Từ những yếu tố văn minh, tích cực du nhập vào nước ta làm cho ý thức, tư tưởng con người và cách nhìn nhận về kết hôn đã tiến bộ hơn trước rất nhiều như: Vấn đề tuổi tác giữa nam và nữ,
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU ĐHĐN TẠI KON TUM
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU ĐHĐN TẠI KON TUM
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài: 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài: 1
2.1 Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là: 1
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là: 2
3 Đối tượng nghiên cứu đề tài. 2
4 Phạm vi nghiên cứu đề tài. 2
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài. 2
6 Kết cấu đề tài. 2
CHƯƠNG 1 3
CƠ SỞ PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÍ KẾT HÔN 3
1.1.Lược sử về kết hôn 3
1.2.Khái niệm về kết hôn và đăng kí kết hôn. 4
1.2.1.Khái niệm kết hôn. 4
1.2.2.Khái niệm đăng kí kết hôn 7
1.3.Điều kiện đăng kí kết hôn. 9
1.4.Thủ tục đăng kí kết hôn. 11
1.5.Cơ quan có quyền đăng kí kết hôn. 13
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1. 15
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐĂNG KÍ KẾT HÔN TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG THẮNG LỢI, THÀNH PHỐ KONTUM. 16
2.1 Tổng quan về Phường Thắng Lợi, Thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum: 16
2.2 Thực trạng về tổ chức và hoạt động của UBND Phường Thắng Lợi : 16
2.2.1 Thực trạng về tổ chức UBND Phường : 16
2.2.2 Thực trạng về hoạt động UBND Phường 17
2.2.2.1 Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường: 17
2.2.2.2 Trách nhiệm, phạm vi giải quyết công việc của các Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường: 18
2.2.2.3 Trách nhiệm, phạm vi giải quyết công việc của các Uỷ viên Uỷ ban nhân dân phường: 18
2.2.2.4 Nhiệm vụ của công chức Tài chính - kế toán: 19
2.2.2.5 Nhiệm vụ của công chức Tư pháp - Hộ tịch: 20
Trang 42.2.2.6 Nhiệm vụ của công chức địa chính – xây dựng: 20
2.2.2.7 Nhiệm vụ của công chức văn phòng - thống kê: 20
2.2.2.8 Nhiệm vụ của công chức Văn hoá – Xã hội: 21
2.2.2.9 Trách nhiệm chung của cán bộ, công chức: 21
2.3 Thực tiễn hoạt động tại ủy ban nhân dân phường Thắng Lợi, thành phố Kontum. 22
2.3.1 Nhiệm vụ của ban tư pháp phường về kết hôn 22
2.3.2 Những thuận lợi khó khăn trong việc đăng kí kết hôn của ủy ban nhân dân phường. 23
2.3.3 Trình tự thủ tục thực hiện việc đăng kí kết hôn tại UBND phường Thắng Lợi 23
2.4 Kết quả khảo sát thực tế việc đăng kí kết hôn của UBND phường Thắng Lợi trong vòng 5 năm từ 2012 đến 2016. 24
CHƯƠNG 3: KIẾN NGHỊ 26
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 27
Trang 5MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài:
Gia đình là nơi hình thành, nuôi dưỡng nhân cách của mỗi con nười, để mỗi con người có thể phát huy được hết khả năng và sức mạnh của mình nhwamf đạt được những thành công trong cuộc sống Bên cạnh đó gia đình còn là tế bào của xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt, gia dinhd càng tốt thì xã hội mới tốt hơn Nhưng để một gia đình tốt
và được xây dựng trên một nền tảng bền vững thì yếu tố cơ bản đầu tiên cần phải có đó
là kết hôn Đây chính là sự kiện pháp lí quan trọng đánh dấu sự ra đời của một gia đình Xác định vai trò và sự kiện này với đời sống xã hội nên trong các văn kiện của Đảng và trong các văn bản pháp luật của Nhà nước, kết hôn luôn là vấn đề được quan tâm sâu sắc đặc biệc trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, các quy định về kết hôn đã được đề cập khá cụ thể và ngày càng có xu hướng hoàn thiện hơn Điều đó thể hiện khá rõ tại luật hôn nhân và gia đình năm 2014 được quốc hội ban hành ngày 19 tháng 6 năm 2014 có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2015
Hơn thế nữa điều kiện đất nước ta hiện nay đang trong quá trình xã hội hóa và hội nhập kinh tế qốc tế nên có những chuyển biến hết sức quan trọng về mọi mặt của đời sống xã hội Từ những thay đổi bên ngoài cá nhân cũng như kinh tế, chính trị, văn hóa,
xã hội Đến những thay đổi bên trong tiềm thức, tư tưởng cũng cách nhìn nhận của mỗi con người về hôn nhân đặc biệc về vấn đề kết hôn, được thể hiện rõ ràng trong đời sống thực tiễn Từ những yếu tố văn minh, tích cực du nhập vào nước ta làm cho ý thức, tư tưởng con người và cách nhìn nhận về kết hôn đã tiến bộ hơn trước rất nhiều như: Vấn
đề tuổi tác giữa nam và nữ, vấn đề hôn nhân đồng tính… thì còn có những lối sống và quan niệm thay đổi theo chiều hướng tiêu cực như: Tảo hôn và kết hôn không tuân thủ các điều kiện pháp luật quy định; nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng kí kết hôn gây ra những hậu quả nghiem trọng cho xã hội, làm ảnh hưởng tới thuần phong
