1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cưỡng chế kê biên xử lý tài sản là qsdđ và tài sản gắn liền trên đất thực trạng và một số kiến nghị

33 56 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 748,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những tồn tại trong công tác cưỡng chế kê biên xử lý quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Kon Tum .... Để thực thi các Bản án, quyết đị

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU TẠI KON TUM

LẠI NGỌC PHƢỢNG BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

CƢỠNG CHẾ KÊ BIÊN XỬ LÝ TÀI SẢN LÀ QSDĐ

VÀ TÀI SẢN GẮN LIỀN TRÊN ĐẤT –

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

Kon Tum, tháng 12 năm 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU TẠI KON TUM

BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

CƢỠNG CHẾ KÊ BIÊN XỬ LÝ TÀI SẢN LÀ QSDĐ

VÀ TÀI SẢN GẮN LIỀN TRÊN ĐẤT –

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

SINH VIÊN THỰC HIỆN : LẠI NGỌC PHƢỢNG

LỚP : K612 LHV

MSSV :

Kon Tum, tháng 12 năm 2016

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC SƠ ĐỒ……… iii

MỞ ĐẦU 1

1.Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Kết cấu của đề tài 2

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CHI CỤC THI HÀNH ÁN THÀNH PHỐ KON TUM 4

1.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CHI CỤC THI HÀNH ÁN THÀNH PHỐ KON TUM 4

1.1.1.Vị trí địa lý, lịch sử hình thành Chi cục thi hành án thành phố Kon Tum 4

1.1.2.Cơ cấu tổ chức của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Kon Tum 5

1.2 CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA CHI CỤC THI HÀNH ÁN 7

1.2.1.Chức năng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Kon Tum 7

1.2.2.Nhiệm vụ của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Kon Tum 7

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CƯỠNG CHẾ KÊ BIÊN, XỬ LÝ TÀI SẢN LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT 9

2.1 CƯỠNG CHẾ KÊ BIÊN TÀI SẢN 9

2.1.1 Cưỡng chế kê biên tài sản là quyền sử dụng đất 10

2.1.2 Cưỡng chế kê biên tài sản gắn liền với đất 11

2.2 XỬ LÝ TÀI SẢN THI HÀNH ÁN 12

2.2.1 Xử lý quyền xử dụng đất 12

2.2.2 Xử lý tài sản gắn liền với đất 15

CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN CÔNG TÁC CƯỠNG CHẾ KÊ BIÊN, XỬ LÝ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ TÀI SẢN GẮN LIỀN TRÊN ĐẤT TẠI CHI CỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ THÀNH PHỐ KON TUM, MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 17

3.1 THỰC TIỄN CÔNG TÁC CƯỠNG CHẾ KÊ BIÊN, XỬ LÝ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ TÀI SẢN GẮN LIỀN TRÊN ĐẤT TẠI CHI CỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ THÀNH PHỐ KON TUM 17

3.1.1 Thực tiễn công tác cưỡng chế kê biên xử lý quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Kon Tum 17

3.1.2 Những tồn tại trong công tác cưỡng chế kê biên xử lý quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Kon Tum 18

3.2 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC CƯỠNG CHẾ KÊ BIÊN, XỬ LÝ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT CỦA CHI CỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ THÀNH PHỐ KON TUM 21

3.2.1 Nguyên nhân của các bất cập trong công tác cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản 21

3.2.2 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác cưỡng chế kê biên xử lý tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất 23

Trang 4

KẾT LUẬN 26 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

NHẬN XÉT CỦA ĐƠN VỊ THỰC TẬP

Trang 5

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1.1 Tổ chức bộ máy tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố

Kon Tum

6

Trang 6

MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài

Hoạt động thi hành án dân sự là hoạt động thực thi phán quyết của Tòa án liên quan đến các vấn đề về tài sản và nhân thân, trong các Bản án hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính, hôn nhân và gia đình có thể nói hoạt động thi hành án dân sự là giai đoạn cuối cùng của hoạt động tố tụng Để Bản án, quyết định của Tòa án được thực thi trên thực tế, công tác Thi hành án dân sự đóng vai trò rất quan trọng, đặc biệt trong điều kiện kinh tế, xã hội phát triển, các hoạt động sản xuất, kinh doanh, thương mại diễn ra ở hầu hết các lĩnh vực như hiện nay, các tranh chấp dân sự, kinh tế, lao động, thương mại ngày càng gia tăng, tính chất vụ việc phức tạp, gây nhiều khó khăn cho hoạt động thi hành án dân sự Đối tượng liên quan đến Thi hành án dân sự là tài sản, nhân thân, trong

