1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải thể doanh nghiệp theo pháp luật việt nam và thực tiễn áp dụng tại gia lai

37 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy việc hoàn thiện các quy chế, quy định về giải thể doanh nghiệp trong hệ thống luật doanh nghiệp ở Việt Nam là một vấn đề cấp bách hiện nay, nhằm giúp cho các doanh nghiệp những ch

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TẠI KON TUM

LƯƠNG THỊ THU THỦY BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG

TẠI GIA LAI

Kon Tum, tháng 08 năm 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TẠI KON TUM

BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG

TẠI GIA LAI

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN : ĐẶNG VĂN MỸ SINH VIÊN THỰC HIỆN : LƯƠNG THỊ THU THỦY LỚP : K814LK2

MSSV : 141502107

Kon Tum, tháng 08 năm 2018

Trang 3

i

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 1

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Bố cục 2

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP 3

1.1 Khái niệm về doanh nghiệp và giải thể doanh nghiệp 3

1.1.1 Khái niệm về doanh nghiệp 3

1.1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp 3

1.2 Khái niệm và đặc điểm của giải thể doanh nghiệp 3

1.2.1 Khái niệm của giải thể doanh nghiệp 3

1.2.2 Đặc điểm của giải thể doanh nghiệp 4

1.3 Các hình thức giải thể doanh nghiệp 4

1.3.1 Hình thức giải thể doanh nghiệp tự nguyện 4

1.3.2 Hình thức giải thể doanh nghiệp bắt buộc 4

1.4 Các quy định của pháp luật về giải thể doanh nghiệp 5

1.4.1 Các trường hợp giải thể và điều kiện giải thể 5

1.4.2 Trình tự thủ tục giải thể doanh nghiệp 6

1.4.3 Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan có thẩm quyền trong giải thể doanh nghiệp 7

1.4.4 Quyết định giải thể doanh nghiệp 8

KẾT CHƯƠNG 1 9

CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT VỀ GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP VÀ MỘT SỐ ĐÁNH GIÁ 10

2.1 Tình hình hoạt động giải thể doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Gia Lai 10

2.1.1 Qúa trình hình thành và phát triển 10

2.1.2 Cơ cấu tổ chức 11

2.2 Thực trạng về giải thể doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Gia Lai 12

2.3 Thực trạng về giải thể doanh nghiệp 16

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP 21

3.1 Sự cần thiết hoàn thiện pháp luật về giải thể doanh nghiệp 21

3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về giải thể doanh nghiệp 22

3.3 Một số giải pháp cụ thể áp dụng trong thực tế nhằm đáp ứng nhu cầu cụ thể giải thể doanh nghiệp 25

3.3.1 Hoàn thiện cơ chế quản lý doanh nghiệp 25

3.3.2 Thay đổi nhận thức của xã hội đối với việc giải thể doanh nghiệp 27

3.3.3 Nâng cao nhận thức pháp luật về giải thể của doanh nghiệp 27

Trang 4

ii

3.3.4 Tăng cường giám sát kiểm tra doanh nghiệp 28

KẾT CHƯƠNG 3 29 KẾT LUẬN 30 TÀI LIỆU THAM KHẢO

NHẬN XÉT CỦA GVHD

Trang 6

iv

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Hình 2.1 : Quy trình giải thể doanh nghiệp

Bảng 2.2 : Tổng hợp số lượng doanh nghiệp giải thể và bỏ trốn khỏi trụ sở đăng ký trên địa bàn tỉnh gia lai

Trang 7

Cũng giống như các sự vật, hiện tượng trong đời sống xã hội, doanh nghiệp có “đời sống” riêng của nó Doanh nghiệp ra đời, phát triển, thay đổi và cũng có thể sẽ mất đi ở một thời điểm nhất định Các doanh nghiệp dù lớn hay nhở đều có thể phải trải qua các giai đoạn giống nhau của một vòng đời, mặc dù thời gian của các giai đoạn này có thể dài ngắn khác nhau Hiểu biết pháp luật không chỉ bó hẹp trong phạm vi lúc doanh nghiệp bắt đầu hoạt động mà phải hiểu biết toàn diện bao gồm về thời kì chấm dứt số phận pháp

lý doanh nghiệp bằng thủ tục giải thể phá sản

Doanh nghiệp có thể chấm dứt sự tồn tại dưới nhiều cách thức trong đó chủ yếu là hai hình thức giải thể hoặc phá sản Giải thể doanh nghiệp được coi là việc “khai tử” doanh nghiệp

Khi một doanh nghiệp bị lâm vào tình trạng buộc phải giải thể làm nảy sinh nhiều mối quan hệ phức tạp cần được giải quyết Chẳng những quan hệ giữa các thành viên trong doanh nghiệp, quan hệ nợ nần giữa các chủ nợ với doanh nghiệp, quan hệ giữa doanh nghiệp giải thể với người lao động Vì vậy, việc giải quyết kịp thời các vấn đề của việc giải thể doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng nhằm thiết lập một trật tự cần thiết để phát triển kinh tế, đồng thời đảm bảo quyền và lợi ích của các bên liên quan

