MÔN: NGHIỆP VỤ HƯỚNG DẪN DU LỊCH BÀI TẬP SỐ 3 Đề bài: Giải thích ý nghĩa các đồ thờ được đặt trong chùa, đình bao gồm: trống, chuông, bia, tượng, ngữ án, bài vị, chấp kích, bát cửu, khánh, mõ, mâm bồng, kiệu (có trích dẫn tài liệu tham khảo).
Trang 1MÔN: NGHIỆP VỤ HƯỚNG DẪN DU LỊCH
BÀI TẬP SỐ 3
Đề bài: Giải thích ý nghĩa các đồ thờ được đặt trong chùa, đình baogồm: trống, chuông, bia, tượng, ngữ án, bài vị, chấp kích, bát cửu,khánh, mõ, mâm bồng, kiệu (có trích dẫn tài liệu tham khảo)
1 Trống
1.1 Vai trò của trống
Trống chùa là một loại nhạc khí hay pháp khí trong các bộ gõ củanhà Phật, người ta thường dùng nó để thực hành các loại pháp sự khácnhau hay điểm nhịp trong các việc trì tụng và lễ nghi
Âm thanh của trống chùa được xem như một quyền lực có chứcnăng mang năng lượng cho tinh thần một cảm giác thiêng liêng, thôngqua những lời giảng dạy của Đức Phật để giúp cho người tu hành trồngthêm căn lành trên cuộc sống mỗi ngày Xưa tại Ấn Ðộ dùng để báo thờigian, cảnh báo Khi Ðức Phật còn tại thế, dùng nó để tập họp chúngTăng bố tát, nghe pháp…
Tiếng trống chùa cũng là một trong những phương tiện của pháp âmnhà Phật để nhắc nhở cho người con Phật luôn sống bằng lòng chân thật,không được giả dối, phải nên tích cực làm việc thiện có ích cho đời, vàbiết yêu quý, trân trọng cái đẹp trong cuộc sống của mọi người, dựa theonhững gì Đức Phật đã làm, mà phát triễn cái tánh giác trong sáng, hayNhư Lai Tạng sẵn có trong mỗi người, bằng trí tuệ hiểu biết của chínhmình
Tiếng trống chùa là âm thanh truyền tải giai điệu thuần khiết cho đờisống tâm linh luôn tự kích thích, tự nuôi dưỡng mình, để mãi mãi sống
Trang 2động không ngừng nghỉ, trong đời sống thành tâm tu hành của mỗingười con Phật.
Đức Phật đã nói: "Tâm người như vượn chuyền cây, như ngựa rôngnơi đồng nội…" và "Tất cả những gì trong thế gian đã là biến đổi, hưhoại, đều là Vô thường" Hãy thử tự quan sát, tự suy nghiệm ngay cáithân tâm hiện hữu của chính mình đang có trong hoàn cảnh hiện thực,
thì sẽ biết và sẽ thấy rõ ràng hơn Theo Ngũ Phần Luật có ghi: "Chư
Tỳ-kheo bồ – tát, chúng bất thời tập Phật ngôn: Nhược đả kiền chuỳ, nhược đả cổ…" Trong Kinh Lăng Nghiêm chép: Đức Phật dạy: “Này A Nan! Ông hãy nghe tiếng trống mỗi khi dọn cơm xong, nghe tiếng chuông mỗi khi nhóm họp đại chúng trong Tịnh xá Kỳ Ðà Hoàn nầy.Tiếng trống hoặc tiếng chuông ấy trước sau nối tiếp nhau Vậy, theo
ý ông, mỗi khi ông nghe được các thứ tiếng ấy là vì nó tự bay đến bên tai ông, hay tai ông đến nơi chỗ phát tiếng ấy?”.(Đây là lúc đức Phật chỉ
cái Tâm cho ngài A Nan)
1.2 Nguồn gốc của trống
Nguồn gốc về sự ra đời của trống, hiện nay vẫn chưa có tài liệu nàoghi lại một cách rõ ràng, nhưng sự tồn tại của nó từ trước công nguyêncho tới bây giờ, tính ra ít nhất cũng là hơn 6000 năm Trống có mặt
Trang 3trong nhiều nền văn hoá trên thế giới và qua những tranh ảnh, di tích lịch
sử còn lại của ngày xưa trong các viện bảo tàng quốc tế hay những kinhđiển của tôn giáo, hoặc những tài liệu thuộc về văn học nghệ thuật,người ta bắt đầu dựng lại những chi tiết để làm lịch sử cho nó
Trung Hoa thời xưa dùng nó trong các dịp lễ lộc, vũ hội Có loạilớn, loại nhỏ, loại treo hoặc để trên giá Trống lớn gọi là trống tẩu, nhỏgọi là trống ứng, treo để đánh gọi là trống treo
Từ đời Ðường về sau, theo thanh quy của thiền môn, trống là mộttrong những loại pháp khí dùng làm hiệu lệnh báo thời sớm tối Sau nàyPhật Giáo Trung Hoa tiến thêm bước nữa là phối hợp nhịp điệu, âmthanh của tiếng Trống hòa cùng những lời tán tụng, phổ thành nhạc điệu,
gọi là “Kỹ nhạc cúng dường; trang nghiêm đạo tràng”, dùng âm thanh
làm Phật sự, trợ giúp đại chúng phát tâm thành kính với Tam Bảo
Ai đã đưa Trống vào tự viện?Dựa vào bản dịch bài Thiền Sư ĐạiĐiên và Hàn Dũ thời Đường Hiến Tông năm 820, chúng ta thấy chuông
và trống đã được sử dụng rộng rãi trong các nghi lễ Phật giáo Do đó, ítnhất chúng ta đoán được là trước năm 820, trống đã được đưa vào chùa
để làm pháp khí
Ngày nay, có một vài nghi thức tán tụng ở miền Trung và miền NamViệt Nam sử dụng Trống nhỏ để hỗ trợ cho chư Tăng Ni khi tán tụng.Các loại nghi thức tán tụng này có lẽ cũng chịu ảnh hưởng của Phật giáoTrung Hoa, vì các thời tụng niệm của Phật giáo Trung Hoa đều có tán,
và loại trống nhỏ này cũng được xem như một loại pháp khí Trống cótrước Chuông hay Chuông có trước nó là một câu hỏi chưa có sự trả lờichính xác
1.3 Cấu tạo của trống
Trống thường làm bằng đá, cây, đồng, gỗ bọc da của động vật,…Trống có âm thanh được phát ra nhờ vào việc gõ vào mặt trống, bằng tayhoặc bằng dùi…
Trang 4Mặt trống là một màng mỏng, thường làm bằng da thú vật hoặc chấtdẻo và được đóng bằng đinh trên thùng vỏ trống, hay dán keo, và cókhuy bấm, móc cài rất chắc, đôi khi người ta dùng thêm dây thừng quấnviền quanh mặt da trống vào viền thùng vỏ trống Da trống được thuộcbằng những phương pháp khác nhau Tang Trống được làm bằng nhiềumảnh gỗ ghép lại.
