Hiểu theo nghĩa tổng quát, pháp luật về hợp đồng là tổng thể những quan điểm, học thuyết pháp lý, chính sách, quy định pháp luật, tập quán, thói quen thương mại liên quan đến hợp đồng, đ
Trang 1BÀI KIỂM TRA ĐIỀU KIỆN MÔN PHÁP LUẬT VỀ
HỢP ĐỒNG TRONG KINH DOANH
Đề bài:
1 Em hãy nêu các bộ phận cấu thành pháp luật về hợp đồng trong kinh doanh?
2 Bài tập
Anh (chị) hãy vận dụng kiến thức pháp luật về hợp đồng trong kinh doanh
để phân tích và giải quyết tình huống sau đây:
Ngày 23/10/2014, Ngân hàng S – Chi nhánh tại tỉnh Q có trụ sở tại phố
P, thành phố H, tỉnh Q ký hợp đôngg tín dụng trung dài hạn số 95/HĐTD cho ông Nguyễn Văn T và bà Trần Thị Y cư trú tại phường K, Thị xã H, tỉnh Q vay 5,3 tỷ đồng, thời hạn vay 84 tháng với mục đích xây dựng showroom kinh doanh ô tô
Tài sản bảo đảm cho khoản vay là quyền sử dụng 100m2 đất và tài sản gắn liền với đất là căn nhà 3 tầng tại số 38 phố L, phường K, thành phố H tỉnh
Q, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 20/8/2005 mang tên Nguyễn Huy B theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 152/TSTC ngày 23/10/2014
Ngân hàng S đã giải ngân cho ông Nguyễn Văn T và bà Thần Thị Y theo khế ước số 95.01/HĐTD NGÀY 16/11/2014 số tiền 2,3 tỷ đồng và Khế ước số 95.02/HĐTD ngày 01/3/2015 số tiền là 1,2 tỷ đồng Sau đó, Ngân hàng S dừng giải ngân và tiến hành thu hồi nợ trước thời hạn với lý do ông Nguyễn Huy B và
bà M đang làm thủ tục ly hôn, phân chia tài sản là tài sản bảo đảm cho hợp đồng tín dụng số 95/HĐTD nên khoản vay bị rủi ro
Thực tế, ông B và bà M kết hôn năm 2005, do có mâu thuẫn nên gửi đơn
ra Tòa vào tháng 2/2015 xin ly hôn, nhưng cuối cùng đã hòa giải được Tại Biên bản hòa giải lần 1 do Tòa án lập có ghi “về tài sản chung là nhà đất tại số 38 phố
Trang 2L, phường K, thị xã H, tỉnh Q hai bên thống nhất sẽ tự thỏa thuận phân chia” Khi Ngân hàng S dừng giải ngân thì ông T và bà Y không đủ tiền để hoàn thiện showroom ô tô, dẫn đến công trình phải dừng thi công, hợp đồng với các hãng
xe ô tô cũng phải hủy bỏ, kế hoạch kinh doanh bị thất bại Ngân hàng S đã đôn đốc thu hồi nợ nhiều lần nhưng ông Nguyễn Văn T và bà Trần Thị Y không thực hiện nghĩa vụ trả nợ với lý do Ngân hàng S dừng giải ngân làm họ kinh doanh thua lỗ
Ngày 21/10/2016 Ngân hàng S đã khởi kiện ra Tòa án thị xã H tỉnh Q yêu cầu ông Nguyễn Văn T và bà Trần Thị Y phải có trách nhiệm trả số tiền nợ gốc, nợ lãi tính đến thời điểm nộp đơn khởi kiện Nếu không trả được nợ trên thì Ngân hàng S yêu cầu phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ
Anh, chị hãy cho biết:
a Việc ngân hàng S ngừng giải ngân có vi phạm hợp đồng hay không?
b Ngân hàng S có quyền khởi kiện đối với ông T và bà Y không?
c Ông T và bà Y cần làm gì để bảo vệ quyền, lợi ích của mình?
d Cần giải quyết vụ việc này như thế nào để hài hòa lợi ích các bên?