mĩ tục, đạo đức con người Chính vì vậy việc quy định các vấn đề lien quan đến kết hôn thạt sự là cần thiết và mang tính tất yếu nhằm bảo đảm những giá trị văn hóa, truyền thống tốt đẹp của dân tộc và bảo đảm quyền được hạnh phúc của con người
Về vấn đề đăng kí kết hôn tại ủy ban nhân dân phường Thắng Lợi còn có rất nhiều bất cập về trình tự, thủ tục đăng kí kết hôn, và đăng kí kết hôn không đúng theo quy định của luật hôn nhân và gia đình năm 2014
Ngoài ra, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 vừa mới ban hành và có hiệu lực nên trên cơ sở những điểm mới, tiến bộ do các nhà làm luật dự liệu và cụ thể hóa vào các quy định thì cần phải có một thời gian nhất định để có thể kiếm nghiệm được tính khả thi, thiết thực của những quy định đó trong thực tiễn Chính vì vậy trong sự tương quan
so sánh với các quy định cuả các Luật Hôn Nhân và Gia Đình cũ đặc biệc là luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có những điểm mới
gì, nó tiến bộ ra sao, giải quyết những bất cập về đăng kí kết hôn nên em đã chọn đề tài
“vấn đề đăng kí kết hôn trên địa bàn phường thắng lợi” làm đề tài tốt nghiệp của em
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài:
2.1 Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là:
- Đề tài làm rõ những vấn đề lí luận về kết hôn, nghiên cứu phân tích, nội dung ý nghĩa của kết hôn và đánh giá việc áp dụng các quy định của pháp luật về kết hôn, đồng
Trang 6thời phát hiện những bất cập hạn chế của các quy định này, trên co sở đó đưa ra một số giải pháp hoàn thiện việc áp dụng pháp luật về vấn đề này
- Nêu ra được những điểm mới trong luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 về vấn
đề kết hôn
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là:
Để đạt những mụ đích của đề tài phải thực hiện những nhiệm vụ sau:
Thứ nhất: Trình bày các quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình về vấn đề kết hôn
Thứ hai: Phân tích thực trạng đăng kí kết hôn tại địa phương
Thứ ba: Đề xuất giải pháp với các cấp về vấn đề kết hôn
3 Đối tượng nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận về kết hôn; quy định của
hệ thống pháp luật Việt Nam về kết hôn (đặc biệt là các quy định về kết hôn trong Luật HN&GĐ năm 2000 và Luật HN&GĐ năm 2014)
Nêu được chủ thể kết hôn trong luật HN&GĐ NĂM 2014
Trình bày được những thủ tục đăng kí kết hôn trong luật HN&GĐ năm 2014
4 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề kết hôn theo pháp luật HN&GĐ năm
2014 so với năm 2000 trên phạm vi không gian Việt Nam
Tuy nhiên ta còn thu hẹp phạm vi nghiên cứu tại phường Thắng lợi, thành phố Kon Tum để có sự so sánh đối chiếu khi dung luật tại phường có theo đúng quy định của luật HN&GĐ năm 2014 hay vẫn còn dung luật cũ
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở kết hợp các phương pháp chủ yếu như phương pháp thống kê và lịch sử của chũ nghĩa Mác-Leenin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật Để đạt mục tiêu nghiên cứu ta tác giả có sử dụng nhiều phương pháp như: Phương pháp phân tích luật học, phương pháp phân tích – so sánh, phương pháp tổng hợp, phương pháp trích dẫn, phương pháp hệ thống…
6 Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục, kết cấu đề tài gồm hai chương
Chương 1: Cơ sở pháp luật về đăng kí kết hôn
Chương 2: Thực trạng đăng kí kết hôn trên địa bàn phường Thắng lợi, thành phố Kontum
Chương 3: Kiến nghị
Trang 7hệ giữa người đàn ông và người đàn bà mới chỉ dừng lại ở “tính loài” gọi là quan hệ
“tính giao” Vì thế, sự liên kết giữa họ chỉ nhằm thỏa mãn những nhu cầu bản năng thuần túy Do đó, ở thời kỳ tiền sử, sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà không có sự phân chia ngôi thứ thích thuộc, không có bất cứ sự ràng buộc, ngăn cách hoặc giới hạn nào Đó chính là sự liên kết hoàn toàn tự nhiên Đặt trong tiến trình phát triển của nhân loại, dần dần sự liên kết giữa người đàn ông và người đàn bà không còn chỉ là sự ràng buộc đơn thuần bởi quan hệ tính giao mà là sự liên kết mang tính xã hội, thể hiện những giá trị văn minh của con người trong mối liên hệ đặc biệt được gọi là
“hôn nhân” Cùng với sự xuất hiện của các hình thái HN&GĐ, dù là hình thái HN&GĐ đầu tiên, chứa đựng những nét hết sức sơ khai, khái niệm “hôn nhân” bắt đầu được biết đến Dưới góc độ này, sự liên kết giữa người đàn ông và người đàn bà không chỉ đơn thuần nhằm thỏa mãn những nhu cầu bản năng mà là sự liên kết đặc biệt nhằm tạo dựng các mối liên hệ gia đình “Hàng ngày tái tạo ra đời sống bản thân mình, con người bắt đầu tạo ra những con người khác, sinh sôi nảy nở- đó là quan hệ giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái, đó là gia đình Khơi nguồn để hình thành một gia đình là việc xác lập quan hệ hôn nhân giữa hai người nam, nữ Trong đời sống HN&GĐ, sự kiện xác lập quan hệ hôn nhân được gọi là “kết hôn” Như vậy, việc kết hôn đã tạo ra một sự liên kết đặc biệt giữa một người nam và người nữ, tạo thành quan hệ vợ chồng
