Đây là kết quả của việc sử dụng đầy đủ, hợp lý đất đai, việc xác định hiệu quả sử dụng đất thông qua tính toán hàng loạt các chỉ tiêu khác nhau: năng suất cây trồng, chi phí đầu tư, hệ s
PHẦN MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là nguồn nhân lực, nguồn vốn to lớn của đất nước, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng Do sự gia tăng dân số nhanh, nhu cầu phát triển ngày càng nhiều, con người đã khai thác quá mức các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên đất đai dẫn đến nguy cơ giảm về số lượng và chất lượng của nguồn tài nguyên này Trong nông nghiệp, đất đai không những là đối tượng lao động mà còn là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế được
Nông nghiệp là một ngành sản xuất đặc biệt, con người khai thác các nguồn lợi tự nhiên từ đất để đảm bảo các nhu cầu về lương thực và vật dụng của xã hội Vì vậy sản xuất nông nghiệp là một hệ thống có vai trò quan trọng trong mối quan hệ của tự nhiên với kinh tế - xã hội Quan điểm phát triển nông nghiệp bền vững đã định hướng những đề tài nghiên cứu cùng những ứng dụng quan trọng và cấp bách trong sản xuất nông nghiệp của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng nhằm hướng đến mục tiêu phát triển bền vững
Mục tiêu này nhằm mang lại đồng thời hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường, đồng thời làm cơ sở để đề xuất mô hình sử dụng đất nông nghiệp hợp lý và hiệu quả nhằm đảm bảo phát triển bền vững Đây là vấn đề có tính chiến lược và cấp thiết của quốc gia và của từng địa phương.
Nam Đàn là một huyện nông nghiệp nằm ở hạ lưu sông Lam với tổng diện tích tự nhiên là 29252,99 ha (theo số liệu kiểm kê đất đai tính đến ngày 1/1/2014), trong đó diện tích đất nông nghiệp chiếm 74,97% (21930,94 ha) Nam Đàn là huyện nằm trong địa bàn tỉnh Nghệ An có diện tích tương đối lớn và có tiềm năng phát triển kinh tế, trong đó nông nghiệp có tầm quan trọng lớn đối sự phát triển của huyện, có hơn 70 % dân số trong đó nông nghiệp có tầm quan trọng lớn đối sự phát triển của huyện, diện tích đất nông nghiệp bình quân trên đầu người còn thấp Vì vậy việc sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả nhằm đem lại nhiều hơn những sản phẩm cho xã hội có ý nghĩa rất lớn đối với tỉnh Nghệ An nói chung, huyện Nam Đàn nói riêng Do phải chịu sức ép về gia tăng dân số nên một số năm gần đây trong sản xuất nông nghiệp ở huyện Nam Đàn chưa chú trọng đúng mức việc sử
Việc chỉ quan tâm đến năng suất và sản lượng cây trồng đã làm thay đổi đáng kể hệ sinh thái nông nghiệp và làm xói mòn tính bền vững của hệ thống Đây là nguyên nhân gây ra nguy cơ thoái hóa đất đai, đặc biệt ở các vùng sản xuất chuyên canh Để góp phần xây dựng định hướng sử dụng đất hiệu quả và bền vững, phù hợp với quy hoạch trên địa bàn huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, cần nghiên cứu thực trạng và đề xuất mô hình sử dụng đất nông nghiệp thích ứng với các yếu tố môi trường và kinh tế - xã hội Chính vì vậy, tôi lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất mô hình sử dụng đất nông nghiệp bền vững phục vụ quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình.
Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng và đề xuất mô hình sử dụng đất nông nghiệp bền vững nhằm phục vụ công tác quy hoạch và thực hiện quy hoạch sử dụng đất có hiệu quả ở huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
Yêu cầu nghiên cứu
- Số liệu thu thập phải đảm bảo chính xác, trung thực và có ý nghĩa đối với mục đích sử dụng đất sản xuất nông nghiệp
Điều tra và đánh giá điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của huyện Nam Đàn cho thấy những tiềm năng và tồn tại liên quan đến sử dụng đất nông nghiệp Kết quả phân tích làm nổi bật các yếu tố như đất đai, nguồn nước và khí hậu thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, đồng thời chỉ ra những hạn chế cần khắc phục về hạ tầng, quy hoạch và quản lý đất đai Những tiềm năng đang mở ra cơ hội xây dựng mô hình canh tác hiện đại, tăng năng suất và giá trị sản phẩm nông nghiệp trên địa bàn Để tận dụng tối đa, cần kết nối kết quả điều tra với quy hoạch kinh tế - xã hội địa phương và đề Xuất các giải pháp tối ưu hóa sử dụng đất nông nghiệp theo hướng bền vững.
Để tối ưu hóa quản lý đất nông nghiệp, nghiên cứu tiến hành điều tra và xác định các mô hình sử dụng đất nông nghiệp hiện tại, đồng thời đánh giá tiềm năng của các mô hình nông nghiệp chính nhằm làm rõ hiệu quả và độ bền vững, từ đó chỉ ra các yếu tố hạn chế ảnh hưởng đến hiệu suất của các mô hình này Kết quả phân tích cung cấp căn cứ để đề xuất giải pháp điều chỉnh và định hướng phát triển sử dụng đất nông nghiệp phù hợp với điều kiện địa phương.
- Trên cơ sở đánh giá yêu cầu sử dụng đất và hiệu quả của các mô hình sử dụng đất, đề xuất một số mô hình sử dụng đất nông nghiệp phù hợp và các giải pháp sử dụng đất nông nghiệp hợp lý, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An
- Nguồn số liệu, tài liệu điều tra thu thập được phải đáng tin cậy
- Các đề nghị, kiến nghị phải có tính khả thi.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Thực trạng mô hình sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An
+ Về mặt không gian: Huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An
+ Về mặt thời gian: Từ ngày 2/3/2015 - 26/4/2015
+ Về mặt nội dung: Nghiên cứu thực trạng mô hình sử dụng đất nông nghiệp
3 trên địa bàn huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá những thuận lợi, khó khăn, những mặt đạt được và chưa đạt được của các mô hình sử dụng đất nông nghiệp hiện tại để đề xuất các mô hình sử dụng đất nông nghiệp theo hướng bền vững phục vụ quy hoạch sử đất.