Hơn nữa hiện nay, trong tình trạng kinh tế khủng hoảng sâu và rộng trên toàn cầu,

số lượng doanh nghiệp giải thể ngày càng nhiều Nhu cầu thực hiện thủ tục giải thể của các doanh nghiệp tăng lên đáng kể, trong khi đó, việc thi hành pháp luật về giải thể doanh nghiệp vẫn còn nhiều điểm vướng mắc Xuất phát từ thực tiễn như vậy em chọn đề tài

“Giải thể doanh nghiệp theo pháp luật việt nam và thực tiễn áp dụng làm đề tài nghiên cứu để thực hiện đề tài tốt nghiệp

Các vấn đề cơ bản của giai đoạn giải thể doanh nghiệp đã được quy định khá cụ thể trong pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới và pháp luật Việt Nam Các công trình nghiên cứu có tính độc lập, chuyên sâu hay tổng quát về vấn đề này cũng không ít Vì vậy việc hoàn thiện các quy chế, quy định về giải thể doanh nghiệp trong hệ thống luật doanh nghiệp ở Việt Nam là một vấn đề cấp bách hiện nay, nhằm giúp cho các doanh nghiệp những chỉ dẫn đúng đắn là phù hợp với điều kiện thực tế và xu thế chung của thế giới

2 Mục tiêu nghiên cứu

Thông qua tìm hiểu các quy định của pháp luật Việt Nam, có sự so sánh, đối chiếu,

đề án hướng tới mục đích nghiên cứu một cách có hệ thống và đầy đủ các quy định trong lĩnh vực giải thể doanh nghiệp Từ đây có thể tìm kiếm và phát hiện những tiến bộ, thiếu sót của pháp luật Việt Nam, làm định hướng để đưa ra những kiến nghị hoàn thiện khung

Trang 8

Nghiên cứu các vấn đề pháp lý đặc thù của giải thể doanh nghiệp, trong đó tập trung vào vấn đề mang tính bản chất của giải thể doanh nghiệp

Kiến nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về giải thể doanh nghiệp

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Chế định pháp luật và doanh nghiệp là một chế định rộng, liên quan đến nhiều yếu

tố pháp lý lẫn thực tiễn: các loại hình doanh nghiệp, các học thuyết pháp lý về bản chất doanh nghiệp thành lập, hoạt động , giải thể hoặc phá sản doanh nghiệp trong phạm vi nghiên cứu của đề tài không nghiên cứu toàn bộ quy định này mà chỉ tập trung vào giai đoạn chấm dứt hoạt động doanh nghiệp cụ thể là “giải thể doanh nghiệp” để làm rõ vẫn

đề có tính bản chất cần thiết cho việc xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp luật trong lĩnh vực này Đề án cũng làm rõ sự khác biệt giữa giải thể và phá sản doanh nghiệp, cũng là quy định về chấm dứt hoạt động, tư cách pháp nhân của doanh nghiệp Dù vậy,

để có thể phân tích và tìm hiểu vấn đề một cách toàn diện đề tài nghiên cứu, một số vấn

đề liên quan đến hoạt động thành lập, hoạt động của doanh nghiệp cũng được đưa ra xem xét Bởi các vấn đề này nằm trong một quan hệ nhân quả, vòng đời của doanh nghiệp

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu chủ yếu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, dựa vào các văn bản pháp luật của Việt Nam và thế giới doanh nghiệp và giải thể doanh nghiệp , các sách, báo, bài viết

tham khảo có liên quan

Ngoài phương pháp nghiên cứu duy vật biến chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin tác giác còn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu nhằm làm rõ vấn đề

5 Bố cục

Ngoài lời mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo nội dung của đề tài kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1:Lý thuyết về giải thể doanh nghiệp

Chương 2: pháp luật về giải thể doanh nghiệp và một số đánh giá

Chương 3: Một số kiên nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về giải thể doanh nghiệp

Trang 9

3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP

1.1 Khái niệm về doanh nghiệp và giải thể doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm về doanh nghiệp

Tùy cách tiếp cận, khái niêm doanh nghiệp cũng được nhìn nhận khác nhau:

Nhìn từ góc độ kinh tế, thì doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế được thành lập

nhằm mục đích kiếm lợi nhuận và lấy hoạt động kinh doanh làm nghề chính

Nhìn từ góc độ pháp lý, doanh nghiệp là một chủ thể pháp luật luật được tạo nên bởi

1 sự kiện pháp lý, là một tổ chức, có tên riêng, có tài sản, trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt

độngkinh doanh

Cũng theo Luật doanh nghiệp 2005 giải thích, kinh doanh là việc thực hiện liên tục một hoặc một số tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản

phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi

Như vậy doanh nghiệp là tổ chức kinh tế vi lợi, mặc dù thực tế một số tổ chức

doanh nghiệp có các hoạt động không hoàn toàn nhằm mục đích tiêu lợi nhuận

1.1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp

Từ khái niệm doanh nghiệp được ghi nhận tại Điều 4 Luật doanh nghiệp 2005 có những đặc điểm sau đây:

Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng Theo đó, doanh nghiệp trước hết phải

là tổ chức kinh tế Tổ chức kinh tế là một tổ chức được thành lập ra bởi một người hoặc trên cơ sở liên kết, liên minh của hai hay nhiều người, tổ chức

Doanh nghiệp có tài sản: doanh nghiệp được thành lập ra với mục đích là kinh doanh, tìm kiếm lợi nhuận chia nhau

Theo Khoản 1 Điều 53 Luật doanh nghiệp 2005 thì doanh nghiệp có trụ sở giao dịch ổn định Trụ sở của doanh nghiệp là nơi đặt cơ quan điều hành của doanh nghiệp, nơi tiến hành hoạt động kinh doanh, nơi doanh nghiệp giao dịch với các bên có liên quan

và để xác định các mối quan hệ với cơ quan Nhà nước

Doanh nghiệp có chức năng sản xuất và kinh doanh, 2 chức năng này liên hệ hết sức chặt chẽ với nhau và tạo thành một chu trình hoạt động khép kín của doanh nghiệp

Doanh nghiệp có mục tiêu kinh tế cơ bản là lợi nhuận tối đa muốn đạt được điều đó doanh nghiệp phải tìm cách thỏa mãn nhu cầu người tiêu dùng ngày càng tốt

Doanh nghiệp làm ăn trong cơ chế thị trường, chấp nhận cạnh tranh tồn tại và phát triển Muốn làm được điều đó phải chú ý đến chiến lược kinh doanh thích ứng với điều kiện và hoàn cảnh trong từng giai đoạn

1.2 Khái niệm và đặc điểm của giải thể doanh nghiệp

1.2.1 Khái niệm của giải thể doanh nghiệp

Chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp trên thương trường là một vấn đề quan trọng thể hiện những nội dung pháp lý cơ bản của doanh nghiệp Giải thể doanh nghiệp là việc chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp cả về mặt pháp lý cũng như trên thực tế, theo một

Trang 10

4

trình từ, thủ tục và điệu kiện do pháp luật quy định Khi doanh nghiệp giải thể, mọi hoạt động của doanh nghiệp chấm dứt, các nghĩa vụ của doanh nghiệp phải được hoàn tất và tài sản còn lại của doanh nghiệp được phân chia cho các thành viên, chủ sở hữu của doanh nghiệp

1.2.2 Đặc điểm của giải thể doanh nghiệp

Như đã phân tích ở trên, giải thể doanh nghiệp, mang những đặc điểm sau:

- Nguyên nhân dẫn đến giải thể doanh nghiệp rất đa dạng song về cơ bản những nguyên nhân này phụ thuộc ý chí chủ quan của chủ doanh nghiệp Các nguyên nhân này được thể hiện thông qua quy định về các trường hợp doanh nghiệp giải thể

- Điều kiện để cơ quan có thẩm quyền cho phép giải thể doanh nghiệp: một doanh nghiệp chỉ được phép giải thể khi doanh nghiệp đó đảm bảo và thực sự thanh toán hết các khoản nợ và thanh lý hết mọi hợp đồng đã ký

- Hậu quả pháp lý giải thể doanh nghiệp sẽ dẫn tới việc loại trừ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, chấm dứt tư cách pháp lý của doanh nghiệp

- Chế tài pháp lý đối với chủ doanh nghiệp và người chịu trách nhiệm quản lý điều hành doanh nghiệp: giải thể không đặt ra vấn đề hạn chế, cấm đảm đương, chức vụ điều hành doanh nghiệp hoặc cấm thực hiện một số hoạt động kinh doanh đối với chủ doanh nghiệp và người chịu trách nhiệm quản lý điều hành doanh nghiệp

- Thủ tục giải thể tuy có thể là tự nguyện song vẫn là một thủ tục mang tính chất hành chính do cơ quan hành chính chấp thuận trong quá trình giám sát việc giải thể doanh nghiệp (cơ quan đăng ký kinh doanh)

1.3 Các hình thức giải thể doanh nghiệp

Các hoạt động kinh doanh của công ty không đảm bảo mức lợi nhuận nhất định cho công ty để tiếp tục duy trì, buộc người lãnh đạo phải giải thể công ty theo đúng quy định của pháp luật đề ra Giải thể doanh nghiệp là việc doanh nghiệp chấm dứt hoạt động kinh doanh do đã đạt được những mục tiêu đặt ra hoặc bị giải thể theo quy định của pháp luật Theo điều 201 quy định tại Luật doanh nghiệp 2015 thì giải thể có hai loại giải thể đó là:

1.3.1 Hình thức giải thể doanh nghiệp tự nguyện

Giải thể tự nguyện là quyền của nhà đầu tư đối với việc rút lui khỏi thị trường kinh doanh, một trong các nhóm quyền của quyền tự do kinh doanh Gồm các trường hợp quy định tại Điểm a,b Khoản 1 Điều 201 Luật doanh nghiệp 2015:

Kết thúc thời hạn hoạt động đã ghi trong Điều lệ công ty mà không có quyết định gia hạn;