đó tài sản là đối tượng Chấp hành viên gặp thường xuyên nhất, có tài sản vô hình, tài sản hữu hình, tài sản cố định và tài sản có thể dịch chuyển được; tài sản có thể ở nhiều địa bàn, nhiều địa phương khác nhau; tài sản có tài sản thuộc sở hữu chung, tài sản thuộc sở hữu riêng; có loại tài sản phân chia được, có loại tài sản không thể phân chia, tồn tại ở nhiều hình thức khác nhau

Để thực thi các Bản án, quyết định nêu trên thì trong quá trình tác nghiệp của mình Chấp hành viên không chỉ động viên, thuyết phục đương sự tự nguyện thi hành án, mà trong nhiều trường hợp cần phải áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án mới có thể thi hành xong được và một trong những biện pháp đó là kê biên, xử lý tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất của người phải thi hành án

Trong Thi hành án dân sự, cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất chính là công cụ hữu hiệu và là một trong những biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất thường được Chấp hành viên lựa chọn áp dụng nhằm thi hành các nghĩa vụ trả tiền của người phải thi hành án theo Bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền

Nó là biện pháp cưỡng chế có vai trò quan trọng trong việc khôi phục, bảo vệ các quyền và lợi ích trong xã hội bị xâm phạm, góp phần đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và Nhà nước Do đó, các quy định về cưỡng chế thi hành án nói chung được quy định

cụ thể, chặt chẽ và đầy đủ hơn trong các văn bản quy phạm pháp luật Đặc biệt trong Luật thi hành án dân sự 2008, được sửa đổi bổ sung năm 2014 (sau đây gọi chung là Luật thi hành án dân sự) Nó tháo gỡ kịp thời một số tồn tại, vướng mắc trong công tác kê biên, xử lý tài sản

là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất và các vấn đề khác trong Thi hành án dân sự

mà các văn bản quy phạm pháp luật về thi hành án trước đó mắc phải

Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng Luật thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn vào công tác kê biên, xử lý tài sản là quyền sử dụng đất cũng như xử lý tài sản trên đất để thi hành án, cho thấy còn gặp phải những khó khăn, vướng mắc mới Đó là một trong những nguyên nhân làm cho số lượng việc thi hành án dân sự trong cả nước hiện nay còn tồn đọng rất cao

Trang 7

Nguyên nhân của thực trạng trên là do quy định của Luật và văn bản hướng dẫn vẫn còn nhiều điểm chưa phù hợp, còn nhiều bất cập, vướng mắc Nhất là thủ tục thực hiện kê biên, xử lý tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất, cơ chế về định giá lại, quy định về thủ tục về bán đấu giá quyền sử dụng đất đã kê biên còn chưa được đầy đủ

và chưa thực sự hợp lý Mặc khác do Luật thi hành án dân sự và một số văn bản khác quy định chưa đồng bộ và thống nhất

Trước tình hình trên, cần có một giải pháp cụ thể, hiệu quả nhất nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trên một cách triệt để, góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật về cưỡng chế nói chung, cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản là quyền sử dụng đất

và tài sản gắn liền trên đất nói riêng Từ đó có thể giải quyết dứt điểm lượng lớn án tồn đọng trong những năm qua, giúp tăng cường hiệu quả hơn trong công tác Thi hành án dân

sự của nước ta hiện nay và sắp tới

Từ những thực trạng trên bản thân chọn đề tài “Cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản là

quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất của người phải thi hành án tại Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Kon Tum: Thực trạng và một số kiến nghị” để nghiên

cứu

2 Mục tiêu nghiên cứu

Làm rõ những cơ sở lý luận về biện pháp kê biên, xử lý tài sản là quyền sử dụng đất

và tài sản trên đất của người phải thi hành án Bên cạnh đó, đánh giá một cách toàn diện

về thực trạng pháp luật về kê biên quyền sử dụng đất và các quy định liên quan đến xử lý tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất bị kê biên, từ đó phân tích nguyên nhân của thực trạng còn tồn đọng, nhằm đưa ra những giải pháp cụ thể và thiết thực nhất nhằm nâng cao hiệu quả công tác thi hành án nói chung, kê biên, xử lý tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắng liền trên đất của người phải thi hành án nói riêng

