Để xác định được nhiệt độ cần chế tạo các bộ cảm biến dựa trên nhiều nguyên lý vềcảm biến khác nhau như: nhiệt điện trở, nhiệt ngẫu, phương pháp quang dựa trên phân bốphổ bức xạ nhiệt và
Trang 1Chương IX ĐO CÁC ĐẠI LƯỢNG VẬT LÝ KHÁC
Đọc ở nhà và trả lời các câu hỏi sau:
9.1 - Đo nhiệt độ:
9.1.1 - Khái niệm chung
Trong tất cả các đại lượng vật lý, nhiệt độ được quan tâm nhiều nhất vì nhiệt độ đóngmột vai trò quyết định đến nhiều tính chất của vật chất Đo nhiệt độ là một nhiệm vụthường gặp trong các ngành nhiệt, hóa và nhất là ngành luyện kim
Đa số các đại lượng vật lý đều có thể xác định trực tiếp nhờ so sánh chúng với một đạilượng có cùng bản chất Đo được chính xác trí số của nhiệt độ là tương đối khó khăn vìnhiệt độ là đại lượng chỉ có thể đo gián tiếp trên cơ sở tính chất của vật phụ thuộc vàonhiệt độ
Tùy theo nhiệt độ đo mà có thể dùng các phương pháp khác nhau Thông thường nhiệt
độ đo được chia thành 3 dải: nhiệt độ thấp, nhiệt độ trung bình và nhiệt độ cao
Ở mức nhiệt độ trung bình và thấp thường phương pháp đo là đo tiếp xúc nghĩa là cácchuuyển đổi được đặt trực tiếp tại môi trường cần đo Còn ứng với nhiệt độ cao được đobằng phương pháp không tiếp xúc, dụng cụ đặt ở ngoài môi trường đo
NhiÖt kÕ nhiÖt ®iÖn
+) B»ng vËt liÖu quý +) VËt liÖu kh«ng quý +) VËt liÖu khã ch¶y
-273 0 1000 2000 3000 100.000 (%)
0,001 0,5 - 2 1- 2
0,1
1 - 2
1 - 3 0,05 0,1
Trang 2Để xác định được nhiệt độ cần chế tạo các bộ cảm biến dựa trên nhiều nguyên lý vềcảm biến khác nhau như: nhiệt điện trở, nhiệt ngẫu, phương pháp quang dựa trên phân bốphổ bức xạ nhiệt và do dao động nhiệt, phương pháp dựa trên sự giãn nở của vật rắn, chấtlỏng, khí hoặc dựa trên tốc độ âm
9.1.2 - Đo nhiệt độ dựa trên sự giãn nở
- Nguyên lý hoạt động của loại nhiệt kế này là dựa trên sự dãn nở trên một đơn vị dài
l/l của vật liệu khi có sự thay đổi nhiệt độ là T:
T l l T
trong đó - hệ số nở dài phụ thuộc vào vật liệu
Do thường có giá trị rất nhỏ nên nếu đo trực tiếp l để suy ra T thì sẽ rất khó khăn.
Do vậy thực tế người ta thường sử dụng sự giãn nở của 2 vật liệu riêng biệt khác nhau đểxác định T
1 2).
(2
V
V
t t
3 0 0 0 0
0 0 0 0 3 2 1 0
4 5 0 0
1 2
3 4
Hình 9.1
Nhận thấy rằng càng lớn thì sự biến thiên thể tích tương ứng với sự thay đổi nhiệt độ
đi 10C càng lớn Vì vậy trong các loại nhiệt kế chất lỏng ta sử dụng những chất lỏng có hệ
số giãn nở thể tích vì nhiệt càng lớn càng tốt
Trang 3Nhiệt kế chất lỏng phổ biến và hay gặp nhất là nhiệt kế thủy ngân, có cấu tạo gồm mộtbình đựng chất lỏng (Hg) được nối với ống mao dẫn và một bình dự phòng Các bình nàyđược làm băng thủy tinh chịu nhiệt hoặc thạch anh và tất cả được gắn với cột khắc vạch.Chất lỏng được đổ đầy bình 1 và một phần của ống mao dẫn, không gian còn lại đượcchứa khí trơ hoặc chân không để đề phòng nhiệt kế bị phá hủy khi làm việc ở nhiệt độ cao.Nhiệt độ được xác định theo chiều cao cột chất lỏng chứa trong ống mao dẫn.
