Một số phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như phương pháp tổng hợp và phân tích, phương pháp so sánh luật học, phương pháp logic,… Dưới đây là hai phương pháp tôi sử dụng chủ yếu tro
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TẠI KON TUM
Y ĐỐC BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
THỰC TIỄN XỬ LÝ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI VÔ
HIỆU TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM
Kon Tum, tháng 8 năm 2018
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TẠI KON TUM
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
THỰC TIỄN XỬ LÝ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI VÔ
HIỆU TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN : NGUYỄN THỊ ANH THƯ
Kon Tum, tháng 8 năm 2018
Trang 3CHƯƠNG 1 MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Bố cục 2
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI VÔ HIỆU 3
1.1 KHÁI NIỆM 3
1.1.1 Khái niệm hợp đồng 3
1.1.2 Khái niệm hợp đồng thương mại 4
1.2 ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI 5
1.2.1 Năng lực chủ thể 5
1.2.2 Sự tự nguyện, tự do của các bên giao kết hợp đồng 7
1.2.3 Nội dung và mục đích của hợp đồng 8
1.2.4 Hình thức của hợp đồng thương mại 10
1.3 PHÂN LOẠI HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI VÔ HIỆU 12
1.4 CÁC TRƯỜNG HỢP VÔ HIỆU CỦA HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI 14
1.4.1 Quy định của pháp luật về các trường hợp vô hiệu của hợp đồng thương mại 14
1.4.2 Các trường hợp vô hiệu cụ thể của hợp đồng thương mại 15
1.5 HẬU QUẢ PHÁP LÝ CỦA HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU 31
Kết chương 1 34
CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN XỬ LÝ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI VÔ HIỆU TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 35
2.1 THỰC TIỄN XỬ LÝ CỦA TÒA ÁN VỀ CÁC HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI VÔ HIỆU 35
2.2 KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN VỀ THỰC TIỄN XỬ LÝ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI VÔ HIỆU TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM 41 Kết chương 2 42
KẾT LUẬN 44
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 45
Trang 5Tham gia sân chơi, khi Việt Nam là thành viên của tổ chức kinh tế thế giới (WTO)
và là thành viên không thường trực của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc; nền kinh tế nước nhà cần phải vững mạnh, hệ thống pháp luật liên quan cần phải thông thoáng nhưng chặt chẽ để các nhà đầu tư trong và ngoài nước yên tâm, thu hút đầu tư Hơn hết các cá nhân,
tổ chức, pháp nhân hoạt động thương mại cần thiết phải bản lĩnh, thông minh và không chỉ dừng lại ở biết luật mà còn hiểu đúng, hiểu sâu và nắm bắt kịp thời, chính xác các quy định pháp luật hiện hành để th lợi nhuận và hạn chế rủi ro cho chính bản thân
Công cụ để xác lập quyền, nghĩa vụ của các chủ thể hoạt động thương mại là hợp đồng Do đó, hợp đồng phải tuân thủ theo quy định của pháp luật để có hiệu lực ràng buộc các bên kết ước, góp phần bảo vệ lợi ích chính đáng của những chủ thể kinh doanh chân chính
Bất cứ một vấn đề nào, khi nắm được những kiến thức cơ bản cũng mang lại những lợi ích nhất định: Khi có những tranh chấp, rủi ro bất ngờ có liên quan đến hợp đồng và hợp đồng thương mại bị tuyên bố vô hiệu sẽ khó tránh khỏi những tổn thất Cho nên, phải hiểu sâu, hiểu rõ các quy định của pháp luật hiện hành về các trường hợp vô hiệu của hợp đồng thương mại để tiến hành kinh doanh có hiệu quả Chính vì vậy, để hiểu rõ hơn về
vấn đề này tôi chọn đề tài “Thực tiễn xử lý hợp đồng thương mại vô hiệu tại Tòa án nhân
dân thành phố Kon Tum”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài là thông qua việc nghiên cứu các vấn đề lý luận, khảo sát thực trạng áp dụng pháp luật và thực tiễn áp dụng Luật Thương mại trong các hợp đồng thương mại tại doanh nghiệp, để có thể:
- Tiếp cận nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định hiện hành của Luật thương mại về hợp đồng thương mại vô hiệu giữa các bên cũng như thực tiễn thi hành các quy định trong luật này;
- Đánh giá việc thực hiện Luật thương mại 2005 trong hợp đồng thương mại bị tuyên bố vô hiệu của doanh nghiệp;
- Lập luận đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu lực của pháp luật cũng như tính hiệu quả của hợp đồng thương mại của các doanh nghiệp
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề liên quan đến thực tiễn xử lý hợp đồng thương mại vô hiệu theo luật Thương mại 2005, Bộ luật dân sự 2015 và thực tiễn áp dụng tại Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum
Trang 62
4 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các phương pháp chuyên ngành khoa học pháp lý để giải quyết những vấn đề lý luận và pháp lý liên quan đến các quy định về hợp đồng mua bán hàng hóa Một số phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như phương pháp tổng hợp và phân tích, phương pháp so sánh luật học, phương pháp logic,… Dưới đây là hai phương pháp tôi sử dụng chủ yếu trong quá trình nghiên cứu đề tài:
- Phương pháp thu thập thông tin: Mục đích của việc thu thập thông tin là làm cơ sở
lý luận khoa học hay luận cứ để đi sâu vào vấn đề giao kết và thực hiện hợp đồng và hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu.Thu thập các quy định, các văn bản quy phạm pháp luật và các tài liệu tổng quan quy định về giao kết và thực hiện hợp đồng nói chung và hợp đồng mua bán hàng hóa nói riêng như Luật Thương mại 2005 hay Bộ luật dân sự 2015, các văn bản quy phạm pháp luật các nước Pháp, Anh, Mỹ về hợp đồng mua bán hàng hóa Từ đó đưa ra một số nội dung pháp lý về hợp đồng mua bán hàng hóa trong chương 1 về: Khái niệm, điều kiện có hiệu lực của hợp đồng và phân tích các trường hợp vô hiệu của hợp đồng thương mại
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Dựa trên cơ sở các tài liệu đã thu thập được,
em phân tích đánh giá nội dung các quy định của pháp luật về hợp đồng thương mại được thực hiện trong Chương 1 và thực tiễn áp dụng chúng trong giao kết, thực hiện hợp đồng thương mại tại Việt Nam.Từ những kết quả đã phân tích, tổng hợp lại để có nhận thức đầy đủ, đúng đắn, tìm ra được bản chất, quy luật vận động của pháp luật về thực tiễn xử
lý hợp đồng thương mại vô hiệu nói chung cũng như Luật thương mại nói riêng và đề xuất giải pháp hoàn thiện
- Phương pháp so sánh: Đưa ra các quy định pháp luật của một số nước trên thế giới rồi so sánh với quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành (Phân tích cụ thể ở chương 1)
5 Bố cục
Với mục tiêu, phạm vi và phương pháp nghiên cứu như đã nêu ở trên, đề tài ngoài tóm lược, lời mở đầu, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung, thì đề tài gồm có
2 chương:
Chương 1: Lý luận chung về hợp đồng thương mại vô hiệu
Chương 2: Thực tiễn xử lý hợp đồng thương mại vô hiệu tại Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum và một số kiến nghị
Trang 7Trong một nền kinh tế thị trường vai trò của hợp đồng vô cùng quan trọng, đó là
một công cụ pháp lý hết sức quan trọng, đó là công cụ pháp lý thông dụng nhất trong việc
kinh doanh buôn bán
Trong pháp chế Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, danh từ “hợp đồng” được
