1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư qua thực tiễn tại dự án khu đô thị mới thủ thiêm quận 2, tp hcm

36 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, để thực hiện tốt công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đảm bảo trật tự, ổn định đời sống cho người dân, tạo sự yên tâm cho các nhà đầu tư và tạo điều kiện phát triển đất nước

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TẠI KON TUM

PHAN THÀNH NHÂN

BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

PHÁP LUẬT VỀ THU HỒI ĐẤT, BỒI

THƯỜNG, HỖ TRỢ TÁI ĐỊNH CƯ QUA THỰC TIỄN TẠI DỰ ÁN KHU ĐÔ THỊ MỚI THỦ THIÊM QUẬN 2, TP HỒ CHÍ MINH

KonTum, Tháng 8 năm 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TẠI KON TUM

PHÁP LUẬT VỀ THU HỒI ĐẤT, BỒI

THƯỜNG, HỖ TRỢ TÁI ĐỊNH CƯ QUA THỰC TIỄN TẠI DỰ ÁN KHU ĐÔ THỊ MỚI THỦ THIÊM QUẬN 2, TP HỒ CHÍ MINH

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN : TRƯƠNG THỊ HỒNG NHUNG

SINH VIÊN THỰC HIỆN : PHAN THÀNH NHÂN

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên em xin chân thành gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giảng viên trong trường Đại Học Đà Nẵng Phân Hiệu Tại Kon Tum, đã dạy dỗ truyền đạt cho em những kiến thức, kĩ năng cần thiết trong suốt bốn năm học vừa qua Giúp em tích lũy được các kiến thức cơ bản của những môn học cũng như những kinh nghiệm sống quý báu hữu ích cho bản thân

Tiếp đó em xin chân thành bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến ban lãnh đạo UBND quận 7 TP Hồ Chí Minh và phòng Thanh tra quận, đã tạo mọi điều kiện cho em được thực tập ở đây, được cùng làm việc và học hỏi nhiều kinh nghiệm quý báu Bên cạnh đó

là các cán bộ, anh chị trong công ty đã nhiệt tình hướng dẫn, cung cấp các tài liệu , số liệu khác để em có thể hoàn thành tốt nhất bài báo cáo thực tập của mình

Mặc dù đã cố gắng tìm tòi, học hỏi, nghiên cứu số liệu có liên quan Tuy nhiên do kiến thức còn nhiều hạn chế, thời gian tiếp xúc, làm việc với môi trường thực tế ngắn ngủi nên sẽ không tránh khỏi những sai sót trong bài báo cáo thực tập của mình Do đó

em kính mong nhận được sự quan tâm, góp ý của quý thầy cô để hoàn thành bài báo cáo thực tập tốt nhất

Em xin chân thành cám ơn!

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 1

MỞ ĐẦU iv

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2.Mục tiêu nghiên cứu 1

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

3.1 Đối tượng nghiên cứu 2

3.2 Phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Bố cục 2

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN PHÁP LUẬT VỀ THU HỒI ĐẤT, BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ TÁI ĐỊNH CƯ TRONG CÁC DỰ ÁN KHU ĐÔ THỊ MỚI 13

TỔNG QUAN PHÁP LUẬT VỀ THU HỒI ĐẤT, BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ TÁI ĐỊNH CƯ TRONG CÁC DỰ ÁN KHU ĐÔ THỊ MỚI 3

1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THU HỒI ĐẤT, BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ TÁI ĐỊNH CƯ TRONG DỰ ÁN KHU ĐÔ THỊ MỚI 3

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của thu hồi đất trong các dự án xây dựng khu đô thị mới 3

1.1.2 Khái niệm và đặc điểm của bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trong các dự án xây dựng khu đô thị mới 3

1.1.3 Khái niệm, đặc điểm pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong các dự án Khu đô thị mới 4

1.2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THU HỒI ĐẤT, BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ TÁI ĐỊNH CƯ TRONG CÁC DỰ ÁN ĐÔ THỊ MỚI 5

1.2.1 Xác định trường hợp thu hồi đất phục vụ cho các dự án đầu tư khu đô thị mới 5

1.2.2 Quy định cơ quan có thẩm quyền được thu hồi đất phục vụ cho dự án đầu tư khu đô thi mới 5

1.2.3 Quy định về trình tự, thủ tục thu hồi đất 5

1.2.4 Quy định về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất 6

1.2.5 Quy định về hỗ trợ tái định cư khi thu hồi đất để thực hiện dự án khu đô thị mới 6

CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ THU HỒI THU HỒI ĐẤT, BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ TÁI ĐỊNH CƯ TRONG DỰ ÁN KHU ĐÔ THỊ MỚI THỦ THIÊM TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 2, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 10