Theo quyết định của chủ doanh nghiệp đối với doanh nghiệp tư nhân, của tất cả thành viên hợp danh đối với công ty hợp danh, của Hội đồng thành viên, chủ sở hữu công

ty đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, của Đại hội đồng cổ đông đối với công ty cổ

phần;

1.3.2 Hình thức giải thể doanh nghiệp bắt buộc

Trang 11

5

Giải thể bắt buộc do yêu cầu của cơ quan quản lý Nhà nước về doanh nghiệp do doanh nghiệp không đáp dứng được các điều kiện luật định Doanh nghiệp bị bắt buộc giải thể khi vi phạm một trong các trường hợp như sau:

Công ty không còn đủ số lượng thành viên tối thiểu theo quy định của Luật này trong thời hạn 06 tháng liên tục mà không làm thủ tục chuyển đổi loại hình doanh nghiệp;

Bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp

=>Từ hai hình thức giải thể trên ta có thể thấy: Doanh nghiệp chỉ được giải thể khi bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác và doanh nghiệp không trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án hoặc cơ quan trọng tài Người quản lý có liên quan và doanh nghiệp quy định tại điểm d khoản 1 Điều này cùng liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ của doanh nghiệp

Các quy định trên về giải thể doanh nghiệp đã tạo cơ sở pháp lý để chấm dứt tồn tại của doanh nghiệp, quan trọng hơn , nó còn bảo vệ quyền lợi của những chủ thể có liên quan, đặc biệt là quyền lợi của chủ nợ và người lao động khi doanh nghiệp chấm dứt tồn tại

1.4 Các quy định của pháp luật về giải thể doanh nghiệp

1.4.1 Các trường hợp giải thể và điều kiện giải thể

Quá trình thực thi pháp luật về trường hợp giải thể và điều kiện giải thể theo quy định của pháp luật hiện hành đã nảy sinh khá nhiều vướng mắc:

Thứ nhất, đối với trường hợp giải thể khi “đã kết thúc thời gian hoạt động đã ghi trong điều lệ công ty và không có quyết định gia hạn” (điểm a khoản 1 Điều 157 LDN 2005)

Đây là trường hợp giải thể theo thời gian được chủ đầu tư dự kiến từ khi thành lập doanh nghiệp, được thể hiện thông qua hành vi đăng ký thời gian hoạt động của doanh nghiệp và được khẳng định lại bằng hành vi không xin gia hạn của chủ sở hữu doanh nghiệp hoặc cũng có thể là có xin gia hạn nhưng bị cơ quan có thẩm quyền từ chối gia hạn Trong quá trình thực hiện quy định này đã có hai bất cập sau:

Một là, nhiều điều lệ công ty không ghi thời gian hoạt động nên sẽ không xuất hiện

trường hợp giải thể khi kết thúc thời hạn hoạt động đã ghi trong điều lệ công ty.Bởi lẽ, quy định về thời gian hoạt động không phải là nội dung bắt buộc trong điều lệ (Điều 22 LDN 2005).Trong các mẫu giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp, giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp cũng không ghị thời hạn hoạt động của doanh nghiệp

Hai là, một số trường hợp thời hạn hoạt động lại được ghi trong giấy chứng nhận

đầu tư (Điều 65 Luật đầu tư) Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Điều 52

Luật đầu tư quy định: “Thời hạn hoạt động của dự án có vồn đầu tư nước ngoài phù hợp với yêu cầu hoạt động dự án và không được vượt quá năm mươi năm; trường hợp cần thiết, Chính phủ quyết định thời hạn dài hơn đối với dự án nhưng không quá bảy mươi năm Thời hạn hoạt động của dự án được ghi trong giấy chứng nhận đầu tư.” Như vậy,

riêng dự án đầu tư thành lập tổ chức kinh tế (thành lập doanh nghiệp) sẽ có thời hạn hoạt

Trang 12

Theo đó, doanh nghiệp chỉ được giải thể khi đảm bảo thanh toán hết các khoản nợ

và nghĩa vụ tài sản khác.Nhưng pháp luật không quy định cụ thể việc đảm bảo thanh toán

có thể thực hiện như thế nào, song về mặt lý thuyết có thể chấp nhận 2 cách thức sau:

Một là, tổ chức, cá nhân là chủ sở hữu doanh nghiệp cam kết trả nợ sau khi doanh

nghiệp giải thể Tất nhiên, trường hợp này chỉ an toàn và phù hợp với các quy định về chuyển giao nghĩa vụ trong Bộ luật dân sự 2005 nếu như có sự chấp thuận của chủ nợ Hai là, đối với giải thể chi nhánh, doanh nhiệp có chi nhánh giải thể thực hiện trả nợ (trường hợp này là tất yếu vì thực chất các khoản nợ được tạo ra từ hoạt động của chi nhánh là khoản nợ của doanh nghiệp)

