nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống và môi trường; mực nước biển dâng cao gây ngập lụt, gây nhiễm mặn nguồn nước, ảnh hưởng đến nông nghiệp và gây rủi ro lớn tới kinh tế - xã hội cũng nh
Trang 1BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG
CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐỐI VỚI TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN, MÔI TRƯỜNG VÀ ĐỀ XUẤT ĐỊNH HƯỚNG ỨNG PHÓ TẠI TỈNH NGHỆ AN
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG VÀ MÔI TRƯỜNG
NGHỆ AN - 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA ĐỊA LÝ - QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN
=== ===
BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG
CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐỐI VỚI TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN, MÔI TRƯỜNG VÀ ĐỀ XUẤT ĐỊNH HƯỚNG ỨNG PHÓ TẠI TỈNH NGHỆ AN
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG VÀ MÔI TRƯỜNG
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài là một cơ hội rèn luyện, học hỏi quan trọng, đánh dấu một bước ngoặc lớn trong cuộc đời tôi Trong quá trình thực hiện, tôi gặp rất nhiều khó khăn, trở ngại, nhưng tôi đã may mắn nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, động viên để vượt qua mọi khó khăn và có thể hoàn thành khóa luận này Đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới ThS Phạm Vũ Chung, người
đã chỉ dẫn tận tình các vấn đề gặp phải trong quá trình nghiên cứu và dành nhiều thời gian quý báu giúp tôi có thể hoàn thành đề tài nghiên cứu này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Khoa Địa lý- Quản lý tài nguyên, các cán bộ trong cơ quan Trung tâm quan trắc Môi trường đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài này
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè tôi đã giúp đỡ, động viên khích lệ và cùng thảo luận với tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn!
Nghệ An, tháng 9 năm 2014
Sinh viên
Trần Bích Phương
Trang 4MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Giới hạn nghiên cứu 3
4 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 3
NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 6
1.1 Cơ sở lí luận 6
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 6
1.1.2 Tổng quan về biến đổi khí hậu 7
1.2 Cơ sở thực tiễn 12
1.2.1 Các kịch bản và xu hướng biến đổi khí hậu trên thế giới 12
1.2.2 Kịch bản và xu hướng biến đổi khí hậu tại Việt Nam 20
1.2.3 Hậu quả của các hiện tượng thời tiết cực đoan do biến đổi khí hậu gây ra ở Việt Nam 22
1.3 Kinh nghiệm của các địa phương và quốc tế trong việc tiếp cận và ứng phó với biến đổi khí hậu 31
CHƯƠNG 2 NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN, MÔI TRƯỜNG Ở TỈNH NGHỆ AN 34
2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Nghệ An 34
2.1.1 Điều kiện tự nhiên tỉnh Nghệ An 34
2.1.2 Đặc điểm chung kinh tế - xã hội 39
2.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 41
2.2 Những biểu hiện của biến đổi khí hậu ở tỉnh Nghệ An trong thời gian qua 43
2.2.1 Sự biến đổi của các yếu tố khí hậu trung bình 43
2.2.2 Diễn biến của các yếu tố thời tiết cực đoan và các tai biến tự nhiên, môi trường trên địa bàn tỉnh Nghệ An 46
2.3 Tác động của biến đổi khí hậu đến đa dạng sinh học và hệ sinh thái 59
Trang 52.3.1 Tác động của BĐKH đến HST rừng đầu nguồn Nghệ An 59
2.3.2 Tác động của BĐKH đến HST biển, HST sông và cửa sông ở Nghệ An 62
2.3.3 Biến động về diện tích rừng ngập mặn trên địa bàn Nghệ An 63
2.3.4 Ảnh hưởng của BĐKH đến phát triển các loài sinh vật xâm hại 64
2.4 Tác động của BĐKH đến môi trường sống của con người 65
2.4.1 Tác động của BĐKH đến các khu đô thị, các vùng dân cư và tuyến điểm du lịch, di tích lịch sử 65
2.4.2 Tác động của BĐKH đến sức khỏe, y tế 70
2.4.3 Tác động của BĐKH đến các hoạt động nông - lâm - ngư nghiệp 72
2.4.4 Kết luận 76
CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở TỈNH NGHỆ AN 77
3.1 Các nguyên tắc và định hướng xây dựng biện pháp thích ứng, hành động ứng phó với BĐKH ở tỉnh Nghệ An 78
3.2 Nhóm các giải pháp kĩ thuật ứng phó với BĐKH 81
3.2.1 Các giải pháp kĩ thuật ứng phó với bão, lũ lụt 81
3.2.2 Ứng phó với nguy cơ thiếu nước ngọt và xâm nhập mặn 84
3.3 Biện pháp thích ứng đối với Biến đổi khí hậu 84
3.3.1 Các giải pháp thích ứng trong nông nghiệp 85
3.3.2 Các giải pháp thích ứng trong lĩnh vực lâm nghiệp 86
3.3.3 Các giải pháp thích ứng trong lĩnh vực ngư nghiệp 86
3.3.4 Các giải pháp thích ứng trong lĩnh vực y tế và sức khỏe 86
3.4 Nhóm các giải pháp giảm thiểu BĐKH 86
3.4.1 Nhóm các giải pháp giảm thiểu tác động của BĐKH đến đa dạng sinh học 86
3.4.2 Nhóm các giải pháp giảm thiểu tác nhân gây nên BĐKH 88
3.5 Nhóm các giải pháp hỗ trợ 91
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 93
1 Kết luận 93
2 Kiến nghị 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Trang 6DANH MỤC VIẾT TẮT
ASEAN Hiệp hội quốc gia Đông Nam Á
BCH PCLB& TKCN Ban chỉ huy Phòng chống lụt bão và Tìm kiếm cứu nạn
Bộ NN& PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Bộ TN & MT Bộ Tài nguyên và Môi trường
IPCC Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu
IUCN Liên minh bảo tồn thiên nhiên quốc tế
JICA Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản
TTKTTV Trung tâm khí tượng thủy văn
UNEP Chương trình môi trường Liên hợp quốc
Trang 7DANH MỤC HÌNH VÀ BẢNG BIỂU
Trang
Hình
Hình 1 1 Nhiệt độ trái đất trong vòng 140 năm qua 13
Hình 1 2 Hiện tượng bất thường của thời tiết (băng tan) 13
(http://www.tinmoitruong.vn) Hình 1.3 Mực nước biển dâng giai đoạn 1960 – 2003 14
Hình 1.4 Các hiện tượng thiên tai 15
(http://nguyenthiennhan.net/) Hình 1.5 Dự báo nồng độ CO2 theo kịch bản phát thải 19
Hình 1 6 Lũ lụt tại miền Trung 23
(http://www.anninhthudo.vn/) Hình 1.7 Bão lốc 26
(http://giadinh.net.vn/) Hình 1.8 Hạn hán 28
(http://www.cand.com.vn/) Hình 1.9 Lũ quét và sạt lở đất 29
(http://www.tinmoitruong.vn) Bảng: Bảng 1.1 Thống kê một số trận lũ lụt điển hình và thiệt hại 24
Bảng 1.2 Thống kê một số cơn bão điển hình và thiệt hại 26
Bảng 2.1 Tình hình sử dụng đất tỉnh Nghệ An (đến năm 2011) 35
Bảng 2.2 Nguồn nhân lực (đến 31/12/2011) 39
Bảng 2.3 Các chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu 40
Bảng 2.4 Nhiệt độ không khí trung bình qua từng thập kỷ ở Nghệ An tại ba trạm Vinh, Tương Dương và Diễn Châu 44
Bảng 2.5 Thống kê xu thế tăng (+)/ giảm (-) nhiệt độ không khí trung bình tại các trạm Vinh, Tương Dương, Diễn Châu giai đoạn 1961 - nay 44
Bảng 2.6 Tổng lượng mưa qua từng thập kỷ ở Nghệ An 45
Bảng 2.7 Số đợt nắng nóng xẩy ra ở Nghệ An trong những năm gần đây 47
Trang 8Bảng 2.8 Tổng hợp diện tích bị ảnh hưởng do hạn hán trong những năm
gần đây 47
Bảng 2.9 Số đợt rét đậm, rét hại ở Nghệ An 49
Bảng 2.10 Số ngày có lượng mưa lớn và lượng mưa ngày lớn nhất tại trạm thủy văn Vinh 50
Bảng 2.11 Thống kê lượng mưa 1 ngày, 3 ngày và 5 ngày lớn nhất tại trạm khí tượng Vinh giai đoạn 1973-2012 50
Bảng 2.12 Thống kê lượng mưa 1 ngày, 3 ngày và 5 ngày lớn nhất tại trạm khí tượng Đô Lương giai đoạn 1978-2012 51
Bảng 2.13 Số cơn bão ảnh hưởng trực tiếp từ 1983 - nay 51
Bảng 2.14 Thiệt hại do một số cơn mạnh bão gây ra ở tỉnh Nghệ An 52
Bảng 2.15 Biểu thống kê tình hình cháy rừng tỉnh Nghệ An giai đoạn 2001 - 2013 61
Bảng 2.16 Sự suy giảm ĐDSH ở biển Nghệ An (tính đến tháng 7/2011) 62
Bảng 2.17 Các loài cá hiếm gặp tại hệ sinh thái sông trên địa bàn tỉnh Nghệ An 63
Bảng 2.18 Diện tích rừng ngập mặn ở Nghệ An qua 10 năm (ha) 64
