1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm định danh của từ chỉ nghề biển quỳnh lưu

10 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 66,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Báo cáo khoa học: Đặc điểm định danh của từ chỉ nghề biển Quỳnh Lưu Họ và tên: Bùi Thị thu Dung Lớp: 45E1 – Ngữ Văn Từ nghề nghiệp là nhũng từ mà người làm nghề trong xã hội sử dụng nh

Trang 1

Báo cáo khoa học:

Đặc điểm định danh của từ chỉ nghề biển Quỳnh Lưu

Họ và tên: Bùi Thị thu Dung

Lớp: 45E1 – Ngữ Văn

Từ nghề nghiệp là nhũng từ mà người làm nghề trong xã hội sử dụng nhằm biểu thị các tên gọi, sự vật hiện tượng, công cụ, sản phẩm, quá trình hoạt động sản xuất trong nghề của mình

Lâu nay, trong Việt ngữ học nói chung, phương ngữ nói riêng, các công trình nghiên cứu về phương ngữ còn rất ít, đặc biệt là nghiên cứu từ ngữ nghề nghiệp còn rất thưa thớt.Tìm hiểu vốn từ nghề nghiệp của một địa phương là góp phần tìm hiểu phương ngữ vùng

và cũng là để thấy sự phong phú của vốn từ tiếng việt Quỳnh Lưu là một vùng đất có truyền thống làm nghề biển lâu đời và vốn từ nghề biển của cư dân Quỳnh Lưu, cho tới nay chưa có công trình nào thu thập nghiên cứu Do vậy, khảo sát vốn từ nghề biển của cư dân Quỳnh Lưu vừa để thấy đặc điểm từ ngữ nghề biển nơi đây, vừa góp phần làm đầy bức tranh vốn từ ngữ chỉ nghề biển tiếng Việt

Qua khảo sát thống kê, chúng tôi thu thập từ ngữ chỉ nghề biển của cư dân Quỳnh Lưu là 747 đơn vị Lớp từ này phản ánh một số phạm vi hiện thực chủ yếu về công cụ, phương tiện, hoạt động và

Trang 2

sản phẩm của nghề Chúng tôi đã tiến hành khảo sát trên nhiều khía cạnh Nhưng ở đây chúng tôi xin trình bày một khía cạnh nhỏ đó là

“Đặc điểm định danh của từ chỉ nghề biển Quỳnh Lưu”

Trong tên gọi của từ, qua cách gọi tên ta có thể thấy được thói quen tri nhận của con người Sự vật có nhiều đặc điểm nhưng lựa chọn đặc điểm nào để phản ánh lại tuỳ thuộc vào tư duy, thói quen nhìn nhận sự vật của người đặt tên Tên gọi các công cụ chỉ nghề được bà con đặt tên là dựa vào đặc điểm, hoạt động, tính chất của

chúng Chẳng hạn: Bàn chụi, là từ định danh dựa vào hoạt động (chụi), do công cụ này có chức năng làm cho nát cá theo hình thức

chụi (chà, xát, đánh) trong quá trình ngâm ủ; Trang đánh mắm, định

danh dựa vào hoạt động, công cụ bàn trang được dùng có tác dụng đánh cho nát cá khi cá trong quá trình phơi nắng (nghề làm nước

mắm); Bàn trang đất, định danh dựa vào mục đích hoạt động, công

cụ có tác dụng đẩy dồn đất lại thành đống; Ống đo độ, định danh dựa vào chức năng, nó có tác dụng đo độ mặn của nước; Bừa, định danh

dựa vào hoạt động để gọi tên, nó có tác dụng làm tơi đất trên sân;

Cái nạo, định danh dựa vào hoạt động, nó có tác dụng đẩy muối lại

thành đống (nghề làm muối) Các loại công cụ trên định danh dựa vào mục đích hoạt động

Các từ có thể được định danh dựa vào đặc điểm, tính chất Ví

dụ: Cào ba răng, dựa vào đặc điểm số lượng, hình dáng có răng

Trang 3

bằng sắt để gọi tên; Đá dằn, định danh dựa vào chức năng của đá là

được dùng đè trên cá để ép lọc nước mắm (nghề làm nước mắm);