2.1 THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ THU HỒI ĐẤT, BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ TÁI ĐỊNH CƯ TẠI DỰ ÁN KHU ĐÔ THỊ MỚI THỦ THIÊM TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 2 TP HCM 10

2.1.1 Nguyên tắc và căn cứ xác định giá bồi thường, hỗ trợ về đất 10

2.1.2 Tình hình việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư tại dự án Khu đô thị mới Thủ Thiêm trên địa bàn Quận 2, TP HCM 20

Trang 5

2.1.3 Những tồn tại hạn chế trong công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư tại dự án Khu đô thị mới Thủ Thiêm Quận 2, TP HCM 21

2.2 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ THU HỒI ĐẤT, BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ TÁI ĐỊNH CƯ TRONG DỰ ÁN KHU ĐÔ THỊ MỚI 22

2.2.1 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định

cư trong các dự án Khu đô thị mới 22 2.2.2 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư trong các dự án Khu đô thị mới 25 KẾT LUẬN 27 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng

2.1

Tổng chi phí bồi thường, hỗ trợ và khen thưởng trong dự án Khu

trung tâm đô thị mới Thủ Thiêm tại phường An Lợi Đông 21

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, đặc biệt là những năm gần đây khi tình hình giao lưu, hội nhập quốc tế đang được mở rộng, đất nước ta đã và đang giao lưu hội nhập rất tốt với thế giới trên mọi lĩnh vực Những điều kiện thuận lợi trên là yếu tố rất quan trọng để thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư xây dụng vào nước ta Để thực hiện đúng quy trình, quy hoạch và đúng tiến độ kế hoạch sử dụng đất đã đề ra thì công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho người dân khi nhà nước thu hồi đất là rất quan trọng

Do đó, để thực hiện tốt công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đảm bảo trật tự,

ổn định đời sống cho người dân, tạo sự yên tâm cho các nhà đầu tư và tạo điều kiện phát triển đất nước, chúng ta phải nghiên cứu các phương án bồi thường hỗ trợ và tái định cư một cách hợp lý nhằm đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ phù hợp với pháp luật và thỏa đáng với nguyện vọng của người dân bị thu hồi, vừa đảm bảo lợi ích của mình vừa tạo điều kiện cho dự án thành công tốt và góp phần cho đất nước phát triển

Quận 2 là một quận đang phát triển mạnh của Thành phố Hồ Chí Minh và Khu đô

thị mới Thủ Thiêm sẽ là khu trung tâm mới hiện đại, mở rộng của trung tâm thành phố

Hồ Chí Minh, với chức năng chính là trung tâm tài chính, thương mại, dịch vụ cao cấp của thành phố, khu vực và có vị trí quốc tế; là trung tâm văn hóa, nghỉ ngơi, giải trí, đảm nhiệm một số chức năng mà trung tâm thành phố hiện hữu còn thiếu và hạn chế phát triển Khu đô thị mới Thủ Thiêm là một công trình chiến lược, mở ra cơ hội tăng tốc phát triển mọi mặt và nâng cấp thành phố Hồ Chí Minh ngang tầm các đô thị quốc tế hiện đại của khu vực trong thế kỷ XXI

Xuất phát từ những vấn đề trên, em tiến hành nghiên cứu và thực hiện đề tài: “

Pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư qua thực tiễn tại dự án khu đô thị mới Thủ Thiêm trên địa bàn Quận 2, Tp Hồ Chí Minh”

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư qua các dự án đầu tư khu đô thị mới Thủ Thiêm trên địa bàn Quận 2 TP Hồ Chí Minh, từ đó kiến nghị các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong các dự án đầu tư khu đô thị mới, chỉnh trang đô thị ở nước ta hiện nay

Nêu những mặt ưu cũng như những hạn chế còn tồn tại của công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư hiện nay đang được áp dụng trên địa bàn

Qua những kết quả đạt được, phát huy những mặt tích cực, khắc phục những hạn chế còn vướng mắc, rút ra bài học kinh nghiêm góp phần xây dựng chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư phù hợp với thực tiễn, đáp ứng đầy đủ hơn các quyền lời của người sử dụng đất

Trang 8

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề lý luận và quy định pháp luật hiện hành về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; hệ thống các quy định pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong các dự án đầu tư khu đô thị mới, chỉnh trang đô thị và thực tiễn thực hiện pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với dự án đầu tư Khu đô thị mới Thủ Thiêm tại địa bàn Phường An Lợi Đông, Quận