3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài

Đề tài phân tích một số khó khăn vướng mắc trong công tác tổ chức cưỡng chế thi hành án và việc phối hợp cưỡng chế thi hành án dân sự tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Kon Tum Từ đó, thấy được những bất cập, vướng mắc đã và đang tồn tại trong công tác cưỡng chế thi hành án dân sự để đưa ra bài học kinh nghiệm và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về công tác cưỡng chế thi hành án dân sự

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu chuyên đề Tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu: Phân tích, loogic pháp lí được sử dụng trong chương 2 và chương 3; tổng hợp và lịch sử được sử dụng trong chương 1 nhằm làm rõ những nhận định được đưa ra trong chuyên

đề

5 Kết cấu của đề tài

Đề tài nghiên cứu được chia làm 3 chương

Chương 1: Tổng quan về Chi cục thi hành án dân sự thành phố Kon Tum

Chương 2: Quy định của pháp luật về cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất

Trang 8

Chương 3: Thực tiễn công tác cưỡng chế kê biên, xử lý quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Kon Tum, một số kiến nghị

Trang 9

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CHI CỤC THI HÀNH ÁN THÀNH PHỐ KON TUM

TUM

1.1.1 Vị trí địa lý, lịch sử hình thành Chi cục thi hành án thành phố Kon Tum

* Giai đoạn trước năm 1993

Trong giai đoạn này công tác thi hành án dân sự do Tòa án nhân dân các cấp đảm nhiệm Tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa IX, ngày 06/10/1992 đã ban hành Nghị Quyết

về việc bàn giao công tác thi hành án dân sự từ Tòa án nhân dân các cấp sang các cơ quan thuộc Chính Phủ, đồng thời Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993 được ban hành tạo cơ

sở pháp lý cho việc xây dựng hệ thống tổ chức các cơ quan thi hành án dân sự trong toàn quốc

* Giai đoạn từ 1993 đến năm 2009

Cùng với các địa phương khác trong cả nước, tháng 7 năm 1993 các cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Kon Tum được thành lập Ở cấp tỉnh có tên gọi là Phòng Thi hành án thuộc Sở Tư pháp và ở cấp huyện là Đội thi hành án thuộc Phòng Tư pháp

Khi mới được thành lập theo Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993, cả tỉnh có Phòng Thi hành án tỉnh và 5 Đội thi hành án các huyện, thị xã với 09 cán bộ, công chức, trong đó có 4 Chấp hành viên Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ, công chức khi mới thành lập còn rất hạn chế: 06 trung cấp, 01 sơ cấp, 02 chưa qua đào tạo, tình trạng thiếu Chấp hành viên và cán bộ Thi hành án chưa đủ tiêu chuẩn theo tiêu chuẩn theo quy định là vấn đề khó khăn nhất đối với công tác tổ chức cán bộ vào thời điển này

Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1993 là cơ sở pháp lý quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự Tuy nhiên, qua 10 năm áp dụng, cũng đã bộc lộ nhiều hạn chế, không còn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội của đất nước và nhiệm vụ chung của ngành Vì vậy, ngày 14/01/2004, Ủy ban Thường vụ Quốc Hội đã thông qua Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 trên cơ sở kế thừa, sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993 Theo Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004, Phòng Thi hành án và Đội Thi hành án không còn chịu sự quản lý trực tiếp của Sở Tư pháp và Phòng Tư pháp nữa, đồng thời đổi tên gọi là Thi hành án dân sự cấp tỉnh và Thi hành án dân sự cấp huyện Tuy nhiên, Giám đốc Sở Tư pháp vẫn có thẩm quyền quản lý một số mặt công tác tổ chức, cán bộ của Thi hành án dân sự địa phương theo ủy quyền của Bộ trưởng Bộ Tư pháp tại Quyết định số 1148/2005/QĐ-BTP ngày 18/5/2005