Quan điểm nghiên cứu
Quan điểm tổng hợp là một cách tiếp cận truyền thống khi xem xét và phân tích một đối tượng, đặt nó trong mối quan hệ biện chứng giữa các thành phần để làm rõ sự phụ thuộc và tác động qua lại giữa chúng Phương pháp này nhấn mạnh sự liên thông của các yếu tố trong tổng thể, giúp nhận diện vai trò, ảnh hưởng và sự điều tiết giữa từng thành phần Việc kết hợp các yếu tố theo hướng tổng hợp cho phép rút ra kết luận toàn diện từ phân tích chi tiết và tăng cường khả năng giải thích cũng như ứng dụng của nghiên cứu.
Quan điểm được vận dụng trong việc nghiên cứu thực trạng và đề xuất mô hình sử dụng đất nông nghiệp dựa trên cơ sở các kết quả phân tích và điều tra về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường của các mô hình sử dụng đất
Quan điểm hệ thống trong nghiên cứu khoa học là cách tiếp cận cho ta tri thức đầy đủ, toàn diện và khách quan về đối tượng nghiên cứu, đồng thời làm sáng tỏ mối quan hệ giữa các hệ thống với các hiện tượng khác, từ đó nêu bật tính triệt để và khách quan của tri thức khoa học.
Quan điểm được vận dụng trong hệ thống điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội bao gồm vị trí địa lý, các đặc điểm tự nhiên, dân cư, kinh tế, xã hội trên địa bàn Hệ thống theo nghĩa hẹp còn là hệ thống đất đai và các mô hình sử dụng đất trên địa bàn Bên cạnh đó, các giải pháp mô hình mà tác giả đề xuất cũng dựa trên cơ sở tính hệ thống để đảm bảo tính đồng bộ và hiệu quả
5.3 Quan điểm phát triển bền vững
Tư tưởng chủ đạo của quan điểm này là sự phát triển kinh tế bền vững phải đảm bảo 3 mục tiêu: bảo vệ môi trường, hiệu quả kinh tế và ổn định, công bằng xã hội Quan điểm phát triển bền vững hướng tới sự hài hòa mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong sự tương tác giữa hệ thống tự nhiên và hệ thống kinh tế - xã hội
Trong đề tài, quan điểm này được thể hiện được hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của các LUT Quan điểm phát triển bền vững trong sử dụng đất nông nghiệp là duy trì và nâng cao thu nhập, giảm chi phí sản xuất, bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên và thúc đẩy phát triển nông thôn
Mỗi đối tượng địa lý gắn với một không gian xác định và có quy luật hoạt động riêng, phản ánh các đặc trưng cơ bản của lãnh thổ và giúp phân biệt lãnh thổ này với các lãnh thổ khác Trong từng lãnh thổ luôn có sự phân hóa nội tại và mối quan hệ chặt chẽ với các lãnh thổ xung quanh về tự nhiên cũng như kinh tế - xã hội Vì vậy, nghiên cứu địa lý luôn gắn với một lãnh thổ cụ thể Vận dụng quan điểm lãnh thổ giúp giải quyết một cách có hệ thống các vấn đề lý luận cũng như trong thực tiễn khai thác, quản lý và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên trong lãnh thổ được nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa, thu thập số liệu
- Thu thập trên cơ sở các tài liệu, số liệu đã có sẵn từ các cơ quan nhà nước như phòng nông nghiệp huyện, phòng thống kê huyện, phòng TN & MT huyện…
Điều tra phỏng vấn trực tiếp người sử dụng đất theo phương pháp PRA nhằm thu thập các nguồn số liệu sơ cấp phục vụ đánh giá mô hình sử dụng đất nông nghiệp.
Dựa theo đặc điểm của từng vùng, tôi chọn 3 hộ gia đình chính trong xã Nam Kim để điều tra gồm:
+ Hộ gia đình có diện tích canh tác trong nông nghiệp lớn, kinh tế tương đối phát triển và có hướng sử dụng đất chủ yếu vào cây ăn quả
Hộ gia đình được coi là có diện tích đất canh tác lớn và nền kinh tế phát triển, thường áp dụng mô hình sản xuất nông nghiệp đa dạng với vườn ao chuồng là hoạt động chính Trong mô hình vườn ao chuồng, gia đình kết hợp trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản trên cùng một diện tích đất, tối ưu hóa hiệu quả sử dụng đất, nước và nguồn lực tại nông thôn Chính nhờ sự đa dạng này mà thu nhập được tăng lên, đời sống được cải thiện và sự bền vững cho kinh tế hộ gia đình được củng cố.
Hộ gia đình thứ ba được chọn làm điểm điều tra, là một hộ có nền kinh tế phát triển và mô hình sử dụng đất chính là trồng các cây hàng năm như ngô, sắn, khoai, mía và lúa Việc lựa chọn hộ này nhằm đại diện cho nhóm hộ có thu nhập ổn định và tiềm lực đất đai đa dạng để phân tích các yếu tố kinh tế - nông nghiệp liên quan đến mô hình canh tác cây hàng năm.