* Ưu điểm: có cấu tạo đơn giản, rẻ tiền, dễ sử dụng, độ chính xác cao
* Nhược điểm: giá trị phụ thuộc vào việc đọc giá trị, không có khả năng tự ghi và truyền tín hiệu đi xa, dụng cụ dễ vỡ
* Cấu tạo: áp kế gồm có bầu A, ống dẫn B và bộ phận đo áp suất C Chất làm việc có
thể là dạng khí, lỏng hoặc hơi qua đó nó có tên gọi là nhiệt áp kế khí, lỏng, hơi Dụng cụnày có thể ở dạng chỉ thị hoặc dạng tự ghi
* Nguyên tắc làm việc là dựa trên sự thay đổi áp suất của chất công tác trong bình kín
có thể tích không đổi khi thay đổi nhiệt độ của nó Vì thể tích của chất công tác là khôngđổi khi ta thay đổi nhiệt độ dẫn tới chất chịu nhiệt tăng áp suất vì bị nén Khi đó thông qua
áp suất mà xác định được nhiệt độ cần đo
* Ưu điểm: của nhiệt áp kế: đo được ở khoảng cách xa và tự động ghi các giá trị cần đo,
dụng cụ có cấu tạo đơn giản, rẻ tiền, dễ sử dụng
Trang 43 - Dông cô ®o ®iÖn
4 - Nguån cung cÊp ®iÖn
2 - D©y dÉn
Hình 9.3
* Nhược điểm: thang đo chia không tuyến tính dẫn tới độ chính xác không cao, bị ảnh
hưởng của nhiệt độ môi trường xung quanh và khó sửa chữa khi bị rò rỉ
9.1.3 - Đo nhiệt độ dựa trên sự chuyển đổi điện
Từ năm 1821, Humphy Davy đã phát hiện điện trở của một số kim loại thay đổi theo nhiệt
độ Năm 1871, William Siemens lần đầu tiên đã sử dụng nhiệt kế điện trở Platin
* Nguyên lý làm việc của nhiệt kế điện trở là dựa trên sự thay đổi điện trở của dây dẫn
kim loại hoặc chất bán dẫn khi nhiệt độ thay đổi (hiệu ứng nhiệt điện)
Nhiệt kế điện trở thường gặp trong thực tế có 2 loại: nhiệt điện trở kim loại và nhiệtđiện trở bán dẫn
Nhiệt điện trở dùng trong các dụng cụ đo nhiệt độ cần phải làm việc với dòng phụ tảinhỏ để nhiệt năng sinh ra do dòng trong nhiệt điện trở nhỏ so với nhiệt năng nhận được từmôi trường đo Khi đó yêu cầu đối với vật liệu chuyển đổi phải có hệ số nhiệt lớn và ổnđịnh, điện trở suất lớn
* Phạm vi đo của nhiệt điện trở từ (-200 7000)C
* Ưu điểm cơ bản của nhiệt điện trở là:
- Cho phép đo có độ chính xác cao
- Có thể đặt dụng cụ thứ cấp xa so với vị trí đo nhiệt
- Có khả năng ghi tự động kết quả và tự động điều chỉnh quá trình đo
- Có khả năng làm trung tâm kiểm tra nhiệt độ bằng cách nối một vài nhiệt kế với một dụng cụ đo
* Nhược điểm:
- Cần nguồn cung cấp ổn định, hạn chế dùng trong môi trường dễ gây nổ, gây cháy
Trang 5- Kích thước của cảm biến khá lớn, do vậy không cho phép đo nhiệt độ tại một điểm.
