MỞ ĐẦUThời kỳ 19391945, có vị trí đặc biệt trong tiến trình cách mạng nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng;đánh dấu sự phát triển trong nhận thức và tư duy lý luận của Đảng về xác định nhiệm vụ chiến lược và chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng,phù hợp với tình hình thực tiễn được thể hiện qua ba nghị quyết:Nghị quyết Trung ương 6(111939), Nghị quyết Trung ương 7(111940) và Nghị quyết Trung ương 8(51941).Cùng với những diễn biến mau lẹ của tình hình trong nước và thế giới đòi hỏi Đảng phải có một quyết sách lớn, bằng một sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược phù hợp, nhận thức đúng tính cấp thiết của nhiệm vụ giải phóng dân tộc. Trên cơ sở đó mà giải quyết những vấn đề như đối tượng cách mạng, lực lượng cách mạng, phương pháp tổ chức cách mạng trong giai đoạn hiện tại để thực hiện mục tiêu trước mắt là đấu tranh giành độc lập tự do cho dân tộc. Vì “Hoàn cảnh Đông Dương sẽ tiến bước đến vấn đề dân tộc giải phóng” 1, tr.190. Chủ trương chỉ đạo chiến lược, đặt nhiệm vụ chống đế giải phóng dân tộc lên hàng đầu, tạm gác khẩu hiệu “cách mạng ruộng đất” chỉ tịch thu ruộng đất của đế quốc và những địa chủ phản bội quyền lợi dân tộc. Chủ trương đó được thông qua ở ba Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng 6, 7 8. Do đó, nghiên cứu vấn đề “Đảng chủ trương nêu cao nhiệm vụ giải phóng dân tộc và tích cực chuẩn bị lực lượng mọi mặt (từ tháng 91939 đến đầu năm 1945). Liên hệ thực tiễn cách mạng Bình Phước” làm đề tài tiểu luận có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
Trang 1TRƯỜNG CHÍNH TRỊ
*
BÀI THU HOẠCH HẾT HỌC PHẦN
Chương trình Trung cấp lý luận chính trị - hành chính
CAO NHIỆM VỤ GIẢI PHÓNG DÂN TỘC VÀ TÍCH CỰC CHUẨN BỊ LỰC LƯỢNG MỌI MẶT (TỪ THÁNG 9/1939 ĐẾN ĐẦU NĂM 1945) LIÊN HỆ THỰC TIỄN CÁCH MẠNG BÌNH PHƯỚC
Họ tên học viên:
Lớp:……….,……….
Phần:………
, năm 2021
Trang 2MỞ ĐẦU 1
Phần 1
Cơ sở lý luận về Đảng chủ trương nêu cao nhiệm vụ giải phóng
dân tộc và tích cực chuẩn bị lực lượng mọi mặt (từ tháng 9/1939
Phần 2
Thực tiễn Đảng chủ trương nêu cao nhiệm vụ giải phóng dân
tộc và tích cực chuẩn bị lực lượng mọi mặt (từ tháng 9/1939 đến
đầu năm 1945) Liên hệ thực tiễn cách mạng Bình Phước 3 2.1
Thực tiễn Đảng chủ trương nêu cao nhiệm vụ giải phóng dân
tộc và tích cực chuẩn bị lực lượng mọi mặt (từ tháng 9/1939 đến
Phần 3
Kinh nghiệm rút ra từ Đảng chủ trương nêu cao nhiệm vụ giải
phóng dân tộc và tích cực chuẩn bị lực lượng mọi mặt (từ tháng
3.1
Kinh nghiệm rút ra từ Đảng chủ trương nêu cao nhiệm vụ giải
phóng dân tộc và tích cực chuẩn bị lực lượng mọi mặt (từ tháng
3.2 Liên hệ với cương vị công tác (Nhà máy chế biến mủ NghĩaTrung - Cty Cổ phần cao su Sông Bé) 10
Trang 3MỞ ĐẦU
Thời kỳ 1939-1945, có vị trí đặc biệt trong tiến trình cách mạng nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng;đánh dấu sự phát triển trong nhận thức và tư duy lý luận của Đảng về xác định nhiệm vụ chiến lược và chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng,phù hợp với tình hình thực tiễn- được thể hiện qua ba nghị quyết:Nghị quyết Trung ương 6(11/1939), Nghị quyết Trung ương 7(11/1940)
và Nghị quyết Trung ương 8(5/1941)
