Như vậy các Luật, Pháp lệnh về đất đai được Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thông qua trong giai đoạn 1988 – 20 01 đã hình thành nền móng cơ bản về chế độ quản lý, sử dụng đất đai, t
PHẦN MỞ ĐẦU
Đặt vấn đề
Với tổng diện tích tự nhiên trên 33 triệu ha, dân số trên 89 triệu (số liệu năm 2010), Việt Nam là một trong những quốc gia có diện tích bình quân đầu người thấp nhất thế giới (khoảng 0,37 ha đất tự nhiên/người và 0,28 ha đất nông nghiệp/người) Đất đai là là tài sản của quốc gia Ngay từ khi mới thành lập, Đảng ta coi đất đai là một trong những mục tiêu đấu tranh cách mạng, đánh giá đúng vai trò, vị trí của đất đai nên trong mỗi giai đoạn lịch sử, Đảng và Nhà nước đã có những chính sách đất đai phù hợp, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước
Năm 1987, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua Luật Đất đai đầu tiên, đặt dấu mốc quan trọng cho việc hình thành và phát triển các chính sách đất đai ở nước ta, và sau 5 năm, Luật Đất đai 1993 được Quốc hội thông qua với trọng tâm tạo hành lang pháp lý phục vụ phát triển nông nghiệp hàng hoá và hạ tầng cho công nghiệp và dịch vụ Trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, nhằm thúc đẩy hoạt động đầu tư trên đất phát triển, năm 1998 Quốc hội thông qua Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đất đai Tiếp đó, năm 2001 Quốc hội thông qua Luật Đất đai sửa đổi một lần nữa với điểm chính là đẩy mạnh phân cấp thẩm quyền quyết định về đất đai cho địa phương Vào tháng 10 năm 1994 Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua các Pháp lệnh về quyền và nghĩa vụ của tổ chức trong nước và ngoài nước được giao đât, cho thuê đất tại Việt Nam Như vậy các Luật, Pháp lệnh về đất đai được Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thông qua trong giai đoạn 1988 – 20 01 đã hình thành nền móng cơ bản về chế độ quản lý, sử dụng đất đai, thẩm quyền nhà nước, quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sử dụng đất, các chính sách đất đai phục vụ phát triển kinh tế xã hội
Trước sự thay đổi nhanh chóng của tình hình kinh tế - xã hội trong những năm đầu của Thế kỷ 21, trên cơ sở Nghị quyết 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa IX đã thông qua Luật Đất đai mới, lấy tên là Luật Đất đai 2003 Kế thừa các chính sách đất đai trong các Luật trước đây, Luật hóa các chủ trương, chính sách mới của Đảng, Luật Đất đai 2003 quy định khá toàn diện về quản lý và sử dụng đất đai với nhiều quy định mới đáp ứng kịp thời các vấn đề cuộc sống đang đặt ra lúc bấy giờ
- Trong bối cảnh thế giới có nhiều diễn biến mới, trước nhiều vấn đề bức xúc trong quản lý và sử dụng đất đai chưa được giải quyết, với những định hướng lớn của đất nước trong giai đoạn 2011-2020, trong khi nhiều quy định của Luật Đất đai 2003 tỏ ra bất cập, không đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn Vì vậy Luật Đất đai 2013 đã ra đời đã thể chế hoá đúng và đầy đủ những quan điểm, định hướng của Nghị quyết số 19/NQ – TW tại Hội nghị lần 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đồng thời khắc phục, giải quyết những tồn tại, hạn chế phát sinh trong quá trình thi hành Luật Đất đai 2003 Luật Đất đai 2013 ra đời đã có những thay đổi, những cải tiến so với Luật Đất đai 2003 Để phù hợp với giai đoạn phát triển đổi mới của đất nước Với những lý do trên tôi chọn đề tài :
“ Nghiên cứu những thay đổi và bổ sung của Luật Đất đai 2013 và tác động của nó đến công tác quản lý Nhà nước về đất đai, sự phát triển kinh tế- xã hội và môi trường” nhằm góp phần vào việc nâng cao hiệu quả của tổ chức thực hiện Luật Đất đai có hiệu quả.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu những thay đổi và bổ sung của Luật Đất đai 2013 từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện trong thực tiễn
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Luật Đất đai 2013, Luật Đất đai 2003
Các vấn đề về Luật Đất đai 2013, Luật Đất đai 2003 các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.
Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
4.1.1 Quan điểm hệ thống cấu trúc
Hệ thống là tập hợp các yếu tố tạo thành một chỉnh thể trọn vẹn, ổn định và vận động theo quy luật của pháp luật Một hệ thống bao giờ cũng có một cấu trúc gồm nhiều thành tố Mỗi thành tố lại có những cấu trúc nhỏ hơn
Luật đất đai 2013 so với Luật Đất đai 2003 là sự kế thừa, phát triển những nội dung của những năm trước đây là Vì vậy cần tiếp cận nó từ chính trong mối quan hệ với các các nền tảng nội dung trước đó để thấy được tính chỉnh thể, hệ thống và những thay đổi của nó trong từng thời điểm
Trước yêu cầu quản lý đất đai một cách toàn diện bằng pháp luật, Nhà nước ta có chủ trương xây dựng các dự thảo Luật Đất đai từ năm 1987 Qua nhiều lần chính lý, sửa đổi, tiếp thu ý kiến từ cuộc trung cầu dân ý cho ra đời Luật Đất đai 1987; đến năm 1993 chúng ta có Luật Đất đai mới trên cơ sở sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai đã có; Luật Đất đai 1993 được sửa đổi, bổ sung 2 lần vào các năm 1998 và 2001; Năm 2003 chúng ta có luật mới thay thế là Luật Đất đai 2003; sau 10 năm áp dụng, năm 2013 chúng ta có Luật Đất đai 2013 thay thế Luật Đất đai 2003 Mỗi lần thay đổi bổ sung thể hiện một hoàn cảnh lịch sử khác nhau của đất nước Luật Đất đai đã phản ánh được hiệu lực, vai trò và sự cần thiết của công tác quản lí Nhà nước về đất đai, nhất là trong giai đoạn hiện nay Quan điểm này còn được vận dụng để xem xét những phân tích , lý giải cũng như những văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Đất đai của các nhà khoa học, chuyên gia từ trước đến nay theo suốt chiều dài lịch sử với sự phát triển và bổ sung sửa đổi của Luật Đất đai
Thực tiễn là mục tiêu để Luật Đất đai hướng đến, đồng thời thực tiễn cũng là động lực để Luật Đất đai luôn phải thay đổi, bổ sung với những đòi hỏi mang tính thời sự của nó Quan điểm này được vận dụng để xem xét hiệu quả của Luật Đất đai trong việc tổ chức thực hiện, áp dụng vào thực tiễn đạt những hiệu quả cũng như còn những vấn đề bất cập, vướng mắc từ đó làm cơ sở đề xuất những giải pháp để Luật Đất đai được tổ chức thực hiện ngày càng có hiệu quả dựa vào những nội dung sửa đổi, bổ sung
4.1.4 Quan điểm phát tiển bền vững
Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm đáp ứng được nhu cầu hiện tại và đảm bảo không làm tổn thương khả năng đáp ứng của các thế hệ tương lai
Phát triển bền vững không chỉ đơn thuần được hiểu là sự phát triển được duy trì một cách liên tục, mà hơn thế nữa phát triển ở đây được hiểu là sự nỗ lực liên tục để nhằm đạt được trạng thái bền vững Phát triển bền vững không được coi là 1 mục tiêu để đặt ra mà nó là 1 quá trình duy trì sự cân bằng tới chất lượng môi trường và chất lượng cuộc sống, tình bền vững của môi trường tự nhiên
Quan điểm phát triển bền vững được vận dụng vào trong Luật Đất đai như: công tác quy hoạch đất phải hợp lý, đảm bảo đất nông nghiệp cho người dân, đảm bảo công bằng xã hội
4.2.1 Phương pháp phân tích tổng hợp tài liệu
Tiến hành thu thập các thông tin, số iệu, tài liệu và những thông tin cần thiết về Luật Đất đai 2003, Luật Đất đai 2013, các thông tư nghị định, các văn bản hướng dẫn qua các công trình nghiên cứu, sách báo, qua một số kênh thông tin mạng Internet…Từ đó để xử lý và tổng hợp để vận dụng vào vấn đề nghiên cứu
So sánh các điểm mới quan trọng của Luật Đất đai 2013 so với Luật Đất đai của những năm trước đó, đặc biệt là Luật Đất đai 2003 để thấy được những bất cập, vướng mắc của Luật Đất đai cũ và những điểm mới bổ sung, sửa đổi là
1 sự tất yếu và cần thiết
Trên cơ sở tham khảo ý kiến của các chuyên gia như cán bộ địa chính, người sử dụng đất, các chuyên viên… về lĩnh vực đất đai.