Đến năm 2004, toàn ngành Thi hành án dân sự tỉnh Kon Tum có Thi hành án dân sự tỉnh và 09 đơn vị Thi hành án dân sự huyện, thị với số lượng chấp hành viên trong toàn tỉnh là 27 chấp hành viên

* Giai đoạn từ năm 2009 đến nay

Nhằm tiếp tục đưa chủ trương, đường lối của Đảng về cải cách tư pháp trong lĩnh vực Thi hành án dân sự vào thực tiễn cuộc sống, ngày 14/11/2008, Quốc Hội khóa XII đã thông qua Luật Thi hành án dân sự và Nghị quyết số 24/2008/QH12 về triển khai thi

Trang 10

hành Luật này Thực hiện Luật và Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 74/2009/NĐ-CP, ngày 09/9/2009 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự về cơ quan quản lý Thi hành án dân sự, cơ quan Thi hành án dân sự và công chức làm công tác Thi hành án dân sự; Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 01/11/2009 Theo đó, hệ thống các cơ quan Thi hành án dân sự được tổ chức và quản lý tập trung thống nhất theo ngành dọc từ Trung ương đến địa phương Ở Trung ương có Tổng cục Thi hành án dân sự trực thuộc Bộ Tư pháp Ở địa phương cơ quan Thi hành án dân sự cấp tỉnh trước đây được nâng lên thành Cục Thi hành án dân sự trực thuộc Tổng cục Thi hành án dân sự - Bộ Tư pháp; Cơ quan Thi hành án dân sự cấp huyện trước đây được nâng lên thành Chi cục Thi hành án dân sự huyện trực thuộc Cục Thi hành án dân sự tỉnh

Ngày 06/11/2009, Bộ Trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Quyết định số BTP thành lập Cục Thi hành dân sự tỉnh Kon Tum trên cơ sở cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Kon Tum; cùng ngày Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành các Quyết định từ số 2907/QĐ-BTP đến 2915/QĐ-BTP thành lập Chi cục Thi hành án dân sự các huyện, thành phố tỉnh Kon Tum trên cơ sở các cơ quan Thi hành án dân sự các huyện, thành phố tỉnh Kon Tum Khi nhận bàn giao công tác thi hành án dân sự từ Tòa án nhân dân các cấp sang, cơ sở vật chất Cơ quan thi hành án dân sự Thành phố Kon Tum hầu như không có

2906/QĐ-gì đáng kể, không có trụ sở làm việc, không có phương tiện đi lại, về trang thiết bị phục

vụ trực tiếp cho hoạt động thi hành án thì vừa thiếu lại vừa cũ kỹ lạc hậu Sau 22 năm hoạt động, được sự quan tâm của Bộ Tư pháp, Tổng cục thi hành án dân sự, Cục thi hành

án dân sự tỉnh Kon Tum và cấp ủy, chính quyền địa phương, đến nay Cơ quan thi hành

án dân sự Thành phố Kon Tum đã được trang bị một khối lượng tài sản khá lớn: Bộ Tư pháp cấp kinh phí xây dựng trụ sở làm việc.Về trang thiết bị phục vụ công tác, nhìn chung đã phần nào ổn định, cụ thể như: xe ô tô, xe máy đi lại, các trang thiết bị máy móc

đã được trang bị đầy đủ bàn, ghế làm việc, tủ đựng hồ sơ, tài liệu, két bạc, máy vi tính, máy Photocopy cũng được trang bị tương đối đầy đủ đảm bảo phục vụ cho việc hoạt động của cơ quan thi hành án được thuận lợi Ngoài ra, Bộ Tư pháp và Tổng Cục thi hành án cũng đang chuẩn bị đầu tư xây dựng trụ sở làm việc mới cho Thi hành án dân sự tỉnh và chi cục Thi hành dân sự thành phố Kon Tum, đến nay dự án đầu tư xây dựng sắp được đưa vào đầu tư, xây dựng

Chính phủ và các cấp chính quyền địa phương đã xác định đúng vai trò và tầm quan trọng của công tác thi hành án dân sự, luôn quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi cho