Cùng với những diễn biến mau lẹ của tình hình trong nước và thế giới đòi hỏi Đảng phải có một quyết sách lớn, bằng một sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược phù hợp, nhận thức đúng tính cấp thiết của nhiệm vụ giải phóng dân tộc Trên cơ sở đó mà giải quyết những vấn đề như đối tượng cách mạng, lực lượng cách mạng, phương pháp tổ chức cách mạng trong giai đoạn hiện tại để thực hiện mục tiêu trước mắt là đấu tranh giành độc lập tự do cho dân tộc Vì “Hoàn cảnh Đông Dương sẽ tiến bước đến vấn đề dân tộc giải phóng” [1, tr.190] Chủ trương chỉ đạo chiến lược, đặt nhiệm vụ chống đế giải phóng dân tộc lên hàng đầu, tạm gác khẩu hiệu “cách mạng ruộng đất” chỉ tịch thu ruộng đất của đế quốc và những địa chủ phản bội quyền lợi dân tộc Chủ trương đó được thông qua ở ba Hội nghị
Ban Chấp hành Trung ương Đảng 6, 7& 8 Do đó, nghiên cứu vấn đề “Đảng chủ
trương nêu cao nhiệm vụ giải phóng dân tộc và tích cực chuẩn bị lực lượng mọi mặt (từ tháng 9/1939 đến đầu năm 1945) Liên hệ thực tiễn cách mạng Bình Phước” làm đề tài tiểu luận có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
Trang 4NỘI DUNG Phần 1 Cơ sở lý luận về Đảng chủ trương nêu cao nhiệm vụ giải phóng dân tộc và tích cực chuẩn bị lực lượng mọi mặt (từ tháng 9/1939 đến đầu năm 1945)
Ngày 1- 9- 1939, Đức tấn công Ba Lan Cuộc chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ và nhanh chóng lan khắp thế giới Ngày 22- 6- 1941, Đức xâm lược Liên
Xô đã làm cho tính chất của cuộc chiến tranh thay đổi Đó là cuộc chiến tranh giữa các lực lượng dân chủ do Liên Xô đứng đầu với các lực lượng phát xít
Chiến tranh thế giới đã tác động mạnh mẽ đến Việt Nam Chính phủ phản động Pháp do phái phát xít nổi lên tiến hành đàn áp các Đảng Cộng sản, các lực lượng tiến bộ ở trong nước và thuộc địa Ở Đông Dương, Thực dân Pháp thi hành chính sách thời chiến hà khắc, khủng bố những người cộng sản và các đoàn thể yêu nước Một số quyền tự do dân chủ vừa giành được thời kỳ
1936-1939 bị gạt bỏ Hàng vạn người bị bắt đi lính, đi phu phục vụ chiến tranh Cán
bộ đảng viên bị bắt giam, tù đày Thực dân Pháp còn thực hiện tăng thuế, kiểm soát gắt gao sản xuất, phân phối sản phẩm, tịch thu tài sản cá nhân , làm cho tất cả các tầng lớp, giai cấp trong xã hội Việt Nam đều bị ảnh hưởng của chính sách phản động của Pháp trừ bọn đại địa chủ, tư sản mại bản - tay sai của Pháp
Ngày 22- 9- 1940, Nhật chiếm Lạng Sơn, Hải Phòng mở màn cho chiến tranh xâm lược Đông Dương Pháp đã nhanh chóng đầu hàng, phải ký với Nhật những hiệp ước mà theo đó Việt Nam vừa trở thành thuộc địa của cả Pháp và Nhật Điều đó đã làm cho đời sống của lực lượng vô sản càng thêm khốn cùng
và làm cho mọi mặt kinh tế, chính trị xã hội Đông Dương càng bị đảo lộn
Sự bùng nổ của chiến tranh thế giới thứ 2 cùng với việc đầu hàng của Pháp và việc Nhật xâm lược Đông Dương đã làm cho cách mạng Việt Nam chuyển sang một thời kỳ mới Cao trào đấu tranh đòi các quyền tự do dân chủ đã chấm dứt Đông Dương từ thuộc địa của Pháp trở thành thuộc địa của Pháp và Nhật Mâu thuẫn chủ yếu nổi lên lúc này là giữa một bên là thực dân Pháp và phát xít Nhật câu kết với bọn đại địa chủ phản động tay sai của chúng với một bên là tất cả các giai cấp, các tầng lớp trong cộng đồng dân tộc Việt Nam đang trong tình trạng “một cổ hai tròng” Độc lập dân tộc và tự do dân chủ trở thành nhu cầu bức thiết của mỗi người dân Việt Nam Lịch sử đặt ra cho Đảng ta phải
có đường lối, chủ trương mới đáp ứng yêu cầu cấp bách của toàn thể dân tộc Việt Nam