Trang 3BÀI LÀM Câu 1:
Khái niệm hợp đồng và pháp luật về hợp đồng trong kinh doanh:
Thuật ngữ thương mại trong pháp luật Việt Nam đã thay đổi so với trước đây rất nhiều cùng với quá trình hội nhập và hợp tác quốc tế Khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005 quy định: “ Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”
Thuật ngữ hợp đồng có thể được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau: quan hệ pháp luật về hợp đồng, văn bản hợp đồng, chế định hợp đồng Mối liên
hệ, sự trao đổi, giao tiếp xã hội giữa người với người là quy luật phổ biến trong mọi hoạt động xã hội, trong đó có hoạt động sản xuất, kinh doanh Các mối liên
hệ giữa mọi người luôn tuân theo những quy tắc xã hội nào đó Những quy ước
tự hình thành trong quá trình trao đổi các sản phẩm do săn bắt, hái lượm thời nguyên thủy là những hợp đồng đầu tiên trong các hoạt động vì sự sinh tồn của nhân loại Thời gian sau đó, khi nhà nước và pháp luật xuất hiện, pháp luật về hợp đồng là một bộ phận quan trọng của mọi nhà nước Pháp luật đó có thể tồn tại dưới hình thức thành văn hoặc bất thành văn
Hiểu theo nghĩa tổng quát, pháp luật về hợp đồng là tổng thể những quan điểm, học thuyết pháp lý, chính sách, quy định pháp luật, tập quán, thói quen thương mại liên quan đến hợp đồng, đời sống thực tiễn của pháp luật đó cũng như các quan điểm điều chỉnh pháp luật về hợp đồng;
Pháp luật về hợp đồng cũng được tiếp cận theo nhiều nghĩa I) Có thể hiểu
là các văn bản, nguồn luật về hợp đồng và ii) hiểu theo nghĩa tổng quát, theo cách tiếp cận mới đối với pháp luật về hợp đồng
Nếu hiểu theo nghĩa tổng quát, pháp luật về hợp đồng là tổng thể những quan điểm, nguyên lý, học thuyết pháp lý, chính sách, quy định pháp luật, tập
Trang 4quán, thói quen thương mại liên quan đến hợp đồng, đời sống thực tiễn của pháp luật đó cũng như các quan điểm điều chỉnh pháp luật về hợp đồng;
Theo quan niệm thông thường, hợp đồng là sự thoả thuận giữa các chủ thể nhằm làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự Để xác định một hợp đồng có hiệu lực ràng buộc nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý các bên, chúng ta phải dựa vào các quy định trong các chế định khác của Bộ luật Dân sự như, xem xét đến các yếu tố chủ thể, đối tượng, mục đích và hình thức thể hiện của hợp đồng có đáp ứng các quy định về năng lực chủ thể, quy định về nội dung, đối tượng, mục đích của hợp đồng, hình thức của hợp đồng, bảo đảm thực hiện nghĩa vụ từ hợp đồng…
Đặc điểm của hợp đồng:
Bản chất của hợp đồng là hình thức pháp lý cho sự trao đổi, dịch chuyển tài sản, thực hiện các hoạt động dịch vụ thương mại Mỗi loại đối tượng của quan hệ hợp đồng có những đặc điểm riêng, tạo nên sự khác nhau về đặc điểm pháp lý của các loại hợp đồng khác nhau:
Hợp đồng là một loại giao dịch dân sự (Điều 116 Bộ luật Dân sự năm
2015): Hợp đồng là giao dịch dân sự của nhiều bên Các Bộ luật Dân sự Việt Nam cũng như pháp luật dân sự các nước đều xác định giao dịch dân sự bao gồm hành vi pháp lý đơn phương và hợp đồng
Hợp đồng là căn cứ xác lập quyền dân sự (Điều 8), căn cứ làm phát sinh quan hệ về nghĩa vụ (trái vụ) (Điều 275): Bộ luật Dân sự đã xác định giao dịch dân sự nói chung, hợp đồng nói riêng là căn cứ phổ biến, quan trọng đầu tiên xác lập quyền dân sự, đồng thời làm phát sinh quan hệ về nghĩa vụ;