Cơ quan thi hành án dân sự Thành phố Kon Tum cả về kinh phí, phương tiện, cơ sở vật chất, trang thiết bị, biên chế, nhằm kiện toàn cơ quan thi hành án dân sự, bảo đảm để các

cơ quan này hoạt động và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao

Chi cục thi hành án dân sự thành phố Kon Tum là cơ quan trực thuộc Cục thi hành

án dân sự tỉnh Kon Tum được thành lập từ tháng 7 năm 1993, trong những năm đầu mới được thành lập đã gặp rất nhiều khó khăn về công tác tổ chức cán bộ, cơ sở vật chất,

Trang 11

phương tiện làm việc Qua 22 năm tổ chức và hoạt động, được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương, của Bộ Tư pháp cũng như được sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan hữu quan, đến nay Cơ quan thi hành án dân

sự Thành phố kon tum đã từng bước được cũng cố, kiện toàn về tổ chức bộ máy Được

bổ sung về cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc và đi vào hoạt động ổn định với hiệu quả công tác ngày càng được nâng lên Các vụ việc có điều kiện thi hành được Cơ quan thi hành án dân sự Thành phố Kon Tum thi hành kịp thời, đúng quy định của pháp luật bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho người được thi hành án, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn

Chi cục thi hành án dân sự thành phố Kon Tum là đơn vị nằm ở địa bàn trung tâm của tỉnh, trung tâm của sự phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa , xã hội Đồng thời cũng là nơi phát sinh nhiều tranh chấp trong các lĩnh vực như: kinh tế, dân sự, đất đai, hôn nhân gia đình… Do đó, trong thời gian qua số lượng án thụ lý mới không ngừng gia tăng và có tính chất khó khăn, phức tạp

Hiện nay, Chi cục thi hành án dân sự thành phố Kon Tum đã từng bước kiện toàn tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thi hành án dân sự đủ về số lượng, bảo đảm về chất lượng Đơn vị có 17 biên chế và 04 hợp đồng lao động theo nghị đinh

68, trong đó có 01 Chi cục trưởng; 02 Phó chi cục trưởng; 07 Chấp hành viên sơ cấp; 01 Thẩm tra viên; 04 Thư ký thi hành án; 02 Kế toán

Chi cục trưởng phụ trách chung toàn đơn vị, 02 phó Chi cục trường phụ trách 2 bộ phận:

- Bộ phận văn phòng ( tiếp dân, kế toán, thủ quỹ, văn thư, bảo vệ, lái xe, tạp vụ);

- Bộ phận nghiệp vụ ( Chấp hành viên, thư ký);

Sơ đồ 1.1 Tổ chức bộ máy tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Kon Tum

CHI CỤC TRƯỞNG

PHÓ CHI CỤC TRƯỞNG

Lưu trữ

Tiếp dân

Nghiệp vụ Văn phòng

PHÓ CHI CỤC TRƯỞNG

Trang 12

Ghi chú: Quan hệ chỉ đạo, điều hành

Quan hệ phối hợp

1.2 CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA CHI CỤC THI HÀNH ÁN

Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Kon Tum là cơ quan trực thuộc Cục Thi hành

án dân sự tỉnh Kon Tum, thực hiện chức năng thi hành án dân sự và thực hiện các nhiệm

vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật

1.2.2 Nhiệm vụ của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Kon Tum

Theo quy định của Điều 16 Luật Thi hành án dân sự, Chi cục thi hành án dân sự thành phố Kon Tum có các nhiệm vụ sau:

Một là, trực tiếp tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án

Chi cục thi hành án dân sự thành phố Kon Tum có thẩm quyền thi hành các bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum; bản án, quyết định phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum đối với bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum; quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án nhân dân cấp cao đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum và tình Kon Tum; bản án, quyết định do cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện nơi khác, cấp tỉnh hoặc cấp quân khu ủy thác (theo khoản 1 Điều 35 Luật Thi hành

án dân sự)

Hai là, thực hiện tốt công tác tiếp công dân, giải quyết kịp thời, đúng quy định đối với các khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự thuộc thẩm quyền