xuất hiện lần đầu tiên trong pháp lệnh hợp đồng kinh tế công bố ngày 28/9/1989 và pháp
lệnh về hợp đồng dân sự công bố ngày 07/5/1991 Theo hai văn bản này, hợp đồng kinh
tế bao gồm các hợp đồng được ký kết nhằm mục đích kinh doanh giữa pháp nhân với
pháp nhân, giữa pháp nhân với tư nhân có đăng ký kinh doanh theo pháp luật Các tranh
chấp phát sinh trong việc thi hành hợp đồng kinh tế thuộc thẩm quyền của Tòa kinh tế,
các hợp đồng khác không phải là hợp đồng kinh tế nếu được ký kết giữa các công ty với
nhau, giữa công ty và tư nhân có đăng ký kinh doanh nhằm mục đích kinh doanh; hợp
đồng là dân sự nếu được ký kết giữa các cá nhân với nhau
Tại Việt Nam hai pháp lệnh trên đã bị bãi bỏ và Bộ luật dân sự 2005 chỉ còn dự liệu
một loại hợp đồng là hợp đồng dân sự, nay bộ luật này hết hiệu lực, thay vào đó là Bộ
luật dân sự 2015 Tuy nhiên, luật thương mại công bố ngày 27/6/2005 quy định một số
giao dịch được xem là hoạt động thương mại, Điều 3 Luật thương mại 2005 quy định:
“Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi bao gồm mua bán hàng
hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh
chi phối; do đó chúng ta có thể tạm gọi các hợp đồng này là các hợp đồng thương mại
Nhưng lợi ích của sự phân biệt giữa hợp đồng dân sự và hợp đồng thương mại chẳng còn
là bao khi mà ngày nay Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam 2015 đã quy tụ tranh tụng về
một khối: Tòa án dân sự xét xử mọi tranh chấp về dân sự, thương mại, lao động,… Mặc
dù vậy, các hợp đồng thực hiện hoạt động thương mại được dự liệu trong Luật thương
mại cũng có những đặc tính riêng của nó, ngoài các quy tắc chung cho mọi hợp đồng
được dự liệu trong luật dân sự
Hiện nay, pháp luật về hợp đồng nằm rải rác trong rất nhiều văn bản pháp luật có
giá trị pháp lý cao thấp khác nhau và cũng chưa có bất kỳ thử nghiệm nào nhằm thống
nhất hóa hệ thống các văn bản pháp luật về hợp đồng cũng như chỉ ra sự liên kết, liên
thông hoặc tính hệ thống của pháp luật hợp đồng nói chung Tuân thủ nguyên tắc về mối
quan hệ giữa luật chung và luật riêng, có thể thấy rằng, các quy định chung của pháp luật
về hợp đồng được quy định từ các điều 385 – 429 Bộ luật dân sự 2015 có thể được áp
dụng cho tất cả các loại hợp đồng khác nhau Bên cạnh các quy định chung đó, Bộ luật
dân sự 2015 có các quy định riêng cho các hợp đồng chuyên biệt Các quy định về các
1
Điều 3 Luật Thương Mại 2005
Trang 84
hợp đồng hợp đồng chuyên biệt, theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các hợp đồng mang tính luật tư (ví dụ: Hợp đồng lao động, hợp đồng tín dụng, hợp đồng thương mại,…); đó là các quy định riêng so với nguyên tắc chung của Bộ luật dân sự 2015 Đối với những vấn
đề mà luật tư đã quy định thì áp dụng luật tư để điều chỉnh, đối với những vấn đề mà luật
tư chưa đề cập đến thì áp dụng luật chung để điều chỉnh Nói cách khác, các hoạt động có tính chất thương mại, nếu được quy định tại một luật riêng hay đã được quy định trong luật thương mại thì sẽ được điều chỉnh bởi luật đó, và các hoạt động không được quy định trong Luật thương mại và cũng không được quy định trong một luật riêng khác, thì
sẽ được điều chỉnh bởi Bộ luật dân sự2
Theo nghĩa rộng thì khái niệm về hợp đồng được hiểu là: Hợp đồng là công cụ chủ yếu để xác lập quan hệ giữa người và người liên quan đến tài sản trong một xã hội có tổ chức Các quan hệ ấy không chỉ hình thành trong lĩnh vực dân sự mà cả trong các lĩnh vực thương mại, lao động, thậm chí trong lĩnh vực hành chính Mỗi loại hợp đồng, trong mỗi lĩnh vực, có những đặc điểm rất riêng và, do đó, được chi phối bởi những quy định riêng Tuy nhiên, là sản phẩm của sự gặp gỡ ý chí, tất cả các hợp đồng đều hình thành và vận hành trên cơ sở nguyên tắc tự do kết ước và những nguyên tắc cơ bản khác mà xoay quanh những nguyên tắc đó, một hệ thống các quy tắc pháp lý được xây dựng và tạo thành luật về quan hệ kết ước hay còn gọi là luật chung về hợp đồng
Vậy, theo quy định tại Điều 385 Bộ luật dân sự 2015 quy định về khái niệm cụ thể
của hợp đồng: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc
chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”
1.1.2 Khái niệm hợp đồng thương mại
Trong Luật thương mại Việt Nam không có quy định khái niệm về hợp đồng thương mại, nhưng có thể hiểu: Hợp đồng thương mại là hình thức pháp lý của hành vi thương mại, là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên (ít nhất một trong các bên phải là thương nhân hoặc các chủ thể có tư cách thương nhân) nhằm xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong việc thực hiện hoạt động thương mại3
Các hoạt động thương mại ở đây được xác định theo LTM 2005, cụ thể tại Điều 1
LTM 2005, theo đó bao gồm: “Hoạt động thương mại thực hiện trên lãnh thổ nước
CHXHCN Việt Nam; hoạt động thương mại thực hiện ngoài lãnh thổ Việt Nam trong trường hợp các bên thỏa thuận chọn áp dụng Luật này hoặc Luật nước ngoài, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi của một bên trong giao dịch với thương nhân thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam trong trường hợp bên
Hợp đồng thương mại mang những đặc điểm chung của hợp đồng nói chung, đồng thời mang những nét đặc trưng nhất định, trong đó có nổi bật 2 yếu tố cơ bản:
4
Điều 1 LTM 2005
Trang 95
- Nội dung là các hoạt động thương mại
- Được kí kết giữa các bên là thương nhân hoặc một bên là thương nhân (được thê hiện ở yếu tố chủ thể)
1.2 ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI
Để quan hệ hợp đồng được xác lập một cách có hiệu lực, cần tồn tại các điều kiện theo Điều 385 Bộ luật dân sự 2015:
- Tồn tại một sự thỏa thuận
- Giữa các bên có thẩm quyền giao kết hợp đồng
- Dựa trên việc thống nhất ý chí giữa các bên
- Mục đích của giao dịch phải hợp pháp
- Thỏa thuận được xác lập theo một hình thức do pháp luật xác định
1.2.1 Năng lực chủ thể
Ở các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển và hệ thống pháp luật lâu đời không có sự phân biệt và cách biệt giữa khái niệm thương gia và doanh nghiệp với tính cách là những thành viên hợp pháp của thương trường Khi giao lưu trong thương trường, các thành viên thường quan tâm đến tính chất và đặc tính pháp lý của nhau mà trước hết
đó là một pháp nhân hay thể nhân, và quan trọng hơn là xét tư cách chủ thể của hai chủ thể này
Năng lực pháp luật:
- Cá nhân: là chủ thể đầu tiên của các quan hệ xã hội, là “Tổng hòa các mối quan hệ
xã hội” Cá nhân – con người là trung tâm của các chính sách kinh tế, xã hội mà Đảng và Nhà nước ta đã và đang phục vụ với mục đích phục vụ con người, vì con người Trong các mối quan hệ tài sản và nhân thân mà luật dân sự điều chỉnh thì cá nhân là chủ thể nguyên sinh, đầu tiên và các chủ thể khác tham gia vào các quan hệ dân sự cũng thông qua hành vi của con người Để tham gia vào quan hệ xã hội nói chung và quan hệ dân sự, thương mại nói riêng, cá nhân phải có tư cách chủ thể để tham gia vào các quan hệ đó
Đó là năng lực chủ thể được tạo thành bởi năng lực pháp luật và năng lực hành vi
“Năng lực pháp luật dân sự của các nhân là khả năng của cá nhân có quyền và có nghĩa vụ dân sự” (Khoản 1 Điều 16 Bộ luật dân sự 2015) Năng lực pháp luật dân sự của
cá nhân là khả năng, là tiền đề, điều kiện cần thiết để công dân có quyền, có nghĩa vụ; là thành phần không thể thiếu được của cá nhân với tư cách chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự, là một mặt của năng lực chủ thể5