Khung vỏ trống có nhiều hình thể khác nhau như hình trụ, hìnhthùng, hình ống, hình ly… Trống treo có hai mặt để trên giá còn trốngđứng thường chỉ có một mặt nhưng cũng tùy theo kiểu trống mà người tađặt làm
1.4 Phân loại trống
Trống có nhiều cở khác nhau, nhỏ, to, bé, lớn Trống to gọi là trốngtẩu, trống nhỏ gọi là trống ứng Trống không chỉ là nhạc cụ bìnhthường,để làm lễ tạ ơn thần linh sau vụ mùa gặt hái hay dùng làm lễ cầumưa, mà còn sử dụng nó trong nhiều lãnh vực như nghệ thuật âm nhạchay những nghi lễ long trọng, tôn thờ tín ngưỡng tôn giáo… Ngoài ra,trống cũng được dùng làm thông điệp trong việc truyền tin hay đượcdùng như những khẩu lệnh để kêu gọi những người lính trong quân đội
Trống chùa cũng có nhiều loại, nhiều tên và những cách dùng khácnhau tùy theo nghi thức của các nghi lễ Trống con là một loại trống có
âm thanh cao, trong trẻo, thanh thoát dùng để điểm nhịp cho người tụngkinh Nó có một mặt bịt bằng bong bóng lợn, đường kính khoảng 20 cm,tang trống bằng gỗ, cao 5 cm, có một tay cầm 12 cm
Trống Sấm là một loại trống to có hai mặt, đường kính của mặttrống là 1,50 m, làm bằng da trâu mộng, tang trống cao 1,70 m, làmbằng gỗ mít Trống này được treo vào giá gỗ sơn son trên đó có hìnhmột con quạ đứng và được dùng trong những lễ cầu đảo
Trang 5Trống cái hay Trống lớn là loại trống to có hình dáng như trốngsấm, đặt trên giá và thường dùng đánh xen với chuông đồng hay chiênglớn, trong các đám rước lễ… Âm thanh của nó to, trầm, vang xa.
Trống đại, cũng được gọi là trống ngũ liên, bởi vì người ta xài nótrong đời sống hằng ngày với nhiệm vụ thông báo hay báo động khi cótrộm cướp, vỡ đê, hỏa hoạn…
Trống Bát Nhã là loại trống lớn, thường thấy treo trong các gáctrống ở chùa Nghi thức sử dụng Trống Bát nhã, có lẽ xuất phát từKhông Tông, là một nghi thức hành lễ rất trang trọng của Phật giáoTrung Hoa Trống này dùng để đệm cho một bài kệ “Bát Nhã Hội”, và
có nhiều cách đánh khác nhau tùy theo nghi thức của từng môn phái.Trống sử dụng trong chùa chiền, tự viện có hai loại:
1 Trống lớn (Dân gian quen gọi là đại cổ, tiếng bình dân Việt Namcòn gọi là trống đại): Đánh vào những buổi lễ Phật và các dịp lễ lớn gọi
là trống Bát Nhã
2 Trống nhỏ (Dân gian quen gọi là tiểu cổ, tiếng bình dân Việt Namcòn gọi là trống cơm): Dùng để đánh mỗi khi tụng kinh nên cũng đượcgọi là trống kinh Ngoài việc dùng đánh khi tụng kinh hằng ngày vào haithời công phu khuya và chiều trong các tự viện, còn có rất nhiều thể điệukhác nhau khi dùng trong tang lễ, chẩn tế cô hồn v.v…
1.5 Tìm hiểu về trống Bát Nhã:
Bát Nhã âm Hán Việt dịch từ Prajñā của Phạn ngữ, viết theo mẫudevaganari :प्रज्ञा, và tiếngPāliviết là paññā Trống Bát nhã thường đánhlên vào những buổi lễ pháp sự đặc biệt, như thuyết pháp, truyền giới,Sám hối… Tiếng chuông trống Bát Nhã đánh lên để cung thỉnh Phậtđăng bảo tọa Sở dĩ gọi là Bát-nhã (Phiên âm của từ ngữ “prajnaa” của
chữ Sanskrit có nghĩa là “trí tuệ”) vì công năng của chúng là để thức
tỉnh lòng người, có khả năng đánh động tâm linh của người nghe (Trốngthăng long)
Trang 6Cách đánh Trống Bát-nhã và ý nghĩa biểu trưng:
Mới đầu đánh nhập 2 tiếng: Mời đại chúng : Tăng, Ni và Phật tửnhập lễ
Đánh 3 tiếng, mỗi lần 1 tiếng: tượng trưng cho sự cúi đầu quy yTAM BẢO, nguyện dứt trừ tam độc : tham, sân si
Đánh 7 tiếng tượng trưng cho BÁT NHÃ HỘI THỈNH PHẬTTHƯỢNG ĐƯỜNG, tức tác pháp thỉnh Phật thăng toà
Đánh 8 tiếng tượng trưng cho câu “Maha Prajnaparamita | MA HABÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA” hoặc BÁT NHÃ HỘI THỈNH PHẬT LAICHỨNG MINH, tức tác pháp thỉnh Phật chứng minh
Cuối cùng đánh dứt 4 tiếng tượng trưng cho chứng nhập TỨ ĐẾ.Cónhiều cách đánh chuông trống Bát Nhã nhưng hầu hết chùa chiền ViệtNam áp dụng cách thỉnh chuông trống Bát Nhã theo bài kệ Bát Nhã Hộinói trên như sau:
Trang 72.2 Nguồn Gốc
Theo Đại Tạng Kinh Việt Nam thì Chuông được phát hiện tạiTrường An (khoảng 1.000 năm trước Tây lịch, thời Châu Chiêu Vương)thuộc loại sớm nhất tại Trung Quốc Chuông có thể được làm bằng gỗ,
đá hoặc đồng Nét khắc rất tinh xảo, thường có minh văn và nhiều kích
cỡ khác nhau: từ cái rất nhỏ đến những cái nặng hàng chục tấn Thườngxuất hiện ở các công trình tôn giáo, tâm linh như đền, chùa, từ đường