Đánh đế quốc và đánh phong kiến là hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đã được Đảng ta xác định ngay từ cương lĩnh đầu tiên, đó là đường lối đúng đắn Tuy nhiên, gắn với tình hình thực tiễn cụ thể của các thời kỳ lịch sử, việc giải quyết mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ này có sự khác nhau, không nhất loạt ngang nhau Từ yêu cầu thực tiễn của lịch sử thời kỳ
1939 - 1945, giải quyết mối quan hệ giữa đánh đế quốc và đánh phong kiến, Đảng ta chủ trương: phải kết chặt chẽ giữa hai nhiệm vụ chiến lược này, nhưng trước mắt đặt nhiệm vụ đánh đế quốc, giải phóng dân tộc lên hàng đầu, coi đó là nhiệm vụ cấp bách, đáp ứng nguyện vọng của mọi tầng lớp nhân dân Nhiệm vụ chống phong kiến được tiến hành dải ra từng bước, thực hiện theo yêu cầu của
Trang 5nhiệm vụ đấu tranh giành chính quyền với những khẩu hiệu như giảm tô, giảm tức, chia ruộng đất công và ruộng đất của bọn phản động cho nông dân nghèo, tiến tới cải cách ruộng đất Chủ trương này thể hiện sự tư duy nhạy bén, sáng tạo, độc lập của Đảng ta và chủ tịch Hồ Chí Minh
Ngay từ khi tìm ra con đường cứu nước cho cách mạng Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã sớm chỉ ra: “chủ nghĩa thực dân không chỉ là kẻ thù của công nông mà còn là kẻ thù của cả dân tộc, nên phải tập trung sức mạnh của toàn dân tộc để đánh giặc Chưa giành được độc lập dân tộc thì không có điều kiện để đi lên chủ nghĩa xã hội, cũng như chưa giành được độc lập dân tộc thì chưa có điều kiện để giải quyết triệt để vấn đề ruộng đất và các vấn đề khác” [4, tr.172] Điều này đã được thể hiện trong cương lĩnh đầu tiên của Đảng trong hội
nghị thành lập Đảng tháng 2 - 1930 Trong chính cương vắn tắt xác định: Ở Việt
Nam, cách mạng dân tộc phải gắn với cách mạng dân chủ, đánh đế quốc phải đồng thời với đánh phong kiến Việc xác định như vậy là trên cơ sở phân tích sâu sắc tính chất xã hội Việt Nam Sau khi thực dân Pháp xâm lược, xã hội Việt Nam trở thành xã hội thuộc địa nửa phong kiến Tính chất xã hội ấy được quy định bởi hai mâu thuẫn cơ bản bên trong đó là: mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược; mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam mà chủ yếu là nông dân với địa chủ phong kiến Hai mâu thuẫn này không tách rời nhau, vì vậy, độc lập dân tộc, dân chủ cho nhân dân, chủ yếu là ruộng đất cho dân cày là hai yêu cầu khách quan, bức thiết của toàn thể dân tộc Việt Nam Muốn giải phóng mình và đưa đất nước phát triển, nhân dân Việt Nam phải đánh
đổ cả hai kẻ thù, giải quyết được cả hai mâu thuẫn và hai yêu cầu khách quan là độc lập dân tộc và dân chủ
Từ nội dung cơ bản trong cương lĩnh đầu tiên của Đảng và qua thực tiễn chỉ đạo hai cao trào cách mạng 1930 - 1931; 1936 - 1939, khi tình thế mới xuất hiện, Đảng ta đã kịp thời đề ra chủ trương mới về giải quyết mối quan hệ giữa đánh đế quốc và đánh phong kiến Nội dung cụ thể của chủ trương đó được thể hiện Nghị quyết trung ương 6 (11 - 1939); Nghị quyết trung ương 7 (11 - 1940); Nghị quyết trung ương 8 (5 - 1941)
Phần 2 Thực tiễn Đảng chủ trương nêu cao nhiệm vụ giải phóng dân tộc và tích cực chuẩn bị lực lượng mọi mặt (từ tháng 9/1939 đến đầu năm 1945) Liên hệ thực tiễn cách mạng Bình Phước
2.1 Thực tiễn Đảng chủ trương nêu cao nhiệm vụ giải phóng dân tộc
và tích cực chuẩn bị lực lượng mọi mặt (từ tháng 9/1939 đến đầu năm 1945)