- Pháp nhân: có năng lực pháp luật kể từ thời điểm tư cách pháp nhân phát sinh Khác với tư cách pháp luật của cá nhân, năng lực pháp luật của pháp nhân do luật xác định về nội dung, phù hợp với đặc điểm của từng loại pháp nhân, thậm chí với từng cá nhân của pháp nhân Mỗi pháp nhân có những mục đích xác định để theo đuổi và do đó,
có khả năng có những quyền và nghĩa vụ giới hạn bởi chính các mục đích đó
5
Giáo trình Luật dân sự Việt Nam - Trường ĐH Luật Hà Nội – NXB Công an nhân dân 2004 – Trang 64
- 65
Trang 106
Mục đích của các pháp nhân tư pháp và pháp nhân hỗn hợp được xác định trong điều lệ pháp nhân Bởi vậy, khi giao dịch với pháp nhân loại này, người thứ ba, muốn tránh khả năng giao dịch bị tuyên bố vô hiệu do không phù hợp với mục đích của pháp nhân đối tác, nên tham khảo điều lệ của pháp nhân trước khi quyết định nên hay không nên tiến hành giao kết Cần lưu ý rằng người thứ ba luôn ở trong tình trạng buộc phải biết nội dung điều lệ của pháp nhân tư pháp, bởi trong mọi trường hợp, điều lệ này luôn được đăng kí tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, nghĩa là được công bố cho tất cả mọi người6
Năng lực hành vi:
- Cá nhân: Tư cách chủ thể của cá nhân chỉ đầy đủ, hoàn thiện, độc lập khi họ có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, ngoài năng lực pháp luật dân sự vốn là thuộc tính được pháp luật ghi nhận cho mọi cá nhân
“Năng lực pháp luật hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của các nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự” (Điều 19 Bộ luật dân sự
2015)
Nếu năng lực pháp luật là tiền đề, là quyền dân sự khách quan của chủ thể, thì năng lực hành vi là khả năng hành động của chính thể tạo ra các quyền, thực hiện quyền và nghĩa vụ của họ Ngoài ra, năng lực hành vi dân sự còn bao hàm cả năng lực trách nhiệm dân sự khi vi phạm nghĩa vụ dân sự
Cùng với năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự là thuộc tính của cá nhân, tạo
ra tư cách chủ thể của cá nhân trong các quan hệ dân sự7
Bất cứ ai cũng có quyền kí kết hợp đồng chỉ trừ là những người bị pháp luật coi là không có năng lực hành vi được qui định tại khoản 2 Điều 20 Bộ luật dân sự
2015:“Người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp quy định tại
điều 22, 23, và 24 của bộ luật này” Người thành niên là người đủ 18 tuổi trở lên (Điều
20 Bộ luật dân sự 2005), do đó người chưa đủ 18 tuổi tròn trở xuống là người chưa thành niên và trên nguyên tắc không có năng lực kí kết hợp đồng Ngoài ra, những người bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức được hành vi của mình, và các người nghiện ma túy hay chất kích thích khác có thể bị Tòa án ra quyết định tước bỏ hay hạn chế năng lực hành vi (Điều 22-24 Bộ luật dân sự 2015).Người kí kết hợp đồng
mà không có năng lực hành vi dân sự thì hợp đồng bị tuyên vô hiệu
Khoản 2 Điều 134 Bộ luật dân sự 2015: “Cá nhân, pháp nhân có thể xác lập, thực
hiện giao dịch dân sự thông qua người đại diện Cá nhân không được để người khác đại diện cho mình nếu pháp luật quy định họ phải tự mình xác lập, thực hiện giao dịch đó”
Có hai loại đại diện: Đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền Người đại diện theo pháp luật của người dưới 18 tuổi, của người mất trí là cha mẹ hoặc người giám hộ
Trang 117
Đại diện theo ủy quyền xuất phát từ hợp đồng ủy quyền, theo đó một người ủy quyền cho một người khác để nhân danh mình kí kết hợp đồng Hợp đồng phát sinh hiệu lực đối với người ủy quyền, còn người được ủy quyền chỉ chịu trách nhiệm về việc thực hiện hợp đồng ủy quyền
Theo khoản 3 Điều 140 Bộ luật dân sự 2015: “Đại diện theo ủy quyền chấm dứt
trong trường hợp sau:
a) Theo thỏa thuận;
b) Thời hạn ủy quyền đã hết;
c) Công việc được ủy quyền đã hoàn thành;
d) Người được đại diện hoặc người đại diện đơn phương chấm dứt thực hiện việc
1.2.2 Sự tự nguyện, tự do của các bên giao kết hợp đồng
Bản chất của mọi giao dịch là sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí, cho nên sự
tự nguyện bao gồm các yếu tố cấu thành là tự do ý chí và bày tỏ ý chí Không có tự do ý chí và bày tỏ ý chí không thể có tự nguyện, nếu một trong hai yếu tố này không có hoặc không thống nhất cũng không thể có tự nguyện Sự tự nguyện của một bên (hành vi pháp
lý đơn phương) hoặc sự tự nguyện của các bên trong một hợp đồng là một trong các nguyên tắc được quy định tại Điều 3 Bộ luật dân sự 2015: Nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận Vi phạm sự tự nguyện của chủ thể là vi phạm pháp luật Vì vậy giao dịch không có sự tự nguyện không làm phát sinh hậu quả pháp lý
Quyền tự do của các bên trong việc quyết định có tham gia vào một giao dịch cụ thể
và đồng ý về các điều khoản của giao dịch đó hay không là nền tảng pháp lý của nền kinh
tế thị trường Từng cá nhân có thể tham gia vào các mối quan hệ pháp lý một cách nhanh chóng và trực tiếp mà không có bất kỳ sự can thiệp chính trị hay ngoại giao nào Do vậy, các bên có thể đưa ra các quyết định kinh tế tức thì, có liên quan trực tiếp đến sự thành công của họ Ngoài ra, các bên sẽ tự quyết định sự được mất trong phần lớn các cuộc thương lượng của họ (với điều kiện là không bên nào bị ở vị thế quá bất lợi)
8
.Giáo trình Luật dân sự Việt Nam (Tập 1 – Quyển 1) - Trường Đại học Cần Thơ – Khoa Luật - Ts Nguyễn Ngọc Điện chủ biên – Trang 51, 52
Trang 128
Luật thương mại chỉ có hiệu lực ràng buộc các nghĩa vụ pháp lý khi các bên tham gia được cho là đã tự nguyện gánh vác các nghĩa vụ đó Một bộ luật thương mại có thể qui định cụ thể khi nào một bên đã thực sự gánh vác các nghĩa vụ pháp lý đó, ví dụ như là việc xác định ranh giới khi việc thỏa thuận về một thương vụ nào đó trở thành một cam kết mang tính hợp đồng Nhưng các bên có thể tự thỏa thuận các điều khoản cho các cam kết của họ Thậm chí ngay cả khi khi bộ luật thương mại có các qui định về việc thực hiện các giao dịch cụ thể nào đó, các bên vẫn có quyền tự do bãi bỏ hoặc thay đổi các quy tắc áp dụng Một ví dụ điển hình là Ðiều 6 của Công ước Liên Hiệp Quốc về Bán hàng
hoá quốc tế, cho phép các bên “không phải áp dụng Công ước này hoặc làm giảm bớt
hay thay đổi hiệu lực của bất kỳ điều khoản nào của Công ước này”, Còn ở Việt Nam,
Điều 421 Bộ luật dân sự 2015 có quy định: “Các bên có thể thỏa thuận sửa đổi hợp
đồng; Hợp đồng có thể sửa đổi theo quy định tại Điều 420 của Bộ luật này; Hợp đồng sửa đổi phải tuân theo hình thức của hợp đồng ban đầu”
Tất nhiên tự do hợp đồng cũng có những giới hạn của nó Một hợp đồng được xác lập trên cơ sở tự nguyện, tự do nhưng cũng phải đảm bảo tuân thủ theo quy định của pháp luật
1.2.3 Nội dung và mục đích của hợp đồng
“Mục đích của giao dịch dân sự là lợi ích mà chủ thể mong muốn đạt được khi
xác lập giao dịch đó” (Điều 118 Bộ luật dân sự Việt Nam 2015) Nội dung của mọi giao
dịch là tổng hợp các điều khoản mà các bên đã cam kết, thỏa thuận trong giao dịch Những điều khoản này xác định quyền, nghĩa vụ của các bên phát sinh từ giao dịch Mục đích và nội dung của giao dịch có quan hệ chặt chẽ với nhau Ví dụ: Trong hợp đồng mua bán tài sản, mục đích của các bên hướng đến là quyền sở hữu tài sản Để đạt được mục đích này họ phải thỏa thuận được về nội dung của hợp đồng mua bán bao gồm các điều khoản như: đối tượng (vật bán), giá cả, thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng Sự thỏa thuận về các điều khoản đó lại nhằm đạt đựơc mục đích là quyền sở hữu tài sản