6.2 Phương pháp phân tích,tổng hợp, thống kê, so sánh và xử lý số liệu Đây là phương pháp phân tích và xử lý các số liệu đã thu thập được để thiết lập các bảng biểu nhằm so sánh được sự biến động và tìm nguyen nhân của nó Trên cơ sở đó đưa ra các biện pháp cần thực hiện
- Dùng phần mềm Exell để tổng hợp số liệu, phân tích và xử lý số liệu
6.3 Phương pháp kế thừa các tài liệu có liên quan Đây là phương pháp mà trong quá trình thực hiện nghiên cứu đã kế thừa các phương pháp, các số liệu có sẵn để làm tài liệu tham khảo và nghiên cứu
6.4 Phương pháp điều tra, phỏng vấn Đây là phương pháp tiến hành bằng cách sử dụng bảng hỏi để điều tra ngẫu nhiên một số hộ nông dân nhằm đảm bảo tính thực tế, khách quan cũng như chính xác của số liệu thu được Đồng thời với việc sử dụng bảng hỏi đóng là việc kết hợp sử dụng một số câu hỏi mở, phỏng vấn sâu nông dân và cán bộ quản lý
6.5 Phương pháp tính hiệu quả sử dụng đất của các mô hình sử dụng đất
* Hiệu quả kinh tế: Để tính hiệu quả sử dụng đất trên 1ha của các LUT trên 1 năm, đề tài sử dụng hệ thống các chỉ tiêu sau:
- Giá trị sản xuất (GTSX): Là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ được tạo ra trong 1 kỳ nhất định (một năm)
Chi phí trung gian (CPTG) là tổng các chi phí vật chất bằng tiền mà doanh nghiệp bỏ ra để thuê và mua các yếu tố đầu vào cùng với các dịch vụ sử dụng trong quá trình sản xuất Những chi phí này bao gồm mua nguyên vật liệu, vật liệu phụ, thuê thiết bị và các dịch vụ hỗ trợ sản xuất như vận chuyển, bảo dưỡng, điện nước và các chi phí đầu vào khác được tiêu dùng trong chu kỳ sản xuất Việc ghi nhận CPTG giúp xác định giá thành sản phẩm và đánh giá hiệu quả hoạt động, đồng thời ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp.
- Giá trị gia tăng (GTGT): là hiệu số giữa giá trị sản xuất và chi phí trung gian, là giá trị sản phẩm xã hội tạo ra thêm trong thời kỳ sản xuất đó
- Thu nhập hỗn hợp trên 1ha đất nông nghiệp (TNHH/1ha)
Trong đó: T: thuế sử dụng đất và thuế khác
A: khấu hao tài sản cố định
Clđ: chi phí lao động đi thuê (nếu có)
+ Hiệu quả kinh tế tính trên 1đồng chi phí trung gian (GTGT/CPTG, GTHH/TPTG): Đây là chỉ tiêu tương đối của hiệu quả, nó chỉ ra hiệu quả sử dụng các chi phí biến đổi và thu dịch vụ
+ Hiệu quả kinh tế trên ngày công lao động quy đổi (TNHH/LĐ) Thực chất là đánh giá kết quả đầu tư lao động sống cho từng kiểu sử dụng đất và từng cây trồng làm cơ sở để so sánh với chi phí cơ hội của người lao động
Các chỉ tiêu phân tích được đánh giá định lượng (giá trị tuyệt đối) bằng tiền theo thời gian, giá hiện hành và định tính (giá tương đối) được tính bằng mức độ cao, thấp Các chỉ tiêu đạt mức càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn
* Hiệu quả xã hội: Đánh giá hiệu quả xã hội là chỉ tiêu khó định lượng, trong phạm vi nghiên
6 cứu của đề tài này, do thời gian có hạn, chúng tôi chỉ đề cập đến một số chỉ tiêu sau:
- Khả năng phù hợp với hướng thị trường tiêu thụ của các LUT ở thời điểm hiện tại và tương lai
- Giá trị hỗn hợp trên công lao động (GTHH/LĐ)
- Mối quan hệ cộng đồng của nông dân trong quá trình sản xuất
- Khả năng thu hút lao động, giải quyết việc làm cho người sản xuất (công/ha)
- Mức độ chấp nhận của người dân thể hiện ở mức độ đầu tư
- Thích hợp với đặc điểm, tính chất đất và nguồn nước của đồng bằng ven biển
- Khả năng duy trì và cải thiện độ phì cho đất (như khả năng che phủ đất, giữ ẩm, trả lại cho đất tàn dư cây trồng có chất lượng, )
- Chế độ luân canh ảnh hưởng đến khả năng cân đối về dinh dưỡng và cải tạo đất (như khả năng cố định đạm, khả năng hút dinh dưỡng của cây )
- Mức độ sử dụng phân bón và các loại thuốc BVTV.
Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mục lục, lời nói đầu, kết luận và tài liệu tham khảo… nội dung kết cấu đề tài được bố trí thành 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu mô hình sử dụng đất nông nghiệp bền vững phục vụ quy hoạch sử dụng đất huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An
Chương 2: Thực trạng mô hình sử dụng đất nông nghiệp bền vững phục vụ quy hoạch sử dụng đất huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An
Chương 3: Đề xuất mô hình sử dụng đất nông nghiệp bền vững phục vụ quy hoạch sử dụng đất huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An
PHẦN NỘI DUNG
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH
SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG PHỤC VỤ QUY HOẠCH
SỬ DỤNG ĐẤT HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
1.1.1 Khái niệm và phân loại đất nông nghiệp
1.1.1.1 Khái niệm đất nông nghiệp Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá mà thiên nhiên ban tặng cho con người, con người sinh ra trên đất, sống và lớn lên nhờ vào sản phẩm của đất Tuy vậy, không phải ai cũng hiểu đất là gì? Đất sinh ra từ đâu? Tại sao lại phải giữ gìn bảo vệ nguồn tài nguyên này Học giả người Nga, Docusaev cho rằng “Đất là vật thể thiên nhiên cấu tạo độc lập, lâu đời do kết quả của quá trình hoạt động tổng hợp của 5 yếu tố hình thành bao gồm: đá, thực vật, động vật, khí hậu, địa hình, thời gian” [8] Tuy vậy, khái niệm này chưa đề cập tới sự tác động của các yếu tố khác tồn tại trong môi trường xung quanh, do đó sau này một số học giả khác đã bổ sung các yếu tố như nước ngầm và đặc biệt là vai trò của con người để hoàn chỉnh khái niệm nêu trên Học giả người Anh, Wiliam đã đưa thêm khái niệm về đất như sau
Đất là lớp mặt tơi xốp của lục địa có khả năng cho cây trồng sinh trưởng và tạo ra sản phẩm Theo Karl Marx, đất là tư liệu sản xuất cơ bản và quý báu nhất của sản xuất nông nghiệp, là điều kiện không thể thiếu cho sự tồn tại và phát triển của nhiều thế hệ người kế tiếp Trong phạm vi nghiên cứu về sử dụng đất, đất đai được xem như một nhân tố sinh thái, bao gồm toàn bộ các thuộc tính sinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnh hưởng đến tiềm năng và hiện trạng sử dụng đất.