Bảng 2.19 Ảnh hưởng của nước biển dâng theo kịch bản của Bộ TN& MT 66
Bảng 2.20 Số dân bị mất đất theo các mực nước biển dâng khác nhau theo kịch bản của Bộ Tài nguyên và Môi trường 67
Bảng 2.21 Thiệt hại do các hiện tượng khí tượng thủy văn nguy hiểm gây ra tại Nghệ An từ 2001-2008 71
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
“Cuộc khủng hoảng khí hậu là cuộc khủng hoảng nghiêm trọng nhất mà nền văn minh nhân loại từng đối mặt từ trước đến nay” (Al Gore, 2007) Biến đổi khí hậu với biểu hiện chính là sự nóng lên toàn cầu và nước biển dâng Nhiều tổ chức quốc tế và các nhà khoa học nhận định BĐKH là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong thế kỉ 21 Biến đổi khí hậu là vấn đề đang được toàn nhân loại quan tâm Biến đổi khí hậu đã và đang tác động trực tiếp đến đời sống kinh tế- xã hội và môi trường toàn cầu Trong những năm qua, nhiều nơi trên thế giới đã phải chịu nhiều thiên tai nguy hiểm như bão lớn, nắng nóng dữ dội, lũ lụt, hạn hán và khí hậu khắc nghiệt gây thiệt hại lớn về tính mạng con người và vật chất Đã có nhiều nghiên cứu cho thấy mối liên hệ giữa các thiên tai nói trên với biến đổi khí hậu Trong một thế giới ấm lên rõ rệt như hiện nay và việc xuất hiện ngày càng nhiều các thiên tai đặc biệt nguy hiểm với tần suất, quy mô và cường độ ngày càng khó lường, thì những nghiên cứu về biến đổi khí hậu càng cần được đẩy mạnh
Hiện nay, đô thị hóa là một trong các yếu tố làm thay đổi sử dụng đất, phát triển hệ thống hạ tầng đô thị mạnh mẽ nhất ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Phát triển đô thị nhanh chóng gây ra những ảnh hưởng tới đa dạng sinh học, môi trường và cả khí hậu Trái lại, BĐKH cũng có những tác động tới sử dụng đất, định cư, xây dựng, vận hành cơ sở vật chất
Đối với Việt Nam, BĐKH có những biểu hiện, gây ra những ảnh hưởng khác nhau Tại Việt Nam, trong khoảng 50 năm qua, nhiệt độ trung bình năm đã tăng khoảng 0,7oC, mực nước biển đã dâng khoảng 20cm Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (2007), Việt Nam là một trong năm nước sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất của BĐKH và nước biển dâng, trong đó vùng đồng bằng sông Hồng và sông Mê-Kông bị ngập chìm nặng nhất Nếu mực nước biển dâng 1m sẽ có khoảng 10% dân số bị ảnh hưởng trực tiếp, tổn thất đối với GDP khoảng 10% Nếu nước biển dâng 3m sẽ có khoảng 25% dân số bị ảnh hưởng trực tiếp và tổn thất đối với GDP lên tới 25% Điều đó ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển bền vững của đất nước [15] Có thể thấy rằng, biến đổi khí hậu đang và sẽ tác động
Trang 10nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống và môi trường; mực nước biển dâng cao gây ngập lụt, gây nhiễm mặn nguồn nước, ảnh hưởng đến nông nghiệp và gây rủi ro lớn tới kinh tế - xã hội cũng như hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật… Vì vậy cần phải có nhận thức và quan tâm đúng mức cũng như các kế hoạch hành động cụ thể đối phó với các vấn đề liên quan tới biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng, trên mọi phương diện như quy hoạch không gian, quy hoạch các điểm định cư, sử dụng đất…
Nghệ An là một trong những tỉnh ven biển thuộc vùng Bắc Trung Bộ, nơi có chế độ thời tiết vô cùng khắc nghiệt, chính vì thế rất nhạy cảm với BĐKH Hiện nay, các hiện tượng thời tiết cực đoan với tần suất và mức độ khốc liệt ngày càng cao như bão, áp thấp nhiệt đới, lũ lụt, hạn hán, úng hạn và xâm nhập mặn Đặc biệt, vùng cát ven biển là nơi dễ bị tổn thương bởi các tác động của BĐKH như nước biển dâng, nhiệt độ tăng, cường độ các loại thiên tai ngày càng mạnh hơn Việc cung cấp thêm thông tin nhằm hoạch định các giải pháp ứng phó với BĐKH tại địa phương, giúp tìm ra những biện pháp ứng phó phù hợp là rất cần thiết Là một sinh viên học về ngành quản lý tài nguyên rừng và môi trường, Nghệ An cũng là quê hương và là nơi tôi sinh sống nên tôi nhận thức rõ được tính thời sự và cấp thiết hiện nay về biến đổi khí hậu đang diễn ra ngay trên quê hương mình Do đó, tôi đã
chọn đề tài “Bước đầu nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu đối với tài nguyên thiên nhiên, môi trường và đề xuất định hướng ứng phó tại tỉnh Nghệ An”
2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 113 Giới hạn nghiên cứu
3.3 Thời gian
Các số liệu và thông tin trong đề tài nghiên cứu được lấy từ năm 2005 trở lại đây Nhất là phần cụ thể ở tỉnh Nghệ An thì chủ yếu sử dụng nhiều số liệu ở các năm gần đây để cho thấy tính thời sự và cấp bách của vấn đề
4 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
4.1 Quan điểm nghiên cứu
4.1.1 Quan điểm tổng hợp
Tài nguyên, môi trường là điều kiện và phương tiện hoạt động sống của con người, nó liên quan chặt chẽ và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống, sức khoẻ, đến quyền sinh tồn và quyền phát triển của con người Mối quan hệ tương tác chặt chẽ giữa môi trường tự nhiên, sức khoẻ và quyền con người là rất rõ ràng Sự suy thoái tài nguyên, ô nhiễm, thảm hoạ môi trường gây tác hại lớn đến phát triển kinh tế-
xã hội, sức khoẻ thể chất tinh thần và mức độ hưởng thụ các quyền con người
Trang 124.1.4 Quan điểm lịch sử viễn cảnh
Mọi sự vật, hiện tượng địa lý đều có nguồn gốc phát sinh, phát triển riêng, quá trình nghiên cứu phải đặt các đối tượng vào các quan hệ trong sự vận động và hoàn cảnh cụ thể Chính vì vậy, vận dụng quan điểm này ta thấy được thực trạng tác động của BĐKH ở tỉnh Nghệ An được rõ hơn Từ đó đánh giá được khả năng, triển vọng phát triển, đề ra được những định hướng và các giải pháp góp phần giảm thiểu
và tăng tính thích nghi trong tương lai
4.2 Phương pháp nghiên cứu
4.2.1 Thu thập, xử lí thông tin và tài liệu
Xác định đối tượng và các nội dung thu thập tài liệu theo mục tiêu của đề tài:
- Tiến hành thu thập tài liệu
- Xử lí, phân tích và tổng hợp tài liệu
Các tài liệu thu thập được xử lí, phân tích và tổng hợp trong đề tài dưới nhiều hình thức khác nhau Đó có thể là những trích dẫn nguyên văn có chỉ rõ nguồn trích, hoặc những dẫn chứng, những minh họa dưới dạng các bảng biểu, tranh ảnh, hoặc
có thể vận dụng vào phân tích cơ sở lí luận cho việc BĐKH Các tài liệu được tổng hợp theo từng mục riêng dựa vào đề cương nghiên cứu của đề tài Đồng thời lập ra một danh sách đầy đủ các tài liệu tham khảo được sử dụng trong đề tài để làm cơ sở cho việc đối chiếu
4.2.4 Phương pháp phỏng vấn
Phương pháp này được tác giả sử dụng để làm rõ một số vấn đề liên quan đến nội dung nghiên cứu mà trong các tài liệu thu thập được không có hoặc có
Trang 13nhưng chưa rõ ràng, đầy đủ và thiếu cập nhật Các đối tượng tác giả phỏng vấn bao gồm: các cán bộ chuyên trách ở các phòng ban, người dân
Đồng thời, trao đổi và tiếp nhận sự góp ý từ các nhà khoa học am hiểu về lĩnh vực kinh tế - xã hội và các vấn đề liên quan đến BĐKH
4.2.5 Phương pháp khảo sát thực địa
Phạm vi nghiên cứu của đề tài chủ yếu gồm Thành phố Vinh, H.Hưng Nguyên, H.Nghi Lộc, H.Diễn Châu, thị xã Cửa Lò nên cần thời gian để kết hợp các phương pháp nghiên cứu Việc khảo sát thực địa được thực hiện ở một số vùng nhằm phát hiện và kiểm định một số vấn đề của đề tài
4.2.6 Phương pháp PRA (Đánh giá nhanh nông thôn)
Tiến hành nghiên cứu thực địa, quan sát thực tế, phỏng vấn các hộ nông dân,
cơ sở tại địa phương để thu thập những thông tin liên quan đến tình hình BĐKH, đời sống,… của các hộ nông dân trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Trang 14NỘI DUNG CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