Ở Ấn Độ đã biết dùng Chuông từ rất lâu và được sử dụng rộng rãitrong cung đình, đặc biệt trong các chùa chiền Các hình thức nghệ thuậtnhư điêu khắc chùm Chuông xuất hiện vào thời kỳ đầu của Phật giáođược tìm thấy trên các bức phù điêu tại các trụ đá của vua A Dục và cáctháp tôn trí Xá lợi Đức Phật Không riêng tại Ấn Độ mà ngay cả cácnước lân cận chịu ảnh hưởng lớn từ nền văn hóa Ấn Độ như Sri Lanka,Myanmar cũng sử dụng Chuông để biểu hiện lòng thành của người cầunguyện, đặc biệt dùng khi chấm dứt một khóa lễ Còn đối với tín đồ Phậtgiáo Tây Tạng thì họ tin rằng: Khi họ niệm chú, nhờ sức quay củaChuông mà các câu thần chú sẽ đi muôn nơi vạn hướng, làm vơi bớt nỗikhổ đau của cuộc đời Cho nên Phật giáo Tây Tạng chế nhiều cỡ Chuôngcầm tay cho tín đồ trì niệm và cả những Chuông lăn lớn để tín đồ quay
Về thỉnh Chuông, ngày xưa ở Trung Quốc tuỳ mỗi Tông phái, từngđịa phương mà quy định có khác nhau Song tổng quát là khi bắt đầuthỉnh 3 tiếng và khi kết thúc đánh nhanh 2 tiếng hoặc 3 hồi 9 tiếng chocác loại Chuông nhỏ khi tụng kinh Số lượng tiếng thường là 18, cũng cókhi thỉnh 36 tiếng, 108 tiếng Thỉnh 18 tiếng là biểu thị sự thanh lọc của
6 căn (Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý); 6 trần (Sắc trần, thanh trần, hươngtrần, vị trần, xúc trần và pháp trần) và 6 thức (Nhãn thức, nhĩ thức, tỷthức, thiệt thức, thân thức và ý thức) Thỉnh 108 tiếng biểu thị hành giả(người thỉnh Chuông - PV) nỗ lực làm vơi cạn đi 108 loại phiền não nơinội tâm.Hoặc có thể là ứng với các con số 12 tháng, 24 tiết khí và 72thời hậu.Cũng có sách giải thích là để trừ bỏ 108 loại phiền não Vậynên Chuông thờ Phật còn có tên gọi là Bách bát chung
Trang 8Có ba loại Chuông thường được sử dụng trong các chùa chiền, tựviện song tất cả đều gọi chung một tiếng là Chuông.
Thứ nhất, Đại hồng chung: Cũng có tên là Chuông U minh, thường
được đánh vào lúc đầu hôm hay lúc gần sáng Tiếng Chuông đánh đầuhôm là nhắc nhở cho mọi người biết rằng cơn vô thường đến với chúng
ta không hứa hẹn, rất ngắn ngũi, nhanh chóng
Đánh vào lúc ban sáng là nhắc nhở cho mọi người cố gắn tinh tiến tuhành để mau vượt thoát ra khỏi cảnh đau khổ, không vướng mắc cảnhtội lỗi và dễ dàng ra khỏi luân hồi sanh tử Thông thường mỗi lần thỉnhChuông như thế là phải 108 tiếng với mục đích là khuyến tấn vạn loạihữu tình mà đặc biệt là con người cố gắng đoạn trừ 108 phiền não cănbản Mỗi lần thỉnh Chuông được đọc lên những câu kệ để chú nguyệntheo tiếng Chuông Tiếng Chuông sớm hay tiếng Chuông chiều khôngnhững chỉ để cảnh tĩnh cõi dương mà còn hướng dẫn cho cõi âm nữa Vìthế mà thường gọi là Chuông U minh
Đại hồng chung
Thứ hai, Chuông báo chúng: Vì kích thước chỉ lớn bằng 1/2 đại
hồng chung nên gọi là bán chung hay còn được gọi là tiểu chung Hình
Trang 9thái cũng như Chuông U minh, treo ở trai đường Được dùng để báo tintrong lúc họp chư Tăng biết vào những lúc như nhóm chúng, thọ trai,giờ chấp tác, giờ bái sám trong các tự viện.
Thứ ba, Chuông gia trì: Chuông này thường được đúc bằng đồng,
cao khoảng 6 đến 8 tấc, thường để tại một góc trong chánh điện và được
sử dụng trong các buổi pháp hội, nên còn có tên khác là "hành lễ chung".Người Việt Nam cũng như các nước khác ngày nay linh động chế tạonhiều loại Chuông dạng "bán chung" này nhưng cũng không có kíchthước cố định
Trang 10Được dùng để đánh lên trong lúc tụng kinh bái sám Tiếng Chuônggia trì được xử dụng trước khi tụng kinh hay báo hiệu sắp hết đoạn kinhđang tụng hay câu niệm Phật.
Chuông gia trì cũng thường đánh lên khi lạy Phật một mình.Còn khiđông người thì để báo hiệu cùng lạy cho nhịp nhàng.Chuông gia trì có
đủ ba loại lớn, vừa và nhỏ Chuông vừa và nhỏ thì thường thường Phật
tử tại gia dùng nhiều hơn và cũng dùng như chư Tăng
Chuông là một pháp khí không thể thiếu trong lễ nghi của Phật giáo.Tại rất nhiều ngôi chùa cổ nổi tiếng, những gác chuông to lớn càng làmtăng thêm vẻ uy nghiêm cho ngôi chùa Kinh phật dạy: “Khi đánh lêntiếng chuông thì dừng hết những nỗi khổ trong các đường ác, khiến chochúng sinh một lúc cùng lìa khổ, khiến cho người gặp nạn được giảithoát” Âm thanh mượt mà vang vọng, thâm trầm trong vắt của tiếng
chuông như rót vào tai: “Kinh tỉnh thế gian danh lợi khách, hoán hồi
Trang 11khổ hải mộng mê nhân” Nghĩa là: Chuông khiến con người thế gian chạy theo danh lợi bừng tỉnh, kêu gọi người đời mau thoát khỏi bể khổ mênh mông Tiếng chuông giúp thức tỉnh và giác ngộ chúng sinh.