Nêu cao nhiệm vụ giải phóng dân tộc, đặt vấn đề dân tộc lên hàng đầu, coi đó là nhiệm vụ “chính cốt” của cách mạng ở Đông Dương trong giai đoạn trước mắt, xác định được tính chất cách mạng Đông Dương là cách mạng giải phóng dân tộc chính là sự vận dụng sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác- Lênin về phân tích và giải quyết mâu thuẫn xã hội ở một nước thuộc địa nửa phong kiến Đây là chủ trương đúng đắn, sáng suốt của Đảng, nó vừa phù hợp với thực trạng phân hoá giai cấp ở Việt Nam, vừa tạo điều kiện cho việc thực hiện chủ trương
mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất, tập trung lực lượng chống đế quốc Pháp -Nhật đưa đến thắng lợi của cách mạng tháng Tám [2, tr.310]
Trang 6Nghị quyết trung ương 8 đã thể hiện được tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo và bản lĩnh cách mạng của Đảng, chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc giải quyết mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ đánh đế quốc và đánh phong kiến Khác với phương Tây thường giải quyết vấn đề giai cấp mới giải quyết vấn đề dân tộc thì
ở Việt Nam giải quyết được vấn đề dân tộc mới giải phóng được giai cấp Vì ở Việt Nam, cùng với sự tồn tại của mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh giai cấp còn nổi lên mâu thuẫn dân tộc và đấu tranh dân tộc, giữa toàn thể dân tộc với chủ nghĩa đế quốc và bè lũ tay sai Nghị quyết trung ương 8 đã phản ánh bước trưởng thành vượt bậc của Đảng ta về giải quyết mối quan hệ giữa đánh đế quốc
và đánh phong kiến, khắc phục được bệnh “tả khuynh” trong những năm đầu khi mới thành lập Đảng
Trước khi có Đảng, đã có nhiều lực lượng lãnh đạo nhân dân chống xâm lược Nhưng do hạn chế về mặt giai cấp, chưa có lực lượng nào nhận thức được tính bức thiết của vấn đề ruộng đất cũng như mối quan hệ khăng khít của nó với nhiệm vụ giải phóng dân tộc Do vậy, không lôi kéo được đông đảo nông dân tham gia và đó là một trong những nguyên nhân thất bại
Chủ trương đúng đắn của Đảng về giải quyết mối quan hệ giữa đánh đế quốc và phong kiến thời kỳ 1939 - 1945 là nguyên nhân cơ bản, quyết định nhất dẫn đến thắng lợi của cách mạng tháng 8 - 1945; đồng thời để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu cho Đảng ta tiếp tục vận dụng và phát triển vào tiến trình của cách mạng Việt Nam sau này Mặt khác điều đó góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận Mác - Lênin và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở một nước thuộc địa nửa phong kiến
Trong thời kỳ 1936 - 1939, trên cơ sở khẳng định mục tiêu, nhiệm vụ chiến lược, Đảng đã xác định nhiệm vụ chủ yếu trước mắt là đấu tranh chống bọn thực dân hiếu chiến, bọn phản động thuộc địa Do vậy Đảng đã sử dụng những khẩu hiệu hợp lý để thực hiện mục tiêu chống chiến tranh, bảo vệ hoà bình, đòi tự do, dân chủ Đây chính là sự trưởng thành về nhận thức xác định mục tiêu, nhiệm vụ trước mắt Hạn chế của thời kỳ này là ở chỗ Đảng chưa giải thích được đầy đủ lập trường của mình về vấn đề độc lập dân tộc trong đông đảo quần chúng, chưa nêu được khẩu hiệu thích hợp để phát triển tinh thần dân tộc của nhân dân Một số đồng chí do chưa nhận thức đầy đủ, hợp tác vô nguyên tắc với bọn Tờ rốt kít nên khi Mặt trận bình dân ở Pháp thất bại, chiến tranh thế giới
nổ ra đã dẫn đến phong trào Mặt trận dân chủ ở nước ta cũng bị thực dân Pháp đàn áp
