362.73 LỜI CẢM ƠN Trong thời gian thực hiện đề tài “CTXH cá nhân với trẻ em mồ côi nhằm cải thiện điều kiện sống và học tập tại xã Cẩm Duệ - huyện Cẩm Xuyên - tỉnh Hà Tĩnh”, ngoài sự n
Trang 1362.73 LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực hiện đề tài “CTXH cá nhân với trẻ em mồ côi
nhằm cải thiện điều kiện sống và học tập tại xã Cẩm Duệ - huyện Cẩm
Xuyên - tỉnh Hà Tĩnh”, ngoài sự nỗ lực, cố gắng của bản thân, sinh viên
đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình, những lời động viên sâu sắc từ phía
thầy cô, gia đình và bạn bè
Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo Võ Thị
Cẩm Ly, người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo và giúp đỡ tôi
trong suốt quá trình thực hiện khóa luận này
Tôi cũng cảm ơn sâu sắc tới UBND xã Cẩm Duệ trong việc cung cấp
thông tin và đặc biệt là “cầu nối” để tôi có thể tiếp cận đối tượng nghiên
cứu của mình
Tôi đã nhận được sự tham gia và giúp đỡ nhiệt tình của thân chủ để
tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình
Xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến những người thân, gia đình
và bạn bè, những người quan tâm đến vấn đề nghiên cứu đã hỗ trợ và động
viên trong suốt thời gian làm đề tài
Với năng lực và kinh nghiệm còn nhiều hạn chế Do đó đề tài nghiên
cứu không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót nhất định Tôi rất mong
nhận được đóng góp ý kiến của giảng viên hướng dẫn và những ai quan
tâm đến đề tài này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Vinh, ngày 5 tháng 4 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Thị Mai
Trang 2DANH MỤC VIẾT TẮT
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN I: MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3
2.1 Ý nghĩa khoa học 3
2.2 Ý nghĩa thực tiễn 4
3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 4
3.1 Đối tượng nghiên cứu 4
3.2 Khách thể nghiên cứu 4
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4.1 Mục đích nghiên cứu 4
4.2.Nhiệm vụ nghiên cứu 5
5 Phạm vi nghiên cứu 5
5.1 Không gian nghiên cứu 5
5.2 Thời gian 5
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5
6.1 Phương pháp luận 5
6.2 Phương pháp nghiên cứu 7
6.2.1 Phương pháp thu thập và phân tích tài liệu 7
6.2.2 Phương pháp phỏng vấn sâu 8
6.2.3 Phương pháp thực hành: phương pháp quan sát 8
6.2.4 Phương pháp thực hành: công tác xã hội với cá nhân 9
7 Giả thuyết nghiên cứu 10
6 Bố cục của đề tài 10
PHẦN 2 NỘI DUNG 11
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 11
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 11
1.1.1.Các quan điểm và chính sách của Đảng, Nhà nước về chăm sóc, giáo dục cho trẻ mồ côi có hoàn cảnh khó khăn 11
1.1.2 Các lý thuyết vận dụng trong đề tài nghiên cứu 15
1.1.2.1.Lý thuyết vai trò 16
Trang 41.1.2.2 Lý thuyết khả năng phục hồi 16
1.1.2.3 Lý thuyết nhu cầu 17
1.1.2.4 Lý thuyết hệ thống 20
1.1.3 Các khái niệm sử dụng trong đề tài nghiên cứu 22
1.1.3.1 Khái niệm trẻ em 22
1.1.3.2 Khái niệm trẻ mồ côi 22
1.1.3.3 Khái niệm Công tác xã hội cá nhân 23
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 24
1.2.1 Tổng quan về đề tài nghiên cứu 24
1.2.2 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 26
1.2.3 Vài nét về trẻ mồ côi ở xã Cẩm Duệ 28
CHƯƠNG 2 TIẾN TRÌNH CÔNG TÁC XÃ HÔI CÁ NHÂN VỚI TRẺ MỒ CÔI NHẰM CẢI THIỆN ĐIỀU KIỆN SỐNG VÀ HỌC TẬP TẠI XÃ CẨM DUỆ, HUYỆN CẨM XUYÊN, TỈNH HÀ TĨNH 33
2.1 Tiếp nhận đối tượng 33
2.2 Thu thập thông tin 37
2.2.1 Hoàn cảnh, điều kiện sống của thân chủ và gia đình 40
2.2.2 Những yếu tố cộng đồng và môi trường nơi thân chủ sống 42
2.2.3 Tìm hiểu về các nguồn lực 42
2.2.4 Những chính sách hỗ trợ trẻ mồ côi ở xã Cẩm Duệ 43
2.3 Đánh giá và xác định vấn đề 45
2.3.1 Đánh giá thông tin 45
2.3.2 Xác định vấn đề 46
2.3.3 Sơ đồ phả hệ: 49
2.3.4.Biểu đồ sinh thái: 51
2.3.5 Phân tích điểm mạnh, điểm yếu của hệ thống thân chủ: 53
2.4 Lập kế hoạch can thiệp 55
2.5 Triển khai thực hiện kế hoạch 59
2.6 Lượng giá và kết thúc 64
PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 67
Trang 51 Kết luận 67
2 Khuyến nghị 68
2.1 Khuyến nghị với địa phương 69
2.2 Khuyến nghị với nhà trường 69
2.3 Khuyến nghị đối với gia đình 69
2.4 Khuyến nghị với đối tượng trẻ em mồ côi 69
2.5 Khuyến nghị về chuyên môn 70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
PHỤ LỤC PHÚC TRÌNH 71
PHỤ LỤC ẢNH 86
Trang 6PHẦN I: MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chúng ta đang sống trong thế kỉ XXI cùng với sự phát triển năng động, thần tốc, vũ bão của nền kinh tế tri thức và xã hội thông tin Nhân loại đang được hưởng những thành tựu diệu kì từ các lĩnh vực khoa học như công nghệ thông tin, khoa học kĩ thuật, công nghệ sinh học, nhưng những thành tựu đó không phải ai cũng được hưởng như nhau
Ngày nay đất nước chúng ta đã bước qua thời kỳ chiến tranh kéo dài triền miên, giờ đây đang ra sức xây dựng công nghiệp hóa hiện đại hóa, hội nhập nền kinh tế thế giới, sánh vai cùng các cường quốc năm châu.Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng cộng sản Việt Nam, đất nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng trên tất cả lĩnh vực từ kinh tế, xã hội, chính trị đến văn hóa Gia đình và xã hội đang ngày càng nhận thức rõ trẻ em là
tương lai, là chủ nhân đất nước, với khẩu hiệu " trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai" Vì vậy cần chú trọng đầu tư cho thế hệ trẻ, bên cạnh đó vẫn còn
tồn tại bộ phận không nhỏ trẻ em đang rất cần sự giúp đõ từ nhiều phía Đó
là những em mồ côi, những em bé lang thang trên đường phố, những em khuyết tật, những em phải lao động kiếm sống cực nhọc khi tuổi đời còn nhỏ, với biết bao cạm bẫy của môi trường đầy mạo hiểm để kiếm bát cơm, manh áo qua từng ngày, Các em là những mảnh đời không may mắn trong cuộc sống, các em đang rất cần những vòng tay nhân ái, những cánh tay dang rộng đưa các em vào lòng
Trong bức tranh toàn cảnh về công tác chăm sóc trẻ em nói chung và trẻ mồ côi nói riêng, Việt Nam đã có những thành tựu to lớn, đó là: Việt Nam là nước đứng thứ hai trên thế giới và là nước đầu tiên ở Châu Á thông qua Công ước Quốc tế về quyền trẻ em vào ngày 20 tháng 02 năm 1990 Nhà nước ta cũng ban hành nhiều văn bản pháp luật để bảo vệ trẻ em như
bộ Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ngày 12 tháng 08 năm 1991 Nhà nước ta đã triển khai chương trình hoạt động quốc gia vì trẻ em ở từng
Trang 7giai đoạn Đặc biệt trong thời gian gần đây nhất, vượt qua các cường quốc
và các nước tư bản giàu có, nước ta đã được công nhận là nước đạt mục tiêu thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc đề ra mà trẻ em là đối tượng được ưu hưởng
Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời đã từng nhấn mạnh: "Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người" Bác còn nói: "Thiếu niên, nhi đồng là người chủ tương lai của nước nhà Vì vậy, chăm sóc và giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân Công tác đó phải kiên trì, bền bỉ, Vì tương lai con em ta, dân tộc ta, mọi người, mọi ngành phải có quyết tâm chăm sóc và giáo dục các bé cho tốt" [4;467-468]
Phát huy truyền thống tốt đẹp biết bao đời nay của dân tộc ta, ngày càng có nhiều tổ chức, nhiều cơ quan đoàn thể, nhiều người dân đã và đang
ra sức cống hiến sức mình bằng nhiều hoạt động, chương trình như " Một trái tim, một thế giới", "Vòng tay nhân ái","đèn đom đóm", Hàng loạt mô
hình hỗ trợ trẻ em trong và ngoài nước đã hình thành với mong muốn giúp
đỡ các em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn Bằng các mô hình tổ chức, với các chương trình hoạt động và biện pháp khác nhau tác động vào đối tượng, mỗi mô hình lại có những nét đặc thù riêng
Như chúng ta đã biết trẻ em mồ côi thuộc nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống Hoàn cảnh của các em đều hết sức nghiệt ngã Chỉ có một số trẻ em được nuôi dưỡng và chăm sóc
ở các cơ sở của nhà nước, còn rất nhiều em khác phải tự bươn trải để kiếm sống Một số em bị bắt lao động, còn một số khác sống lang thang trên các đường phố, không nơi nương tưa, sống trong nghèo đói Chính tình cảnh đó khiến cho các em có nguy cơ cao bị thất học, lang thang, bị nhiễm HIV, sử dụng ma túy và bị lôi cuốn vào các hành vi phạm tội và mại dâm
Một thực tế làm cho vấn đề trở nên trầm trọng hơn, đó là Việt Nam chưa có hệ thống bảo vệ trẻ em một cách toàn diện cũng như chưa có các dịch vụ bảo vệ trẻ em Vấn đề này gây cản trở những nỗ lực tiếp cận và
Trang 8chăm sóc cho những trẻ em cần được bảo vệ đặc biệt Những năm gần đây
đã có nhiều nghiên cứu khoa học về quyền trẻ em, trong những tác phẩm này cũng có một phần nào đó đề cập đến trẻ em mồ côi nhưng chưa sâu Nhận thấy được vấn đề cấp thiết và cần quan tâm chăm sóc,
NVCTXH cần là người “kết nối” và giúp đỡ các em, có các mô hình trợ
giúp để trẻ em mồ côi được sống tốt hơn
Trẻ em mồ côi là một đối tượng đặc thù, nhìn chung còn nhiều khó khăn để đảm bảo về kinh tế và tinh thần cũng như có thể hòa nhập cộng đồng
Huyện Cẩm Xuyên là một huyện có diện tích tương đối rộng, và đi lên từ nền nông nghiệp Kinh tế chưa phát triển nên ở huyện còn nhiều hộ gia đình khó khăn, những trẻ em mồ côi chưa được quan tâm tốt để phát triển Hầu hết các em phải sống không nơi nương tựa, trong gia đình nghèo đói…
Với nhưng lí do trên, mang nhiều ý nghĩa thực tiễn nhân viên công tác
xã hội đã mạnh dạn lựa chọn đề tài “Công tác xã hội cá nhân với trẻ em mồ côi nhằm cải thiện điều kiện sống và học tập tại xã Cẩm Duệ - huyện Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh” làm đề tài nghiên cứu, can thiệp của mình
2 Ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn của đề tài
2.1 Ý nghĩa khoa học
Trẻ em nói chung và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn nói riêng trong đó có trẻ mồ côi đã và đang được nhiều ngành khoa học, nhiều cơ quan, tổ chức xã hội quan tâm nghiên cứu như: Uỷ ban dân số, Gia đình và trẻ em, Bộ lao động thương binh và xã hội, các tổ chức quốc tế tại Việt Nam, các ngành khoa học như Tâm lý học, xã hội học, tâm lý học và thêm
Trang 9công tác xã hội cá nhân nhằm cải thiện điều kiện sống và học tập cho thân chủ
Nghiên cứu vận dụng phương pháp công tác xã hội trong quá trình nghiên cứu và thực hành nhằm bổ sung về lý luận cho việc ứng dụng phương pháp này trong thực tiễn
2.2 Ý nghĩa thực tiễn
Sau khi tìm hiểu thu thập những thông tin liên quan đến thân chủ, biết được những khó khăn từ phía bản thân, gia đình của thân chủ và địa phương nơi thân chủ đang sinh sống và học tập, từ đó biết được những nhu cầu, mong muốn của trẻ em mồ côi nói chung, của thân chủ nói riêng
từ đó có những biện pháp hỗ trợ kịp thời
Nghiên cứu để đưa ra mô hình can thiệp cho trẻ em mồ côi nhằm trợ giúp dựa trên chính nhu cầu của đối tượng Thực hiện tốt mô hình sẽ đem lại những giá trị thiết thực cho thân chủ và ứng dụng trong quá trình giúp
đỡ trẻ em mồ côi hòa nhập cộng đồng, ổn định về kinh tế và gia đình.Việc nghiên cứu đề tài tốt sẽ áp dụng vào thực tiễn, từ đó có kinh nghiệm để áp dụng tốt cho những đề tài khác
3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Công tác xã hội cá nhân với trẻ mồ nhằm cải thiện điều kiện sống và học tập tại xã Cẩm Duệ - huyện Cẩm Xuyên - tỉnh Hà Tĩnh
Làng xóm và những người liên quan
Cơ quan chính quyền
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Trang 10Nghiên cứu nhằm mục đích tìm hiểu thực trạng đời sống và học tập của một trẻ em mồ côi tại xã Cẩm Duệ - huyện Cẩm xuyên - tỉnh Hà Tĩnh Nhằm tìm hiểu rõ hơn, sâu hơn về hoàn cảnh đối tượng, những tâm tư, nguyện vọng những ước muốn của thân chủ, học tập sau này để có thể tư vấn, hỗ trợ đưa ra biện pháp hỗ trợ xã hội, tiến tới mô hình can thiệp có tính bền vững, để thân chủ sớm hòa nhập cộng đồng, học tập được tốt hơn
Đề xuất các khuyến nghị trong việc hỗ trợ và chăm sóc trẻ mồ côi để các em được đảm bảo điều kiện phát triển và học tập như những đứa trẻ
khác
4.2.Nhiệm vụ nghiên cứu
Tiếp cận thu thập thông tin về thân chủ và gia đình để hiểu vấn đề thân chủ và giúp thân chủ hiểu rõ vấn đề của bản thân mình
Nghiên cứu này nhằm vận dụng những kiến thức đã học đặc biệt là những kỹ năng và phương pháp CTXHCN vào đối tượng trẻ em mồ côi nhằm tìm hiểu những vấn đề cũng như nhu cầu của họ để từ đó cùng thân chủ xây dựng kế hoạch cụ thể nhằm giải quyết vấn đề, hỗ trợ, định hướng và kết nối
họ với các nguồn lực để giúp thân chủ vươn lên trong cuộc sống
Tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức về vấn đề đời sống và học tập của trẻ em mồ côi đối với hàng xóm, người thân, chính quyền địa phương nhằm huy động tối đa mọi nguồn lực để giúp đỡ thân chủ về vật chất và tinh thần
5 Phạm vi nghiên cứu
5.1 Không gian nghiên cứu
Địa bàn thôn Trần Phú, xã Cẩm Duệ, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh
5.2 Thời gian
Nghiên cứu thực hiện từ 02/2014- 05/ 2014
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp luận
Trang 11Đề tài nghiên cứu dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin mà
cụ thể là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử ( quan điểm khách quan, toàn diện và lịch sử cụ thể) Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi dựa trên lý luận về mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội
Theo chủ nghĩa duy vật lịch sử tất cả các sự kiện, các hiện tượng nảy sinh trong xã hội đều có quá trình phát sinh, phát triển và diệt vong Nhưng mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau sẽ có những biến đổi khác nhau Việc sử dụng chủ nghĩa duy vật lịch sử vào nghiên cứu vấn đề xã hội, các sự kiện, các hiện tượng xã hội thì cần phải đặt nó vào trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể, vào điều kiện của đời sống kinh tế, xã hội mà nó nảy sinh và tồn tại
Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử thì ta có thể thấy khi nghiên cứu, tìm hiểu về trẻ em mồ côi cần đặt trong điều kiện cụ thể về tình hình kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa của xã cũng như điều kiện chung của
cả nước Để có thể mô tả, nhận diện một cách sát thực về tình hình chung cũng như nhu cầu, mong muốn của thân chủ
Bên cạnh sử dụng chủ nghĩa duy vật lịch sử thì chúng tôi còn sử dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng Đó là xem xét một vấn đề xã hội, một sự kiện
xã hội thì phải đặt nó trong mối quan hệ với các sự kiện, hiện tượng xã hội khác, xem có tác động với nhau như thế nào
Áp dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và phương pháp luận duy vật lịch sử vào giải quyết tình huống trẻ em mồ côi ở địa bàn xã Cẩm Duệ - huyện Cẩm Xuyên - tỉnh Hà Tĩnh Phải xem xét và đánh giá thân chủ
ở thời điểm nhất định, ở một không gian nhất định, những nhu cầu của thân chủ và trong điều kiện có hạn cho phép được hưởng và giúp đỡ
Nhân viên CTXH cũng đã vận dụng quan điểm về mối quan hệ giữa chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để nghiên cứu
Vì dựa trên nguyên lí thế giới quan của chủ nghĩa Mác- lênin, chủ nghĩa duy vật biện chứng giải thích các hiện tượng và quá trình xã hội trong mối
Trang 12quan hệ qua lại, trong sự vận động và biến đổi không ngừng còn chủ nghĩa duy vật biện chứng vào việc nghiên cứu cuộc sống của xã hội Áp dụng những nguyên lí ấy vào việc nghiên cứu xã hôi, cũng như nghiên cứu các hình thức xã hội
Chính vì vậy khi xem xét và xác định vai trò của NVCTXH trong việc giải quyết vấn đề thân chủ là trẻ em mồ côi chúng ta cần xem xét trong mối quan hệ với các nhân tố chủ quan và khách quan khác như: môi trường
xã hội, hoàn cảnh gia đình của trẻ em mồ côi, môi trường mà trẻ em mồ côi đang sống, các nhu cầu và nguyện vọng của trẻ em mồ côi
6.2 Phương pháp nghiên cứu
6.2.1 Phương pháp thu thập và phân tích tài liệu
Trong quá trình nghiên cứu nhân viên CTXH đã tham khảo và sử dụng các tài liệu từ các báo cáo tổng kết hàng năm trên tất cả các mặt của
Uỷ ban xã Cẩm Duệ
Các thông tin lấy từ báo cáo đánh giá kết quả thực hiện chương trình chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ mồ côi trong những năm gần đây của xã Cẩm Duệ Ngoài ra còn có các công ước về quyền trẻ em, những quy định
về luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Đồng thời kết hợp với các văn bản quy phạm của Đảng và Nhà nước về công tác chăm sóc, giáo dục trẻ
em có hoàn cảnh khó khăn nói chung và trẻ em mồ côi nói riêng
Qua đó để phân tích và tìm hiểu thực trạng về đời sống và học tập của trẻ em mồ côi trên địa bàn xã Cẩm Duệ, công tác triển khai các chính sách
xã hội dành cho đối tượng trẻ mồ côi ở xã Cẩm Duệ Trên cơ sở đó xác định những khó khăn và rào cản trong việc phát huy hiệu quả việc thực thi các chính sách xã hội cho đối tượng thiệt thòi này
Trong quá trình phân tích tài liệu, điều đặc biệt quan trọng là phải tách mô tả các sự kiện ra khỏi ý kiến nhận xét, đánh giá về các sự kiện đó, cũng như phải chỉ ra được những mục đích cho việc tạo nên tài liệu đó Điều đó là tiền đề để đánh giá tài liệu, để xác định được một cách chính xác
Trang 13giá trị nhận thức của nó như một nguồn thông tin
6.2.2 Phương pháp phỏng vấn sâu
Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu
để thu thập được các thông tin cụ thể để có thể hiểu rõ được vấn đề của thân chủ Để từ đó có thể đưa ra tiến trình giải quyết phù hợp và giúp thân chủ vượt qua các khó khăn hiện tại của mình
Trong đề tài này chúng tôi tiến hành phỏng vấn với những đối tượng sau:
Phỏng vấn cán bộ quản lý địa phương (cán bộ chính sách xã, trưởng
thôn): Nhằm thu thập thông tin về lịch sử hình thành, tình hình về kinh tế, chính trị, văn hóa của Ủy ban nhân dân xã, các chính sách hỗ trợ, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ mồ côi hiện nay Qua đó tìm hiểu những khó khăn và thuận lợi cũng như những hạn chế trong các hoạt động hỗ trợ trẻ mồ côi tại địa bàn nghiên cứu Bên cạnh đó phỏng vấn cán bộ quản lý về trẻ em nhằm tìm hiểu sâu về các chính sách hỗ trợ cho những trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, thông qua đó thu thập thêm những thông tin về thân chủ để làm cơ sở cho quá trình can thiệp
6.2.3 Phương pháp thực hành: phương pháp quan sát
Đây là phương pháp được sinh viên sử dụng nhiều trong quá trình nghiên cứu, đặc biệt là kết hợp trong quá trình vãng gia
Quá trình thu thập thông tin, giải quyết vấn đề chúng tôi cần phải sử dụng phương pháp quan sát để tiến trình nghiên cứu đạt được kết quả cao Mục đích của quan sát là nhằm thu thập và kiểm chứng các thông tin
cơ bản về hoàn cảnh kinh tế gia đình, thái độ hành vi của nhóm đối tượng, những người thân và mọi người xung quanh
Trong tiến trình thực hiện nghiên cứu đề tài chúng tôi đã sử dụng phương pháp quan sát đối với thân chủ và những người thu thập thông tin Chúng tôi sử dụng phương pháp trong mọi hoàn cảnh để thu thập thông tin, có thể quan sát trong quá trình phỏng vấn sâu đối với thân chủ,
Trang 14người thân của thân chủ và cơ quan chức năng, BCH thôn…cũng có thể trong lúc chúng tôi cùng làm việc với thân chủ và người nuôi dưỡng thân chủ Quan sát thái độ của thân chủ trong cách giao tiếp, tiếp xúc với người nuôi dưỡng, những người xung quanh cũng như thái độ, hành vi… người thân, họ hàng cũng như bạn bè, cơ quan chính quyền địa phương đối với thân chủ để từ đó chúng tôi thu thập thông tin và sớm giải quyết vấn đề của thân chủ
6.2.4 Phương pháp thực hành: công tác xã hội với cá nhân
Tiến trình CTXH cá nhân là một chuỗi các hoạt động tương tác giữa NVXH với thân chủ để cùng nhau giải quyết vấn đề Trong quá trình này NVXH dùng các quan điểm giá trị, kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng của mình để giúp đối tượng hiểu rõ vấn đề của mình; đồng thời khích lệ họ biểu đạt tâm tư, nhu cầu, phát huy tiềm năng, tham gia tích cực vào quá trình giải quyết vấn đề nhằm nâng cao năng lực cho đối tượng hòa nhập cộng đồng
Tiến trình CTXH cá nhân là quá trình bao gồm các bước do NVXH
và thân chủ thực hiện để giải quyết vấn đề họ đang gặp phải Đây là các bước nối tiếp nhau theo thứ tự logic, nhưng trong quá trình giúp đỡ có những bước kéo dài và có thể đan xen giữa các bước trong quá trình dựa
trên các hoạt động như thu thập dữ liệu, thẩm định, và lượng giá
Trang 15cơ bản có đặc thù là hướng đến các cá nhân và gia đình có vấn đề Vận dụng phương pháp này vào đề tài nghiên cứu, NVCTXH đã sử dụng cách tiếp cận tâm lý xã hội nhằm nhấn mạnh đến yếu tố tâm lý của trẻ mồ côi và bối cảnh xã hội mà các em đang sống, đó là các em mồ côi thường có tâm
lý mặc cảm, tự ti, ngại tiếp xúc với những người xung quanh, hơn nữa các
em lại thiếu thốn về tình thương yêu của người cha, người mẹ và các em gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống cũng như trong quá trình học tập nên rất cần sự giúp đỡ của cộng đồng
Đồng thời khi sử dụng phương pháp này vào đề tài nghiên cứu, NVCTXH cũng vận dụng một số kỹ năng cơ bản của phương pháp này như:
kỹ năng giao tiếp, kỹ năng vãng gia, kỹ năng quan sát, để có được những thông tin chi tiết cần thiết để đưa ra được tiến trình can thiệp phù hợp với
thân chủ của mình
7 Giả thuyết nghiên cứu
Trẻ mồ côi ở xã Cẩm Duệ, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh hiện nay gặp rất nhiều thiệt thòi khó khăn Điều kiện học tập của các em gặp nhiều trở ngại, thiếu thốn cần sự giúp đỡ của chính quyền địa phương và trường học
Phương pháp công tác xã hội cá nhân dựa vào việc tìm hiểu những nhu cầu và nguyện vọng của một trẻ mồ côi để từ đó xây dựng và triển khai
kế hoạch trợ giúp thân chủ là trẻ mồ côi nâng cao chất lượng cuộc sống, cải thiện điều kiện học tập của các em
6 Bố cục của đề tài
Gồm 2 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn
Chương 2: Tiến trình công tác xã hội cá nhân với trẻ mồ côi nhằm cải thiện điều kiện sống và học tập ở xã Cẩm Duệ, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh
Trang 16PHẦN 2 NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1.Các quan điểm và chính sách của Đảng, Nhà nước về chăm sóc, giáo dục cho trẻ mồ côi có hoàn cảnh khó khăn
Bác Hồ đã từng nói "Thiếu niên nhi đồng là người chủ tương lai của nước nhà Vì vậy chăm sóc và giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân" [4; 67]
Bác chỉ thị " Vì tương lai con em ta, mọi người, mọi ngành phải có quyết tâm chăm sóc và giáo dục các cháu bé cho tốt"
Quan điểm của Bác Hồ đã có ý nghĩa chiến lược chỉ đạo xuyên suốt quá trình phát triển xã hội Việt Nam
Tại Đại hội toàn quốc lần thứ X của Đảng cộng sản Việt Nam nêu rõ :
"Thúc đẩy phong trào toàn xã hội chăm sóc, giáo dục, bảo vệ trẻ em, tạo điều kiện cho trẻ được sống trong môi trường an toàn, lành mạnh, phát triển hài hòa về thể chất, trí tuệ và đạo đức, giảm nhanh tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng".[11;103]
Trang 17Những quan điểm, đường lối của Đảng ta đã được thể chế hóa bằng hiến pháp và pháp luật của nhà nước
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy
định " Trẻ em được gia đình, nhà nước và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục” (điều 65), "Trẻ em mồ côi không nơi nương tựa được nhà nước và xã hội giúp đỡ" (điều 67)
Ngoài hiến pháp, một hệ thống luật đã được ban hành để bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; Luật hôn nhân gia đình; Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân; Luật giáo dục; Luật lao động; Như vậy, Hiến pháp và hệ thống luật đều khẳng định sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em nói chung và trẻ mồ côi nói riêng là sự nghiệp của toàn xã hội và các quyền cơ bản của các em là quyền được bảo vệ, chăm sóc, học tập, vui chơi giải trí, Đảng và nhà nước xác đinh trẻ em có vị trí quan trọng trong sự
nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ tổ quốc “Trẻ em là hạnh phúc của gia đình, là tương lai của đất nước, là lớp người kế thừa sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước Trẻ em không phân biệt gái, trai, con trong giá thú, con ngoài giá thú, con đẻ, con nuôi, con riêng, con chung, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, thành phần địa vị xã hội, chính kiến của cha mẹ hoặc người nuôi dưỡng đều được bảo vệ, chăm sóc, giáo dục, được hưởng các quyền theo quy định pháp luật” [ Điều 2, chương 1, luật bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục trẻ em]
Trẻ em mồ côi là một hiện tượng xã hội đặc biệt không chỉ ở Việt Nam mà còn ở trên thế giới Theo số liệu từ cục bảo vệ chăm sóc trẻ em bộ LĐTB&XH ( Ngày 16/ 01/ 2010) thì nước ta có khoảng 85.193 trẻ
em mồ côi không nơi nương tựa
Từ sau khi hòa bình lập lại Đảng và Nhà nước ta không ngừng đưa ra các chính sách, quy định nhằm phát triển kinh tế và ổn định xã hội Các chính sách ấy đều thay đổi theo thời gian để phù hợp hơn với điều kiện thực tế của đất nước Trong các chính sách mang tính chiến lược đó thì các
Trang 18quan điểm chính sách của nhà nước về trẻ em mồ côi cũng không ngừng được quan tâm và hoàn thiện nhằm giúp các em có một cuộc sống tốt đẹp hơn
Đối với những người già và trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, những người tàn tật, nhà nước thi hành nhiều biện pháp tích cực để giúp đỡ họ
Đối với những trẻ mồ côi không nơi nương tựa: các cháu còn nhỏ tuổi,
ủy ban hành chính cơ sở vận động những người bà con thân thích, những người hiếm con, những người có nhiệt tình nhận về nuôi dạy các cháu hoặc vận động các đoàn thể: thanh niên, phụ nữ, công đoàn đỡ đầu các cháu Uỷ ban hành chính cơ sở có trách nhiệm theo dõi giúp đỡ các gia đình, nhận nuôi các cháu Khi những gia đình này gặp khó khăn trong đời sống thì vận động nhân dân hoặc đề nghị hợp tác xã giúp đỡ thêm Trường hợp thật cần thiết thì nhà nước trợ cấp
Các cháu đi học thì được miễn trả học phí và các khoản đóng góp khác cho nhà trường
Hiện nay đất nước ngày càng đổi mới và phát triển thì các chính sách cũng dần hoàn thiện Tập trung vào việc thực hiện các quyền trẻ em, tạo điều kiện cho trẻ em được sống trong môi trường an toàn lành mạnh và phát triển hài hòa về thể chất, trí tuệ Các chính sách, chương trình của nhà nước cho trẻ em mồ côi hiện được qui định trong nhiều văn bản pháp luật như luật bảo vệ chăm sóc trẻ em
Các quan điểm của Hồ Chí Minh và của Đảng cũng như Hiến pháp và
hệ thống pháp luật của nước ta về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ êm nói chung, trẻ mồ côi nói riêng là cơ sở chính trị, cơ sở pháp lý, cơ sở khoa học trong việc nghiên cứu về trẻ em mồ côi Đây cũng là cơ sở quan trọng trong việc nghiên cứu, thực hiện đề tài khóa luận này
Các chính sách hỗ trợ cho trẻ em mồ côi hiện nay
* Chính sách hỗ trợ nuôi dưỡng
Trang 19Các trẻ em mồ côi được trợ cấp hàng tháng, những ngày lễ tết được
hỗ trợ về vật chất và tinh thần Trẻ em mồ côi bị bỏ rơi sống tại cộng đồng mức trợ cấp là 120.000 – 180.000 – 240.000đ/ tháng tùy đối tượng
Quyết định số 38/ 2004/ QĐ – TTg ( 17/03/ 2004) của Thủ tướng Chính phủ về chính sách trợ giúp kinh phí cho gia đình, cá nhân nhận nuôi dưỡng trẻ em mồ côi và trẻ em bị bỏ rơi
Quyết định số 65/ 2005/ QĐ – TTg( 25/ 03/ 2005) của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt đề án chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt dựa vào cộng đồng giai đoạn 2005- 2010 trong đó có trẻ mồ côi
* Chính sách giáo dục và đào tạo:
Ngoài các chế độ trợ cấp hàng tháng trẻ em mồ côi còn được cấp thẻ bảo hiểm y tế, đang học văn hóa, học nghề thì được miễn giảm học phí, được cấp sách vở đồ dùng học tập theo qui định của pháp luật
Thông tư liên tịch đã hướng dẫn thực hiện một số điều của nghị định
số 49/ 2010/ NĐ – CP
Ngày 14/ 05/ 2010 của chính phủ qui định về miễn giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ năm 2010 – 2015
Căn cứ nghị định số 32/ 2008/ NĐ – CP ngày 19/ 03/ 2008 của Chính phủ qui định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ giáo dục và đào tạo
Căn cứ nghị định số 118/ 2008/ NĐ – CP ngày 27/ 11/ 2008 của Chính phủ quy định chức năng , nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ tài chính
Căn cứ nghị định số 49/ 2010/ NĐ- CP ngày 14/ 05/ 2010 của chính phủ về qui định miễn giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối với cơ sở giáo dục trong hệ thống cơ sở giáo dục quốc dân từ năm học 2010 – 2011 đến hết năm học 2014 – 2015.Trong đó đối tượng miễn giảm học phí là trẻ em mồ côi
Trang 20Trong các chính sách hỗ trợ cho trẻ mồ côi ở mảng miễn giảm học phí
và các khoản đóng góp cùng cơ hội nhận học bổng khuyến khích Chính sách cụ thể được thể hiện ở luật phổ cập giáo dục
Điều 13 qui định: Học sinh là trẻ mồ côi học tại các trường quốc lập
từ tiểu học đến đại học không phải đóng học phí
* Chính sách học nghề và việc làm
Trẻ mồ côi, trẻ tàn tật, trẻ em lang thang, trẻ em bị xâm hại tình dục, trẻ con nhà nghèo được hỗ trợ tiếp nhận dạy nghề miễn phí tại các cơ sở dạy nghề của nhà nước, cơ sở dạy nghề từ thiện nhân đạo
Ngày 23/ 05/ 2005 Chính phủ đã có qui định số 65/ 2005 phê duyệt
đề án “Chăm sóc trẻ mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em
bị tàn tật nặng, trẻ em là nạn nhân chất độc hóa học và trẻ em nhiễm HIV/ AIDS dựa vào cộng đồng giai đoạn 2005 – 2010” Mục tiêu của đề án là
tiến tới trợ giúp tất cả trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, hòa nhập cộng đồng,
ổn định cuộc sống và có cơ hội thực hiện các quyền của trẻ em theo qui
định của pháp luật
Nhiều chương trình hỗ trợ tặng quà của Nhà nước, các tổ chức phi Chính phủ, các nhà hảo tâm dành cho các em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được tiến hành tại các địa phương trong cả nước trong thời gian qua Ngoài việc ra các qui định cụ thể mức trợ cấp xã hội cho các đối tượng nói chung và trẻ mồ côi theo nghị định 67/ 2007/ NĐ – CP thì Đảng
và Nhà nước ta còn ban hành nhiều qui định khác trong từng lĩnh vực đời sống cho trẻ em
1.1.2 Các lý thuyết vận dụng trong đề tài nghiên cứu
Công tác xã hội là một ngành khoa học, một nghề chuyên môn nhằm tăng cường các chức năng của cá nhân bằng các hoạt động tập trung vào các quan hệ xã hội của họ tạo nên sự tương tác giữa con người với môi trường xung quanh, phục hồi các chức năng cho cá nhân Công tác xã hội là một ngành chuyên môn, một ngành khoa học xã hội ứng dụng có liên quan
Trang 21đến nhiều ngành khoa học khác như: tâm lý học, xã hội học, triết học, Trong đề tài này NVCTXH đã sử dụng một số lý thuyết của các ngành khoa học này nhưng dưới góc độ tiếp cận của ngành CTXH
1.1.2.1.Lý thuyết vai trò
Vai trò là mô hình hành vi gắn với vị thế xã hội của một cá nhân, của các nhóm xã hội khác nhau Vai trò xã hội nó chính là mô hình hành vi mà
xã hội mong đợi, cũng có nghĩa là vai trò được thực hiện những chuẩn mực
xã hội, những bổn phận, những nghĩa vụ, những chức năng xã hội
Mỗi cá nhân trong xã hội đều đảm nhận nhiều vai trò khác nhau Vai trò bao giờ cũng đi liền với trách nhiệm hay chính là chức năng phải thực hiện mà xã hội mong đợi ở các chủ thể hành động Như vậy có thể thấy vai trò chính là những đòi hỏi đặt ra mà buộc mỗi cá nhân, nhóm ở vị thế của mình phải thực hiện
Mỗi thời kỳ, mỗi xã hội khác nhau việc xác định vai trò cho mỗi một
vị thế có sự thay đổi khác nhau Để thực hiện các vai trò của mình đòi hỏi các chuẩn mực phải rõ ràng, các cá nhân phải học đóng các vai trò ứng với mỗi một quan hệ xã hội, ở mỗi một vị trí thì người ta lại có vai trò khác nhau
Vận dụng lý thuyết này vào đề tài để ta thấy được vai trò của các cá nhân, các tổ chức xã hội, của cộng đồng xã hội và đặc biệt là gia đình, người thân trong công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em mồ côi là
em Trà và hai em nhỏ của em Những người thân của em, chính quyền, các
tổ chức đều có vai trò nhất định trong việc chăm sóc và giáo dục em, hỗ trợ
em về mọi mặt để em được đảm bảo điều kiện sống và học tập
Ngoài ra vận dụng lý thuyết này còn để làm nổi bật vai trò của NVCTXH đối với trường hợp thân chủ Trà
1.1.2.2 Lý thuyết khả năng phục hồi
Khả năng phục hồi là khả năng chịu đựng và sự khôi phục trở lại, thậm chí phát triển sau những biến cố mà họ đã trải qua Điều này cũng
Trang 22được xem là trọng tâm của quan điểm thế mạnh( Cohen, 1999)
Quan điểm về khả năng phục hồi cho rằng con người có kỹ năng, kiến thức và cách tư duy sâu sắc được tích lũy theo thời gian và họ sử dụng nó
để vượt qua hoàn cảnh, đối phó với những thách thức của cuộc sống Khả năng phục hồi sau hoàn cảnh khó khăn sẽ giúp con người trở nên mạnh mẽ
và năng động hơn; nó được xem là một yếu tố để đối phó và thích ứng với hoàn cảnh khó khăn, với sự tổn thương và mất mát Goildstein coi đó như
là một "hình thức phức tạp của tính linh hoạt và khả năng kiểm soát được nuôi dưỡng từ quá trình xã hội hóa của cá nhân".(Goldstein, 1997, Cohen, 1999)
Các loại khả năng phục hồi: có 3 loại khả năng phục hồi khác nhau:
- Cá nhân đạt được một kết quả tích cực sau tình huống có vấn đề - được gọi là vượt qua hoàn cảnh khó khăn
- Loại khả năng phục hồi thứ hai: là cá nhân khôi phục lại trạng thái cân bằng sau trạng thái căng thẳng được gọi là khôi phục sau tình huống căng thẳng
- Loại khả năng phục hồi thứ ba: đó là sự thích nghi thành công khi cá nhân đối mặt với hoàn cảnh khó khăn, hoặc sự phục hồi, hoặc sự phục hồi thích nghi từ chấn thương [14;39-40]
Vận dụng lý thuyết này vào đề tài với mục đích giúp thân chủ tăng cường khả năng phục hồi cá nhân với sự hỗ trợ của NVCTXH Vì hoàn cảnh của thân chủ Trà là trẻ mồ côi cả cha và mẹ NVCTXH giúp thân chủ vượt qua khó khăn và cú sốc cuộc sống
1.1.2.3 Lý thuyết nhu cầu
Theo chủ nghĩa Mác - Lê nin: "Nhu cầu là đòi hỏi kết quả của mỗi con người trong những điều kiện nhất định, đảm bảo sự sống và phát triển của mình"
Nhu cầu thể hiện sự đòi hỏi của cơ thể sống đối với môi trường bên ngoài, thể hiện thành những ứng xử tìm kiếm, nếu không thì cơ thể thiếu
Trang 23nhiều điều kiện để tồn tại [Tâm lý học xã hội, những vấn đề tâm lý- Nxb
Khoa học xã hội, 1997]
Môi trường hành vi của con người đều do sự thúc đẩy nhất định, nhu
cầu được thỏa mãn thì con người cảm thấy hụt hẫng và có những hành vi
chống lại những trở ngại trong công việc tìm kiếm nhu cầu Nhu cầu là
động lực thúc đẩy cá nhân và nhóm xã hội hoạt động, phát triển
Theo lý thuyết nhu cầu của Maslow thì có 5 mức nhu cầu:
Hình 1: Tháp nhu cầu của Maslow
Mỗi con người là những cá nhân riêng biệt, đều có những nhu cầu
khác nhau, trước hết là về nhu cầu vật chất, đây là nhu cầu tối thiểu mà con
người cần được đáp ứng và hướng đến những nhu cầu khác cao hơn là con
người cần được an toàn, tạo điều kiện cho sự phát triển liên tục, con người
được yêu thương, được khẳng định mình và tự hoàn thiện mình
Nhu cầu thể chất, sinh lí đó là các nhu cầu về đồ ăn, nước uống, không
khí, nhu cầu tình dục… Nhu cầu này được xem là nhu cầu cơ bản nhất trong
5 nhóm nhu cầu theo sự phân định của A.Masllow Ông cho rằng muốn tồn
tại trước hết con người cần được ăn, được uống, được hít thở Nếu con người
không được đáp ứng các nhu cầu này thì sự sinh tồn của họ sẽ bị đe dọa
Nhu cầu này của con người luôn được xem là nhu cầu cần được đáp ứng
Trang 24trước tiên
Nhu cầu an toàn là nhu cầu mà con người cần có một môi trường sống an toàn, sức khỏe được đảm bảo để tồn tại Họ cần có nhà để ở, để tránh mưa, tránh nắng họ cần được khám chữa bệnh, được chăm sóc sức khỏe Họ cần được sống trong môi trường đảm bảo về an ninh để tính mạng của họ không bị đe dọa Họ cần có môi trường sinh hoạt, vận động an toàn không gây thương tích… Con người sẽ phát triển rất khó khăn khi họ luôn sống trong môi trường không ổn định và đầy nỗi sợ hãi Vì vậy gia đình và
xã hội có trách nhiệm tạo ra môi trường an toàn cho cuộc sống của các thành viên
Nhu cầu tình cảm xã hội (nhu cầu được gắn bó, yêu thương) A.Masllow xem đó như là nhu cầu thuộc về nhóm xã hội của con người, sự mong muốn được quan tâm của các thành viên trong nhóm xã hội Con người cần có gia đình, được tới trường để học tập và vui vẻ trong nhóm bạn
bè của lớp học Trong nhóm họ tìm thấy vai trò, vị trí của mình, tìm thấy cảm giác về sự thừa nhận của người khác về sự tồn tại của họ, sự quan tâm
và yêu thương của các thành viên khác đối với họ Nó cách khác, con người cần có các quan hệ xã hội Họ cần được khẳng định mình trong nhóm và cần được yêu thương, được quan tâm và chăm sóc từ các thành viên trong nhóm Con người cần được giao lưu với những người khác và hòa nhập vào các nhóm khác trong xã hội Sức mạnh của họ được nhân lên, sự tự tin cũng được tăng cường khi họ là thành viên của của các nhóm bởi điều đó khẳng định vai trò, vị trí của họ trong xã hội Sự đơn độc, không gia đình, không có nhóm xã hội nào để cá nhân thuộc về đó sẽ ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển tâm lí và quan hệ xã hội của cá nhân
Nhu cầu được tôn trọng cũng là một nhu cầu quan trọng của con người Con người luôn cần được bình đẳng, được lắng nghe, không bị coi thường Dù đó là ai, trẻ em hay người lớn người lành lặn hay khuyết tật… Con người có trở nên tự tin hay không, thể hiện được sức mạnh của mình
Trang 25hay không đó là một phần họ có được đối xử bình đẳng hay không ngay từ khi còn nhỏ Sự chè ép hay lấn át với một cá nhân ở bất cứ nơi đâu, dù ở trong gia đình, cơ quan hay các môi trường xã hội khác đều có thể gây nên những ức chế tâm lí, sự thụ động và hạn chế khả năng đề kháng của họ.Vì vậy ai cũng có nhu cầu được đối xử bình đẳng, coi trọng, được lắng nghe
và phát biểu ý kiến Tuy nhiên nhu cầu này ở những người thuộc tầng lớp yếu thế trong xã hội như người nghèo, phụ nữ, trẻ em…thường không được thực sự coi trọng
Nhu cầu được hoàn thiện và phát triển, đó là nhu cầu được đến trường, được nghiên cứu, lao động sáng tạo…để phát triển toàn diện
Như vậy đối với thân chủ Trà là trẻ mồ côi thì trong quá trình tiếp xúc và làm việc với TC thì NVXH nhận thấy thân chủ cần đáp ứng các nhu cầu như nhu cầu sinh lý vật chất, tinh thần để có một cuộc sống ổn định lâu dài cho đến khi trưởng thành để có thể sống tự lập, hòa nhập cộng đồng, hội nhập xã hội, hình thành nhân cách, phát triển toàn diện Vì hoản cảnh của em là mồ côi cả cha lẫn mẹ nên việc đáp ứng các nhu cầu sinh lý vật chất cho em là rất cần thiết Khi những nhu cầu cơ bản không được đáp ứng thì các nhu cầu bậc cao hơn của thân chủ cũng không được đáp ứng
Từ việc xác định các nhu cầu của TC thì giúp NVCTXH có thể dựa vào đó để có thể có tiến trình trợ giúp phù hợp, để giúp TC vượt qua các khó khăn của mình
1.1.2.4 Lý thuyết hệ thống
Đây là lý thuyết quan trọng dùng trong CTXH nhằm chỉ ra cho thân chủ thấy những gì họ tả, những hệ thống trợ giúp nào họ có thể tiếp cận và tham gia bởi trợ giúp của hệ thống là hướng đến những cái cụ thể và mang tính hòa nhập
Các quan điểm trong CTXH có nguồn gốc từ hệ thống tổng quát của nhà sinh vật học Bertalanffy được đề xướng năm 1940 Lý thuyết của ông
là một hệ thống sinh học cho rằng: “Mọi tổ chức hữu cơ đều là những hệ
Trang 26thống được tạo nên từ các tiểu hệ thống và ngược lại nó cũng là một hệ thống lớn hơn Do đó con người là một bộ phận của xã hội và được tạo nên
từ các phần tử mà được tạo dựng từ các nguyên tử nhỏ” Sau này được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và phát triển
Khái niệm hệ thống : “Hệ thống là tập hợp các thành tố được sắp xếp các trật tự và liên hệ với nhau để hoạt động thống nhất” Một hệ thống
có thể gồm nhiều tiểu hệ thống, đồng thời hệ thống đó cũng là một bộ phận của hệ thống lớn hơn Hai yếu tố quan trọng của hệ thống là cấu trúc của hệ thống và sự tác động qua lại của hệ thống Trong đó cấu trúc hệ thống là cách thức tổ chức, nhấn mạnh đến ranh giới giữa các mối quan hệ giữa các thành viên trong hệ thống gần gũi hay xa cách Còn sự tác động qua lại đề cập đến mối quan hệ giữa cá nhân với nhau trong hệ thống và quan hệ trong môi trường xung quanh họ Lý thuyết mô tả con người sống và làm việc chịu sự tương tác với gia đình, bạn bè, hàng xóm, các tổ chức xã hội…
Trong CTXH cá nhân, hai hình thức cơ bản của lý thuyết hệ thống được phân biệt rõ ràng:
- Lý thuyết hệ thống tổng quát
- Lý thuyết hệ thống sinh thái
Lý thuyết hệ thống đóng góp quan trọng trong CTXH, một trong những đóng góp đó là định nghĩa 3 cấp độ hệ thống:
- Cấp vi mô: Con người là tiểu hệ thống tạo thành bởi hệ thống tâm, sinh lý, xã hội, các tiểu hệ thống này tác động lẫn nhau CTXH can thiệp ở cấp độ hệ thống này hướng vào nhu cầu con người, những vấn đề và điểm mạnh của họ Đồng thời nhấn mạnh tính chất cá nhân và giúp họ thực hiện chức năng của mình
- Cấp trung mô: Hệ thống này đề cập đến nhóm nhỏ ảnh hưởng lên
cá nhân như gia đình, nhóm làm việc, nhóm xã hội khác
- Cấp vĩ mô: Hệ thống này nói đến các nhóm và hệ thống lớn hơn gia đình Bốn hệ thống vĩ mô tác động đến cá nhân là các tổ chức, các thiết chế,
Trang 27cộng đồng và nền văn hóa
Trong xã hội, mỗi cá nhân đều có môi trường và hoàn cảnh sống, họ phải chịu tác động của các yếu tố môi trường và bản thân tác động lại môi trường xung quanh Do đó nhân viên CTXH vận dụng lý thuyết hệ thống
để hiểu rõ hệ thống của thân chủ và có cách tiếp cận và huy động nguồn lực cho thân chủ giải quyết vấn đề của họ Mặt khác lý thuyết này cũng được
áp dụng để xây dựng mô hình can thiệp vào 3 cấp độ của hệ thống: cá nhân, gia đình, cộng đồng
Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng lý thuyết hệ thống để chỉ ra được các mối quan hệ của thân chủ với các hệ thống xung quanh và mối quan hệ của thân chủ với các hệ thống đó Như đối với thân chủ Trà có các
hệ thống xung quanh như hệ thống gia đình, hệ thống bạn bè,….Qua đó ta thấy được mối quan hệ của thân chủ với các hệ thống để từ đó huy động các nguồn lực để hỗ trợ thân chủ Trà giải quyết vấn đề khó khăn của mình
1.1.3 Các khái niệm sử dụng trong đề tài nghiên cứu
1.1.3.1 Khái niệm trẻ em
Theo công ước quốc tế về quyền trẻ em của Liên Hiệp Quốc năm
1989 xác định “Trong phạm vi công ước này, trẻ em có nghĩa là dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn” Công ước quốc tế nhấn mạnh “Trẻ em là người non nớt về thể chất và trí tuệ ” do vậy cần được bảo vệ và giúp đỡ để các em được
phát triển đầy đủ và hài hòa nhân cách của mình, được trưởng thành trong môi trường gia đình của mình, trong bầu không khí thương yêu, đồng cảm
Ở Việt Nam theo quy định của luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em thì “Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” [Điều 11 luật bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004]
1.1.3.2 Khái niệm trẻ mồ côi
Hiện nay khái niệm trẻ mồ côi vẫn là một vấn đề gây nhiều tranh cãi
Đã có nhiều ngành, nhiều đề tài nghiên cứu khoa học đưa ra những cách
Trang 28hiểu khác nhau về khái niệm này Nhưng phổ biến nhất là hai khái niệm:
Trẻ mồ côi thực tế: Là một đứa trẻ chia ly vĩnh viễn với một người thân (cha hoặc mẹ) do cha hoặc mẹ bị chết, hoặc cả cha và mẹ đều chết gọi
Với khái niệm này có thể đưa ra ba tiêu chí để nhận dạng trẻ mồ côi:
Mất cả cha lẫn mẹ: Cha mẹ đều chết hoặc chết một người, một người mất tích
Mất cha: Cha chết hoặc bỏ đi mất tích, mẹ không có điều kiện chăm sóc
Mất mẹ: Mẹ chết hoặc bỏ đi mất tích, cha không có điều kiện chăm sóc
Trong nghiên cứu này sẽ tiếp cận với trẻ mồ côi cả cha lẫn mẹ
1.1.3.3 Khái niệm Công tác xã hội cá nhân
Công tác xã hội cá nhân là một cách thức, quá trình nghiệp vụ mà nhân viên xã hội sử dụng các kĩ năng kiến thức chuyên môn để giúp đối tượng (cá nhân hoặc gia đình) phát huy tiềm năng tích cực tham gia vào quá trình giải quyết vấn đề cải thiện đời sống của mình
Công tác xã hội cá nhân được các nhân viên xã hội sử dụng trong các
cơ sở xã hội hoặc các tổ chức để giúp những người có vấn đề thực hiện các chức năng xã hội Công cụ chủ yếu trong công tác xã hội cá nhân là mối tương quan giữa nhân viên xã hội và các cá nhân để giúp họ tự hiểu rõ vấn
đề của chính mình Đồng thời khích lệ họ biểu đạt tâm tư, nhu cầu qua đó
để nhân viên xã hội hiểu được các vấn đề của đối tượng và tiến hành các
Trang 29hoạt động trợ giúp
Quan điểm công tác xã hội cá nhân khi can thiệp hỗ trợ một cá nhân là giải quyết vấn đề của cá nhân trong tình huống cụ thể, nghĩa là giải quyết vấn
đề cá nhân trong mối quan hệ tương tác giữa môi trường xã hội và cá nhân
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.2.1 Tổng quan về đề tài nghiên cứu
Chăm sóc, bảo vệ trẻ em nói chung và trẻ mồ côi nói riêng là mối quan tâm lớn của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội và chiến lược phát triển con người Mối quan tâm này được thể hiện ở Việt Nam là nước đầu tiên ở châu Á và là nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước quốc tế về Quyền trẻ em vào ngày 20/02/1990 Nhà nước đã công bố Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, đã thông qua và đưa chương trình hành động vì trẻ em giai đoạn 1991-2000 và Chương trình hành động vì trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn giai đoạn 1999-2002; Quyết định số 65/2005/QĐ-TTg của thủ tướng Chính phủ
về việc phê duyệt đề án " chăm sóc trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ
em bị bỏ rơi, trẻ em tàn tật nặng, trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học
và trẻ em bị nhiễm HIV/AIDS dựa vào cộng đồng giai đoạn 2005-2010"
Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định việc bảo vệ và chăm sóc trẻ
em là trách nhiệm của gia đình, nhà trường, xã hội, công dân Trẻ em không phân biệt gái, trai, con trong giá thú, con ngoài giá thú, con đẻ, con nuôi, con chung, con riêng, không phân biệt tôn giáo, thành phần địa vị xã hội, chính kiến của cha mẹ hoặc người nuôi dưỡng đều được bảo vệ, chăm sóc
và giáo dục, được hưởng các quyền theo quy định của pháp luật
Luật Bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em được Quốc hội thông qua ngày 12/08/1991, có hiệu lực ngày 16/08/1991 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em gồm 26 điều quy định cụ thể quyền, bổn phận của trẻ em và trách nhiệm của gia đình, nhà nước và xã hội phải đảm bảo thực hiện các quyền đó