3 Bia
3.1 Nguồn gốc
Bia (hay còn được gọi là văn bia) là hiện tượng văn hóa được nảysinh từ đời sống xã hội như là nét đăc thù và là một trong những hìnhthức thông tin thời kỳ cổ đại và trung cổ Văn bia xuất hiện từ khá sớm,truyền thống sáng tạo văn bia bắt đầu từ Trung Quốc, sau đó được lantruyền sang các nước như Triều Tiên, Việt Nam và Nhật Bản (nhữngnước sử dụng chữ khối vuông)
Về tác giả: Đội ngũ sáng tác văn bia chùa gồm các thành phần:
Thứ nhất vua chúa Ngự bút: Văn bia loại này đều do các chúaNguyễn, hoặc các vua triều Nguyễn đích thân viết, sai thợ khắc lên đá vàdựng tại chùa Văn bia loại này thường có hai chữ “Ngự chế” đứng đầubia, vị trí ở trên và trước dòng thứ nhất, kể từ phải qua Bên cạnh đó còn
có bia do người hoàng tộc (vương) soạn Nhóm tác giả này gồm có: chúaNguyễn Phúc Chu, Minh Mệnh, Thiệu Trị, Hồng Thiết, Khải Định.Nhóm văn bia này gồm có 10 văn bia Trong đó vua Thiệu Trị soạn bianhiều nhất, với 6 bia
Thứ hai các danh nho viết: Mối quan hệ giữa lớp nho sĩ trí thức vàcác Tăng sĩ rất mật thiết Do đó, mỗi khi trùng tu chùa xong, vị Hòathượng trú trì thường mời một nhà nho giỏi Phật lý, viết cho bài văn bia,đem khắc để dựng tại chùa Nhóm bia này gồm có 18 bia Cụ thể như:Nguyễn Thuật, Đặng Huy Trứ, Nguyễn Thượng Hiền, Nguyễn ĐăngGiai, Nguyễn Khoa Tân… Thậm chí còn có cả tác giả là danh nho Trung
Quốc là Tử Vân Giai trong văn bia Tùng Sơn tự minh 松山寺銘
Thứ ba do cao tăng hoặc nhóm đệ tử viết: Bia loại này phản ánhhành trạng, công đức của một cao tăng, tổ sư… Giá trị nội dung rất sâusắc, là nguồn tư liệu quý về lịch sử Phật giáo Nhóm bia này gồm có 15
Trang 123.2 Cấu tạo
3.2.1 Kết cấu văn bia:
Bài văn khắc trên biathường có ba phần sau:
Bên phải một dòng đề hiệu bia để cho người đọc biết đó là bia loạigì; trùng tu chùa hay tiểu sử một vị Tổ, một cao tăng đã tịch
Phần chính văn có hai phần nhỏ: văn trường hàng, viết theo thể tứlục; một bài minh theo thể hành, thường gieo độc vận để tóm tắt ý trên,
và nêu ý truyền đạo nêu là bia chùa; tán thán đạo phong của vị Tổ hay vịcao tăng được đề cập
Phần cuối là vài dòng lạc khoản Niên hiệu vua đương triều, ngàytháng tốt để soạn, khắc văn; tên người soạn và lập bia
Hình thức chữ viết ở văn bia chùa Huế là lối chữ chân và chữ triện.Nghệ thuật viết văn bia chùa này đã làm cho thể loại văn này thêmphong phú và có thể gọi là một thể loại văn học Phật giáo Ngoài ra, biachùa ở các chùa Huế còn góp phần mở rộng từ ngữ rất phong phú Cóloại từ khó hiểu vì ý mới lạ, hoặc phiên âm tiếng Sanskrit
3.2.2 Trang trí bia:
Nghệ thuật trang trí bia có phần trán bia chạm hình đầu rồng lớn,trực diện uy nghi được chạm ngay chính giữa, xung quanh là mây lá uốnquanh; cũng có khi đó là hình ảnh lưỡng long chầu thái cực, lưỡng longchầu nguyệt với nét chạm rất sắc sảo, thân rồng nhỏ nhắn, mềm mại,uyển chuyển cuộn trong mây hoặc chầu hỏa châu, ít vẻ dữ dằn Ở hầuhết các bia thì phần dưới trán bia hoặc diềm bia đều có họa tiết hoa sen,sen cánh phượng là họa tiết đặc trưng của mỹ thuật Phật giáo Diềm biacũng thường chạm hoa văn hoa lá, hồi văn chữ “Vạn”, dải thủy ba, rồnguốn lượn Phần thân bia hình các ấn triển vuông, tròn, thuẫn, chữ triện,chữ phù Nếu là chùa sắc tứ thì có hai chữ “Sắc tứ” lớn chạm nổi đượcchạm ở phần trên của thân bia, kèm dấu triện Có một vài bia trang tríkhá đơn giản, chỉ có phần thân mà lược bỏ phần trán, không chạm hoa lá
mà chỉ vài đường hồi văn chữ Vạn rất đơn sơ Bia thường được dựng
Trang 13trên lưng rùa lớn, hoặc bệ đá chạm hình cái kỹ chân quỳ, hoặc giản dịhơn, chỉ một khối hình chữ nhật.
Văn bia Việt Nam ra đời trong mối quan hệ văn hóa vùng, đó là sựtiếp nhận ảnh hưởng của truyền thống sáng tạo văn bia ở Trung Quốc,tất nhiên văn bia Việt Nam có những nét đặc trưng mang bản sắc củatruyền thống văn hóa dân tộc Đó là truyền thống của một dân tộc có lịch
sử dựng nước lâu đời, có truyền thống anh hùng trong công cuộc xâydựng và bảo vệ đất nước, và những phong tục tập quán nhân hậu vị thacủa nhân dân Đại Việt
Những văn bia sớm ở nước ta trong thời kỳ Bắc thuộc hiện nay tìmthấy quá ít ỏi, chưa thể làm tư liệu khi nghiên cứu lịch sử truyền thốngsáng tạo văn bia ở Việt Nam
Như đối với các nước trong khu vực Điều này có liên quan đếnnhiều yếu tố dẫn tới sự mất mát nguồn tư liệu văn bia ở nước ta, có thể
kể như: chính sách hủy diệt truyền thống văn hóa Việt ở các triều đạiphong kiến phương Bắc, chiến tranh tàn phá hoặc do thiên tai khắcnghiệt v.v Những văn bia có giá trị trên đất nước Đại Việt mà hiện nay
chúng ta đã tìm thấy chỉ có thể kể từ thế kỷ X, đó là các cột kinh Phật
Đỉnh Tôn Thắng Đà La Ni có niên đại 973 ở Hoa Lư (Ninh Bình) cùng
với sự ra đời của nền văn học viết trong thời kỳ đất đôc lập tự chủ
Trong buổi bình minh của nền văn học Việt Nam, khi xuất hiện cácvăn bia có giá trị thực sự đối với việc nghiên cứu lịch sử văn học có thể
kể từ thế kỷ XII, Khi nghiên cứu những bài văn bia của thế kỷ này,chúng ta thấy “các tác giả đã trình bày nội dung của bài văn bia theo mộtkhuôn mẫu và phong cách thống nhất, đồng thời chúng ta bắt gặp nhữnggia phả, tiểu sử cuộc đời và những lời ngợi ca về công lao vĩ đại, vềphẩm chất tốt đẹp của các thiền tăng, các tướng lĩnh, các bậc trượng
phu…” Điều này dễ dàng nhận thấy ở các văn bia như: An Hoạch sơn
Báo Ân tự bi do Chu Văn Thường soạn, niên đại Hội Phong 9 (1100) ở