- Không đo được trong môi trường có rung động
- Có sai số khắc độ của nhiệt điện trở
- Đặc tính của nhiệt điện trở không ổn định
- Sự tỏa nhiệt của nhiệt điện trở ra môi trường xung quanh là lớn
- Có sai số của dụng cụ thứ cấp
Để phép đo được chính xác, thì yêu cầu đối với dụng cụ đo này là cấu tạo cũng như cách
lắp ghép của chúng phải đảm bảo tính chất trao đổi nhiệt tốt giữa chuyển đổi với môi trường
- Khi đo nhiệt độ của các chất hạt (cát, đất ) cần phải cắm sâu nhiệt kế vào môi trườngcần đo và thường dùng nhiệt kế điện trở để kín trong một vỏ và có cáp nối ra ngoài
1/ Nhiệt kế nhiệt điện trở:
- Nhiệt kế nhiệt điện trở có thể chế tạo bằng dây Platin, Cu, Ni, bán dẫn quấn trên một lõicách điện đặt trong vỏ kim loại có đầu nối ra ngoài Nhiệt kế điện trở có thể dùng mạch đo bất
kỳ để đo điện trở nhưng thông thường được dùng mạch cầu không cân bằng, chỉ thị lôgômét
từ điện hoặc cầu tự động cân bằng, trong đó một nhánh là nhiệt điện trở Nếu nhiệt điện trởmắc vào mạch cầu bằng hai dây dẫn Rđ1 và Rđ2 (cầu hai dây), dụng cụ sẽ có sự thay đổi điệntrở của đường dây khi nhiệt độ môi trường xung quanh thay đổi Với:
T T
d
R
R t
RT và T - điện trở ban đầu của nhiệt điện trở và hệ số nhiệt của nó (ứng với t = 00C)
Để giảm sai số do nhiệt độ của môi trường gây ra ta sử dụng sơ đồ cầu 3 dây như hình vẽ
Trang 6Thực chất sai số khi cầu làm việc ở chế độ không cân bằng sai số chủ yếu là do sự thay đổi điện
áp của nguồn cung cấp gây nên
Với mạch cầu không cân bằng có chỉ thị là lôgômét điện từ có sơ đồ nguyên lý như hình vẽ Với sơ đồ này ta có thể loại trừ được sai số do điện áp nguồn cung cấp thay đổi
Trang 7Ba nhánh của mạch cầu R1, R2, R3 là các điện trở làm bằng Mangani Nhánh thứ tư là điện trở
Rt , bốn nhánh này được mắc theo sơ đồ mạch cầu 3 dây Trong sơ đồ điện trở R4 dùng để chỉnh 0của thang đo (cầu cân bằng trước khi đo)
- Điện trở RP dùng bù với điện trở đường dây để đạt đến giá trị khắc độ (5 hoặc 15), rt
là điện trở bù nhiệt độ cho cơ cấu Lôgômét
- Khi hiệu chỉnh RP người ta sử dụng RK (có giá trị bằng điện trở của nhiệt điện trở) RK
được mắc vào nhánh cầu sau đó điều chỉnh điện trở RP cho đến khi kim chỉ của Lôgômét dừng ở
vị trí xác định trên thang thì dừng lại, RK được ngắn mạch khi đo
- Khi chọn R1 = R3; R0 = R0' = R (điện trở khung của Lôgômét) thì tỷ số dòng điện chạy trong cuộn dây xác định theo công thức:
4 / 1 2
1
4 1 /
1 2
1
2
1
)(
R R
R R R R
R R
R R R R
R R R R
R R I
I
T T T T
- Trong kỹ thuật đo hiện nay, để đo nhiệt độ bằng nhiệt điện trở ta thực hiện trên mạch cầu
tự động tự ghi Phương pháp này có thể đo được nhiệt độ tại một điểm hoặc một số điểm nhờ cơcấu chuyển mạch
2/ Nhiệt kế cặp nhiệt ngẫu:
Đây là phương pháp đo nhiệt độ phổ biến và thuận lợi nhất Cấu tạo gồm 2 dây hàn vớinhau ở điểm 1 và luồn vào ống 2 để có thể đo được nhiệt độ cao Với nhiệt độ thấp hơn, vỏ nhiệt
kế có thể được làm bằng thép không gỉ Để cách điện giữa hai dây, một trong 2 dây được luồnvào ống sứ nhỏ 3 Nếu vỏ làm bằng kim loại thì cả hai dây đều được luồn vào trong ống sứ