2, Thành Phố Hồ Chí Minh khi nhà nước thu hồi đất

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu là những vấn đề lý luận và thực

tiễn pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất cho các dự án đầu tư khu đô thị mới, chỉnh trang đô thị từ năm 2010 đến nay

- Về địa bàn nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn phường An

Lợi Đông, Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh, về thực trạng công tác bồi thường, hổ trợ và tái định cư cho dự án Khu trung tâm đô Thị Mới Thủ Thiêm khi nhà nước thu hồi đất

4 Phương pháp nghiên cứu

Để làm rõ các vấn đề thuộc nội dung nghiên cứu, đề tài đã sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, chính sách đất đai của Đảng và Nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới nền kinh tế theo cơ chế thị trường Ngoài ra, đề tài còn sử dụng tổng hợp các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh đối chiếu, thống kê

Trang 9

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN PHÁP LUẬT VỀ THU HỒI ĐẤT, BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ TÁI

ĐỊNH CƯ TRONG CÁC DỰ ÁN KHU ĐÔ THỊ MỚI 1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THU HỒI ĐẤT, BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ TÁI ĐỊNH

CƯ TRONG DỰ ÁN KHU ĐÔ THỊ MỚI

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của thu hồi đất trong các dự án xây dựng khu đô thị mới

Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng: “Thu hồi là lấy lại cái đã đưa ra, đã cấp phát

ra hoặc bị người khác lấy” Theo Luật Đất đai năm 2013 “Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền

sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai” Việc

thu hồi đất phải công khai, minh bạch và được bồi thường theo quy định của pháp luật

Có thể đưa ra khái niệm về thu hồi đất như sau : “Thu hồi đất trong các dự án ây

dựng khu đô thị mới, chỉnh trang đô thị là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất đã giao cho các chủ thể sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai để thực hiện các dự án xây dựng khu đô thị mới, chỉnh trang đô thị theo quy hoạch đã được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt”

Đặc điểm việc thu hồi đất của Nhà nước trong các dự án ây dựng khu đô thị mới, chỉnh trang đô thị là thể hiện quyền lực của đại diện chủ sở hữu nhằm thực thi một trong những nội dung của quản lý nhà nước về đất đai thông qua một quyết định hành chính của người có thẩm quyền, nhằm chấm dứt quan hệ sử dụng đất giữa Nhà nước với người

sử dụng đất Việc thu hồi đất xuất phát từ nhu cầu của Nhà nước và xã hội trên cơ sở các căn cứ do luật định

1.1.2 Khái niệm và đặc điểm của bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trong các dự án xây dựng khu đô thị mới

Về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất Theo quy định của pháp luật đất đai, bồi

thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả cho người có đất bị thu hồi những thiệt hại về quyền sử dụng đất và những lợi ích gắn liền với đất do việc thu hồi đất gây ra Trách nhiệm bồi thường được đặt ra khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng và mục đích quốc phòng, an ninh, để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

Về nguyên tắc, việc bồi thường phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật.Việc bồi thường cho người sử dụng đất bị thu hồi đất được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền Bên cạnh đó, việc bồi thường còn được Nhà nước thực hiện đối với những thiệt hại về nhà, công trình ây dựng trên đất, thiệt hại đối với cây trồng, vật nuôi và những thiệt hại về tài sản, ngừng sản uất, kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất

Hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất Hỗ trợ là giúp thêm, góp thêm, là sự trợ giúp, giúp

đỡ của cộng đồng nhằm san sẻ hay chia sẻ bớt một phần khó khăn, rủi ro mà một thành viên hoặc một nhóm người gặp phải trong cuộc sống Đất đai vừa là tư liệu sản xuất đặc

Trang 10

biệt trong sản suất kinh doanh, vừa là nơi cư trú, sinh hoạt của con người, do vậy, khi Nhà nước thu hồi đất thì người sử dụng đất bị mất tư liệu sản xuất hoặc mất nơi cư ngụ, nên Nhà nước thực hiện việc hỗ trợ

Tái định cư khi nhà nước thu hồi đất Tái định cư là quá trình di chuyển

người dân đến nơi ở mới Theo quy định của pháp luật đất đai, người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì được bố trí tái định cư Người có đất bị thu hồi được bố trí tái định cư tại chỗ nếu tại khu vực thu hồi đấtc dự án tái định cư hoặc có điều kiện bố trí tái định cư Về cơ bản, tái định cư cũng là một dạng của bồi thường khi Nhà nước thực hiện việc thu hồi đất