Tuy nhiên, Nghị định số 102/2010/NĐ-CP của Chính phủ ngày 01/10/2010 quy định chi tiết thi hành LDN (Nghị định số 102/2010/NĐ-CP) khi quy định về hỗ sơ giải thể ghi rõ: Hồ sơ giải thể được gửi đến cơ quan đăng ký kinh doanh khi doanh nghiệp đã thanh toán hết nợ và trong báo cáo tóm tắt về việc thực hiện thủ tục giải thể có yêu cầu doanh nghiệp cam kết đã thanh toán hết các khoản nợ Như vậy, vấn đề đặt ra là để giải thể doanh nghiệp, có nhất thiết đòi hỏi doanh nghiệp phải thanh toán hết các khoản nợ hay không, đặc biệt là trong trường hợp doanh nghiệp chưa lâm vào tình trạng phả sản và bản thân doanh nghiệp cũng như các chủ nợ đều không có ý định nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản vì họ thấy việc áp dụng các biện pháp đảm bảo thanh toán phù hợp hơn với lợi ích của mình

1.4.2 Trình tự thủ tục giải thể doanh nghiệp

Thủ tục giải thể doanh nghiệp được quy định tại Điều 158 LDN 2005, bao gồm các bước sau:

Trình tự, thủ tục giải thể doanh nghiệp được quy định tại Điều 158 Luật Doanh nghiệp Theo đó, trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc việc giải thể doanh nghiệp và thanh toán hết các khoản nợ của doanh nghiệp, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp gửi hồ sơ giải thể doanh nghiệp đến cơ quan đăng ký kinh doanh hoặc

cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý về đầu tư để được giải quyết Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan đăng ký kinh doanh xoá tên doanh nghiệp trong sổ đăng ký kinh doanh

Trường hợp doanh nghiệp bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp phải giải thể trong thời hạn sáu tháng, kể từ ngày bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng

ký kinh doanh Trình tự và thủ tục giải thể được thực hiện theo quy định nêu trên Sau thời hạn sáu tháng mà cơ quan đăng ký kinh doanh không nhận được hồ sơ giải thể doanh nghiệp thì doanh nghiệp đó coi như đã được giải thể và cơ quan đăng ký kinh doanh xoá tên doanh nghiệp trong sổ đăng ký kinh doanh

Trang 13

7

Hình 2.1 Quy trình giải thể doanh nghiệp

Nhìn chung, khung khổ pháp lý hiện hành về giải thể doanh nghiệp đã rõ ràng, minh bạch để doanh nghiệp thực hiện Vì vậy, trên cơ sở kết quả rà soát thủ tục hành chính, ngày 27/12/2010, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 70/NQ-CP về việc đơn giản hóa thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Kế hoạch và Đầu tư; trong đó, phương án đơn giản hóa đối với thủ tục giải thể doanh nghiệp được Chính phủ phê duyệt chỉ tập trung vào hai nội dung là: quy định rõ số lượng bộ hồ sơ giải thể “01 bộ” và việc đăng báo quyết định giải thể của doanh nghiệp cần sửa đổi theo hướng “đăng tập trung tại một hoặc một số tờ báo nhất định, kể cả báo điện tử và cổng thông tin doanh nghiệp của cơ quan quản lý nhà nước về kế hoạch và đầu tư”

1.4.3 Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan có thẩm quyền trong giải thể doanh nghiệp

Pháp luật hiện hành quy định nhiều cơ quan có thẩm quyền có thẩm quyền trong giải thể doanh nghiệp Cụ thể là:

1) Cơ quan cấp đăng kí kinh doanh có thẩm quyềnthu hồi giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh và yêu cầu doanh nghiệp làm thủ tục giải thể điểm d khoản 1 Điều 163 LDN 2005)

2) Cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lí vi phạm hành chính có thẩm quyền kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh (Nghị định số 06/2008/NĐ-CP của Chính phủ ngày 16/01/2008 về xử lí vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại)

Trang 14

8

3) Tòa án có thẩm quyền quyết định chấm dứt hoạt động của dự án đầu tư (khoản 4 Điều 65 Luật đầu tư và khoản 3 Điều 68 Nghị định số 102/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật đầu tư), quyết định tuyên bố giải thể doanh nghiệp (khoản

1, điểm a khoản 3 Điều 40 Nghị định số 102/2010/NĐ-CP)

4) Trọng tài có thẩm quyền quyết định chấm dứt hoạt động của dự án đầu tư do vi phạm pháp luật (khoản 4 Điều 65 Luật đầu tư và khoản 3 Điều 68 Nghị định

số 108/2006/NĐ-CP) Trên cơ sở quyết định này, đối với dự án gắn liền với việc thành lập tổ chức kinh tế, doanh nghiệp bắt buộc phải làm thủ tục giải thể

Về nguyên tắc, cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh là

cơ quan có thẩm quyền thu hồi loại giấy chứng nhận này Do vậy, trong quá trình kiểm tra, thanh tra, xử lí vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, cơ quan có thẩm quyền xử lí vi phạm hành chính có thẩm quyền kiến nghị lên cơ quan có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh Như vậy, đây là quy định phù hợp

1.4.4 Quyết định giải thể doanh nghiệp

Quyết định giải thể doanh nghiệp phải gửi đến các tổ chức liên quan:

Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày thông qua, quyết định giải thể và biên bản họp phải được gửi đến Cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế, người lao động trong doanh nghiệp, đăng quyết định giải thể trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và phải được niêm yết công khai tại trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp

Trường hợp doanh nghiệp còn nghĩa vụ tài chính chưa thanh toán thì phải gửi kèm theo quyết định giải thể phương án giải quyết nợ đến các chủ nợ, người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan Thông báo phải có tên, địa chỉ của chủ nợ; số nợ, thời hạn, địa điểm và phương thức thanh toán số nợ đó; cách thức và thời hạn giải quyết khiếu nại của chủ nợ

Là một trong những nội dung quan trọng để giúp cho doanh nghiệp của bạn có thể tiến hành thực hiện nhanh chóng hành vi giải thể của doanh nghiệp mình thì doanh nghiệp của bạn nên được tiến hành đầy đủ các bước để giúp cho doanh nghiệp của mình

có thể tiến hành các bước giải thể của doanh nghiệp mình theo đúng với trình tự theo quy định của pháp luật Trong khi bạn thực hiện đưa ra quyết định giải thể của doanh nghiệp mình thì doanh nghiệp của bạn cần thực hiện việc trước tiên, đó chính là đăng báo cáo thanh lý tài sản của công ty bạn và hôm nay công ty Lạc Việt chúng tôi sẽ giúp cho bạn hiểu thêm lại điều đó theo đúng với nội dung theo sự quy định của pháp luật

Pháp luật nước ta quy định khi doanh nghiệp của bạn thực hiện giải thể của doanh nghiệp mình thì doanh nghiệp của bạn cần thực hiện thanh toán hết các khoản nợ của doanh nghiệp mình thì doanh nghiệp của bạn mới được thanh toán hết các khoản nợ của doanh nghiệp mình thì doanh nghiệp của bạn mới được giải thể theo đúng với sự quy định của pháp luật và để thanh toán hết các khoản nợ đó thì doanh nghiệp của bạn cần thực hiện việc báo cáo thanh lý tài sản của doanh nghiệp bạn

Trang 15

9

Bạn có thể hiểu một cách ngắn gọn nhất, đó chính là: báo cáo thanh lý tài sản của doanh nghiệp là việc doanh nghiệp của bạn cần thực hiện việc thanh lý các khoản tài sản của doanh nghiệp bạn sao cho doanh nghiệp của bạn có thể thực hiện nhanh chóng việc giải thể của doanh nghiệp mình bằng cách báo cáo thanh lý tài sản tới cơ quan có thẩm quyền, bạn có thể thực hiện trên những bước sau đây:

Thứ nhất, doanh nghiệp của bạn thực hiện việc thanh toán các khoản nợ của doanh

nghiệp mình một cách đầy đủ theo đúng với nội dung mà pháp luật đã quy định: nghĩa là doanh nghiệp của bạn cần thực hiện việc thanh toán đầy đủ các khoản nợ của doanh nghiệp mình, xem xét xem doanh nghiệp của bạn cần thực hiện nhanh chóng đầy đủ việc thanh toán các khoản nợ đó theo đúng với nội dung mà pháp luật đã quy định

Thứ hai,việc báo cáo thanh lý tài sản của doanh nghiệp cần phải được báo cáo tại cơ

quan nhà nước, cụ thể ở đây là: cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế của doanh nghiệp bạn Đây có thể nói là hai cơ quan nắm trong tay mình chiếm vị trí vô cùng quan trọng trong việc kinh doanh của chính bạn nên bạn cần phải thực hiện hành vi báo cáo của doanh nghiệp mình đến cơ quan có thẩm quyền như đã được nêu như trên theo đúng với trình tự theo sự quy định của pháp luật

Dù khi bạn tiến hành thủ tục giải thể công ty TNHH hay bất kỳ một mô hình công

ty khác thì doanh nghiệp của bạn cần thực hiện việc thanh lý tài sản của doanh nghiệp mình theo sự quy định của pháp luật và việc thực hiện thủ tục đó cần phải được cáo cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để chắc chắn rằng doanh nghiệp của bạn đã được thanh lý các khoản nợ của doanh nghiệp mình một cách hợp pháp theo đúng với sự quy định của pháp luật

KẾT CHƯƠNG 1

Hiện nay trên thực tế có rất nhiều người sau khi đăng ký kinh doanh nhưng vì những lý do khác nhau đã không tiến hành hoạt động kinh doanh hoặc đang kinh doanh nhưng không tiếp tục kinh doanh nữa không thông báo tạm ngừng hoạt động hoặc không giải thể doanh nghiệp do thủ tục giải thể phức tạp và mất nhiều thời gian Việc này để lại những hậu quả rất lớn cho công tác quản lý doanh nghiệp của Nhà nước cũng như chính các thương nhân Để hiểu rõ hơn những quy định của pháp luật hiện hành về giải thể doanh nghiệp em sẽ phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về giải thể cũng như thực trạng của của pháp luật giải thể doanh nghiệp ở chương 2

