1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

trình bày chứng cứ và chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự với tội “Tham ô tài sản” được quy định tại Điều 353 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017.

6 55 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 19,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chứng cứ trong tố tụng hình sự được định nghĩa tại•Điều 86 Bộ luật Tố tụng hình sư 2015 (BLTTHS) như sau: Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án. Để giải quyết làm sáng tỏ vụ án nghĩa là phải thu thập đầy đủ các chứng cứ và các chứng cứ phải đảm bảo tính xác thực, tính liên quan và tính hợp pháp. Chứng minh trong tố tụng hình sự được hiểu là quá trình cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng dựa vào các thông tin liên quan đến đối tượng chứng minh được thu thập theo trình tự, thủ tục luật định (chứng cứ) để kết luận về các tình tiết nhằm giải quyết đúng đắn vụ án. Quá trình chứng minh là quá trình tư duy logic và thực tiễn của cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trên cơ sở các quy định của pháp luật tố tụng hình sự để thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ nhằm giải quyết vụ án vụ án. Theo quy định tại Điều 353 BLHS năm 2015, SĐBS 2017 thì Tội tham ô tài sản là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc đã bị kết án về một trong các tội quy định từ Điều 353 đến Điều 359, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, do người từ đủ 16 tuổi trở lên và không trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện (Điều 12, Điều 21 BLHS năm 2015) với lỗi cố ý trực tiếp (khoản 1 Điều 10 BLHS năm 2015). Dấu hiệu cấu thành tội phạm của tội Tham ô tài sản như sau: Khách thể: Hành vi tham ô tài sản đã tác động đến tài sản mà người phạm tội có trách nhiệm quản lý. Tài sản này bao gồm tài sản của nhà nước giao cho các cơ quan, tổ chức trong nhà nước hoặc là tài sản của các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước. Hành vi đã xâm phạm đến hoạt động bình thường của các cơ quan, tổ chức trong nhà nước và của cả các doanh nghiệp, tổ chức ngoài nhà nước, làm mất niềm tin của nhân dân. Mặt khách quan: Hành vi khách quan của Tội tham ô tài sản là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà người phạm tội quản lý. Người tham ô tài sản thuộc 01 trong 03 trường hợp sau đây mới phạm tội tham ô tài sản: Lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý trị giá từ 2.000.000 đồng trở lên; lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý trị giá dưới 2.000.000 đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi tham ô tài sản mà còn vi phạm. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý trị giá dưới 2.000.000 đồng nhưng đã bị kết án về một trong các tội: Tham ô tài sản; nhận hối lộ; lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ; lạm quyền trong khi thi hành công vụ. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi; giả mạo trong công tác, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

Trang 1

BÀI TẬP KIỂM TRA MÔN CHỨNG CỨ VÀ CHỨNG MINH TRONG

TỐ TỤNG HÌNH SỰ Đề: Đồng chí hãy trình bày chứng cứ và chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự với tội “Tham ô tài sản” được quy định tại Điều 353 Bộ

luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017.

BÀI LÀM:

Chứng cứ trong tố tụng hình sự được định nghĩa tại·Điều 86 Bộ luật Tố tụng hình sư 2015 (BLTTHS) như sau: Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án Để giải quyết làm sáng tỏ vụ án nghĩa là phải thu thập đầy đủ các chứng cứ và các chứng cứ phải đảm bảo tính xác thực, tính liên quan và tính hợp pháp

Chứng minh trong tố tụng hình sự được hiểu là quá trình cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng dựa vào các thông tin liên quan đến đối tượng chứng minh được thu thập theo trình tự, thủ tục luật định (chứng cứ) để kết luận về các tình tiết nhằm giải quyết đúng đắn vụ án Quá trình chứng minh là quá trình tư duy logic và thực tiễn của cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trên cơ sở các quy định của pháp luật tố tụng hình sự để thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ nhằm giải quyết vụ án vụ án

Theo quy định tại Điều 353 BLHS năm 2015, SĐBS 2017 thì Tội tham ô tài sản là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc đã bị kết án về một trong các tội quy định từ Điều 353 đến Điều 359, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, do người từ đủ 16 tuổi trở lên và không trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện (Điều 12, Điều 21

Trang 2

BLHS năm 2015) với lỗi cố ý trực tiếp (khoản 1 Điều 10 BLHS năm 2015) Dấu hiệu cấu thành tội phạm của tội Tham ô tài sản như sau:

Khách thể: Hành vi tham ô tài sản đã tác động đến tài sản mà người phạm tội có trách nhiệm quản lý Tài sản này bao gồm tài sản của nhà nước giao cho các cơ quan, tổ chức trong nhà nước hoặc là tài sản của các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước Hành vi đã xâm phạm đến hoạt động bình thường của các

cơ quan, tổ chức trong nhà nước và của cả các doanh nghiệp, tổ chức ngoài nhà nước, làm mất niềm tin của nhân dân