Để các giao dịch có hiệu lực pháp luật thì mục đích và nội dung của giao dịch không trái pháp luật, đạo đức xã hội, nói cách khác, các giao dịch này không vi phạm
điều cấm của pháp luật, “không xâm phạm đến lợi ích của quốc gia, dân tộc, lợi ích công
cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác” (Điều Khoản 4 Điều 3 Bộ luật dân sự
Việt Nam 2015) Vì thế, chỉ những tài sản được phép giao dịch, những công việc được phép thực hiện không vi phạm điều cấm pháp luật, không trái đạo đức xã hội là những giao dịch có mục đích và nội dung không hợp pháp, không làm phát sinh hiệu lực pháp luật của giao dịch đó9.Tuy vậy, nội dung của hợp đồng cũng phụ thuộc vào tự do ý chí của các bên giao kết trong khuôn khổ pháp luật
Một hợp đồng bao giờ cũng bao gồm chủ thể và khách thể Chủ thể của hợp đồng là các bên tham gia thực hiện cam kết, khách thể là nội dung mà các bên cam kết thực hiện,
9
Giáo trình Luật dân sự Việt Nam - Trường Đại học Luật Hà Nội – NXB Công an nhân dân 2004 – Trang
122
Trang 13Tính độc lập của ý chí thể hiện trong nội dung của hợp đồng Chủ thể của quan hệ pháp luật có quyền tự do giao kết hoặc không giao kết hợp đồng Quy tắc này được thừa
nhận tại khoản 2 Điều 3 Bộ luật dân sự 2015: “Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện,
chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận Mọi thảo thuận không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội” Một
trong những nội dung của sự tự do giao kết là sự tự do xác định nội dung của hợp đồng: các bên có quyền thỏa thuận về loại hình, đối tượng, điều kiện giao dịch, thời gian, địa điểm giao dịch, trách nhiệm của mỗi bên, Khi một hợp đồng có điều khoản không rõ ràng, thì không chỉ dựa vào ngôn từ của hợp đồng mà còn phải căn cứ vào ý chí chung
của các bên để giải thích điều khoản đó (khoản 1 Điều 404 Bộ luật dân sự 2015: “Khi
hợp đồng có điều khoản không rõ ràng thì việc giải thích điều khoản đó không chỉ dựa vào ngôn từ của hợp đồng mà còn phải căn cứ vào ý chí của các bên được thể hiện trong
có quan hệ kết ước được xác lập trái với ý chí của người kết ước
Tuy nhiên, nội dung của hợp đồng không được trái pháp luật và đạo đức xã hội (Khoản 2 Điều 3 BLDS 2015) Pháp luật mà các bên không được phép làm trái khi giao kết hợp đồng là pháp luật mệnh lệnh; còn đạo đức xã hội mà các bên không được phép làm trái chủ yếu bao gồm những giá trị tinh thần liên quan đến gia đình, đến đời sống cộng đồng của cá nhân
Tính độc lập của ý chí thể hiện trong hình thức của hợp đồng11 Căn cứ Khoản 1
Điều 400 BLDS 2015: “Hợp đồng dân sự được giao kết vào thời điểm bên đề nghị nhận
được trả lời chấp nhận giao kết” Một khi các bên thống nhất ý chí về việc giao kết, bên
đề nghị nhận được lời chấp nhận đề nghị của bên được đề nghị hoặc các bên thỏa thuận xong về nội dung chủ yếu của hợp đồng thì hợp đồng được hình thành Trên nguyên tắc,
sự ưng thuận, chứ không phải hình thức, là điều kiện chủ yếu để hợp đồng có giá trị Một khi cần ràng buộc sự giao kết hợp đồng vào những điều kiện nào đó về hình thức, luật phải có những quy định cụ thể Hạn chế quyền tự do kết ước mà không bị ràng buộc vào các khung hình thức kết ước, bằng cách thiết lập các khung hình thức kết ước cụ thể cho những hợp đồng nhất định, là những ngoại lệ của nguyên tắc
Tính độc lập của ý chí thể hiện trong hình thức của hợp đồng còn được khẳng định bằng cách quy tắc đòi hỏi việc giải thích hợp đồng theo ý chí thực: Trong trường hợp có
Trang 1410
sự mâu thuẫn giữa ý chí được bày tỏ và cách xử sự theo sự thôi thúc của ý chí nội tâm của các bên, thì ý chí nội tâm phải được coi là căn cứ để đánh giá sự nghiêm túc trong việc thực hiện nghĩa vụ
Suy cho cùng, tự do ý chí khi giao kết hợp đồng thì chủ thể và khách thể đều phải tuân theo quy định của pháp luật vì “mục đích của giao dịch dân sự là lợi ích hợp pháp
mà các bên mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch đó” (Điều 123 Bộ luật dân sự 2015) Nói cách khác, chủ thể phải có đầy đủ năng lực pháp luật, nội dung và mục đích của hợp đồng phải hợp pháp thì giao dịch mới được pháp luật bảo hộ Toà án sẽ tuyên bố một hợp đồng không có hiệu lực pháp lý khi nó được tạo thành bởi một hành động phi pháp
Ví dụ, việc buôn bán ma tuý là vi phạm pháp luật, và đương nhiên một người trả tiền để mua ma tuý sẽ không thoát tội, cũng như không thể tìm kiếm sự giúp đỡ của Toà
án để lấy lại số tiền mà họ đã bỏ ra
1.2.4 Hình thức của hợp đồng thương mại
Hình thức giao kết hợp đồng là sự bộc lộ ý chí của các bên giao kết được ghi nhận theo một cách nào đó Trên nguyên tắc, các bên được tự do lựa chọn cách thức bộc lộ ý chí của mình Thông qua cách thức biểu hiện này, người ta có thể biết được nội dung của giao dịch kinh doanh đã xác lập
Hình thức của hợp đồng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tố tụng, bởi đó là chứng cứ xác nhận các quan hệ kinh doanh đã và đang tồn tại giữa các bên, từ đó xác
định trách nhiệm khi có vi phạm xảy ra Theo Điều 119 BLDS quy định về hình thức giao dịch dân sự: “Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng
hành vi cụ thể Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản; Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó”
Về hình thức thì hợp đồng thương mại được thiết lập theo cách thức mà hai bên thỏa thuận, có thể được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể của các bên giao kết Trong một số trường hợp nhất định, hợp đồng phải được thiết lập bằng văn bản như hợp đồng đại lý thương mại, hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa, hợp đồng dịch vụ khuyến mại, quảng cáo, hội chợ, triển lãm thương mại… Điều 24 Luật thương mại 2005 đã quy định: “Hợp đồng mua bán hàng hóa được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc xác lập bằng hành vi cụ thể Đối với các loại hợp đồng mua bán hàng háo
mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó” Luật thương mại năm 2005 cũng cho phép thay thế hình thức văn bản bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương, bao gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu điện
tử và các hình thức khác theo quy định của pháp luật
Điều 122 Bộ luật dân sự Việt Nam 2015: “Giao dịch dân sự không có một trong
các điều kiện được quy định tại điều 117 của Bộ luật dân sự Việt Nam 2015 thì vô hiệu, trừ trường hợp bộ luật này có quy định khác” Mà ở Khoản 2 Điều 117 Bộ luật dân sự
Trang 1511
Việt Nam 2015: “Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong
trường hợp pháp luật có quy định” Cho nên không thể suy đoán theo Điều 117 và Điều
122 trên mà tuyên bố hợp đồng vô hiệu ngay lập tức Do đó, nếu các bên có vi phạm về
mặt hình thức thì: “Giao địch dân sự vi phạm quy định quy định về hình thức thì vô hiệu”
trừ trường hợp quy định tại khoản 1, 2 Điều 129 Bộ luật dân sự Việt Nam 2015
Có thể nói, hình thức hợp đồng được hiểu là sự thể hiện nội dung của hợp đồng và những thủ tục mà pháp luật quy định bắt buộc các bên giao kết hợp đồng phải tuân thủ khi ký kết một số loại hợp đồng nhất định Việc đưa ra hình thức bắt buộc đối với một số loại giao dịch là nhằm mục đích lưu ý các bên cần thận trọng hơn khi giao kết kinh doanh