Theo quan niệm của các nhà thổ nhưỡng và quy hoạch Việt Nam cho rằng
Đất là phần trên cùng của vỏ Trái đất nơi cây cối có thể mọc Đất đai được hiểu theo nghĩa rộng là một diện tích cụ thể của bề mặt Trái đất, bao gồm tất cả các yếu tố cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt: khí hậu và thời tiết, thổ nhưỡng, địa hình, mặt nước, các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lũng đất; động thực vật, trạng thái định cư của con người, và những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG PHỤC VỤ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái niệm và phân loại đất nông nghiệp
1.1.1.1 Khái niệm đất nông nghiệp Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá mà thiên nhiên ban tặng cho con người, con người sinh ra trên đất, sống và lớn lên nhờ vào sản phẩm của đất Tuy vậy, không phải ai cũng hiểu đất là gì? Đất sinh ra từ đâu? Tại sao lại phải giữ gìn bảo vệ nguồn tài nguyên này Học giả người Nga, Docusaev cho rằng “Đất là vật thể thiên nhiên cấu tạo độc lập, lâu đời do kết quả của quá trình hoạt động tổng hợp của 5 yếu tố hình thành bao gồm: đá, thực vật, động vật, khí hậu, địa hình, thời gian” [8] Tuy vậy, khái niệm này chưa đề cập tới sự tác động của các yếu tố khác tồn tại trong môi trường xung quanh, do đó sau này một số học giả khác đã bổ sung các yếu tố như nước ngầm và đặc biệt là vai trò của con người để hoàn chỉnh khái niệm nêu trên Học giả người Anh, Wiliam đã đưa thêm khái niệm về đất như sau
“Đất là lớp mặt tơi xốp của lục địa có khả năng tạo ra sản phẩm cho cây”[6] Bàn về vấn đề này, C.Mác đã viết: “Đất là tư liệu sản xuất cơ bản và phổ biến quý báu nhất của sản xuất nông nghiệp”, “Điều kiện không thể thiếu được của sự tồn tại và sinh sống của hàng loạt thế hệ loài người kế tiếp nhau”[8] Trong phạm vi nghiên cứu về sử dụng đất, đất đai được nhìn nhận là một nhân tố sinh thái, bao gồm tất cả các thuộc tính sinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnh hưởng nhất định đến tiềm năng và hiện trạng sử dụng đất [6]
Theo quan niệm của các nhà thổ nhưỡng và quy hoạch Việt Nam cho rằng
Đất là phần trên của vỏ trái đất mà cây cối có thể mọc được; trong nghĩa rộng, đất đai được hiểu là một diện tích cụ thể trên bề mặt trái đất bao gồm mọi yếu tố cấu thành của môi trường sinh thái ở trên và dưới bề mặt như khí hậu, thời tiết, thổ nhưỡng, địa hình, mặt nước và các lớp trầm tích gần bề mặt, cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất; ngoài ra đất đai còn bao gồm động vật và thực vật, trạng thái cư trú của con người và những kết quả mà con người đã để lại trong quá khứ và hiện tại.
Đất nông nghiệp là loại đất được sử dụng chủ yếu cho sản xuất thuộc các ngành nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản hoặc để phục vụ nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp Khi nói đến đất nông nghiệp, người ta hiểu đó là đất được dùng chủ yếu cho hoạt động sản xuất nông nghiệp, bởi thực tế có trường hợp đất được sử dụng cho mục đích khác nhau của các ngành Trong trường hợp đó, đất được xem là đất nông nghiệp khi mục đích sử dụng chính là sản xuất nông nghiệp; nếu không, nó sẽ được xếp vào các loại đất khác tùy theo mục đích sử dụng chính.
Luật đất đai năm 2003 nêu rõ: “Đất nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng, bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất sản xuất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác”
1.1.1.2 Phân loại đất nông nghiệp:
Theo luật đất đai 2003, nhóm đất nông nghiệp được phân thành các loại sau:
- Đất trồng cây hàng năm (đất canh tác) là loại đất dùng trồng các loại cây ngắn ngày, có chu kỳ sinh trưởng không quá một năm Đất trồng cây hàng năm bao gồm:
+ Đất 3 vụ là đất gieo trồng và thu hoạch được 3 vụ/năm với các công thức 3 vụ lúa, 2 vụ lúa + 1 vụ màu,…
+ Đất 2 vụ có công thức luân canh như lúa -lúa, lúa -màu, màu -màu,… + Đất 1 vụ là đất trên đó chỉ trồng được một vụ lúa hay một vụ màu/năm Ngoài ra đất trồng cây hàng năm còn được phân theo các tiêu thức khác và được chia thành các nhóm đất chuyên trồng lúa, đất chuyên trồng màu…
Đất trồng cây lâu năm là loại đất dùng để trồng các loại cây có chu kỳ sinh trưởng kéo dài nhiều năm Trước khi đưa vào kinh doanh, đất phải trải qua thời kỳ kiến thiết cơ bản Cây được trồng một lần nhưng sẽ cho thu hoạch trong nhiều năm.