Hợp đồng là căn cứ xác lập quyền dân sự (Điều 8 Bộ luật Dân sự năm
2015): hợp đồng mua bán, hợp đồng vay tài sản là căn cứ làm phát sinh quyền
sở hữu của người mua, người đi vay đối với tài sản
Hợp đồng là Căn cứ làm phát sinh quan hệ pháp luật về nghĩa vụ (Điều
275 Bộ luật Dân sự năm 2015): Quan hệ hợp đồng là quan hệ về nghĩa vụ (trái
Trang 5vụ), là loại quan hệ đối nhân mà khách thể (đối tượng trực tiếp) của nó không phải là tài sản như trong quan hệ sở hữu (quan hệ đối vật), mà là hành vi của các chủ thể, nhằm thực hiện hoặc không thực hiện một công việc, chuyển giao tài sản vì lợi ích của nhiều chủ thể khác;
Hợp đồng là quan hệ pháp luật dân sự: Bản chất pháp lý của quan hệ hợp
đồng là quan hệ pháp luật dân sự, nghĩa là những quan hệ dựa trên cơ sở tự do ý chí, thỏa thuận, bình đẳng và tự chịu trách nhiệm về tài sản của các chủ thể tham gia Không thể có quan hệ hợp đồng nếu không có tự do ý chí, không có sự thỏa thuận bình đẳng giữa các bên Vì vậy, dù trong bất cứ lĩnh vực nào thì quan hệ hợp đồng đều có cùng bản chất Sự phân biệt hợp đồng trong lĩnh vực lao động, dân sự, thương mại, hôn nhân và gia đình như trước đây trong hệ thống pháp luật Việt Nam chỉ có ý nghĩa nhất thời của giai đoạn phát triển nền kinh tế chỉ huy, kế hoạch hóa
Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên được thể hiện dưới một hình thức nhất định: Trong các hệ thống luật tư, các quan hệ pháp luật được xác lập
chủ yếu thông qua sự thoả thuận Do đó, hợp đồng là cơ sở quan trọng cho việc hình thành và giải quyết các vấn đề phát sinh trong các quan hệ pháp luật thuộc lĩnh vực “tư” Ví dụ: quan hệ hôn nhân và gia đình, quan hệ lao động, quan hệ thương mại,… Hợp đồng là một chế định pháp luật dân sự: Hệ thống pháp
luật dân sự được cấu trúc bởi nhiều chế định Trước hết là các chế định về các chủ thể và những vấn đề pháp lý liên quan đến xác định tư cách chủ thể quan hệ pháp luật về dân sự, như cá nhân, pháp nhân, đại diện, giám hộ
Vai trò, ý nghĩa của hợp đồng:
Hợp đồng là công cụ, là cơ sở để xây dựng và thực hiện kế hoạch của chính các chủ thể kinh doanh, làm cho các kế hoạch sản xuất kinh doanh chỉ có thể được thực hiện nếu người sản xuất mua được nguyên vật liệu và kí được hợp đồng tiêu thụ sản phẩm của mình Đồng thời hợp đồng cũng được cụ thể hoá, chi tiết hoá kế hoạch sản xuất mua bán, giá cả, thời gian giao hàng… Như vậy
Trang 6nhu cầu sản xuất kinh doanh là do người sản xuất kinh doanh quyết định và thỏa thuận với khách hàng nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh và thu lợi nhuận
Vai trò, vị trí của hợp đồng trong đời sống hàng ngày không chỉ diễn ra trong đời sống dân sự, kinh doanh, thương mại Ngày nay, người ta còn nói đến những hình thức hợp đồng được thực hiện trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước Theo đó, thay vì phải ban hành một quyết định hành chính, người ta có thể thiết lập một quan hệ hợp đồng: “Hợp đồng hành chính” Hợp đồng hành chính
có cùng bản chất như hợp đồng nói chung, đều là văn bản pháp lý được ký kết giữa các bên tham gia Hợp đồng trong quan hệ dân sự và quan hệ lao động được xác lập dựa trên sự thỏa thuận, thống nhất (về quyền và nghĩa vụ) của các bên tham gia hợp đồng nhằm đạt được mục đích cuối cùng trong quan hệ dân sự hoặc lao động đó Trong quan hệ này, các bên đều có vị thế ngang nhau Tương