Đặc điểm của bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Bồi thường,

hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất đều là hậu quả pháp lý trực tiếp do hành vi thu hồi đất của Nhà nước gây ra và phát sinh sau khi có quyết định thu hồi đất

(i) Bồi thường, hỗ trợ,tái định cư và việc giải quyết hậu quả pháp lý của một hành

vi hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi ra quyết định thu hồi đất của người đang sử dụng đất Đây là trách nhiệm của Nhà nước phải thực hiện khi tiến hành thu hồi đất của người dân;

(ii) Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư chỉ áp dụng đối với trường hợp người sử dụng

đất bị Nhà nước thu hồi đất Trong đó, việc áp dụng hình thức nào: bồi thường hay hỗ trợ hay tái định cư phụ thuộc vào từng trường hợp người sử dụng đất bị nhà nước thu hồi;

(iii) Mục đích của bồi thường, hỗ trợ, tái định cư là sự bù lại của Nhà nước cho

người dân bị thu hồi đất đất giảm thiểu thiệt hại của người dân với hành vi thu hồi đất của Nhà nước

1.1.3 Khái niệm, đặc điểm pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định

cư trong các dự án Khu đô thị mới

a Khái niệm pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong các

dự án khu đô thị mới

Qua nghiên cứu, có thể đưa ra khái niệm: “Pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ

trợ, tái định cư trong các dự án xây dựng khu đô thị mới được hiểu là tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành quy định các điều kiện về đất phát triển đô thị, khu vực phát triển đô thị, các điều kiện, trình tự, thủ tục thu hồi đất để phát triển đô thị

và quy trình bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trong các dự án xây dựng khu đô thị mới”

Pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong các dự án xây dựng khu đô thị mới, chỉnh trang đô thị được quy định chủ yếu trong Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành, bên cạnh đó là các quy định trong Luật Quy hoạch đô thị và các văn bản hướng dẫn về quản ý đầu tư phát triển đô thị Tất cả các trường hợp thu hồi đất

để phát triển các khu đô thị mới, chỉnh trang đô thị phải được Luật Đất đai quy định

b Đặc điểm pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

Một là, pháp luật thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư bị chi phối bởi chế độ

sở hữu toàn dân về đất đai

Trang 11

Hai là, pháp luật về thu hồi đất là chấm dứt quan hệ pháp luật đất đai sơ cấp giữa

Nhà nước và người sử dụng đất và chấm dứt việc phát sinh các giao dịch của thị trường đất đai thứ cấp

Ba là, pháp luật về thu hồi đất, bổi thường, hỗ trợ tái định cư được tổ chức thực hiện

dựa trên các nguyên tắc nhất định

Bốn là, cùng với việc quy định về thu hồi đất, pháp luật cũng quy định rõ về việc

bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dựa trên các nguyên tắc cơ bản để bảo đảm lợi ích hợp pháp của người có đất bị thu hồi

1.2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THU HỒI ĐẤT, BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ TÁI ĐỊNH CƯ TRONG CÁC DỰ ÁN ĐÔ THỊ MỚI

1.2.1 Xác định trường hợp thu hồi đất phục vụ cho các dự án đầu tư khu đô thị mới

Về nguyên tắc, việc thu hồi đất để đầu tư phát triển đô thị phải bảo đảm phù hợp quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và quốc gia, tuân thủ quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị, kế hoạch triển khai khu vực phát triển đô thị, pháp luật về đầu tư xây dựng và pháp luật có liên quan; bảo đảm phát triển đồng bộ về hạ tầng

kỹ thuật, hạ tầng xã hội, kiến trúc cảnh quan trong đô thị,gắn với an ninh quốc phòng; bảo đảm khai thác và sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả các nguồn lực; bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu, thảm họa thiên tai nhằm mục tiêu phát triển bền vững; tạo

ra môi trường sống tốt cho cư dân đô thị; bảo đảm lợi ích của cộng đồng hài hoà với lợi ích của Nhà nước và nhà đầu tư; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, bảo tồn và tôn tạo các di tích văn hoá,lịch sử hiện có

1.2.2 Quy định cơ quan có thẩm quyền được thu hồi đất phục vụ cho dự án đầu tư

khu đô thi mới

Về nguyên tắc, cho dù đất đai thuộc chế độ công hữu hay chế độ tư hữu thì cũng

do Nhà nước quản lý dựa trên nền tảng của chính sách và pháp luật về đất đai Cùng với việc quy định rõ căn cứ thu hồi đất trong các trường hợp vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, thì pháp luật cũng quy định rõ các cơ quan có thẩ quyền thu hồi đất Các cơ quan này thay mặt Nhà nước để thực hiện việc thu hồi đất và thực hiện các chính sách về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư…

