đồng dịch vụ bởi nó đáp ứng tất cả các yêu cầu của một hợp đồng dịch vụ, bên thuê dịch vụ thuê bên trung gian cung cấp dịch vụ chuyên nghiệp nhân danh chính mình thực hiện công việc có thù lao
Các nước theo hệ thống thông luật không có quy định riêng biệt về hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa, các quy định liên quan đến việc sử dụng dịch vụ trung gian thương mại áp dụng Luật về hợp đồng và Luật về đại diện thương mại
Theo đó hoạt động đại diện thương mại được hiểu là người đại diện (thụ uỷ) tiến hành các hoạt động thương mại (trong phạm vi uỷ quyền) nhân danh người giao đại diện
Trang 107
(chủ uỷ) hay nhân danh chính mình, vì lợi ích của người giao đại diện, thông qua thoả thuận, được tạo ra và xác định bởi các nghĩa vụ giữa các bên
Như vậy, pháp luật các nước theo hệ thống thông luật không có sự tách bạch giữa
uỷ thác và đại diện thương mại Tất cả các hoạt động uỷ quyền thương mại thông qua bên trung gian được xác định là hoạt động đại diện
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, bên trung gian thương mại, bất kể trong hoạt động đại diện cho thương nhân, môi giới, đại lý hay uỷ thác mua bán hàng hoá, đều phải là thương nhân; đặc biệt đối với hoạt động uỷ thác mua bán hàng hoá, bên nhận uỷ thác còn phải đáp ứng yêu cầu đặc thù, kinh doanh mặt hàng phù hợp với hàng hoá được
uỷ thác
Nội dung của hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa bao gồm việc giao kết, thực hiện hợp đồng ủy thác giữa bên ủy thác và bên nhận ủy thác và giao kết, thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa giữa bên nhận ủy thác với bên thứ ba theo yêu cầu của bên ủy thác Có thể thấy rằng, hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa có điểm giống với hợp đồng đại diện cho thương nhân Đó là bên nhận ủy thác trong hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa cũng được bên ủy thác ủy quyền thực hiện hoạt động thương mại thế nhưng hoạt động thương mại này lại được giới hạn trong phạm vi thực hiện hoạt động mua bán hàng hóa cụ thể nào đó với bên thứ ba
Mặc dù trong quan hệ ủy thác mua bán hàng hóa, bên ủy thác cũng thực hiện hoạt động mua bán hàng hóa theo sự ủy quyền và lợi ích của bên ủy thác đề lấy thù lao nhưng khi giao dịch với bên thứ ba, không giống như trong quan hệ đại diện cho thương nhân, bên ủy thác sẽ nhân danh chính mình để thực hiện giao dịch Có nghĩa là, những hành vi bên nhận úy thác đã thực hiện trong giao dịch sẽ mang lại hậu quả pháp lý cho chính bên này chứ không phải cho bên ủy thác
Đối tượng của hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa là công việc mua bán hàng hóa
do bên nhận ủy thác tiến hành theo sự ủy quyền của bên ủy thác Hàng hóa được mua bán theo yêu cầu của bên ủy thác là đối tượng của hợp đồng mua bán giao kết giữa bên nhận ủy thác với bên thứ ba chứ không phải là đối tượng của hợp đồng ủy thác
1.3 CÁC YẾU TỐ PHÁP LÝ VỀ HOẠT ĐỘNG ỦY THÁC MUA BÁN HÀNG HÓA
không nhất thiết phải là thương nhân giao cho bên nhận ủy thác thực hiện mua bán hàng hóa theo yêu cầu của mình và phải trả thù lao
Bên uỷ thác không nhất thiết phải có tư cách thương nhân, đó có thể là cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có nhu cầu ủy thác mua bán hàng hóa đều có thể trở thành người chủ
Trang 118
uỷ Trong thực tiễn, một cá nhân có thể uỷ thác cho một thương nhân bán sản phẩm, tác phẩm của mình Ví dụ: Thợ thủ công, nghệ nhân uỷ thác cho thương nhân có cửa hàng, cửa hiệu bán sản phẩm; người có đồ cũ, đồ cổ nhờ bán ký gửi
Bên nhận uỷ thác, là bên thực hiện công việc được uỷ thác có thù lao Luật thương mại quy định cụ thể, bên nhận uỷ thác là thương nhân kinh doanh mặt hàng phù hợp với hàng hoá được uỷ thác và thực hiện việc mua bán hàng hóa theo những điều kiện đã thoả thuận với bên uỷ thác Thương nhân nhận uỷ thác có thể nhận ủy thác mua bán hàng hóa cho nhiều bên uỷ thác khác nhau (Điều 161 Luật thương mại)