Mặt khách quan: Hành vi khách quan của Tội tham ô tài sản là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà người phạm tội quản lý Người tham ô tài sản thuộc 01 trong 03 trường hợp sau đây mới phạm tội tham ô tài sản: Lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý trị giá từ 2.000.000 đồng trở lên; lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý trị giá dưới 2.000.000 đồng nhưng

đã bị xử lý kỷ luật về hành vi tham ô tài sản mà còn vi phạm Lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý trị giá dưới 2.000.000 đồng nhưng đã bị kết án về một trong các tội: Tham ô tài sản; nhận hối lộ; lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ; lạm quyền trong khi thi hành công vụ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi; giả mạo trong công tác, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm

Chủ thể: Chủ thể của Tội tham ô tài sản là người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức nhà nước và doanh nghiệp, tổ chức ngoài nhà nước, từ đủ

16 tuổi trở lên và không trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự (Điều 12, Điều 21 BLHS năm 2015)

Mặt chủ quan: Tội tham ô tài sản cũng là tội phạm có tính chất chiếm đoạt nên cũng như đối với tội có tính chất chiếm đoạt khác, người phạm tội thực hiện hành vi của mình với lỗi cố ý trực tiếp

Trang 3

Như vậy, để làm sáng tỏ và có căn cứ để đưa ra Kết luận điều tra và đề nghị truy tố, trong giai đoạn điều tra, Cơ quan điều tra phải tiến hành các hoạt động nhằm thu thập chứng cứ thông qua các nguồn chứng cứ để phục vụ cho hoạt động chứng minh tội phạm với tội Tham ô tài sản, chứng cứ và chứng minh tội Tham ô tài sản được thực hiện như sau:

Về chứng cứ, đối với Tội tham ô tài sản cần phải thu thập các chứng cứ cần thiết để phục vụ cho quá trình chứng minh (Quy định tại Điều 87 BLTTHS 2015) gồm:

Vật chứng: Trong tội Tham ô tài sản, vật chứng rất đa dạng, có thể là vật được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội, vật mang dấu vết tội phạm, vật là đối tượng của tội phạm, thậm chí là tiền,…có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội hoặc có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án Tham ô tài sản Ví dụ: băng ghi âm, ghi hình; giấy tờ; sổ sách; dấu vết để lại ở hiện trường; hóa đơn, chứng từ;…

Lời khai, lời trình bày: theo quy định lời khai được dùng làm chứng cứ trong điều tra tội Tham ô tài sản rất đa dạng, nhưng quan trọng nhất vẫn là lời khai của bị can về quá trình thực hiện hành vi tham ô tài sản, thiệt hại xảy ra, động cơ, mục đích,…; lời khai của người làm chứng, nhưng người liên quan đối với hành vi của bị can

Dữ liệu điện tử là ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự được tạo ra, lưu trữ, truyền đi hoặc nhận được bởi phương tiện điện tử chứa đựng các thông tin về hành vi tham ô tài sản như các hình ảnh, ghi âm, ghi hình

Kết luận giám định: giám định dấu vết, vật chứng…;Kết luận định giá tài sản với các tài sản là đối tượng tham ô để xác định mức độ thiệt hại

Biên bản về hoạt động kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra trong quá trình điều tra tội tham ô tài sản

Trang 4

Các tài liệu, đồ vật khác trong vụ án: Những tình tiết liên quan đến vụ án ghi trong tài liệu, đồ vật do cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp có thể được coi

là chứng cứ Trường hợp tài liệu, đồ vật này có đặc điểm quy định tại Điều 89 BLTTHS 2015 thì được coi là vật chứng

Như vậy, đối với vụ án Tham ô tài sản, trong giai đoạn điều tra, Điều tra viên được phân công phải thu thập tất cả các chứng cứ có liên quan đến hành vi Tham ô để làm căn cứ để thực hiện việc chứng minh tội phạm

Chứng minh trong giai đoạn điều tra với tội Tham ô tài sản được thực hiện qua các giai đoạn:

– Thu thập chứng cứ: là tổng hợp các hành vi phát hiện, ghi nhận, thu giữ

và bảo quản chứng cứ

– Kiểm tra và Đánh giá chứng cứ: là việc xác định một cách thận trọng, toàn diện, khách quan mức độ tin cậy của những tình tiết thực tế đã thu thập được cũng như nguồn của nó để xác lập đúng đắn những những tình tiết của vụ án