a, Thời tiết là trạng thái của khí quyển tại một thời điểm và một thời điểm nhất định được xác định bằng các yếu tố như nhiệt độ, áp suất, độ ẩm, tốc độ gió, mưa…Các hiện tượng nắng, mưa, mây, gió, nóng, lạnh…thường thay đổi nhanh chóng từ nơi này sang nơi khác, từ ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác, năm này qua năm khác
b, Khí hậu là trạng thái trung bình của thời tiết tại một khu vực nào đó, như một tỉnh, 1 nước, 1 châu lục hoặc toàn cầu trên cơ sở chuỗi dữ liệu dài (thường là
e, Nóng lên toàn cầu: Nói một cách chặt chẽ, sự nóng lên và lạnh đi toàn cầu
là các xu thế nóng lên và lạnh đi tự nhiên mà Trái đất trải qua trong suốt lịch sử của
nó Tuy nhiên, thuật ngữ này dùng để chỉ sự tăng dần nhiệt độ Trái đất do các chất khí nhà kính tích tụ trong khí quyển Quan điểm cho rằng nhiệt độ Trái đất đang tăng lên, một phần do phát thải khí nhà kính đi đôi với các hoạt động của con người như đốt các nhiên liệu hóa thạch, đốt sinh khối, phá rừng, nuôi bò và cừu, những thay đổi sử dụng đất
f, Phát thải là sự thải các khí nhà kính và/hoặc các tiền tố của chúng vào khí quyển trên một khu vực và thời gian cụ thể
Trang 15g, Khả năng bị tổn thương do tác động của Biến đổi khí hậu là mức độ mà một hệ thống (tự nhiên, kinh tế, xã hội) có thể bị tổn thương do BĐKH, hoặc không
có khả năng thích ứng với những tác động bất lợi của BĐKH
h, Ứng phó với Biến đổi khí hậu là các hoạt động của con người nhằm thích ứng và giảm nhẹ biến đổi khí hậu
i, Giảm nhẹ Biến đổi khí hậu là các hoạt động nhằm giảm mức độ hoặc cường độ phát thải khí nhà kính
k, Kịch bản Biến đổi khí hậu là giả định có cơ sở khoa học và tính tin cậy về
sự tiến triển trong tương lai của các mối quan hệ giữa kinh tế, xã hội, GDP, phát thải khí nhà kính, BĐKH và mực nước biển dâng Kịch bản biến đổi khí hậu khác với dự báo thời tiết
l, Nước biển dâng là sự dâng mặt nước của đại dương trên toàn cầu, trong đó không bao gồm triều, nước dâng do bão Nước biển dâng tại một vị trí nào đó có thể cao hơn hoặc thấp hơn so với trung bình toàn cầu, vì có sự khác nhau về nhiệt
độ của đại dương và các yếu tố khác
m, Nêm mặn: Do sự khác biệt về tỷ trọng giữa nước biển và nước sông nên khi sóng triều truyền vào cửa sông sẽ có dạng hình nêm, thường gọi là nêm mặn Khi triều lên, nêm mặn sẽ di chuyển vào sông làm nước sông bị dồn ép dòng nước ngọt từ nguồn chảy ra biển, gây hiện tượng nước dâng ngược về hướng thượng lưu Ngược lại, khi triều rút đường nêm mặn sẽ rút nhanh về hướng biển, cộng theo sức đẩy của nước ngọt từ thượng lưu làm dòng triều rút gia tăng vận tốc
Tùy theo vào sự tương tác giữa năng lượng dòng triều và dòng chảy nước ngọt từ thượng lưu làm hình dạng đường nêm mặn không cố định mà luôn thay đổi,
có hình dạng khác nhau Nếu có thêm tác nhân là gió trên mặt nước, trên đường nêm mặn có thể có thêm lưỡi mặn trên đường nêm mặn Ngay tại vị trí có đường nêm mặn, ở các vị trí khác nhau, chất lượng nước (mặn lạt) cũng khác nhau
1.1.2 Tổng quan về biến đổi khí hậu
1.1.2.1 Khái niệm
BĐKH là những thay đổi theo thời gian của các hình thái thời tiết trên toàn thế giới, nhiệt độ trung bình tăng hay còn gọi là sự nóng dần lên của Trái Đất, tăng
Trang 16nồng độ khí nhà kính hoặc khí cacbon thải ra từ các hoạt động của con người và đọng lại trong khí quyển Có rất nhiều khái niệm được đưa ra về BĐKH
Theo định nghĩa của Công ước khung Liên Hiệp Quốc (UNFCCC): “Biến
đổi khí hậu là sự thay đổi của khí hậu, được quy định trực tiếp hay gián tiếp là do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần khí quyển, và đóng góp thêm vào
sự biến động khí hậu tự nhiên quan sát được trong khoảng thời gian so sánh được”
Theo đây thì BĐKH xác định sự khác biệt giữa các giá trị trung bình dài hạn của một tham số hay thống kê khí hậu Trong đó, trung bình được thực hiện trong một
khoảng thời gian xác định, thường là vài thập kỷ
Theo IPCC, 2007 “BĐKH là những thay đổi theo thời gian của khí hậu,
trong đó bao gồm cả những biến đổi do các hoạt động của con người gây ra BĐKH xuất phát từ sự thay đổi cán cân năng lượng của trái đất do thay đổi nồng độ các khí nhà kính, nồng độ bụi trong khí quyển, thảm phủ và lượng bức xạ mặt trời”…
Theo định nghĩa của Tổ chức Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC)
trong báo cáo lần thứ Tư (AR4) năm 2007 thì “BĐKH là sự biến đổi trạng thái của
hệ thống khí hậu, có thể được nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và sự biến động của các thuộc tính của nó, được duy trì trong một thời gian đủ dài, điển hình
là hàng thập kỷ hoặc dài hơn” Nói cách khác, nếu coi trạng thái cân bằng của hệ
thống khí hậu là điều kiện thời tiết trung bình và những biến động của nó trong khoảng vài thập kỷ hoặc dài hơn, thì BĐKH là sự biến đổi từ trạng thái cân bằng này sang trạng thái cân bằng khác của hệ thống khí hậu
Tóm lại, dù theo định nghĩa nào thì BĐKH cũng là những thay đổi của khí hậu theo chiều hướng tiêu cực, từ đó có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới tất cả mọi sự sống trên trái đất
1.1.2.2 Dấu hiệu khoa học về biến đổi khí hậu
Dấu hiệu của sự thay đổi khí hậu được lấy từ nhiều nguồn khác nhau có thể được sử dụng để tái hiện lại khí hậu trong quá khứ Những ghi chép toàn cầu hoàn chỉnh mang tính hợp lý về nhiệt độ bề mặt bắt đầu được ghi nhận từ giữa sau thế kỷ 19 Đối với những giai đoạn trước đây, hầu hết đều là dấu hiệu ghi nhận gián tiếp - biến đổi khí hậu được suy ra từ những thay đổi proxy, các nhân tố phản ánh khí hậu như thảm thực vật, lõi băng, khí hậu thực vật, thay đổi mực nước biển và địa chất sông băng
Trang 17- Dấu hiệu từ lịch sử và khảo cổ
Biến đổi khí hậu trong thời gian gần đây có thể được ghi nhận từ những biến đổi tương ứng về các kiểu định cư và nông nghiệp Dấu hiệu khảo cổ học, lịch sử thành văn và lịch sử truyền miệng có thể cung cấp hiểu biết về những biến đổi khí hậu trong quá khứ Những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu cũng có liên hệ với sự sụp đổ của các nền văn minh
- Sông băng
Sông băng được xem là một trong những đối tượng dự báo nhạy cảm nhất của biến đổi khí hậu Kích thước của sông băng được xác định bởi sự cân bằng giữa lượng tuyết hòa vào và lượng tuyết tan ra Khi nhiệt độ ấm lên, chiều dài sông băng lùi dần, trừ khi lượng tuyết tăng lên đủ bù vào lượng băng bị tan chảy; việc này cũng đúng cho điều ngược lại Sông băng mở rộng hơn và thu hẹp lại do sự thay đổi của tự nhiên lẫn sự tác động từ bên ngoài Sự thay đổi về nhiệt độ, lượng tuyết rơi, lượng nước nằm giữa và dưới lớp băng có thể mang tính chất quyết định đến biến đổi của sông băng trong một khoảng thời gian đặc biệt Do đó, một sông băng vốn hình thành từ nhiều sông băng nhỏ khác nhau phải tốn trung bình hàng thế kỉ hoặc thậm chí lâu hơn để tan ra bởi tác động của những biến đổi ngắn hạn của vùng Chính vì vậy, lịch sử sông băng chứa đựng trong mình nó những thông tin có liên quan đến biến đổi khí hậu
- Thực vật
Sự thay đổi về loài đại diện, sự phân bố và mức độ bao phủ của các thảm thực vật có thể xảy ra do biến đổi khí hậu, điều này rất dễ nhận thấy Trong bất kỳ tình huống nào, một sự thay đổi khí hậu nhẹ cũng có thể dẫn đến tăng lượng mưa hoặc tuyết và tăng mức ấm áp, dẫn đến tăng trưởng thực vật được cải thiện và kéo theo việc hấp thụ nhiều CO2 trong không khí hơn Tuy nhiên, những thay đổi triệt
để hơn, mức độ lớn hơn hay tốc độ xảy ra nhanh hơn cũng có thể dẫn đến tác động lớn lên thực vật, nhiều loài nhanh chóng biến mất và trong một số trường hợp có thể xảy ra hiện tượng sa mạc hoá
- Lõi băng
Các thông tin từ việc phân tích phần lõi băng khoan từ một khối băng như khối băng Nam Cực, có thể được sử dụng để cho thấy mối liên hệ giữa nhiệt độ và biến đổi mực nước biển toàn cầu Không khí bị mắc kẹt ở dạng bong bóng trong
Trang 18băng cũng có thể cho biết những biến đổi nồng độ CO2 trong khí quyển từ quá khứ
xa xôi, trước khi chịu ảnh hưởng từ môi trường hiện đại Nghiên cứu các lõi băng sẽ đưa ra được những chỉ số quan trọng về sự thay đổi lượng CO2 qua hàng ngàn năm,
và tiếp tục cung cấp những thông tin có giá trị về sự khác nhau giữa điều kiện không khí cổ xưa và hiện đại
- Khí hậu thực vật
Khí hậu thực vật là ngành phân tích các dạng vòng gỗ tăng trưởng của cây từ
đó xác định biến đổi khí hậu từng xảy ra trong quá khứ Những vòng lớn và dày cho biết cây đã trải qua giai đoạn phát triển đủ nước và màu mỡ Trong khi những vòng mỏng, hẹp thể hiện thời gian cây hưởng lượng mưa thấp hơn và điều kiện lý tưởng
để phát triển cũng kém hơn
- Phân tích phấn hoa
Phân tích phấn hoa là bộ môn khoa học hiện đại nghiên cứu về lĩnh vực hóa thạch ở kích thước tế bào, bao gồm cả phấn hoa Phân tích phấn hoa được sử dụng để suy ra sự phân bố địa lý của các loài thực vật từng thay đổi theo điều kiện khí hậu khác nhau Những nhóm thực vật khác nhau có hình dạng và cấu tạo bề mặt phấn hoa rất đặc thù Do lớp ngoài của phấn hoa được cấu thành từ một lớp chất liệu có tính đàn hồi rất cao nên đã ngăn ngừa cho phần bên trong bị hư hại Sự thay đổi trong các loại phấn hoa được tìm thấy từ những lớp trầm tích khác nhau - trong các hồ, đầm lầy hay vùng châu thổ - cho biết các thay đổi ở thế giới thực vật Những thay đổi này thường là dấu hiệu của biến đổi khí hậu
- Côn trùng
Những loài bọ cánh cứng còn sót lại sống chủ yếu tại những vùng nước ngọt
và trầm tích đất đai Các loài bọ cánh cứng khác không có xu hướng được tìm thấy trong những điều kiện khí hậu khác nhau Do giống bọ cánh cứng rất đa dạng với số lượng lớn và có cấu trúc di truyền không thay đổi đáng kể qua hàng ngàn năm, việc nghiên cứu dựa trên những loài bọ cánh cứng khác nhau sẽ đem lại kiến thức về phạm vi khí hậu hiện tại, xác định được tuổi của các trầm tích còn sót lại, từ đó có thể suy ra điều kiện khí hậu trong quá khứ
Trang 19- Thay đổi mực nước biển
Sự thay đổi mực nước biển toàn cầu trong nhiều thế kỷ qua đã được ước tính bằng cách sử dụng các máy đo thủy triều, các số liệu đo được đối chiếu trong thời gian dài để đưa ra một mực nước trung bình dài hạn Gần đây hơn, máy đo độ cao - kết hợp với sự định vị chính xác của các quỹ đạo vệ tinh - đã cung cấp một phương pháp đo sự thay đổi mực nước biển toàn cầu cải thiện hơn Trước khi các công cụ
đo lường máy móc được đưa vào sử dụng, các nhà khoa học đã xác định độ cao mực nước biển thông qua các dấu vết trên những rặng san hô, những lớp trầm tích ven biển, trên thềm biển, hạt trong đá vôi và những di tích khảo cổ còn sót lại gần bờ biển
1.1.2.3 Trình tự nghiên cứu BĐKH
Về mặt khoa học, BĐKH là một lĩnh vực liên kết nhiều ngành khoa học khác nhau Việc nghiên cứu BĐKH có thể được chia thành ba nhóm bài toán lớn:
1) Bản chất, nguyên nhân, cơ chế vật lý của sự BĐKH (N1)
2) Đánh giá tác động của BĐKH, tính dễ bị tổn thương do BĐKH và giải pháp thích ứng (N2)
3) Giải pháp, chiến lược và kế hoạch hành động nhằm giảm thiểu BĐKH (N3) Nhiệm vụ của N1 là đánh giá sự biến đổi của khí hậu (hay đánh giá BĐKH), tức là cần trả lời được các câu hỏi về bằng chứng của sự BĐKH hiện đại, chứng minh được những nguyên nhân gây BĐKH, chỉ ra được khả năng mô phỏng khí hậu (hiện tại và quá khứ) của các mô hình, tính hợp lý của các kịch bản phát thải khí nhà kính và kết quả dự tính (projection) khí hậu tương lai bằng các mô hình
Từ những kết quả của N1, nhiệm vụ của N2 là đánh giá mức độ tác động, mức độ tổn thương, khả năng chống chịu và chiến lược, kế hoạch hành động nhằm thích ứng với BĐKH Vấn đề ở chỗ, BĐKH có thể mang lợi đến cho một số đối tượng, khu vực, lĩnh vực, nhưng việc đánh giá của N2 chủ yếu nhấn mạnh ở khía cạnh tác động xấu của BĐKH
Trên cơ sở những nguyên nhân gây BĐKH được chỉ ra từ N1 (mà hiện nay được cho là, ngoài sự dao động tự nhiên của khí hậu, chủ yếu do gia tăng hàm lượng khí nhà kính từ hoạt động của con người), nhiệm vụ của N3 là tìm ra các giải pháp giảm thiểu tác động của BĐKH Khái niệm “giảm thiểu” được hiểu là làm sao
Trang 20để giảm phát thải khí nhà kính qua đó giữ cho khí hậu Trái đất không nóng lên nữa
và dần dần trở nên ổn định Đó cũng là động cơ thúc đẩy phát triển các công nghệ sạch, sản xuất và sử dụng năng lương sạch Tuy nhiên, gần đây người ta cũng đề cập đến việc “giảm thiểu” tác động của BĐKH, nghĩa là có sự khác nhau giữa
“giảm thiểu BĐKH” và “giảm thiểu tác động của BĐKH”
Xét trên qui mô toàn cầu, về lôgic, việc nghiên cứu BĐKH cần phải được thực hiện một cách tuần tự Để thích ứng với BĐKH và giảm thiểu tác động của BĐKH cần phải tiến hành trước hết việc đánh giá BĐKH (N1) Đánh giá BĐKH có thể chia thành hai lớp bài toán lớn:
1) Nghiên cứu xác định các bằng chứng, nguyên nhân gây BĐKH trong quá khứ và hiện tại, qua đó cung cấp thông tin cho nhóm bài toán giảm thiểu tác động của BĐKH (N3) và đánh giá BĐKH trong tương lai;
2) Đánh giá BĐKH trong tương lai bao gồm việc xây dựng các kịch bản phát thải khí nhà kính, dự tính khí hậu tương lai bằng các mô hình khí hậu và xây dựng các kịch bản BĐKH Kết quả của lớp bài toán này là bức tranh khí hậu tương lai (chẳng hạn của thế kỷ 21) được dùng để nghiên cứu đánh giá tác động của BĐKH
và tìm giải pháp thích ứng với BĐKH (N2)
Ở qui mô khu vực, quốc gia và vùng lãnh thổ, về cơ bản trình tự bài toán nghiên cứu BĐKH vẫn phải tuân thủ theo từng bước như đối với qui mô toàn cầu, tuy nhiên có thể kế thừa để “bỏ qua” bước từ N1 sang N3 nhưng không thể tiến hành N2 song song hoặc trước N1, lại càng không thể thực hiện bài toán thích ứng với BĐKH trước khi đánh giá tác động của BĐKH trong N2 Nghĩa là để thích ứng với BĐKH cần phải biết BĐKH sẽ tác động như thế nào; muốn vậy trước đó cần phải chỉ ra khí hậu đã và sẽ biến đổi như thế nào
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Các kịch bản và xu hướng biến đổi khí hậu trên thế giới
1.2.1.1 Biểu hiện biến đổi khí hậu
- Sự nóng lên của khí quyển và Trái đất
Nhiệt độ mặt đất trong thế kỷ XX đã tăng lên trung bình 0,6oC làm cho nhiều vùng băng hà, diện tích phủ tuyết, nhiều vùng băng vĩnh cửu đã bị nóng chảy làm mực nước biển dâng lên
Trang 21Từ năm 1800, nhiệt độ đã tăng chầm chậm Thế kỷ XX đã trở thành thế kỷ nóng nhất trong 600 năm qua với nhiệt độ trung bình Trái đất tăng 0,74oC, và từ những năm 1860 đã có 14 năm nóng nhất trong thập niên 1980 và thập niên 1990 (hình 1.1) Nhiệt độ ghi được trong năm 1998 cao hơn nhiệt độ trung bình của
118 năm đã ghi, kể cả sau khi đã lọc ra “những hiệu ứng của Elnino” Những kết quả theo dõi của vệ tinh hiện nay xác nhận mức tăng nhiệt độ tương ứng trên thượng tầng không khí Hơn nữa, nhiệt độ mùa đông của nước biển phía Bắc vĩ tuyến 45o đã tăng 0,5oC
Nồng độ khí CO2 trong khí quyển đã tăng từ 280ppm năm 1760 lên 360ppm năm 1990, ước tính sẽ tăng 600ppm vào năm 2100 Khi đó nhiệt độ trung bình có thể tăng thêm khoảng 2o
C
Nguồn: IPCC, 2007
Hình 1 1 Nhiệt độ trái đất
trong vòng 140 năm qua
Hình 1 2 Hiện tượng bất thường của thời tiết (băng tan)
- Sự thay đổi lượng mưa