Để thực hiện nhiệm vụ trọng tâm giải phóng các dân tộc Đông Dương khỏi ách thống trị của Pháp - Nhật, Đảng ta đã coi trọng và tập trung xây dựng lực lượng về mọi mặt tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền khi thời cơ đến Hội nghị trung ương 8 khẳng định: “Trước hết tập trung cho được lực lượng toàn cõi Đông Dương, không phân biệt thợ thuyền, dân cày, phú nông, địa chủ, tư bản bản xứ,
cứ có lòng yêu nước thương nòi sẽ cùng nhau thống nhất mặt trận, thu góp toàn lực đem tất cả ra giành độc lập, tự do dân tộc, đánh tan giặc Pháp- Nhật xâm lược nước ta Sự liên minh tất cả lực lượng của các giai cấp, đảng phái, các nhóm cách mạng cứu nước, các tôn giáo, các dân tộc kháng Nhật đó là công việc cốt yếu của
Trang 7Đảng ta” [3, tr.319] Hội nghị cũng đã quyết định một hình thức mặt trận mới thay cho Mặt trận dân chủ Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) được thành lập là thực hiện theo chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược đó
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đồng bào ta đã nhất tề đứng lên giành chính quyền Ngày 19-8-1945, khởi nghĩa đã thắng lợi ở Hà Nội Ngày 23-8 thắng lợi
ở Huế Ngày 25-8 nhân dân Sài Gòn giành thắng lợi Như vậy, chỉ trong một thời gian rất ngắn cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền đã thành công trong
cả nước Ngày 2- 9-1945, chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà, một nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Châu Á
Thắng lợi của cách mạng tháng Tám là một minh chứng hùng hồn, rõ ràng nhất cho đường lối đúng đắn của Đảng trong việc giải quyết mối quan hệ giữa đánh đế quốc và đánh phong kiến trong thời kỳ 1939-1945 Đường lối đúng đắn
đó được đặc biệt thể hiện ở sự dự đoán đúng xu thế phát triển của tình hình, sớm nắm bắt được tình thế và thời cơ cách mạng trên cơ sở phân tích tình hình, đề ra chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược để tập trung mũi nhọn vào kẻ thù chủ yếu và đề ra các sách lược khác đúng, phù hợp, đưa đến sự thắng lợi Điều
mà các Đảng Cộng sản ở các nước như Philippin, Inđônêxia, là những nước có tình thế, thời cơ như của ta không thể làm được Thậm chí Đảng cộng sản Trung Quốc sau này mới nhận ra được Hiểu thấu đáo sự lãnh đạo của Đảng trong việc chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, giải quyết mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ đánh đế quốc và đánh phong kiến trong thời kỳ 1939-1945 cũng là sự phủ nhận các quan điểm cho rằng cách mạng tháng Tám là do “ăn may”, là do khách quan mang lại Thực tế đã chứng minh, thắng lợi của ta là do Đảng có đường lối đúng đắn, từ tư duy độc lập, sáng tạo, có quá trình chỉ đạo khoa học về xây dựng lực lượng, phát động phong trào, tập hợp quần chúng, về tạo thời cơ và nắm thời cơ Thắng lợi của cách mạng tháng Tám và việc giải quyết mối quan hệ giữa đánh đế quốc và đánh phong kiến để lại cho Đảng ta nhiều bài học kinh nghiệm quý báu Đó là phải luôn đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân trong nhìn nhận, xem xét và giải quyết các vấn đề, phải biết kết hợp kiên định về nguyên tắc chiến lược với sự linh hoạt về sách lược trong quá trình lãnh đạo và chỉ đạo cách mạng Đó là bài học về nắm chắc và phân hoá cao độ kẻ thù, về thu phục quần chúng
2.2 Liên hệ thực tiễn cách mạng Bình Phước
