Trong các vụ án dân sự có một số người tham gia tố tụng có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án dân sự tham gia với mục đích là bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.. Vì vậy, xác đ
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU KON TUM
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU KON TUM
MSSV : 122501039
Kon Tum, tháng 12 năm 2016
Trang 3MỤC LỤC
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG 1
LỜI NÓI ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1
4 Phương pháp nghiên cứu 1
5 Bố cục đề tài 2
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU VỀ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM 3
1.1 TỔNG QUAN VỀ TÕA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM 3
1.1.1 Vị trí địa lý 3
1.1.2 Cơ cấu tổ chức 3
1.2 CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA TÕA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM 4
CHƯƠNG 2 ĐƯƠNG SỰ TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI TÕA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM - THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ 5
2.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐƯƠNG SỰ TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ 5
2.1.1 Khái niệm 5
2.1.2 Đặc điểm về đương sự trong vụ án dân sự 5
2.1.3 Mối quan hệ giữa năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự 6
2.1.4 Xác định tư cách của đương sự trong vụ án dân sự 7
2.1.5 Quyền, nghĩa vụ của đương sự 12
2.1.6 Ý nghĩa của việc xác định tư cách đương sự trong vụ án dân sự 13
2.2 THỰC TIỄN XÉT XỬ VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI TÕA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 13
2.2.1 Thực tiễn xét xử vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum 13
2.2.2 Một số kiến nghị 15
KẾT LUẬN 18 TÀI LIỆU THAM KHẢO
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
NHẬN XÉT CỦA ĐƠN VỊ THỰC TẬP
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự thì đương sự là chủ thể không thể thiếu, họ
có thể là cá nhân, cơ quan hay tổ chức (có tư cách pháp nhân và không có tư cách pháp nhân) Trong các vụ án dân sự có một số người tham gia tố tụng có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án dân sự tham gia với mục đích là bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình Trong một số trường hợp tuy họ không có quyền lợi ích liên quan đến vụ án dân sự nhưng lại tham gia tố tụng để bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của nhà nước trong lĩnh vực được tham gia phụ trách
Vì vậy, xác định tư cách tố tụng của đương sự trong vụ án dân sự là một trong những vấn đề quan trọng để giải quyết những yêu cầu phát sinh tại Tòa án, do các đương
sự khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, lợi ích công cộng, lợi ích nhà nước hay quyền, lợi ích hợp pháp của người khác đang bị tranh chấp
Bộ luật tố tụng dân sự 2015 có nhiều sửa đổi về người tham gia tố tụng, quy định chi tiết hơn, cụ thể hơn và đó cũng chính là lý do mà tôi chọn đề tài “Đương sự trong vụ án dân
sự tại Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum – Thực trạng và kiến nghị” để làm báo cáo thực tập
2 Mục tiêu nghiên cứu
Bên cạnh việc nâng cao sự hiểu biết về pháp luật Việt Nam nói chung, về pháp luật
tố tụng dân sự nói riêng thì cũng nắm rõ được quyền và nghĩa vụ của đương sự trong vụ
án dân sự khi tham gia tố tụng, điều kiện khởi kiện khi quyền và lợi ích bị xâm phạm, rộng hơn nữa là thực hiện quyền và nghĩa vụ của một công dân
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đương sự trong vụ án dân sự bao gồm cơ quan, tổ chức, cá nhân
Phạm vi không gian: nghiên cứu thực tiễn xét xử án dân sự tại Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum
4 Phương pháp nghiên cứu
Bài báo cáo được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, về chiến lược cải cách tư pháp trong thời gian tới
Đồng thời, bài báo cáo kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu trong lĩnh vực luật học như: Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp và phương pháp thống kê, tổng kết kinh nghiệm
Trang 55 Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, bài báo cáo gồm 02 chương:
Chương 1: Giới thiệu về Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum
Chương 2: Đương sự trong vụ án dân sự - Thực trạng và kiến nghị
Trang 6CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU VỀ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM
1.1 TỔNG QUAN VỀ TÕA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM
1.1.1 Vị trí địa lý
Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum có trụ sở nằm trên địa bàn Thành phố Kon Tum, đây là tỉnh lỵ của tỉnh Kon Tum, nằm ở vùng địa hình lòng chảo phía nam của tỉnh này
Do nằm ở vị trí đặc biệt, đất đai bằng phẳng và màu mỡ được sông Đắk Bla bồi đắp,
và cũng do nhiều yếu tố lịch sử mà vùng đất này dần trở thành nơi định cư của nhiều dân tộc khác nhau, trong đó có người Kinh đến từ các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định
Thành phố Kon Tum nằm ở phía nam tỉnh Kon Tum, được uốn quanh bởi thung lũng sông Đăk Bla - vùng đất thấp nhất của tỉnh Kon Tum
Phía tây thành phố giáp huyện Sa Thầy, phía bắc giáp huyện Đắk Hà, phía đông giáp huyện Kon Rẫy và phía nam giáp tỉnh Gia Lai
Thành phố có diện tích tự nhiên 43.298,15ha
Thành phố có 155.214 người (năm 2013) gồm 20 dân tộc cùng sinh sống
Thành phố có trục giao thông huyết mạch là Quốc lộ 14 đi các tỉnh Quảng Nam, Gia Lai và quốc lộ 24 đi tỉnh Quảng Ngãi Ngoài ra, thành phố còn có tỉnh lộ đường 675 kết nối huyện Sa Thầy và đường 671 đi huyện Đắk Hà
Thành phố có 21 đơn vị hành chính gồm 10 phường: Duy Tân, Lê Lợi, Ngô Mây, Nguyễn Trãi, Quang Trung, Quyết Thắng, Thắng Lợi, Thống Nhất, Trần Hưng Đạo, Trường Chinh và 11 xã: Chư Hreng, Đắk Blà, Đắk Cấm, Đắk Năng, Đắk Rơ Wa, Đoàn Kết, Hòa Bình, Ia Chim, Kroong, Ngọk Bay, Vinh Quang
1.1.2 Cơ cấu tổ chức
Theo quy định của Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, cơ cấu tổ chức của Tòa
án nhân dân tỉnh Kon Tum gồm có:
Ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum gồm có 04 người trong đó thành phần gồm: Chánh án, 01 Phó Chánh án; 01 Chánh tòa hình sự, 01 Chánh tòa dân sự
Ủy ban Thẩm phán có nhiệm vụ, quyền hạn sau:
Thảo luận về việc thực hiện chương trình, kế hoạch công tác của Tòa án nhân dân tỉnh
Thảo luận báo cáo công tác của Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh với Tòa án nhân dân tối cao và Hội đồng nhân dân cùng cấp
Tổng kết kinh nghiệm xét xử
Thảo luận về kiến nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh đề nghị Chánh án Tòa
án nhân dân cấp cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét lại bản án, quyết định đã
có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo yêu cầu của Chánh án Các Tòa chuyên trách của Tòa án nhân dân tỉnh gồm Tòa hình sự, Tòa dân sự, Tòa kinh tế, Tòa lao động, Tòa hành chính Các Toà chuyên trách của Toà án nhân dân tỉnh gồm có Chánh tòa, Thẩm phán và Thư ký Tòa án
Trang 7Nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa chuyên trách Tòa án nhân dân tỉnh:
Sơ thẩm những vụ việc theo quy định của pháp luật
Phúc thẩm những vụ việc mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp huyện bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của luật tố tụng
Bộ máy giúp việc của Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum gồm có: Văn phòng; Phòng Kiểm tra nghiệp vụ và thi hành án; Phòng Tổ chức cán bộ, thanh tra và Thi đua khen thưởng
1.2 CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA TÕA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM
Theo quy định của Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum có thẩm quyền sau:
Xét sử sơ thẩm những vụ án theo quy định của pháp luật tố tụng
Xét xử phúc thẩm những vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp dưới bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng
Giám đốc thẩm, Tái thẩm những vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp dưới bị kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng
Giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật
Trang 8CHƯƠNG 2 ĐƯƠNG SỰ TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI TÕA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH KON TUM - THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ 2.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐƯƠNG SỰ TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ
2.1.1 Khái niệm
Trong tiếng việt “Đương sự” được hiểu là “Người”, là “đối tượng” trong một sự
việc nào đó được đưa ra để yêu cầu Tòa án giải quyết những mối quan hệ, những vấn đề phát sinh trong xã hội Đương sự bao gồm công dân Việt Nam, người có quốc tịch nước ngoài, người không có quốc tịch, các cơ quan Nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp
Đương sự trong vụ án dân sự chính là người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách do có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ việc dân sự Xác định tư cách của đương sự trong tố tụng dân sự tức là xác định tư cách của đương sự trong vụ án dân
sự
Theo khoản 1 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định: Đương sự trong vụ án dân sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm: nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Việc giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án là do nhu cầu giải quyết các quan hệ pháp luật nội dung giữa các đương sự để ổn định xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể nên các đương sự là một thành phần không thể thiếu của vụ án dân sự Không
có đương sự thì vụ án dân sự không tồn tại tại Tòa án Mặt khác, đương sự cũng chính là chủ thể của quan hệ pháp luật nội dung được Tòa án giải quyết trong vụ án dân sự, có quyền định đoạt quyền lợi của mình khi tham gia quan hệ Trong quá trình tham gia tố tụng đương sự tồn tại song song quyền lợi đi đôi với nghĩa vụ của mình, tương ứng với
sự định đoạt của đương sự hay pháp luật có quy định
2.1.2 Đặc điểm về đương sự trong vụ án dân sự
Đương sự trong vụ án dân sự luôn luôn tồn tại hai khía cạnh rất quan trọng, đó là năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự Năng lực pháp luật
tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự là hai yếu tố cấu thành năng lực chủ thể của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự Đương sự là một loại chủ thể của quan hệ pháp luật
tố tụng dân sự nên để tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng dân sự thì đương sự phải có năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự Do đó, nếu thiếu một trong hai yếu tố trên thì không thể coi là đương sự trong vụ án dân sự được
a Năng lực pháp luật tố tụng dân sự
Là khả năng có các quyền, nghĩa vụ trong tố tụng dân sự do pháp luật quy định Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân có năng lực pháp luật tố tụng dân sự như nhau trong việc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình (khoản 1 Điều 69 BLTTDS 2015)
Trang 9Năng lực pháp luật tố tụng dân sự của cá nhân bao giờ cũng gắn liền với sự tồn tại của cá nhân từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi cá nhân đó chết Năng lực pháp luật
tố tụng dân sự của cơ quan, tổ chức xuất hiện khi tổ chức đó được thành lập và chấm dứt khi cơ quan, tổ chức đó không còn tồn tại
b Năng lực hành vi tố tụng dân sự
Là khả năng tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng dân sự (khoản 2 Điều 69 BLTTDS 2015)
Để hiểu rõ hơn về năng lực hành vi đối với từng độ tuổi, cá nhân, cơ quan, tổ chức,
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đã quy định cụ thể như sau:
Đương sự là người từ đủ mười tám tuổi trở lên có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự, trừ người mất năng lực hành vi dân sự hoặc pháp luật có quy định khác Ở độ tuổi này, nếu đương sự là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì năng lực hành vi tố tụng dân sự của họ được xác định theo quyết định của Tòa án
Đương sự là người chưa đủ sáu tuổi hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì không có năng lực hành vi tố tụng dân sự Việc thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự cũng như việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ tại Tòa án sẽ do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện
Đương sự là người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm thì việc thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự cũng như việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ tại Tòa
án sẽ do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện Trong giới hạn độ tuổi này, nếu họ là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì năng lực hành vi tố tụng dân sự của họ được xác định theo quyết định của Tòa
án
Đương sự là người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi đã tham gia lao động theo hợp đồng lao động hoặc giao dịch dân sự bằng tài sản riêng của mình được tự mình tham gia tố tụng về những việc có liên quan đến quan hệ lao động hoặc quan hệ dân
sự đó Trong trường hợp này để đảm bảo quyền lợi của họ, Tòa có quyền triệu tập người đại diện hợp pháp của họ tham gia tố tụng Đối với những việc khác thì việc thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự tại Tòa sẽ do người đại diện hợp pháp của