Đối với trẻ em mồ côi, Luật pháp nước ta nhấn mạnh:
Trang 30+ Tránh mọi hình thức phân biệt đối xử với trẻ em mồ côi, trẻ em bị
bỏ rơi được đăng kí khai sinh
+ Giúp đỡ để các em có điều kiện sống trong tình thương của gia đình, được chăm sóc và bảo vệ
Xung quanh vấn đề thực hiện chính sách cho trẻ em mồ côi đã có không ít các công trình nghiên cứu các cơ quan nghiên cứu thuộc Trung Tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, Bộ Lao động và Thương binh & Xã hội và đặc biệt là các tổ chức quốc tế tại Việt Nam
Những nghiên cứu mang tính chất rộng khắp, và nghiên cứu tổng
quát như nghiên cứu “Trẻ em mồ côi và trẻ em lang thang: thực trạng và giải pháp” năm 2007 Ứng dụng đề tài nghiên cứu để tìm hiểu về thực
trạng và giải pháp giúp đỡ trẻ em mồ côi và trẻ em lang thang nhằm cải thiện và giúp đỡ trẻ em một cách tốt nhất
Chương trình “Bảo vệ trẻ em” Với sự hỗ trợ trực tiếp của UNICEF,
Chính phủ đang xây dựng Chiến lược Quốc gia về Bảo vệ trẻ em nhằm thiết lập một bộ máy và hệ thống bảo vệ cho trẻ em trong giai đoạn 2006 -
2015 chương trình nhằm tăng cường bộ máy và chiến lược tổng thể về bảo
vệ trẻ em và thiết lập một hệ thống công lý thân thiện với trẻ em
"Lạm dụng trẻ em Việt Nam, báo cáo bước đầu về khái niệm, bản chất và mức độ lạm dụng trẻ em Việt Nam" của tác giả Reina Michaelon
chuyên gia UNICEF của Liên Hợp Quốc( tháng 6 năm 2003)
Nói về thực trạng khó khăn của trẻ em mồ côi, trẻ em lang thang, nạn
lạm dụng trẻ em đã được đăng trên báo An ninh thế giới Bài viết “Nạn lạm dụng trẻ em mồ côi tại các khu du lịch và vùng thảm họa”
Ở quy mô nhỏ hơn có những đề tài như “Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt:
Lí luận và thực tiễn” Do nhiều tác giả; Nguyễn Thị Mỹ Dung, Bùi Đoàn
Thanh Thảo, nguyễn Thị Kim Thanh thực hiện tại trường Đại học Luật TP HCM
"Đoàn thanh niên cộng sản HCM với việc chăm sóc, giáo dục trẻ em có
Trang 31hoàn cảnh đặc biệt khó khăn" của tác giả Đặng Cảnh Khanh
Trên địa bàn huyện cũng có nhiều đề tài nghiên cứu về trẻ em mồ côi Ông Hoàng Mạnh Lâm trưởng phòng LĐTB và Xã Hội huyện Cẩm Xuyên
- tỉnh Hà Tĩnh với đề tài nghiên cứu “Trẻ em mồ côi tại huyện Cẩm Xuyên - tỉnh Hà Tĩnh - Thực trạng và giải pháp”
Những mặt mạnh cũng như những gì đã đạt được của những công trình nghiên cứu trên là không thể phủ nhận, những đề tài đó đã góp phần giúp xã hội quan tâm và chăm sóc trẻ em mồ côi tốt hơn Những hạn chế cần khắc phục… để tiến tới phát triển xã hội một cách bền vững và công bằng
Những đề tài đã nêu trên mang tính chất rộng lớn và khái quát, nghiên cứu trên phạm vi rộng và nhiều đối tượng cùng một lúc Để hiểu rõ
về những nhu cầu của cũng như mong muốn và những khó khăn của đối
tượng, can thiệp vào 1 đối tượng cụ thể chúng tôi đã thực hiện đề tài “Công tác xã hội cá nhân với trẻ em mồ côi nhằm cải thiện điều kiện sống và học tập tại xã Cẩm Duệ - huyện Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh” Nghiên cứu tập trung
đi sâu nghiên cứu những nhu cầu cần thiết của trẻ em mồ côi, đi sâu vào hoàn cảnh của TC và từ đó giải quyết được vấn đề của trẻ mồ côi
1.2.2 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
Xã Cẩm Duệ là một xã đồng bằng nằm về phía Đông Bắc huyện Cẩm Xuyên cách trung tâm huyện lị khoảng 10km, cách bờ biển khoảng 20km
Xã có tọa độ địa lí: Từ 18˚11’10” đến 18˚11’10” độ vĩ Bắc, Từ 18˚18’05” đến 105˚55’06” độ kinh Đông, có ranh giới hành chính chung với các xã:
+ Phía Bắc giáp xã Cẩm Thành
+ Phía Nam giáp xã Cẩm Mỹ
+ Phía Đông giáp xã Cẩm Quan
+ Phía Tây giáp xã Cẩm Thạch
Trang 32Cẩm Duệ có địa hình tương đối bằng phẳng, thấp dần theo hướng Tây Bắc xuống Đông Nam, toàn xã có độ cao trung bình từ 1,5m đến 3,5m, phía Bắc có nhiều đồi núi Cẩm Duệ là một xã thuần nông và là một xã nghèo, nhân dân chủ yếu là làm nông nghiệp, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn Xã có diện tích đất tự nhiên là 674,98 ha, có 1483 hộ gia đình với 6351 khẩu, chủ yếu làm nông nghiệp chiếm 63,3 %, số người trong độ tuổi lao động chiếm 64,8% Là một xã đất chật người đông, xã có chiều dài khoảng 8 km, chiều rộng khoảng 4,6 km, có tuyến đường giao thông chính của xã dài 4,8 km đã được nhựa hóa Hệ thống đường liên thôn
đã được bê tông hóa tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân sản xuất, đi lại và lưu thông hàng hóa, giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các xã trong huyện
Cẩm Duệ là một xã chủ yếu làm nông nghiệp,thường xuyên bị thiên tai tàn phá Trải qua những thăng trầm , biến cố của lịch sử, nhân dân Cẩm Duệ từ thế hệ này đến thế hệ khác vẫn luôn sống đoàn kết, vượt qua mọi khó khăn, đấu tranh với thiên nhiên để sinh tồn
Trong Công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Cẩm Duệ là xã có bề dày đấu tranh cách mạng Đặc biệt, từ khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Cẩm Duệ đã đóng góp sức người và sức của góp phần làm nên thắng lợi vẻ vang trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, thống nhất đất nước
Địa giới hành chính của vùng đất Cẩm Duệ từ trước công nguyên đến năm 1945 đã có nhiều lần thay đổi với những tên gọi khác nhau
Từ thuở sơ khai nhà nước Văn Lang, nơi đây là một phần đất thuộc
Trang 33hiện các chính sách an sinh xã hội, giải quyết việc làm cho người lao động
và công tác xóa đói giảm nghèo Thực hiện tốt công tác chi trả chế độ chính sách cho người có công với cách mạng và các đối tượng hưởng bảo hiểm
xã hội, mở rộng các loại hình bảo hiểm y tế, bảo hiểm bắt buộc, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho đối tượng người có công với cách mạng và người nghèo Nhờ đó, đời sống vật chất cũng như tinh thần của các đối tượng được hưởng chế độ và người dân không ngừng được nâng cao, cải thiện và
ổn định hơn
Công tác chăm sóc trẻ em cũng được chú trọng, đặc biệt là trẻ em nghèo, trẻ em mồ côi, trẻ em nhiễm chất độc da cam như có các đợt khám chữa bệnh, tặng quà, cấp xe lăn cho các trẻ em bị tàn tật vận động
Như vậy, có thể nói rằng, xã Cẩm Duệ – huyện Cẩm Xuyên là một
xã có tiềm năng về điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội Trong những năm qua, Cẩm Duệ có những chính sách phát triển hợp lý, cơ cấu kinh tế có những bước chuyển dịch khá nhanh theo hướng ngày càng phù hợp hơn, tốc độ tăng trưởng kinh tế không ngừng tăng lên Tuy nhiên đi liền với sự phát triển thì các tệ nạn xã hội trên địa bàn cũng xuất hiện nhiều hơn, một bộ phận dân cư còn trong tình trạng nghèo khó, đời sống còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là các đối tượng trẻ mồ côi Hơn bao giờ hết cần phải triển khai những chính sách hiệu quả để phát triển và phát triển bền vững, từng bước cải thiện, nâng cao đời sống của các em nói riêng đặc biệt
là trẻ em mồ côi và của nhân dân nói chung
1.2.3 Vài nét về trẻ mồ côi ở xã Cẩm Duệ
Chuyển sang thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa, nền kinh tế phát triển, mở rộng thì đời sống người dân, của toàn xã hội được nâng cao Nhưng bên cạnh đó vẫn còn có những người gặp không ít khó khăn về kinh
tế và nhiều mặt trong cuộc sống Nghiên cứu đề tài này chúng tôi muốn hướng đến một đối tượng cụ thể là trẻ em mồ côi tại xã Cẩm Duệ
Cẩm Duệ là xã có 12 xóm, có 1.670 trẻ em dưới 16 tuổi trong tổng
số dân 6.351 người Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng 15%, có 20 trẻ em bị
Trang 34khuyết tật và bệnh hiểm nghèo, có 7 trẻ em bị nhiễm chất độc da cam, có
378 trẻ em thuộc gia đình hộ nghèo Hiện nay trong toàn xã có 30 trẻ em
mồ côi, trong đó có 6 trẻ em mồ côi cả cha và mẹ và 24 trẻ em mồ côi cha hoặc mồ côi mẹ
Bảng 1: Thống kê tổng số trẻ em và TEHCĐB tại xã Cẩm Duệ năm 2013
Nhƣ vậy số trẻ mồ côi tại xã Cẩm Duệ tính đến năm 2013 là có 30
em, các em có hoàn cảnh khác nhau, em thì mồ côi cả cha lẫn mẹ, em thì
mồ côi cha hoặc mồ côi mẹ
Các em mồ côi ở xã có hoàn cảnh đặc biệt, xuất thân từ những gia đình nghèo khó Qua bảng thống kê còn cho thấy số trẻ mồ côi một bề ( mồ côi bố hoặc mẹ) chiếm số lƣợng lớn hơn, có đến 80%, còn số lƣợng trẻ em
mồ côi hai bề ( cả bố và mẹ) chiếm 20 %
Cuộc sống của các em gặp nhiều khó khăn, bởi phần đông các em sống trong điều kiện gia đình nghèo, nhất là hoàn cảnh gia đình sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, không có nghề làm thêm cho thu nhập gia đình
Trang 35hoặc cũng do nguyên nhân bệnh tật, ốm yếu Dù mỗi em có hoàn cảnh xuất thân khác nhau nhưng đều có điểm chung là thiếu thốn tình cảm cha - mẹ,
sự uốn nắn, dạy dỗ đầy đủ của cha - mẹ, khả năng tư duy, năng lực nhận thức trong các quan hệ xã hội của các em không được phát triển toàn diện Hầu như các em có tư tưởng tự ti, mặc cảm, dễ bị lôi kéo vào các tệ nạn xã hội, không muỗn chia sẻ nhưng muốn được người khác quan tâm, Chính
vì thế các em rất cần có sự bảo vệ cũng như quan tâm, chăm sóc và giáo dục đầy đủ
Hoàn cảnh của những trẻ em mồ côi rất khó khăn, những em mồ côi
cả cha lẫn mẹ thì đang nhận sự cưu mang từ những người thân và xóm làng nhưng các em gặp phải rất nhiều khó khăn.Còn những em mồ côi cha hoặc
mẹ thì đang sống cuộc sống khó khăn thiếu thốn không chỉ tinh thần mà còn cả vật chất, các em luôn mơ ước có một gia đình hạnh phúc như các bạn cùng trang lứa
Mỗi em có những hoàn cảnh riêng, nhưng khi mất đi một người quan trọng trong gia đình thì mỗi thành viên nhất là trẻ em sẽ thấy hụt hẫng và thiếu thốn tình cảm, và sẽ khó khăn hơn nữa khi em phải sống trong điều kiện gia đình nghèo Có một số em đã vươn lên hoàn cảnh của mình, nhưng
có em lại mặc cảm, tự ti, sống khép mình và có những suy nghĩ lệch lạc Vì vậy NVXH quan tâm và hỗ trợ cho trẻ mồ côi ở xã Cẩm Duệ có được điều kiện để nâng cao năng lực hòa nhập cộng đồng tốt hơn
Qua khảo sát thực tế thì chúng tôi nhận thấy có sự chênh lệch không chỉ ở số lượng trẻ mồ côi cả cha và mẹ với trẻ mồ côi cả cha lẫn mẹ Mà còn có sự chênh lệch rất lớn ở cơ cấu giới tính, cấp bậc học của các em Nó được thể hiện như sau:
Bảng 2: Cơ cấu giới tính của trẻ mồ côi
Trang 362 Nữ 13
Nguồn: Báo cáo của UBND xã Cẩm Duệ năm 2013
Bảng 3: Cơ cấu trẻ mồ côi ở xã phân theo độ tuổi:
Nguồn: Báo cáo của UBND xã Cẩm Duệ năm 2013
Qua bảng số liệu ta có thể thấy phần lớn đang ở quá trình xã hội hóa
cá nhân Ở lứa tuổi này đang diễn ra quá trình phát triển mạnh về tâm sinh
lý Bởi vậy việc đáp ứng các nhu cầu để giúp các em phát triển toàn diện cả
về thể lực, trí tuệ và nhân cách là rất quan trọng
Bảng 4: Cơ cấu trẻ mồ côi theo bậc học
Nguồn: Báo cáo của UBND xã Cẩm Duệ năm 2013
Học tập là nhu cầu và quyền lợi của tất cả mọi người Công ước
Quốc tế về quyền trẻ em đã xác định rằng: " các quốc gia thành viên công nhận quyền của trẻ em được học hành" (điều 38) và luật bảo vệ, chăm sóc
Trang 37trẻ em đã nêu :" Cha mẹ, người đỡ đầu có trách nhiệm tạo điều kiện tốt cho các em học tập" Gia đình và cha mẹ đều mong muốn cho con được học
hành đến nơi đến chốn
Mặc dù hoàn cảnh gia đình khó khăn nhưng các em đã biết vượt qua hoàn cảnh để vươn lên học tập Như thân chủ Trà, mặc dù gia đình hoàn cảnh rất khó khăn nhưng em vẫn học đạt kết quả tốt, luôn được học sinh giỏi của lớp, của trường Về nhà thì ngoài việc học còn dạy cho em trai học bài nữa
Qua bảng số liệu số 4 thì ta nhận thấy số trẻ em mồ côi tại xã đều được đi học, tuy nhiên có khác ở độ tuổi đi học Qua bảng số liệu ta thấy số lượng trẻ mồ côi học tiểu học và trung học cơ sở chiếm số lượng lớn
Trang 38CHƯƠNG 2 TIẾN TRÌNH CÔNG TÁC XÃ HÔI CÁ NHÂN VỚI TRẺ MỒ CÔI NHẰM CẢI THIỆN ĐIỀU KIỆN SỐNG
VÀ HỌC TẬP TẠI XÃ CẨM DUỆ, HUYỆN CẨM XUYÊN,
TỈNH HÀ TĨNH
2.1 Tiếp nhận đối tượng
Tiến trình công tác xã hội cá nhân khởi đầu bằng giai đoạn tiếp nhận đối tượng Với trường hợp thân chủ gặp khó khăn về điều kiện sống và học tập, nhân viên xã hội tiến hành vãng gia đến gia đình thân chủ Nhằm mục đích tiếp cận thân chủ, giúp thân chủ thấy được NVCTXH đến thăm họ, thấy được sự quan tâm đến an sinh của họ và tạo được niềm tin từ TC để có thể nhận được sự chia sẻ từ thân chủ về những vấn đề họ đang gặp phải.Tiếp cận thân chủ với mục đích bước đầu tìm hiểu được một số thông tin cơ bản về thân chủ của mình
Tiếp cận thân chủ, tạo được niềm tin cho thân chủ là một nhiệm vụ khó khăn Mà đây là tiếp xúc với trẻ mồ côi lại gặp khó khăn là một vấn đề rất khó bởi tâm lý trẻ luôn mặc cảm, khép mình, có sự nghi ngờ khi gặp người lạ… Vì thế mà ngay từ đầu NVXH cần phải chân thành, khéo léo, nhẹ nhàng, cởi mở… để tạo được sự tin tưởng với thân chủ ngay từ ban đầu
Qua sự tìm hiểu và được sự giới thiệu của UBND xã Cẩm Duệ là anh Trần Xuân Long - Phó chủ tịch xã, tôi đã đến gặp chị Nguyễn Thị Ngọc Minh – cán bộ chính sách xã để tìm hiểu một số thông tin về tình hình trẻ
em nói chung và trẻ mồ côi nói riêng trên địa bàn xã Thông qua buổi trao đổi này tôi đã biết được thực trạng trẻ mồ côi hiện nay và nguyên nhân, khó khăn mà trẻ em lại rơi vào hoàn cảnh như vậy
Mục tiêu của buổi làm việc này nhằm thiết lập mối quan hệ với với cán bộ cơ sở qua đó tìm hiểu một số thông tin về tình hình trẻ em mồ côi
Trang 39trên địa bàn xã, thông qua trao đổi với cán bộ thôn và thông qua hồ sơ trẻ
em mồ côi được lưu trữ tại xã
Sau khi có được danh sách và một số thông tin về trẻ em mồ côi, NVCTXH đặc biệt quan tâm đến hoàn cảnh của em Nguyễn Hương Trà bởi
em đang trong hoàn cảnh khó khăn cha mẹ em mất mới được hơn 1 năm,
em đang sống với bà nội cùng hai em nhỏ của em Cuộc sống của em rất vất vả và gặp nhiều khó khăn về cuộc sống cũng như học tập
Giúp nhân viên xã hội quan sát môi trường gia đình của thân chủ, giúp nhân viên xã hội thấy được các tương tác nảy sinh giữa các thành viên trong gia đình Nhờ đó nhân viên xã hội có thể suy ra những thái độ và quan hệ gia đình và người thân đấy để từ đó đưa ra những giải pháp hữu hiệu nhất cho thân chủ
Trong cuộc vãng gia, nhân viên có thể thực hiên những kỷ năng như
kỷ năng phỏng vấn, kỷ năng quan sát để có thể thu thập những thông tin về thân chủ, để xác định đúng đối tượng, hệ thống về thân chủ
Từ hồ sơ trẻ mồ côi sinh viên thu thập được một số thông tin về thân chủ như tên tuổi, địa chỉ, hoàn cảnh, thu nhập như sau:
Thân chủ: Nguyễn Hương Trà
+ Thông tin về bản thân
- Họ tên: Nguyễn Hương Trà
Trang 40gia đình em phải bán hết tài sản và vay mượn về chữa bệnh cho cha em, nhưng vẫn không đủ để chạy chữa Qúa tuyệt vọng trước hoàn cảnh của mình nên nhiều lần cha em đã tìm cách tự tử nhưng không thành Rồi vào một buổi sáng sớm, cha em đã ra con sông Ngàn Mọ sau nhà và đã gieo mình xuống lòng sông Mẹ em chạy theo cứu cha nhưng không thành nên
cả hai bị ngã xuống sông chết đuối.Trước đó gia đình thân chủ cùng sống với bà nội (ông nội đã mất), gia đình làm nghề nông Cha mẹ TC mất thì để lại ba đứa con nhỏ, trong đó TC là con cả trong gia đình Từ khi cha mẹ em mất thì để lại món nợ cho gia đình, gia đình em kinh tế khánh kiệt Bà nội
em thì đã già yếu và hay ốm đau Nên TC gặp nhiều khó khăn để đảm bảo cuộc sống và việc học tập của mình
+ Thông tin về môi trường sống
- Bà nội: Dương Thị Chinh
“Cháu Trà thật tội nghiệp, hoàn cảnh éo le, bố mẹ nó đã mất Để lại cho bà 3 đứa cháu nhỏ.Mà Trà lại là chị cả của hai em, nên vất vả lắm