mà đã có sự tác động của các quy luật xã hội Khi xã hội có sự phân công lao động sâu sắc, của cải dư thừa xuất hiện đã dẫn đến sự hình thành chế độ tư hữu Theo đó nam, nữ chỉ được coi là đã “kết hôn” khi đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Vì vậy, dưới góc độ pháp lý, việc nam, nữ lấy nhau thành vợ chồng theo nghi thức truyền thống hay nghi thức tôn giáo mà không đăng ký kết hôn thì không được xác định là đã “kết hôn” Do đó, trong khoa học pháp lý cũng xuất hiện thuật ngữ “nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng không đăng ký kết hôn” để phân biệt với trường hợp “kết hôn” Như vậy, dưới góc độ pháp lý, kết hôn cũng được hiểu là một hình thức xác lập quan hệ vợ chồng nhưng phải là hình thức được Nhà nước thừa nhận Tùy thuộc điều kiện kinh tế xã
Trang 8hội, phong tục, tập quán cũng như truyền thống văn hóa, pháp luật của mỗi quốc gia có những lựa chọn khác nhau về hình thức xác lập quan hệ vợ chồng Theo quy định của pháp luật HN&GĐ Việt Nam hiện hành, nghi thức duy nhất có giá trị pháp lý là nghi thức đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Trong đời sống HN&GĐ, nghi thức xác lập quan hệ hôn nhân rất phong phú, nghi thức này cũng luôn được xác định là một nghi thức quan trọng đối với đời sống của mỗi con người Như vậy, với ý nghĩa là một sự kiện pháp lý, kết hôn được hiểu là một hình thức xác lập quan hệ vợ chồng được Nhà nước thừa nhận Kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết Có quan điểm cho rằng kết hôn là một giao dịch có tính pháp lý chứ không phải một giao dịch có ý nghĩa vật chất hoặc tôn giáo Quan điểm này hợp lý ở chỗ thừa nhận việc xác lập quan hệ hôn nhân có
sự ràng buộc về mặt pháp lý Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005, đối tượng của hợp đồng dân sự là tài sản phải giao, công việc phải làm, hoặc không được làm Như vậy, trong hợp đồng dân sự chúng ta luôn xác định được đối tượng của hợp đồng Điều này rõ ràng không thể xảy ra Bởi vì, việc kết hôn phải đăng ký trước cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền Vì vậy, việc kết hôn không thể là một hành vi pháp lý đơn phương Như vậy, dưới góc độ pháp lý, kết hôn được nhìn nhận như một sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ hôn nhân giữa một người nam và một người nữ Kết hôn theo quy định của pháp luật là căn cứ để Nhà nước thừa nhận và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người kết hôn
1.2.Khái niệm về kết hôn và đăng kí kết hôn
1.2.1.Khái niệm kết hôn
Ph.awngghen đã chỉ ra rằng hôn nhân và gia đình là những hiện tượng phát sinh trong quá trình phát triển của xã hội loài người, chịu sự tác động của các điều kiện kinh
tế - xã hội Do vậy, sự phát triển của xã hội loài người gắn liền với quá trình phát sinh, thay đổi những hình thái hôn nhân và gia đình Nhận thức rõ vị trí, vai trò đặc biệc quan trọng của gia đình đối với sự phát triển của cá nhân và xã hội, nên ngay từ khi ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng , cũng như trong thời kì đổi mới, Đảng và nhà nước ta đã chú trọng tới việc xây dựng gia đình hạnh phúc và bền vững, đề ra chủ trương chính sách
cho việc thực hiện những quan hệ hôn nhân và gia đình tiến bộ, phù hợp với xu thế phát triển tất yếu của xã hội loài người Điều này được thể hiện qua những quy tắc cơ bản về hôn nhân và gia đình được quy định trong các văn bản luật, trực tiếp là luật hôn nhân và gia đình Nhà nước thông qua các quy định của pháp luật để điều chỉnh tác động lên quan hệ hôn nhân và gia đình Mà trước tiên phải kể đến là vấn đề kết hôn- sự kiện pháp lí quan trọng để tạo nên một gia đình
Theo từ điển tiếng việt định nghĩa: Kết hôn là việc nam nữ chính thức lấy nhau thành vợ chồng Theo truyền thống con nguoi việt nam, nam và nữ được coi là vợ chồng khi hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo nghi thức truyền thống Điều 3 luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định " Kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của luật này về điều kiện kết hôn và đăng kí kết hôn"
Trang 9Theo đó, việc kết hôn phải đáp ứng đủ các điều kiện kết hôn quy định tại điều 8 luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và phải được đăng kí tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo trình tự và thủ tục do luật ðịnh
Điều kiện kết hôn là một trong những nội dung quan trọng của luật hôn nhân và gia đình được quy định tại điều 8 luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Theo đó đẻ hôn nhân
có giá trị pháp lí thì các nam nữ khi kết hôn phải thỏa mãn các yếu tố sau đây:
Nam, nữ phải đủ tuổi kết hôn