- Đất rừng sản xuất là diện tích đất được dùng để chuyên trồng các loại cây rừng với mục đích sản xuất
- Đất rừng phòng hộ: là diện tích đất để trồng rừng với mục đích phòng hộ
- Đất rừng đặc dụng: là diện tích đất được Nhà Nước quy hoạch, đưa vào sử dụng với mục đích riêng
- Đất nuôi trồng thủy sản là diện tích đất dùng để nuôi trồng thủy sản như tôm, cua, cá…
- Đất làm muối là diện tích đất được dùng để phục vụ cho quá trình sản xuất muối
1.1.2 Vai trò của đất nông nghiệp Đất đai là tài nguyên thiên nhiên của mỗi quốc gia, đóng vai trò quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, nó là cơ sở tự nhiên, là tiền đề cho mọi quá trình sản xuất nhưng vai trò của đất đối với mỗi ngành sản xuất có tầm quan trọng khác nhau C.Mác đã nhấn mạnh “Lao động chỉ là cha của cải vật chất, còn đất là mẹ” [8] Hiến pháp năm 1992 quy định: “Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật” [13], Luật đất đai 2003 khẳng định “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng” [6] Trong sản xuất nông lâm nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt không thể thay thế, với những đặc điểm:
Đất đai được coi là tư liệu sản xuất chủ yếu trong sản xuất nông lâm nghiệp, vì nó vừa là đối tượng lao động vừa là tư liệu lao động trong quá trình sản xuất Là đối tượng lao động, đất đai là nơi con người tác động trực tiếp lên cây trồng và vật nuôi để tạo ra sản phẩm; đồng thời, với vai trò là tư liệu lao động, đất đai cung cấp không gian, nguồn lực và điều kiện thuận lợi cho mọi hoạt động sản xuất.
- Đất đai là loại tư liệu sản xuất không thể thay thế: bởi vì đất đai là sản phẩm của tự nhiên, nếu biết sử dụng hợp lý, sức sản xuất của đất đai ngày càng tăng lên Điều này đòi hỏi trong quá trình sử dụng đất phải đứng trên quan điểm bồi dưỡng, bảo vệ, làm giàu thông qua những hoạt động có ý nghĩa của con người
- Đất đai là tài nguyên bị hạn chế bởi ranh giới đất liền và bề mặt địa cầu Đặc điểm này ảnh hưởng đến khả năng mở rộng quy mô sản xuất nông - lâm nghiệp và sức ép về lao động và việc làm, do nhu cầu nông sản ngày càng tăng trong khi diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp Việc khai khẩn đất hoang hóa đưa vào hoạt động sản xuất nông nghiệp đã làm cho quỹ đất nông nghiệp tăng lên Đây là xu hướng vận động cần khuyến khích
Đất đưa vào hoạt động sản xuất nông nghiệp là đất hoang hóa nằm trong quỹ đất chưa sử dụng, do đó việc chuyển đổi yêu cầu nguồn lực lớn về nhân lực và đầu tư thiết bị, công nghệ Trong bối cảnh nguồn lực có hạn, cần tính toán kỹ lưỡng để lập kế hoạch đầu tư vào công tác cải tạo đất và triển khai sản xuất, nhằm tối ưu hóa chi phí, thời gian và hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án và đảm bảo sự bền vững.
10 thực sự có hiệu quả
- Đất đai có vị trí cố định và chất lượng không đồng đều giữa các vùng, các miền Mỗi vùng đất luôn gắn với các điều kiện tự nhiên (thổ nhưỡng, thời tiết, khí hậu, nước,…) điều kiện kinh tế - xã hội (dân số, lao động, giao thông, thị trường,…) và có chất lượng đất khác nhau Do vậy, việc sử dụng đất đai phải gắn liền với việc xác định cơ cấu cây trồng, vật nuôi cho phù hợp để nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao trên cơ sở nắm chắc điều kiện của từng vùng lãnh thổ
Đất đai được xem như một loại tài sản có giá trị, và quyền sử dụng đất của chủ sở hữu được xác định bởi pháp luật của từng nước Những quy định này tạo điều kiện cho việc tập trung, tích tụ và chuyển mục đích sử dụng đất, từ đó phát huy hiệu quả sử dụng đất khi được khai thác đầy đủ và hợp lý.
Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Trên thế giới Đất nông nghiệp có vai trò quan trọng đối với cuộc sống của các quốc gia trên thế giới đặc biệt là các quốc gia đang phát triển
Hiện nay, biến đổi khí hậu làm mất đất nông nghiệp, đất bị biến đổi không phục hồi được do hạn hán, lũ lụt, gió bão, xói mòn, đất bị con người khai thác triệt để mà không có các biện pháp giữ gìn cải tạo độ phì nhiêu cho đất Kết quả là hàng loạt diện tích đất bị thoái hoá trên phạm vi toàn thế giới Toàn bộ đất có khả năng sản xuất nông nghiệp của thế giới khoảng 3,3 tỷ ha, chiếm 22% tổng diện tích đất liền; còn lại 78% diện tích đất là không có khả năng sản xuất [7]
Dân số thế giới vẫn tăng đều đặn trong khi đó diện tích đất trồng trọt đang thu hẹp dần Đối với các quốc gia đang phát triển sẽ không có khả năng đáp ứng lương thực cho sự tăng dân số trong tương lai nếu như không áp dụng các biện pháp thâm canh, sử dụng và bảo vệ tốt tài nguyên đất Do đó sự gia tăng dân số đang là một áp lực lớn trong quản lý và sử dụng đất đai
Bảng 1.1 Tình hình diễn biến về dự báo đất canh tác và dân số thế giới
Diện tích đất canh tác (106 ha)
Diện tích đất canh tác/người (ha)
Nguồn: Luận án thạc sĩ - Nguyễn Thị Thảo[6]
Như vậy, qua bảng 1.1 ta thấy rằng diện tích đất canh tác/người giảm dần theo thời gian Diện tích đất canh tác bình quân là 0,46 ha/người vào năm 1965, thì đến năm 2000 chỉ còn là 0,25 ha/người, và dự báo đến năm 2025 chỉ còn là 0,20 ha/người mà nguyên nhân chính là do sự gia tăng dân số thế giới
Phân bổ diện tích đất nông nghiệp trên thế giới không đồng đều, chủ yếu tập trung ở Mỹ (35%), châu Á (26%) và châu Phi (20%) Dù chiếm tỷ lệ đất nông nghiệp cao, châu Á lại tập trung phần lớn dân số thế giới nên đất nông nghiệp ở khu vực này đang chịu áp lực lớn từ sự gia tăng dân số để bảo đảm an toàn lương thực; thêm vào đó, diện tích đất canh tác đang bị thu hẹp do quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa Kinh nghiệm của các nước châu Á, nơi cây lúa nước là cây lương thực chính, cho thấy sau nhiều thập niên tiến hành công nghiệp hóa, đô thị hóa thì tỷ lệ mất đất canh tác dao động từ 0,5%–2% mỗi năm Cụ thể, giai đoạn 1980–1990, Trung Quốc mất khoảng 0,5% diện tích đất canh tác mỗi năm, Hàn Quốc 1,4%, Đài Loan 2%, Nhật Bản 1,6% Việt Nam trong thời gian gần đây mất khoảng 0,4% diện tích đất canh tác, riêng đất trồng lúa có tỷ lệ mất cao hơn, khoảng 1%.
Chứng cứ từ một số nước châu Á cho thấy sản lượng lương thực giảm mạnh khi diện tích đất trồng lúa bị mất Nông nghiệp của các nước này chỉ còn chiếm 10% GDP, Hàn Quốc 3,2% GDP và Đài Loan 4% GDP [6] Đối với một số nước Đông Nam Á, chủ yếu là các quốc gia đang phát triển, nông nghiệp vẫn đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế và tiềm năng đất nông nghiệp đã được các nhà khoa học đánh giá, thể hiện qua bảng số liệu được trình bày ở phía sau.
Bảng 1.2 Dân số và tiềm năng đất nông nghiệp của một số nước Đông Nam Á
Có khả năng trồng trọt (triệu ha)
Hiện đang trồng (triệu ha)
Diện tích còn lại (triệu ha)
Tiềm năng diện tích trồng trọt (%)
Nguồn: Luận án thạc sĩ - Nguyễn Thị Thảo [6]
Như vậy qua bảng ta thấy tiềm năng đất sản xuất nông nghiệp ở một số nước Đông Nam Á là rất lớn Đặc biệt là đối với những nước có dân số thấp như Lào thì diện tích đất nông nghiệp chưa khai thác chiếm tới 86% tổng diện tích đất nông nghiệp có khả năng trồng trọt, ngược lại đối với Việt Nam có dân số đông thì diện tích đất nông nghiệp chưa khai thác chiếm tỷ lệ thấp hơn (43% tổng diện tích đất nông nghiệp có khả năng trồng trọt) Từ kết quả đánh giá này để các nước có thể có những quyết định đúng trong sản xuất nông nghiệp và nâng cao hiệu quả sử dụng đất
1.2.1.1 Quan điểm về sử dụng đất bền vững trên thế giới Để đáp ứng nhu cầu về lương thực của con người nên quá trình khai thác đất đai ngày càng tăng, làm cho độ phì nhiêu của đất ngày càng giảm và cuối cùng đã dẫn đến hiện tượng thoái hoá đất Hiện nay suy thoái môi trường đất là mối nguy hiểm đe doạ toàn thế giới Những nguyên nhân không chỉ đơn thuần có nguồn gốc từ nông nghiệp như do sử dụng các phương thức canh tác không thích hợp, mà còn là do thoái hoá và hoá học (mất độ phì nhiêu đất) và vật lý học (mất cấu trúc đất)
Sự thoái hoá đất trên thế giới được thể hiện qua bảng:
Bảng 1.3 Tình hình thoái hoá đất trên thế giới Đơn vị: triệu ha
Vùng Xói mòn do nước
Thoái hoá lý học Tổng số
Nguồn: Sinh thái môi trường đất - Lê Văn Khoa [9]
Quá trình thoái hoá đất diễn ra chủ yếu ở các nước châu Phi và châu Á Tổng diện tích đất bị thoái hoá ở châu Á là 452 triệu ha, chiếm 37,2% tổng diện tích đất thoái hoá trên thế giới, còn ở châu Phi là 321 triệu ha, chiếm 26,4% Đây là những khu vực có tốc độ gia tăng dân số cao: châu Phi 2,4%, Trung Mỹ 2,4%, phần lớn các nước châu Á đạt trên 1,8%, trong khi châu Âu ở mức 0–0,2% và Bắc Mỹ 0,2–0,5% Cùng với sự gia tăng dân số nhanh là điều kiện sống và trình độ phát triển kinh tế - xã hội ở mức thấp, khiến nguy cơ tàn phá tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là đất đai, rất cao [6].
