1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lý luận về giá trị thặng dư tương đối của c mác và việc vận dụng vào thực tiễn ở việt nam

19 143 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 97,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tôi chọn đề tài “Lý luận về giá trị thặng dư tương đối của C.Mác và việc vận dụng vào thực tiễn ở Việt Nam” nhằm nghiên cứu sâu hơn giá trị thặng dư tương đối- là phương pháp sản xuất mớ

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

“ Sau khi nhận thấy rằng chế độ kinh tế là cơ sở trên đó kiến trúc thượng tầng chính trị được xây dựnglên thì C.Mác chú ý nhiều đến việc nghiên cứu chế

độ kinh tế ấy” Tác phẩm chính là bộ” Tư Bản” được đàn riêng để nghiên cứu chế độ kinh tế của xã hội hiện đại, nghĩa là xã hội tư bản chủ nghĩa- “ Là kết quả vận dụng thế giới quan duy vật và phương pháp luận biẹn chứng duy vật vào quá trình nghiên cứu phương pháp sản xuất tư bản chủ nghĩa” Bộ “Tư Bản” là công trình khoa học vi đại nhất của C.Mác “ Mục đích cuối cùng của

bộ sách này là phát hiện ra quy luật kinh tế của sự vận động của xã hội hiện đại”

Toàn bộ bộ Tư Bản- trừ quyển IV là quyển phê phán những sai lầm của các học thuyết kinh tế trước Mác và cùng thời Mác- nghiên cứu sự vận động của xã hội tư bản Mỗi quyển có đối tượng nghiên cứu riêng của nó và trong quyển I: Quá trình sản xuất của tư bản, Mác nghiên cứu giá trị thặng dư- đây là vấn đề trung tâm Mục đích chung của nhà tư bản chính là tạo ra nhiều lợi nhuận, tạo giá trị thặng dư Hai phương pháp để sản xuất ra giá trị thặng dư chủ yếu đó là giá trị thặng dư tuyệt đối và giá trị thặng dư tương đối Qua việc nghiên cứu sự sản xuất ra giá trị thặng dư tuyệt đối và giá trị thặng dư tương đối, thấy rõ bản chất của các nhà tư bản cũng như việc nâng cao trình độ bóc lột của tư bản qua các giai đoạn phát triển của nó

Tôi chọn đề tài “Lý luận về giá trị thặng dư tương đối của C.Mác và việc vận dụng vào thực tiễn ở Việt Nam” nhằm nghiên cứu sâu hơn giá trị thặng dư tương đối- là phương pháp sản xuất mới do nhiều nhà tư bản áp dụng, là kết quả chung của sự phát triển tư bản, là sự biểu hiện của sự phát triển lực lượng sản xuất, của xã hội hoá lao động Qua đây liên hệ thực tiễn ở Việt Nam- là nước trong thời kì quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội thì việc tạo ra giá tị thặng dư

có gì khác với nguyên lý mà Mác đã nêu? và những kết qủa kinh tế mà Việt

Trang 2

Nam đạt được trong thời gian qua qua việc áp dụng sản xuất giá trị thặng dư tương đối

2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

Đề tài đi sâu nghiên cứu giá trị thặng dư, quá trình làm tăng giá trị thặng

dư cũng như lí luận giá trị thặng dư tương đối của C.Mác Sự sản xuất ra giá trị thặng dư tương đối là nghiên cứu sự vận động và phát triển của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trong mối liên hệ với sự phát triển của lực lượng sản xuất biểu hiện ở quá trình bóc lột giá trị thặng dư tương đối bằng tăng năng suất lao động

Đề tài phân tích, sự vận dụng sáng tạo lí luận về giá trị thặng dư tương đối của C.Mác trong điều kiện Việt Nam hiện nay

Trang 3

NỘI DUNG

1 LÝ LUẬN VỀ GIÁ TRỊ THẶNG DƯ TƯƠNG ĐỐI CỦA C.MÁC.

a, Giá trị thặng dư.