Như vậy, để trở thành thương nhân nhận uỷ thác hợp pháp, một thực thể phải đáp ứng hai điều kiện: điều kiện thứ nhất, phải là thương nhân; điều kiện thứ hai, kinh doanh mặt hàng phù hợp với hàng hoá được uỷ thác
Theo quy định trên, bên nhận ủy thác bắt buộc phải là thương nhân, đáp ứng các điều kiện để có tư cách thương nhân theo quy định tại Điều 6 Luật thương mại 2005:
"Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh"
1.3.2 Đối tượng của hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa
Theo quy định Bộ luật dân sự, hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa là một loại hợp đồng dịch vụ, do vậy đối tượng của Hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa là công việc mua bán hàng hóa do bên nhận uỷ thác tiến hành theo sự uỷ quyền của bên uỷ thác Hàng hóa được mua bán theo yêu cầu của bên ủy thác là đối tượng của hợp đồng mua bán giao kết giữa bên nhận ủy thác với bên thứ ba chứ không phải là đối tượng của hợp đồng ủy thác
Loại hàng hoá cụ thể được mua, bán theo yêu cầu của bên uỷ thác là đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa giữa bên nhận uỷ thác và bên thứ ba
1.3.3 Nội dung của hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa
Nội dung của hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa bao gồm việc giao kết, thực hiện hợp đồng ủy thác giữa bên ủy thác và bên nhận ủy thác và giao kết, thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa giữa bên nhận ủy thác với bên thứ ba theo yêu cầu của bên ủy thác Có thể thấy rằng, hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa có điểm giống với hợp đồng đại diện cho thương nhân Đó là bên nhận ủy thác trong hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa cũng được bên ủy thác ủy quyền thực hiện hoạt động thương mại thế nhưng hoạt động thương mại này lại được giới hạn trong phạm vi thực hiện hoạt động mua bán hàng hóa cụ thể nào đó với bên thứ ba
Mặc dù trong quan hệ ủy thác mua bán hàng hóa, bên ủy thác cũng thực hiện hoạt động mua bán hàng hóa theo sự ủy quyền và lợi ích của bên ủy thác đề lấy thù lao nhưng khi giao dịch với bên thứ ba, không giống như trong quan hệ đại diện cho thương nhân, bên ủy thác sẽ nhân danh chính mình để thực hiện giao dịch Có nghĩa là, những hành vi bên nhận úy thác đã thực hiện trong giao dịch sẽ mang lại hậu quả pháp lý cho chính bên này chứ không phải cho bên ủy thác
Trang 129
Bên uỷ thác và bên nhận uỷ thác thoả thuận với nhau về nội dung uỷ thác mua bán hàng hoá và thoả thuận giữa các bên phải được thể hiện bằng văn bản (hợp đồng uỷ thác) Nội dung uỷ thác không được trái với quy định của pháp luật
Bên nhận uỷ thác không được uỷ thác lại cho bên thứ ba thực hiện hợp đồng uỷ thác mua bán hàng hoá đã ký, trừ trường hợp có sự chấp thuận bằng văn bản của bên uỷ thác Các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo thoả thuận và theo quy định tại các Điều 162, 163, 164 và 165 Luật thương mại 2005
Khi thực hiện công việc mua bán hàng hoá theo nội dung uỷ thác, bên nhận uỷ thác nhân danh chính mình trong quan hệ với người thứ ba Hợp đồng mua bán hàng hóa được ký kết giữa bên nhận ủy thác với khách hàng mang lại nghĩa vụ pháp lý cho bên nhận ủy thác, kể cả trong trường hợp khi ký hợp đồng bên nhận ủy thác nêu danh bên ủy thác hay khi bên ủy thác trực tiếp thực hiện một số nghĩa vụ hợp đồng Bên uỷ thác chỉ phải liên đới chịu trách nhiệm với người thứ ba khi bên nhận uỷ thác vi phạm pháp luật
mà nguyên nhân do bên uỷ thác gây ra hoặc do các bên cố ý làm trái pháp luật
Các quyền, nghĩa vụ cụ thể của mỗi bên được quy định trong Luật thương mại như sau:
Quyền và nghĩa vụ của bên nhận ủy thác
Nghĩa vụ của bên nhận ủy thác (theo Điều 165 LTM 2005)
Thực hiện mua bán hàng hoá theo thỏa thuận;