Với các nguyên nhân chính là phá rừng, chăn thả quá mức và canh tác không hợp lý và được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 1.4 Một số nguyên nhân làm thoái hoá đất và diện tích đất bị thoái hoá do các nguyên nhân
Thoái hoá lý học Tổng
% triệu ha % triệu ha % triệu ha % triệu ha
Phá rừng 43 322 8 22 26 38 2 1 383 Chăn thả quá mức 29 217 50 140 6 9 16 6 372
Canh tác không hợp lý 24 180 26 73 58 85 80 31 369 Nguyên nhân khác 4 30 16 45 10 15 2 1 90 Tổng số 100 748 100 280 100 147 100 39 1214
Nguồn: Sinh thái môi trường đất - Lê Văn Khoa [9]
Qua bảng số liệu cho thấy, quá trình canh tác không hợp lý của con người đã đẩy đất canh tác vào tình trạng thoái hóa nghiêm trọng, làm hỏng cấu trúc đất và giảm độ phì nhiêu Ở các vùng khô hạn và bán khô hạn, hệ thống canh tác chủ yếu dựa vào tưới tiêu Dù khoảng 15% đất nông nghiệp trên thế giới được tưới và sản xuất khoảng 40% lượng lương thực toàn cầu, mặt trái là do kỹ thuật tưới tiêu không hợp lý cùng với nguồn nước khan hiếm và mức bay hơi cao ở vùng khô hạn dẫn đến mặn hóa đất và ô nhiễm nước Ước tính có khoảng 45 triệu ha/230 triệu ha đất canh tác được tưới bị mặn hóa và khoảng 10 triệu ha bị thoái hóa do ngập úng nước.
Ngày nay những vùng đất đai màu mỡ đã giảm sức sản xuất một cách rõ rệt và có nguy cơ thoái hoá nghiêm trọng, không những thế sự suy thoái đất đai còn kéo theo sự suy giảm nguồn nước, những hiện tượng thiên tai bất thường Trước những biểu hiện nói trên, nhằm đảm bảo cuộc sống của con người trong hiện tại và tương lai cần phải có những chiến lược về sử dụng đất để không chỉ duy trì những khả năng hiện có của đất mà còn khôi phục những khả năng đã mất [6]
Diện tích đất canh tác trên toàn thế giới đang dần cạn kiệt Theo dự báo của FAO, đến năm 2010, diện tích mở rộng đất canh tác ở các nước đang phát triển, kể cả Trung Quốc, ước tính tăng khoảng 12% lên khoảng 93 triệu ha (không tính đất du canh nhờ nước trời) Trong tổng mức tăng tiềm năng này, khoảng 3/4 sẽ nằm ở châu Phi, Mỹ Latinh và vùng Caribê, còn châu Á dường như đã khai thác hết tiềm năng đất có thể canh tác Bên cạnh giới hạn về diện tích, các hoạt động sản xuất nông nghiệp hiện được cho là một phần của thách thức đối với nguồn lực đất đai và môi trường.
“các vấn đề” môi trường vì nó đóng góp đáng kể đến sự xuống cấp của môi trường
Vì vậy xây dựng hướng đi chiến lược cho việc quản lý sử dụng đất đai bền vững và nền sản xuất nông nghiệp bền vững đang là một vấn đề cấp bách đặt ra cho quá trình phát triển của mọi quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển nhằm đáp ứng được các nhu cầu về lương thực cho sự tăng trưởng về dân số, đồng thời vẫn đảm bảo duy trì và cải thiện môi trường tài nguyên đất đai cho hiện tại và tương lai [6]
Do đó việc sử dụng đất nông nghiệp để đảm bảo an ninh lương thực cho thế hệ hiện tại và tương lai thì song song với việc canh tác phải bảo vệ và cải tạo đất là cách duy nhất để phát triển bền vững trong sản xuất nông nghiệp
Trước tình trạng thoái hóa đất ngày càng nghiêm trọng, hội thảo tại Nairobi năm 1991 đã đề ra năm nguyên tắc nền tảng cho việc quản lý và sử dụng đất bền vững [10] Những nguyên tắc này nhằm bảo vệ đất đai, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp bền vững và duy trì đa dạng sinh học, đồng thời khuyến khích sự tham gia của cộng đồng và các bên liên quan trong quyết định và thực thi Việc áp dụng chúng được xem là chìa khóa để giảm thiểu suy thoái đất, tăng cường khả năng phục hồi và đảm bảo đất đai phục vụ phát triển kinh tế—xã hội lâu dài.
- Duy trì và nâng cao sản lượng
- Giảm tối thiểu mức rủi ro trong sản xuất
- Bảo vệ tiềm năng tài nguyên tự nhiên và ngăn chặn sự thoái hoá đất
- Đất có khả năng sử dụng lâu bền
- Được xã hội chấp nhận
Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Nam Đàn
Huyện Nam Đàn nằm ở hạ lưu sông Lam Kéo dài từ 18 o 34’ đến 18 o 47’ vĩ bắc và trải rộng từ 105 o 24’ đến 105 o 37’ kinh Đông
Huyện có vị trí địa lý như sau:
Nam giáp huyện Đức Thọ và Hương Sơn - Hà Tĩnh
Bắc giáp Nghi Lộc và Đô Lương - Nghệ An
Tây giáp Thanh Chương và Đô Lương - Nghệ An Đông giáp Hưng Nguyên - Nghệ An
Huyện lỵ của Nam Đàn là Thị trấn Nam Đàn, trên đường Quốc lộ 46 - Vinh - Đô Lương, cách Thành phố Vinh 21 km về phía Tây
Nam Đàn có mạng lưới giao thông tương đối hoàn chỉnh với các tuyến trọng yếu chạy qua địa bàn huyện như quốc lộ 46 và quốc lộ 15A, cùng các trục sông Lam và sông Đào đóng vai trò then chốt cho giao thông thủy Bên cạnh đó, hệ thống đường liên huyện, liên xã và liên thôn đã được cứng hóa, tạo thành một mạng lưới giao thông đồng bộ, kết nối các khu vực trong huyện và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của Nam Đàn.