Đầu ra của cặp nhiệt ngẫu được nối vào hộp đầu nối 4 Mạch đo của nhiệt kế nhiệt ngẫu làmiliVônmét (mV) hoặc điện thế kế điện trở nhỏ có giới hạn đo từ 0 100V
Nếu đo sức điện động nhiệt điện bằng mV sẽ gây ra sai số do nhiệt độ của mạch đo thay đổi Dòng điện chạy qua chỉ thị lúc đó sẽ là:
dc d
R
E I
trong đó: E - sức điện động Rd - điện trở dây
RT - điện trở cặp nhiệt ngẫu Rđ/c - điện trở của mV
Khi đó điện áp rơi trên mV là:
Trang 8c d d T
c d T
d
R R R
R E
R R E U
/
/
.)(
Thông thường Rd + RT được hiệu chỉnh bằng 5, còn điện trở mV lớn hơn nhiều lần (40
50) lần Vì vậy sai số chủ yếu do điện trở của mV Rd/c thay đổi
Đo sức điện động bằng điện thế kế sẽ loại trừ được sai số trên do dòng tiêu thụ bằng 0 khi tiến hành phép đo
Để khắc phục sai số do nhiệt độ đầu đo tự thay đổi, ta dùng mạch bù sai số nhiệt độ như hình vẽ
Phương pháp bù này sẽ giảm sai số xuống đến 0,04% trên 100 C
Tuy nhiên nhược điểm của phương pháp là phải dùng nguồn phụ và khi đó sẽ có sai sốcủa nguồn phụ gây ra
* Các cặp nhiệt ngẫu thông dụng:
- Nhiệt ngẫu TRP (Platin - PlatinRodi) (10%Rh + 90%Pt) và điện cực thứ hai làm bằng bạchkim nguyên chất Loại này có khả năng chịu được nhiệt độ cao (-2000C 13000C) và có đặc tính
ổn định
Nhiệt ngẫu TCA (Crome - Alumen): một điện cực làm bằng Cr(89%Ni; 9,8%Cr; 1%Fe;0,2%Mn) và cực thứ hai là Alumen(94%Ni; 2%Al; 2,5%Mn; 1%Si; 0,5%Fe) đo nhiệt độ (-50600)0C
- Nhiệt ngẫu TCN: có một điện cực nhiệt làm bằng hợp kim Ni - Co và điện cực thứ hai làm từ các biến thể khác nhau của hợp kim Al đo nhiệt độ (-50 1000)0C
Trang 9- Nhiệt ngẫu TFN: một điện cực làm bằng hợp kim Fe - Ni, còn điện cực thứ hai là hợp kim Copen có phạm vi đo từ (-50 1000)0C
- Nhiệt ngẫu TPP (PlatinRohdi - PlatinRohdi) có một điện cực làm bằng hợp kimPlatinRohdi với 70%Pt và 30%Rh Điện cực thứ hai cũng làm bằng kợp kim đó nhưng với94%Pt và 6%Rh, đo được nhiệt độ (300 1600)0C
- Để đo được nhiệt độ lớn hơn 20000C trong môi trường trung tính và môi trường hoànnguyên, ta dùng nhiệt ngẫu từ Vônfram Môlipđen Để có thể đo được nhiệt độ từ 2500
30000C dùng nhiệt ngẫu làm bằng Vônfram Iridi hoặc Vônfram Rêni
9.1.4 - Đo nhiệt độ dựa trên sự chuyển đổi bức xạ
Để đo được nhiệt độ lớn hơn 4000C ta có thể sử dụng nhiệt kế dựa trên nguyên tắc đo nănglượng bức xạ của một vật bị đốt nóng
Đặc điểm của dụng cụ này là quá trình đo dụng cụ không tiếp xúc với môi trường đo
1/ Hỏa quang kế phát xạ
* Cấu tạo gồm thấu kính 1 để thu nhận các tia phát xạ từ vật cần đo nhiệt độ, qua khe sáng 3
và sau đó được tập trung trên tấm nhiệt điện 4 Thường tấm này dùng 4 cặp nhiệt điện mắc nốitiếp với nhau bằng dây dẫn có đường kính 0,07m Để tránh tổn hao nhiệt và hỏng các cặp nhiệtđiện, đặt cặp nhiệt điện vào bình thủy tinh có chứa không khí Đầu nóng của cặp nhiệt điện đượckẹp vào tấm hình chữ nhật bằng Pt mỏng và phủ một lớp màu đen để hấp thụ nhiệt rất đó Trướcthị kính 2 người ta lắp kính lọc 5 để bảo vệ mắt
* Đặc điểm của nhiệt kế này đó là không đo được nhiệt độ thấp vì các tia hồng ngoại không
xuyên qua được thấu kính (kể cả thạch anh)
- Khoảng cách giữa dụng cụ đo và vật đo được xác định do kích thước của vật đốt nóng Khoảng cách này không được quá lớn để chùm sáng đi từ đối tượng đo đến dụng cụ phải trùm hếttầm nhìn ống ngắm của nhiệt kế