tự, hợp đồng hành chính cũng là sự thỏa thuận giữa các chủ thể tham gia trong hợp đồng nhưng một bên chủ thể tham gia sẽ là cơ quan hành chính nhà
nước-cơ quan đại diện cho công quyền - với tư cách là một pháp nhân công pháp Trong một số trường hợp cơ quan nhà nước lại có những "đặc quyền" ưu thế hơn đối với bên còn lại khi xác định nội dung hợp đồng, nội dung hợp đồng hành chính có thể liên quan hoặc mang tính chất của quan hệ dân sự, lao động, kinh tế
Xa hơn nữa, trong quan hệ quốc tế hiện đại, các giao lưu quốc tế cũng thường được hình thành trên cơ sở và kết quả của những bản hợp đồng Bởi lẽ suy cho cùng, các điều ước quốc tế đều có bản chất là những hợp đồng Chúng ràng buộc các bên tham gia, ký kết phải thực hiện theo nguyên tắc pacta sun serwanda Theo nghĩa đó, các hợp đồng trong quan hệ quốc tế, được ký kết và thực hiện bởi các quốc gia và/hoặc các tổ chức quốc tế, là tiền đề và điều kiện để tạo lập một trật tự thế giới mới và được cưỡng chế thi hành bởi các cơ quan và
tổ chức tài phán quốc tế
Trang 7Tóm lại, hiểu theo nghĩa rộng nhất, hợp đồng là sản phẩm của một xã hội hiện đại Nó là công cụ quan trọng để thiết lập và tổ chức đời sống xã hội văn minh
Các bộ phận cấu thành pháp luật về hợp đồng trong kinh doanh
Giao kết và hiệu lực của hợp đồng:
Đề nghị giao kết hợp đồng và thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực (Điều 386, 388 BLDS); Thông tin trong giao kết hợp đồng (Điều 387);
Thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng (Điều 389 BLDS);
Hủy bỏ, chấm dứt đề nghị giao kết hợp đông (Điều 390, 391 BLDS); Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng và thời hạn trả lời chấp nhận (Điều
393, 394 BLDS);Rút lại thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng (Điều 397 BLDS)
Thời điểm, địa điểm giao kết hợp đồng (Điều 399, 400 BLDS)
Hiệu lực và thực hiện hợp đồng; Hợp đồng vô hiệu:
Hiệu lực của hợp đồng: Điều 117 và Điều 401 BLDS
Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng áp dụng quy định 117 về các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự
Thực hiện hợp đồng (Điều 409 - 420 BLDS)
Sửa đổi, hủy bỏ, chấm dứt hợp đồng hợp đồng (Điều 421 – 422 BLDS) Hợp đồng vô hiệu và hậu quả pháp lý (Điều 407 – 408 BLDS)
Trách nhiệm pháp lý và chế tài trong hợp đồng:
Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng:
Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ: Bên có nghĩa vụ mà vi phạm
nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự với bên có quyền Vi phạm nghĩa vụ
là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ, thực hiện nghĩa vụ không
Trang 8đúng với thời hạn, không đúng nội dung nghĩa vụ hoặc không đầy đủ nghĩa vụ.Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác Bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự nếu chứng minh được nghĩa vụ không thực hiện được là hoàn toàn
do lỗi của bên có quyền
Chế tài trong hợp đồng: Các loại chế tài trong thương mại được quy định tại chương VII Luật thương mại Điều 292: Buộc thực hiện đúng hợp đồng; Phạt