Tháng 9-1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ Ở châu Âu, nước Pháp bị cuốn vào vòng chiến Ở Đông Dương, thực dân Pháp ban bố lệnh tổng động viên, tăng cường vơ vét sức người, sức của để phục vụ cho cuộc chiến ở chính quốc; đồng thời “phát xít hóa” bộ máy cai trị, truy lùng, khủng bố các chiến sĩ cộng sản, giải tán các tổ chức ái hữu, nghiệp đoàn Trước tình hình đó, Hội nghị Trung ương lần thứ VI (tại Bà Điểm, Gia Định, đầu tháng 11-1939) và Hội nghị Trung ương lần thứ bảy (tại Đình Bảng, Bắc Ninh, tháng 11-1940) của Đảng Cộng sản Đông Dương đã quyết định chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng, nêu cao nhiệm vụ giải phóng dân tộc, tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, quyết định thành lập Mặt trận Thống nhất dân tộc phản đế Đông
Trang 8Dương, chuẩn bị những điều kiện để tiến tới tổng khởi nghĩa, hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc
Từ tháng 8-1940, thực hiện chủ trương của Xứ ủy Nam Kỳ, Tỉnh ủy Thủ Dầu Một thành lập Ủy ban khởi nghĩa do Hồ Văn Cống - Bí thư Tỉnh ủy phụ trách, đẩy mạnh công tác tổ chức chuẩn bị cho khởi nghĩa Ở tỉnh Biên Hòa, công tác chuẩn bị khởi nghĩa cũng được tiến hành khẩn trương
Tháng 9-1940, phát xít Nhật chính thức nhảy vào Đông Dương, thực dân Pháp buộc phải nhượng bộ Tại Nam Kỳ nói chung, các tỉnh Thủ Dầu Một, Biên Hòa nói riêng, bên cạnh bộ máy chính quyền thực dân còn có thêm lực lượng quân Nhật, trải đóng tại hầu khắp thị xã, các thị trấn và đồn điền cao su… Dưới hai tầng áp bức bóc lột Nhật - Pháp, đời sống nhân dân bị đẩy đến tình cảnh
“một cổ hai tròng”, càng thêm điêu đứng, cùng cực
Ngày 23-11-1940, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra ở hầu khắp các tỉnh miền Nam với ý chí đấu tranh mạnh mẽ, phá tan hệ thống chính quyền địch ở nhiều nơi, lập chính quyền cách mạng Tại Thủ Dầu Một, Biên Hòa, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy và Ban cán sự Đảng, nhân dân một số nơi trong tỉnh đã nhất tề đứng lên, cùng nhân dân toàn Miền hưởng ứng cuộc khởi nghĩa Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ thất bại vì kế hoạch bị lộ nhưng đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu, trong đó có bài học về phương thức bạo lực cách mạng và thời
cơ cách mạng
Sau khởi nghĩa Nam Kỳ, phong trào cách mạng ở các tỉnh Thủ Dầu Một, Biên Hòa được gây dựng lại bởi các hoạt động của những đảng viên kiên trung của Đảng Cộng sản Đông Dương Tại Nhà tù Bà Rá, nơi giam giữ gần 400 quần chúng yêu nước và những người cộng sản, phần lớn bị bắt vì tham gia khởi nghĩa Nam Kỳ đã bí mật liên lạc, thông báo tin tức cho nhau, kiên trì làm công tác binh vận, liên lạc với người nhà để nhận sách báo và tin tức tình hình Ngoài
ra còn có một số cán bộ, đảng viên ở các nơi khác, tìm về các đồn điền cao su ở quận Bà Rá tìm cách hoạt động, móc nối, gây dựng cơ sở
Hoạt động tích cực của các đảng viên tại các đồn điền cao su đã có tác động mạnh đến các cuộc đấu tranh của công nhân Tại đồn điền Lộc Ninh, cuối năm 1942, hàng trăm công nhân các làng 4, 9, 10 đã tiến hành bãi công đòi chủ
sở trả lương đúng hạn, giảm giờ làm việc còn 8 giờ/ngày Thực dân Pháp và chủ sở không đáp ứng yêu cầu của công nhân, nổ súng đàn áp làm gần 10 người chết và bị thương, bắt đi một số công nhân Lúc này tại Lộc Ninh, đồng chí Lê Đức Anh đang hoạt động hợp pháp, lập ra nhóm “công nhân nòng cốt” để củng
cố và phát triển các cuộc đấu tranh của công nhân đồn điền