chùa Báo Ân núi An Hoạch (Đông Sơn - Thanh Hóa) đã ca ngợi công
tích rực rỡ và đạo làm tôi của Thái úy Lý Thường Kiệt; Bảo Ninh Sùng
Phúc tự bi do Lý Thừa Ân soạn niên đại Long Phù Nguyên Hòa (1107)
Trang 14ở chùa Bảo Ninh Sùng Phúc (Chiêm Hóa - Tuyên Quang) ghi chép tiểu
sử và cuộc đời một viên châu mục vùng núi Vị Long (nay thuộc TuyênQuang) - Hà Khánh Di và ca tụng công tích của tổ tiên họ Hà ở vùngnày …
Tiếp nhận lý luận thể loại văn học để nghiên cứu các bài văn biathời kỳ Lý - Trần, có thể đưa ra nhận xét rằng: Nhiều bài văn bia đã thểhiện phong cách thể loại đặc biệt của nền văn học tiểu sử truyền thống
văn hóa vùng, đây cũng là một đặc điểm cơ bản của thể văn bia thế kỷ
XII - XIII
Từ thế kỷ XIV văn bia Việt Nam bắt đầu mở rộng phong cách biểuhiện xuất phát từ nhu cầu xã hội về chức năng và nội dung phản ánh.Những bài văn bia thế kỷ này hầu hết tập trung ghi chép về địa giới đấtđai, về việc cúng ruộng vườn cho nhà chùa, hoặc tập trung miêu tả
phong cảnh chùa chiền, như: A Nậu tự Tam bảo điền bi,khuyết danh,
niên đại Hưng Long 1 (1318) ở chùa A Nậu (Hoa Lư - Ninh Bình); ThịĐức xã tự bi do Thiền sư Huệ Văn soạn, niên đại Khai Hựu 3 (1331) ởchùa xã Thị Đức (Tứ Lộc, Hải Hưng)… Tuy nhiên thể văn xuôi tiểu sử
vẫn song song tồn tại, có thể kể như Hưng Phúc Tự Bi, khuyết danh,
niên đại Khai Thái năm Giáp Tý (1324) ở chùa Hưng Phúc (QuảngXương - Thanh Hóa) ghi chép về dòng họ Lê ở hương An Duyên (ThanhHóa) đã xây dựng nên chùa Hưng Phúc và sau này con cháu lại có côngtrong cuộc kháng chiến chống lại sự xâm lược của giặc Nguyên Mông…
Và ở thế kỷ XIV, chúng ta thấy người ta bắt đầu khắc sắc chỉ trên bia đá,
như: Thái Thượng Hoàng đế thánh chỉ do vua Trần Hiến Tông soạn,
niên đại Kỷ Sửu Thiệu Phong (1349) ở núi Non Nước (Ninh Bình) khắcsắc chỉ của nhà vua do chùa Thủy Sơn được sở hữu các thứ như: ruộngđất, cây cối, hoa quả của nhà chùa
Thơ chữ Nôm được khắc trên bia đá hiện sưu tầm được có từ thế kỷ
XV với bài Ngự đề Quang Khánh tự của vua Lê Thánh Tông, niên đại
Hồng Đức 17 (1486) ở chùa Quảng Khánh xã Dưỡng Mông (Kim Thi Hải Hưng), bài thơ ghi lại cảm xúc của nhà vua trước cảnh đẹp của chùa.Tiếp đến các thế kỷ sau, chúng ta thấy có khá nhiều bia khắc thơ chữ
-Nôm, có thể kể như: Thiên đài thạch trụ bi do Nguyễn Thiên Tải soạn,
Trang 15niên đại Chính Hòa 20 (1699) ở chùa Thanh Tú xã Phượng Trì (VĩnhPhú), bài thơ ca ngợi những người có công xây dựng thiên đài thạch trụ
…
Từ những đặc điểm nêu trên, có thể đưa ra nhận xét rằng: Văn biađược xác định như là thể văn trong hệ thống thể loại văn học cổ chỉ có ýnghĩa giá trị ở thời kỳ khai sáng của thể văn này Trong tiến trình pháttriển, thể văn bia được sử dụng hoàn toàn theo ý đồ sáng tác của các tácgiả, có nghĩa là tác giả không bị ràng buộc bởi nội dung và hình thức thểloại cũng như chất liệu thể hiện mà đã được xác định của thể văn này.Như vậy rõ ràng là bia đá đã được coi như là một trong những loại hìnhvăn bản trong sáng tác văn học nghệ thuật
Trang 16Nhìn chung về hình thức, văn bia thường có hai dạng, một dạngmang cấu trúc gồm hai phần là trên tự (hoặc ký) dưới minh như đã nói ởtrên, còn dạng kia chỉ gồm một bài ký (hoặc chí) Bài ký lại thường cócấu trúc gồm hai phần chính, là phần dẫn và phần ký sự, phần dẫnthường là một đoạn văn hay một câu văn ngắn mang tính nghị luận đểdẫn dắt vào vấn đề được nêu ra ở phần ký Phần ký là phần chính củavăn bia, nêu nội dung văn bia Tuy cũng có những văn bia không tuânthủ nguyên tắc này, nhất là những văn bia có niên đại muộn về sau,
nhưng về cơ bản đều có hai phần như vậy Chẳng hạn văn bia Ngưỡng
Sơn Linh Xứng tự bi minh (Lý, Thiên Phù Duệ Vũ năm thứ 7, 1126) mở
đầu là phần luận về Phật pháp khá sâu sắc để dẫn dắt đến sự kiện kiếntạo chùa Linh Xứng:
“Phật tổ soi tỏ chữ thực mà chỉ thẳng chữ tâm, thánh nhân thích ứngtheo thời mà thông suốt muôn biến “Muôn” là sự phân tán của “một”,
“một” là cội gốc của “muôn” Còn như các bậc hiển thánh thỉnh thoảng
ra đời, khuôn phép thay nhau dấy lên, nhóm cái đã phân tán để đưa nó
về cội gốc; ôm cái một để thâu tóm cái muôn.Tạc nên hình tượng đểbiểu thị “sự thâu tóm”; dựng nên đền tháp để có “sự hướng về”.Hết tâmsức để kinh doanh, bỏ châu ngọc mà không tiếc.Cho nên đường thì đặtranh giới bằng dây vàng, hiên thì phô sự quý giá của rèm châu.Tuy rằnghết đỗi trang nghiêm, mà vẫn không hề xa xỉ Bởi vì mục đích là ở sựtìm cái “nhất” và cái “chân”, chứ đâu phải chỉ cốt làm cho bụng dạ vàcon mắt chói lòa để khoe khoang sự tráng lệ vậy! Từ khi có Phật giáo tớinay đã hơn hai ngàn năm mà sự thờ phụng ngày càng thêm mới.Hễ cócảnh đẹp núi non thì không nơi nào là không mở mang để xây dựng chùachiền, nhưng không có các bậc vương công đại nhân giúp đỡ thì sao cóthể làm nên được”
Ngoài hai phần chính đó ra, một văn bia hoàn chỉnh còn có thêm cácchi tiết khác như phần tên bia, thường cho biết bia của địa phương nào
hoặc loại bia gì, chẳng hạn Trùng tu Pháp Vân tự bi ký là văn bia ghi việc trùng tu chùa Pháp Vân, Ngọc Đình xã bi là bia của xã Ngọc Đình, hay Phụng Thánh phu nhân Lê thị mộ chí là bia mộ của Phụng thánh phu
nhân, ngoài ra các văn bia công đức thường có thêm phần ghi công đức
Trang 17của những người có công lao trong sự việc đó kèm theo đóng góp củahọ; rồi phần niên hiệu, ngày tháng dựng bia, phần lạc khoản ghi tên họchức tước của người soạn văn bia, người khắc chữ.