Giá trị thặng dư được C.Mác xem là phần chênh lệch giữa giá trị hàng hoá và số tiền nhà tư bản bỏ ra Trong quá trình sản xuất kinh doanh, nhà tư bản bỏ ra tư bản dưới hình thức tư liệu sản xuất gọi là tư bản bất biến và bỏ ra

tư bản để thuê lao động gọi là tư bản khả biến Tuy nhiên người lao động đã đưa vào hàng hoá một lượng giá trị lớn hơn số tư bản khả biến mà nhà tư bản

bỏ ra Vậy phần dư đó gọi là giá trị thặng dư

Để tìm ra cơ sở, điều kiện, nguồn gốc của giá trị thặng dư, C.Mác bắt đầu nghiên cứu sự chuyển hoá của tiền thành tư bản đầu chương Mác nêu: lưu thông hàng hoá là khởi điểm của tư bản, tiền tệ là sản vật cuối cùng của lưu thông hàng hoá, nhưng lại là hình thái xuất hiện đầu tiên của tư bản như vậy,

tư bản xuất phát từ lưu thông tiền đóng vai trò là tư bản khác với tiền đóng vai trò là lưư thông, nó có một sự vận động mới “ Hình thái trực tiếp của lưu thông hàng hoá là H- T- H; tức là sự chuyển hoá của hàng hoá thành tiền và sự chuyển hoá ngược lại của tiền thành hàng hoá tức là bán để mà mua Nhưng bên cạnh hình thái đó, chúng ta còn thấy một hình thái khác nữa đặc biệt khác với hình thái ấy, đó là hình thái T- H- T; tức là chuyển hoá của tiền thành hàng hoá và sự chuyển hoá ngược lại của hàng hoá thành tiền ( T222, “ C.Mác và Ănggen toàn tập 23{1})

C.Mác đã vạch ra mâu thuẫn trong sự vận động của tư bản, sự vận động của công thức T-H- T là sự vận động lưu thông của tư bản Mác nghiên cứu và

Trang 4

rút ra kết luận rằng giá trị và giá trị thặng dư không thể sinh ra trong lưu thông được Giá trị là tiền đề của lưu thông chứ không phải là kết quả của lưu thông

Qua phân tích thì công thức chung của tư bản chứa đựng mâu thuẫn: sự chuyển hoá của tiền thành tư bản diễn ra trong lưu thông, đồng thời lại không diẽn ra trong lưu thông” Và C.Mác đã tìm ra chìa khoá để giải quyết mâu thuẫn của công thức chung của tư bản: hàng hoá sức lao động

Lý luận hàng hoá sức lao động chính là chìa khoá để giải quyết mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản Trong những thứ hàng hoá mà nhà tư bản chỉ có thể mua được là những hàng hoá mà giá trị sử dụng của nó khi tiêu dùng nó sẽ tạo ra giá trị đó là năng lực lao động hay sức lao động (T250-251{1}) Sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một cơ thể, trong một con người đang sống và được người đó đem ra vận dụng mối khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó (T251{1}), và việc nghiên cứu, phân tích sự chuyển hoá của tiền thành tư bản trong lĩnh vực lưu thông kết thúc và chuyển sang sự sản xuất giá trị thặng dư trong lĩnh vực sản xuất C.Mác nêu lên điều kiện để sức lao động trở thành hàng hoá đó là: Người lao động phải có khả năng chi phối được sức lao động của bản thân mình, do đó họ phải là những người tự do, sở hữu năng lực lao động của mình, thân thể của mình và chỉ bán sức lao động đó trong một thời gian nhất định Thứ hai, người lao động không có khả năng bán những thứ hàng hoá trong đó lao động của anh ta được vật hoá do không có tư liệu sản xuất, buộc phải bán sức lao động chỉ tồn tại trong cơ thể sống của anh ta (T251- 253{1}).