họ thực hiện
Đương sự là cơ quan, tổ chức sẽ do người đại diện hợp pháp tham gia tố tụng
2.1.3 Mối quan hệ giữa năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự
Năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự có mối quan
hệ ràng buộc và không thể tách rời nhau Năng lực pháp luật dân sự là cơ sở của năng lực hành vi tố tụng dân sự Năng lực hành vi tố tụng là bước ngoặc, đánh dấu khả năng nhận thức, tư duy của con người trong mối quan hệ xã hội, dựa trên năng luật pháp luật quy định cho mỗi cá thể Chính vì vậy, cả hai hỗ trợ cho nhau, để đảm bảo thống nhất trong
Trang 10một cá thể độc lập cũng là cơ sở để đảm bảo yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của mình
2.1.4 Xác định tư cách của đương sự trong vụ án dân sự
Đương sự trong vụ án dân sự là một phần tất yếu không thể thiếu đối với bất kì vụ
án dân sự nào Việc xác định đương sự trong vụ án dân sự là việc làm hết sức quan trọng trước khi đi vào thụ lý hồ sơ và giải quyết vụ án Quy định hiện nay của pháp luật Việt Nam đã có những định nghĩa cũng như những chỉ dẫn rõ ràng về việc xác định đương sự trong vụ án dân sự Điều này cũng tạo nên những đóng góp tích cực đối với ngành Tòa án nói riêng và việc ổn định trật tự, an ninh xã hội nói chung Tuy nhiên, việc xác định đúng
và đủ tư cách tố tụng của đương sự trong thực tiễn xét xử vụ án dân sự hiện nay cũng còn nhiều vướng mắc, khó khăn, chưa giải quyết triệt để được Do đó, chúng ta cần phải đi sâu vào phân tích, xác định về tư cách tố tụng của đương sự nhằm tìm ra giải pháp để giúp cho việc thực thi pháp luật trong tố tụng dân sự được giải quyết nhanh chóng, hoàn thiện
Trong vụ án dân sự việc xác định đúng và đủ thành phần đương sự có ý nghĩa rất quan trọng trong đường lối giải quyết vụ án, hơn nữa đó là tiền đề cho việc giải quyết vụ
án được toàn diện và đảm bảo cho nguyên tắc bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa được thực thi
a Đương sự là cá nhân: có năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi
tố tụng dân sự
b Đương sự là cơ quan: Gồm các cơ quan Nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân
Cơ quan tham gia tố tụng dân sự thông qua người đại diện theo pháp luật (thủ trưởng cơ quan) hoặc đại diện theo ủy quyền Thông thường một cơ quan gồm nhiều bộ phận cấu thành về nguyên tắc nếu những bộ phận cấu thành này không có quyền độc lập về tài sản thì các bộ phận này không thể tham gia tố tụng với tư cách đương sự
Ví dụ: Tòa án nhân dân tối cao có nhiều bộ phận khác nhau trong đó có 05 Tòa chuyên trách và 03 Tòa phúc thẩm hoạt động độc lập nhưng không có quyền độc lập về tài sản Do đó các Tòa này không thể tham gia tố tụng với tư cách đương sự, mà đương
sự phải là Tòa án nhân dân tối cao Tuy nhiên, đối với những bộ phận trong cơ quan nhưng lại có quyền độc lập về tài sản, có quyền tham gia các quan hệ dân sự với tư cách độc lập thì bộ phận này vẫn có quyền tham gia tố tụng dân sự độc lập
Ví dụ: Báo pháp luật của Bộ Tư pháp là một đơn vị của Bộ Tư pháp nhưng đơn vị này có thẩm quyền ký hợp đồng lao động với phóng viên, có quyền độc lập tham gia các giao dịch dân sự trên cơ sở tài chính độc lập, vì vậy họ có toàn quyền tham gia tố tụng với tư cách là đương sự
c Đương sự là tổ chức: Gồm tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã
hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp Tổ chức tham gia tố tụng dân sự thông qua người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền Tổ chức là pháp nhân hoặc không phải là pháp nhân và có thể tham gia tố tụng dân sự với tư
Trang 11cách là đương sự Trường hợp tổ chức có nhiều bộ phận thì chỉ những bộ phận hoàn toàn độc lập về tài chính mới có tư cách đương sự
Ví dụ: Tổng công ty có văn phòng, có phòng kế toán tài vụ…và các công ty thành viên thì văn phòng, phòng kế toán tài vụ… không thể tham gia tố tụng với tư cách đương
sự, nhưng các công ty thành viên, nếu đủ điều kiện là pháp nhân thì được tham gia tố tụng dân sự với tư cách đương sự
Đối với cơ quan, tổ chức nước ngoài thì năng lực pháp luật tố tụng dân sự được xác định theo pháp luật của nước cơ quan, tổ chức đó được thành lập, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam có quy định khác
Đối với tổ chức quốc tế thì năng lực pháp luật tố tụng dân sự được xác định trên cơ
sở điều ước Quốc tế là căn cứ để thành lập tổ chức đó, quy chế hoạt động của tổ chức Quốc tế hoặc điều ước Quốc tế đã được ký kết với cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam
d Xác định tƣ cách nguyên đơn
Theo quy định tại khoản 2 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì nguyên đơn
trong vụ án dân sự là “người khởi kiện, người được cơ quan, tổ chức, cá nhân, do do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm Cơ quan, tổ chức do Bộ luật này quy định khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách cũng là nguyên đơn”
Như vậy, có thể thấy nguyên đơn trong vụ án dân sự không những chỉ là người khởi kiện hay người được cá nhân, cơ quan, tổ chức do Bộ luật tố tụng dân sự quy định khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của
họ bị xâm phạm mà nguyên đơn trong vụ án dân sự còn là cơ quan, tổ chức khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nước thuộc lĩnh vực mà mình phụ trách Việc tham gia tố tụng của nguyên đơn mang tính chủ động hơn so với các đương
sự khác Hoạt động tố tụng của nguyên đơn có thể dẫn đến việc làm phát sinh, thay đổi hay đình chỉ hoạt động tố tụng
Về nguyên tắc thì nguyên đơn phải là chủ thể của quan hệ pháp luật nội dung có tranh chấp, có quyền, lợi ích liên quan đến quan hệ pháp luật nội dung đó Người khởi kiện có thể là nguyên đơn hay người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Còn nguyên đơn không phải mọi trường hợp đều là người khởi kiện Nguyên đơn có thể không là người có quyền và lợi ích bị xâm phạm
Cá nhân, cơ quan, tổ chức có tư cách nguyên đơn khi họ thực hiện quyền khởi kiện yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc lợi ích công cộng, lợi ích của nhà nước do mình phụ trách hoặc ủy quyền cho người khác khởi kiện để bảo vệ quyền lợi cho họ
Với cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự hoặc cơ quan, tổ chức thông qua người đại điện hợp pháp khởi kiện vụ án dân sự và được Tòa án thụ lý thì cá nhân, cơ quan, tổ chức đó được xác định là nguyên đơn Nếu cá nhân là người không có năng lực hành vi tố tụng dân sự mà được người đại điện khởi kiện thì người không có năng lực
Trang 12hành vi tố tụng dân sự được bảo vệ quyền lợi là nguyên đơn Khi cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác thì người được bảo vệ quyền lợi chính là nguyên đơn, còn chủ thể khởi kiện vì lợi ích của người khác được xác định là người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn
Để xác định một chủ thể là nguyên đơn của vụ án dân sự còn căn cứ vào thời điểm khởi kiện Đó là trường hợp cả hai bên chủ thể của một quan hệ pháp luật nội dung trong tranh chấp cùng khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết quan hệ nội dung tranh chấp đó, Tòa án thụ lý đơn khởi kiện của bên nào trước thì bên đó được xác định là nguyên đơn Ngoài những căn cứ trên để một chủ thể trở thành nguyên đơn trong vụ án dân sự thì bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng có thể trở thành nguyên đơn trong các trường hợp sau:
Nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện nhưng bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố của mình Khi đó bị đơn trở thành nguyên đơn
Nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trở thành nguyên đơn, người có nghĩa vụ với yêu cầu độc lập trở thành nguyên đơn
Khoản 3 Điều 68 BLTTDS 2015 quy định: “Bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc cá nhân, cơ quan tổ chức khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm”
Tùy vào từng vụ việc, mối quan hệ mà xác định tư cách bị đơn, cụ thể:
Việc xác định tư cách bị đơn trong các vụ án về quan hệ bảo lãnh: trường hợp này phụ thuộc vào những điều kiện luật định Chủ nợ có thể khởi kiện người có nghĩa vụ theo quan hệ hợp đồng hoặc theo quan hệ bảo lãnh để yêu cầu thực hiện nghĩa vụ theo quy định của pháp luật dân sự Bị đơn sẽ là người bảo lãnh nếu nghĩa vụ đến hạn phải thực hiện nhưng bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình Nếu không thuộc trường hợp này thì người bị kiện hay bị đơn chính là người có nghĩa vụ theo quan hệ hợp đồng
Việc xác định tư cách bị đơn trong các vụ án về quan hệ pháp luật sở hữu: Bị đơn trong quan hệ pháp luật sở hữu thường là bên vi phạm quyền sở hữu của chủ thể khác Pháp luật dân sự hiện hành có sự phân biệt giữa tài sản là động sản phải đăng ký quyền
sở hữu và tài sản là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu Đối với động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì chủ sở hữu chỉ có quyền khởi kiện người chiếm hữu ngay