Điểm a khoản 1 điều 8 luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: "Nam từ đủ
20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên"
Xuất phát từ cơ sở khoa học về tâm lí lứa tuổi, sức khỏe của con người việt nam, pháp luật quy định nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên mới được kết hôn nhằm đảm bảo sự phát triển về thể chất và trí tuệ để con cái sinh ra được khỏe mạnh, hơn nữa quy định độ tuổi tối thiểu tạo điều kiện cho việc xây dựng gia đình hạnh phúc
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đã nâng độ tuổi kết hôn của nam thành đủ 20 tuổi trở lên, nữ đủ 18 tuổi trở lên thay vì nam vừa bước qua tuổi 20 và nữ vừa bước qua tuổi 18 như quy định tại luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Sự thay đổi này nhằm đảm bảo tính thống nhất với các văn bản pháp luật khác có liên quan Cụ thể, theo quy định của bộ luật dân sự 2005 thì người thành niên là người từ đủ 18 tuổi trở lên ; bộ luật tố tụng dân sự cũng quy định người từ đủ 18 tuổi trở lên ; Bộ luật tố tụng dân sự cũng quy định người từ đủ 18 tuổi trở lên mới đủ tư cách tham gia tố tụng dân sự Do đó nếu theo quy định của luật hôn nhân và gia đình năm 2000 nữ không bắt buộc phải đủ 18 tuổi có quyền két hôn thì khi đó cũng phat sinh quyền tự do li hôn Dẫn tới tình trạng , quyền li hôn của họ không thể thực hiện nếu thời điểm có yêu cầu li hôn họ chưa đủ 18 tuổi Do vậy việc nâng độ tuổi kết hôn như quy định như quy định của luật hôn nhân và gia đình năm 2014 là bảo đảm được quyền lợi của đương sự cũng như đảm bảo tính đồng bộ , thống nhất trong hệ thống pháp luật của nước ta
Việc kết hôn phải có sự tự nguyện hai bên nam nữ
Kết hôn là quyền tự nhiên của con người được ghi nhận trong hiến pháp 2013, do
đó không thể có hôn nhân ngoài ý muốn của người kết hôn Quyền kết hôn, hôn nhân tự nguyện và bình đẳng là một nguyên tắc điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình từ những ngày đầu thành lập đất nước Điều này có thể thấy trong các quy định của luật hôn nhận và gia đình
Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 quy định tại điều 1: "Nhà nước bảo đảm thực
sự chế đọ hôn nhân tự nguyện tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng nhằm xây dựng gia đình dân chủ, hòa thuận, hanhju phúc bền vững"
Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, nguyên tắc này được thể hiện cụ thể và rõ
ràng tại khoản 1 điều 2 "Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng"
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 hôn nhân tự nguyện được thể hiện trong
khoản 1 điều 2 "Hôn nhân tự nguyện tiến bộ, một vợ, một chồng, vợ chồng bình đẳng"
và quy định tại khoản 2 điều 5: cấm kết hôn giả tạo, li hôn giả tạo, tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn, yeu sách của cải trong kết hôn Điểm b khoản 1 điều 8 quy định: "việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định"
Trang 10Quyền kết hôn không chỉ được quy định trong luật hôn nhân và gia đình mà còn được quy định tại điều 39 bộ luật dân sự năm 2005 cũng quy định "Nam và nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình có quyền tự do kết hôn"
Tự nguyện quyết định trong việc kết hôn được ghi nhận rất nhiều các văn bản pháp luật, cho thấy đây là một yếu tố quan trọng trong việc xác lập quan hệ vợ chồng Thật vậy, gia đình không chỉ thực hiện những chức năng riêng của mình đối với mỗi thành viên trong gia đình, mà còn làm nền móng cho sự vận động phát triển của xã hội Tự nguyện hoàn toàn trong việc kết hôn là hai bên nam, nữ tự mình quyết định việc kết hôn
và thể hiện ý chí mong muốn trở thành vợ chồng của nhau, cùng nhau gắn bó và chung sống suốt đời
Trong pháp luật hôn nhân và gia đìnhb vệt nam hiện hành, khái niệm kết hôn đã được nhà làm luật và các nhà nghiên cứu luật học quan tâm hơn Luật hôn nhân và gia
đình năm 1986 trong phần giải nghĩa một số danh từ đã nêu: "kết hôn là việc nam nữ lấy nhau thành vợ thành chồng theo quy định của pháp luật Việt kết hôn phải thuận theo các điều 5, 6, 7, 8 của luật hôn nhân và gia đình Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 định nghĩa: "kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kện kết hôn và đăng kí kết hôn" [điều 8, khoản 2] Và luật hôn nhân và gia đình 2014 thì định nghĩa "kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của luật này về điều kiện kết hôn và đăng kí kết hôn" [điều 3, khoản 5] Từ các khái
niệm kết hôn nói trên cho thấy, mặc dù còn chứa đựng những quan điểm khác nhau, nhuwng chúng có hai điểm chung sau:
Thứ nhất, các nhà làm luật khi đưa ra khái niệm kết hôn đều xuất phát từ vị trí của kết hôn là một sự kiện thực tế mang tính xã hội: "việc một người đàn ông và một người đàn bà cam kết chung sống với nhau với những quyền và nghĩa vụ đối với nhau cũng như đối với con cái" Nghĩa là nam và nữ lấy nhau thành vợ thành chồng và xác lập quan