và nhằm đảm bảo tính rõ ràng của việc tồn tại các giao dịch kinh doanh, quyền và nghĩa
vụ cũng như đặc điểm của quan hệ pháp luật kinh doanh
Hợp đồng trong luật Việt Nam được giao kết theo nguyên tắc ưng thuận như trong luật của Pháp Nguyên tắc này chấp nhận một số ngoại lệ Các ngoại lệ có thể được xếp thành hai nhóm: Nhóm thứ nhất gồm một số qui định đặc biệt về hình thức; nhóm thứ hai gồm các quy định đặc biệt về thủ tục
- Một số quy định đặc biệt về hình thức12:
+ Hợp đồng trọng thức: Gọi là trọng thức một hợp đồng chỉ có thể có giá trị một khi được lập theo một hình thức nhất định (thông thường là hình thức viết, tức là dùng ngôn ngữ viết để mô tả nội dung thoả thuận)
Ví dụ điển hình của hợp đồng trọng thức là các hợp đồng mà theo luật phải được chứng nhận, chứng thực, như hợp đồng mua bán nhà ở Có trường hợp luật chỉ đòi hỏi việc giao kết hợp đồng phải được ghi nhận bằng văn bản chứ không nhất thiết được chứng nhận, chứng thực, như hợp đồng uỷ quyền
Điều quan trọng để tính trọng thức trở thành một điều kiện về hình thức của một hợp đồng là phải có một điều luật quy định rành mạch về việc loại bỏ nguyên tắc ưng thuận và áp đặt tính trọng thức đối với việc giao kết hợp đồng đó Một số điều luật trong BLDS quy định hợp đồng phải được lập thành văn bản nếu các bên có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định Thực ra, nếu pháp luật không quy định, thì việc các bên có thoả thuận lập hợp đồng bằng văn bản không có tác dụng áp đặt một điều kiện để cho hợp đồng có giá trị: nếu cuối cùng các bên lại lập hợp đồng theo một hình thức khác, thì có nghĩa rằng họ đã có thoả thuận khác
+ Hợp đồng thực tại: Một số hợp đồng, như đã biết, được giao kết bằng cách chuyển giao vật mà các bên quan tâm Việc chuyển giao đó cũng được coi như một điều kiện về hình thức của hợp đồng: không có hình thức đó, sự thoả thuận đơn thuần giữa hai bên không có hiệu lực ràng buộc Ví dụ điển hình của loại hợp đồng thực tại là hợp đồng thuê tài sản: Nếu chỉ có thoả thuận về việc thuê mà không có việc chuyển giao tài sản từ người cho thuê sang người thuê, thì hợp đồng chưa hình thành
12
Giáo trình Luật dân sự Việt Nam (Tập 1 - Quyển2) - Trường Đại học Luật Cần Thơ_Khoa Luật – Ts Nguyễn Ngọc Điện chủ biên – Tr 30, 31
Trang 1612
- Một số quy định đặc biệt về thủ tục13:
+ Đăng ký: Đối với một số tài sản có giá trị cao, Nhà nước tổ chức hệ thống đăng
ký để đặt cơ sở cho việc xác định lại lịch của người có quyền, đặc biệt là quyền sở hữu
Ví dụ điển hình là các hệ thống đăng ký địa chính, tàu biển, máy bay, quyền sở hữu công nghiệp, xe ô tô, xe máy,… Các hợp đồng có tác dụng chuyển các quyền đối vật có đối tượng là các tài sản loại này phải được đăng ký và việc chuyển quyền, theo luật Việt Nam hiện hành, được hoàn thành vào thời điểm hoàn thành thủ tục đăng kí đó
+ Xin phép cơ quan có thẩm quyền: Có trường hợp do tính chất quan trọng của tài sản giao dịch hoặc của bản thân giao dịch đối với kinh tế quốc dân hoặc đối với trật tự công cộng, người làm luật đặt các giao dịch ấy dưới sự giám sát chặt chẽ của Nhà nước thông qua một hệ thống các quy tắc về kiểm tra, xem xét và cho phép của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Ví dụ điển hình là các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong luật Việt Nam hiện hành Trong các trường hợp mà việc cho phép của cơ quan thẩm quyền là cần thiết, thì hợp đồng chỉ được xúc tiến sau khi có sự cho phép đó
1.3 PHÂN LOẠI HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI VÔ HIỆU
Hợp đồng vô hiệu là hợp đồng không tồn tại theo quy định của pháp luật, không có hiệu lực pháp lý mặc dù hợp đồng đó được xác lập, các bên có thể chưa thực hiện, đang thực hiện hay đã thực hiện xong quyền và nghĩa vụ như cam kết nhưng khi xác định là hợp đồng vô hiệu thì mọi cam kết đã, đang thực hiện thì đều không phải là các quyền và nghĩa vụ được pháp luật bảo vệ Vậy hợp đồng vô hiệu là khi xác lập các bên đã có vi phạm ít nhất một trong các điều kiện có hiệu lực do pháp luật quy định: Điều kiện về năng lực chủ thể; điều kiện về sự tự nguyện, tự do của các bên giao kết hợp đồng; điều kiện về nội dung và mục đích của hợp đồng và cuối cùng là điều kiện về hình thức của hợp đồng Dẫn đến hậu quả pháp lý là không làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ dân sự nào
Trong thực tiễn, pháp luật phải bảo vệ hai loại quyền lợi trong việc thành lập hợp đồng: Quyền lợi của cộng đồng và quyền lợi của cá nhân, khi đối tượng của hợp đồng là một vật bị cấm thì lợi ích công cộng buộc rằng hợp đồng phải được hủy bỏ; trái lại, khi hợp đồng bị hủy bỏ vì nhầm lẫn thì đó chỉ là để bảo vệ quyền lợi của một cá nhân Thế nên sự vô hiệu được phân thành hai loại là vô hiệu tuyệt đối và vô hiệu tương đối
Vô hiệu tuyệt đối:
- Các loại hợp đồng bị vô hiệu tuyệt đối:
+ Hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội (Điều
123 Bộ luật dân sự Việt Nam 2015)
+ Khi giao dịch được xác lập một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác hoặc nhằm trốn tránh nghĩa vụ đối với người thứ ba (Điều 124 Bộ luật dân sự Việt Nam 2015)
13
Giáo trình Luật dân sự Việt Nam (Tập 1 - Quyển 2) - Trường Đại học Luật Cần Thơ_Khoa Luật – Ts Nguyễn Ngọc Điện chủ biên – Tr 30, 31
Trang 1713
+ Khi hình thức của giao dịch không tuân thủ theo quy định bắt buộc của pháp luật (Điều 129 Bộ luật dân sự Việt Nam 2015)
Vô hiệu tương đối:
Điều 130 Bộ luật dân sự 2015: “Giao dịch dân sự vô hiệu từng phần khi một phần của giao dịch bị vô hiệu nhưng không ảnh hưởng đến hiệu lực của phần còn lại của giao dịch” Như vậy, chỉ riêng những điều khoản bất hợp pháp bị tiêu hủy, còn các phần khác của hợp đồng vẫn có hiệu lực
- Các loại hợp đồng vô hiệu tương đối:
+ Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện (Điều 125 Bộ luật dân sự Việt Nam 2015)
+ Hợp đồng vô hiệu do bị nhầm lẫn (Điều 126 Bộ luật dân sự Việt Nam 2015) + Hợp đồng vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép (Điều 127 Bộ luật dân sự Việt Nam 2015)
+ Hợp đồng vô hiệu do người xác lập đủ năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập giao dịch tại thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình (Điều 128
Bộ luật dân sự Việt Nam 2015)
Sự phân loại nêu trên dựa vào một số đặc điểm khác biệt chung thể hiện bản chất của hai khái niệm giữa giao dịch vô hiệu tuyệt đối và giao dịch vô hiệu tương đối Đó là: Thứ nhất, là sự khác biệt về trình tự vô hiệu của giao dịch Giao dịch vô hiệu tuyệt đối thì mặc nhiên là bị coi là vô hiệu Còn đối với các giao dịch vô hiệu tương đối thì không mặc nhiên vô hiệu mà chỉ trở nên vô hiệu khi có đơn yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan và bị Tòa án tuyên bố vô hiệu14
Thứ hai, là sự khác biệt về thời hạn yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu Đối với các giao dịch vô hiệu tuyệt đối thì thời hạn yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch vô hiệu không
bị hạn chế Còn đối với các giao dịch tuyên bố vô hiệu tương đối thì thời hiệu khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu là 02 năm kể từ ngày: “Người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự biết hoặc phải biết người được đại diện tự mình xác lập, thực hiện giao dịch; Người bị nhầm lẫn, bị lừa dối biết hoặc phải biết giao dịch được xác lập do bị nhầm lẫn, do bị lừa dối; Người có hành vi đe dọa, cưỡng ép chấm dứt hành vi đe dọa, cưỡng ép; Người không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình xác lập giao dịch; Giao dịch dân sự được xác lập trong trường hợp giao dịch dân sự không tuân thủ quy định về hình thức”15