Trang 102/ Hỏa quang kế cường độ sáng:
* Nguyên lý làm việc của hỏa quang kế cường độ sáng là so sánh cường độ sáng của đối tượng
đo với cường độ sáng của dây tóc bóng đèn sợi đốt Vônfram sau khi đã được hóa già trongkhoảng 100 giờ với nhiệt độ 20000C Sự phát sáng của đèn đã ổn định khi sử dụng ở nhiệt độ từ
14000C 15000C Cường độ sáng có thể điều chỉnh bằng cách thay đổi dòng đốt hoặc dùng bộlọc ánh sáng
* Cấu tạo gồm có một bộ chắn sáng quang học và so sánh bằng mắt gồm: ống ngắm có vật
kính 1, thị kính 5 do đó quan sát được đối tượng đo 11 Trước thị kính có bộ lọc ánh sáng đỏ 4,sợi đốt 3 của bóng đèn chuẩn được ngắm trực tiếp Cường độ sáng của nguồn nhiệt 11 được chắn
và làm yếu qua bộ lọc quang học 2 Cường độ sáng của nguồn nhiệt và của sợi tóc bóng đèn được
so sánh bằng mắt
Hình 9.8
Nếu cường độ ánh sáng của đối tượng đo lớn hơn độ sáng của dây đốt người ta nhận được dâythẫm trên nên sáng (h.a/) Nếu độ sáng của đối tượng đo yếu hơn độ sáng của dây đốt cho dâysáng trên nền thẫm (h.b/) Còn khi độ sáng bằng nhau dây sẽ biến mất (h.c/) và đọc vị trí của bộchắn sáng ở bộ phận chỉ thị 7 để xác định nhiệt độ cần đo
Trang 11Ứng với bước sóng 1 ta có năng lượng E1 tương ứng là: T
c
e C
2
5 1 1 1 1
2
5 2 1 2 2
e
e E
E
2 2 1 2
5 2 2
5 1 1
5 2 2 1 2 1
8 9
số nhất định tùy theo tốc độ quay của động cơ Dòng quang điện được khuyếch đại nhờ bộkhuyếch đại 5 sau đó được đưa vào bộ chỉnh lưu 7 Nhờ bộ chuyển mạch 8, tín hiệu được chiathành 2 thành phần tùy theo ánh sáng vào tế bào quang điện là xanh hay đỏ Hai tín hiệu này được
đo bằng bộ chia 9 Tùy theo cường độ bức xạ của đối tượng đo, độ nhạy của khuyếch đại đượcđiều chỉnh tự động nhờ thiết bị 6
* Ưu điểm: trong quá trình đo không phụ thuộc vào khoảng cách từ vị trí đo đến đối tượng đo
và không phụ thuộc vào sự hấp thụ bức xạ của môi trường
* Nhược điểm: trong phương trình tính T có các hằng số đua vào do đó sẽ gây ra sai số cho kết
quả đo Kết cấu của hệ thống tương đối phức tạp
Trang 129.2.1 - Khái niệm chung
Trong quá trình nghiên cứu cơ lý tính của các vật chịu lực, các kết cấu cơ học thì quá trình đo lực, ứng suất, biến dạng là một bài toán rất quan trọng
* Đo lực có đặc điểm là phạm vi đo rất rộng, từ những giá trị nhỏ đến giá trị lớn, từphép đo tĩnh mà các lực tác động là các đại lượng không đổi đến những xung lực tác độngvới tốc độ rất cao như sự va chạm, sóng xung kích Như vậy, phải đo lực có những trị số
từ 106 108 N nhưng cũng có có lực có trị số rất nhỏ từ 10-5 10-12 N vì vậy khoảng đo
có thể dao động từ 10-5 108 N (D = 1020) Thực tế thì không có thiết bị đo nào có phạm
vi đo rộng như vậy đo đó thường chia lực thành các dải đo khác nhau, mỗi dải đo có thể sửdụng các phương pháp và thiết bị khác nhau Đặc biệt với dải đo thấp cần sử dụng nhữngphương pháp đo đặc biệt để đảm bảo độ chính xác yêu cầu
Các bộ cảm biến lực có thể phân thành 2 lớp: các bộ cảm biến định lượng và định tính
+) Bộ cảm biến định lượng dùng để đo lực có gí trị được thể hiện bằng tín hiệu điện