Ở trại giam Bà Rá, mặc dù trong hoàn cảnh tù đày, các chiến sĩ cách mạng, đảng viên kiên trung vẫn nhiều lần đấu tranh đòi cải thiện đời sống, yêu cầu có thuốc trị bệnh… Chi bộ Đảng ở đây cũng tích cực chuẩn bị gạo, muối… sẵn sàng cho cuộc vượt ngục khi có thời cơ
Giữa năm 1944, thực hiện chủ trương của Xứ ủy đẩy mạnh việc thành lập Mặt trận Việt Minh ở các địa phương, Tỉnh ủy Thủ Dầu Một - do Bí thư Văn Công Khai - trực tiếp chỉ đạo thực hiện việc thành lập Mặt trận Việt Minh của tỉnh và các địa phương theo phương châm: nơi nào đã phục hồi cơ sở Đảng thì
Trang 9tổ chức các hội cứu quốc (Hội Công nhân cứu quốc, Hội Nông dân cứu quốc, Hội Thanh niên cứu quốc, Hội Phụ nữ cứu quốc…), từ đó phát triển ra các nơi khác Đến đầu năm 1945, các hội cứu quốc lần lượt ra đời ở nhiều nơi trong tỉnh Thủ Dầu Một, trong đó có các sở cao su Quản Lợi, Lộc Ninh… (thuộc quận Hớn Quản) Sau khi ra đời, hội viên các hội cứu quốc tích cực vận động đồng bào tham gia Hội để đoàn kết đấu tranh chống thực dân Pháp, phát xít Nhật, chuẩn bị giành chính quyền khi thời cơ đến
Thực hiện chủ trương của Trung ương và quan điểm của Tỉnh ủy, tại Thủ Dầu Một các Hội Công nhân cứu quốc được tổ chức và bí mật hoạt động từ năm
1944, nay chuyển sang hình thức sinh hoạt công khai ở các đồn điền do đảng viên tại chỗ lãnh đạo Hội Công nhân cứu quốc kết hợp với các tổ chức công khai như Hội hát chèo, Hội ca cải lương, Hội đá banh… nhằm tuyên truyền chuẩn bị khởi nghĩa trong các làng công nhân và nông dân Ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tuy chưa có Hội cứu quốc, nhưng nhờ uy thế mạnh mẽ của Hội Công nhân cứu quốc và Thanh niên tiền phong ở các đồn điền, nên bọn hội tề ngày càng hoang mang rệu rã
Tại Thủ Dầu Một, thực hiện chủ trương của Trung ương và Xứ ủy Nam
Kỳ về Tổng khởi nghĩa giành chính quyền, đồng chí Văn Công Khai - Bí thư Tỉnh ủy tổ chức ngay cuộc họp Tỉnh ủy mở rộng Hội nghị quyết định: thành lập
Ủy ban khởi nghĩa của tỉnh do đồng chí Văn Công Khai phụ trách; các cơ sở đảng, Hội cứu quốc trong toàn tỉnh lập ngay Ủy ban khởi nghĩa ở các địa phương; lấy ngày 25-8-1945 làm ngày tổng khởi nghĩa giành chính quyền tại thị xã; các thị trấn, đồn điền cao su đồng loạt hưởng ứng khởi nghĩa; khẳng định quyết tâm dù tình thế khó khăn thế nào cũng nhất định giành được chính quyền Tại Biên Hòa, ngày 23-8-1945, các đảng viên tổ chức cuộc họp bàn kế hoạch khởi nghĩa, thành lập Ủy ban khởi nghĩa do đồng chí Hoàng Minh Châu phụ trách
Tại Lộc Ninh, ngày 24-8-1945, đội tự vệ do đồng chí Lê Đức Anh chỉ huy cùng với hàng ngàn công nhân cao su và quần chúng tiến vào thị trấn cướp chính quyền Quân Nhật nổ súng chống cự nhưng chỉ sau 15 phút chiến đấu, đội
tự vệ đã tiêu diệt 18 tên Nhật, thu 40 súng, buộc chúng phải xin hàng Lộc Ninh
là một trong những địa phương giành được chính quyền sớm nhất trong tỉnh Thủ Dầu Một Tại các địa phương khác trong quận Hớn Quản, Bà Rá tuy các phong trào cứu quốc mới hình thành, mối liên lạc với Ủy ban khởi nghĩa Thủ Dầu Một, Biên Hòa gặp nhiều khó khăn, nhưng các lực lượng cách mạng cũng nhanh chóng làm chủ tình hình Cùng ngày, tại Bù Đốp, nhân dân bao vây đánh địch thu được một kho súng… Tại hầu khắp các địa phương ở phía bắc Thủ Dầu Một, Biên Hòa, quân đội Nhật ở các đồn bót đều tê liệt, một số sĩ quan hung hăng cho lính ngăn cản hoạt động của các đội tự vệ đều nhanh chóng bị tiêu diệt Ngay trong đêm 24-8, lực lượng cách mạng từ các làng của quận Hớn Quản cử hai đoàn gồm 100 công nhân đồn điền Lộc Ninh - Quản Lợi và 50 đồng bào người dân tộc thiểu số trang bị khoảng 30 - 40 khẩu súng kéo về thị xã Thủ Dầu Một tham gia cướp chính quyền ở tỉnh