Bầu diệu nước, định danh dựa vào chức năng, tính chất của sự vật,

có tác dụng múc nước (nghề làm muối)

Các sản phẩm của cư dân, đặc biệt là cư dân làm muối thì sản phẩm “muối” của họ cũng được định danh theo đặc điểm tính chất

mà mọi người trong nghề quan tâm đánh giá chất lượng, như gọi là:

Muối sạch, đó là tên gọi chỉ loại muối được làm theo một quy trình

riêng và được phân loại đạt chất lượng cao về độ mặn, độ trắng;

Muối chát, định danh dựa vào vị của muối, đó là loại muối có vị chát

do nước dư kết tủa thành; Muối già, tên gọi cho biết loại muối phơi

quá nắng, hạt muối bị khô quá mức bình thường

Các sản phẩm của họ cũng còn được định danh theo mùa vụ

sản xuất, như: Muối chiêm, là muối được làm từ tháng 7 đến tháng 11; Muối mùa, được làm từ tháng 3 đến tháng 7 Người trong nghề,

qua tên gọi như vậy không những biết sản phẩm được sản xuất vào thời gian nào mà còn có thể biết loại muối đó chất lượng ra sao

Nghề làm nước mắm cũng có cách định danh tương tự như nghề làm muối và nghề đánh cá Mỗi sản phẩm được chế biến từ nguyên liệu gì thì gọi tên để phân loại chúng theo chính nguyên liệu

đó Ví dụ như: Mắm tôm, định danh dựa vào tên nguyên liệu được

làm từ con ruốc (moi) Bên cạnh đó, một số sản phẩm còn được gọi

Trang 4

tên theo mùi vị của nó, như: Ruốc chua, định danh dựa vào mùi vị, ruốc được chế biến theo quy trình riêng và có vị chua; Ruốc hôi,

định danh dựa vào mùi vị có mùi hôi nhưng không phải là ruốc hỏng

mà là ruốc nặng mùi; Ruốc ỉnh, định danh dựa vào mùi vị, ruốc đã bị

hỏng

Cách định danh cho công cụ, phương tiện hay sản phẩm riêng của nghề như: Định danh cho các bộ phận của thuyền dựa vào hình

dáng bên ngoài như: Mũi thuyền (do nó có dáng nhọn phía trước nên người ta gọi là mũi thuyền); Khoang thuyền (thuyền được phân chia thành các khoang); Khoang máy (định danh dựa vào chức năng

là nơi để máy), Phao cờ (định danh dựa vào chức năng để đánh dấu nơi thả lưới) Ở dụng cụ đánh bắt chính là lưới, lưới là từ toàn dân mang tính chất phổ biến, ở đây ngoài từ lưới dùng chung thì người ta

còn thêm vào yếu tố thứ hai đứng sau lưới để phân biệt Cho nên, nó

có tên gọi khác nhau phù hợp với đặc trưng từng loại lưới Có thể

liệt kê các từ đó là: lưới chụp, lưới giã, lưới ghẹ, lưới mực, lười

rùng, lưới rút, lưới vó

Trong các từ đó có những từ định danh theo các đặc trưng lựa

chọn về đặc điểm kiểu đánh như: Lưới vây, định danh dựa vào cách đánh là dùng lưới vây cá lại; Lưới vó chụp, định danh dựa vào cách

đánh và kiểu đánh dùng lưới chụp từ trên cao xuống; Lưới đập đối,

Trang 5

định danh dựa vào cách đánh và kiểu đánh, thả lưới và người tự đuổi

cá vào lưới, không đi thuyền

Trong các từ đó, có tên gọi được định danh theo chất liệu như:

Lưới cước (do lưới được làm từ sợi cước trong hoặc thô), lưới nilon,

do lưới được làm từ sợi nilon Có từ lại định danh theo mục đích

như: Lưới mực, lưới chuyên đánh cá mực; Lưới ghẹ, mục đích chuyên đánh về các lọai ghẹ; Lưới cháo, dùng để đánh cá cháo; Lưới

cá đối, chuyên dùng để đánh cá đối; Lưới bơn, dùng để đánh các loại

cá bơn; Lưới te ruốc, dùng để đánh các loại ruốc, tôm

Bên cạnh đó, lại có những từ mà dấu vết về sự “cảm nhận” hay đặc điểm sự vật được lựa chọn để đưa vào tên gọi đã bị phai mờ, đã

trở thành “không có lí do” để giải thích nữa, những từ như: Lưới rê ,

yếu tố “rê” không thể giải thích được lí do gọi tên; Lưới rùng, yếu tố

“rùng” không giải thích được lí do gọi tên; Lưới keo, yếu tố “keo”

không giải thích được lí do gọi tên; Lưới then ba, yếu tố “then ba”

không giải thích được; Lưới văng, yếu tố “văng” không giải thích

được Chúng ta không thể biết được vì sao lại có tên gọi này, hay căn cứ vào cái gì để đặt tên như thế, chỉ biết rằng đây là những loại lưới khác nhau

Ngoài ra, trong loại lưới giã (phương ngữ Nghệ Tĩnh gọi là

lưới giạ) lại có những loại khác nhau đặc trưng lựa chọn là đối

tượng đánh bắt như: Giã ốc (loại lưới chuyên dùng để bắt ốc); Giã

Trang 6

tôm (loại lưới chuyên dùng để bắt tôm); Giã cá (loại lưới chuyên

dùng để bắt cá nhỏ); Giã ruốc (loại lưới chuyên dùng để bắt ruốc

(moi)) Và mỗi loại này lại có đặc điểm, hình thức khác nhau để

phù hợp cho từng đối tượng đánh bắt Hay để chỉ mực người dân

vùng biển nơi đây không dùng một cái tên mang ý nghĩa chung như

trong vốn từ ngữ toàn dân mà dùng các tên gọi như: Mực lá, mực

ống, mực sim, mực nang, mực bạch tuộc, mực ma để chỉ các loại

mực khác nhau Trong đó, mực nang, mực cơm, mực ống, mực lá, là

tên gọi của bốn loại mực khác nhau mà phương thức định danh của

chúng là dựa vào đặc điểm hình thức như: Mực lá (do có thân mỏng

có hình giống chiếc lá nên gọi là mực lá); Mực ống (do thân thuôn,

tròn giống chiếc ống); Mực sim (do hình dáng nhỏ hơn các loại mực khác và có hình giống quả sim nên gọi là mực sim); Mực nang (do

bụng phình to hơn lưng nên gọi là mực nang)

Bên cạnh cách định danh phản ánh đặc trưng phương tiện và công cụ như nêu trên, ta thấy phương thức định danh các loại cá mới thực sự cho thấy tính phong phú và đa dạng trong định danh tên gọi nghề biển Tên gọi “cá”có thể định danh theo đặc trưng phản ánh,

môi trường sống của các loại đó như: Cá mú đất (do sống trong môi trường nước nhưng sát đất nên gọi là cá mú đất); Cá nóc đất (do

cũng sống trong môi trường nước nhưng sát đất nên gọi là cá nóc đất

); Cá đốm khơi (do sống ở ngoài khơi, xa bờ và nơi nước sâu nên gọi

Trang 7

là cá đốm khơi); Cá đốm lộng (sống ở gần bờ); Cá đá (sống trong

hang đá)

Kiểu định danh dựa vào đặc điểm hình dáng, màu sắc là phổ

biến nhất như: Cá mú hoa (do thân có đốm hoa đen hoặc đỏ nên gọi

là cá đốm hoa); Cá chuồn (do đặc điểm hình dáng cá có cánh như

chuồn chuồn, cá có thể bay một khoảng trên mặt nước nên gọi là cá

chuồn); Cá chỉ vàng (do hai bên lưng cá có hai sọc chỉ màu vàng nên gọi là cá chỉ vàng); Cá kìm (do cá có hàm dưới nhô ra nhỏ và dài như gọng kìm); Cá đốm chạch hoa (do trên lưng cá có chấm hoa);