hệ hôn nhân nhằm đảm bảo thực hiện những chức năng cơ bản mang tính xã hội của gia đình, trong đó sinh sản tái sản suất ra con người là một trong những chức năng cơ bản nhất
Thứ 2 kết hôn qua các khái niệm này là một sự kiện pháp lí và có các đặc điểm sau:
- Các bên nam nữ phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện kết hôn
Đó là những điều kiện về độ tuổi kết hôn và sự tự nguyện kết hôn và không thuộc trong các trường hợp cấm kết hôn Việc quy định các điều kiện kết hôn là thực sự cần thiết, đảm bảo trật tự trong gia đình, xã hội, giữ gìn thuần phong mĩ tục, đạo đức truyền thống của dân tộc việt nam, đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ hôn nhân
- Phải được nhà nước thừa nhận
Với vị trí của một thiết chế xã hội, kết hôn có vai trò là cơ sở xây dưng gai đình, tế bào của xã hội Điều đó không chỉ có ý nghĩa riêng tư mà còn có ý nghĩa xã hội Bởi vì trên cơ sở phát sinh quan hệ vợ chồng , các quan hệ thân thuộc trong gia đình và các quan hệ thích thuộc được thiết lập và làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ đạo đức, pháp
lí giữa các chủ thể trong gia đình Giay chứng nhận kết hôn là cơ sở pháp lí ghi nhận rằng hai bên nam nữ đã phát sinh quyền và nghĩa vụ vợ chồng, làm căn cứ để nhà nước
có biện pháp bảo hộ quyền lợi của vợ chồng đặc biệc là có ý nghĩa trong việc bảo vệ
Trang 11quyền lợi của phụ nữ và trẻ em Như vậy kết hôn là một sự kiện pháp lí làm phát sinh quan hệ vợ chồng giữa hai bên nam nữ và phải có điều kiện này quan hệ hôn nhân mới được nhà nước thừa nhận và bảo vệ
Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm kết hôn như sau: kết hôn là một sự kiện pháp lí, thể hiện hai bên nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng được cơ quan nhà nước
có thẩm quyền công nhận theo trình tự, thủ tục nhất định khi họ đáp ứng đủ điều kiện kết hôn do pháp luật quy định
1.2.2.Khái niệm đăng kí kết hôn
Khái niệm đăng kí kết hôn trong luật HN&GĐ năm 1986
Theo quy định tại khoản 4 điều 2
+ Người đã kết hôn với người khác mà đúng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình nhưng chưa li hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc
vợ (chồng) của họ không bị tuyên là đã chết;
+ Người xác lập quan hệ vợ chồng với người khác trước ngày 03-01-1987 mà chưa đăng kí kết hôn và chưa li hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết;
+ Người đã kết hôn với người khác vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định của luật hôn nhân và gia dình nhưng đã được tòa án công nhận quan hệ hôn nhân bằng bản
án , quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật và chưa li hôn hoặc không có sự kiện
vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết
Theo đó khi xác lập quan hệ vợ chồng trước ngày 3-1-1987 mà chưa đăng kí kết hôn thì nhà nước công nhận là vợ chồng hợp pháp Hai vợ chồng trong trường hợp này sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 1986 tới nay chưa đăng kí kết hôn sẽ vẫn được gọi là vợ chồng Mà tài sản xác lập trong thời kì hôn nhân sẽ được coi là tài sản chung của vợ chồng căn cứ điều 129 bộ luật dân sự 2005 về sỡ hữu chung của vợ chồng: + Sỡ hữu chung của vợ chồng là sỡ hữu chung hợp nhất
+ Vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung bằng công sức của mỗi người, có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu sử dụng, định đoạt tài sản chung + Vợ chồng cùng bàn bạc, thỏa thuận hoặc ủy quyền cho nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung
+ Tài sản chung của vợ chồng có thể phân chia theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của tòa án
Khái niệm đăng kí kết hôn trong luật HN&GĐ năm 2000
Tại khoản 1 điều 11 luật hôn nhân và gia đình quy định : việc kết hôn phải được đăng kí và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo nghi thức quy định tại điều 14 của luật này đều không có giá trị pháp lí Nam nữ không đăng kí kết hôn mà sống chung với nhau như vợ chồng thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng Vợ chồng đã li hôn muốn kết hôn lại với nhau cũng phải đăng kí kết hôn
Điều 14 luật hôn nhân và gia đình quy định về tổ chức đăng kí kết hôn như sau: khi
tổ chức đăng kí kết hôn phải có mặt hai bên nam nữ kết hôn Đại diện cơ quan đăng kí kết hôn yêu cầu hai bên cho biết ý muốn tự nguyện kết hôn, nếu hai bên đồng ý kết hôn thì đại diện cơ quan đăng kí kết hôn trao giấy chứng nhận kết hôn cho hai bên
Trang 12Tại khoản 3 nghị quyết 35/2000/QH10 ngày 9/6/2000 của quốc hội hướng dẫn về việc thi hành luật hôn nhân và gia đình quy định về việc áp dụng quy định tại khoản 1 điều 11 của luật này được thực hiện như sau:
+ Trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 3/1/1987, ngày luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực mà chưa đăng kí kết hôn thì được khuyến khích đăng kí kết hôn; trong trường hợp có yêu cầu li hôn thì được tòa án thụ lí giải quyết theo quy định về li hôn của luật hôn nhân và giia đình năm 2000
+ Nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 3/1/1987 đến ngày 1/1/2001,
mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của luật này thì có nghĩa vụ đăng kí kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày luật này có hiệu lực đến ngày 1/1/2003; trong thời hạn này mà họ không đăng kí kết hôn, nhưng có yêu cầu li hôn thì tòa án áp dụng các quy định về li hôn của luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết Từ sau ngày 1/1/2003 mà họ không đăng kí kết hoonthif pháp luật không công nhận họ là vợ chồng + Kể từ ngày 1/1/2001 trở đi, trừ trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 3 của nghị quyết này, nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng kí kết hôn, đều không được pháp luật chấp nhận là vợ chồng
Khái niệm đăng kí kết hôn trong luật HN&GĐ năm 2014
Đăng kí kết hôn là thủ tục do pháp luật quy định nhằm xác lập quan hệ hôn nhân giữa người nam và người nữ Theo quy định tại khoản 5 điều 3 luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì: kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của luật hộ tịch năm 2014 về điều kiện kết hôn và đăng kí kết hôn Do đó đăng kí kết hôn có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với bản thân mỗi công dân mà conmf có ý nghĩa quan trọng đối với công tác quản lí nhà nước
Theo quy định tại khoản 1 điều 9 luật hôn nhân và gia đình thì việc kết hôn phải được đăng kí và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện kí theo quy định của luật
hộ tịch năm 2014 và pháp luật về hộ tịch Cũng theo quy định tại khoản này, luật đã quy định: việc kết hôn không đăng kí theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lí
Về pháp lí chỉ thông qua hành vi đăng kí kết hôn thì quan hệ hôn nhân giữa một người nam và một người nữ mới được xác lập, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quan hệ hôn nhân đó Giays chứng nhận kết hôn do ủy ban nhân dân xã phường thị trấn cấp là một chứng thư có giá trị pháp lí xác nhận hai bên nam nữ đã phát sinh một quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ Trong truyền thống hôn nhân và gia đình của các dân tộc việt nam tồn tại nhiều nghi thức kết hôn theo phong tục tập quán khác nhau, nhưng đăng kí kết hôn là nghi thức duy nhất được pháp luật thừa nhận Mọi nghi thức kết hôn khác đều không có giá trị pháp lí
Trang 13Đối với công tác quản lí nhà nước, việc quy định các thủ tục pháp lí về đăng kí kết hôn nhằm đảm bảo sự quản lí việc tuân thủ pháp luật trong lĩnh vực hôn nhâ, gia đình, bảo đảm thực hiện chế độ hôn nhân tự nguyện tiến bộ, một vợ, một chồng theo quy định tại điều 2 luật hôn nhân và gia đình năm 2014, đồng thời cũng thông qua hành vi đăng kí kết hôn cho công dân, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ thực hiện chức năng giám sát, ngăn ngừa các hôn nhân trái pháp luật như tảo hôn, cưỡng ép hôn nhân hoặc các hành vi cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, yêu sách của cải trong khi cưới hỏi
Ngoài ra, trong trường hợp hai vợ chồng trước đó li hôn với nhau nay muốn chung sống trở lại đó mới được coi là hợp pháp (theo quy định tại khoản 2 điều 9 luật hôn nhân
Đăng kí kết hôn là một nội dung quan trọng thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật
về kết hôn nhưng thực hiện việc đăng kí kết hôn lại thuộc lĩnh vực của công tác hộ tịch
Vì vậy, ở phương diện này pháp luật về kết hôn có mối liên hệ sâu sắc với pháp luật hộ tịch Dưới góc độ quản lí hộ tịch , đăng kí kết hôn là một thủ tục mà thông qua đó, nhà nước thực hiện được việc theo dõi thưc trạng và biến động của việc kết hôn, góp phần bảo vệ quyền lợi hợp pháp của cá nhân và gia đình vì thế xét trên phương diện này, mối liên hệ giữa luật hôn nhân và gia đình vơi các bản pháp luật về hộ tịch là mối liên hệ giữa luật nội dung và luật hình thức Các quy định trong các văn bản pháp luật về hộ tịch có mối liên hệ mật thiết với các quy định của luật hôn nhân và gia đình Do đó việc đăng kí kết hôn được tổ chức chặt chẽ theo đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền,
về trình tự thủ tục sẽ góp phần đảm bảo hiệu quả điều chỉnh của luật hôn nhân vả gia đình về kết hôn Từ đay cho thấy rằng, nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật về kết hôn cẩn đặt trong mối quan hệ không thể tách rời với việc hoàn thiện các quy dịnh cảu pháp luật về hộ tịch
1.3.Điều kiện đăng kí kết hôn