Văn bia hầu hết được viết bằng biền văn xen tản văn, hoặc tản vănxen biền văn, về sau cũng xuất hiện văn bia chỉ dùng tản văn
Văn bia có số lượng tương đối nhiều và nội dung khá phong phú.Chính vì vậy, để dễ nắm bắt, cần phải phân biệt văn bia thành các tiểuloại khác nhau Ở đây chúng tôi tạm phân loại văn bia theo ba nội dungchính Một là thuật đức, ca ngợi hiền tài, nội dung này nằm trong cácvăn bia lăng mộ, từ đường, văn bia đề danh Hai là ghi công, nội dungnày thuộc về các văn bia công đức Ba là ghi việc, là các văn bia nhằmghi lại các sự việc cần ghi nhớ, hoặc như các loại giao kèo, khế ước
4 Tượng
4.1 Vai trò của tượng
Tượng đóng vai trò quan trọng trong các nơi thờ tự.Tượng đượcxem là biểu tượng hiện thân của 1 đối tượng được thờ cúng Trong các
cơ sở thờ tự của đạo phật, tượng được coi là hiện thân của chư phật, bồtát,… Nhưng đối với đình thì tượng được xem là tôn thân của vị thánh( thành hoàng)
Cách bố trí tượng Phật ở các chùa không giống nhau tuỳ theo Thiềnphái Các chùa miền Bắc thường là theo Bắc tông, cách bài trí tượngPhật khác với chùa miền Nam, thường đơn giản hơn
4.2 Cách bố trí tượng tại các ngôi chùa
Một ngôi chùa Phật giáo (theo Bắc tông – ở miền Bắc nước ta) phổbiến có 4 khu vực: Chính điện, Tiền đường, Nhà hành lang, Nhà tổ vànhà trai
Ở chính điện
Trang 181 Tượng Tam Thế là ba pho tượng ngồi ngang nhau ở nơi cao nhấttrên bàn thờ, đại diện cho chủ Phật trong ba thời gian quá khứ, hiện tạithế, vị lai thế (có thuyết nói đức Phật A-di-đà là Phật quá khứ “tam thếtương liên” thì không đúng Nên nhớ trong kinh Tịnh Độ, danh hiệu củaNgài Vô Lượng Thọ “hiện nay Ngài đang thuyết pháp” tiếp dẫn chúngsinh ở mười phương thế giới vãng sinh tới cõi cực lạc, vả lại Ngài cũng
ra đời cõi Sa Bà này)
Chính điện chùa Bồ Đề (Long Biên, Hà Nội) Lớp trên cùng: Tam thế Phật Lớp thứ hai: Bồ tát Đại thế Chí - Phật A Di đà - Bồ tát Quan
Âm Lớp thứ ba: Ananda - Phật Thích Ca - Ca diếp.
2 Tượng A-di-đà Tam Tôn: Tượng còn được gọi là “Tây phươngtam thánh” đặt ở hàng thứ hai từ trên xuống gồm: Phật A-di-đà (ngồigiữa) Đại Thế Chí (bên trái) Đây là 2 vị hộ pháp giúp việc cứu độ choPhật A-di-đà Quan Thế Âm (bên phải) với một số sắc tướng và danhhiệu khác Quan Thế Âm vô uý, Quan Thế Âm Nam Hải, Quan Thế Âmnghìn mắt nghìn tay, Phật bà Quan Âm Phật A-di-đà là Phật được tạc tonhất trong các nhóm tượng tuỳ theo khuôn khổ từng chùa
Trang 19Lớp thứ hai: Di Đà Tam Tôn chùa Kim Liên (Ba Đình, Hà Nội)
Phật A-di-đà được tạc trong tư thế toạ thiền, ngồi xếp bằng, hai tayđặt giữa lòng đùi, khuôn mặt đôn hậu, mắt nhìn xuống suy tư, miệng hơimỉm cười Cũng có nơi, tạc tượng A-di-đà ở tư thế thuyết pháp trên toàsen (ít thôi)
Trang 20Tượng Phật A Di Đà chùa Kim Liên
Tượng Phật A Di Đà chùa Phật Tích (Bắc Ninh)
Trang 213 Tượng Thích-ca Mâu-ni: Tượng đặt ở hàng thứ ba, chính giữa Ởtrong chùa Phật giáo ta, tượng Thích-ca Mâu-ni được tạc ở 4 tư thếthuộc 4 giai đoạn khác trong chùa Phật giáo ta, tượng Thích-ca Mâu-niđược tạc ở 4 tư thế thuộc 4 giai đoạn khác nhau Theo truyền thuyết vềcuộc đời và sự nghiệp của Thích-ca Mâu-ni với cái tên gọi như sau:
Chính điện chùa Côn Sơn (Hải Dương)
Tượng Cửu Long (Thích-ca sơ sinh) tượng Thích-ca ở tư thế đãbước ra rồi đứng lại, một tay chỉ lên trời, một tay chỉ xuống đất, có 9 conrồng uốn chầu xung quanh, tượng Cửu Long dựa vào Phật sử nói rằng,khi Thích-ca giáng sinh có 9 con rồng phun nước để tắm cho Ngài Tắmxong Ngài tự đi 7 bước về phía trước, tay phải Ngài chỉ lên trời, tay tráiNgài chỉ thẳng xuống đất mà nói ngay được rằng “Thiên thượng, Thiên
hạ, duy ngã độc tôn” (có nghĩa là trên trời, dưới đất, chỉ có “ta” là tônquý) (Ta đây là “Đại ngã” bản tính Chân Như, không phải là Tiểu Ngã
cá nhân riêng của mình, truyền tâm ấn) Hai bên tượng Cửu Long là haitượng Đế Thích và Phạm Vương, chủ thể thế giới, nên tạc theo kiểu nhàvua ngồi trên ngai
Trang 22Tượng Tuyết Sơn diễn tả Thích-ca Mâu-ni trong thời kỳ tu khổ hạnhtrên núi Tuyết Sơn (núi rừng Ni-câu-luật) với thân hình gầy gò, chỉ có dabọc xương Dân gian quen gọi là tượng “nhịn ăn để mặc”.