Nam Đàn là quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nơi lưu giữ nhiều di tích lịch sử văn hóa và cách mạng cùng với nhiều danh lam thắng cảnh đẹp Những giá trị này đã định vị Nam Đàn là vùng trọng điểm phát triển du lịch, thu hút du khách và nhà đầu tư Cùng với Vinh và Cửa Lò, Nam Đàn tạo thành tam giác phát triển du lịch của Nghệ An, đóng vai trò then chốt trong chiến lược khai thác tiềm năng du lịch và thúc đẩy kinh tế địa phương.
Như vậy, Nam Đàn có vị trí thuận lợi cho việc lưu thông giữa huyện với Thành phố Vinh và các huyện phụ cận từ đó việc trao đổi hàng hóa với bên ngoài trở nên thuận lợi hơn làm cho hàng hóa phong phú và đa dạng hơn, cũng như tiếp thu các ứng dụng về những thành tựu khoa học công nghệ mới để phát triển nhanh, mạnh kinh tế - xã hội
Nam Đàn nằm giữa hai dãy núi Đại Huệ ở phía Bắc và dãy núi Thiên Nhẫn ở phía Tây tạo ra thung lũng, đồng bằng hình tam giác, có sông Lam chảy dọc theo
37 hướng Bắc Nam, chia huyện thành 2 vùng, đó là tả ngạn và hữu ngạn sông Lam Địa hình của huyện Nam Đàn có 2 loại chính: đồng bằng và đồi núi
- Địa hình đồng bằng: có độ dốc < 8 0 , độ cao trung bình khoảng 10 - 20 m so với mực nước biển và được phân bố chủ yếu ở lưu vực sông Lam, sông Đào Phần lớn diện tích đất ở đây được khai thác để sản xuất nông nghiệp Cây trồng chính là cây lúa nước, các loại cây lương thực, cây trồng hàng năm, cây ăn quả và nuôi trồng thủy sản
Bảng 2.1: Bảng số liệu phân cấp độ dốc huyện Nam Đàn
Số TT Phân cấp độ dốc Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)
Tổng diện tích điều tra 29.399,38 100,00
(Nguồn: Báo cáo thuyết minh tổng hợp QHSDĐ đến năm 2020 huyện Nam Đàn)[2]
Địa hình đồi núi thấp với đặc điểm lượn sóng và độ dốc trung bình từ 8–15 độ, hướng dốc không ổn định cho thấy mức chia cắt đất ở mức trung bình Độ cao trung bình so với mực nước biển từ 120–150 m, đất đai ở vùng này thích hợp cho trồng các loại cây ăn quả và cây công nghiệp ngắn ngày.
+ Địa hình đồi núi cao: gồm khu vực sườn phía Nam dãy núi Đại Huệ và khu vực sườn phía Đông bắc dãy núi Thiên Nhẫn Địa hình bị chia cắt mạnh, có độ dốc
>25 0 , đất đai ở đây chủ yếu trồng rừng
Nhìn chung với địa hình đa dạng, phân hóa thành các tiểu khu vực, nhiều vùng sinh thái khác nhau tạo cho Nam Đàn có thể phát triển toàn diện các ngành kinh tế, đặc biệt tạo nên các vùng tiểu khí hậu thuận lợi cho đa dạng hóa các loại cây trồng vật nuôi trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp
Nam Đàn có thời tiết và khí hậu khá khắc nghiệt với ba mùa rõ rệt: mùa hanh khô kéo dài từ tháng 1 đến tháng 3, mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 8, và mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12 Bão lụt thường xuất hiện vào tháng 9 và tháng 10, gây úng lụt trên diện tích rộng và có thể kéo dài nhiều thời gian.
Nam Đàn nằm ở vùng khí hậu chuyển tiếp, mang đặc tính mùa đông lạnh của khí hậu miền Bắc và đặc tính nắng nóng của khí hậu miền Nam, được chia thành hai mùa rõ rệt: mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 9 với nhiệt độ bình quân 23,9°C và mùa lạnh từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau với nhiệt độ bình quân khoảng 19,9°C, thậm chí tháng 7 nhiệt độ có thể lên tới 40°C; tổng số giờ nắng trung bình trong năm lên tới 1.637 giờ, độ ẩm không khí trung bình khoảng 86%, độ ẩm cao nhất đạt được vào tháng 1.
2, đạt > 90%, tháng có độ ẩm không khí thấp nhất vào tháng 7, chỉ đạt 74%
- Chế độ mưa: Lượng mưa trung bình năm 1944,3 mm, phân bố không đồng đều, mưa từ trung tuần tháng 9 đến đầu tháng 10 gây úng ngập cục bộ ở các xã vùng thấp Từ tháng 1 đến tháng 4 lượng mưa chiếm khoảng 10% lượng mưa cả năm, gây khô hạn cho các khu đất chân cao
Lượng bốc hơi bình quân năm là 943 mm/năm, cho thấy mức độ bay hơi trung bình của khu vực Lượng bốc hơi cao nhất từ tháng 6 đến tháng 8, đạt khoảng 140 mm mỗi tháng Tháng có lượng bốc hơi thấp nhất thường vào tháng 2, chỉ khoảng 30 mm.
Nam Đàn có hai hướng gió chủ yếu: gió mùa Đông Nam (tháng 4–10) và gió mùa Đông Bắc (tháng 11–3 năm sau) Trong các tháng 5, 6, 7 thường có gió Tây khô nóng, mỗi năm có khoảng 4–6 đợt, gây ảnh hưởng xấu đến sinh hoạt của nhân dân và đặc biệt cho sản xuất nông nghiệp.
Bão ở Nam Đàn bắt đầu xuất hiện từ tháng 8 đến tháng 10, bình quân hàng năm có từ 2 - 4 cơn bão, thường ở mức cấp 8 - 10 Bão thường kéo theo mưa to gây lũ lụt, ngập úng ở nhiều nơi trong huyện, ảnh hưởng lớn tới sản xuất nông nghiệp