Bố cục đề tài
NỘI DUNG
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc nghiên cứu những thay đổi và bổ sung của Luật Đất đai 2013
Chương 2: Những thay đổi của Luật Đất đai 2013 và tác động của nó đến công tác quản lý Nhà nước về đất đai, sự phát triển kinh tế - xã hội và môi trường
Chương 3: Đề xuất giải pháp để đẩy nhanh công tác tổ chức thực hiện Luật Đất đai 2013 trong thực tiễn
C Kết luận và kiến nghị
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU NHỮNG THAY ĐỔI VÀ BỔ SUNG CỦA LUẬT ĐẤT ĐAI 2013
Cơ sở lí luận
Những vấn đề lí luận liên quan đến Luật Đất đai
1.1.1 Khái niệm về Luật Đất đai
Khi hệ thống hóa toàn bộ những văn bản pháp luật mà nhà nước ban hành trong quản lý đất từ khi nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đến nay, người ta thường dùng hai thuật ngữ phổ biến để gọi ngành luật điều chỉnh các quan hệ đất đai trong xã hội ta là “Luật ruộng đất” và “Luật Đất đai”, về mặt ngôn từ thuần túy với đầy đủ khía cạnh dân gian thì hai thuật ngữ nên tạm coi là đồng nghĩa nhưng trên phương diện luật học thì cách hiểu như vậy là không chính xác khiến cho sự đánh đồng thuật ngữ của một ngành luật với một chế định cụ thể của nó Trong quá trình xây dựng Luật Đất đai năm 2003 có ý kiến khác nhau khi đề cập tới tên của là “Luật, có quan điểm cho rằng luật nên lấy là “Luật Đất” hoặc” Luật quản lý và sử dụng đất” bởi vì, tên luật là phải “Luật Đất đai” vì ngay trong lời mở đầu của Luật Đất đai đã viết là luật này quy định về chế độ quản lý và sử dụng , quy định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất Mặt khác, đất đai là một thuật ngữ thông dụng trong từ điển tiếng Việt, biểu hiện một khái niệm rộng rãi về đất bao gồm tất cả các loại đất Chính vì vậy mà hiến pháp năm 1980 và hiến pháp năm 1992 đã dùng thuật ngữ này đã dùng thuật ngữ này để chỉ tất cả các loại đất thuộc lãnh thổ nước ta Sủ dụng “Luật Đất đai” là phù hợp với văn tự đã dùng trong hiến pháp Trong điều 13 Luật Đất đai 2003 về phân loại đất đai ở nước ta được chia thành 3 loại, trong đó đất nông nghiệp đươc coi là tư liệu sản xuất chủ yếu [7][9]
Như vậy khi nói đến Luật Đất đai phải hiểu theo 2 nghĩa, nghĩa thứ nhất là văn bản được Quốc hội thông qua và nghĩa thứ hai là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật nước ta bao gồm nhiều chế định pháp luật trong đó có phần riêng là chế độ pháp lý các loại đất Trên phương diện pháp lý thì sử dụng nhóm thuật ngữ “Luật Đất đai” là hoàn toàn phù hợp với quan niệm cuộc sống
Tiếp tục duy trì và bảo vệ chế độ sở hữu Nhà Nước đối với đất đai, hiến pháp năm 1992 một lần nữa khẳng định lại quan điểm này “đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên thiên nhiên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời đều thuộc sở hữu toàn dân”( điều 17) Điều này cũng khẳng định tại điều l luật 1990: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lí” và điều 4 luật đất đai năm 2013: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này”
Từ đây, nhà nước ta đại diện cho toàn dân thực hiện vai trò cho chủ sở hữu đất đai, có đầy đủ các quyền năng chiếm hữu sử dụng định đoạt đất đai Các tổ chức và các nhân với tư cách là hàng triệu hộ gia đình, hàng vạn tổ chức trong và ngoài nước thực hiện nhiệm vụ của người chủ cụ thể trong việc sử dụng đất Mối quan hệ giữa nhà nước với người sử dụng đất là quan hệ giữa chủ sở hữu, người quản lý, người thực hiện ý đồ về quy hoạch và kế hoạch của nhà nước Các mối quan hệ đó là hình thành, làm thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật đất đai mà chủ sở hữu là nhà nước không hề thay đổi
Như vậy, Luật Đất đai là một ngành Luật độc lập trong hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa, là tổng hợp các quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh những quan hệ đất đai hình thành trong quá trình chiếm hữu, sử dụng và định đoạt số phận pháp lý của đất đai nhằm sử dụng đất đai đại đạt hiệu quả cao phù hợp với lợi ích của nhà nước và người sử dụng đất
1.1.2 Vị trí, vai trò của Luật Đất đai
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Luật Đất đai có vị trí, vai trò quan trọng không thể phủ nhận Vị trí, vai trò của Luật Đất đai được thể hiện trên những phương diện chủ yếu sau đây:
Thứ nhất: Luật Đất đai có phạm vi và đối tượng điều chỉnh riêng Đối tượng điều chỉnh của Luật Đất đai là các quan hệ xã hội phát sinh trực tiếp từ việc con người sở hữu, chiếm hữu, quản lý và sử dụng đất đai Đây là các quan hệ liên quan trực tiếp đến việc sở hữu, quản lý và sử dụng đai - một loại tài sản đặc biệt Tính đặc biệt của đất đai thể hiện: về nguồn gốc phát sinh, đất đai không do con người tạo ra mà do tự nhiện tạo ra; cố định về vị trí địa lý, không di dời được và bị giới hạn bởi không gian, diện tích; Đất đai được sử dụng vào các mục đích khác nhau; nên quan hệ đất đai vừa chứa đứng yếu tố quản lý hành chính vừa chứa đựng yếu tố kinh tế, dân sự, thương mại, văn hóa và xã hội … Đất đai không chỉ là tư liệu sản xuất đặc biệt, là lãnh thổ quốc gia mà còn là nơi cư trú của con người và là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống;
Thứ hai: Luật Đất đai có những nguyên tắc đặc trưng so với các đạo luật khác trong hệ thống pháp luật Việt Nam Các nguyên tắc này bao gồm: nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu; Nguyên tắc Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật; nguyên tắc sử dụng đất đúng mục đích, đúng quy hoạch, hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả; nguyên tắc bồi bổ, cải tạo và bồi bổ đất đai; nguyên tắc đặc biệt ưu tiên bảo vệ nhóm đất nông nghiệp; [12]
Thứ ba: Luật Đất đai đã quán triệt sâu sắc và thể chế hóa các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng về đất đai nhằm phục vụ những yêu cầu của cách mạng qua từng giai đoạn cụ thể:
Sau khi giành được chính quyền tháng 8 năm 1945, Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa thực hiện việc tịch thu ruộng đất của thực dân, đế quốc, địa chủ, phong kiến chia lại ruộng đất cho nông dân nhằm thực hiện đường lối cách mạng của Đảng “làm cách mạng dân tộc dân chủ đánh đổ thực dân, phong kiến; tịch thu ruộng đất của tư sản, địa chủ, cường hào chia cho nông dân thực hiện khẩu hiệu “người cày có ruộng” Cơ sở pháp lý của việc làm này là Luật cải cách ruộng đất được ban hành năm 1953 Tiếp đến, khi miền Bắc được giải phóng (tháng 10 năm 1954) Cơ sở pháp lý của việc làm này là Điều lệ hợp tác xã nông nghiệp bậc cao năm 1961 Sau khi đất nước thống nhất (tháng 4 năm
1975), cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội, Chính phủ ban hành Quyết định số 201/CP ngày 01/08/1980 về tăng cường công tác quản lý đất đai trong cả nước Nhận thức rõ việc duy trì cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp sẽ cản trở sự phát triển của đất nước khi cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới: Giai đoạn thống nhất đất nước, xây dựng xã hội ấm no, hạnh phúc; Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (năm 1986) đã phát động công cuộc đổi mới toàn diện đất nước chuyển nền kinh tế sang cơ chế thị trường Công cuộc đổi mới đất nước được tiến hành với khâu đột phá là đổi mới cơ chế quản lý kinh tế trong nông nghiệp, từng bước xác định địa vị làm chủ của hộ gia đình, cá nhân đối với ruộng đất Hàng loạt đường lối, chính sách của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý kinh tế trong nông nghiệp nói chung và xác định vai trò của hộ gia đình, cá nhân là đơn vị kinh tế tự chủ trong sản xuất nông, lâm nghiệp nói riêng đã lần lượt được ra đời với việc thực hiện giao đất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài; đồng thời mở rộng các quyền năng của người sử dụng đất Quan điểm xác lập và mở rộng các quyền của hộ gia đình, cá nhân đối với đất đai được ghi nhận trong các văn kiện chủ yếu sau đây của Đảng:
- Vấn đề sử dụng đất ổn định lâu dài của hộ gia đình, cá nhân còn được ghi nhận trong Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000:
“Đất đai thuộc sở hữu toàn dân Các hộ nông dân được Nhà nước giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài và cấp giấy chứng nhận Luật pháp quy định cụ thể việc thừa kế và chuyển quyền sử dụng ruộng đất” ;
- Ngày 12/03/2003, Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành trung ương Đảng Khóa IX ra nghị quyết về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã chỉ rõ: “Người được giao quyền sử dụng đối với đất trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản và đất trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở, được thực hiện quyền thừa kế quyền sử dụng đất theo pháp luật về thừa kế như các tài sản khác” ;
Những quan điểm, đường lối đổi mới cơ chế quản lý đất đai trên đây của Đảng đã được thể chế hóa trong nội dung Luật Đất đai năm 1987, Luật Đất đai năm 1993, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 1998 và năm
2001, Luật Đất đai năm 2003, Luật Đất đai 2013 [12]
Tổng quan về Luật Đất đai 2013
Ngày 29/11/2013, Quốc hội đã thông qua Luật Đất đai 2013, Luật này sẽ có hiệu lực kể từ 01/07/2014 So với Luật Đất đai 2003 thì Luật Đất đai
2013 có 14 chương với 212 điều, tăng 7 chương và 66 điều đã khắc phục và giải quyết được những tồn tại, hạn chế phát sinh trong quá trình thi hành Luật Đất đai 2003 Đây là đạo luật quan trọng, có tác động sâu rộng đến chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước, thu hút sự quan tâm rộng rãi của nhân dân