Trang 16

10

CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT VỀ GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP VÀ MỘT SỐ ĐÁNH GIÁ

2.1 Tình hình hoạt động giải thể doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Gia Lai

2.1.1 Qúa trình hình thành và phát triển

Uỷ ban Kế hoạch tỉnh Gia Lai – Kon Tum (nay là Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Gia Lai) được hình thành từ những ngày đầu sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước đến nay Ngành Kế hoạch và Đầu tư đã bắt tay ngay vào việc xây dựng kế hoạch khôi phục và hàn gắn vết thương chiến tranh sau hơn 20 năm bị tàn phá Do xuất phát điểm nền kinh tế của tỉnh lúc bấy giờ rất thấp kém, sản xuất nông nghiệp theo phương thức tự cung tự cấp, cơ sở công nghiệp hầu như chưa có, hệ thống dịch vụ chủ yếu phục vụ cho bộ máy chiến tranh, sau ngày giải phóng năm 1975, tỉnh ta có hơn 50 vạn người phải cứu đói, 95% dân số mù chữ, cơ sở vật chất, kỹ thuật thấp kém Dưới sự quan tâm lãnh đạo của Tỉnh uỷ, chỉ đạo sát sao của UBND tỉnh, đồng thời có sự chỉ đạo

về nghiệp vụ chuyên môn của Uỷ ban Kế hoạch nhà nước (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) ngành Kế hoạch và Đầu tư tiến hành hoạch định kế hoạch phát triển KT-XH 5 năm (1976-1980) để phục vụ cho Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ VI và cụ thể hoá bằng kế hoạch hằng năm cho phù hợp với thực tiễn trong giai đoạn này

Thời kỳ 1981-1985, tỉnh ta tiến hành xây dựng kế hoạch phát triển KT-XH 5 năm lần thứ 2, ngoài ra UBND tỉnh còn giao nhiệm vụ cho ngành kế hoạch và Đầu tiến hành lập qui hoạch tổng thể phát triển KT-XH cho 13 huyện, thị xã; lập 10 sơ đồ phát triển ngành và xây dựng Sơ đồ phát triển và phân bổ lực lượng sản xuất đến năm 2000 Sơ đồ

đã được Hội đồng nghiệm thu đánh giá cao Sơ đồ là căn cứ khoa học để Tỉnh uỷ và UBND tỉnh quyết định nhiều chủ trương chính sách quan trọng trong việc chỉ đạo phát triển KT-XH, nâng cao đời sống nhân dân trong thời kỳ này

Từ khi có Nghị quyết Đại hội VI của Đảng, tỉnh ta triển khai xây dựng kế hoạch 5 năm lần thứ 3 (1986-1990) trong bối cảnh các chủ trương và đường lối đổi mới toàn diện: chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp sang cơ chế kế hoạch định hướng, vận hành nền kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát huy tính năng động của các thành phần kinh tế tạo ra sức sản xuất mới, tốc độ phát triển nền kinh tế tăng trưởng nhanh, Cùng với xu thế đó, đội ngũ cán bộ ngành Kế hoạch và Đầu tư đã đổi mới tư duy, thay đổi cách nghĩ, cách làm, tiếp cận với yêu cầu cuộc sống đã góp phần đắc lực tham mưu cho Tỉnh uỷ, UBND tỉnh trong việc xây dựng kế hoạch phát triển KT-XH tỉnh nhà

Trong kế hoạch 5 năm lần thứ 4 (1991-1995), tỉnh Gia Lai-Kon Tum được chia tách thành 2 tỉnh vào tháng 10 năm 1991, ngoài việc tiếp tục xây dựng kế hoạch 5 năm trong tình hình tỉnh mới; thực hiện chủ trương của UBND tỉnh, ngành Kế hoạch và Đầu tư triển khai xây dựng Qui hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội đến 2010 và đã nhận được các

ý kiến chỉ đạo của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh và đóng góp ý kiến của các Sở, ngành, huyện, thị

xã Dự án đã được UBND tỉnh phê duyệt và làm căn cứ quan trọng để tỉnh tiến hành xây dựng kế hoạch 5 năm lần thứ 5 (1996-2000)

Trang 17

11

Vai trò của công tác kế hoạch trong nền kinh tế thị trường ngày càng rõ nét, việc triển khai kế hoạch 5 năm lần thứ 5 (1996-2000) dựa trên quy hoạch tổng thể 2010 và Nghị quyết Đại hội XI của tỉnh Đảng bộ Trong thời kỳ này, tốc độ phát triển nền kinh tế của tỉnh khá cao, qui mô đầu tư của toàn xã hội tăng nhanh Nhiều công trình lớn được đầu tư và phát huy hiệu quả như: thuỷ điện Ia Ly, thuỷ lợi Ayun Hạ; diện tích các cây công nghiệp dài ngày: cà phê, cao su phát triển mạnh, hình thành các vùng cây công nghiệp tập trung lớn Đây là thời kỳ tỉnh đã khẳng định được các thế mạnh của mình một cách rõ nét, các tiềm năng đã được khai thác có hiệu quả, tạo thêm nhiều năng lực sản xuất mới và giải quyết việc làm, ổn định đời sống nhân dân