Trong thời kỳ 1901 – 2005 xu thế biến đổi của lượng mưa rất khác nhau giữa các khu vực và giữa các tiểu khu vực trên từng khu vực và giữa các thời đoạn khác nhau trên từng tiểu khu vực
Ở Bắc Mỹ, lượng mưa tăng lên ở nhiều nơi, nhất là ở Bắc Canađa nhưng lại giảm
đi ở Tây Nam nước Mỹ, Đông Bắc Mexico và bán đảo Bafa với tốc độ giảm chừng 2% mỗi thập kỷ, gây ra hạn hán trong nhiều năm gần đây Ở Nam Mỹ, lượng mưa lại tăng lên trên lưu vực Amazon và vùng bờ biển Đông Nam nhưng lại giảm đi ở Chile và vùng bờ biển phía Tây
Trang 22Ở Châu Phi, lượng mưa giảm ở Nam Phi, đặc biệt là ở Sahen trong thời đoạn
1960 - 1980
Ở khu vực nhiệt đới, lượng mưa giảm đi ở Nam Á và Tây Phi với trị số xu thế là 7,5% cho cả thời kỳ 1901 – 2005 Khu vực có tính địa phương rõ rệt nhất trong xu thế biến đổi lượng mưa là Australia do tác động to lớn của ENSO
Ở đới vĩ độ trung bình và vĩ độ cao, lượng mưa tăng lên rõ rệt ở miền Trung Bắc Mỹ, Đông Bắc Mỹ, Bắc Âu, Bắc Á và Trung Á
Trên phạm vi toàn cầu lượng mưa tăng lên ở các đới phía Bắc vĩ độ 300N thời
kỳ 1901–2005 và giảm đi ở các vĩ độ nhiệt đới, kể từ thập kỷ 1990 Tần số mưa lớn tăng lên trên nhiều khu vực, kể cả những nơi lượng mưa có xu thế giảm
- Sự dâng cao mực nước biển do băng tan
Theo quan sát của các nhà khoa học, những năm qua băng tan nhanh ở hai cực và các đỉnh núi Ở Nam Cực, vào tháng 3 năm 2002 đã có 500 tỷ tấn băng tan
rã thành hàng nghìn mảnh nhỏ Ở Bắc Cực, mùa hè năm 2002 tổng diện tích băng bị tan là 655.000m2 Trên dãy Anpơ, dự kiến các sông băng sẽ biến mất vào năm 2050
Trong 50 - 100 năm qua, mực nước biển đã tăng lên 1,8 mm/năm, 12 năm qua tăng 3 mm/năm gây tình trạng ngập úng cho các vùng đất thấp và các đảo nhỏ trên biển
0 5 10 15 20 25
Nguồn: IPCC, 2007
Hình 1.3 Mực nước biển dâng giai đoạn 1960 – 2003
Trang 23- Các hiện tượng thời tiết cực đoan
Thiên tai và các hiện tượng thời tiết cực đoan (nắng nóng, giá rét, bão, lũ lụt,
hạn hán…) xảy ra với tần xuất bất thường và có thể cả cường độ tăng lên (Hình 1.4)
Hình 1.4 Các hiện tƣợng thiên tai
- Những biểu hiện khác
Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trường sống
của con người và các sinh vật sống trên Trái Đất Sự di chuyển của các đới khí hậu
tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng khác nhau của Trái Đất dẫn đến nguy cơ đe
dọa sự sống của các loài sinh vật, các hệ sinh thái và hoạt động của con người
Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình
tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hóa khác
Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành phần
của thủy quyển, sinh quyển và các địa quyển
1.2.1.2 Nguyên nhân biến đổi khí hậu
Trong những thập kỉ gần đây, những hoạt động phát triển kinh tế xã hội với
nhịp điệu ngày một cao trong nhiều lĩnh vực như năng lượng, công nghiệp, giao
thông, nông - lâm nghiệp và sinh hoạt đã làm tăng nồng độ các khí nhà kính trong
khí quyển, làm Trái đất nóng lên, làm biến đổi hệ thống khí hậu và ảnh hưởng tới
môi trường toàn cầu (Al Gore, 2006)
Các kết quả nghiên cứu khoa học trong báo cáo của IPCC (2007) cho thấy
các hoạt động khí thải nhà kính đã tăng khoảng 70% trong khoảng từ 1970 đến
Trang 242004 Những thay đổi trong thành phần hóa học cấu tạo khí quyển đã xuất hiện từ đầu thế kỷ 18, thời kì Cách mạng công nghiệp Từ năm 1850, khí CO2 đã tăng 36%,
CH4 tăng 17%, N20 tăng 151% Cũng trong cùng khoảng thời gian đó, nhiệt độ trung bình của Trái đất được ghi nhận đã tăng 0,8o C, trong đó thập kỷ 90 được ghi nhận là thập kỷ ấm nhất
Tỷ lệ phần trăm các hoạt động của loài người đối với sự làm tăng nhiệt độ Trái Đất:
- Sản xuất điện năng 21,3%
- Công nghiệp 16,6%
- Giao thông vận tải 14%
- Nông nghiệp 12,5%,
- Khai thác, chế biến và phân phối nhiên liệu 11,3%
- Thương mại và tiêu dùng 10,3%
- Sử dụng đất và đốt cháy sinh khối 10,0%
- Rác thải 3,4%
1.2.1.3 Tác động của biến đổi khí hậu
BĐKH tác động lên tất cả các thành phần môi trường bao gồm cả các lĩnh vực của môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và sức khỏe con người trên phạm vi toàn cầu Tuy nhiên mức độ tác động của BĐKH có khác nhau: nghiêm trọng ở các vùng có vĩ độ cao và ít hơn tại các vùng khác, sẽ lớn hơn ở các nước nhiệt đới, nhất là các nước đang phát triển nhanh ở châu Á Trong đó, những người nghèo, những người ít góp phần gây ra BĐKH nhất thì lại phải chịu những thiệt hại sớm nhất và nghiêm trọng nhất về phát triển con người do BĐKH gây ra (Crutzen 2005)
Theo dự đoán của IPCC và một số tổ chức quốc tế khác, nhiều thành phố của các quốc gia ven biển đang đứng trước nguy cơ bị nước biển nhấn chìm do mực nước biển dâng - hậu quả trực tiếp của sự tan băng ở Bắc và Nam Cực Trong số 33 thành phố có qui mô dân số 8 triệu người vào năm 2015, ít nhất 21 thành phố có nguy cơ cao bị nước biển nhấn chìm toàn bộ hoặc một phần và khoảng 332 triệu người sống ở vùng ven biển và đất trũng sẽ bị mất nhà cửa vì ngập lụt
Trang 25Mức độ rủi ro cao về lãnh thổ bị thu hẹp do nước biển dâng theo thứ tự là Trung Quốc, Ấn Độ, Bangladesh, Việt Nam, Indonesia, Nhật Bản, Aicập, Hoa kỳ, Thái Lan và Philippines
Nước biển dâng lên còn kèm theo hiện tượng xâm nhập mặn vào sâu hơn trong nội địa và sự nhiễm mặn của nước ngầm, tác động xấu tới sản xuất nông nghiệp và tài nguyên nước ngọt
Tài nguyên nước và sản xuất nông nghiệp cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng Theo dự đoán, đến năm 2008, sẽ có thêm khoảng 1,8 tỷ người phải đối mặt với sự khan hiếm nước, khoảng 600 triệu người sẽ phải đối mặt với nạn suy dinh dưỡng do nguy cơ năng suất trong sản xuất nông nghiệp giảm
Bên cạnh đó còn có khuynh hướng làm giảm chất lượng nước, sản lượng sinh học và số lượng các loại động, thực vật trong các hệ sinh thái nước ngọt, làm gia tăng bệnh tật, nhất là các bệnh mùa hè do vectơ truyền (IPCC 1998) Trong thời gian 20-25 năm trở lại đây, có thêm khoảng 30 bệnh mới xuất hiện, Tỷ lệ bệnh nhân, tỷ lệ tử vong của nhiều bệnh truyền nhiễm gia tăng, trong đó sẽ có thêm khoảng 400 triệu người phải đối diện với nguy cơ bị bệnh sốt rét (Al Gore 2006)
Số lượng và tổn thất do thiên tai gây ra tăng liên tục trong những thập kỷ vừa qua Theo số lượng thống kê, thiệt hại về kinh tế do thay đổi thời tiết và lũ lụt đã tăng gấp 10 lần trong vòng 50 năm qua Số nạn nhân của lũ lụt do ảnh hưởng của BĐKH trong 5 năm 1983-1987 là 31 triệu người, tăng lên đến 130 triệu người trong 5 năm của thập kỷ sau 1993-1997 (WWC 2003, Hotz 2006) Riêng cơn bão Mitch (1999) đã làm chết 11.000 người ở Trung Mỹ, cơn bão Katrina (2005) đã làm chết hơn 1.800 người ở hai bang ven biển phía Nam của Hoa Kỳ và gây tổn thất lên tới 300 tỷ USD
Trong vòng 10 năm tới, chi phí thiệt hại do BĐKH gây ra cho toàn thế giới ước tính khoảng 7.000 tỷ USD; nếu chúng ta không làm gì để ứng phó thì thiệt hại mỗi năm sẽ chiếm khoảng 5-20% GDP, còn nếu chúng ta có những ứng phó tích cực để ổn định khí nhà kính ở mức 550 ppm tới năm 2030 thì chi phí chỉ còn khoảng 1% GDP (Stern, 2007)
1.2.1.4 Kịch bản biến đổi khí hậu toàn cầu
Để định hướng ban đầu cho việc xây dựng và phát triển kế hoạch hành động nhằm thích ứng và giảm thiểu tác động tiềm tàng của BĐKH trong tương lai cần
Trang 26thiết phải đưa ra những thông tin cơ bản về xu thế biến đổi khí hậu trong tương lai tương ứng với các kịch bản khác nhau về kinh tế - xã hội toàn cầu dẫn đến tốc độ phát thải khí nhà kính khác nhau
Kịch bản biến đổi khí hậu là giả định có cơ sở khoa học và tính tin cậy về sự tiến triển trong tương lai của các mối quan hệ giữa KT- XH, GDP, phát thải khí nhà kính, biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng Kịch bản biến đổi khí hậu khác với