Quá trình chứng minh tội Tham ô tài sản phải làm rõ các vấn đề chứng minh theo quy định tại Điều 85 BLTTHS, cụ thể:

Có hành vi tham ô tài sản xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội tham ô tài sản Làm rõ hành vi khách quan trong việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn của người có trách nhiệm quản lí tài sản trong việc chiếm đoạt tài sản đó Cụ thể, Hành vi tham ô có thể ở các dạng: Lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý trị giá từ 2.000.000 đồng trở lên; lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản

mà mình có trách nhiệm quản lý trị giá dưới 2.000.000 đồng nhưng đã bị xử lý

kỷ luật về hành vi tham ô tài sản mà còn vi phạm Lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý trị giá dưới 2.000.000 đồng nhưng đã bị kết án về một trong các tội: Tham ô tài sản; nhận hối lộ; lạm dụng

Trang 5

thi hành công vụ; lạm quyền trong khi thi hành công vụ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi; giả mạo trong công tác, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm

Ai là người thực hiện hành vi tham ô tài sản, lưu ý về các dấu hiệu chủ thể đặc biệt (người có chức vụ, quyền hạn và có trách nhiệm quản lí với tài sản là đối tượng của hành vi tham ô và họ đã lợi dụng chức vụ quyền hạn đó để thực hiện hành vi, xét về tuổi của chủ thể và năng lực trách nhiệm hình sự của chủ thể thục hiện hành vi tham ô); có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý (trong tội tham ô tài sản, lỗi của hành vi là lỗi cố ý trực tiếp, tức là người phạm tội nhận thức được hành vi tham ô của mình là nguy hiểm cho xã hội và thấy được hậu quả của hình vi gây ra nhưng vẫn mong muốn thực hiện hành vi nhằm chiếm đoạt tài sản); mục đích, động cơ phạm tội là vì vụ lợi, trục lợi cá nhân;

Những tình tiết giảm nhẹ: Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả; Người phạm tội tự thú; Người phạm tội thành khẩn khai báo hoặc ăn năn hối cải; Người phạm tội là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ, người có công với cách mạng… Các tình tiết tăng nặng: Phạm tội có tổ chức; Phạm tội 02 lần trở lên; và các đặc điểm nhân thân của bị can

Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi tham ô tài sản gây ra về định lượng tài sản tham ô thông qua kết luận định giá và các hậu quá khác do hành vi tham ô gây ra

Nguyên nhân và điều kiện phạm tội tham ô tài sản;

Những tình tiết khác liên quan đến việc loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt

Dựa vào các vấn đề phải chứng minh nêu trên, Cơ quan điều tra và Điều tra viên phải làm rõ các cấu thành tội phạm để có đầy đủ cơ sở kết luận về Tội tham ô tài sản và đề nghị truy tố

Trang 6

Có thể thấy, chứng cứ và chứng minh trong điều tra vụ án Tham ô tài sản quy định tại Đièu 353 BLHS 2015, SĐBS 2017 là hoạt động vô cùng quan trọng trong tố tụng nhằm cung cấp, chuẩn bị đầy đủ các căn cứ để đưa ra kết luận điều tra và đề nghị truy tố Là cơ sở để thực hiện các giai đoạn tố tụng tiếp theo và việc buộc tội tại tòa của Viện kiểm sát với người thực hiện hành vi tham ô tài sản

Thời gian qua, hoạt động thu thập chứng cứ và chứng minh tội Tham ô tài sản còn nhiều khó khăn, vướng mắc, cụ thể: Việc phát hiện các vụ án tham ô tài sản còn chưa kịp thời; Việc giải quyết vụ án còn kéo dài do quan điểm của các cơ quan tố tụng không thống nhất trong việc xác định tội danh, hoặc phải chờ kết quả giám định tư pháp, hoặc do việc thu thập chứng cứ còn gặp nhiều khó khăn; Việc thu hồi tài sản tham ô còn nhiều bất cập, hiệu quả thấp, chưa thực sự có tác dụng đối với việc phòng ngừa loại tội phạm này trên thực tế;… Chính vì vậy, trong thời gian tới cần có những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác điều tra tội phạm tham ô tài sản nói chung và việc thu thập chứng cứ, chứng minh loại tội phạm này nói riêng Theo tôi thấy, việc quan trọng nhất là hướng dẫn nghiệp vụ với hoạt động thu thập chứng cứ kịp thời, nhanh chóng nhằm tránh việc tẩu tán, hủy hoại, giả mạo chứng cứ trong hành vi tham ô tài sản và nghiệp vụ kiểm tra, đánh giá chứng cứ trong hoạt động chứng minh vụ án tham ô tài sản

Ngày đăng: 28/08/2021, 11:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w