+) Bộ cảm biến định tính là các thiết bị có ngưỡng, tín hiệu ra của nó chir độ lớn củalực đã vượt quá một ngưỡng nhất định
* Phương pháp đo lực có thể được thực hiện bằng:
+) Cân bằng một lực chưa biết với một lực trực đối nghĩa là thành phần lực tổng cộng và mômen tổng cộng bằng 0
+) Đo gia tốc của vật có khối lượng đã biết để xác định được lực theo quan hệ:
a m
F
+) Cân bằng lực chưa biết với một lực điện từ
+) Biến đổi lực thành áp suất chất lỏng và đo áp suất này
+) Đo ứng suất tạo nên khi vật bị biến dạng đàn hồi và suy ra lực tác dụng
* Thông thường có 2 phương pháp đo:
+) Đo trực tiếp: là phương pháp sử dụng các chuyển đổi có đại lượng vào tương ứng với
các lực, ứng suất, biến dạng cần đo Đại lượng ra được biến thành các tín hiệu điện, các thông số điện Mạch đo và chỉ thị cho kết quả không thông qua hệ dẫn truyền trung gian
+) Đo gián tiếp: là phương pháp sử dụng các phần tử đàn hồi, các hệ dẫn truyền, biến lực
đo thành độ di chuyển Các cảm biến đo độ dịch chuyển suy ra lực tác động Tùy thuộc vào dải đo
và tần số biến thiên của lực tác động mà chọn loại cảm biến đo phù hợp và ít gây ra sai số
Đo biến dạng thực chất là thông qua đo lực, ứng suất vì có thể đưa về phép đo l hoặc l / l với:
E l
Mạch đo thường là mạch cầu, kết hợp với các tầng khuếch đại và chỉnh lưu Chỉ thị là các
dụng cụ chỉ thị cơ điện, tự ghi, điện tử và các dụng cụ số
9.2.2 - Các phương pháp đo lực
Trang 13Trong phương pháp đo trực tiếp thường sử dụng các phần tử áp điện và áp từ.
Giới hạn đo của các dụng cụ này phụ thuộc vào diện tích tác dụng các chuyển đổi Vídụ: ứng suất pháp cho phép trong vật liệu áp từ < gh = 40 N/mm2, đối với thạch anh gh
= 70 100N/mm2
* Ưu điểm chính của loại chuyển đổi áp từ là làm việc có độ chắc chắn cao và dải tần từ
20 50 KHz Phần tử áp điện chỉ đo được với lực biến thiên tần số 5 10Hz trở lên,không khắc độ được với lực tĩnh
1/ Đo lực bằng lực kế:
Để đo lực bằng lực kế sử dụng chuyển đổi biến trở Sơ đồ như hình vẽ
F
2 3
1
5
7 6 F
Hình 9.11
- Lực cần đo F tác động lên 2 tấm thép 1 và 2 được gắn liền với 2 khối 3 và 4 Dưới tácdụng của lực đo, bản mỏng 5 bị biến dạng làm cho 2 khối 3 và 4 di chuyển tương đối sovới nhau Trong quá trình di chuyển, khối 3 gắn cần 6 đẩy tay gạt 7 làm con trượt dichuyển trên biến trở dây 8 Con trượt được chế tạo từ hợp kim Platin - Iridi, dây biến trởđược làm bằng Constantan mạ vàng Áp lực của con trượt tác dụng lên các vòng dây bằng0,02N Lò xo 9 được gắn trên tay gạt có tác dụng để tay gạt có thể trở lại vị trí ban đầu khikhông có lực tác dụng
- Biến trở có 170 vòng, điện trở 500, giới hạn đo khoảng 3KN Sai số của dụng cụ là
3%
* Ưu điểm của lực kế này là đơn giản, dễ chế tạo, dễ sử dụng, độ tin cậy cao, không cần
khuyếch đại tín hiệu ra
* Nhược điểm là không đo được lực biến thiên nhanh do tay gạt 7 dưới tác dụng của lò
xo 9 chỉ thực hiện được với tần số khong vượt quá 10 20Hz
Để đo được lực tác động nhanh có thể dùng lực kế với chuyển đổi điện trở tenzo, điện cảm, điện dung, áp điện và áp từ
2/ Đo lực bằng phương pháp bù:
Để nâng cao độ chính xác của phép đo người ta sử dụng phương pháp bù để đo lực