dự báo thời tiết và dự báo khí hậu là nó đưa ra quan điểm về mối ràng buộc giữa phát triển và hành động Gồm các loại kịch bản sau:
Các kịch bản phát thải khí nhà kính (CO 2 ) toàn cầu
Phát thải khí nhà kính là sản phẩm trực tiếp của phát triển kinh tế, xã hội và bức tranh phát thải khí nhà kính toàn cầu là chiếu xạ của bức tranh kinh tế, xã hội trên phạm vi toàn thế giới Vì lẽ đó, để nhìn nhận các đặc trưng chủ yếu trong các kịch bản phát thải khí nhà kính trên thế giới, các nhà khoa học của Ban liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC) đã xây dựng một báo cáo đặc biệt về các kịch bản phát thải khí nhà kính được mô tả bao gồm:
- Phát triển dân số
- Phát triển công nghệ trong sản xuất
- Giải pháp môi trường và xã hội
SRES đưa ra 6 kịch bản về phát thải khí nhà kính tương lai toàn cầu: A1F1, A1T, A1B, A2, B1, B2 và chúng được gộp lại thành 4 họ: A1, A2, B1 và B2 Theo IPCC, lượng phát thải CO2 vào năm 2020 của phần lớn kịch bản chỉ trên dưới 12 tỷ tấn cacbon
Các kịch bản về nồng độ khí CO 2 trong khí quyển
Tương ứng với các kịch bản về phát thải khí nhà kính trong tương lai toàn cầu là các kịch bản mô tả triển vọng tương lai về nồng độ khí CO2 trong khí quyển, gọi tắt là kịch bản về nồng độ khí nhà kính
Theo IPCC, nồng độ khí CO2 trong khí quyển vào giữa thế kỉ XXI (2050) và cuối thế kỉ XXI (2100) đạt tới 470 - 610 và 550 - 970 phần triệu (ppm), cao hơn rất nhiều so với thời kì tiền công nghiệp là 280 ppm và so với năm 2005 là 379ppm Tuy nhiên, nếu phát thải tương lai toàn cầu phát triển theo đúng kịch bản A1T hoặc kịch bản B1 thì nồng độ CO2 trong khí quyển chỉ ở mức 550 - 580 ppm Như vậy,
Trang 27từ các kịch bản về nồng độ khí nhà kính đã có thể định hướng cơ bản chiến lược giảm nhẹ BĐKH: Phát triển nhiên liệu phi hóa thạch, có giải pháp kinh tế môi trường bền vững
Nguồn: IPCC, 2001
Hình 1.5 Dự báo nồng độ CO 2 theo kịch bản phát thải
Các kịch bản về biến đổi yếu tố khí hậu toàn cầu
Ứng dụng các kịch bản phát thải khí nhà kính (SRES) nêu trên vào các mô hình khí hậu toàn cầu cho thấy, nhiệt độ trung bình bề mặt trái đất có thể đạt 16,2 0
C
ở mức thấp nhất đến 17,40C - 17,80C ở mức cao nhất vào năm 2100 (IPCC, 2001)
Theo IPCC (2007), cùng với các kịch bản phát thải như trên, nhiệt độ trung bình bề mặt toàn cầu sẽ tăng 1,8 - 4,00C vào thời kỳ 2090-2099, mực nước biển trung bình toàn cầu sẽ tăng 0,18 - 0,59 m vào thời kỳ 2090-2099 so với trung bình thời kỳ
Mức tăng nhiệt độ và mực nước biển không đồng đều giữa các vùng Ở vùng phía Bắc của Bắc Mỹ, Bắc Á và Trung Á, nhiệt độ tăng nhiều hơn, trong khi ở vùng Nam Á và Đông Nam Á, mức tăng ít hơn, nhất là mùa hè và phía Nam của Nam
Mỹ, nhất là mùa đông Trên đại dương, nhiệt độ tăng ít hơn ở Bắc Đại Tây Dương
và vùng biển quanh Nam Cực
Ngoài ra, những hiện tượng thời tiết cực đoan theo các kịch bản cho thế kỷ
21 chắc chắn hoặc rất có thể sẽ xảy ra Đó là: Nóng hơn, số ngày nóng, đêm nóng nhiều hơn, số đợt nóng, sóng nóng tăng lên, số ngày lạnh, đêm lạnh ít đi trên khắp
Trang 28các vùng lục địa Số sự kiện mưa lớn hoặc tỷ lệ mưa lớn trong tổng lượng mưa tăng lên ở hầu hết các vùng; các vùng chịu ảnh hưởng của hạn hán tăng lên, cường độ hoạt động của bão, áp thấp nhiệt đới tăng lên, các sự kiện cực trị cao của mực nước biển (không kể sóng thần) tăng lên (Theo Hội bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam, 2009)
1.2.2 Kịch bản và xu hướng biến đổi khí hậu tại Việt Nam
Theo kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam mới nhất của Bộ tài nguyên và Môi trường công bố năm 2012, kết quả phân tích các số liệu khí hậu cho thấy, xu thế biến đổi của các yếu tố khí hậu và mực nước biển có những điểm đáng lưu ý sau:
1.2.2.1 Nhiệt độ
- Theo kịch bản phát thải thấp: Vào cuối thế kỷ 21, trên đa phần diện tích
nước ta, nhiệt độ mùa đông tăng từ 1,6 - 2,20C so với thời kỳ cơ sở 1980 - 1999 Ở phần lớn diện tích Tây Nguyên, cực nam Trung Bộ và Nam Bộ có nhiệt độ tăng ít hơn, từ 1 - 1,60C Khu vực tỉnh Sơn La có nhiệt độ tăng nhiều nhất, trên 2,50C
- Theo kịch bản phát thải trung bình: Vào giữa thế kỷ 21, nhiệt độ tăng từ
1,4 đến 1,80
C trên đại bộ phận diện tích phía Bắc (từ Đà Nẵng trở ra) Hầu hết diện tích từ phía Nam (từ Quảng Nam trở vào) có mức tăng từ nhỏ hơn 1,0 đến 1,40C Đến cuối thế kỷ 21, nhiệt độ tăng từ 2,5 - 3,10C trên đa phần diện tích nước ta Riêng khu vực phía Tây tỉnh Lào Cai, phía Nam tỉnh Điện Biên và hầu hết diện tích các tỉnh Sơn La, Quảng Bình, và Quảng Trị có mức tăng cao hơn 3,10C Phần lớn diện tích ở phía Nam (từ Quảng Nam trở vào) có mức tăng nhiệt độ từ 1,6 - 2,50C Khu vực phía Bắc của Tây Nam Bộ có mức tăng từ 1,0 đến 1,60C Nhìn chung, mức tăng nhiệt độ ở phía Bắc cao hơn ở phía Nam
- Theo kịch bản phát thải cao: Vào cuối thế kỷ 21, phần lớn diện tích nước
ta, nhiệt độ mùa đông tăng từ 2,8 - 3,70C Riêng khu vực Lào Cai, Nam Điện Biên, Sơn La và khu vực từ Nam Hà Tĩnh đến Quảng Trị có nhiệt độ tăng trên 3,70
C Còn khu vực Khánh Hòa, có mức tăng nhiệt thấp hơn, từ 1,6 - 2,80C
1.2.2.2 Lượng mưa
- Theo kịch bản phát thải thấp: Lượng mưa tăng đến 5% vào giữ thế kỷ 21
và trên 6% vào cuối thế kỷ 21 Mức tăng thấp nhất là ở Tây Nguyên, chỉ vào khoảng dưới 2% vào giữa và cuối thế kỷ 21
Trang 29- Theo kịch bản phát thải trung bình: Đến cuối thế kỷ 21, lượng mưa năm
tăng trên hầu hết lãnh thổ Mức tăng phổ biến từ 2 - 7%, riêng Tây Nguyên, Nam Trung Bộ tăng ít hơn, dưới 3% Xu thế chung là lượng mưa mùa khô giảm và lượng mưa mùa mưa tăng Lượng mưa ngày lớn nhất tăng thêm so với thời kỳ 1980 - 1999
ở Bắc Trung Bộ và giảm ở Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Nam Bộ Tuy nhiên ở các khu vực khác nhau lại có thể xuất hiện ngày mưa dị thường với lượng mưa gấp đôi
so với kỷ lục hiện nay
- Theo kịch bản phát thải cao: Lượng mưa năm vào cuối thế kỷ 21 tăng trên
hầu khắp lãnh thổ nước ta với mức tăng phổ biến khoảng 2 - 10%, riêng khu vực Tây Nguyên có mức tăng ít hơn, khoảng 1-4%
1.2.2.3 Nước biển dâng
- Theo kịch bản phát thải thấp: Vào giữa thế kỷ 21, trung bình trên toàn Việt
Nam, mực nước biển dâng trong khoảng từ 18 - 25cm Đến cuối thế kỷ 21, mực nước biển dâng cao nhất ở khi vực từ Cà Mau đến Kiên Giang trong khoảng từ 54 - 72cm, thấp nhất ở khu vực Móng Cái trong khoảng từ 42 - 57cm Trung bình toàn Việt Nam, mực nước biển dâng trong khoảng từ 49 - 64cm,
- Theo kịch bản phát thải trung bình: Vào giữa thế kỷ 21, trung bình trên
toàn lãnh thổ Việt Nam, mực nước biển dâng trong khoảng từ 24 - 27cm Đến cuối thế kỷ 21, nước biển dâng cao nhất ở khu vực từ Cà Mau đến Kiên Giang trong khoảng từ 62 - 82cm, thấp nhất ở khu vực Móng Cái trong khoảng từ 49 - 64cm Trung bình toàn Việt nam, mực nước biển dâng trong khoảng từ 57 - 73cm
- Theo kịch bản phát thải cao: Vào giữa thế kỷ 21, trung bình trên toàn Việt
Nam, mực nước biển dâng trong khoảng từ 26 - 29cm Đến cuối thế kỷ 21, nước biển dâng cao nhất ở khu vực từ Cà Mai đến Kiên Giang trong khoảng từ 85 - 105cm; thấp nhất ở khu vực Móng Cái trong khoảng từ 66 - 85cm Trung bình toàn Việt Nam, mực nước biển dâng trong khoảng từ 78 - 95cm
Nếu mực nước biển dâng 1m, sẽ có khoảng 39% diện tích đồng bằng sông Cửu Long, trên 10% diện tích vùng đồng bằng sông Hồng, Quảng Ninh, trên 2,5% diện tích thuộc các tỉnh ven biển miền Trung và trên 20% diện tích Thành phố Hồ Chí Minh có nguy cơ bị ngập; Gần 35% dân số thuộc các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long, trên 9% dân số vùng đồng bằng sông Hồng, Quảng Ninh, gần 9% dân số