Kinh nghiệm pháp luật các nước đều quy định rõ cơ quan có thẩm quyền được thu hồi đất trong các trường hợp Nhà nước thực hiện việc thu hồi đất của người dân Ở Việt Nam, theo pháp luật hiện hành, cơ quan có thẩm quyền thu hồi đất là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp huyện thu hồi

1.2.3 Quy định về trình tự, thủ tục thu hồi đất

Một nội dung quan trọng trong pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư là phải quy định rõ về trình tự, thủ tục thu hồi đất Để đảm bả tính công khai, minh bạch trong việc Nhà nước thu hồi đất, trước khi có quyết định thu hồi, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thông báo việc thu hồi đất cho người có đất thu hồi biết Nội dung thông báo thu hồi đất gồm kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm

Trang 12

đếm Trường hợp người sử dụng đất trong khu vực thu hồi đất đồng ý để cơ quan nhà nước có thẩ quyền thu hồi đất trước thời hạn thì Ủy ban nhân dân cấp có thẩ quyền quyết định thu hồi đất mà không phải chờ đến hết thời hạn thông báo thu hồi đất Trình tự, thủ tục nhằm đảm bảo tính công khai, minh bạch, dân chủ trong thực hiện thu hồi đất, quá trình thực hiện cần tuân thủ các bước công việc cụ thể như: Xây dựng và thực hiện kế hoach thu hồi đât, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm, lập, thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Trong các bước công việc này, người sử dụng đất được tiếp cận thông tin bằng nhiều hình thức ( gửi đến từng người có đất thu hồi, họp trực tiếp, niêm yết tại trụ sở cơ quan hành chính Nhà nước cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư….) về thông báo thu hồi đất, kế hoạch thu hồi đất, tham gia góp ý kiến cụ thể

về phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

1.2.4 Quy định về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất

Về nguyên tắc, trách nhiệm bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất chỉ phát sinh khi người có đất bị thu hồi đảm bảo đủ các điều kiện về loại đất mà mình đang sử dụng, về chứng nhận quyền sử dụng đối với đất đó Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh quyết định tại thời đi quyết định thu hồi đất Tuy nhiên, đất đai không chỉ là tài sản, mà còn là sinh kế và tư liệu sản xuất, vì vậy, khi Nhà nước thu hồi đất, thì ngoài trách nhiệm bồi thường về tài sản, còn cần phải có thêm chính sách hỗ trợ

về sinh kế cho người có đất bị thu hồi và điều này cũng cần phải được luật hoá Theo kinh nghiệm pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới, Nhà nước dựa trên giá thị trường của đất và thiệt hại tính ở thời điểm thông báo để cân nhắc quyết định bồi thường Ngoài giá thị trường, Tòa án sẽ cộng thê 30% chi phí do cân nhắc đền bù trong trường hợp Nhà nước thu hồi đất bắt buộc Nguyên tắc định giá dựa trên giá thị trường của đất ở thời điểm bồi thường

1.2.5 Quy định về hỗ trợ tái định cư khi thu hồi đất để thực hiện dự án khu đô thị mới

Vấn đề 1: Bồi thường hỗ trợ tái định cư

Khi nhà nước có quyết định thu hồi đất, phương án bồi thường cũng như giá bồi thường sẽ dựa vào diện tích thu hồi và loại đất thu hồi là gì

Ví dụ: Trường hợp thu hồi đất ở ( Điều 6 Nghị định Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ) Điều 6 Bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở

Việc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở quy định tại Điều 79 của Luật Đất đai được thực hiện theo quy định sau đây:

1 Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam khi Nhà nước thu hồi đất

ở mà có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì việc bồi thường về đất được thực hiện như sau:

Trang 13

a) Trường hợp thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không

đủ điều kiện để ở theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh mà hộ gia đình, cá nhân không còn đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở tái định cư;

b) Trường hợp thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không

đủ điều kiện để ở theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh mà hộ gia đình, cá nhân còn đất ở, nhà ở khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được bồi thường bằng tiền Đối với địa phương có điều kiện về quỹ đất ở thì được xem xét để bồi thường bằng đất ở