Cá nóc hòm (do thân hình giống quan tài nên gọi là cá hòm); Cá lá dứa (do thân hình cá mỏng dẹt như lá dứa)

Qua một số ví dụ như trên, chúng tôi nhận thấy rằng: từ chỉ các loại công cụ, hoạt động, sản phẩm nghề biển của cư dân huyện Quỳnh Lưu chủ yếu là từ ghép phân loại Xét theo cấu tạo từ, nhìn từ phía ngữ nghĩa - định danh, chúng tôi thấy yếu tố thứ nhất đóng vai trò chỉ loại lớn, thường là yếu tố quen thuộc, phần nhiều được dùng

trong ngôn ngữ toàn dân, như lưới, cá, Yếu tố thứ hai là yếu tố

định danh phân loại nhằm khu biệt cá thể này với cá thể khác trong cùng một loại, đây là yếu tố mang tính chất nghề rõ nhất, vì nghĩa của chúng thể hiện cách lựa chọn đặc trưng thuộc tính sự vật để gọi tên, của cư dân địa phương, chỉ dùng gọi tên trong nghề ở địa phương

Trang 8

Có gì gọi nấy, có gì nói nấy, cách đặt tên mang tính trực quan, chú ý nhiều tới đặc trưng hình thức, mục đích, chức năng và môi trường sinh sống, đó là nét đặc trưng cơ bản về định danh trong vốn

từ chỉ nghề của cư dân địa phương nơi đây Cái mộc mạc, cái chân quê ấy, thói quen tri nhận, phân cắt đối tượng một cách tỉ mỉ, tất cả

để hiện lên qua tên gọi các công cụ, quy trình hoạt động và sản phẩm của nghề Đồng thời cũng nhờ cách đặt tên như vậy mà vốn từ vựng chỉ nghề biển của cư dân huyện Quỳnh Lưu mới phong phú đa dạng như thế Hơn thế, sự phong phú của vốn từ nghề biển cũng phản ánh khả năng sáng tạo, vốn kinh nghiệm dồi dào của người dân làm nghề trên mọi phương diện và thể hiện được sắc thái văn hóa riêng của ngư dân biển

KẾT LUẬN

Qua đặc điểm định danh của từ chỉ nghề biển Quỳnh Lưu ta thấy sự tri nhận phân cách hiện thực khách quan khá cụ thể nhưng không kém phần sinh động của nơi đây

Nét nổi bật trong cách gọi tên của cư dân biển Quỳnh Lưu là họ thường hướng chú ý vào hình thức bên ngoài, mục đích chức năng, tính chất của sự vật Đặc điểm định danh, cách phân cắt hiện thực này cũng đã góp phần vẽ nên chân dung, những con người làm nghề

Trang 9

biển Quỳnh Lưu cần cù lam lũ, bộc trực chất phác, cụ thể đến mức chi li Đó cũng là những nét sắc thái địa phương của từ chỉ nghề được phản ánh qua vốn từ chỉ nghề biển

TÀI LIỆU THAM KHẢO

- Lương Vĩnh An (1998), Vốn từ chỉ nghề cá ở Quảng Nam và

thành phố Đà Nẵng, luận văn thạc sĩ Ngữ văn, Đại học Vinh.

Trang 10

- Hoàng Trọng Canh (2004), thực tế nghề cá được “ phân cắt”, “

lựa chọn” qua tên gọi và cách gọi tên trong phương ngữ Nghệ Tĩnh,

Tạp chí khoa học, Trường Đại hoc Vinh

- Ninh Viết Giao (1998), địa chí văn hoá Quỳnh Lưu, NXB Nghệ

An

- Nguyễn thị Phương Thảo (2005), vốn từ chỉ nghề nước mắm Vạn

Phần Viễn Châu, luận văn thạc sĩ, Đại học Vinh.

- Nguyễn Thị Quỳnh Trang (2004), khảo sát vốn từ chỉ nghề cá

trong phương ngữ Nghệ Tĩnh, luận văn thạc sĩ, Đại học Vinh

Ngày đăng: 27/08/2021, 16:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w