Trang 30các tỉnh ven biển miền Trung và khoảng 7% dân số Thành phố Hồ Chí Minh bị ảnh hưởng trực tiếp; Trên 4% hệ thống đường sắt, trên 9% hệ thống quốc lộ và khoảng 12% hệ thống tỉnh lộ của Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng
1.2.3 Hậu quả của các hiện tượng thời tiết cực đoan do biến đổi khí hậu gây ra ở Việt Nam
Sự biến động của thời tiết nước ta không thể tách rời những thay đổi lớn của khí hậu thời tiết toàn cầu Chính sự biến đổi phức tạp của hệ thống khí hậu thời tiết toàn cầu đã và đang làm tăng thêm tính cực đoan của khí hậu thời tiết nước ta Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới, Việt Nam nằm trong số 5 nước sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu Xu hướng biến đổi khí hậu sẽ kéo theo sự thay đổi của nhiều yếu tố tự nhiên khác như lượng bốc hơi tăng, độ ẩm giảm, nhiệt độ không khí tăng, băng tan và mực nước biển dâng Từ đó, tạo lên các hiện tượng thời tiết cực đoan hơn như: Lũ lụt, ngập úng, hạn hán, bão, sạt lở đất, xói mòn bờ biển , ảnh hưởng trực tiếp tới con người, môi trường và toàn bộ đời sống kinh tế-xã hội của người dân Tại Việt Nam, mỗi năm thiên tai cướp đi mạng sống của 466 người,
thiệt hại trên 1,5 tỷ USD (Báo cáo: Chỉ số Rủi ro Khí hậu toàn cầu 2010,
Trang 31quả hết sức nặng nề do thiên tai gây ra và mức thiệt hại của năm sau còn cao hơn năm trước
ra biển khi có mưa lớn Vì vậy, trong những năm gần đây, hầu như hàng năm đều có
lũ lụt, ngập úng nghiêm trọng xảy ra Nhiều trận lũ lụt, ngập úng lớn xảy ra đã gây tổn thất nghiêm trọng về kinh tế - xã hội của vùng Bảng dưới đây cho thấy một số trận lũ lụt, ngập úng điển hình có ảnh hưởng nghiêm trọng nhất tới đời sống, kinh tế
- xã hội của người dân vùng lũ
Hình 1 6 Lũ lụt tại miền Trung
Trang 32Bảng 1.1 Thống kê một số trận lũ lụt điển hình và thiệt hại
đá công trình giao thông; các công trình thủy lợi bị sạt lở 8,8 triệu mét khối, vỡ 5 hồ chứa nhỏ; hơn 700 tàu thuyền các loại bị chìm và hư hỏng…
Lũ năm 2001 Các tỉnh đồng bằng
Sông Cửu Long
- Về người: 390 người chết, 212 người
bị thương,
- Về của: Tổng thiệt hại ước tính khoảng 1.536 tỉ đồng: hơn 341.614 căn nhà, 5.559 phòng học, 67 cơ sở y tế bị ngập trong nước; hơn 39.960 ha lúa, gần 45.821 ha hoa màu, cây ăn trái, cây công nghiệp bị hư hại; hơn 4.580 Ha
nuôi trồng thủy sản bị thiệt hại Đây là
những thiệt hại vật chất trực tiếp, còn những thiệt hại về cơ sở hạ tầng xã hội, môi trường sinh thái cũng rất lớn, chưa đánh giá hết được
Trang 33Lũ tháng
10/2010
Các tỉnh miền Trung (Hà Tĩnh, Quảng Bình, Nghệ An)
- Về người: 155 người chết, 29 người mất tích,
- Về của: thiệt hại về kinh tế 11.600 tỷ đồng
Mưa lũ tháng
10/2011 Các tỉnh miền Trung
- Về người làm 25 người chết và bị thương,
- Về của thiệt hại ước gần 110 tỷ đồng Quảng Bình bị thiệt hại nặng nhất, với gần 67 tỉ đồng, Thừa Thiên - Huế trên
31 tỉ đồng, Quảng Nam hơn 10 tỉ đồng Các tỉnh từ Quảng Bình đến Bình Định hư hỏng trên 94.600 ngôi nhà; làm sập bốn ngôi trường; trên 4.200 tấn lương thực bị thiệt hại; trên 23.000 gia cầm bị cuốn trôi
Nguồn: Ban chỉ đạo Phòng chống lụt bão Trung ương năm 2011[18]
1.2.3.2 Bão
Mùa bão ở Việt Nam thường bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 12 Tuy nhiên trong những năm gần đây, mùa bão thường kết thúc muộn hơn (tháng 1, tháng 2 năm sau) Hơn nữa, số cơn bão có cường độ mạnh nhiều hơn, quỹ đạo dịch chuyển dần về các vĩ độ phía Nam và nhiều cơn bão có quỹ đạo di chuyển dị
Trang 34thường hơn Có thể lấy dẫn chứng gần đây nhất, mùa bão và áp thấp nhiệt đới các năm 2006, 2007 đều kết thúc muộn (kéo dài đến tháng 1 năm sau) trong đó có cơn bão số 7/2007 và cơn bão số 6/2008 hoạt động trên khu vực Biển Đông nước ta cho thấy tính dị thường, trái qui luật của bão và áp thấp nhiệt đới đã xảy ra ở Việt Nam trong những năm qua
Hậu quả của các cơn bão sau khi đổ bộ vào Việt Nam (đặc biệt là các tỉnh miền Trung) là rất lớn Nó gây ra lụt lội nghiêm trọng ở các tỉnh ven biển, gây ra triều cường và hiện tượng nước mặn xâm nhập sâu vào đất liền, ảnh hưởng nặng nề tới kinh tế - xã hội Có thể điểm qua một số cơn bão trong những năm gần đây để thấy hết những ảnh hưởng nghiêm trọng của bão tới kinh tế - xã hội của Việt Nam như sau:
Hình 1.7 Bão lốc Bảng 1.2 Thống kê một số cơn bão điển hình và thiệt hại
và còn nhiều thiệt hại khác
Trang 35Tên cơn bão Phạm vi ảnh hưởng Hậu quả
Cơn bão số 11
(11/2009)
Các tỉnh duyên hải miền Trung
Tại Việt Nam, hạn hán ngày càng xảy ra thường xuyên và nghiêm trọng hơn
cả về cường độ và quy mô Theo Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO), Việt Nam là khu vực bị thiên tai nặng nề nhất trong vòng 50 năm qua, trong đó thiệt hại về tài sản do hạn hán gây ra đứng thứ ba sau lũ và bão Có thể điểm qua một số đợt hạn hán nặng trong những năm gần đây như sau:
Vào tháng 6-7 năm 2001 tình trạng hạn hán đã xảy ra nghiêm trọng ở các tỉnh Phú Yên, Quảng Nam, Quảng Bình, Quảng Trị với thiệt hại ước tính riêng ở Phú Yên là 7200 ha mía, 500 ha sắn, 225 ha lúa nước và 300 ha lúa nương Tiếp tục vào tháng 6 năm 2002, hạn hán lại diễn ra ở vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ gây ra những thiệt hại lớn về mùa màng, gây ra cháy
Trang 36rừng ở diện rộng trong đó nghiêm trọng nhất là vụ cháy ở rừng tự nhiên U Minh Thượng và U Minh Hạ
Những tháng trước mùa mưa năm 2003, hạn bao trùm khắp Tây Nguyên gây thiệt hại về lúa ở 2 tỉnh Kon Tum, Gia Lai khoảng 3300 ha, riêng Đăk Lắc có 50.000 ha đất canh tác bị phá huỷ, 100.000 hộ dân không có nước sinh hoạt Ước thiệt hại ở Đăk Lắc lên khoảng 250 tỷ đồng
Hình 1.8 Hạn hán
Năm 2004-2005 hạn xảy ra trên diện rộng, mực nước các sông ở phía Bắc xuống đến mức thấp nhất từ năm 1963 đến năm 2005 Miền Trung và Tây Nguyên nắng nóng kéo dài, suối bị cạn kiệt hoàn toàn, nhiều hộ dân không có nước sinh hoạt Ninh Thuận là địa phương chịu ảnh hưởng nặng nề của đợt hạn này Ở Bắc
Bộ, mực nước sông Hồng tại Hà Nội vào đầu tháng 3 xuống mức 1,72 m thấp nhất
kể từ năm 1963 đến năm 2005 Ở Miền Trung và Tây Nguyên, nắng nóng kéo dài, dòng chảy trên các sông suối ở mức thấp hơn trung bình nhiều năm cùng kỳ, một số suối cạn kiệt hoàn toàn; nhiều hồ, đập dâng hết khả năng cấp nước Điển hình, như Ninh Thuận là địa phương bị hạn hán thiếu nước khốc liệt nhất trong vòng 20 năm qua, chủ yếu do mưa ít, lượng mưa trong 4 tháng (từ tháng 11/2004 đến tháng 2/2005) chỉ bằng khoảng 41% trung bình nhiều năm các sông suối, ao hồ đều khô cạn, hồ thuỷ điện Đa Nhim - nguồn cung cấp nước chủ yếu cho Ninh Thuận - cũng chỉ còn 1/3 dung tích so với những năm trước Toàn tỉnh có 47.220 người thiếu nước sinh hoạt
Trang 37Hạn hán mùa hè năm 2009, tại Hà Tĩnh, do lượng mưa 6 tháng đầu năm
2009 so với cả năm chỉ đạt được 11,4% đến 26,7% và đặc biệt năm 2009 không có
lũ tiểu mạn, mưa ít, nắng nhiều lượng nước bốc hơi rất lớn dẫn đến các hồ đập nước xuống rất nhanh Tính sơ bộ, có tới 82/262 xã thiếu nước - 290 nghìn người không còn nước sinh hoạt, 20 nghìn ha lúa màu, ngô, đậu và hàng nghìn ha cây ăn quả bị chết Gây thiệt hại rất lớn về người và của
1.2.3.4 Lũ quét và lũ ống, sạt lở đất
Do mưa lớn kéo dài đã kéo theo hiện tượng trượt lở đất, phá huỷ rừng, xói mòn đất và gây ra những thiệt hại về kinh tế - xã hội ở nhiều khu vực, đặc biệt là vùng nông thôn miền núi như: Lào Cai, Hà Giang, Lai Châu, Sơn La, Cao Bằng, Bắc Cạn, Yên Bái, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Bình Thuận Sự xói mòn xảy ra mạnh nhất ở độ cao 1000-2000 m và thường gây ra trượt lở đất, nứt đất khi có các trận mưa rào lớn