2 Trường hợp trong hộ gia đình quy định tại Khoản 1 Điều này mà trong hộ có nhiều thế hệ, nhiều cặp vợ chồng cùng chung sống trên một thửa đất ở thu hồi nếu đủ điều kiện để tách thành từng hộ gia đình riêng theo quy định của pháp luật về cư trú hoặc có nhiều hộ gia đình có chung quyền sử dụng một (01) thửa đất ở thu hồi thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào quỹ đất ở, nhà ở tái định cư và tình thực tế tại địa phương quyết định mức đất ở, nhà ở tái định cư cho từng hộ gia đình

3 Hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều này mà không có nhu cầu bồi thường bằng đất ở hoặc bằng nhà ở tái định cư thi được Nhà nước bồi thường bằng tiền

4 Đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất gắn liền với nhà ở thuộc trường hợp phải di chuyển chỗ ở nhưng không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở, nếu không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được Nhà nước bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở hoặc giao đất ở có thu tiền sử dụng đất Giá bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở; giá đất ở tính tiền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định

5 Trường hợp trong thửa đất ở thu hồi còn diện tích đất nông nghiệp không được công nhận là đất ở thì hộ gia đình, cá nhân có đất thu hồi được chuyển mục đích sử dụng đất đối với phần diện tích đất đó sang đất ở trong hạn mức giao đất ở tại địa phương, nếu hộ gia đình, cá nhân có nhu cầu và việc chuyển mục đích sang đất ở phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt Hộ gia đình, cá nhân khi chuyển mục đích sử dụng đất phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật về thu tiền sử dụng đất; thu tiền thuê đất, thuê mặt nước

6 Tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu

tư nước ngoài đang sử dụng đất để thực hiện dự án xây dựng nhà ở khi Nhà nước thu hồi đất, nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật Đất đai thì việc bồi thường thực hiện theo quy định sau đây:

a) Trường hợp thu hồi một phần diện tích đất của dự án mà phần còn lại vẫn đủ điều kiện để tiếp tục thực hiện dự án thì được bồi thường bằng tiền đối với phần diện tích đất thu hồi;

Trang 14

b) Trường hợp thu hồi toàn bộ diện tích đất hoặc thu hồi một phần diện tích đất của

dự án mà phần còn lại không đủ điều kiện để tiếp tục thực hiện dự án thì được bồi thường bằng đất để thực hiện dự án hoặc bồi thường bằng tiền;

c) Đối với dự án đã đưa vào kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất thì được bồi thường bằng tiền

“Điều 114 Bảng giá đất và giá đất cụ thể ( Luật đất đai năm 2013 )

3 Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định giá đất cụ thể Cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh có trách nhiệm giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức việc xác định giá đất cụ thể Trong quá trình thực hiện, cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh được thuê tổ chức có chức năng tư vấn xác định giá đất để tư vấn xác địnhgiá đất cụ thể.Việc xác định giá đất cụ thể phải dựa trên cơ sở điều tra, thu thập thông tin về thửa đất, giá đất thị trường và thông tin về giá đất trong cơ sở dữ liệu đất đai; áp dụng phương pháp định giá đất phù hợp Căn cứ kết quả tư vấn xác định giá đất, cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh trình Hội đồng thẩm định giá đất xem xét trước khi trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định Hội đồng thẩm định giá đất gồm Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh làm Chủ tịch và đại diện của cơ quan, tổ chức có liên quan, tổ chức có chức năng tư vấn xác định giá đất

4 Giá đất cụ thể được sử dụng để làm căn cứ trong các trường hợp sau đây: a) Tính tiền sử dụng đất khi Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân đối với phần diện tích đất ở vượt hạn mức; cho phép chuyển mục đích sử dụng đất

từ đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp không phải là đất ở sang đất ở đối với phần diện tích vượt hạn mức giao đất ở cho hộ gia đình, cá nhân Tính tiền thuê đất đối với đất nông nghiệp vượt hạn mức giao đất, vượt hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân;

b) Tính tiền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất không thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất; công nhận quyền sử dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với tổ chức mà phải nộp tiền sử dụng đất;

c) Tính tiền thuê đất đối với trường hợp Nhà nước cho thuê đất không thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất;

d) Tính giá trị quyền sử dụng đất khi cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước mà doanh nghiệp cổ phần sử dụng đất thuộc trường hợp Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; tính tiền thuê đất đối với trường hợp doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm;

đ) Tính tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.”