Theo khoản 1 Điều 142 Luật thi hành án dân sự, Chi cục trưởng Chi cục Thi hành

án dân sự thành phố Kon Tum giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi trái pháp luật của Chấp hành viên chi cục thi hành án dân sự thành phố Kon Tum

Theo Điều 154, 157, 158 Luật thi hành án dân sự, Chi cục trưởng Chi cục Thi hành

án dân sự thành phố Kon Tum có trách nhiệm giải quyết việc tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của Chấp hành viên và công chức khác làm công tác thi hành án dân sự gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức

Ba là, thực hiện quản lý công chức, cơ sở vật chất, kinh phí và phương tiện hoạt

động được giao theo hướng dẫn, chỉ đạo của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kon Tum;

Bốn là, thực hiện thống kê, báo cáo công tác tổ chức, hoạt động thi hành án theo

quy định của pháp luật và hướng dẫn của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kon Tum;

Năm là, lập hồ sơ đề nghị xét miễn giảm, nghĩa vụ thi hành án dân sự

Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Kon Tum lập hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum xem xét miễn, giảm thi hành án đối với các khoản thu nộp ngân sách cho nhà nước gồm: tiền phạt, tiền truy thu, tài sản thu lợi bất chính, án phí, lệ phí của Tòa

án, tịch thu sung quỹ nhà nước, các khoản thu nộp khác cho ngân sách nhà nước được xác định trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, lãi chậm thi hành

án đối với các khoản được miễn, giảm (Theo điều 61 và Thông tư liên tịch số

Trang 13

12/2015/TTLT-BTP-BTC-TANDTC-VKSNDTC ngày 15/9/2015 v/v hưỡng dẫn việc miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với các khoản thu, nộp ngân sách nhà nước); định kỳ Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Kon Tum phối hợp với cơ quan công an trong việc lập hồ sơ đề nghị xét miễn giảm chấp hành xong hình phạt tù và đặc xá cho người có nghĩa vụ thi hành án dân sự đang chấp hành hình phạt tù

Sáu là, giúp Ủy ban nhân dân thành phố Kon Tum thực hiện chỉ đạo việc tổ chức

phối hợp các cơ quan có liên quan trong thi hành án dân sự trên địa bàn, giải quyết kịp thời những vướng mắc, phát sinh trong việc phối hợp giữa các cơ quan có liên quan trong thi hành án dân sự; chỉ đạo việc tổ chức cưỡng chế, thi hành các vụ án lớn, phức tạp, có ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa bàn thành phố Kon Tum (

theo Khoản 1, 2 Điều 174 Luật thi hành án dân sự)

Bảy là, báo cáo công tác thi hành án dân sự trước Hội đồng nhân dân và Ủy ban

nhân dân theo đúng quy định pháp luật; báo cáo Tòa án nhân dân về kết quả thi hành bản

án, quyết định khi có yêu cầu

Trang 14

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CƯỠNG CHẾ KÊ BIÊN, XỬ LÝ TÀI SẢN LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT 2.1 CƯỠNG CHẾ KÊ BIÊN TÀI SẢN

Cưỡng chế Thi hành án dân sự là biện pháp cưỡng chế bắt buộc của cơ quan Thi hành án thực hiện quyền lực Nhà nước, do Chấp hành viên quyết định theo thẩm quyền quy định nhằm buộc đương sự (người phải thi hành án) phải thực hiện những hành vi hoặc nghĩa vụ về tài sản theo Bản án, quyết định của Tòa án Biện pháp cưỡng chế được

áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành trong thời hạn do Chấp hành viên ấn định, hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án tầu tán, hủy hoại tài sản Cưỡng chế thi hành án dân sự

là biện pháp thi hành án cuối cùng khi sự tự nguyện không còn hiệu quả, nhằm đảm bảo các Bản án, quyết định dân sự có hiệu lực pháp luật phải được thi hành

* Đặc điểm của biện pháp cưỡng chế

Cưỡng chế thi hành án dân sự là biện pháp cưỡng bức bắt buộc mang tính quyền lực Nhà nước nhằm đảm bảo các Bản án, quyết định của tòa án và các quyết định khác theo quy định của pháp luật đã có hiệu lực pháp luật được thi hành trên thực tế