Theo thống kê của Ủy ban phòng chống lụt bão Trung ương, trong vòng 10 năm (từ 2000 đến 2009), Việt Nam đã xảy ra 96 trận lũ quét, ảnh hưởng tới các vùng dân cư, làm chết và mất tích 883 người bị thương gần 1.500 người; hơn 6.000 căn nhà bị đổ trôi; hơn 120.000 căn nhà bị ngập, hư hại nặng; hơn 132.000 ha lúa và hoa màu bị ngập; hàng trăm ha đất canh tác bị vùi lấp; nhiều công trình giao thông, thuỷ lợi, dân sinh kinh tế bị hư hỏng nặng nề, tổng thiệt hại ước tính trên 6.000 tỷ đồng (trong đó riêng số liệu của 2 năm 2008, 2009 bao gồm cả lũ lớn, lũ quét, sạt lở đất tại các tỉnh miền núi phía Bắc do mưa, lũ sau các cơn bão số 4, số 6; các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên do mưa lũ sau các cơn bão số 9 và số 11)
Hình 1.9 Lũ quét và sạt lở đất
Trang 38Đầu năm 2010 đã xảy ra 8 trận lũ quét, sạt lở trên địa bàn các tỉnh Bắc Cạn, Cần Thơ, Lai Châu, Sơn La, Nghệ An, Hà Giang, làm 10 người chết và mất tích, 33 ngôi nhà bị sập, trôi, hư hại Thiệt hại về kinh tế ước tính hàng trăm tỷ đồng
1.2.3.5 Mực nước biển dâng
Xâm nhập mặn
Theo một số nghiên cứu và quy hoạch tổng thể hệ thống thủy lợi ĐBSCL của Viện Viện quy hoạch thủy lợi miền Nam (2009), do mực nước biển tăng (mực nước biển dâng 20cm trong vòng 50 năm qua) và hạn hán tăng cả về tần xuất lẫn quy mô
đã dẫn đến sự gia tăng xâm nhập mặn tại vùng cửa sông và các tầng nước dưới đất ven biển Theo đánh giá của các chuyên gia, ĐBSCL là khu vực chịu ảnh hưởng lớn nhất về hiện tượng xâm nhập mặn tại Việt Nam
Theo số liệu thống kê, nước mặn đang xâm nhập sâu vào đất liền các vùng ven biển ĐBSCL từ 40 - 50 km, nồng độ mặn trung bình cũng tăng từ 2 - 3‰ so với trung bình nhiều năm Hàng trăm ngàn ha lúa bị ảnh hưởng mặn và khô hạn 1/3
dân số nông thôn trong vùng thiếu nước ngọt sinh hoạt
Tại tỉnh Trà Vinh, trên sông Tiền và sông Hậu, xâm nhập mặn đang diễn biến phức tạp Tại khu vực vàm Cầu Quan trên sông Hậu (huyện Tiểu Cần), độ mặn
là 3,7‰; ước tính thiệt hại khoảng 50 tỷ đồng
Tại tỉnh Bạc Liêu, tháng 2 năm 2010, độ mặn ở ngã tư Ninh Quới, huyện Hồng Dân tăng cao, dao động từ 7,5‰ - 8,5‰ Khi thủy triều dâng cao, một khối nước mặn lớn được dồn từ ngã tư Ninh Quới đến ranh giới Bạc Liêu - Sóc Trăng, xâm nhập khu vực ngọt ổn định của tỉnh với diện tích lúa 5.500 ha (với độ mặn quá 4‰, lúa sẽ chết)
Tỉnh Hậu Giang có diện tích nhập mặn là 9.000 hecta, ước thiệt hại 11,4 tỷ đồng Theo Chi cục Thủy lợi Hậu Giang, giữa tháng 2 năm 2010, nước mặn đã xâm nhập vào các xã Lương Nghĩa, Lương Tâm, Vĩnh Viễn A và một phần của xã Xà Phiên, huyện Long Mỹ với nồng độ mặn đo được vào đợt nước kém là từ 2,6‰ đến 7‰ Riêng tại thành phố Vị Thanh, nước mặn đã xâm nhập vào các xã Tân Tiến, Hỏa Tiến và Hỏa Lựu với độ mặn đo được vào sáng 26/2/2010 tại Ngã Ba Nước trong xã Hỏa Tiến là 5‰ và ở cống Kênh Lầu là 3,1‰
Trang 39 Xói lở bờ biển
Hầu hết bờ biển nước ta đang bị xói lở với cường độ từ vài mét tới hàng chục mét mỗi năm và có xu hướng gia tăng mạnh trong một thập niên gần đây Tại khu
du lịch Đồi Dương ở TP Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, nhiều năm nay cũng đã xảy
ra tình trạng xói lở liên tục với tốc độ khoảng 10m/năm
Tại bờ biển của thị trấn Thịnh Long, hiện tượng xói lở bắt đầu diễn ra vào những năm đầu thế kỷ XX (từ năm 1905) và đến những năm 1930 - 2000, cường độ xói lở của đoạn bờ này tăng mạnh Khu vực bờ biển đi qua thị trấn Thịnh Long thường xuyên bị xâm thực xói mòn.Tốc độ xói lở bình quân từ 14,5m/năm, lớn nhất
là 20,5m/năm Trước đây khu vực này có 2 tuyến đê biển, tuy nhiên hiện nay đã mất hẳn tuyến đê 2 (chỉ còn 1 tuyến đê) Cao độ đê biển được nâng từ 4,5m lên 5m
Triều cường
Hiện nay, xu hướng dâng lên của mực nước biển trong những năm gần đây cũng góp phần gây ra sụt lở mạnh hơn Tại trạm Vũng Tàu, các nhà khoa học tính toán rằng, trong khoảng 50 năm qua, mực nước biển đã dâng lên 160 mm Đây là nguyên nhân quan trọng khiến nhiều nơi tại TP.HCM bị ngập nước khi triều cường, vừa làm cho mức độ xói lở bờ biển mạnh hơn (trước năm 1990 hầu như không xảy ra hiện tượng này) Xu hướng này sẽ còn tiếp tục với phạm vi rộng hơn trong những năm tới
1.3 Kinh nghiệm của các địa phương và quốc tế trong việc tiếp cận và ứng phó với biến đổi khí hậu
Phương pháp phi kỹ thuật áp dụng một số cách tiếp cận “mềm” giúp giảm
thiểu tác động và tác hại của biến đổi khí hậu đến hạ tầng kỹ thuật của đô thị Khái
niệm tiếp cận phi kỹ thuật (phi cấu trúc) được sử dụng ở đây để chỉ phương pháp
phòng chống và giảm thiểu nguy cơ lũ lụt, hạn hán ở đô thị nhằm hỗ trợ cho các
phương pháp kỹ thuật như xây dựng như đập nước, đê hay tôn nền Các phương
pháp trong nhóm giải pháp phi kỹ thuật bao gồm:
- Trước tiên muốn công tác bảo vệ hệ thống hạ tầng kỹ thuật, phòng chống
và giảm thiểu nguy cơ lũ lụt, hạn hán ở đô thị thì cần phải nâng cao nhận thức cho người dân về biến đổi khí hậu, chúng gây nên những ảnh hưởng, mối nguy hại tới đời sống, cơ sở vật chất của họ như thế nào; xây dựng chương trình hành động cụ thể; kế hoạch thực thi và triển khai chi tiết từ Trung ương đến địa phương
Trang 40- Công cụ quy hoạch sử dụng đất: phát triển ở nơi ít rủi ro cục bộ và khu vực
xu hướng rủi ro không gia tăng
- Công cụ thị trường: thông tin nguy cơ lũ lụt kết hợp việc sử dụng công cụ thuế nhằm điều chỉnh thị trường bất động sản sao cho phù hợp với các rủi ro như ngập lụt, sạt lở, cũng như ảnh hưởng của các hiện tượng thiên tai khác Thực chất, tại nhiều nơi, nhiều quốc gia đã hình thành những quỹ tài chính để xây dựng và duy trì đê điều, tuy nhiên hiện nay các quỹ này đang được củng cố thêm thông qua công
cụ thuế
- Công cụ thiết kế đô thị: gia tăng không gian mặt nước, mặt đất tự nhiên và cây xanh để hạn chế lũ lụt và tạo cảnh quan đô thị
Phát triển chiến lược về biến đổi khí hậu sẽ làm rõ lộ trình ưu tiên cho đô thị
để giảm tác động thông qua sự thích ứng, giảm nhẹ thiên tai và chính sách quản lý, kiến thức và các hoạt động
Hầu hết các nước trên thế giới đang bắt đầu triển khai chiến lược phát triển
hạ tầng kỹ thuật nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu Các quốc gia này đều muốn tận dụng những nguồn lực, cách tiếp cận, chính sách, kiến thức về khoa học kỹ thuật cũng như kinh nghiệm khác nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu từ các nước phát triển cụ thể như:
- Các quốc gia, vùng lãnh thổ bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu phải tăng cường hợp tác nhằm củng cố nâng cao năng lực thích ứng trước các tác động tiềm tàng của biến đổi khí hậu; Tăng cường hợp tác thông qua các hội thảo quốc tế về chia sẻ thông tin, kinh nghiệm ứng phó, sử dụng cơ sở dữ liệu chung về quy hoạch vùng đô thị, các dự án xây dựng trong khu vực
- Phương pháp giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu thông qua phương tiện thông tin đại chúng, tuyên truyền giáo dục: Ví dụ bên cạnh các phương tiện truyền thông như: báo chí, truyền hình, radio,… có thể thông qua nhiều hình thức khác nhau như các tiểu phẩm, các bài hát, với sự phong phú về văn hóa của từng nước Qua đó gửi thông điệp về biến biến đổi khí hậu đến người dân Ngoài ra, cũng cần học hỏi, tham khảo kinh nghiệm truyền thống của người dân từ các vùng miền khác nhau với những đặc điểm đặc trưng khác nhau trong công tác giảm thiểu
và thích ứng với biến đổi khí hậu