Thông báo cho bên uỷ thác về các vấn đề có liên quan đến việc thực hiện hợp đồng
uỷ thác Thực hiện các chỉ dẫn của bên uỷ thác phù hợp với thoả thuận
Bảo quản tài sản, tài liệu được giao để thực hiện hợp đồng uỷ thác
Giữ bí mật về những thông tin có liên quan đến việc thực hiện hợp đồng uỷ thác Giao tiền, giao hàng theo đúng thoả thuận
Liên đới chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm pháp luật của bên ủy thác, nếu nguyên nhân của hành vi vi phạm pháp luật đó có một phần do lỗi của mình gây ra Quyền của bên nhận ủy thác (theo Điều 164 LTM 2005)
Yêu cầu bên uỷ thác cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết cho việc thực hiện hợp đồng uỷ thác
Nhận thù lao uỷ thác và các chi phí hợp lý khác
Không chịu trách nhiệm về hàng hoá được bàn giao đúng thoả thuận cho bên uỷ thác
Quyền và nghĩa vụ của bên ủy thác
Nghĩa vụ của bên ủy thác (theo Điều 163 LTM 2005)
Cung cấp thông tin, tài liệu và phương tiện cần thiết cho việc thực hiện hợp đồng
uỷ thác
Trang 1310
Trả thù lao uỷ thác và các chi phí hợp lý khác cho bên nhận ủy thác
Giao tiền, giao hàng theo đúng thoả thuận
Liên đới chịu trách nhiệm trong trường hợp bên nhận uỷ thác vi phạm pháp luật mà nguyên nhân do bên uỷ thác gây ra hoặc do các bên cố ý làm trái pháp luật
Quyền của bên ủy thác (theo Điều 162 LTM 2005)
Yêu cầu bên nhận uỷ thác thông báo đầy đủ về tình hình thực hiện hợp đồng uỷ thác
Không chịu trách nhiệm trong trường hợp bên nhận ủy thác vi phạm pháp luật, trừ trường hợp bên nhận ủy thác gây ra hoặc do các bên cố ý làm trái pháp luật
Vì vậy, để phòng ngừa thiệt hại phát sinh, các bên khi soạn thảo hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa nên có điều khoản ràng buộc trách nhiệm của bên nhận ủy thác trong trường hợp bên này nhận ủy thác mua bán hàng hóa của nhiều bên ủy thác khác nhau đối với cùng một loại hàng hóa
Trang 14
11
CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ỦY THÁC MUA BÁN HÀNG HÓA TRÊN ĐỊA
BÀN TỈNH KON TUM 2.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH MUA BÁN HÀNG HÓA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
Trong 6 tháng đầu năm 2017, tình hình kinh tế - xã hội của cả nước nói chung và của tỉnh ta nói riêng đã có những phát triển đáng kể Tuy vậy, vẫn còn nhiều khó khăn thách thức như: Hiện tượng El Nino gây ra hạn hán tại các tỉnh Tây Nguyên đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động của các công trình thủy điện trên địa bàn tỉnh, giá nông sản cà phê, cao su, sắn… thấp đã ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất và kinh doanh của nhiều doanh nghiệp, sức mua của người dân giảm Trong điều kiện khó khăn trên, ngành đã tập trung tham mưu cho UBND tỉnh các biện pháp nhằm thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh, dự trữ hàng hóa, kiểm tra, kiểm soát góp phần bình ổn thị trường, từng bước triển khai quyết liệt các giải pháp lớn của Chính phủ và của UBND tỉnh nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp để phát triển sản xuất và đẩy mạnh xuất khẩu Trong 6 tháng đầu năm 2017, ngành Công Thương nỗ lực phấn đấu và đạt được một số kết quả sau:
Tình hình thị trường hàng hoá nội địa:
Tình hình thị trường hàng hóa trên địa bàn tỉnh trong 6 tháng đầu năm 2017 tương đối ổn định, không có hiện tượng găm hàng, tăng giá đột biến trong dịp Tết, Sau Tết Nguyên đán Bính Thân 2017, hoạt động thương mại trên địa bàn tỉnh đã trở lại bình thường Nhu cầu mua sắm, tiêu dùng của người dân vẫn duy trì được mức ổn định Tổng mức lưu chuyển hàng hóa và doanh thu dịch vụ tháng 6/2017 ước đạt 1.125,514 tỷ đồng, tăng 12,8% so với cùng kỳ và đưa Tổng mức lưu chuyển hàng hóa và doanh thu dịch vụ
6 tháng đầu năm 2016 ước đạt 6.833,451 tỷ đồng, tăng 12,8% so với cùng kỳ và đạt 48,81% so với KH Theo số liệu của Cục thống kê Chỉ số giá tiêu dùng 6 tháng đầu năm ước tăng 1,05%
Về hoạt động xuất nhập khẩu:
a Xuất khẩu: Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 6/2017 ước đạt 4,727
triệu USD, tăng 22% so với cùng kỳ, đưa Tổng kim ngạch hàng hóa 6 tháng đầu năm
2016 ước đạt 35,920 triệu USD, tăng 80% so với cùng kỳ và đạt 65% so với KH(1) Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là: Cao su thô, cà phê nhân, bàn ghế các loại, tinh bột sắn
b Nhập khẩu: Tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 6/2017 ước đạt 845,5
ngàn USD, giảm 58% so với cùng kỳ đưa Tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa 6 tháng đầu năm 2016 ước đạt 2,508 triệu USD, giảm 63% so với cùng kỳ và đạt 25% so với
KH Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là phân bón, gỗ tròn, gỗ xẻ…
Hoạt động quản lý nhà nước về công thương trên địa bàn tỉnh:
Trang 15
12
Trình UBND ban hành Quyết định phê duyệt đề cương nhiệm vụ và dự toán điều chỉnh cục bộ Quy hoạch ngành Công Thương giai đoạn 2011-2020, định hướng đến
2025 (Quyết định số: 282/QĐ-UBND, ngày 07/6/2016) đang làm việc với Sở Tài chính
để bố trí kinh phí thực hiện; Quy hoạch phát triển Điện lực tỉnh Kon Tum giai đoạn 2017-2025 có xét đến năm 2035 đã hoàn chỉnh đang trình UBND để thông qua HĐND trong kỳ họp sắp tới Tham mưu UBND tỉnh điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch thăm dò,
khai thác và sử dụng khoáng sản trên địa bàn tỉnh đến năm 2020, tầm nhìn 2030 (Quyết định số 21/2016/QĐ-UBND, ngày 24/5/2017) Tổng hợp ý kiến của các huyện, Thành
phố tham mưu UBND tỉnh điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch hệ thống bán buôn chợ, trung tâm thương mại, siêu thị, cửa hàng thương mại trên địa bàn tỉnh KonTum, giai đoạn 2011-2020, định hướng đến năm 2025; Triển khai lấy ý kiến các huyện, thành phố rà soát, điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch mạng lưới xăng dầu trên địa bàn tỉnh đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
Để triển khai thực hiện tốt nhiệm vụ năm 2016 ngành đã xây dựng Chương trình hành động thực hiện nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành phát triển KT-XH của ngành Công Thương năm 2016 Báo cáo kết quả xây dựng và phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn và sản phẩm chủ lực của ngành Công Thương giai đoạn 2011-2015; Báo cáo Tỉnh ủy kết quả thực hiện Kết luận 1422-KL/TU về tình hình thu hút đầu tư và nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh thời gian qua Ngoài ra, Sở đã chủ động xây dựng
Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết 19/NQ-CP của Chính phủ về cải thiện môi trường kinh doanh nâng cao năng lực cạnh tranh 02 năm 2016-2017, định hướng đến năm 2020 và Kế hoạch triển khai Chương trình hành động Quốc gia về sản xuất bền vững đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết 35/NQ-CP của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến 2020
Công tác quản lý về công thương:
Về Công nghiệp:
- Hướng dẫn UBND các huyện, thành phố triển khai thành lập mới các Cụm CN theo quy hoạch đã được UBND tỉnh phê duyệt và được Bộ Công Thương thống nhất(2) Kiểm tra các Cụm Công nghiệp trên địa bàn tỉnh theo Kế hoạch
- Lập kế hoạch điều tra, khảo sát và tổng hợp báo cáo kết quả điều tra, khảo sát các Doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh năm 2017 Tham mưu UBND tỉnh tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho một số doanh nghiệp thuộc Đảng ủy Khối Doanh nghiệp tỉnh Xây dựng
Kế hoạch điều tra năng lực sản xuất và năng lực mới tăng của một số sản phẩm công nghiệp tại các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh KonTum theo chỉ đạo của Bộ Công Thương
- Báo cáo UBND tỉnh tiến độ thực hiện dự án Nhà máy bột giấy Tân Mai KonTum;
Dự án trồng rừng nguyên liệu giấy tại Huyện KonPlong
Về Thương mại: