1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cơ sở khoa học xây dựng chương trình đào tạo trình độ đại học theo định hướng ứng dụng tại trường đại học nội vụ hà nội

92 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong những nguyên nhân chủ yếu là công tác phát triển CTĐT trong các trường ĐH chưa được chú trọng đúng mức, chưa có nhiều trường đầu tư vào công việc này, CTĐT cùng khối ngành thườ

Trang 1

BỘ NỘI VỤ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI

_

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG

CƠ SỞ KHOA HỌC XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI

Mã số: (Mã số đề tài>

Chủ nhiệm đề tài: ThS Triệu Thị Hải Anh

Trang 2

BỘ NỘI VỤ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI

_

BÁO CÁO TỔNG KẾT

CƠ SỞ KHOA HỌC XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI

Mã số: (Mã số đề tài>

Chủ nhiệm đề tài: ThS Triệu Thị Hải Anh

Thành viên đề tài: ThS Nguyễn Thị Hoa

Nguyễn Minh Tâm ThS Nguyễn Thị Minh Đức

Hà Nội, 2019

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2.Tổng quan tình hình nghiên cứu 3

3.Mục đích nghiên cứu của đề tài 10

4.Nhiệm vụ nghiên cứu 10

5.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11

6.Các phương pháp nghiên cứu khoa học 11

7.Kết cấu của đề tài: 12

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG 13

1.1. Một số khái niệm cơ bản về CTĐT 13

1.1.1 Một số khái niệm về CTĐT 13

1.1.2.CTĐT trình độ đại học theo định hướng ứng dụng 15

1.1.3.Khái niệm xây dựng CTĐT đại học 17

1.1.3.1.Xây dựng CTĐT theo cách tiếp cận nội dung 19

1.1.3.2.Xây dựng CTĐT theo cách tiếp cận mục tiêu 19

1.1.3.3.Xây dựng CTĐT theo cách tiếp cận phát triển 20

1.1.3.4.Xây dựng CTĐT theo cách tiếp cận năng lực 21

1.1.4.Xây dựng CTĐT theo định hướng ứng dụng 21

1.2.Đặc trưng cơ bản của CTĐT theo định hướng ứng dụng 22

1.2.1 Gắn kết CTĐT với thị trường lao động 22

1.2.2 Giảm thời lượng lý thuyết, tăng thực hành 23

1.2.3 Hình thành các năng lực, kỹ năng nghề nghiệp 24

1.2.4 Hợp tác, trao đổi với các đơn vị sử dụng người học 24

1.2.5 Đánh giá kết quả học tập dựa vào năng lực 25

1.3 Vai trò của CTĐT theo định hướng ứng dụng 25

Trang 4

1.3.1 SV tốt nghiệp có kiến thức, thái độ, kỹ năng phù hợp với từng nhóm

nghề nghiệp cụ thể 25

1.3.2 Người học ra trường thích ứng với yêu cầu cầu công việc 26

1.3.3 Không mất thời gian, kinh phí đào tạo lại 26

1.4 Cơ sở thực tiễn và các nhân tố thúc đẩy xây dựng CTĐT theo định hướng ứng dụng 27

1.4.1 Cơ sở thực tiễn xây dựng CTĐT theo định hướng ứng dụng 27

1.4.2 Nhân tố thúc đẩy xây dựng CTĐT theo định hướng ứng dụng 29

1.4.2.1 Nhân tố khách quan 29

1.4.2.2 Nhân tố chủ quan 31

1.5 Quy trình xây dựng CTĐT theo định hướng ứng dụng (POHE) 33

1.5.1 Xác định nhu cầu xã hội 34

1.5.2 Xây dựng Hồ sơ tốt nghiệp (chuẩn đầu ra) 35

1.5.3 Hồ sơ năng lực 35

1.5.4 Xây dựng CTĐT 36

1.5.5 Thực hiện và đánh giá CTĐT 37

1.6 Kinh nghiệm xây dựng CTĐT theo định hướng ứng dụng 38

1.6.1 Kinh nghiệm xây dựng CTĐT đại học theo định hướng ứng dụng tại một số quốc gia trên Thế giới 38

1.6.1.1 Kinh nghiệm của Hà Lan 38

1.6.1.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc 39

1.6.2 Kinh nghiệm xây dựng CTĐT đại học theo định hướng ứng dụng tại một số trường Đại học ở Việt Nam 41

1.6.2.1 Trường Đại học kinh tế quốc dân 41

1.6.2.2 Đại học Văn hóa thành phố Hồ Chí Minh 42

1.6.3 Bài học kinh nghiệm trong xây dựng CTĐT theo định hướng ứng dụng 43

Tiểu kết Chương 1 46

Trang 5

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO

TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI 47

2.1 Giới thiệu khái quát về Trường Đại học Nội vụ Hà Nội 47

2.2 Đánh giá thực trạng CTĐT tại trường Đại học Nội vụ Hà Nội 48

2.2.1 Những ưu điểm trong hoạt động ĐT của Nhà trường 48

2.2.1.1 Mở rộng các ngành nghề đào tạo 48

2.2.1.2 Phương thức ĐT theo học chế tín chỉ 49

2.2.1.3 Xây dựng, chuyển đổi CTĐT theo học chế tín chỉ 50

2.2.1.4 Đổi mới phương pháp giảng dạy 52

2.2.2 Những hạn chế đang tồn tại 52

2.2.2.1 Về chương trình đào tạo 52

2.2.2.2.Về tỷ lệ phân bổ thời gian giữa các môn khoa học cơ bản, cơ sở và chuyên ngành, giữa lý thuyết và thực hành, thực tập 56

2.2.2.3 Về quy trình xây dựng CTĐT 57

2.2.2.4 Về phương pháp giảng dạy và học tập 59

2.2.2.5 Về công tác kiểm tra, đánh giá 61

2.2.2.6 Về cơ sở vật chất học liệu 61

2.3 Nguyên nhân của những hạn chế trong CTĐT hiện nay của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội 62

2.3.1 Về phương thức quản lý 62

2.3.2 Về chất lượng, nội dung chương trình môn học 63

2.3.3 Về cán bộ quản lý, đội ngũ giảng viên 63

2.3.4 Về sự phối hợp, hợp tác với thị trường nghề nghiệp 64

Tiểu kết Chương 2 66

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI 67

3.1 Đòi hỏi tất yếu của xây dựng CTĐT theo định hướng ứng dụng 67

3.1.1 Yêu cầu đổi mới hệ thống giáo dục đại học hiện nay 67

Trang 6

3.1.2 Sự khác biệt giữa CTĐT hiện nay của Nhà trường với CTĐT theo

định hướng ứng dụng 69

3.2 Một số giải pháp xây dựng chương trình đào tạo theo định hướng ứng dụng tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội 71

3.2.1 Nâng cao nhận thức về vai trò của CTĐT theo định hướng ứng dụng 71

3.2.2 Xây dựng các văn bản quản lý, hướng dẫn về xây dựng chương trình đào tạo theo định hướng ứng dụng 72

3.2.3.Khảo sát thị trường việc làm và lựa chọn các ngành đào tạo theo định hướng ứng dụng 72

3.2.4 Phát triển CTĐT hiện nay của Trường theo phương pháp đào tạo ứng dụng 73

3.2.5 Đổi mới phương pháp giảng dạy đáp ứng yêu cầu đào tạo theo định hướng ứng dụng 76

3.3.6 Đổi mới công tác quản lý và nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên 77

3.2.7 Tăng cường cơ sở vật chất, học liệu đáp ứng cho đào tạotheo định hướng ứng dụng 78

3.2.8 Nâng cao chất lượng chuẩn đầu ra của các ngành được lựa chọn 79

Tiểu kết chương 3 80

KẾT LUẬN 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong điều kiện toàn cầu hóa và bùng nổ tri thức hiện nay trên thế giới, hệ thống giáo dục của Việt Nam được đánh giá là còn nhiều bất cập Đặc trưng chung của các trường Đại học Việt Nam hiện nay là hoạt động theo kiểu đào tạo truyền thống, chưa phân biệt rõ ràng về sứ mạng chủ yếu và tập trung cho hoạt động nghiên cứu nhằm tìm kiếm tri thức mới Hơn nữa, theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam đang thiếu lao động có trình độ tay nghề, công nhân kỹ thuật bậc cao, đặc biệt là trình độ ngoại ngữ nên gặp nhiều khó khăn trong quá trình hội nhập Số lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật, thậm chí nhóm có trình độ chuyên môn cao có khuynh hướng hiểu biết lý thuyết khá, nhưng lại kém về năng lực thực hành và khả năng thích nghi trong môi trường cạnh tranh Những hạn chế, yếu kém của nguồn nhân lực là một trong những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của nền kinh tế

Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 – 2020 đã chỉ ra một số tồn

tại của lĩnh vực này như: “Nội dung chương trình, phương pháp dạy và học,

công tác thi, kiểm tra, đánh giá chậm được đổi mới Nội dung chương trình còn nặng về lý thuyết… nhà trường chưa gắn chặt với đời sống kinh tế, xã hội,chưa chuyển mạnh sang đào tạo theo nhu cầu xã hội; chưa chú trọng giáo dục kỹ năng sống, phát huy tính sáng tạo, năng lực thực hành của học sinh, sinh viên”

[2] Một trong những nguyên nhân chủ yếu là công tác phát triển CTĐT trong các trường ĐH chưa được chú trọng đúng mức, chưa có nhiều trường đầu tư vào công việc này, CTĐT cùng khối ngành thường có nhiều môn học giống nhau, không có đặc thù của từng trường, có trường tổ chức dạy những môn mà nhà trường có giảng viên chứ không phải dạy những môn học mà xã hội và người học cần; có trường quá tập trung vào lý thuyết; có trường lại quá tập trung vào trang bị kỹ năng thực hành, không có nền tảng kiến thức vững; CTĐT không theo kịp với sự phát triển, tức chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội…[1]

Để tồn tại và bắt kịp với đà phát triển đó, đổi mới giáo dục đào tạo, đặc

Trang 9

biệt là giáo dục đại học, là yêu cầu bắt buộc phải làm Trong chiến lược đổi mới giáo dục đào tạo nói chung, có rất nhiều điều cần làm và phải được tiến hành đồng bộ, phải chuyển từ phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu, như hai

nhiệm vụ Đại hội XI của Đảng giao cho Ngành Giáo dục: “Đổi mới căn bản,

toàn diện nền giáo dục và đột phá xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao”

Do đó, trong giai đoạn nền giáo dục Việt Nam đang bước vào thời kỳ hội nhập với khu vực và thế giới, hòa chung với xu hướng phát triển khoa học kỹ thuật trên thế giới ngày càng có yêu cầu rất lớn về đào tạo một lực lượng lao động có trình độ cao, tham gia trực tiếp vào hệ thống sản xuất, kinh doanh của xã hội và các công tác quản lý, hoạt động văn hóa xã hội khác, sứ mạng rất quan trọng của phần lớn các trường đại học sắp tới là phải tập trung mạnh mẽ vào thị trường lao động, vào nhu cầu xã hội, tạo dựng môi trường thuận lợi để SV được thực hành nghề nghiệp trong cả quá trình ĐT ở nhà trường Trên cơ sở đó, việc nghiên cứu

để biên soạn lại CTĐT và đề cương từng môn học phải được các trường đặc biệt quan tâm trong thời gian tới Xu hướng phát triển môn học và CTĐT theo định hướng ứng dụng tuy không mới, nhưng cần được quan tâm, nghiên cứu thường xuyên và phải có chiến lược để thay đổi kịp thời, hợp lý với điều kiện thực tiễn Việc chuẩn hóa phát triển môn học và CTĐT theo hướng ứng dụng là nhu cầu bức thiết, cần phải được đầu tư cả về nguồn lực và trí lực, việc thay đổi CTĐT là một trong những khâu cần làm ngay trong hoạt động dạy và học ở các trường đại học Điều này có ý nghĩa và rất cần thiết để ổn định, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng được nhu cần thực tiễn của đất nước

Trường Đại học Nội vụ Hà Nội với nhiệm vụ quan trọng là ĐT, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất đạo đức tốt, vững vàng về chuyên môn cho ngành Nội vụ nói riêng và cho nhu cầu xã hội nói chung, trải qua hơn 40 năm xây dựng và trưởng thành đã góp phần không nhỏ vào tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trong thời gian tới, mục tiêu của Nhà trường là phát triển các CTĐT đại học gắn với nhu cầu của thị trường lao động Cung cấp cho SV tốt nghiệp các kiến thức, thái độ, kỹ năng phù hợp với từng

Trang 10

nhóm nghề nghiệp cụ thể Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp của đội ngũ giảng viên, viên chức phù hợp với nhiệm vụ và yêu cầu công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học hiện nay của Nhà trường Từ đó, xây dựng Trường Đại học Nội vụ Hà Nội là nơi kết nối các hoạt động nghiên cứu, kết quả nghiên cứu và là nơi có năng lực nghiên cứu mô hình chính sách và tư vấn chính sách trong tương lai Do đó, mô hình giáo dục đại học định hướng ứng dụng mà Nhà trường đang hướng tới kỳ vọng sẽ mang đến hiệu quả cao nhất Thực tế về hội nhập quốc tế của lĩnh vực giáo dục như hiện nay, định hướng chuẩn hóa CTĐT theo định hướng ứng dụng còn giúp cho

SV Nhà trường có được sự chuẩn bị chu đáo và đầy đủ cơ sở để có thể hòa nhập vào môi trường giáo dục của bất kỳ quốc gia, hay khu vực nào trên thế giới, đặc biệt là ở những quốc gia có nền giáo dục tiên tiến, có những yêu cầu cụ thể về chuẩn giáo dục, để tiếp tục việc học tập nâng cao kiến thức và trình độ chuyên môn Từ những luận giải trên, nhóm tác giả quyết định chọn nghiên cứu đề tài

“Cơ sở khoa học xây dựng chương trình đào tạo trình độ đại học theo định hướng ứng dụng tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội” nhằm từ những nghiên

cứu cơ sở khoa học về xây dựng CTĐT trình độ đại học theo định hướng ứng dụng, phân tích những khó khăn và thách thức đặt ra đối với Trường Đại học Nội vụ Hà Nội trong việc triển khai mô hình này tại Trường

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Vấn đề thất nghiệp của sinh viên tốt nghiệp đại học hiện nay đang là câu hỏi lớn đặt lên vai các trường đại học nói riêng và cả xã hội nói chung Để trả lời câu hỏi này cần phải tìm được nguyên nhân từ nhiều phía và đề ra các biện pháp khắc phục từng nguyên nhân một cách đồng bộ và thấu đáo PGS.TS Nguyễn Văn Ba, Ths.Đinh Văn Hương trong bài báo “Trường Đại học Thái bình dương với mô hình đào tạo theo định hướng ứng dụng POHE” từ những luận giải về lợi ích đem lại của chương trình đào tạo theo định hướng ứng dụng, nhóm tác giả đã phân tích một khía cạnh có ảnh hưởng lớn đến việc khắc phục tình trạng trên, đó

Trang 11

là chương trình đào tạo hiện tại đang được sử dụng tại các trường đại học và yêu cầu đổi mới về chương trình để sinh viên ra trường có thể tiếp cận nhanh với thế giới việc làm, phát huy được kiến thức tích lũy trong trường vào công việc để có

cơ hội nhận được việc làm và thăng tiến

Tác giả Nguyễn Thạc San trong bài viết “Quản trị chất lượng tự học của sinh viên- Một giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục đại học Việt Nam” lại từ việc đánh giá chất lượng tự học của sinh viên hiện nay để phân tích đến hiệu quả của công tác giảng dạy của giảng viên trong CTĐT theo định hướng ứng dụng Tác giả đã từ những khảo sát thực tế sinh viên để phân tích đến vai trò hướng dẫn của người giảng viên, bởi theo tác giả chất lượng tự học của sinh viên phản ánh chất lượng của phương pháp giảng dạy và là chất lượng của chuẩn đầu ra Đây chính là mục tiêu cụ thể trong mục tiêu đào tạo của giáo dục đại học định hướng ứng dụng Trong chất lượng đào tạo của một nhà trường có một chất lượng quan trọng mang giá trị cao trong bậc thang giá trị, đó chính là chất lượng tự học của sinh viên Chính vì vậy, các trường nên đưa chất lượng tự học của sinh viên vào mục tiêu quản trị của mình, định hướng giải quyết nó bằng ánh sáng của lý thuyết quản trị, nhằm từ đó nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục đại học Việt Nam

Lê Hữu Phước trong bài “Giáo dục đại học với vấn đề đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao” đã khái quát tình hình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại các trường đại học của một số quốc gia trên Thế giới: Mỹ, Đức, Pháp, Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc Đồng thời cung cấp những thông tin cơ bản về tình hình đào tạo của Đề án đào tạo kỹ sư, cử nhân tài năng- nguồn nhân lực chất lượng cao của Trường Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, từ đó tạo ra được một góc nhìn tham chiếu trong xây dựng CTĐT theo định hướng ứng dụng để các trường đại học của Việt Nam góp phần tạo nên sức bật mới trong hệ thống giáo dục đại học, có năng lực cạnh tranh cao tiếp cận được với các trường có trình độ tiên tiến trên Thế giới

Quan tâm đến quản lý phương pháp dạy học là quy luật tất yếu của mọi

Trang 12

thời đại, của mỗi quốc gia trước sự phát triển không ngừng của khoa học công nghệ trên bước đường hội nhập với quy mô toàn cầu Đổi mới phương pháp dạy học theo quan điểm của Đoàn Thị Thanh Thủy trong bài viết “Quản lý phương pháp dạy học đại học đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo” là dạy cách học- cách tự học trong các CTĐT theo định hướng ứng dụng, không phải là thay cái cũ bằng cái mới, mà phải dựa trên cơ sở những phương pháp truyền thống còn giá trị, tìm cách lựa chọn, bổ sung hợp lý các phương pháp đã có kết hợp với trang thiết bị giảng dạy hiện đại để tăng quá trình hình thành tri thức, rèn luyện kỹ năng và hình thành thái độ tích cực của người học Muốn như vậy, Nhà trường cần có một đội ngũ cán bộ giảng viên đủ về số lượng, phù hợp về cơ cấu

và đạt chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, luôn tim tòi sáng tạo và không ngừng nâng cao trình độ nghiên cứu khoa học nhằm đáp ứng yêu cầu của CTĐT định hướng ứng dụng

Tài liệu “Phát triển chương trình đào tạo đại học định hướng nghề nghiệp ứng dụng” của Dự án Phát triển giáo dục đại học theo định hướng nghề nghiệp ứng dụng (POHE) ở Việt Nam giai đoạn 2 của Bộ Giáo dục và Đào tạo với mục tiêu nỗ lực nâng cao các lựa chọn nghề nghiệp cho sinh viên thông qua việc xây dựng các chương trình đào tạo theo hình thức thí điểm, trong đó trọng tâm là sự thích ứng với thị trường lao động và phương pháp lấy người học làm trung tâm, nhằm góp phần vào công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện hệ thống giáo dục đại học ở Việt Nam Đây chính là tài liệu quan trọng trong việc xây dựng đội ngũ giảng viên chất lượng cao thông qua bộ tiêu chuẩn năng lực dành cho giảng viên, trên cơ sở đó xây dựng khung chương trình bồi dưỡng giảng viên

Phùng Thị Thanh Tú trong bài báo “Giảng viên đại học với nhiệm vụ đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo của Việt Nam” đã qua phân tích những thành tựu đạt được và những hạn chế tồn tại của 3 lần cải cách và đổi mới nền Giáo dục Việt Nam cho thấy cần phải đổi mới nhiều chính sách về giáo dục

và tài chính để thúc đẩy sự phát triển của giáo dục và hòa nhập với thế giới Sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ, khoa học giáo dục và sự

Trang 13

cạnh tranh quyết liệt trên nhiều lĩnh vực giữa các quốc gia đòi hỏi giáo dục Việt Nam phải thay đổi toàn diện, nhất là các CTĐT hiện nay phải áp dụng các phương pháp dạy học chủ động, tích hợp nhằm gắn kết giữa lý thuyết và thực hành

Để đảm bảo chất lượng đào tạo, chúng ta phải quan tâm đến nhiều yếu tố

và điều kiện trong suốt quá trình đào tạo, các tác giả: Nguyễn Thành Hải, Phùng Thúy Phượng, Đồng Thị Bích Thủy trong bài “Giới thiệu một số phương pháp giảng dạy cải tiến giúp sinh viên học tập chủ động và trải nghiệm, đạt các chuẩn đầu ra theo CDIO” đã giới thiệu về một số phương pháp giảng dạy cải tiến giúp sinh viên học tập chủ động (active learning) và trải nghiệm (experiential learning) để đạt được các mục tiêu môn học và chương trình đào tạo theo CDIO, cũng như đáp ứng được các yêu cầu của xã hội Thông qua các kết quả nghiên cứu gần đây, nhóm tác giả đã cho thấy khả năng tiếp thu và vận dụng bài học của sinh viên tăng lên khi được học tập chủ động Trong phương pháp dạy học cải tiến, người học - đối tượng của hoạt động dạy học đồng thời là chủ thể của hoạt động học tập - được cuốn hút vào các hoạt động học tập một cách chủ động

do giảng viên tổ chức và hướng dẫn, thông qua đó người học tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giảng viên sắp đặt Được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, người học được trải nghiệm, được trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, vừa thông qua làm việc cá nhân, vừa phải làm việc theo nhóm, từ đó đạt được kiến thức mới, kỹ năng mới, phát huy tiềm năng sáng tạo Tùy vào mục tiêu của môn học cụ thể, cần đạt mức

độ kiến thức hay kỹ năng nào theo cách tiếp cận CDIO, người giảng viên sẽ tổ chức các hoạt động phù hợp giúp sinh viên học tập chủ động để đạt được các mục tiêu ấy

Nguyễn Thúy Hồng trong bài “Đổi mới chương trình giáo dục” đã thông qua trả lời những câu hỏi:làm thế nào để có một giờ học tốt? đánh giá một giờ học tốt như thế nào cho chính xác, khách quan, công bằng?để từ đó phân tích

Trang 14

những yếu tố tác động đến việc đổi mới chương trình giáo dục Theo tác giả, đổi mới chương trình giáo dục và cùng với nó là đổi mới phương pháp dạy học, đồng thời đổi mới đánh giá là những phương diện thể hiện sự quyết tâm cách tân, đem lại những thay đổi về chất lượng và hiệu quả giáo dục Và ở khía cạnh hoạt động, tất cả những đổi mới này đều được biểu hiện sinh động trong mỗi giờ học qua hoạt động của người dạy và người học, qua việc chuẩn bị và thiết kế một giờ học của người giảng viên để kích thích sự tự tìm tòi, sáng tạo cho người học

2.2.Tình hình nghiên cứu nước ngoài

李爽, 陈丽 (Li Shuang, Chen Li) trong bài “Thực tiễn và nguyên tắc giảng dạy: lấy người học làm trung tâm” (“以学生为中心”的教学原理与实践) đã phân tích và trình bày một số phương pháp để kích thích sự tự học của người học Thứ nhất, người thầy giáo phải đứng vào vị trí của người học, suy nghĩ làm thế nào để giúp đỡ người học tự học một cách tốt nhất; thứ hai, cần xác định cho người học mục tiêu học tập, nội dung học tập từ đó đưa ra phương pháp học tập tốt nhất cho người học; thứ ba là phải xây dựng môi trường học tập sáng tạo cho người học, đồng thời thiết kế những phương pháp đánh giá hiệu quả và thích hợp Đây chính là những yếu tố trọng tâm của quá trình xây dựng nguyên tắc

“lấy người học làm trung tâm”

郑金洲 (Zheng Jin Zhou) trong cuốn sách “Hướng dẫn phương pháp giảng dạy ứng dụng” (教学方法应用指导) đã từ lý luận dạy học cơ bản và những ví dụ thực tiễn giới thiệu rất chi tiết về các phương diện liên quan đến 9 phương pháp giảng dạy ứng dụng Đây chính là tài liệu tham khảo quý giá cho giảng viên trong việc lựa chọn các phương pháp giảng dạy ứng dụng, kiểm soát các phương pháp giảng dạy và vận dụng tổng hợp các phương pháp này vào thực tế một cách hiệu quả

杨东平 (Yang Dong Ping) trong cuốn sách “ Sách lược cải cách giáo dục Trung Quốc 2020” (2020 中国教育改革方略) trên cơ sở của “Cương lĩnh quy

Trang 15

hoạch Giáo dục” của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã phân tích những vấn đề giáo dục cần cải cách nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học kỹ thuật trên thế giới hiện nay Tác giả đã nhấn mạnh đến việc cải cách giáo dục theo định hướng ứng dụng ( đặc biệt là các ngành kỹ thuật điện tử) với mục đích đưa giáo dục và kinh doanh lại gần nhau hơn, đặc biệt là các chính sách trong việc đầu tư cho giáo dục theo định hướng ứng dụng (bởi vì để đạt được thành công trong công tác ứng dụng thì ưu tiên số một chính là các phòng thí nghiệm, thực hành)

Từ đó tác giả đã giải thích sự cần thiết của việc cải cách nền giáo dục Trung Quốc hiện nay

杨桂青(Yang jia Qing)trong bài “Phát triển giáo dục Trung Quốc trong xu thế toàn cầu hóa giáo dục” (全球教育趋势下中国教育如何发展) đã phân tích những thách thức và khó khăn hiện nay của nền giáo dục Trung Quốc trước xu thế toàn cầu hóa giáo dục Xu hướng giáo dục toàn cầu cho thấy: thứ nhất, trong bối cảnh giáo dục toàn cầu, hầu hết các quốc gia chú trọng đến giáo dục, đầu tư giáo dục tiếp tục tăng Thứ hai, xu hướng quốc tế hóa giáo dục là hiển nhiên, đặc biệt là trong phát triển nghiên cứu ở nước ngoài đang gia tăng Thứ ba, giáo dục và Internet liên kết chặt chẽ hơn Thứ tư, đặc điểm của sự phát triển giáo dục ngày càng nổi bật Chính vì vậy, việc nghiên cứu xu hướng giáo dục toàn cầu và nhận diện những khó khăn thách thức của nền giáo dục Trung Quốc sắp tới là những việc vô cùng cần thiết Cuối cùng tác giả đưa ra kiến nghị lựa chọn phương pháp phát triển Giáo dục Trung Quốc trong tương lai

- Abraham Maslow (nhà tâm lý học người Mỹ) trong bài viết “A Theory

of human motivation” (1943) đã nhấn mạnh đến bản chất của con người, Ông tin rằng mọi người khi sinh ra đều có tiềm năng tiềm ẩn của bản thân Nhiệm vụ của giáo dục là phải giúp mọi người khơi gợi được tiềm năng này, từ đó Ông chia

giáo dục thành “giáo dục bên ngoài” và “giáo dục bên trong” Giáo dục bên

ngoài là cung cấp các kiến thức cơ bản vê khoa học kỹ thuật, xã hội, lịch sử, địa lý , Ông khẳng định: khi đề cao giá trị giáo dục bên ngoài cũng đồng thời làm

Trang 16

giảm đi tính sáng tạo của người học, thế giới nội tâm của người học sẽ bị thu hẹp, rất khó để tìm được khả năng tự có của mình Nhưng nếu coi trọng giáo dục bên trong thì sẽ rất có lợi cho việc phát huy tối đa tiềm năng tự có của người học Tuy nhiên, để phát triển giáo dục bên trong thì sẽ đòi hỏi tính kỷ luật của người học rất cao, phải kết hợp giữa giáo dục kiến thức cơ bản và giáo dục thực tiễn và chính vì vậy sẽ phát triển đồng thời tính sáng tạo và tính tự giác của người học

Carl Ransom Rogers- nhà tâm lý học người Mỹ và là một trong số những người đặt nền móng cho phương pháp tiếp cận nhân văn trong tâm lý học cũng đồng quan điểm với Maslow, Ông cho rằng tiềm năng của con người chỉ thực sự được phát huy trong điều kiện tự do vận động Môi trường tự do vận động này

sẽ được tạo nên bởi gia đình, nhà trường và đặc biệt là chương trình giảng dạy,

giảng viên Từ đó, Ông đã đưa ra Lý thuyết giảng dạy không có hướng dẫn,

Ông cho rằng xuất phát điểm của giáo dục không phải là chương trình giảng dạy, giảng dạy không phải là đưa người học vào sách vở và người giảng viên là trung tâm, mà phải lấy người học là trung tâm Giảng viên không phải là người chỉ đạo quá trình học tập của sinh viên mà phải là người phục vụ và kích thích quá trình học tập của sinh viên Mối quan hệ giữa người giảng viên và sinh viên trong mô hình “ giảng dạy không có hướng dẫn” này sẽ tạo được sự tín nhiệm của người giảng viên đối với năng lực tự có của học viên, từ đó sẽ tạo ra bầu không khí “yêu thương” trong quá trình học tập, đồng thời sinh viên sẽ không còn phụ thuộc vào kỹ thuật giảng dạy của giảng viên nữa, sinh viên sẽ hứng thú hơn trong việc tự tìm hiểu những tri thức căn bản và từ đó có định hướng cho hoạt động nghiên cứu của mình

Tóm lại, đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và ĐT là xu thế tất yếu, đáp ứng điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế Việt Nam phải xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, nâng cao chất lượng, chuẩn hóa và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo Phấn đấu đến năm

2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực là điều mà toàn

Trang 17

Đảng, toàn dân và đặc biệt đội ngũ trí thức, giảng viên đều mong muốn hướng tới Các học giả, các nhà nghiên cứu khoa học và đội ngũ giảng viên đã, đang không ngừng nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm thực tế của các nước nhằm thực hiện triệt để nhiệm vụ đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo với các nội dung:

- Phát triển giáo dục hướng tới người học, đảm bảo công bằng về cơ hội tiếp cận giáo dục

- Phát triển giáo dục để đáp ứng nhu cầu đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và phải thỏa mãn nhu cầu phát triển của mỗi cá nhân

- Đổi mới chương trình, tài liệu dạy học trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và đại học dựa trên nhu cầu của đơn vị sử dụng lao động, vận dụng có chọn lọc một số chương trình tiên tiến trên thế giới, phát huy vai trò của các trường trọng điểm trong từng khối ngành, nghề đào tạo để thiết kế các chương trình liên thông, ứng dụng vào thực tiễn công tác

3 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về xây dựng CTĐT theo định hướng ứng dụng, khảo sát thực trạng và đề xuất giải pháp xây dựng CTĐT trình

độ đại học theo định hướng ứng dụng tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về khái niệm, cấu trúc, quy trình xây dựng chương trình đạo tạo đại học theo định hướng ứng dụng, từ đó phân tích, làm rõ

sự khác biệt giữa chương trình đào tạo hiện nay của Nhà trường và chương trình đào tạo theo định hướng ứng dụng;

- Nghiên cứu, tìm hiểu quá trình xây dựng và phát triển CTĐT của Nhà trường, từ đó thấy được những ưu điểm và hạn chế đang tồn tại trong CTĐT, đội ngũ GV và cơ sở vật chất của Nhà trường nhằm lựa chọn những ngành nghề phù hợp với định hướng ứng dụng;

- Đề xuất một số điều kiện đảm bảo trong việc xây dựng CTĐT đại học định hướng ứng dụng tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội

Trang 18

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

-Đối tượng: xây dựng CTĐT đại học theo định hướng ứng dụng

- Phạm vi nghiên cứu: tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội

6 Các phương pháp nghiên cứu khoa học

- Cách tiếp cận:

Đề tài từ góc độ tiếp cận của khoa học Quản lý giáo dục nghiên cứu về một số vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến phát triển CTĐT đại học theo định hướng ứng dụng Qua đó, tìm ra các ngành nghề phù hợp với định hướng ứng dụng của Nhà trường

- Phương pháp nghiên cứu:

+ Đề tài sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết để nghiên cứu, làm rõ khái niệm, đặc trưng và vai trò của CTĐT theo định hướng ứng dụng nhằm tổng hợp thành một hệ thống cơ sở khoa học xây dựng chương trình đào tạo trình độ đại học theo định hướng ứng dụng tại Trường Đại học Nội vụ

Hà Nội;

+Sử dụng phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý thuyết để phân tích làm rõ vai trò của việc xây dựng CTĐT theo định hướng ứng dụng đối với sự phát triển của Nhà trường và nhu cầu xã hội; Đối với sự phát triển của đội ngũ giảng viê cũng như đối với người học

+ Sử dụng phương pháp điều tra nhằm khảo sát để tìm ra những ưu điểm, hạn chế đang tồn tại trong CTĐT hiện nay của Nhà trường và những ý kiến, phản hồi của giảng viên, sinh viên tại Trường liên quan đến xây dựng CTĐT theo định hướng ứng dụng Đây chính là cơ sở để thấy được những thách thức, khó khăn mà Nhà trường phải đối diện trong giai đoạn phát triển tới

Trang 19

7 Kết cấu của đề tài:

Chương 1: : Cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng chương trình đào tạo trình độ đại học theo định hướng ứng dụng

Làm rõ khái niệm, đặc trưng,vai trò của CTĐT đại học theo định hướng ứng dụng, đồng thời giới thiệu một số kinh nghiệm xây dựng CTĐT theo định hướng ứng dụng tại một số trường đại học ở Việt Nam và trên thế giới

Chương 2: Thực trạng xây dựng chương trình đào tạo đại học tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội

Khái quát những giai đoạn phát triển chương trình đào tạo của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội, tìm ra những thách thức và khó khăn của Nhà trường trên con đường xây dựng CTĐT theo định hướng ứng dụng

Chương 3: Một số giải pháp trong việc xây dựng chương trình đạo tạo theo định hướng ứng dụng tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội

Đề xuất quy trình triển khai thực hiện phù hợp đối với một số ngành đào tạo của Trường và xây dựng lộ trình trong việc xác định chuẩn đầu ra của các ngành được lựa chọn

- Là tài liệu tham khảo vềxây dựng CTĐT đại học theo định hướng ứng dụng tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội

Trang 20

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG 1.1 Một số khái niệm cơ bản về CTĐT

1.1.1 Một số khái niệm về CTĐT

CTĐT là khâu quan trọng nhất trong quy trình ĐT của mọi cấp bậc học Tùy theo cách tiếp cận khác nhau, các chuyên gia về Khoa học giáo dục có các định nghĩa khác nhau về CTĐT Qua nghiên cứu các tài liệu trong và ngoài nước liên quan đến lĩnh vực phát triển CTĐT, tác giả nhận thấy thuật ngữ CTĐT có những cách hiểu sau:

Trong lịch sử giáo dục, , thuật ngữ “ chương trình đào tạo” xuất hiện vào năm 1820 CTĐT có gốc chữ La tinh là “Currere”, có nghĩa là “to run” (chạy, điều hành hoặc “to run a course”- điều hành một khóa học) Do đó, định nghĩa truyền thống của CTĐT là một khóa học [22] Như vậy, theo nghĩa rộng, CTĐT của một trường là tất cả các khóa học được cung cấp

Ở các nước phát triển, CTĐT được xác định là tập hợp các học phần mà nhà trường cung cấp, tùy thuộc vào lĩnh vực chuyên môn mà sinh viên muốn theo đuổi Do đó, CTĐT được phân thành nhiều loại khác nhau: CTĐT cho khối

cơ bản, khối kỹ thuật, khối thực hành .Bobbitt (1924) cho rằng CTĐT có thể được định nghĩa là hệ thống các hoạt động nhằm phát hiện khả năng hoặc hoàn thiện người học [23]

Hình 1.1 Khái niệm CTĐT của Bobbitt

Chương trình

đào tạo

Chuỗi hoạt động

Phát hiện khả năng người học

Hoàn thiện người học

Trang 21

Hollis và Doak Campbell (1935) cho rẳng “CTĐT bao gồm tất cả những hiểu biết và kinh nghiệm mà SV có được dưới sự hướng dẫn của nhà trường” [16] Vì vậy, CTĐT được xem là một chuỗi những kinh nghiệm được nhà trường phát triển nhằm giúp SV tăng cường tính kỉ luật, phát triển năng lực tư duy và hành động CTĐT gồm tất cả những gì SV có được nhằm đạt được các mục đích và mục tiêu cụ thể, được xây dựng theo khung lí thuyết và nghiên cứu hoặc những thực tiễn nghề nghiệp trong quá khứ hay hiện tại Do đó, một số quốc gia đang phát triển xem CTĐT là tập hợp các chuyên đề hay môn học được quy định cho khóa học mà người học phải thực hiện để đạt được trình độ giáo dục đó

Hình 1.2 Khái niệm CTĐT của Hollis và Doak Campbell (1935)

Ở các trường đại học Việt Nam, CTĐT được hiểu là một tập hợp các học phần được thiết kế cho một ngành đào tạo nhằm bảo đảm cung cấp cho sinh viên những kiến thức và kỹ năng cần thiết chonghề nghiệp sau này Xem xét ở khía cạnh rộng hơn, CTĐT còn được hiểu bao gồm cả những chuyên đề không được

CTĐT

Kế hoạch cung cấp

cơ hội cho người học

Kế hoạch học tập

Người học

Mục đích giáo dục

Trang 22

cung cấp trong nhà trường mà SV được yêu cầu phải tích lũy đủ kiến thức và kỹ năng (ví dụ như các chứng chỉ ngoại ngữ, tin học…) Theo tác giả Phạm Thị Huyền: CTĐT được hiểu theo cách tiếp cận “đào tạo theo nhu cầu xã hội” Khi

đó, CTĐT có thể được định nghĩa là một tập hợp tất cả các hoạt động gắn kết với nhau nhằm đạt đến mục tiêu giáo dục của nhà trường, bao gồm các yếu tố đầu vào để thực hiện CTĐT và mục tiêu ĐT trên cơ sở kết quả đầu ra, nhằm phát triển khả năng của người được ĐT, giúp họ có được kiến thức, kỹ năng cũng như cải thiện năng lực tư duy trong thực hiện những yêu cầu công việc ở trình độ được ĐT [16]

Tham khảo các tài liệu trong nước, ngoài nước và xuất phát từ thực tế

hiện nay, theo tác giả: CTĐT là kế hoạch tổng thể, hệ thống về toàn bộ hoạt

động ĐT, bao gồm: mục đích ĐT, mục tiêu, chuẩn đầu ra, nội dung ĐT (với độ rộng và sâu), phương thức ĐT và hình thức tổ chức ĐT (với các phương pháp, phương tiện, công cụ dạy học), phương thức đánh giá kết quả ĐT (trong so sánh, đối chiếu với chuẩn đầu ra)

1.1.2 CTĐT trình độ đại học theo định hướng ứng dụng

Luật Giáo dục Đại học năm 2012 đã xác định rõ hệ thống giáo dục đại học Việt Nam sẽ được phân tầng theo sứ mạng, bao gồm các trường nghiên cứu, ứng dụng, và thực hành Theo đó, các trường nghiên cứu chỉ nên giữ ở quy mô khoảng 5% tổng số sinh viên trong toàn hệ thống Điều này có nghĩa là đại bộ phận hệ thống sẽ là những trường ứng dụng thực hành

CTĐT định hướng ứng dụng được định nghĩa và giải thích tại Nghị định 73/2015/NĐ-CP quy định tiêu chuẩn phân tầng, khung xếp hạng và tiêu chuẩn xếp hạng cơ sở giáo dục đại học Theo đó, CTĐT định hướng ứng dụng là CTĐT có mục tiêu và nội dung xây dựng theo hướng phát triển kết quả nghiên cứu cơ bản, ứng dụng các công nghệ nguồn thành các giải pháp công nghệ, quy trình quản lý, thiết kế các công vụ hoàn chỉnh phục vụ nhu cầu đa dạng của con người [13]

Giáo dục đại học định hướng nghề nghiệp ứng dụng (professional

Trang 23

oriented higher education – POHE) ra đời và tồn tại song hành với các trường đại học nghiên cứu, với sứ mệnh đặc thù và những cách tiếp cận đặc thù Do đó, CTĐT theo định hướng ứng dụng nghề nghiệp phải tập trung mạnh mẽ vào việc phục vụ thị trường lao động, bao gồm cả thị trường lao động địa phương, thị trường nội địa và quốc tế CTĐT theo định hướng ứng dụng chú trọng thực hành nghề nghiệp trong hoạt động ĐT và nhấn mạnh tính chất ứng dụng trong nghiên cứu

Từ những luận giải trên, có thể hiểu khái niệm xây dựng CTĐT theo định

hướng ứng dụng là: CTĐT phản ánh cách tiếp cận tích hợp, trong đó kiến thức

lý thuyết kết hợp với thực hành và đào tạo các kỹ năng mềm, tập trung vào thực hành nghề nghiệp của sinh viên Phương pháp giảng dạy nhấn mạnh sự tương tác và hợp tác, nhấn mạnh kỹ năng làm việc theo nhóm và hoạt động độc lập, như làm đồ án, thực hiện dự án; nhờ đó sinh viên có cơ hội trải nghiệm, phát

triển sự sáng tạo và tinh thần trách nhiệm Do đó, CTĐT theo định hướng ứng

dụng có những đặc điểm sau [1]:

- Người học được coi là hoàn thành CTĐT khi chứng tỏ được đã thông thạo tất cả các năng lực quy định trong chương trình, không phụ thuộc vào thời lượng học tập;

- Người học có thể học theo năng lực và nhịp độ riêng của từng cá nhân.Vì vậy người học có thể nhập học và kết thúc quá trình học tập ở các thời điểm khác nhau;

- Bằng cấp, chứng chỉ của người học được thể hiện đầy đủ nội dung và kết quả học tập theo CTĐT cơ sở để chuyển đổi, liên thông với những chương trình

kế tiếp có liên quan hoặc ở trình độ cao hơn;

- Quá trình đào tạo chú trọng hình thành năng lực (các công việc, nhiệm

vụ chuyên môn của nghề) theo các chuẩn mực, tiêu chuẩn hành nghề đặt ra

Trang 24

Hình 1.3 Chương trình đào tạo theo định hướng ứng dụng

1.1.3 Khái niệm xây dựng CTĐT đại học

Cũng giống như khái niệm CTĐT, khái niệm xây dựng CTĐT có nhiều cách hiểu khác nhau và chưa đi đến sự thống nhất chung Chính điều này dẫn đến việc có nhiều mô hình khác nhau trong xây dựng CTĐT Khái niệm “xây dựng CTĐT” xem việc xây dựng chương trình là một quá trình chứ không phải

là một trạng thái hoặc một giai đoạn tách biệt của quá trình đào tạo [13] Do đó, việc đưa ra khái niệm xây dựng CTĐT sẽ chi phối đến quan điểm tiếp cận khi thực hiện công tác phát triển CTĐT đại học

Trong thực tế trước đây và ngay cả hiện nay, do quan niệm không đúng

về bản chất của quá trình dạy học, việc xây dựng CTĐT thường theo cách: xuất phát từ phía người dạy để chọn nội dung kiến thức, kỹ năng đưa vào CTĐT và chương trình môn học Do đó, việc tiếp nhận và lĩnh hội tri thức của người học thường mang tính áp đặt, người học chưa được đặt vào trung tâm của quá trình dạy học Mặt khác, việc xây dựng chương trình thường tách rời nội dung dạy học khỏi mục tiêu dạy học, phương pháp, phương tiện dạy học Do đó,

THẾ GIỚI NGHỀ NGHIỆP

• Quy mô và cơ cấulao động

• Giá cả sức lao động

• Cung – cầu nhân lực

• Di chuyển – luồng lao động

Trang 25

chất lượng CTĐT, chát lượng môn học không cao, người học khó tiếp cận, khó lĩnh hội kiến thức, dẫn đến việc làm giảm hiệu quả đào tạo Do đó, việc nắm vững các quy luật của quá trình dạy học, cũng như nguyên tắc dạy học và vận dụng vào việc xây dựng và phát triển CTĐT, CTMH là rất quan trọng , đảm bảo cho việc xây dựng chương trình đúng hướng và phù hợp với người học

Quá trình dạy học là một quá trình luôn vận động và phát triển không ngừng Sự vận động và phát triển đó mang tính quy luật, phản ánh các mối liên hệ tất yếu, chủ yếu và bền vững giữa các thành tố cấu trúc cơ bản của quá trình dạy học cũng như giữa quá trình dạy học và các môi trường dạy học Nhiều tác giả nghiên cứu lý luận dạy học đã khẳng định mối quan

hệ có tính quy luật trong dạy học như: (1) Tính quy định của các điều kiện kinh tế - xã hội đối với quá trình dạy học; (2) Tính thống nhất biện chứng giữa dạy học và giáo dục phát triển trí tuệ và phát triển nhân cách; (3) Tính thống nhất biện chứng giữa hoạt động dạy và hoạt động học trong một quá trình dạy học; (4) Tính quy định của mục đích dạy học đối với nội dung dạy học và phương pháp, phương tiện dạy học và các hình thức tổ chức dạy học Trong bốn quy luật trên, quy luật về tính thống nhất biện chứng giữa hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của người học là quy luật cơ bản của quá trình dạy học, đây chính là mối liên hệ tất yếu, bền vững giữa hai thành tố trung tâm đặc trưng cho tính hai mặt của quá trình dạy học Chính vì vậy, quy luật này chi phối và bao trùm các quy luật khác của quá trình dạy học

Xuất phát từ bản chất và cấu trúc của quá trình dạy học, đồng thời qua nghiên cứu các tài liệu tham khảo, tác giả nhận thấy hiện nay việc sử dụng thuật ngữ “phát triển” CTĐT thay cho từ “xây dựng”, “thiết kế” hay “biên soạn” CTĐT là rất phổ biến, vì “phát triển” bao hàm cả sự thay đổi, bổ sung liên tục Phát triển là một chu trình mà điểm kết thúc sẽ lại là điểm khởi đầu, kết quả là

một CTĐT mới và ngày càng tốt hơn nữa Do đó, xây dựng CTĐT là quá trình

liên tục làm hoàn thiện CTĐT, theo đó xây dựng CTĐT bao hàm cả việc biên soạn hay xây dựng một chương trình mới hoặc cải tiến một CTĐT hiện có.Việc

Trang 26

nắm vững các quy luật của quá trình dạy học, cũng như nguyên tắc dạy học để vận dụng vào xây dựng và phát triển CTĐT, là rất quan trọng , đảm bảo cho việc xây dựng chương trình đúng hướng và phù hợp với người học

Trong lịch sử phát triển giáo dục có nhiều cách tiếp cận khác nhau trong việc xây dựng CTĐT: cách tiếp cận nội dung, cách tiếp cận mục tiêu, cách tiếp cận phát triển và tiếp cận năng lực Các nhà trường thường có khuynh hướng đi theo một cách tiếp cận nhất định đối với CTĐT của mình, thông thường, trong một chương trình đào tạo, bên cạnh một cách tiếp cận chủ đạo, có thể nhận ra những khía cạnh của các cách tiếp cận khác

1.1.3.1 Xây dựng CTĐT theo cách tiếp cận nội dung

Ở cách tiếp cận này, giáo dục chỉ được coi là “quá trình truyền thụ kiến thức”, CTĐT chỉ là bản phác thảo nội dung đào tạo, còn giáo dục cũng chỉ là quá trình truyền thụ nội dung – kiến thức Do đó, tiếp cận nội dung là cách tiếp cận kinh điển trong xây dựng CTĐT, theo đó mục tiêu của đào tạo chính là nội dung kiến thức Hiện nay, cách tiếp cận này vẫn còn phổ biến ở Việt Nam Theo cách tiếp cận này, phương pháp giảng dạy là nhằm truyền thụ được nhiều kiến thức nhất, người học thụ động nghe theo người dạy Việc đánh giá kết quả học tập sẽ gặp phải khó khăn vì các mức độ của kiến thức không được thể hiện rõ ràng Tuy nhiên, với tốc độ phát triển của khoa học công nghệ và hội nhập toàn cầu, CTĐT được thiết kế theo tiếp cận nội dung sẽ lạc hậu vì không thể truyền thụ đủ nội dung trong một thời gian hạn chế, và nội dung cũng nhanh chóng lạc hậu, không đáp ứng được mong muốn của thịtrường lao động Đặc biệt, không khuyến khích hoặc bắt người dạy có trách nhiệm gì với người học, người học chỉ có cách học tốt nhất là học thuộc những gì giảng viên truyền thụ cho họ

1.1.3.2 Xây dựng CTĐT theo cách tiếp cận mục tiêu

Cách tiếp cận mục tiêu bắt đầu được sử dụng ở Mỹ, theo đó, CTĐT phải được xây dựng xuất phát từ mục tiêu đào tạo Dựa trên mục tiêu đào tạo người lập chương trình mới quyết định lựa chọn nội dung, phương pháp đào tạo cũng như cách đánh giá kết quả học tập Mục tiêu đào tạo ở đây được thể hiện dưới

Trang 27

dạng mục tiêu đầu ra: “những thay đổi về hành vi của người học” Cách tiếp

cận này chú trọng đến sản phẩm đào tạo và coi đào tạo là công cụ để tạo nên các sản phẩm với các tiêu chuẩn định sẵn Người ta quan tâm đến những thay đổi ở người học sau khi kết thúc khoá học về hành vi trong các lĩnh vực nhận thức, kĩ năng và thái độ Do đó, yêu cầu mục tiêu đào tạo phải được xây dựng rất rõ ràng

và có thể định lượng được để làm tiêu chí đánh giá hiệu quả của quá trình đào tạo Dựa vào mục tiêu đào tạo có thể đề ra nội dung kiến thức đào tạo, phương pháp giảng dạy cần thực hiện nhằm đạt được mục tiêu đề ra và phương pháp đánh giá thích hợp theo các mục tiêu đào tạo

Cách tiếp cận mục tiêu có thể chuẩn hoá quy trình xây dựng CTĐT cũng như quy trình đào tạo theo một công nghệ nhất định Theo đó, các bước đều được thiết kế chặt chẽ nhằm tạo ra sản phẩm với một chất lượng đồng đều theo các chỉ tiêu rõ ràng Chính vì thế đối với việc xây dựng CTĐT theo cách tiếp cận mục tiêu, các nhà nghiên cứu giáo dục cho rằng một mục tiêu cụ thể phải được cấu thành bởi ba bộ phận: điềukiện (condition) mà trong đó hành vi được thực hiện, sự thực hiện (performance) hành vi có thể quan sát, và các tiêu chuẩn (standards) về mức độ có thể đạtđược của hành vi

1.1.3.3 Xây dựng CTĐT theo cách tiếp cận phát triển

Theo cách tiếp cận này, người ta chú trọng đến phát triển sự hiểu biết ở người học hơn là truyền thụ nội dung kiến thức đã được xác định trước hay tạo nên sự thay đổi nào đó về hành vi ở người học Với quan điểm giáo dục là một quá trình, mức độ làm chủ bản thân tiềm ẩn ở mỗi người được phát triển một cách tối đa Whitehead (1932) cũng đã từng nói giáo dục là nghệ thuật sử dụng kiến thức hơn là nắm được các “ý tưởng trơ trọi”.Con người không thể học tất cả những gì cần trong cuộc đời chỉ qua quá trình đào tạo ở nhà trường Vì vậy, CTĐT phải được xây dựng như những sản phẩm có thể đương đầu với những đòi hỏi của các nghề nghiệp không ngừng thay đổi trong xã hội Do đó CTĐT phải là một quá trình cần phải thực hiện sao cho cóthể giúp người học phát triển tối đa các tố chất sẵn có nhằm đáp ứng đượcmục đích đào tạo Như

Trang 28

vậy, sản phẩm của quá trình đào tạo phải đadạng chứ không gò bó theo một khuôn mẫu đã định sẵn Cách tiếp cận này chú trọng đến lợi ích, nhu cầu của từng cá nhân người học, chú trọngđến những giá trị mà chương trình đem lại cho từng người học CTĐT theo cách tiếp cận phát triển xem cá nhân người học như một thực thể chủ động, độc lập suy nghĩ Quá trình đào tạo sẽ giúp người học phát triển được tính tự chủ, khả năng sáng tạo trong giải quyết vấn đề

1.1.3.4 Xây dựng CTĐT theo cách tiếp cận năng lực

Năng lực là sự kết hợp chặt chẽ giữa kiến thức- kỹ năng- thái độ để thực hiện công việc cụ thể và được thể hiện qua thực tế nghề nghiệp CTĐT theo hướng tiếp cận năng lực giúp người học đạt được các năng lực cần thiết để thực hiện công việc chuyên môn trong thực tế Theo cách tiếp cận này, đòi hỏi phải xây dựng được hồ sơ năng lực- đây là điểm xuất phát để xây dựng CTĐT nhằm đảm bảo toàn bộ quá trình đào tạo gắn kết chặt chẽ với mục tiêu hình thành năng lực thực hiện cho người học Có 2 “lớp” của năng lực: năng lực “thẩm quyền” (competency) và năng lực “chuyên biệt” (competence) Như vậy có thể hiểu rằng, “lí do tồn tại” của một môn học cụ thể cần đáp ứng theo chuẩn, hướng đến việc hình thành năng lực “chuyên biệt”, cùng phối hợp với các môn học khác để hình thành năng lực “thẩm quyền” cho người học mà ngành nghề đó yêu cầu

Dự án Điều chỉnh cấu trúc giáo dục tại Châu Âu (TUNING Education Structure

in Europe) đã đề xuất phân loại các năng lực cần hình thành ở người học trong thế kỉ XXI theo 2 nhóm lớn bao gồm:

- Nhóm năng lực chung (generic) gồm 29 năng lực được chia thành 3

loại: năng lực công cụ (nhận thức, phương pháp luận, kĩ thuật và ngôn ngữ); năng lực liên nhân cách (cá nhân và xã hội) và năng lực hệ thống (phối kết hợp các yếu tố thành một hệ thống chỉnh thể)

- Nhóm các năng lực chuyên biệt (specific) cho các ngành (ví dụ: có 15

năng lực chuyện biệt cho giáo viên các môn KHTN)

1.1.4 Xây dựng CTĐT theo định hướng ứng dụng

CTĐT theo định hướng ứng dụng POHE (Profession Oriented Higher

Trang 29

Education) được phát triển dựa trên việc khảo sát thị trường lao động, đánh giá nhu cầu ĐT, thiết lập hồ sơ nghề nghiệp và hồ sơ năng lực của người lao động CTĐT POHE có sự tham gia của các bên liên quan, trong đó có các hiệp hội nghề nghiệp, đại diện doanh nghiệp và cựu SV Do đó, ưu điểm nổi bật của CTĐT này là tỉ lệ SV tìm được việc làm ngay sau khi tốt nghiệp cao; cộng đồng doanh nghiệp có thể sử dụng ngay NNL này mà không cần phải ĐT thêm hoặc

ĐT lại,từ đó tiết kiệm được nguồn lực cho xã hội Chương trình POHE phản ánh cách tiếp cận tích hợp, trong đó kiến thức lý thuyết kết hợp với thực hành và ĐT các kỹ năng mềm, tập trung vào thực hành nghề nghiệp cho SV [1] Với hệ thống các môn học được xác định một cách khoa học, có kế thừa và phát triển là quá trình sư phạm chuyển đổi hồ sơ năng lực thành các hoạt động sư phạm chứa đựng các hoạt động dạy và học trợ giúp SV đạt được các mục tiêu học tập dự kiến Bên cạnh việc đánh giá kiến thức lý thuyết truyền thống, đánh giá SV còn

có cả các hợp phần thực hành liên quan đến bên sử dụng lao động Đó là đánh giá khả năng của SV trong thực hành nghề nghiệp và các kỹ năng của họ trong việc sử dụng các thiết bị và làm việc trong môitrường doanh nghiệp Nguyên lý

cơ bản của CTĐT định hướng POHE là chú trọng ĐT cho người học đồng thời trên ba khía cạnh: (1) cung cấp kiến thức; (2) phát triển năng lực, kỹ năng nghề nghiệp; (3) rèn luyện thái độ đối với ngànhnghề mình theo học Theo Khoản 5 của Nghị định 73/2015/NĐ-CP xây dựng CTĐT định hướng ứng dụng cần hướng đến mục tiêu phát triển kết quả nghiên cứu cơ bản, ứng dụng các công nghệ nguồn thành các giải pháp công nghệ, quy trình quản lý, thiết kế các công

cụ hoàn chỉnh phục vụ nhu cầu đa dạngcủa con người[13]

1.2 Đặc trưng cơ bản của CTĐT theo định hướng ứng dụng

1.2.1 Gắn kết CTĐT với thị trường lao động

Một trong những ưu điểm nổi bật của các chương trình ĐT theo định hướng ứng dụng là tạo được các quan hệ với thị trường lao động mà đại diện là các công ty, cơ quan, viện nghiên cứu, doanh nghiệp (các nhà tuyển dụng) Các quan hệ này được củng cố và mở rộng thông qua các Hội đồng công giới (có đại

Trang 30

diện của các nhà tuyển dụng) [1] Theo đó, các nhà tuyển dụng đóng vai trò là người hướng dẫn cũng như phản hồi về kết quả của SV trong quá trình đi thực

tế, thực tập

Các nhà tuyển dụng cũng được mời đến các trường như các diễn giả, thỉnh giảng, trao đổi, nói chuyện, giảng bài với mục đích giúp SV có thêm kiến thức thực tế và rèn luyện kỹ năng mềm Ngoài ra, việc tạo dựng mối quan hệ với thị trường lao động cũng giúp các nhà tuyển dụng hiểu thêm trách nhiệm xã hội của mình đối với giáo dục, đặc biệt trong việc đào tạo nguồnnhân lực cho chính doanh nghiệp mình Thông qua làm việc với các đề án của SV, tiếp xúc và hỗtrợ, hướng dẫn SV trong các kỳ thực tập, thực tế, thực hành, các nhà tuyển dụng cũng hiểu thêm cách vận hành của trường ĐH và nhận thức được cần hỗ trợ nhà trường những vấn đề gì Cụ thể là những hoạt động giúp SV có kiến thức

và kỹ năng thực tế và giúp nhà tuyển dụng tiết kiệm chi phí đào tạo lại Việc trường ĐH kết nối chặt chẽ với thị trường lao động có tác động cải cách rất nhiều đến mô hình đào tạo truyền thống Nếu như việc học tập ĐH trước đây gắn chặt với giảng đường, lớp học, thì CTĐT theo định hướng ứng dụng cho thấy việc học tập phải gắn kết hơn với thực tế, với thế giới lao động nhằm làm thay đổi mô hình trường ĐH ở Việt Nam hiện nay

1.2.2 Giảm thời lượng lý thuyết, tăng thực hành

CTĐT theo định hướng ứng dụng có rất nhiều thay đổi quan trọng so với các CTĐT truyền thống: bỏ đi các môn không quan trọng, thiết kế lại nội dung, thêm vào các môn học và các kỹ năng cần thiết Bên cạnh đó, trong quá trình triển khai, các Khoa đã thiết kế dành thời gian nhiều hơn các môn thực hành, thực tập và đi thực tế Các môn học được thiết kế theo mức độ năng lực và thành tích học tập của SV CTĐT mới đòi hỏi các GV phải thay đổi cách dạy theo hướng tích cực hơn và tập trung hơn vào người học Các học phần/mô-đun có liên quan đến các kiến thức thực tế thông qua các chuyến đi thực tập, thực hành được thiết kế hợp lý và được đánh giá kết hợp với phản hồi của các nhà tuyển dụng Ngoài ra, trong từng học phần đều có các mục tiêu đào tạo cũng như

Trang 31

chuẩn đầu ra của từng mục tiêu, giúp cho GV và SV có thể tập trung hơn vào việc đánh giá kết quả học tập Điều này cũng giúp cho SV học có trọng tâm hơn, động cơ học tập tốt hơn Cụ thể:

+ CTĐT tích hợp các môn khoa học cơ bản do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, nhưng các môn này không vượt quá 25% CTĐT; các môn chuyên ngành trung bình chiếm 50% chương trình đào tạo, bao gồm cả việc bồi dưỡng các kĩ năng mềm như giao tiếp, kĩ năng hoạt động xã hội

+CTĐT có trung bình từ 25 - 40% số giờ thực hành, bao gồm cả các hoạt động thí nghiệm, thựa địa, thực tập và khóa luận tốt nghiệp;

1.2.3 Hình thành các năng lực, kỹ năng nghề nghiệp

Chương trình ĐT theo định hướng ứng dụng (khung chương trình) có cấu trúc mô-đun Mỗi mô-đun cung cấp một khối kiến thức và các kỹ năng đóng góp vào việc hình thành các năng lực ở một mức độ nhất định cho SV Các mô-đun cung cấp cùng một năng lực được sắp xếp theo thứ tự từ thấp đến cao: Mô-đun phát triển năng lực ở mức thấp hơn giảng dạy trước, mô-đun phát triển năng lực

ở mức độ cao hơn giảng dạy sau.Để đạt được một mức năng lực nhất định, sinh viên phải học các mô-đun hỗ trợ, các mô-đun tiên quyết, mô-đun cơ bản, mô-đun và một phần mô-đun trực tiếp liên quanđến chuyên môn trước khi tham gia

dự án tổng hợp (dự án sinh viên) hay đi thực tậpnghề nghiệp Các dự án và chương trình thực tập được liên kết để thực hành khốilượng năng lực tương ứng với nhiệm vụ trong các tình huống nghề nghiệp khác nhau Do đó, các dự án và thực tập nghề nghiệp là xương sống của chương trình Hơn nữa, bên cạnh các kiến thức chuyên môn được giảng dạy như các chương trình truyền thống, SV cho thấy các khả năng vượt trội như kiến thức thực tế, kỹnăng thực tập và ứng dụng, các kỹ năng mềm như giao tiếp, làm việc nhóm, tư duy độc lập, sáng tạo, nhạy bén và biết nắm bắt cơ hội, có thái độ tích cực, năng động và tự tin hơn

1.2.4 Hợp tác, trao đổi với các đơn vị sử dụng người học

Bởi CTĐT theo định hướng ứng dụng đã được xây dựng gắn kết với thị trường lao động, do đó cần có sự hợp tác, trao đổi nhuần nhuyễn giữa nhà

Trang 32

trường và các đơn vị sử dụng người học Cụ thể như sau:

+ Đối với cơ sở đào tạo: Cung cấp thông tin về hồ sơ năng lực của SV cho các nhà tuyển dụng Trưng cầu ý kiến đóng góp phản hồi của các bên Hàng năm

tổ chức các buổi tọa đàm, các buổi giao lưu giữa các nhà tuyển dụng và SV nhằm đưa SV đến gần hơn với nhu cầu và mong đợi của các nhà tuyển dụng Đặc biệt, xây dựng CTĐT dựa trên khung năng lực nghề nghiệp thông qua quá trình tham vấn với thị trường lao động và tuân thủ các tiêu chuẩn quốc gia cũng như tham khảo các tiêu chuẩn quốc tế cũng là một trong những biện pháp hữu hiệu trong trao đổi, hợp tác giữa nhà trường với các bên liên quan

+ Các đơn vị sử dụng lao động: Cùng với nhà trường định hướng nghề nghiệp cho SV; Cung cấp các thông tin liên quan đến nhu cầu tuyển dụng; Tham gia hợp tác giảng dạy thực hành, các kỹ năng mềm cho SV; Chia sẻ những ưu điểm và hạn chế tồn tại nhằm giúp SV hoàn thiện hơn về bản thân; Phối hợp cùng nhà trường xây dựng kế hoạch thực tập, đào tạo và tuyển dụng

1.2.5 Đánh giá kết quả học tập dựa vào năng lực

CTĐT được xây dựng tích hợp giữa kiến thức lý thuyết với kiến thức thực

tế và các kĩ năng xã hội cần thiết Các hoạt động chủ yếu trong chương trình là: các bài tập thực hành, thiết kế “dự án”, kĩ thuật thí nghiệm, thực tập/bố trí công việc Do đó, đánh giá SV sẽ được căn cứ theo các phần thực hành liên quan đến thị trường lao động như: kết quả thực hành nghề nghiệp và các kỹ năng sử dụng các trang thiết bị đặc biệt của SV như các kĩ năng thực nghiệm, hoạt động trong

mô hình thực tiễn,…được thực hiện cùng với đánh giá phần kiến thức lý thuyết

cơ bản

1.3 Vai trò của CTĐT theo định hướng ứng dụng

1.3.1 SV tốt nghiệp có kiến thức, thái độ, kỹ năng phù hợp với từng nhóm nghề nghiệp cụ thể

Với mục tiêu đào tạo SV sau khi tốt nghiệp, có khả năng làm được việc ngay trong môi trường làm việc chuyên nghiệp, dẫn đến CTĐT theo định hướng ứng dụng gồm nhiều kiểu mô-đun được phân loại theo ý nghĩa mục tiêu mà

Trang 33

chúng đóng góp cho sự phát triển năng lực của SV Thời lượng học tập của một mô-đun xác định khoảng thời gian mà một SV trung bình cần phải trải qua để đạt được một mức độ kiến thức và kỹ năng theo yêu cầu Theo thời gian, các mô-đun sẽ tăng dần về tính phức tạp, cấp độ năng lực và tính thực tiễn SV sẽ được trải nghiệm các vai trò khác nhau trong hoạt động nghề nghiệp, giải quyết các công việc đơn giản có tính chất thao tác đến những công việc phức tạp đòi hỏi có tư duy chiến lược Chính vì vậy, sau khi tốt nghiệp SV sẽ tích lũy được đầy đủ các kiến thức cơ sở và thực tế, những kỹ năng mềm trong xử lý tình huống trong công việc, đặc biệt thích nghi ngay với môi trường làm việc

1.3.2 Người học ra trường thích ứng với yêu cầu cầu công việc

Sự thích ứng với yêu cầu công việc của SV sau khi tốt nghiệp thể hiện ở việc cá nhân đó hiểu và thâm nhập vào môi trường làm việc của như thế nào, từ

đó lĩnh hội được những yêu cầu, đòi hỏi về kiến thức, kỹ năng, đạo đức nghề, để

có hành vi cách thức ứng xử phù hợp với những yêu cầu, đòi hỏi đó Mỗi ngành,

nghề trong xã hội có những yêu cầu về kiến thức, kỹ năng của nghề và thái độ của người lao động với nghề, với công việc đang thực hiện Hiệu quả, năng suất của công việc là thước đo đánh giá sự thuần thục về kiến thức, kỹ năng và thái

độ đạo đức chuyên nghiệp Chính vì vậy, CTĐT theo định hướng ứng dụng sẽ giúp cho SV có hệ thống kiến thức chuyên sâu, tiên tiến và toàn diện thuộc lĩnh vực khoa học chuyên ngành; có tư duy nghiên cứu độc lập, sáng tạo… Đặc biệt, đáp ứng một trong những yêu cầu của nghề là mức độ thích ứng về kiến thức nghề và sự thích ứng nghề của SV

1.3.3 Không mất thời gian, kinh phí đào tạo lại

Từ luận giải về hai vai trò kể trên của CTĐT theo định hướng ứng dụng,

có thể thấy SV sau khi tốt nghiệp đã hầu như thích ứng được ngay với nghề nghiệp, hơn nữa thời gian thực tập tại các cơ sở cũng là những trải nghiệm quý báu cho SV về những kiến thức thực tiễn và những khó khăn trong công việc sắp tới để SV có những biện pháp nhằm thích ứng ngay với công việc Dẫn đến SV tốt nghiệp của các CTĐT này khi nhận công việc thì có thể đáp ứng được ngay với tiến độ làm việc của cơ sở, các cơ sở đó sẽ không mất thời gian, công sức

Trang 34

trong việc đào tạo lại, góp phần làm tăng năng suất hiệu quả trong công việc

1.4 Cơ sở thực tiễn và các nhân tố thúc đẩy xây dựng CTĐT theo định hướng ứng dụng

1.4.1 Cơ sở thực tiễn xây dựng CTĐT theo định hướng ứng dụng

Nhận định những hạn chế đang tồn tại và những thách thức đặt ra cho ngành Giáo dục Việt Nam, đồng thời đáp ứng với thị trường nguồn nhân lực trong xu thế hội nhập toàn cầu, Đảng và Chính phủ Việt Nam đã ban hành rất nhiều chủ trương, chính sách nhằm khuyến khích các trường ĐH của Việt Nam đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập, làm căn cứ để các trường ĐH của Việt Nam xây dựng CTĐT theo định hướng ứng dụng, cụ thể như sau:

- Nghị quyết số 14/2005/NQ - CP ngày 02-11-2005 của Chính phủ về Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020 đã xác định rõ mục tiêu chung của giáo dục ĐH nước ta là: “Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục ĐH, tạo được chuyển biến cơ bản về chất lượng, hiệu quả và quy mô, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế và nhu cầu học tập của nhân dân Đến năm 2020, giáo dục ĐH Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực và tiếp cận trình độ tiên tiến trên thế giới; có năng lực cạnh tranh cao, thích ứng với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” Nghị quyết cũng đưa ra mục tiêu cụ thể:

“…khoảng 70 - 80% tổng số SV theo học các chương trình nghề nghiệp - ứng dụng”, đồng thời xác định rõ một trong những giải pháp trọng tâm để thực hiện các mục tiêu trên là “đổi mới nội dung phương pháp và quy trình đào tạo”

- Chính phủ ban hành Nghị định số 73/2015/NĐ-CP, ngày 08/ 9/ 2015, quy định tiêu chuẩn phân tầng, khung xếp hạng và tiêu chuẩn xếp hạng cơ sở giáo dục ĐH, trong đó giải thích rõ về CTĐT định hướng ứng dụng “là CTĐT

có mục tiêu và nội dung xây dựng theo hướng phát triển kết quả nghiên cứu cơ bản, ứng dụng các công nghệ nguồn thành các giải pháp công nghệ, quy trình quản lý, thiết kế các công cụ hoàn chỉnh, phục vụ nhu cầu đa dạng của con người” Theo đó, quy mô, ngành nghề và các trình độ đào tạo của cơ sở giáo dục

Trang 35

đại học định hướng ứng dụng phải đảm bảo 3 tiêu chuẩn: quy mô đào tạo của các CTĐT định hướng ứng dụng trình độ đại học, thạc sĩ chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng quy mô đào tạo tại cơ sở giáo dục đại học; ngành nghề ĐT đa dạng, linh hoạt theo yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước và hội nhập quốc tế;

ĐT chủ yếu trình độ ĐH và trình độ thạc sĩ ứng dụng; một số ít chuyên ngành đào tạo thạc sĩ nghiên cứu và trình độ tiến sĩ

- Chương trình giáo dục ĐH theo định hướng nghề nghiệp ứng dụng (Profession Oriented Higher Education - POHE) thuộc Dự án Giáo dục Đại học Việt Nam - Hà Lan, được bắt đầu vào đầu năm 2005, nhằm hỗ trợ cho các trường đại học ở Việt Nam xây dựng CTĐT gắn liền với nhu cầu thực tiễn, môi trường thực tiễn Từ thành quả của dự án POHE, ĐT theo định hướng nghề nghiệp ứng dụng trở thành xu thế phát triển chính trong đào tạo đại học tại Việt Nam, có thể nhận diện những yêu cầu của CTĐT định hướng ứng dụng như: (1)

sứ mệnh của nhà trường là tập trung vào thực hành nghề nghiệp trong cả nhiệm

vụ đào tạo và nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, nhằm phục vụ cho thị trường lao động trong nước và quốc tế; (2) mục tiêu của các CTĐT là SV sau khi tốt nghiệp

có thể làm việc được ngay trong môi trường chuyên nghiệp; (3) nội dung các CTĐT được thiết kế dựa trên việc tham khảo chuẩn quốc gia và quốc tế, thể hiện cách tiếp cận tích hợp, trong đó, kiến thức lý thuyết kết hợp với thực hành và đào tạo các kỹ năng mềm, tập trung vào thực hành nghề nghiệp của SV; (4) tổ chức và quản lý CTĐT theo mục tiêu học tập của SV, đáp ứng yêu cầu của một nghề nghiệp cụ thể; sự tham gia của các nhà tuyển dụng gồm cố vấn, tư vấn vào thực hiện CTĐT qua hình thức thỉnh giảng, tiếp nhận và hướng dẫn thực tập, hướng dẫn nghiệp vụ, hướng dẫn đồ án tốt nghiệp; (5) đội ngũ GV thực hiện CTĐT ứng dụng cần phải có kinh nghiệm thực hành nghề nghiệp, cập nhật thực tiễn về nghề nghiệp, có khả năng dẫn dắt, ứng dụng tri thức và chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực thuộc ngành đào tạo, thực hiện các phương thức dạy học tích cực, kích thích được tính chủ động học tập của sinh viên và các phương thức đánh giá lý thuyết và thực hành tích hợp; (6) cơ sở vật chất phục vụ cho

Trang 36

CTĐT ứng dụng cần mô phỏng được thực tiễn nghề nghiệp, bao gồm các trang thiết bị đặc thù, các phòng thực hành, phòng máy tính, phòng thí nghiệm ; (7) hoạt động nghiên cứu khoa học tại trường cần tập trung vào nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao công nghệ và cải thiện khả năng nghề nghiệp thông qua mô hình: nghiên cứu - đào tạo - ứng dụng - chuyển giao

- Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành TW (khóa IX) chỉ rõ “Tăng cường giáo dục hướng nghiệp, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực của đất nước và các địa phương, vùng, miền”; Chỉ thị của Ban Bí thư số 37 - CT/TW ngày 06/6/2014 của Ban chấp hành Trung ương về "tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đào tạo nhân lực có tay nghề cao" đã nêu 6 nhiêm vụ cần thực hiện bao gồm: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về đào tạo nhân lực có tay nghề cao; Tăng cường công tác quản lý nhà nước về đào tạo nhân lực có tay nghề cao; Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ chương trình, nội dung đào tạo nhân lực có tay nghề cao; Tăng cường xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý đào tạo nhân lực có tay nghề cao; Đổi mới, hoàn thiện cơ chế, chính sách, đa dạng hóa nguồn lực đào tạo nhân lực có tay nghề cao; Chủ động hợp tác, hội nhập quốc tế;

- Nghị quyết số 29 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đã định hướng: Đối với giáo dục nghề nghiệp, tập trung đào tạo nhân lực có kiến thức, kỹ năng và trách nhiệm nghề nghiệp; đối với giáo dục đại học, tập trung đào tạo nhân lực trình độ cao Các bộ, ngành, địa phương xây dựng quy hoạch dài hạn phát triển nguồn nhân lực, dự báo nhu cầu về số lượng, chất lượng nhân lực, cơ cấu ngành nghề, trình độ Trên cơ sở đó,đặt hàng và phối hợp với các cơ sở giáo dục, đào tạo tổ chức thực hiện

1.4.2 Nhân tố thúc đẩy xây dựng CTĐT theo định hướng ứng dụng 1.4.2.1 Nhân tố khách quan

- Sự chênh lệch giữa năng lực của cử nhân đại học với yêu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao của thị trường lao động hiện nay

Một nghịch lý tồn tại trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay là nhu cầu

Trang 37

nguồn nhân lực chất lượng cao rất thiếu nhưng tỷ lệ thất nghiệp của những người đã qua đào tạo nghề nghiệp, đặc biệt của những người có trình độ ĐH trở lên luôn tăng mạnh và cao hơn so với với mặt bằng chung [18] Nguyên nhân lớn nhất dẫn tới tình trạng này nằm ở sự khập khiễng trong quan hệ cung cầu: chất lượng đào tạo không đáp ứng nhu cầu của nhà tuyển dụng Các trường ĐH

ở Việt Nam coi chất lượng đầu ra như một chỉ số quan trọng và cần thiết phải công bố cho xã hội Ngược lại, doanh nghiệp lại cho rằng: công tác đào tạo không thuộc về trách nhiệm của doanh nghiệp, mà đó là trách nhiệm của nhà nước và các cơ sở đào tạo [10] Doanh nghiệp dù chấp nhận SV tới thực tập nhưng lại không mặn mà trong việc đào tạo, dẫn dắt thực tập sinh học hỏi kiến thức và kỹ năng theo yêu cầu của doanh nghiệp Những công việc SV thực tập thường được giao là những công việc thô sơ, đơn giản như photocopy, đánh máy, đưa tin, thậm chí là pha trà hoặc chỉ đọc các báo cáo cũ, rất ít SV được giao công việc thực tập đúng với chuyên môn đào tạo Đây chính là lý do mà đa phần cử nhân đều cho rằng các hoạt động của họ trong các đợt kiến tập, thực tập ở các doanh nghiệp không giúp gì nhiều cho việc định hình những hiểu biết cũng như những kinh nghiệm làm việc thực tế họ cần khi muốn tham gia thị trường lao động sau khi ra trường [19] Dẫn đến tình trạng số lượng cử nhân tốt nghiệp rất lớn nhưng không đáp ứng được nhu cầu của các nhà tuyển dụng, dẫn đến SV không tìm được việc hoặc đi làm những công việc trái ngành nghề được đào tạo Không đáp ứng được nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao cho thị trường lao động

- Nền kinh tế hội nhập và toàn cầu hóa

Toàn cầu hóa đang là xu thế khách quan, ảnh hưởng đến mọi nền kinh tế trên thế giới, nhất là đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Trong bối cảnh đó, chất lượng nguồn nhân lực được nâng lên là tiền đề thành công của các nước công nghiệp mới ở châu Á như Hàn Quốc, Xingapo Việt Nam cũng đã xác định được điều này và đang nỗ lực coi đẩy mạnh cải cách giáo dục, trong đó tập trung vào đào tạo ứng dụng thực hành là vị trí then chốt trong

Trang 38

chiến lược phát triển nguồn nhân lực của quốc gia Tác động rõ rệt nhất của cách mạng 4.0 là sự xuất hiện của robot có trí tuệ nhân tạo, với những tính năng có thể thay thế con người, thậm chí còn tối ưu hơn như khả năng tính toán, phân tích, ghi nhớ, cùng sức lao động bền bỉ, năng suất cao Như vậy, trong một thị trường việc làm vốn đã rất gay gắt bởi những cuộc cạnh tranh giữa người với người, bây giờcòn phải cạnh tranh thêm với robot Nhưng đồng thời, nhu cầu về nguồn lao động có tay nghề cao, tư duy sáng tạo, thực hiện những công việc phức tạp, làm chủ máy móc lại tăng lên [8] Do đó đòi hỏi CTĐT của các trường đại học bắt buộc phải đổi mới, phải cập nhật kiến thức và có sự giao thoa chặt chẽ giữa trường học và nhà tuyển dụng, giữa lý thuyết và thực hành nhằm nâng cao chất lượng đào tạo

1.4.2 2 Nhân tố chủ quan

- Về cơ chế quản lý

Trước những nhân tố khách quan và thực trạng đào tạo trong suốt thời gian dài qua, đồng thời nhận thức được tầm quan trọng của chất lượng đào tạo, Đảng và Nhà nước cũng như các doanh nghiệp và các trường đại học đang dần chuyển mình cải cách bằng những hành động cụ thể sau:

+ Đã có sự gắn kết giữa các chính quyền địa phương với các doanh nghiệp thông qua các chính sách khuyến khích phát triển kinh tế, giáo dục tốt hơn như ở TP Đà Nẵng đã xây dựng vườn ươm công nghệ để hỗ trợ kết nối những người khởi nghiệp trẻ và các doanh nghiệp [18]

+ Hiện nay đã có những doanh nghiệp nhận thấy việc chủ động tiếp cận nguồn nhân lực có kỹ năng từ các trường ĐH là cần thiết và đã có những nỗ lực nhất định để phối kết hợp với các trường ĐH trong việc đào tạo nguồn nhân lực tương lai cho mình

+ Các trường ĐH ở Việt Nam dần tiến tới cơ chế tự chủ, việc chủ động tìm hướng phát triển và nâng cao chất lượng ĐT là một trong những yếu tố buộc các trường ĐH phải thay đổi lại tư duy cũng như CTĐT Do đó, nghiên cứu, học hỏi, trao đổi giữa các trường với nhau, giữa doanh nghiệp và nhà trường ngày

Trang 39

càng khăng khít nhằm cải cách và phát triển CTĐT, đưa chất lượng đào tạo sát với thực tế nhu cầu lao động, góp phần giảm chi phí thời gian và tiền của cho tất

cả các bên

- Về phương pháp giảng dạy

Hội thảo khoa học Xây dựng tiêu chuẩn chất lượng cho các trường Sư phạm Việt Nam vào năm 2007 đã chỉ ra những hạn chế đang còn tồn tại trong phương pháp giảng dạy hiện nay, một trong những nguyên nhân dẫn đến chất lượng đào tạo chưa đạt kết quả cao: (1) chương trình nặng lí thuyết, nhẹ thực hành; chương trình đóng kín; một số nội dung lạc hậu hoặc chưa gắn kết với thực tiễn, dẫn đến khó đánh giá, chưa có sự liên thông ngang và dọc khiến cho phương pháp giảng dạy của các giảng viên cũng từ đó mà đơn điệu, đọc chép và không kích thích được sự say mê nghiên cứu trau dồi thêm kiến thức thực tiễn

và kiến thức chuyên ngành [9], Do đó, việc đổi mới phương pháp giảng dạy cũng là một trong nhân tố chủ quan cần phải cải cách sâu rộng và triệt để Muốn vậy thì CTĐT phải thay đổi trước tiên theo hướng tích hợp các môn học ở lớp dưới, phân hoá mạnhlớp trên; Tạo cơ hội lựa chọn nội dung học tập nhiều hơn; Biến quá trình dạy họcthành quá trình tự học có hướng dẫn; Tăng cường hoạt động xã hội của SV; Phối hợp giữa đào tạo lý thuyết và thực hành, khắc phục tình trạng giảng dạy: “nặng lí thuyết, nhẹ thực hành” như hiện nay

- Về đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên

Một trong những nguyên nhân dẫn đến hiệu quả chất lượng ĐT thấp là do

về phía chất lượng nguồn nhân lực quản lý và giảng viên [9]:

+ Về quản lí: 90% cho rằng tập trung quá nhiều vào quản lí hành chính, ít quan tâm đến quản lí chất lượng; 74,6% cho rằng đội ngũ cán bộ quản lí thiếu chuyên nghiệp.59,3% cho rằng đầu tư về nhân lực và tài chính cho phát triển chương trình hạn chế 51,3% cho rằng chuẩn đầu ra chưa là tiêu chí quyết định cho SV ra trường

+ Về chuyên môn của giảng viên: 89,3% cho rằng CTĐT giáo viên còn lạchậu, chậm đổi mới; 81,3% cho rằng đội ngũ giảng viên trường ĐH còn hạn

Trang 40

chế về năng lực chuyên môn; 81,3% cho rằng cách đánh giá SV ra trường còn hạn chế; 70% cho rằng điều kiện phục vụ quá trình đào tạo còn hạn chế

+ Về sử dụng giảng viên: 44,6% cho rằng chính sách sử dụng chưa hợp lí; 52% cho rằng nội dung và phương pháp bồi dưỡng SV chưa hợp lí

Vì vậy, đồng hành với đổi mới CTĐT, đổi mới phương pháp giảng dạy, không thể thiếu được đội ngũ làm nên thành công của quá trình đào tạo- giảng viên Cho nên việc chuẩn hóa đội ngũ theo hướng thiết thực với thực tiễn, yêu cầu cao hơn về kinh nghiệm thực tiễn và nghiên cứu khoa học nhằm đáp ứng với CTĐT theo định hướng ứng dụng là việc cần làm

1.5 Quy trình xây dựng CTĐT theo định hướng ứng dụng (POHE)

CTĐT theo định hướng ứng dụng với mục đích đào tạo tích hợp kiến thức

lý thuyết kết hợp với thực hành và đào tạo các kỹ năng mềm, tập trung vào thực hành nghề nghiệp của SV nhằm kết nối chặt chẽ với thế giới việc làm, đáp ứng nhu cầu cho thị trường lao động chất lượng cao [15]

Ngày đăng: 27/08/2021, 19:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w