Cưỡng chế thi hành án được thực hiện bởi Chấp hành viên theo trình tự thủ tục nhất định Cưỡng chế thi hành án là biện pháp được áp dụng khi đã hết thời gian do Chấp hành viên ấn định mà người phải thi hành án không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ của mình hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản

Với các đặc điểm trên đã thể hiện được một phần tính chất cũng như vai trò của biện pháp cưỡng chế trong công tác Thi hành án dân sự Đó là một trong những biện pháp thi hành án quan trọng và hữu hiệu nhất, góp phần vào sự thành công trong giải quyết vụ việc thi hành án nói riêng và trong hoạt động Thi hành án dân sự nói chung

* Các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự

Trong Thi hành án dân sự về nguyên tắc người phải thi hành án sẽ có một thời gian nhất định để tự nguyện thi hành mà không bị áp dụng biện pháp cưỡng chế ngay Quy định này chính là nhằm khuyến khích ý thức tự giác chấp hành pháp luật của đương sự, nhằm duy trì mối quan hệ, thiện trí trong xã hội Chỉ khi nào người phải thi hành án không tự nguyện và việc động viên, thuyết phục không hiệu quả Chấp hành viên mới ra Quyết định cưỡng chế (trừ trường hợp cần ngăn chặn hành vi tẩu tán tài sản) Và tùy vào từng trường hợp cụ thể mà Chấp hành viên có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án sau đây:

1 Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án

2 Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án

3 Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ

Trang 15

4 Khai thác tài sản của người phải thi hành án

5 Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ

6 Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định.”

Mỗi biện pháp mang đặc điểm và điều kiện áp dụng riêng khác nhau Căn cứ nghĩa

vụ và điều kiện của người phải thi hành án, tình hình thực tế tại địa phương mà Chấp hành viên lựa chọn và áp dụng biện pháp cưỡng chế sao cho phù hợp và hiệu quả nhất

* Nguyên tắc áp dụng biện pháp cưỡng chế

Trong quá trình thi hành án tùy vào từng trường hợp cụ thể Chấp hành viên có thể lựa chọn một biện pháp thi hành án theo quyết định của mình, tuy nhiên vẫn phải đảm bảo tuân thủ theo các quy tắc sau:

Thứ nhất: Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế phải tương ứng với nghĩa vụ của người phải thi hành án và các chi phí cần thiết bằng các biện pháp do luật định

Thứ hai: Căn cứ vào nội dung Bản án, quyết định; tính chất, mức độ của nghĩa vụ thi hành án; điều kiện của người phải thi hành án; đề nghị của đương sự và tình hình thực tế ở địa phương để áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án thích hợp

Thứ ba: Chỉ được áp dụng biện pháp cưỡng chế sau khi đã hết thời hạn tự nguyện thi hành án Tuy nhiên trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, huỷ hoại tài sản hoặc trốn tránh việc thi hành án thì Chấp hành viên có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế ngay

Thứ tư: Không được tổ chức cưỡng chế trong các ngày nghỉ theo quy định của pháp luật lao động và trong khoảng thời gian từ 22 đến 6 giờ sáng ngày hôm sau, mười lăm ngày trước và sau Tết nguyên đán, các ngày truyền thống đối với các đối tượng chính sách nếu họ là người phải thi hành án

2.1.1 Cƣỡng chế kê biên tài sản là quyền sử dụng đất

Quyền sử dụng đất có thể bị cưỡng chế kê biên để đảm bảo thi hành các bản án, quyết định theo quy định pháp luật Các bản án, quyết định đó bao gồm: Bản án, quyết định dân sự, phần tài sản và quyết định dân sự trong Bản án, quyết định hình sự, phần tài sản trong Bản án, quyết định hành chính của Toà án, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh

có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành án của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh

và quyết định của Trọng tài thương mại

Trong công tác Thi hành án dân sự, các vụ việc liên quan đến kê biên quyền sử dụng đất được thể hiện theo nhiều tình huống như: Thực hiện quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời kê biên quyền sử dụng đất của Tòa án và của hội đồng trọng tài thương mại; hoặc cưỡng chế kê biên, đấu giá quyền sử dụng đất để đảm bảo thi hành án

Kê biên quyền sử dụng đất có thể được áp dụng ở hai thời điểm trước và sau khi có Bản án, quyết định Trước khi có Bản án, quyết định kê biên quyền sử dụng đất thì được xem là biện pháp khẩn cấp tạm thời và là biện pháp bảo đảm trong tố tụng dân sự, hình

sự, tố tụng trọng tài Và sau khi Bản án, quyết định được ban hành và có hiệu lực thì kê

Trang 16

biên quyền sử dụng đất được xem là một biện pháp cưỡng chế cuối cùng nhằm đảm bảo thi hành các phán quyết của Tòa án và của cơ quan có thẩm quyền

Như vậy, kê biên quyền quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự là khái niệm chung bao hàm cả khái niệm kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất Và trong bài viết này người viết muốn đề cập đến vấn đề kê biên, xử lý tài sàn là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất của người phải thi hành án

Tóm lại kê biên, xử lý tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất của người phải thi hành án là một biện pháp cưỡng chế bắt buộc sau khi Bản án, quyết định

đã có hiệu lực pháp luật Được Chấp hành viên áp dụng đối với người phải thi hành án sau khi đã hết thời tự nguyện thi hành, mà người phải thi hành án có điều kiện thi hành án nhưng không tự nguyện thi hành, nhằm đảm bảo thi hành các Bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật được thi hành trên thực tế

Trong công tác kê biên tài sản để đảm bảo thi hành án dân sự, thì việc kê biên quyền sử dụng đất có tài sản gắn liền với đất, đặc biệt là đối với nhà ở gắn liền với đất thuộc sở hữu của người khác là vấn đề khó khăn và phức tạp Tuy đã được quy định rất

cụ thể nhưng trong thực tế áp dụng cũng không tránh khỏi những trở ngại làm cho quá trình thi hành án kéo dài Đó cũng là một nguyên nhân của nhiều vụ việc thi hành án tồn đọng nhiều năm không thể thi hành dứt điểm được

Bên cạnh đó, vấn đề xử lý quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất sau khi đã

kê biên cũng là một vấn đề không kém phần quan trọng bởi việc kê biên được tiến hành một cách thuận lợi, nhưng sau đó người được thi hành án không chịu nhận quyền sử dụng đất để trừ vào nghĩa vụ về tài sản của người phải thi hành án hay việc bán đấu giá quyền

sử dụng đất không thành công thì việc thực thi các Bản án, quyết định là cũng không thể

Kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất là một trong những biện pháp khó khăn và phức tạp nhất trong các biện pháp cưỡng chế hiện nay, đặc biệt là thực hiện

kê biên đối với người phải thi hành án là cá nhân Bởi vì như chúng ta đã biết đất đai, nhà

ở là những tài sản lớn và vô cùng quan trọng của mỗi người, đó là nơi sinh hoạt, sản xuất của mỗi gia đình hay là nơi thiêng liêng, nơi có mộ phần ông bà, cha mẹ của người phải thi hành và cũng là nơi mà nhiều thế hệ ông bà, cha mẹ họ đã sống nơi đó

Nên việc cưỡng chế, tước đi quyền năng của họ đối với tài sản này, buộc họ phải rời

bỏ mảnh đất đó thì có sự chây ỳ không muốn thực hiện, thậm chí là kháng cự, chống đối quyết liệt là điều không tránh khỏi Chính vì vậy khi áp dụng biên pháp này Chấp hành viên cần tuân thủ nghiêm ngặc các trình tự, thủ tục luật định để tránh sai xót dẫn đến khiếu nại, khiếu kiện, làm ảnh hưởng đến quá trình thi hành án, gây mất lòng tin của nhân dân trong việc thực thi pháp luật của các cơ quan Nhà nước Bên cạnh đó chúng ta cần phải có những quy định mang tính chất hỗ trợ đối với những người này sau khi bị cưỡng chế mà không nơi ở hay sản xuất để không những vừa đảm bảo thi hành các phán quyết, đảm bảo trật tự an ninh xã hội vừa cho người phải thi hành án thấy được sự chính sách nhân đạo của Nhà nước ta

2.1.2 Cƣỡng chế kê biên tài sản gắn liền với đất

Ngày đăng: 27/08/2021, 15:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w