Trên cơ sở rà xét lại qui hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội đến 2010 để làm cơ

sở cho việc xây dựng kế hoạch 5 năm lần thừ 6 (2001-2005) và Nghị quyết XII tỉnh Đảng

bộ Mặc dù trong tình hình có nhiều khó khăn như: hạn hán xảy ra liên tiếp, dịch cúm gia cầm, giá cả biến động bất lợi, tình hình an ninh chính trị diễn biến phức tạp, nhưng với sự lãnh đạo và chỉ đạo thường xuyên sâu sát của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh, nền kinh tế của Tỉnh

có bước phát triển khá, đời sống nhân dân được cải thiện, quốc phòng an ninh được củng

cố, tộc độ tăng trưởng bình quân trong 5 năm 2001-2005 đạt 11,1%/năm

Kế hoạch 5 năm lần thứ 7 (2006-2010) là giai đoạn phát triển nhanh, tốc độ tăng bình quân 5 năm đạt 13,6%/năm Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực Bộ mặt nông thôn và thành thị có nhiều thay đổi Tỉnh có thành phố Pleiku là đô thị loại II và

2 thị xã An Khê và Ayunpa Cơ sở hạ tầng kỹ thuật và đời sống nhân dân được nâng lên

rõ rệt Thu ngân sách tăng khá, vốn đầu tư trên địa bàn tăng nhanh, cả nguồn ngân sách lẫn huy động các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh thông qua cơ chế thu hút vốn đầu

tư của tỉnh mà ngành kế hoạch đầu tư chủ trì đề xuất

Trong các năm 2009- 2010 tỉnh đã xây dựng và hoàn chỉnh quy hoạch tổng thể kinh

tế - xã hội đến năm 2020 để định hướng cho phát triển của các ngành và làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch 5 năm 2011-2015 Kế hoạch 5 năm lần thứ 8 (2011-2015) đã được triển khai xây dựng và tổ chức lấy ý kiến của các ngành, địa phương và đã phục vụ thiết thực cho thắng lợi Đại hội Tỉnh Đảng bộ lần thứ XIV, và đã được HĐND tỉnh thông qua trong kỳ họp vừa qua

2.1.2 Cơ cấu tổ chức

Lãnh đạo Sở: 01 Giám đốc và 04 Phó giám đốc Sở

Các Phòng chuyên môn (08 phòng): Văn phòng; Phòng Tổng hợp Quy hoạch kinh tế; Phòng Thẩm định Giám sát đầu tư; Phòng Kinh tế ngành, Hợp tác - Kinh tế đối ngoại, Phòng Văn hóa – Xã hội, Phòng Đăng ký kinh doanh và Thanh tra Sở

Các đơn vị trực thuộc (01 đơn vị): Trung tâm Xúc tiến đầu tư

Tổng số CBCCVC Cơ quan, đơn vị trực thuộc là: 56 người, trong đó:

Chức vụ công tác: CVC: 10 người; CV: 44 người; Cán sự: 02 người

Trình độ chuyên môn: Đại học: 52; Trung cấp: 02

Các tổ chức Đảng, Đoàn thể (3 tổ chức):

Đảng bộ: gồm có 3 chi bộ với tổng số 33 đảng viên/56 CBCC,VC

Trang 18

2.2 Thực trạng về giải thể doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Gia Lai

Chuyển sang cơ chế quản lý kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần, các doanh nghiệp ở Gia Lai có bước phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng và số lượng Nhất là sau khi Luật doanh nghiệp 2005 ra đời

Trong năm 2017, số doanh nghiệp giải thể là 420 doanh nghiệp với tổng số vốn 2.278 tỷ đồng và 187 đơn vị trực thuộc, tổng số doanh nghiệp giải thể tăng so với cùng kì (420/302 tăng 23,5%), số vốn giải thể giảm so với cùng kỳ Nâng tổng số doanh nghiệp giải thể lên tới 31/12/2017 1.135 doanh nghiệp với tổng số vốn đăng ký 40.589 tỷ đồng

và có 950 đơn vị trực thuộc (chi nhánh, văn phòng đại diện,địa điểm kinh doanh) giải thể doanh nghiệp trên địa bàn với trên 95% là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, siêu nhỏ; hoạt động trong lĩnh vực thương mại (chiếm 49%), xây dựng (chiếm 16%), công nghiệp chế biến (chiếm 10%); vận tải, dịch vụ (chiếm 5%), còn lại là các ngành nghề khác (chiếm 20%)

Bảng 2.2 Tổng hợp số lượng doanh nghiệp giải thể và bỏ trốn khỏi trụ sở đăng ký

trên địa bàn tỉnh Gia lai

đăng ký hoạt động

Số DN giải thể

Số DN bỏ trốn khỏi trụ sở đăng ký

Tỷ lệ số DN giải thể và bỏ trốn khỏi trụ sở đăng

Ngày đăng: 28/08/2021, 11:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w