Tại quận lỵ Hớn Quản (Bình Long), sáng 25-8-1945 công nhân và nhân dân các đồn điền Quản Lợi, Xa Cam, Xa Trạch… tổ chức mít tinh rồi chuyển
Trang 10thành biểu tình có vũ trang chiếm nơi làm việc của giới chủ, giành quyền làm chủ đồn điền Trước sức mạnh của quần chúng cách mạng, hầu hết chủ đồn điền
và chỉ huy Nhật đều giao lại nhà xưởng, kho tàng, máy móc, đồn điền cho nhân dân Sau khi giành quyền quản lý các đồn điền, quần chúng tiếp tục kéo về chợ Hớn Quản tổ chức mít tinh biểu dương lực lượng, sau đó giành chính quyền ở quận lỵ
Ở Bà Rá (Phước Long), quân Nhật co cụm lại, không dám có hành động gì, chờ quân Đồng minh đến để giao nộp vũ khí Một số tên ác ôn như Cai tổng Đinh bị quần chúng hạ uy thế, chỉ trốn ở nhà, không dám có phản ứng gì
Trong các vùng có đông đồng bào dân tộc thiếu số, các tổ chức Hội cứu quốc, Thanh niên Tiền phong và công nhân các đồn điền Lộc Ninh, Quản Lợi, Thuận Lợi… đã làm nòng cốt, hỗ trợ cho đồng bào đứng lên giành chính quyền.Tại thị xã Thủ Dầu Một, rạng sáng ngày 25 tháng 8 hàng chục ngàn đồng bào các nơi trong tỉnh kéo về thị xã Đến 7 giờ sáng, một cuộc biểu tình lớn được tổ chức trước dinh tỉnh trưởng
Với thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng - với tinh thần đấu tranh anh dũng bất khuất, đã cùng quân, dân cả nước vùng lên đập tan ách thống trị của thực dân, phát xít, giải phóng quê hương, giành quyền làm chủ Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Bình Phước là kết quả của cuộc đấu tranh kiên cường, thể hiện khát vọng tự do của toàn thể quần chúng nhân dân trong tỉnh Cũng từ thực tiễn đấu tranh cách mạng, nhân dân yêu nước, đảng viên và các tổ chức đảng đã được trưởng thành hơn trong đấu tranh và lãnh đạo cách mạng, vững bước tiến vào giai đoạn lịch
sử mới với quyết tâm và tinh thần cách mạng cao nhất
Phần 3 Kinh nghiệm rút ra từ Đảng chủ trương nêu cao nhiệm vụ giải phóng dân tộc và tích cực chuẩn bị lực lượng mọi mặt (từ tháng 9/1939 đến đầu năm 1945)
3.1 Kinh nghiệm rút ra từ Đảng chủ trương nêu cao nhiệm vụ giải phóng dân tộc và tích cực chuẩn bị lực lượng mọi mặt (từ tháng 9/1939 đến đầu năm 1945)
Ngày 02/09/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á Đánh dấu bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng nước ta Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám có nhiều nguyên nhân nhưng trong đó trước hết và trực tiếp là chủ trương kết hợp đúng đắn nhiệm vụ chống đế quốc
và chống phong kiến; nêu cao nhiệm vụ chống đế quốc tay sai giải phóng dân tộc lên hàng đầu trong thời kỳ 1939 - 1945 của Đảng
Chủ trương nêu cao nhiệm vụ giải phóng dân tộc, đặt nhiệm vụ đánh đế quốc là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong thời kỳ 1939 - 1945 của Đảng không chỉ đúng với thực tiễn tình hình cách mạng thế giới, thực tiễn Việt Nam
mà đó cũng là thể hiện sự trung thành và vận dụng sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh Việt Nam của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh
Trước hết, ta thấy chủ trương của Đảng phù hợp với lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin về sứ mệnh của giai cấp vô sản, giai cấp vô sản có sứ mệnh lật đổ