Điều kiện kết hôn trước hết được hiểu là những điều kiện đã được luật định, khi đảm bảo được những điều kiện đó thì nam nữ mới được đăng kí kết hôn và việc kết hôn của nam và nữ mới được nhà nước công nhận và bảo vệ Điều kiện kết hôn được pháp luật quy tại điều 9 luật hôn nhân và gai đình năm 2000 và được quy định tại điều 8 luật
hôn nhân và gia đình năm 2014
Điều kiện kết hôn chính là việc khi một cá nhân muốn đăng kí két hôn với cá nhân khác, hai cá nhân đó phải đáp ứng các điều kiện theo Luật hôn nhân vả gia đình quy định mới có thể đăng kí kết hôn
Theo quy định tại điều 8 Luật hôn nhân và gia đình 2014 có quy định điều kiện kết hôn như sau
- Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:
+ Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;
+ Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;
+ Không bị mất năng lực hành vi dân sự;
Trang 14+ Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại điểm a, b, c và d khoản 2 điều 5 của luật này
- Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính
Thứ nhất, điều kiện về tuổi kết hôn:
Không giống với quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2000 có quy định về tuổi kết hôn là: “Nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên” mà Luật hôn nhân và gia đình
2014 thêm từ “đủ” để nâng mức độ tuổi kết hôn, đây là nội dung thay đổi quan trọng giữa luật mới và luật cũ để phù hợp với quy định của pháp luật về dân sự, tố tụng dân sự
có quy định phải đủ 18 tuổi thì khi tham gia các giao dịch dân sự thì mới không cần sự đồng ý của người đại diện Vậy, điều kiện về tuổi kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2014 là nam phải từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ phải từ đủ 18 tuổi
Thứ hai, điều kiện về ý chí tự nguyện đó việc kết hôn phải là nguyện vọng mong muốn chính đáng của hai bên nam nữ, chứ không phải do bị cưỡng ép hay lừa dối để kết hôn
Cưỡng ép kết hôn là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu
sách của cải hoặc hành vi khác để buộc người khác phải kết hôn hoặc trái với ý muốn của họ
Lừa dối để kết hôn là hành vi cố ý của một bên Hoặc của người thứ ba nhằm
làm cho bên kia hiểu sai lệch và dẫn đến việc đồng ý kết hôn nếu không có hành vi này thì bên bị lừa dối đã không đồng ý kết hôn
Thứ ba, điều kiện về năng lực của người muốn kết hôn:
Đó là người kết hôn phải là người không bị mất năng lực hành vi dân sự Bởi vì
người bị mất năng lực hành vi dân sự thì không có khả năng nhận thức, bày tỏ ý chí kết hôn do vậy họ cũng không thể tự mình kết hôn Ngoài ra, việc người mất năng lực hành
vi dân sự mà kết hôn sẽ có ảnh hưởng giống nòi không đảm bảo được trách nhiệm là chồng, làm vợ, làm cha, làm mẹ
Thứ tư, điều kiện về các trường hợp cấm kết hôn, theo quy định của pháp luật thì các trường hợp cấm kết hôn là:
Cấm kết hôn giả tạo
Cấm những người đang có vợ hoặc có chồng kết hôn
Cấm những người có dòng máu trực hệ hoặc những người có họ trong phạm vi ba đời
Người là cha nuôi hoặc mẹ nuôi kết hôn với con nuôi hoặc người đã từng là cha,
mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng, mẹ kế với con riêng của chồng kết hôn với nhau
Thứ năm, điều kiện hai người kết hôn phải thuộc hai giới tính
Trang 15Mặc dù, trên thế giới có rất nhiều quốc gia đã công nhận kết hông đồng giới
Tuy nhiên ở Việt Nam pháp luật mặc dù đã xóa bỏ điều cấm kết hôn đồng giới nhưng Nhà nước ta vẫn không thừa nhận với vẫn đề này
Những điểm mới của luật hôn nhân và gia đình năm 2014 so với luật hôn nhân
và gia đình năm 2000
+ Luật hôn nhân và gia đình 2014 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm
2015 thay thế luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014
có số lượng chương ít hơn 04 chương so với luật hiện hành (9 chương), số lượng đều tăng lăng lên 23 điều (133 điều) Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đã có nhiều quy định mới và có những sửa đổi, bổ sung, trong đó có quy định về tuổi kết hôn
+ Theo quy định của luật hôn nhân và gia đình năm 2014 về điều kiện kết hôn đã
có những điểm mới so với quy định của luật hôn nhân và gia đình năm 2000, đó là:
Thứ nhất, luật hôn nhân vả gia đình 2014 nâng độ tuổi kết hôn của nữ thành 18 tuổi trở lên và với nam là 20 tuổi trở lên Sỡ dĩ có việc thay đổi này là vì nếu quy định tuổi kết hôn của nữ vừa bước qua tuổi 18 thì quy định này là không thống nhất với bộ luật dân sự và bộ luật tố tụng dân sự Đó là, theo bộ luật dân sự người chưa đủ 18 tuổi
là người chưa thành niên, khi xác lập , thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý Còn theo bộ luật tố tụng dân sự thì đương sự là người tuef
đủ 18 tuổi trở lên mơi có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự Như vậy, nếu cho phép người chưa đủ 18 tuổi kết hôn là khohong hợp lí, thiếu đồng bộ và làm hạn chế một số quyền của người nữ khi xác lập các giao dịch như quyền yêu cầu li hôn thì phải có người đại diện