Tượng Thích Ca Tuyết Sơn (chùa Bút Tháp, Bắc Ninh)
Tượng Thích-ca thuyết pháp (còn gọi là Thích-ca giáo chủ): Tượngđược tạc trong tư thế ngồi trên toà sen, mặc áo pháp, một vai để trần(tượng tay cầm bông sen là tượng Thế Tôn niêm hoa…) Hai bên tượngThích-ca thuyết pháp có hai vị thị giả là Văn thù Bồ tát (giúp về trí tuệthuộc lý) và Phổ hiền Bồ tát (giúp về hành nguyện thuộc sự).Có chùathay hai tượng này bằng hai tượng đệ tử An-na-đa và Ca-diếp (thuộc bộ
ba của Tiểu thừa)
Trang 23Tượng Đức Phật Thích Ca niêm hoa tại chùa Côn Sơn
Trang 24Tượng Phật Thích Ca tại chùa Bồ Đề
Tượng Phật Thích Ca niêm hoa tại làng nghề Sơn Đồng (Hà Tây)
Tượng Nát Bàn Tượng diễn tả Thích-ca Mâu-ni đang nhập Nát bàn.Thông thường tượng Nát Bàn ở tư thế nằm nghiêng sườn bên phải xuốngthoải mái, tay phải co lại chống lên đầu, mắt lim dim Tượng Nát Bàn ítthấy ở các ngôi chùa thờ Phật theo Bắc tông, còn ở các khu chùa thờPhật theo Nam tông thấy phổ biến
4 Tượng Phật Di Lặc Phật Di Lặc được diễn tả bằng một pho tượng
có dáng thư thái, thanh thản, hết ưu phiền của bậc tu hành sắp đắc đạothành Phật Vì có thân hình đẫy đà, miệng cười lạc quan, nên dân gianquen gọi là ông “No” hay ông “Nhịn mặc để ăn” (phân biệt với tượngTuyết Sơn là ông “Nhịn ăn để mặc”) Thông thường hai bên tượng PhậtDi-Lặc là hai tượng Pháp hoa lâm Bồ tát và Đại diện tướng Bồ tát, nêncòn gọi là Di-Lặc tam tôn
Trang 25Ở nhà Bái đường
Thông thường nhà Bái đường được xây dựng trước cửa Chính điện(còn gọi là tiền đường) Các tượng bày ở nhà Bái đường gồm:
+ Tượng Hộ pháp Hai bên ở Bái đường đặt tượng hai vị Hộ
pháp.Hai vị Hộ pháp là ý nghĩa khuyến Thiện và trừng ác để hộ trì Phậtpháp Tượng Hộ pháp thường được tạc rất to, theo kiểu võ sĩ cổ, mìnhmặc áo giáp, đầu đội mũ, một vị tay cầm viên ngọc, một vị tay cầm binhkhí, trong tư thế đứng hoặc ngồi trên lưng một con sân (một loại giống
sư tử)
Hộ Pháp và Bát bộ kim cương tại chùa Hà (Hà Nội)
Trang 26Tượng Hộ Pháp chùa Bộc (Đống Đa, Hà Nội)
Tượng Thần Thổ Địa – Thánh Tăng: Một bên tượng thổ địa và
một bên tượng Thánh tăng, lấy điển tích về cùng xuất hiện đồng thờichứng minh khi Đức Thích-ca vừa thành đạo Trưởng giả Cấp-cô-độc,một nhân vật thời Thích-ca tại thế, đã mua một khu vườn cây xây tịnh
xá, ngôi chùa rất to lớn đầu tiên trên thế giới, thỉnh Phật Thích-ca vềthuyết pháp Sau này ông được coi là người bảo vệ tài sản của nhà chùa
Vì vậy người ta gọi là Đức ông hay Đức chúa Già Lam Chầu Tể (thờgian bên)
Trang 27Tượng Đức Thánh Hiền (Chùa Bộc)
Thập Điện Diêm Vương (chùa Bộc)
Trang 28Nhà Hành lang:
Trong các ngôi chùa thờ Phật ở Việt Nam, nhà hành lang được xâyrất linh hoạt: có thể là hai dãy nhà riêng để đi lại chạy song song ở haibên nhà Chính diện, mà theo đó, đi vào nhà tăng (hậu đường) Tượngbày ở nhà hành lang là 18 vị La Hán (gọi là thập bát Hán) Tượng tạckích thước bằng người bình thường với các tư thế khác nhau.Vị ngồitrên tảng đá, vị ngồi trên gốc cây, lưng ngựa, lưng tê giác vẻ mặt suynghĩ trầm mặc La Hán là vị quả thánh cao nhất của Tiểu thừa nhưng cònphiền não luân hồi sinh tử Phật giáo Tiểu thừa cho rằng có 16 vị La Hánvâng lệnh của Phật ở mãi trên thế gian để cứu độ chúng sinh, khôngnhập diệt Theo sách Phật, chỉ có 16 vị La Hán nhưng trên thực tế người
ta tạo thêm hai vị nữa thành Thập bát La Hán
Nhà Tăng:
Nếu thờ Tổ gọi là Nhà Tổ, dùng trai tăng gọi là Nhà Trai Nhà Tăngthường được xây dựng sau chính điện nên còn gọi là hậu đường Trêncao của gian giữa thờ hai tượng Thánh tăng A-nan-đa (có người nói rằngVăn Thù Bồ tát) và sư tổ Bồ-đề-đạt-ma (Bohhidharma) Thờ ngài A-nan-đa thuộc Tiểu thừa; Ngài Văn Thù Bồ tát thuộc Đại thừa; Ngài Bồ-đề-đạt-ma là tổ sư truyền đạo thiền sang Đông Hoa Dưới là các vị sư tổ
đã tu tại chùa.Các vị sư tổ có thể tạc tượng hoặc không.Ở chùa xây dựngmột điện riêng để thờ các vị thần thánh này Ngoài ra, ở nhà tăng trongmột số chùa còn thờ tượng Quan Âm Tổng Tử, Quan Âm toạ sơn…
Trang 29Nhà tổ chùa Bồ Đề với hình Đức Đệ Nhị Pháp Chủ Thích Tâm Tịch
Trên là cách bố trí có tính phổ biến trong một ngôi chùa Phật giáotheo Bắc tông, tuy vậy ở mỗi chùa tuỳ theo vị trí các tượng cũng có sựthay đổi cho phù hợp
Tượng táng Thiền Sư Vũ Khắc Minh tại chùa Đậu (Hà Tây)
Trang 30do cuộc sống dựa chủ yếu vào tự nhiên nên người xưa lập đàn kính tếquỷ thần, mong giảm bớt thiên tai đem đến phúc lộc Dễ dàng nhận thấyngoài các ngôi đền lớn nhỏ ở khắp các địa phương thì ngày nay trongnhiều gia đình vẫn có bát hương thờ thần phật để tiêu tai nạp phúc, sựnghiệp thuận lợi, hưng vượng nhân đinh, là nơi gửi gắm niềm tin của cả