Luật Đất đai 2013 vừa tiếp tục kế thứa, luật hoá những quy định còn phù hợp nhưng đồng thời đã sửa đổi, bổ sung một số quy định mới nhằm tháo gỡ những hạn chế, bất cập của Luật Đất đai 2003
2.1.2 Nội dung của Luật Đất đai 2013
Luật Đất đai 2013 có 14 chương, 212 điều quy định về: Những vấn đề chung (Chương I); Quyền và trách nhiệm của nhà nước đối với đất đai ( Chương II); Địa giới hành chính và điều tra cơ bản về đất đai ( Chương III); Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ( Chương IV); Giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất( Chương V); Thu hồi đất, trưng dụng đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ( Chương VI); Đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền ( Chương VII); Tài chính về đất đai, giá đất và đấu giá quyền sử dụng đất ( Chương VIII); Hệ thống thông tin đất đai và cơ sở dữ liệu đất đai ( Chương IX); Chế độ sử dụng các loại đất ( Chương X); Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất ( ChươngXI); Thủ tục hành chính về đất đai ( Chương XII); Giám sát, thanh tra, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo và xử lí vi phạm pháp luật về đất đai ( Chương XIII); Điều khoản thi hành ( Chương XIV)
2.1.3 Các nghị định thông tư hướng dẫn thi hành Luật Đất đai 2013
- Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính Phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai;
- Nghị định số 44/2014/NĐ-CP của Chính Phủ Quy định về Giá đất;
- Nghị định số 45/2014/NĐ-CP của Chính Phủ Quy định về Thu tiền sử dụng đất;
- Nghị định số 46/2014/NĐ-CP của Chính Phủ Quy định về Thu tiền thuê đất, thuê mặt nước;
- Nghị định số 47/2014/NĐ-CP của Chính Phủ Quy định về Bồi thường hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;
- Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;
- Thông tư số 25/2014/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định về Bản đồ địa chính;
- Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định về Hồ sơ địa chính;
- Thông tư số 26/2014/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định về Quy trình và Định mức kinh tế kỹ thuật xây dựng cơ sở dữ liệu Tài nguyên và Môi trường
- Thông tư số 28/2014/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định về Thống kê, kiểm kê đất đai và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất
- Thông tư số 28/2014/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định chi tiết về việc lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
- Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất
Những thay đổi và bổ sung của Luật Đất đai 2013
Có rất nhiều chương trình Hội thảo, hội nghị của chính phủ và các bộ, ban, ngành đã được tổ chức ( Hội nghị trực tuyến về dự thảo Luật Đất đai ( sửa đổi), Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi, Hội thảo lấy ý kiến vào dự thảo Luật Đất đai sửa đổi vào ngày 15/4/2013, Dự thảo Luật trình Quốc hội cho ý kiến và thông qua tại kỳ họp thứ 6 quốc hội khóa XIII, Tờ trình về dự án Luật Đất đai, Đề cương giới thiệu Luật Đất đai), các công trình, các bài báo, các trang thông tin điện tử ban hành đưa tin ( Hệ thống văn bản pháp luật, Diễn đàn bất động sản
BCCI, Tổng cục thuế- bộ tài chính cục thuế Hải Dương, Báo Đà Nẵng, Báo Vietnam+…) đã nêu và phân tích nhiều về những thay đổi và bổ sung của Luật Đất đai 2013 Tùy vào cách tiếp cận khác nhau nên có các cách viết khác nhau về điểm mới đó
Hình 2.1 Hội nghị trực tuyến lấy ý kiến đại biểu Quốc hội về dự án Luật Đất đai (sửa đổi) ngày 24 tháng 4 năm 2013
Hình 2.2.Hội đồng nhân dân TP Hồ Chí Minh đã tổ chức Hội nghị lấy ý kiến góp ý cho dự thảo Luật Đất đai sửa đổi
Hình 2.3.Hội nghị lấy ý kiến dự thảo sửa đổi luật đất đai của huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắc
Hình 2.4.Các trang Web nói về những điểm sửa đổi, bổ sung của Luật Đất đai 2013
Dựa vào những phân tích, đánh giá của các công trình khoa học, chương trình hội thảo, các chuyên gia đề tài đã tổng kết thành một số các thay đổi và bổ sung như sau:
2.2.1 Vấn đề thứ nhất: Quy định cụ thể hóa các quyền nghĩa vụ của Nhà nước đối với người sử dụng đất
Luật Đất đai năm 2013 đã cụ thể hóa các quyền của Nhà nước đối với đất đai quy định rõ các quyền của Nhà nước đối với đất đai như quyền của đại diện chủ sở hữu; quyền quyết định mục đích sử dụng đất; quy định hạn mức sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất; quyền quyết định thu hồi, trưng dụng đất đai; quyền quyết định giá đất; quyết định chính sách tài chính về đất đai…Lần đầu tiên Luật đất đai đã dành một chương riêng quy định về quyền và trách nhiệm của Nhà nước Trong đó, quy định cụ thể về 08 quyền của Nhà nước - đại diện chủ sở hữu về đất đai như (1) quyết định quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất,