vi phạm; Buộc bồi thường thiệt hại; Tạm ngừng thực hiện hợp đồng; Đình chỉ thực hiện hợp đồng; Hủy bỏ hợp đồng; Các biện pháp khác do các bên thỏa
thuận không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc
tế mà Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và tập quán thương mại quốc tế Tuy nhiên, đối với trường hợp vi phạm không cơ bản, nếu các bên không có thỏa thuận khác thì bên bị vi phạm không được áp dụng chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng hoặc hủy bỏ hợp đồng (Điều 293)
Điều 294 Luật Thương mại quy định các trường hợp miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm sau đây: Xảy ra trường hợp miễn trách nhiệm mà các
bên đã thỏa thuận; Xảy ra sự kiện bất khả kháng; Hành vi vi phạm của một bên
hoàn toàn do lỗi của bên kia; Hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết
được vào thời điểm giao kết hợp đồng; Bên vi phạm hợp đồng có nghĩa vụ
chứng minh các trường hợp miễn trách nhiệm Bên vi phạm hợp đồng phải thông báo ngay bằng văn bản cho bên kia về trường hợp được miễn trách nhiệm
và những hậu quả có thể xảy ra
Căn cứ áp dụng trách nhiệm do vi phạm hợp đồng trong thương mại: Có
hành vi vi phạm hợp đồng; Có thiệt hại thực tế xảy ra; Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại hay nói cách khác hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại
Trang 9Trên đây là một số nội dung liên quan đến hợp đồng trong kinh doanh thương mại và các bộ phận cấu thành pháp luật về hợp đồng trong kinh doanh thương mại
Trang 10Câu 2:
Giải quyết tình huống:
Hợp đồng tín dụng: Theo Bộ luật dân sự 2015: Hợp đồng tín dụng là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định
- Cho vay trung và dài hạn: từ 01 năm trở lên để đầu tư vào tài sản cố định, mua sắm tài sản đáp ứng nhu cầu sinh hoạt , tiêu dùng
- Cho vay có bảo đảm bằng tài sản: là hình thức cho vay trong đó nghĩa vụ trả nợ tiền vay được bảo đảm bằng tài sản của bên vay hoặc của người thứ ba
a Việc ngân hàng S ngừng giải ngân có vi phạm hợp đồng hay không?
Khoản 1 Điều 428 Bộ Luật dân sự 2015 về đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng quy định “1 Một bên có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa
vụ trong hợp đồng hoặc các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định” Khoản 1 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 về Chấm dứt cấp tín
dụng, xử lý nợ, miễn, giảm lãi suất quy định “1 Tổ chức tín dụng có quyền chấm dứt việc cấp tín dụng, thu hồi nợ trước hạn khi phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm các quy định trong hợp đồng cấp tín dụng.”
Việc Ngân hàng S dừng giải ngân và tiến hành thu hồi nợ trước thời hạn với lý do ông Nguyễn Huy B và bà M đang làm thủ tục ly hôn, phân chia tài sản
là tài sản bảo đảm cho hợp đồng tín dụng số 95/HĐTD nên khoản vay bị rủi ro
Và Biên bản hòa giải lần 1giữa ông Nguyễn Huy B và bà M do Tòa án lập có ghi “về tài sản chung là nhà đất tại số 38 phố L, phường K, thị xã H, tỉnh Q hai bên thống nhất sẽ tự thỏa thuận phân chia”
Ở đây, đề bài không nói rõ việc ông Nguyễn Huy B và bà M đang làm thủ tục ly hôn, phân chia tài sản là tài sản bảo đảm cho hợp đồng tín dụng số 95/HĐTD là do Ngân hàng S tự phát hiện hay là ông Nguyễn Văn T và bà Thần