Tiếp đến C.Mác nghiên cứu hai thuộc tính của hàng hoá sức lao động

là giá trị và giá trị sử dụng Giá trị của hàng hoá sức lao động được xác định bởi thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra sức lao động đó Vì vậy sức lao động tồn tại trong một cơ thể sống nên cần một số tư liệu tiêu dùng hay thời gian cần thiết để sản xuất ra tiêu dùng đó Giá trị sử dụng của sức lao động

là thực hành sức lao động trong quá trình sản xuất- chính là lao động Giá trị sử

Trang 5

dụng hàng hoá sức lao động có đặc điểm là trong quá trình tiêu dùng, tức bắt phải lao động sản xuất thì đó là nguồn sinh ra giá trị có thể lớn hơn giá trị của bản thân nó Phần giá trị dôi ra đó là giá trị thặng dư Ở đây, chúng ta nêu đặc điểm của việc mua bán hàng hoá sức lao động đó là: Khi bán trên thị trường thì giá trị sử dụng của nó vẫn chưa thật sự trao tay cho người mua mà chỉ thực sự được tiêu dùng trong lĩnh vực sản xuất diễn ra bên ngoài lưu thông Giá trị của sức lao động chỉ được trả sau khi nó đã hoạt động trong một thời gian nhất định theo hợp đồng mua sức lao động quy định Như vậy là người công nhân đã cho nhà tư bản ứng trước giá trị sử dụng của mình Lý luận hàng hoá sức lao động

đã vạch rõ nguồn gốc tạo ra giá trị thặng dư là lao động của người công nhân làm thuê

Mục đích của sản xuất tư bản chủ nghĩa là giá trị thặng dư, muốn có giá trị thặng dư thì phải sản xuất ra giá trị sử dụng vì giá trị sử dụng là giá đỡ vật chất chứa đựng giá trị thặng dư Vì vậy quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa vừa

là quá trình lao động vừa là quá trình làm tăng giá trị- tạo ra giá trị thặng dư

Để nghiên cứu quá trình sản xuất giá trị thặng dư, C.Mác đã nêu ba giả định và lấy ví dụ sản xuất sợi để chứng minh Từ đó, C.Mác khẳng định: Cái có

ý nghĩa quyết định trong quá trình làm tăng giá trị là hàng hoá sức lao động có một giá trị sử dụng đặc biệt: sản sinh ra một giá trị lớn hơn giá trị bản thân nó Mác đi đến kết luận: Tiền biến thành tư bản khi có giá trị thặng dư Mác viết

“ quá trình làm tăng giá trị chẳng qua cũng chỉ là quá trình tạo ra giá trị được kéo dài quá một điểm nào đó là thôi Nếu quá trình tạo ra giá trị chỉ kéo dài đến cái điểm ở đó giá trị sức lao động do nhà tư bản trả được hoàn lại bằng một vật ngang giá mới thì đó chỉ là một quá trình giản đơn tạo ra giá trị Còn nếu như quá trình tạo ra giá trị vẫn tiếp diễn quá điểm đó, thì nó trở thành một quá trình làm tăng giá trị ( T291{1}).

Trang 6

Như vậy, phương pháp sản xuất giá trị thặng dư dựa trên cơ sở giá trị sức lao động và thời gian lao động tất yếu không đổi, còn ngày lao động và thời gian lao động thặng dư là những lượng khả biến( là giá trị thặng dư tuyệt đối)

Tóm lại, ta thấy để sản xuất ra giá trị thặng dư thì nhà tư bản phải ứng tư bản ra mua tư liệu sản xuất và sức lao động Bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thức tư liệu sản xuất gồm: máy móc, thiết bị, nhà xưởng và các tư liệu lao động khác Bộ phận này có đặc tính được sử dụng toàn bộ nhưng chỉ hao mòn dần giá trị và chuyển từng phần giá trị sang sản phẩm Nguyên vật liệu và các đối tượng lao động khác có đặc điểm là khi sử dụng thì được tiêu dùng toàn bộ và giá trị của chúng chuyển hết sang sản phẩm một lần

Bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thức sức lao động, một mặt chúng chuyển vào tay công nhân để họ mua tư liệu sinh hoạt, mặt khác trong quá trình sản xuất, bằng lao động trừu tượng người công nhân tạo ra một giá trị mới không những bù đắp giá trị- tư bản đã ứng ra để mua hàng hoá sức lao động mà còn có thêm giá trị thặng dư cho nhà tư bản

Trên cơ sở phân tích Mác viết “ Bộ phận tư bản biến thành sức lao động lại thay đổi giá trị của nó trong quá trình sản xuất Nó tái sản xuất ra một vật ngang giá với bản thân nó, và ngoài ra lại còn sản xuất một số dư, tức là giá trị thặng dư, giá trị thặng dư này có thể thay đổi, có thể lớn hơn hoặc có thể nhỏ hơn Từ một đại lượng bất biến, bộ phận tư bản này không ngừng chuyển hoá thành một lượng tư bản khả biến (T311{1})”.

Vai trò của tư bản khả biến- lao động sống là nhân tố quyết định trong việc tạo

ra nhưng giá trị sử dụng Còn trong quá trình làm tăng giá trị thì nó là nhân tố

cơ bản là nguồn gốc duy nhất tạo ra giá trị thặng dư

b, Gía trị thặng dư tương đối

Mục đích của nhà tư bản là giá trị thặng dư nên họ tìm mọi phương pháp

để tăng giá trị thặng dư Sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối được thực hiện bằng cách tăng năng thời gian lao động thặng dư và ngày lao động khi giá trị sức lao

Trang 7

động và thời gian lao động tất yếu không đổi Nhưng vì ngày lao động chỉ có thể kéo dài trong giới hạn lao động cho phép nên nhà tư bản đã thực hiện phương pháp sản xuất giá trị thặng dư theo con đường riêng biệt của nó: tăng thêm thời gian lao động thặng dư bằng cách rút ngắn thời gian lao động tất yếu chứ không phải là cắt xén tiền công của công nhân Theo C.Mác, việc cắt xén tiền công của công nhân là phương pháp bóc lột phi kinh tế, mặc dầu trên thực

tế là việc làm có thực

C.Mác viết: “ Giá trị thặng dư được sản xuất ra bằng cách kéo dài ngày lao động, thì tôi gọi đó là giá trị thặng dư tuyệt đối, trái lại giá trị thặng dư có được do rút ngắn thời gian lao động cần thiết và do có sự thay đổi tương ứng trong tỷ lệ các đại lượng của hai bộ phận cấu thành ngày lao động, thì tôi gọi đó

là giá trị thặng dư tương đối (T458{1})”

Các nhà tư bản dùng phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối tạo

ra giá trị thặng dư tức là kéo dài ngày lao động, thế nhưng việc kéo dài ngày lao động bị giới hạn về thể chất và tinh thần của người lao động và vấp phải cuộc đấu tranh mạnh mẽ của giai cấp công nhân Mặt khác, khi sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển đến giai đoạn đại công nghiệp cơ khí, kĩ thuật tiến bộ làm cho năng suất lao động tăng lên nhanh chóng, thì các nhà tư bản chuyển sang phương thức mới dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động