(2) quyết định mục đích sử dụng đất, (3) quy định hạn mức sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất, (4) quyết định thu hồi đất, trưng dụng đất, (5) quyết định giá đất,
(6) quyết định trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất, (7) quyết định chính sách tài chính về đất đai, (8) quy định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất (từ Điều 13 đến Điều 20); việc thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu về đất đai (Điều 21) [3][4]
Luật Đất đai sửa đổi đã quy định cụ thể hóa các quyền nghĩa vụ của Nhà nước đối với người sử dụng đất như: Quy định về những bảo đảm của Nhà nước đối với người sử dụng đất; trách nhiệm của Nhà nước đối với đồng bào dân tộc thiểu số, người trực tiếp sản xuất nông nghiệp; trách nhiệm của Nhà nước trong việc cung cấp thông tin đất đai cho người dân Đồng thời, Luật cũng quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước đối với đất đai như: Nội dung quản lý nhà nước về đất đai (Điều 22) ngoài 13 nội dung theo quy định của Luật Đất đai hiện hành, Luật Đất đai năm 2013 có bổ sung các nội dung sau đây:
+ Điều tra, đánh giá tài nguyên đất; điều tra xây dựng giá đất;
+ Xây dựng hệ thống thông tin đất đai;
+ Giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai;
+ Phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai
Việc bổ sung các nội dung trên đây khẳng định công tác quản lý nhà nước về đất đai cần thiết phải phát triển cả chiều sâu và chiều rộng để đảm bảo quản lý chặt chẽ và khai thác tốt nhất quỹ đất cho các mục đích phát triển
- Quy định cụ thể về những bảo đảm của Nhà nước đối với người sử dụng đất (Điều 26) như bảo hộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất hợp pháp; cấp Giấy chứng nhận nếu đủ điều kiện theo quy định; bồi thường, hỗ trợ cho người có đất thu hồi theo quy định; có chính sách tạo điều kiện cho người trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối không có đất sản xuất do quá trình chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất được đào tạo nghề, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm
- Quy định trách nhiệm của Nhà nước về đất ở, đất sản xuất đối với đồng bào dân tộc thiểu số (Điều 27) Cụ thể: Nhà nước có chính sách về đất ở, đất sinh hoạt chung của cộng đồng đồng bào dân tộc thiệu số phù hợp với phong tục, tập quán, bản sắc văn hóa và điều kiện thực tế của từng vùng; có chính sách tạo điều kiện cho đồng bào dân tộc thiểu số trực tiếp sản xuất nông nghiệp ở nông thôn có đất để sản xuất nông nghiệp [8][13]
- Bổ sung vào Luật quy định về trách nhiệm của Nhà nước trong việc cung cấp thông tin đất đai cho người dân (Điều 28) Theo đó, Nhà nước có các trách nhiệm cụ thể sau đây:
+ Xây dựng, quản lý hệ thống thông tin đất đai và bảo đảm quyền tiếp cận thông tin đất đai cho tổ chức, cá nhân;
+ Công bố kịp thời, công khai thông tin thuộc hệ thống thông tin đất đai cho tổ chức, cá nhân, trừ những thông tin thuộc bí mật theo quy định của pháp luật
+ Thông báo quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai cho tổ chức, cá nhân bị ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp
+ Cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong quản lý, sử dụng đất đai có trách nhiệm tạo điều kiện, cung cấp thông tin về đất đai cho tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật Đây là những quy định rất quan trọng nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao nhu cầu về thông tin đất đai để phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau của các tổ chức và cá nhân
2.2.2 Vấn đề thứ hai : Điều tra, đánh giá về tài nguyên đất đai
Luật Đất đai năm 2013 đã bổ sung những nội dung cơ bản trong việc điều tra, đánh giá về tài nguyên đất đai, nhằm khắc phục bất cập hiện nay mà Luật Đất đai năm 2003 chưa có quy định cụ thể; bổ sung những quy định quan trọng trong nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, nhằm khắc phục khó khăn khi lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; bổ sung và quy định rõ quyền và nghĩa vụ sử dụng đất của người dân trong vùng quy hoạch đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất
- Điều tra, đánh giá đất đai ( Điều 32 và Điều 33)
+ Đây là nội dung mới của Luật, quy định 3 vấn đề:
+ Quy định các hoạt động điều tra, đánh giá đất đai;
+ Nội dung điều tra, đánh giá đất đai;