Thứ ba, giao dịch dân sự thuộc trường hợp vô hiệu tuyệt đối có thể bị vô hiệu không phụ thuộc vào quyết định của Tòa án mà giao dịch này đương nhiên không có giá trị, vì giao dịch vi phạm pháp luật nghiêm trọng cho nên Nhà nước không bảo hộ Vô hiệu tuyệt
Trang 18vụ việc khi có đơn yêu cầu của các bên (hoặc của đại diện hợp pháp của họ) Bên yêu cầu phải có nghĩa vụ chứng minh trước tòa các cơ sở của yêu cầu16
Ví dụ : Nếu một người yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu vì lý do khi xác lập giao dịch đã bị lừa dối (hoặc đe dọa) thì bên yêu cầu đó phải có nghĩa vụ chứng minh trước tòa sự kiện lừa dối (hoặc đe dọa) mà bên kia gây ra đối với mình Nếu như một bên yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu với lý do xác lập giao dịch trong thời điểm không nhận thức được hành vi của mình thì Tòa án buộc bên yêu cầu phải chứng minh được rằng tại thời điểm xác lập giao dịch đó họ bị rơi vào trạng thái không nhận thức được hành vi của mình Dựa trên những minh chứng đó Tòa án mới cân nhắc để ra quyết định giao dịch có bị coi là vô hiệu hay không
Thứ tư là sự khác biệt về mục đích Các trường hợp pháp luật tuyên bố giao dịch vô hiệu tuyệt đối nhằm mục đích bảo vệ các lợi ích công cộng (lợi ích của Nhà nước, của xã hội nói chung) Còn các trường hợp pháp luật qui định giao dịch vô hiệu tương đối là nhằm mục đích bảo vệ lợi ích cho các chủ thể tham gia giao dịch
1.4 CÁC TRƯỜNG HỢP VÔ HIỆU CỦA HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI
1.4.1 Quy định của pháp luật về các trường hợp vô hiệu của hợp đồng thương mại
Hợp đồng là thoả thuận giữa các bên làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ nhằm đạt được lợi ích hợp pháp mà họ mong muốn Khi giao kết, các bên phải tôn trọng một số điều kiện Trên thương trường, bất kể hoạt động kinh doanh nào của bạn với đối tác bên ngoài cũng đều được thể hiện thông qua hợp đồng Đây chính là ràng buộc pháp lý về nghĩa vụ của các bên trong kinh doanh
Chỉ những giao dịch hợp pháp mới làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên và được Nhà nước đảm bảo thực hiện Một giao dịch hợp pháp phải tuân thủ 4 điều kiện có hiệu lực của các giao dịch theo các mục 1.1.3 đã phân tích (Năng lực chủ thể, sự tự nguyện tự do của các bên giao kết hợp đồng, nội dung và mục đích của hợp đồng không
vi phạm pháp luật, hình thức của hợp đồng theo qui định pháp luật)
Hợp đồng vô hiệu là hợp đồng không đủ các điều kiện có hiệu lực theo quy định của pháp luật như: Điều kiện về năng lực chủ thể; điều kiện về sự tự nguyện, tự do của các bên giao kết hợp đồng; điều kiện về nội dung và mục đích của hợp đồng và cuối cùng
là điều kiện về hình thức của hợp đồng
16
Luận Văn: Đinh Ngọc Chương – về trường hợp vô hiệu của hợp đồng
Trang 1915
Khoản 1 Điều 407 Bộ luật dân sự Việt Nam 2015:“Các quy định về giao dịch dân
sự vô hiệu từ Điều 122 đến Điều 133 của bộ luật này cũng được áp dụng đối với hợp đồng vô hiệu”, hơn nữa Khoản 2, Khoản 3 Điều 407 Bộ luật dân sự Việt Nam 2015 có
quy định mối quan hệ giữa hợp đồng chính và hợp đồng phụ:“Sự vô hiệu của hợp đồng
chính làm chấm dứt hợp đồng phụ, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận hợp đồng phụ được thay thế hợp đồng chính; Sự vô hiệu của hợp đồng phụ không làm chấm dứt hợp đồng chính, trừ trường hợp các bên thỏa thuận hợp đồng phụ là một phần không thể tách rời hợp đồng chính”
Tóm lại, các điều kiện có hiệu lực của mọi giao dịch là một thể thống nhất trong mối quan hệ biển chứng Bởi vậy, xem xét một giao dịch phải đặt nó trong tổng thể của mối quan hệ biện chứng này Nếu giao dịch vô hiệu từng phần mà không ảnh hưởng đến phần khác, thì chỉ phần vô hiệu không có hiệu lực, phần còn lại vẫn có hiệu lực thi hành
Về nguyên tắc chung: Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh quyền, nghĩa
vụ của các bên từ thời điểm xác lập Các bên phải khôi phục lại tình trạng ban đầu (hoàn nguyên) như khi chưa xác lập giao dịch Cho nên, nếu giao dịch chưa được thực hiện, thì các bên không được thực hiện giao dịch đó Nếu giao dịch đã được thực hiện toàn bộ hay một phần, thì các bên không được tiếp tục thực hiện giao dịch và phải hoàn trả cho nhau những lợi ích vật chất đã nhận của nhau Nếu không hoàn trả được bằng hiện vật, thì phải hoàn trả bằng tiền Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại (Điều 131 Bộ luật dân sự Việt Nam 2015)
1.4.2 Các trường hợp vô hiệu cụ thể của hợp đồng thương mại
a Hợp đồng thương mại vô hiệu do vi phạm điều cấm pháp luật, trái đạo đức xã hội
Trong xã hội truyền thống và trong thời kỳ thực hiện nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, lợi ích của cộng đồng, của tập thể được đề cao nhiều khi đến tuyệt đối hoá Điều
đó dẫn đến một sự đối lập có tính tách rời giữa đạo đức và lợi ích cá nhân Định hướng và
sự lựa chọn hành vi cá nhân thường được đặt trước hai sự lựa chọn: Hoặc là đạo đức, hoặc là lợi ích Nói cách khác, có rất nhiều trường hợp khi con người vươn tới những giá trị đạo đức cao cả thì họ buộc phải từ bỏ việc theo đuổi lợi ích cá nhân Sự tách rời giữa đạo đức và lợi ích khiến cho hoạt động đạo đức của nhân cách bị hạn chế Con người hướng vào suy nghĩ về đạo đức nhiều hơn là thực hiện hành vi đạo đức thực tế như là: Lo giữ cho nhân cách trong sạch, lương tâm thanh thản bằng cách hạn chế những hoạt động thực tiễn, đặc biệt là hoạt động kinh tế Chính điều đó làm cho nhân cách nói chung, nhân cách đạo đức nói riêng không phát triển toàn diện được17 Do đó con người vô tình vì lợi ích bản thân vi phạm điều cấm của pháp luật, vi phạm đạo đức xã hội
“Điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng” 18
Trang 2016
Quy định hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội
ở Điều 123 Bộ luật dân sự Việt Nam 2015: “Giao dịch dân sự có mục đích và nội dung vi
phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu” Tòa án có thể dùng quy
định “trái đạo đức xã hội” để can thiệp vào quan hệ hợp đồng mà trong đó có một bên đã lợi dụng vị thế của mình để dồn ép bên kia giao kết hợp đồng, vi những phạm những điều được gọi là chuẩn mực đạo đức xã hội, như nguyên tắc trung thực, chân chính trong kinh doanh Vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội bao gồm nội dung và mục đích của giao dịch trái pháp luật và đạo đức xã hội Hợp đồng này đương nhiên bị vô hiệu không phụ thuộc vào ý chí của các bên giao kết hợp đồng
Pháp luật của các nước đều không thừa nhận các giao dịch dân sự mà trong đó nội dung của chúng vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội Các giao dịch của các chủ thể vi phạm điều cấm của pháp luật là hành vi bất hợp pháp và do đó vô hiệu Khi xem xét đến những ảnh hưởng của sự bất hợp pháp của các giao dịch trong trường hợp này, cần phải tính đến các yếu tố sau:
Thứ nhất, biểu hiện cụ thể của sự bất hợp pháp (Vi phạm điều cấm của pháp luật hay xâm hại đến trật tự công cộng)
Thứ hai, các bên có biết về sự bất hợp pháp không?
Thứ ba, phần nội dung bất hợp pháp của giao dịch có thể tách ra được khỏi những nội dung còn lại hay không?
Song vấn đề là ở chỗ: Khi nào được coi là vi phạm đạo đức xã hội Có một số giao dịch dân sự mặc dù không bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn có thể bị coi là vô hiệu vì
vi phạm trật tự công cộng và đạo đức xã hội Sự khác biệt của hai khái niệm này không phải khi nào cũng rõ rệt Trong nhiều trường hợp, giao dịch hợp đồng cũng cần bị coi là
vô hiệu một khi:
- Các giao dịch có tính chất đầu cơ hay cho vay nặng lãi v.v
Chuẩn mực đạo đức đó có thể là một tập quán chung đã tạo thành một thói quen thương mại Sự phát triển nhân cách đạo đức, xét đến cùng, phải được thể hiện trong những hành vi đạo đức thực tế Hành vi đạo đức là hành vi được thực hiện bởi sự điều tiết của ý thức đạo đức mà trong đó các chuẩn mực đạo đức giữ vai trò trung tâm Với tính cách là quá trình cải biến xã hội sâu sắc, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đòi hỏi và tất yếu sẽ sản sinh ra một hệ chuẩn mực đạo đức mới thích ứng với cơ chế thị trường và những điều kiện của xã hội hiện đại đó là chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người Hệ chuẩn mực này sẽ là cơ sở định hướng cho hoạt động đạo đức của nhân cách Đồng thời, nó cũng là tiêu chuẩn để đánh giá giá trị hành vi đạo đức
Trang 2117
b Hợp đồng vô hiệu do giả tạo
- Giả tạo trong hoạt động thương mại:
Trong hoạt động của các cơ quan, doanh nghiệp, quyền sở hữu tài sản thuộc về Nhà nước hoặc thuộc về nhà đầu tư hay các cổ đông góp vốn Những người đại diện cho cơ quan, đơn vị trong hoạt động đầu tư, kinh doanh là những người tham gia giao kết hợp đồng nên họ quan tâm đầy đủ và trước hết đến lợi ích của đơn vị mình, tìm kiếm lợi nhuận tốt nhất cho đơn vị trong phạm vi có thể
Nhưng do không phải là chủ sở hữu đích thực, người trực tiếp tiến hành các hoạt động này có thể không có lợi ích kinh tế cụ thể từ những giao dịch mà mình tiến hành, hoặc được hưởng một phần nào đó từ lợi ích thu được, mà những lợi ích đó nhiều khi quá nhỏ so với điều kiện cho phép họ có thể tìm kiếm những cơ hội, thông đồng với đối tác
để mang lại lợi ích riêng cho cá nhân Chính những cơ sở đã lập luận vừa rồi và dựa trên thực tiễn hoạt động kinh doanh những hợp đồng giả tạo được hình thành19
Hợp đồng giả tạo theo quy định của pháp luật Việt Nam: “Khi các bên xác lập giao
dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác thì giao dịch giả tạo vô hiệu, còn giao dịch che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này” 20 Nói cách khác, giao dịch dân sự giả tạo là giao dịch có nội dung được thiết lập không phản ánh ý chí đích thực của các bên
- Điều kiện của sự giả tạo :
+ Các bên kết ước: Trên thực tế các bên giao dịch không có ý định tạo lập quyền, nghĩa vụ pháp lí qua các giao dịch dân sự này Thông thường các giao dịch này được thiết lập là để lẩn tránh việc thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước hoặc nghĩa vụ đối với người thứ ba hoặc để che dấu một hành vi trái pháp luật Những giao dịch dân sự như vậy sẽ không có hiệu lực pháp luật
+ Ý chí của các bên kết ước: Trường hợp vô hiệu do giả tạo có điểm đặc biệt là các bên trong giao dịch đó hoàn toàn tự nguyện xác lập giao dịch nhưng lại cố ý bày tỏ ý chí không đúng với ý chí thực của họ (có sự tự nguyện nhưng không có sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí)
Tuy nhiên, không phải sự thể hiện ý chí giả tạo nào cũng đưa đến sự vô hiệu của giao dịch dân sự Chỉ có những giao dịch mà ở đó ý chí giả tạo tồn tại ở cả hai bên trước khi giao kết, xác lập các giao dịch dân sự như vậy mới đưa đến sự vô hiệu của giao dịch dân sự Nói cách khác, ở đây phải có sự thông đồng của các chủ thể khi giao kết xác lập các giao dịch giả tạo như vậy
Theo ý kiến của tiến sĩ luật khoa, luật sư Nguyễn Mạnh Bách: Trong hợp đồng mua bán nếu hai bên không xác định giá cụ thể hoặc giá ghi trong hợp đồng là giả tạo thì hợp
19
Tạp chí Triết học ngày 25 tháng 6 năm 2006 – Bài viết của PTS Phạm văn Phúc – Trang web:
http://www.chungta.net (Truy cập ngày 30/7/2018)
20
Điều 124 BLDS 2015
Trang 2218
đồng cũng vô hiệu vì thiếu đối tượng21 Bởi vì theo Điều 116 Bộ luật dân sự Việt Nam
2015: “Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh,
thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”, nếu xét về phương diện đối tượng của
hợp đồng thì hợp đồng không có đối tượng mà chỉ tạo lập nghĩa vụ, chính nghĩa vụ này mới có đối tượng Đối tượng phải có thể thực hiện được một cách tuyệt đối, nếu cam kết một điều gì không thể thực hiện được một cách tuyệt đối thì hợp đồng sẽ vô hiệu Nếu trong hợp đồng hai bên quy định giá, sau đó bằng một chứng thư khác hai bên quy định rằng người mua không phải trả tiền, thì giá ghi trong hợp đồng là giả tạo, giữa hai bên không có hợp đồng mua bán mà chỉ có một sự tặng cho tài sản Theo quy định của Điều
124 Bộ luật dân sự Việt Nam 2015 thì hợp đồng mua bán vô hiệu còn hợp đồng tặng cho vẫn có hiệu lực
Có hai trường hợp giả tạo:
Thứ nhất, giả tạo nhằm cố ý giấu một giao dịch khác: thì giao dịch giả tạo vô hiệu, còn giao dịch che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu (Khoản
1 Điều 124 Bộ luật dân sự Việt Nam 2015) Ví dụ: X không phải là đối tượng làm dịch
vụ môi giới cho Công ty A, nhưng X đã giả tạo ra một số hợp đồng mua bán giữa các công ty khác với công ty A và nhờ B lập các hợp đồng môi giới giả tạo để rút tiền hoa hồng của công ty A thì những hợp đồng đó vô hiệu
Thứ hai, giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba: “Trong
trường hợp xác lập giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch đó vô hiệu” (Khoản 2 Điều 124 Bộ luật dân sự Việt Nam 2015) Ví dụ: Giá ghi
trong hợp đồng là 20 triệu đồng trong khi giá thực tế hai bên giao dịch là 100 triệu đồng
Sự che giấu này trước tiên là nhằm mục đích trốn thuế Hợp đồng giả tạo này sẽ bị tuyên
vô hiệu do trốn tránh nghĩa vụ đóng thuế cho cơ quan Nhà nước
c Hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ hình thức
Trên thương trường, bất kể hoạt động kinh doanh nào của bạn với đối tác bên ngoài cũng đều được thể hiện thông qua hợp đồng Một trong các vấn đề mà các chuyên gia về pháp luật kinh doanh quan tâm là hình thức hợp đồng có ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng như thế nào Về vấn đề này, pháp luật của các nước có những quan điểm và cách tiếp cận khác nhau Ở nhiều nước trên thế giới, pháp luật có những điều khoản cụ thể đối với một số hợp đồng, bắt buộc từng loại phải được thể hiện bằng hình thức nhất định, nếu
vi phạm quy định này, hợp đồng đã ký kết sẽ không có giá trị pháp lý.Vi phạm các quy định bắt buộc về hình thức sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến pháp luật và trật tự công cộng
Vì vậy, chừng nào sự thống nhất của các bên chưa được thể hiện bằng những hình thức nhất định theo đòi hỏi của pháp luật thì chừng đó chưa có hợp đồng Pháp luật một
số nước coi sự vi phạm về hình thức là vi phạm lợi ích công cộng nên hợp đồng vô hiệu
21
Các hợp đồng thương mại thông dụng – Ts luật khoa, Luật sư Nguyễn Mạnh Bách – NXB Giao thông vận tải 2007 – Tr 13, 39
Trang 2319
tuyệt đối Ví dụ: pháp luật của Đức đã đưa ra các đòi hỏi đầu tiên là phải tuân thủ nghiêm ngặt điều kiện về hình thức để nhằm bảo vệ những người không có kinh nghiệm đối mặt với những tình huống bất ngờ, cũng như để hạn chế phương pháp chứng cứ Tuy nhiên, việc pháp luật quy định hợp đồng phải được thiết lập bởi những hình thức nhất định sẽ vô tình tạo nên khoảng cách nhất định giữa sự thỏa thuận mong muốn của các bên với hiệu lực của hợp đồng
Hay ở một số nước theo hệ thống luật Anh - Mỹ (common law), người ta quan niệm hình thức văn bản là bắt buộc đối với các hợp đồng có giá trị Đơn cử Anh và Úc, hợp đồng bắt buộc phải được lập thành văn bản khi giá trị của nó lớn hơn 10 bảng Anh Quy định này xuất phát từ hệ thống luật án lệ coi các văn bản hợp đồng có giá trị bắt buộc và