Thứ hai, luật hôn nhân và gia đình năm 2014 không cấm kết hôn cùng giới: Về hôn nhân đồng giới luật hôn nhân và gia đìn 2000 quy định cấm kết hôn đồng giới, và vì cấm nên đi kèm sẽ có chế tài, xử phạt Theo luật mới 1-1-2015, luật hôn nhân và gia đình
2014 bỏ quy định “cấm keets hôn giữa những người cùng giới tính” nhưng quy định cụ thể không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính-khoản 2 điều 8 Như vậy những người đồng giới tính vẫn có thể kết hôn tuy nhiên không được pháp luật bảo vệ khi có tranh chấp xảy ra Đây cũng được coi là bước tiến nhỏ trong việc nhìn nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính của nhà nước ta trong tình hình xã hội hiện nay
1.4.Thủ tục đăng kí kết hôn
Thủ tục đăng ký kết hôn được quy định cụ thể có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với cơ quan thực hiện đăng ký kết hôn mà còn có ý nghĩa đối với người kết hôn Thủ tục đơn giản giúp người kết hôn dễ dàng thực hiện và giúp cơ quan có thẩm quyền giải quyết nhanh chóng, kịp thời góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người kết hôn Nhìn chung, các văn bản pháp luật nói trên đã góp phần giải quyết tốt việc đăng kí kết hôn Trình tự, thủ tục giải quyết việc đăng ký kết hôn được quy định về cơ bản có những điểm giống nhau: Người kết hôn phải nộp đầy đủ các giấy tờ hợp lệ cho cơ quan
có thẩm quyền đăng ký kết hôn Sau khi nhận đầy đủ các giấy tờ hợp lệ, nếu xét thấy hai bên nam nữ có đủ điều kiện kết hôn, cơ quan đăng ký kết hôn sẽ thực hiện việc đăng ký kết hôn, ghi vào sổ Hộ tịch và cấp Giấy chứng nhận kết hôn Trường hợp không đủ điều kiện kết hôn thì cơ quan tiến hành đăng ký kết hôn sẽ từ chối đăng ký kết hôn và giải thích rõ bằng văn bản
Trang 16Về quy định thủ tục đăng kí kết hôn của bộ luật dân sự 2014
+ Việc kết hôn phải được đăng kí và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện Nếu việc kết hôn không được đăng kí theo quy định của pháp luật thì không có giá trị pháp lí
+ Căn cứ vào điều 17, 18 Nghị định số 8013/VBHN- BTP về quản lí hộ tịch ngày
10 tháng 12 năm 2013, hai bạn sẽ đăng kí kết hôn tại ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của bên nam hoặc bên nữ
+ Nơi cư trú của công dân là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú (Điều 12 Luật cư trú)
+ Khi đăng kí kết hôn, hai bên nam , nữ phải nộp Tờ khai (theo mẫu) và xuất trình giấy chứng minh nhân dân Trong trường hợp một người cư trú tại xã, phường, thị trấn khác, thì phải có xác nhận của ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú về tình trạng hôn nhân của người đó
+ Việc xác nhận tình trạng hôn nhân nói trên có thể xác nhận trực tiếp vào tờ khai đăng kí kết hôn hoặc bằng giấy xác nhận tình trạng hôn nhân
+ Việc xác nhận tình trạng hôn nhân có giá trị 6 tháng, kể từ ngày xác nhận
+ Trong thời hạn 3 ngày, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ, nếu xét thấy hai bên nam nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, thì ủy ban nhân dân cấp xã đăng kí kết hôn cho hai bên nam, nữ
+ Trong trường hợp cần phải xác minh, thì thời hạn nói trên được kéo dài thêm không quá 5 ngày
+ Khi đăng kí kết hôn, hai bên nam, nữ phải có mặt Đại diện ủy ban nhân dân cấp
xã yêu cầu hai bên cho biết ý muốn tự nguyện kết hôn, nếu hai bên đồng ý kết hôn, thì cán bộ tư pháp hộ tịch ghi vào sổ đăng kí kết hôn và giấy chứng nhận kết hôn
+ Hai bên nam nữ kí vào giấy chứng nhận kết hôn và sổ đăng kí kết hôn, Chủ tịch
ủy ban nhân dân cấp xã kí và cấp cho mỗi bên vợ, chồng một bản chính giấy chứng nhận kết hôn, giải thích cho hai bên về quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng theo quy định của luật hôn nhân và gia đình Bản sao giấy chứng nhận kết hôn được cấp theo yêu cầu của
vợ chồng
Điều 30 Hồ sơ đăng ký kết hôn
1 Hồ sơ đăng ký kết hôn được lập theo quy định tại Khoản 1 Điều 38 của Luật Hộ tịch và quy định sau đây:
a) Hai bên nam, nữ có thể khai chung vào một Tờ khai đăng ký kết hôn;
b) Giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân của người nước ngoài là giấy do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài cấp còn giá trị sử dụng xác nhận hiện tại người đó không có vợ hoặc không có chồng; trường hợp nước ngoài không cấp xác nhận tình trạng hôn nhân thì thay bằng giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài xác nhận người đó có đủ điều kiện kết hôn theo pháp luật nước đó
Nếu giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân của người nước ngoài không ghi thời hạn sử dụng thì giấy tờ này và giấy xác nhận của tổ chức y tế theo quy định tại Khoản 1 Điều 38 của Luật Hộ tịch chỉ có giá trị 6 tháng, kể từ ngày cấp