+ Tổ chức thực hiện điều tra, đánh giá đất đai [3][4]
- Về nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Những tác động của việc thay đổi và bổ sung của Luật Đất đai
2013 đến công tác quản lý nhà nước về đất đai, sự phát triển kinh tế, xã hội và môi trường
2.3.1 Tác động đến công tác quản lí Nhà nước về đất đai
Luật Đất đai 2013 ra đời đã có nhiều điểm mới quan trọng, nó đã tác động đến tình hình quản lý nhà nước về đất đai qua những điểm sau:
- Thứ nhất: quy định cụ thể hóa các quyền nghĩa vụ của Nhà nước đối với người sử dụng đất và bổ sung thêm một số nội dung về quản lý nhà nước về đất đai Lần đầu tiên Luật Đất đai đã dành một chương riêng quy định về quyền và trách nhiệm của Nhà nước đối với đất đai được xây dựng chi tiết, cụ thể và thiết kế thành một chương độc lập gồm 16 điều (từ Điều 13 đến Điều 28 Chương II) Khác với Luật đất đai năm 2003 khi quyền và trách nhiệm của Nhà nước đối với đất đai được quy định và sắp xếp rải rác ở các điều, chương khác nhau (Điều 5, 6, 7 và mục 8 Chương II) và không quy định chi tiết, cụ thể các quyền cũng như trách nhiệm của Nhà nước đối với đất đai Như là trước đây theo Luật Đất đai 2003 thì Nhà nước thực hiện quyền định đoạt đối với đất đai ( Khoản 2, Điều 5) đang còn chưa cụ thể còn bây giờ theo Luật Đất đai 2013 thì Quyền của đại diện chủ sở hữu về đất đai (tại Điều 13) đã quy định thành 8 quyền cụ thể hơn rất nhiều sé giúp cho công tác quản lý nhà nước về đất đai giải quyết được sự chồng chéo về thẩm quyền giữa các cấp, các ngành trong việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dung đất và quy hoạch phát triển đô thị; đăng ký đất đai và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; phân hạng và định giá đất; thanh tra, kiểm tra, giải quyết tranh chấp, khiếu kiện, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai
- Thứ hai: Luật Đất đai năm 2013 đã bổ sung những nội dung cơ bản trong việc điều tra, đánh giá về tài nguyên đất đai, nhằm khắc phục bất cập hiện nay mà Luật Đất đai năm 2003 chưa có quy định cụ thể Về việc điều tra, đánh giá tài nguyên đất đai nhằm đánh giá được chính xác thực trạng đất đai, chất lượng, tiềm năng đất đai; điều tra, đánh giá thoái hóa đất; ô nhiễm đất; điều tra, phân hạng đất nông nghiệp theo từng vùng, làm cơ sở để đánh giá tình hình quản lý, sử dụng đất đai và đề xuất cơ chế, chính sách, biện pháp nhằm nâng cao công tác quản lý nhà nước về đất đai, nâng cao hiệu quả sử dụng đất của các cấp, nhất là việc lập, điều chỉnh, quản lý, thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong giai đoạn 2016-2020
- Thứ ba: Công tác giao đất, cho thuê đất
+ So với quy định của Luật Đất đai năm 2003 cụ thể quy định về giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất được quy định cụ thể trong 7 Điều của Mục 3 còn đối với , Chương II còn đối với Luật đất đai năm 2013 được quy định chi tiết, cụ thể trong 9 Điều của Chương V Quy định đầy đủ, rõ ràng các đối tượng được Nhà nước giao đất, cho thuê đất và điều kiện để triển khai thực hiện các dự án đầu tư để Nhà nước giao đất, cho thuê đất sẽ thiết lập sự bình đẳng hơn trong việc tiếp cận đất đai giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài; nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài đều được áp dụng hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư nhà ở để bán hoặc kết hợp cho thuê; các trường hợp còn lại được áp dụng hình thức đất trả tiền hàng năm hoặc thuê đất trả tiền một lần cho cả thời gian thuê
+ Ví dụ trước đây, tình trạng chậm đưa đất đai vào sử dụng hoặc chuyển nhượng dự án còn xảy ra ở nhiều địa phương dẫn đến lãng phí đất đai và gây bất bình trong dư luận Hay, nhiều địa phương còn thiếu cân nhắc trong việc chuyển mục đích sử dụng chuyên trồng lúa nước, đất lâm nghiệp có rừng, giao đất, cho thuê đất tại các khu vực nhạy cảm, vùng biên giới Ngoài ra, vẫn còn tình trạng nhiều tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền nhưng sử dụng lãng phí và thiếu trách nhiệm trong quản lý để xảy ra nhiều sai phạm
+ Còn bây giờ thì đã thu hẹp các trường hợp được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, giao đất không thu tiền sử dụng đất và cơ bản chuyển sang thuê đất nhằm sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả Các quy định hình thức giao đất, cho thuê đất chủ yếu thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất để đảm bảo tính công khai minh bạch, đồng thời huy động được nguồn lực đất đai cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và từng địa phương