có tính chất như luật đối với các bên và đó chính là căn cứ cơ bản để cơ quan có thẩm quyền xem xét giải quyết tranh chấp22 Nhờ đó, hợp đồng ở các nước này được soạn thảo rất chặt chẽ
Do vậy, trong giao dịch kinh doanh, trước khi tiến hành ký kết hợp động kinh doanh với các đối tác nước ngoài, bạn cần xem xét và nắm vững các quy định pháp luật về hợp đồng của nước đó Một lời khuyên đối với các công ty là khi ký kết Hợp đồng kinh doanh quốc tế, công ty nên thoả thuận với đối tác để luật điều chỉnh Hợp đồng là luật của nước mình Có như thế, khi có tranh chấp xảy ra, công ty sẽ đỡ mất thời gian tìm hiểu pháp luật nước ngoài và có thêm lợi thế để giải quyết các vướng mắc phát sinh
Theo quy định của pháp luật Việt Nam quy định hình thức của các giao dịch:
Khoản 1 Điều 117 Bộ luật dân sự 2015 nêu các điều kiện để một giao dịch có hiệu lực không bao gồm hình thức của giao dịch Cho nên, có thể nói rằng hình thức của giao dịch theo quy định của luật hiện hành là điều kiện cần để một giao dịch được tiến hành thuận lợi dưới sự bảo hộ của pháp luật
Ví dụ: Thương nhân A (bên bán) và thương nhân B (bên mua) tiến hành giao kết một hợp đồng mua bán gạo Trong hợp đồng quy định rõ mọi sửa đổi đối với hợp đồng chỉ có hiệu lực khi được lập thành văn bản Ngày giao hàng là ngày 30\02 Đến ngày 15\02 B gọi điện cho A và yêu cầu giao hàng trễ hơn so với hợp đồng 1 tháng do B chưa chuẩn bị kho bãi kịp để nhận hàng A đồng ý Đến ngày 15\03 B đâm đơn kiện, yêu cầu hủy hợp đồng và A phải bồi thường thiệt hại do đã vi phạm hợp đồng: Giao hàng trễ hạn
và B thừa nhận đã gọi điện nhưng cho rằng chưa lập thành văn bản nên thỏa thuận đo không có hiệu lực Ở ví dụ này chúng ta chỉ bàn về hình thức của hợp đồng và hậu quả pháp lý được giải quyết nếu căn cứ theo Bộ luật dân sự 2015
Bộ luật dân sự 2015: Khoản 2 Điều 117 Bộ luật dân sự 2015: “Hình thức giao dịch
dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định”,
cho nên, chỉ khi nào có quy định và luật yêu cầu thì hợp đồng mới phải tuân thủ về hình thức Hình thức của hợp đồng không phải là yếu tố đương nhiên khiến hợp đồng vô hiệu
22
Hệ thống luật Anh - Mỹ (common law)
23
Điều 119 BLDS 2015
Trang 2420
và cũng không thể dựa vào lập luận do hợp đồng không tuân thủ hình thức nên vô hiệu
Ta có thể suy luận rằng: Mọi thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng đều có giá trị pháp
lý, đều ràng buộc các bên phải thực hiện nghiêm túc B gọi điện yêu cầu A dời ngày giao
hàng là có thật, nên B không có quyền viện dẫn điều khoản trong hợp đồng quy định về
hình thức mà cho rằng A vi phạm, trong khi A căn cứ vào việc B gọi điện mà tiến hành
thực hiện hợp đồng
Chỉ những giao dịch pháp luật qui định bắt buộc phải thể hiện bằng văn bản, phải có
chứng thực, chứng nhận, đăng kí, hoặc xin phép thì mới ràng buộc các bên phải tuân
theo, nếu các bên không tuân thủ các qui định này đồng thời có yêu cầu thì Tòa án xem
xét và buộc các bên thực hiện theo quy định về hình thức của giao dịch trong một thời
hạn nhất định Việc ấn định thời hạn do Tòa án quyết định căn cứ vào giao dịch cụ thể
Việc buộc các bên phải thực hiện và đưa ra thời hạn thực hiện quy định về hình thức của
giao dịch thuộc thẩm quyền và là nghĩa vụ của Tòa án Tòa án không mặc nhiên tuyên bố
giao dịch này là vô hiệu Chỉ khi các bên không thực hiện và hoàn tất các qui định về
hình thức của giao dịch trong thời hạn do Tòa án ấn định thì giao dịch mới đương nhiên
vô hiệu Bên có lỗi làm cho giao dịch vô hiệu phải bồi thường thiệt hại
d Hợp đồng vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân
sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực
hành vi dân sự xác lập, thực hiện
Người không có năng lực hành vi hoặc có năng lực hành vi không đầy đủ không thể
có đủ điều kiện để tự do thể hiện ý chí Vì vậy, giao dịch của họ phải được xác lập, thiết
lập dưới sự kiểm soát của người khác hoặc do người khác xác lập, thực hiện Tuy nhiên,
giao dịch do những người này xác lập không mặc nhiên bị coi là vô hiệu mà chỉ vô hiệu
khi có yêu cầu của những người đại diện cho họ: “Khi giao dịch dân sự do người chưa
thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm
chủ hành vi hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo
yêu cầu của người đại diện của người đó, Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu nếu theo
quy định của pháp luật giao dịch này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện
Có một ý kiến cho rằng: Trong hợp đồng mua bán tài sản, năng lực của người mua
cũng được xét vào lúc người này quyết định mua, nếu tại thời điểm tiếp nhận lời đề nghị
từ người bán, người này có đầy đủ năng lực nhưng khi quyết định mua thì mất năng lực
hành vi thì hợp đồng mua bán vô hiệu Trái lại, đối với người bán, vì người này thoả
thuận bán ngay từ khi đưa ra lời đề nghị bán, do đó, năng lực của người này được xem
xét vào thời điểm đưa ra lời đề nghị Do đó, tại thời điểm người mua chấp nhận đề nghị,
người bán có mất năng lực hành vi thì cũng không ảnh hưởng gì đến giao dịch25
Trang 2521
e Hợp đồng vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép
- Hợp đồng vô hiệu do bị lừa dối:
Hành vi lừa dối trong giao kết hợp đồng: Lừa dối là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong đời sống hàng ngày Theo cách nói thông thường, lừa dối là lừa bằng thủ đoạn nói dối, gian lận để làm cho người ta nhầm tưởng mà nghe và tin theo, ví dụ: Thủ đoạn lừa dối của con buôn Theo ngôn ngữ pháp luật, lừa dối là một xảo thuật dùng để lừa gạt người khác Từ những lời lẽ gian dối đến mánh khóe xảo trá dùng để khiến người
ta giao kết hợp đồng đều là lừa dối Cũng có cách hiểu: “Lừa dối là hành vi cố ý đưa thông tin sai không đúng sự thật nhằm để người khác tin đó là sự thật Nếu không có các thủ đoạn ấy thì bên kia sẽ không giao kết hợp đồng” Các nhà khoa học pháp lý cũng như các nhà lập pháp Việt Nam coi lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch nên đã xác lập giao dịch đó Dù cách sử dụng ngôn từ có khác nhau song nội dung của các khái niệm trên là không khác nhau Đó là, không phải bất cứ sự nói dối nào cũng đều bị coi là lừa dối và việc xác định có tồn tại hay không sự lừa dối trong giao kết hợp đồng phải có hai điều kiện: Một là, một bên phải sử dụng thủ đoạn để lừa người khác
và hai là người kia phải nghe theo, làm theo một việc nào đó (giao kết hợp đồng)
Khoa học pháp lý đã đưa ra những điều kiện để xác định khi nào thì lừa dối tồn tại Phần lớn pháp luật các nước đều coi những lừa dối có tính chất quyết định đến sự giao kết hợp đồng là yếu tố vô hiệu hợp đồng “Sự lừa dối là căn cứ làm cho hợp đồng vô hiệu khi các thủ đoạn do một bên đã thực hiện mà nếu không có các thủ đoạn đó thì bên kia đã không kí kết hợp đồng” Việc một người bán hàng giới thiệu không đúng sự thật về hàng hóa của mình hoặc người bán hàng nói giá quá cao thì không bị xem là lừa dối, bởi lẽ trong các trường hợp này người tiếp nhận thông tin không bị buộc phải kí hợp đồng nếu
họ không muốn26
- Hợp đồng lừa dối:
Hợp đồng là sự thỏa thuận ý chí trong việc xác lập, thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên giao kết Ý chí giao kết hợp đồng của các bên giữ vị trí vô cùng quan trọng trong việc xác định sự tồn tại hay không của hợp đồng Các biểu hiện của sự không thống nhất ý chí (sự thể hiện ý chí khác nhau) hoặc sự trái ngược giữa biểu hiện với ý chí đích thực của các bên giao kết sẽ không hình thành nên một hợp đồng có hiệu lực Nói cách khác một hợp đồng được giao kết dưới tác động của sự lừa dối, nhầm lẫn hay đe dọa có thể không có giá trị vì trong các hoàn cảnh như vậy, các cam kết được đưa
ra không xuất phát từ ý chí đích thực của người giao kết Cũng như nhiều quốc gia khác, pháp luật về hợp đồng ở Việt Nam thừa nhận lừa dối trong giao kết hợp đồng như một yếu tố có thể đưa đến sự vô hiệu của hợp đồng
26
Trích ý kiến Lê Bích Thọ - Ths, Phó hiệu trưởng trường ĐH luật Tp.HCM trên trang web
http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com (Truy cập ngày 31/7/2018)