Thần phật được thờ trong nhà giống như người khách quý nên người tathường đặt ban thờ thần phật ở sảnh giữa nhà, áp lưng vào tường vữngchắc hoặc để chung với bàn thờ gia tiên Cho dù đặt riêng hay đặt chungvới bàn thờ gia tiên thì cũng đều có những nguyên tắc cần tuân thủ: Giatiên là chủ nhân, thần minh là khách quý, có thể chấp nhận có chủ nhânnhưng không có khách, không được có khách mà không có chủ Nếu vừa
có chủ vừa có khách cùng chung một bàn thờ là lý tưởng nhất
Trang 31Nhưng cũng không phải tùy tiện thích đặt thế nào thì đặt vì vậy,người xưa cho rằng chỉ cần nhìn vào nơi thờ cúng của gia đình cũng cóthể biết gia chủ có tâm hay không Cái tâm ở đây không được đo bằngmâm cao cỗ đầy, vàng mã bao nhiêu mà là ở vị trí đặt bàn thờ, cách sắpxếp bàn thờ ra sao cho phù hợp, trang nghiêm và sạch sẽ Quan niệmphong thủy thì cho rằng bàn thờ là nơi linh khí quy tụ, là chỗ để ngườitrên dương thế liên hệ với người đã khuất, người chết thì thành thần,thần lại là trung gian giữa trời với người.Từ đó có thể thấy, khí trườngcủa ban thờ ảnh hưởng rất lớn đến người trong nhà Ban thờ sắp đặtđúng cách không chỉ khiến người đã khuất an định mà ở lại coi sóc phù
hộ gia đình, nên ban thờ cũng có những quy tắc nhất định
Một trong những đặc điểm văn hóa của người Việt Nam là lòng tínmộ.Có thể nói, từ ngàn xưa, người Việt Nam nào cũng có đối tượngniềm tin riêng và thực hành niềm tin ấy bằng sự thờ cúng một cách nàođó.Ý niệm vô thần chỉ mới xuất hiện sau này cùng với sự du nhập tưtưởng Âu Tây và lí thuyết Cộng Sản
Lòng tín mộ ấy biểu hiện rõ ràng một phần do việc, qua các thời kìlịch sử, người Việt Nam đã sẵn sàng đón nhận các nền đạo học và cáctôn giáo truyền từ nước ngoài vào nước ta, như: Khổng - Mạnh, Lão-Trang, Phật giáo, Kitô giáo, Hồi giáo, v.v., hoặc là đã thành tâm tin theoCao Đài giáo và Phật giáo Hòa hảo mới được sáng lập sau này
Song sự biểu hiện lòng tín mộ quan trọng nhất lại chính là các tínngưỡng đầy tính dân gian và tính phổ biến của riêng người Việt Nam.Đó
là sự thờ cúng các vị thần linh
Bàn về thời điểm xuất hiện và các đối tượng sùng mộ của các tínngưỡng nơi người Việt Nam, học giả Đào Duy Anh đã viết: ‘ ta có thểđoán rằng tổ tiên ta ở đời thượng cổ tín ngưỡng một thứ tự nhiên đa thầngiáo, tin rằng phàm các hiện tượng và thế lực tự nhiên ở trong vũ trụ,như trời đất, mưa gió, núi sông, đều có thần linh chủ trương Có lẽ người
ta tưởng rằng linh hồn người chết thường đi lại với người sống Nhữngtín ngưỡng ấy về sau chịu ảnh hưởng của những điều tín ngưỡng qủythần của Trung quốc mà thành nguồn gốc tôn giáo của nước ta’ (1) Mộttác giả Tây phương, Linh mục Léopold Cadière, cũng đưa ra kết luận
Trang 32cho công trình nghiên cứu về các tín ngưỡng của người Việt Nam nhưsau: ‘Đến đây, ta thử xác định xem tôn giáo của người Việt Nam là gì.
Có hai tôn giáo chính, (một) là tôn giáo thờ thần, tôn giáo này có hai đốitượng vì sự thờ cúng có thể hướng về các lực lượng thiên nhiên đượcngôi vị hóa, và có thể hướng về những linh hồn người chết mà tôi hiểu
đó là sự thờ cúng các anh hùng, các vong hồn và tổ tiên Tôn giáo này cóhai cách thực hành, tùy theo sự thờ cúng có tính cách tôn giáo thì gọi làKhổng giáo hoặc có tính cách ma thuật thì gọi là Lão giáo Bên cạnh tôngiáo chính này, có một tôn giáo thứ hai, đó là Phật giáo
Nhân vì học giả Lefopold Cadiefre nói tới tính cách ma thuật củaLão giáo, chúng tôi xin ghi chú ngay rằng: Lão giáo chính thống vớithuyết vô vi là một hệ thống tư tưởng trừu tượng, siêu việt đã từng đượcbách gia chư tử noi theo, ở nước ta chỉ có một thành phần ưu tú nào đómới có thể lãnh hội được Đối với quần chúng, Lão giáo thật sự đã biếnthành hình thức ‘đạo tiên’, tức tu tiên, muốn trở nên trường sinh bất tử,hoặc là những hình thức có tính cách ma thuật như: phù thủy, bùa phép,lên đồng, cầu đảo, cầu hồn, trấn ếm tà ma, xiên lình, thắt cổ, khía lưỡi,…Người Việt Nam chẳng những tin linh hồn trường tồn, mà còn tincác linh hồn khi lìa xác vẫn còn tiếp tục lui tới với người sống và hòamình vào tất cả các hoạt động để phụ giúp hay đối nghịch lại.Linh hồn
kẻ chết vẫn còn tiếp tục chịu số phận y hệt khi còn sống, vẫn có điềukiện xã hội như thế, vẫn có những nhu cầu như thế Nếu mộ phần của họđược tôn kính và được săn sóc cẩn thận, nếu họ được cúng kiếng trongcác kì lễ với những lễ vật như rượu, cơm, trái cây hoặc vật dụng tượngtrưng bằng giấy như ngựa, xe, nhà, thuyền, y phục, người hầu, v.v.,(những vật dụng này sẽ được gửi cho các hồn bằng cách hỏa thiêu saukhi cúng lễ) thì khi nhận được lễ vật, các hồn sẽ sung sướng, sẽ có thiệncảm với người dâng cúng và đáp lại lòng tôn kính ấy bằng cách bannhững ân huệ
Như thế, mối cảm thông giữa kẻ chết và người sống đã được thànhlập thật sự.Song nếu kẻ chết không được chôn cất, không có mộ phần,dường như là bị bỏ rơi và khổ sở, họ sẽ trở nên đáng sợ.Họ là những cô