Từ khi Luật Đất đai năm 2013 đã có nhiều đổi mới trong công tác giao đất, cho thuê đất thì nó đã có nhiều tác động quan trọng trong quản lý nhà nước về đất đai đặc biệt là đẩy nhanh được quá trình giao đất, giám sát được vấn đề chuyển mục đích sử dụng đất mà trước đây ta chuyển ồ ạt, chuyển không đúng mục đích…
- Thứ tư: Về việc đăng ký và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, theo Luật Đất đai 2013 đã bổ sung các quy định mới như: Về các trường hợp đăng ký lần đầu, đăng ký biến động, đăng ký đất đai trên mạng điện tử ( Điều
95) Việc quy định hình thức đăng ký đất đai trên mạng điện tử góp phần tích cực vào tiến trình cải cách hành chính, khắc phục tình trạng sách nhiễu, phiền hà khi người dân đi đăng ký trực tiếp; Trường hợp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là tài sản chung của nhiều người, thì cấp mỗi người một giấy chứng nhận hoặc cấp chung một giấy chứng nhận, trường hợp là tài sản chung của vợ và chồng mà giấy chứng nhận chỉ ghi họ, tên của vợ hoặc chồng thì được cấp đổi sang giấy chứng nhận mới để ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng nếu có nhu cầu để đảm bảo tính công bằng cho người sử dụng
Ngoài ra theo Luật Đất đai năm 2003 việc xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất gặp rất nhiều khó khăn, còn đối với Luật Đất đai 2013 quy định: “Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này, có hộ khẩu thường trú tại địa phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là người đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất”; [13][8]
Như vậy thủ tục đăng ký và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Luật Đất đai 2013 đã phần nào tháo gỡ được những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn thực hiện các quyền của người sử dụng đất liên quan đến việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý đất đai của Nhà nước, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các cơ quan chức năng, nhất là Tòa án trong quá trình giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất
- Thứ năm: Ví dụ : Quy định nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất thì các chế định bồi thường về đất, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trong Luật Đất đai năm 2003 được quy định tại Điều 42 trên thực tế đã không thể chế, truyền tải hết các quy định mang tính nguyên tắc để thực hiện thống nhất khi xử lý những vấn đề phức tạp phát sinh trong thực tiễn thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại các địa phương, các bộ, ngành, chưa bảm đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai và chưa kịp thời Còn Luật Đất đai năm 2013 đã tách nguyên tắc bồi thường về đất và nguyên tắc bồi thường thiệt hại về tài sản, ngừng sản xuất, kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất thành 02 điều riêng biệt (Điều 74 và Điều 88) đã giúp công tác quản lý nhà nước giải quyết được những khó khan và bất cập trong việc thu hồi đất [8][13] [11]
Ngoài ra, Luật Đất đai 2013 quy định cụ thể và làm rõ các điều kiện để bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, anh ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng đối với từng loại đối tượng mà Nhà nước thu hồi đất Trong đó, Luật bổ sung thêm 02 trường hợp được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất quy định tại Điều 75, cụ thể:
Bổ sung bồi thường đối với các trường hợp sử dụng đất thuê trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê nhằm đảm bảo sự bình đẳng giữa người sử dụng đất theo hình thức thuê đất trả tiền một lần cho cả thời gian thuê với người được giao đất có thu tiền sử dụng đất (có cùng nghĩa vụ tài chính như nhau); Bổ sung bồi thường đối với trường hợp cơ sở tôn giáo, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất mà không phải là đất do Nhà nước giao, cho thuê và có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liều với đất theo quy định của Luật mà chưa được cấp Quy định trên đây là một trong những điểm mới của Luật Đất đai năm 2013 mà Luật Đất đai năm 2003 chưa quy định rõ, những quy định này sẽ giải quyết được những vướng mắc trong việc bồi thường, hỗ trợ đối với đất do cơ sở tôn giáo đang sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, sản xuất lâm nghiệp, sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp, làm cơ sở hoạt động từ thiện, không phải là đất do được Nhà nước giao mà có nguồn gốc do nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho hợp pháp hoặc khai hoang trước ngày 07/7/2004 [1][2][3]
Việc cụ thể hóa, chi tiết hóa quy định về các trường hợp được phép thu hồi đất thay cho những điều khoản có phần chung chung của luật 2003 sẽ thắt chặt hiện tượng thu hồi đất tràn lan hiện nay