Có thể nói, sản xuất ra giá trị thặng dư tương đối là phương pháp bóc lột gọi là “ văn minh và tinh vi”, dựa trên cơ sở áp dụng những thành tựu khoa học

kĩ thuật vào sản xuất và vào tổ chức, quản lý làm tăng năng suất lao động Giá trị thặng dư tương đối ra đời trên cơ sở giá trị thặng dư siêu ngạch Do chạy theo giá trị thặng dư mà các nhà tư bản luôn cải tiến kĩ thuật và phương pháp sản xuất Trong điều kiện bình thường của xã hội, nếu một xí nghiệp cải tiến được kỹ thuật sẽ có giá trị thặng dư siêu ngạch Khi nhiều nhà tư bản áp dụng được phương pháp sản xuất mới thì giá trị xã hội của hàng hoá sẽ giảm xuống, giá trị thặng dư siêu ngạch sẽ chuyển thành giá trị thặng dư tương đối

Trang 8

Ví dụ: Người lao động làm việc 10 giờ, trong đó 5 giờ là lao động tất yếu, 5 giờ lao động thặng dư Nếu giá trị sức lao động giảm 1 giờ thì thời gian lao động tất yếu rút xuống 4 giờ Do đó thời gian lao động thặng dư tăng từ 100%- 150%

Làm thế nào để có thể rút ngắn được thời gian lao động tất yếu? Thời gian lao động tất yếu có quan hệ với giá trị sức lao động Muốn rút ngắn thời gian lao động tất yếu phải giảm giá trị sức lao động Muốn hạ thấp giá trị sức lao động phải giảm giá trị những tư liệu sinh hoạt thuộc phạm vi tiêu dùng của công nhân Điều đó chỉ có thể thực hiện được bằng cách tăng năng suất lao động trong các ngành sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt thuộc phạm vi tiêu dùng của công nhân hay tăng năng suất lao động trong các ngành sản xuất tư liệu sản xuất để sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt đó

Trên cơ sở đó, C.Mác đưa ra phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối là được thực hiện tự phát do tác động của cạnh tranh buộc phải giảm giá trị cá biệt thấp hơn giá trị xã hội để khi bán thu được giá trị thặng dư siêu ngạch Như vậy, giá trị thặng dư tương đối là kết quả chung của các hoạt động riêng biệt của từng nhà tư bản

C.Mác nghiên cứu những nhân tố làm tăng năng suất lao động dể tăng giá trị thặng dư tương đối là: Hiệp tác; sự phân công lao động và công tường thủ công; máy móc và đại công nghiệp Đây cũng là ba giai đoạn phát triển của CNTB Mỗi phương pháp đều có những đặc trưng riêng của nó

- C.Mác phân tích hiệp tác trên các khía cạnh:

Hiệp tác giản đơn ra đời trong buổi đầu của CNTB, đối lập với lao động

cá thể, thủ công của nông dân Nó là điểm xuất phát của phương thức sản xuất

tư bản chủ nghĩa: “ nền sản xuất tư bản chủ nghĩa chỉ thực tế bắt đầu ở nơi nào

mà cũng một tư bản cá biệt ấy thuê được nhiều công nhân trong cùng một lúc,

do đó quá trình lao động mở rộng qui mô của nó và cung cấp sản phẩm với một

số lượng lớn”(T468{1}).

Trang 9

C.Mác so sánh xí nghiệp hiệp tác với sản xuất nhỏ, trên cơ sở đó rút ra

ưu thế của hợp tác, mặc dầu ở đây vẫn là lao động thủ công nhưng hơn hẳn lao động cá thể trên một số mặt: Tiết kiệm được chi phí sản xúât; sự tiếp xúc của

xã hội sinh ra có sự thi đua; nhiều người cùng lao động có thể tác động cùng một lúc do đó rút ngắn thời gian gián đoạn của đối tượng lao động; làm kịp thời

vụ, có thể thu hẹp hay mở rộng không gian, tránh được những lãng phí vô ích Trong các tính ưu việt của hợp tác nổi bật là nó tạo ra một sức sản xuất tập thể được Mác ví “ như sức tấn công của một đội kỵ binh hay sức chống cự của một trung đoàn kỵ binh”(T473{1}) Nhờ đó mà nâng cao năng suất lao động lên rất nhiều Để đạt được ưu thế như vậy thì phải có những điều kịên sau:

+ Trong sự hợp tác phải có kế hoạch + Tích tụ được một khối lượng lớn tư liệu sản xuất vào tay các nhà sản xuất riêng lẻ Đây là điều kiện vật chất cho sự hợp tác của công nhân lao động làm thuê (T479{1})

+ Phải có sự chỉ huy như sự điều khiển của người nhạc trưởng (T480- 482{1}).

Như vậy, hiệp tác giản đơn là quá trình biến lao động riêng lẻ thành lao động xã hội, là bước tiến của quá trình xã hội hoá lao động Thực chất của hiệp tác giản đơn tư bản chủ nghĩa là cuộc cách mạng về tổ chức lao động Quá trình hiệp tác ngắn liền với quá trình tập trung tư liệu sản xuất Đó cũng là quá trình chuyển từ tư hữu nhỏ thành tư hữu lớn,là sự cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của kinh tế thị trường hiệp tác giản đơn tạo ra được một sức sản xuất mới

có năng suất lao động cao hơn, việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ổn định hơn, giá trị thặng dư tương đối ngày càng nhiều

- C.Mác nghiên cứu hiệp tác trong sự phân công lao động ở trong từng xí nghiệp tư bản, để thấy công trường thủ công không những là hình thức đặc biệt của việc tổ chức quá trình lao động mà còn là hình thức đặc biệt của sản xuất ra giá trị thặng dư tương đối

Trang 10

C.Mác chỉ ra hai nguồn gốc của công trường thủ công là: Tập hợp thủ công của nhiều nghề khác nhau và tập hợp thợ thủ công cùng một nghề Đặc điểm kĩ thuật của công trường thủ công là lao động vẫn dựa trên cơ sở công cụ lao động thủ công, sự khoé léo của công nhân Đặc điểm về mặt tổ chức người lao động chỉ là bộ phận của quá trình lao động cùng với công cụ chuyên môn của họ Phân công công trường thủ công là sự chuyên môn hoá lao động, là cuộc cách mạng về sức lao động Do có sự phân công làm cho người lao động lành nghề hơn, tích luỹ được nhiều kinh nghiệm trong sản xuất; hợp lý hoá các thao tác nên giảm bớt được thời gian không cần thiết đồng thời tăng cường độ lao động; tạo ra khả năng và điều kiện để cải tiến công cụ sản xuất từ đó làm tăng năng suất lao động

Hai hình thức cơ bản của công trường thủ công gồm có công trường thủ công hỗn tạp và công trường thủ công hữu cơ

C.Mác phân tích:

+ Công trường thủ công hỗn tạp là công trường thủ công mà trong đó sản phẩm được làm ra thông qua sự kết hợp một cách thuần tuý những bộ phận độc lập của sản phẩm do những người thợ thủ công phân tán sản xuất

+ Công trường thủ công hữu cơ “ là hình thức hoàn bị của công trường thủ công, thì sản xuất những sản phẩm đi qua nhiều giai đoạn phát triển liên quan chặt chẽ với nhau, một chuỗi những quá trình nối tiếp nhau”(T499{1}) Trong công trường thủ công hữu cơ do phân công lao động mà nó tạo một ưu thế về sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Sự phân công làm cho người lao động phiến diện về nghề nghiệp, làm cho chi phí đào tạo giảm, giá trị sức lao động giảm từ đób nhà tư bản thu được nhiều giá trị thặng dư tương đối hơn

Tóm lại, C.Mác nghiên cứu sự phân công trong công trường thủ công

để thấy được do sự phân công lao động dẫn sự chuyên môn hoá sản xuất, người công nhân tích luỹ được nhiều kinh nghiệm, nâng cao nghề, tiết kiệm những thời gian chết trong sản xuất tạo ra năng suất lao động cao, làm cho giá trị

Ngày đăng: 27/08/2021, 12:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w