Vấn đề 3: Thẩm quyền thu hồi

Điều 66 Thẩm quyền thu hồi đất ( Luật đất đai năm 2013 )

1 Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây: a) Thu hồi đất đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều này;

Trang 15

b) Thu hồi đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn

2 Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây: a) Thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư;

b) Thu hồi đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam

3 Trường hợp trong khu vực thu hồi đất có cả đối tượng quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất hoặc ủy quyền cho

Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Bồi thường, hỗ trợ tái định cư là một phần quan trong trong công tác giải phóng mặt bằng Nó quyết định đến tiến độ dự án Bồi thường một cách thỏa đáng thì người dân sẽ thỏa mãn và tự nguyện di dời, ngược lại nếu chính sách đền bù không hợp lý, không công bằng, không đảm bảo cuộc sống cho người dân bằng hoặc tốt hơn trước khi có dự án sẽ gây nên sự so bì, khiếu kiện, cản trở đến việc thực hiện dự án

Nhu cầu giải phóng mặt bằng ở nước ta ngày càng nhiều, kéo theo đó là những vướng mắc xung quanh vấn đề đền bù ngày càng phức tạp, nhất là từ khi đất đai trở nên

có giá trị Chính sách đền bù giải phóng mặt bằng của nước ta trong những năm qua đã

có những tiến bộ đáng kể đặc biệt là Nghị định 69/2009/ NĐ-CP giải quyết hài hòa cả ba lợi ịch của người dân, của nhà nước và nhà đầu tư Nhưng bên cạnh những kết quả đạt được thì trong quá trình thực hiện cũng đã thể hiện nhiều hạn chế bất cập Chính sách đền

bù thiệt hại trong thời gian qua còn nhiều hạn chế, gây mất lòng tin trong nhân dân, làm chậm tiến độ dự án, gây thất thoát cho nhà nước

Vì vậy để hài hòa lợi ích giữa các bên liên quan trong dự án nên hết sức nhiệt tình, công tâm khi thực thi sứ mệnh xây dựng dự án nhằm mục tiêu cao cả phát triển kinh tế xã hội Bồi thường đúng, hỗ trợ đủ và tái định cư phù hợp cho các đối tượng nhanh chóng kịp thời, là điều kiện tiên quyết để thực hiện thành công tất cả các dự án

Trang 16

CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ THU HỒI THU HỒI ĐẤT, BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ TÁI ĐỊNH CƯ TRONG DỰ ÁN KHU ĐÔ THỊ MỚI THỦ

THIÊM TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 2, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2.1 THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ THU HỒI ĐẤT, BỒI THƯỜNG,

HỖ TRỢ TÁI ĐỊNH CƯ TẠI DỰ ÁN KHU ĐÔ THỊ MỚI THỦ THIÊM TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 2 TP HCM

2.1.1 Nguyên tắc và căn cứ xác định giá bồi thường, hỗ trợ về đất

Luật đất đai năm 2013 ban hành có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2014 tuy nhiên công tác bồi thường, hỗ trợ tái định cư Khu Đô thị mới Thủ Thiêm đã tiến hành theo Theo Quyết định số 367/TTg ngày 04 tháng 6 năm 1996 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch chung Khu đô thị mới Thủ Thiêm trước khi Luật đất đai 2013

có hiệu lực, vì thế nguyên tắc bồi thường được thực hiện theo Áp dụng theo quy định tại Điều 6 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP và khoản 1 Phần II Thông tư số 116/2004/TT-

BTC

Theo Khoản 2 điều 50 Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004: đối với những

dự án, hạng mục đã thực hiện xong việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; những dự án, hạng mục đã phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư hoặc đang thực hiện chi trả bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo phương án đã được phê duyệt trước Nghị định này có hiệu lực thi hành thì thực hiện theo phương án đã phê duyệt, không áp dụng hoặc điều chỉnh theo nghị định của Nghị định này

Tại khoản 4, điều 39 Nghị định 69/2009/CP ngày 13/8/2009 của Chính Phủ (có hiệu lực ngày 01/10/2009) quy định về quy hoạch sử dụng đất và thu hồi đất, bồi thường,

hỗ trợ thiệt hại và tái định cư cũng khẳng định : 4 Đối với những dự án, hạng mục đã phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư hoặc đang thực hiện chi trả bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo phương án đã được phê duyệt trước khi Nghị định này

có hiệu lực thi hành thì thực hiện theo phương án đã phê duyệt, không áp dụng hoặc điều chỉnh theo quy định Nghị định này Trường hợp thực hiện bồi thường chậm thì giá đất để thực hiện bồi thường, hỗ trợ thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP

Tại khoản 3, Điều 34 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014: Trường hợp

đã có quyết định thu hồi đất và có phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được phê duyệt theo quy định của pháp luật về đất đai trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 thì tiếp tục thực hiện theo phương án đã phê duyệt

a Nguyên tắc bồi thường

- Trường hợp người sử dụng đất được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất mà chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai đối với Nhà nước theo quy định của pháp luật thì phải trừ đi khoản tiền phải thực hiện nghĩa vụ tài chính vào số tiền được bồi thường, hỗ trợ để hoàn trả ngân sách Nhà nước (trừ dự án đầu tư bằng nguồn vốn thuộc

Trang 17

ngân sách Nhà nước thì không phải hoàn trả ngân sách Nhà nước) Số tiền phải trừ này

do Hội đồng bồi thường của dự án xác định và thu nộp vào ngân sách

- Diện tích đất được bồi thường, hỗ trợ là diện tích được xác định trên thực địa, qua đo đạc thực tế diện tích thu hồi của từng người sử dụng đất

- Trường hợp diện tích đo đạc thực tế nhỏ hơn diện tích ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp khi bị thu hồi thì phần diện tích chênh lệch do các yếu tố

tự nhiên gây ra (như bị xâm thực, xói lở, ) có xác nhận của cơ quan quản lý Nhà nước tại địa phương thì được tính hỗ trợ Nếu phần diện tích chênh lệch này do sai số đo đạc khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì Hội đồng bồi thường của dự án tính bồi thường, hỗ trợ theo diện tích đo đạc thực tế và hoàn trả lại số tiền nghĩa vụ tài chính mà các hộ đã nộp cho phần diện tích chênh lệch này (nếu có)

- Trường hợp diện tích đo đạc thực tế lớn hơn diện tích ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi bị thu hồi, nếu người sử dụng đất không chứng minh được nguồn gốc sử dụng và không đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phần diện tích chênh lệch này chỉ được xem xét hỗ trợ Nếu người sử dụng đất chứng minh được nguồn gốc sử dụng, đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng do sai số đo đạc khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì người sử dụng đất được bồi thường, hỗ trợ theo diện tích đo đạc thực tế và người sử dụng đất phải nộp các khoản nghĩa vụ tài chính cho ngân sách Nhà nước (nếu thuộc diện phải nộp theo quy định) kể từ khi sử dụng đất này

b Những trường hợp thu hồi mà không được bồi thường

Áp dụng theo quy định tại Điều 7 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 4 năm 2004 của Chính phủ về bồi thường hỗ trợ tái định cư

- Người sử dụng đất không đủ điều kiện theo quy định tại Điều 8 của Nghị định Nghị định số 197/2004/NĐ-CP

- Tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, được nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước; được nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm; đất nhận chuyển nhượng quyền

sử dụng đất mà tiền trả cho việc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước

- Đất bị thu hồi thuộc một trong các trường hợp quy định tại các khoản 2, 3, 4, 5,

6, 7, 8, 9, 10, 11 và 12 Điều 38 Luật Đất đai 2003

- Việc xử lý tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, tài sản đã đầu tư trên đất đối với đất bị thu hồi quy định tại khoản này được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 34 và Điều

35 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai

- Đất nông nghiệp do cộng đồng dân cư sử dụng

- Đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn

c Điều kiện để được bồi thường về đất

Người bị Nhà nước thu hồi đất, có một trong các điều kiện sau đây thì được bồi

Trang 18

thường:

Có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai

Có quyết định giao đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về đất đai

Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định, được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Uỷ ban nhân dân cấp xã) xác nhận không có tranh chấp mà có một trong các loại giấy tờ sau đây:

- Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất đai trước ngày 15 tháng 10 năm 1993

do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính

- Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng, cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất;

- Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Uỷ ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

- Giấy tờ về thanh lý, hoá giá nhà ở, mua nhà ở gắn liền với đất ở theo quy định của pháp luật;

- Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất

Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại mục c đã nói mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến thời điểm có quyết định thu hồi đất chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, nay được Uỷ ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp

Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy tờ quy định tại mục a,b,c đã nói, nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Uỷ ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất đó không có tranh chấp

Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của toà án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án hoặc quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành

Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất không có các loại giấy tờ quy định tại mục a,b,1

đã nói nhưng đất đã được sử dụng từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến thời điểm có quyết định thu hồi đất, mà tại thời điểm sử dụng không vi phạm quy hoạch; không vi phạm hành lang bảo vệ các công trình, được cấp có thẩm quyền phê duyệt đã công bố công khai, cắm mốc; không phải là đất lấn chiếm trái phép và được Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có đất bị thu hồi xác nhận đất đó không có tranh chấp

Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà trước đây Nhà nước đã có quyết định quản lý trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước, nhưng trong thực tế

Ngày đăng: 28/08/2021, 11:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm