TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA GIÁO DỤC ---o0o--- ĐẶNG THỊ HÀ TRANG TÍCH HỢP KỸ NĂNG SỐNG TRONG TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TOÁN CHO HỌC SINH LỚP 3 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀN
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA GIÁO DỤC -o0o -
ĐẶNG THỊ HÀ TRANG
TÍCH HỢP KỸ NĂNG SỐNG TRONG TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TOÁN CHO HỌC SINH LỚP 3
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH GIÁO DỤC TIỂU HỌC
VINH – 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA GIÁO DỤC -o0o -
TÍCH HỢP KỸ NĂNG SỐNG TRONG TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TOÁN CHO HỌC SINH LỚP 3
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 3MỤC LỤC
Trang
A MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3
6 Phạm vi nghiên cứu: 3
7 Giả thuyết khoa học 3
8 Cấu trúc của đề tài 3
B NỘI DUNG 4
Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TÍCH HỢP KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH THÔNG QUA VIỆC TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TOÁN LỚP 3 4
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 4
1.1.1 Vấn đề giáo dục kỹ năng sống trên thế giới 4
1.1.2 Vấn đề giáo dục kỹ năng sống trong nước 5
1.2 Các khái niệm liên quan đến đề tài 7
1.2.1 Tích hợp 7
1.2.2 Kỹ năng 8
1.2.3 Kỹ năng sống 9
1.3 Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học 15
1.3.1 Mục tiêu giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học 15
1.3.2 Đặc điểm tâm lý của học sinh lớp 3 16
1.3.3 Yêu cầu giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học 17
1.3.4 Nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học 18
1.4 Tổ chức các hoạt động dạy học toán cho học sinh lớp 3 22
1.4.1 Khái quát về môn Toán lớp 3 22
1.4.2 Tổ chức các hoạt động dạy học toán cho học sinh lớp 3 23
Trang 41.5 Một số vấn đề về tích hợp kỹ năng sống trong tổ chức các hoạt động dạy học toán cho học sinh lớp 3 26
1.5.1 Mục đích tích hợp các kỹ năng sống trong tổ chức các hoạt động dạy học Toán lớp 3 26 1.5.2 Quá trình tích hợp các kỹ năng sống trong tổ chức hoạt động dạy học toán cho học sinh lớp 3 26
1.6 Thực trạng việc tích hợp kỹ năng sống trong tổ chức các hoạt động dạy học toán cho học sinh lớp 3 35
1.6.1 Thực trạng nhận thức của giáo viên về việc tích hợp kỹ năng sống trong tổ chức các hoạt động dạy học toán cho học sinh lớp 3 35 1.6.2 Thực trạng việc tích hợp kỹ năng sống trong tổ chức các hoạt động dạy học Toán cho học sinh lớp 3 35
Chương II MỘT SỐ BIỆN PHÁP TÍCH HỢP KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH THÔNG QUA TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TOÁN LỚP 3 37
2.1 Nguyên tắc xây dựng các biện pháp 37 2.2 Một số biện pháp tích hợp kỹ năng sống cho học sinh lớp 3 trong tổ chức các hoạt động dạy học Toán 38
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 63
Trang 5A MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, hiện nay chúng ta đang sống trong một xã hội mới với những tiến bộ vượt bậc của các ngành khoa học, sự phát triển về kinh tế cùng với xu thế hội nhập toàn cầu Chính những điều này đã có những yêu cầu được đặt ra đối với con người Trong đó ngành giáo dục giữ vai trò then chốt trong việc giải quyết vấn đề này Phải có những đòi hỏi mới để làm sao đào tạo ra những con người có đầy đủ phẩm chất và năng lực đáp ứng mọi nhu cầu của xã hội
Vì thế đổi mới phương pháp, thay đổi hình thức tổ chức, cách thức tiếp cận trong dạy và học là nhiệm vụ cấp thiết mà Đảng và nhà nước đã đề ra trong các kỳ Đại hội Đảng, nhằm mang lại kết quả học tập tốt, nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực
Ngoài việc cung cấp kiến thức văn hóa thì việc hình thành, tích hợp, rèn luyện, nâng cao kỹ năng sống cho học sinh là hết sức quan trọng Đây chính là nhiệm vụ chung cho các thầy cô, các nhà giáo dục ở nước ta cũng như các quốc gia khác trên thế giới Để hoàn thành tốt nhiệm vụ này chúng ta phải bắt đầu từ học sinh Tiểu học, vì đây là cấp học đầu tiên đặt nền móng cho hệ thống giáo dục quốc dân, có vai trò mở đường cho việc đào tạo nguồn lực sau này Bởi các em là những mầm non những chủ nhân tương lai của đất nước
Cùng với Tiếng Việt, Toán là môn học chiếm vị trí hết sức quan trọng trong quá trình giảng dạy và học tập ở nhà trường Tiểu học Môn Toán ở Tiểu học có rất nhiều ứng dụng trong đời sống, rất cần thiết để học tốt các môn học khác ở Tiểu học và chuẩn bị cho việc học tốt môn Toán ở cấp Trung học, đồng thời chiếm nhiều thời lượng dạy và học Nó cung cấp những kiến thức
cơ bản về số học, các yếu tố hình học, đo đại lượng, giải toán… Giúp học sinh nhận biết những mối quan hệ về số lượng và hình dạng không gian của thế
Trang 6giới hiện thực Bên cạnh đó môn Toán góp phần rất quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, góp phần phát triển trí thông minh, rèn luyện cho học sinh kỹ năng giải quyết vấn đề, phân tích, tổng hợp, so sánh, cụ thể hóa, khái quát hóa Đồng thời nâng cao các phẩm chất trí tuệ như độc lập, linh hoạt, nhuần nhuyễn, sáng tạo, phong cách làm việc khoa học Và đặc biệt quan trọng hơn thông qua việc tổ chức các hoạt động dạy học toán các em còn tích hợp được rất nhiều kỹ năng sống cần thiết
Nhưng thực trạng dạy và học Toán ở nhà trường Tiểu học chưa thực sự mang lại hiệu quả tối đa, học sinh chưa gắn được kiến thức lý thuyết vào thực
tế Các kỹ năng sống thu được qua việc tổ chức hoạt động cho học sinh trong học Toán chưa nhiều, nhất là ở học sinh lớp 3, là lớp học bước đầu làm quen nhiều với các dạng kiến thức Toán học có gắn liền với thực tế trong cuộc sống Đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề tích hợp kỹ năng sống cho học sinh thông qua tổ chức dạy học Toán nhưng còn gặp nhiều vướng mắc
Chính những lý do trên mà chúng tôi quyết định nghiên cứu đề tài:
“Tích hợp kỹ năng sống trong tổ chức các hoạt động dạy học Toán cho học
sinh lớp 3”, nhằm góp phần đưa ra các biện pháp hữu ích trong việc hình
thành và rèn luyện các kỹ năng sống thông qua việc dạy và học Toán
2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số biện pháp tích hợp kỹ năng sống trong tổ chức các hoạt động dạy học toán nhằm giáo dục kỹ năng sống cho học sinh lớp 3, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học toán ở Tiểu học
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua tổ chức các hoạt động dạy học môn Toán lớp 3
- Làm rõ thực trạng của việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua tổ chức các hoạt động dạy học môn Toán lớp 3
- Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh lớp 3 thông qua việc tổ chức hoạt động dạy học Toán
Trang 74 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích tổng hợp
- Phương pháp nghiên cứu sách giáo khoa , tài liệu
- Phương pháp tổ chức luyện tập thực hành
5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh lớp 3 thông qua việc tổ chức các hoạt động dạy học Toán
5.2 Khách thể nghiên cứu: Quá trình tổ chức các hoạt động dạy học Toán cho học sinh lớp 3
6 Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu vấn đề giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Tiểu học thông qua việc tổ chức các hoạt động dạy học Toán cho đối tượng cụ thể là học sinh lớp 3
7 Giả thuyết khoa học
Công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học thông qua việc
tổ chức hoạt động dạy học Toán còn hạn chế, bất cập Nếu các biện pháp đưa
ra được giáo viên nhận thức và vận dụng khoa học, phù hợp sẽ góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học thông qua việc tổ chức các hoạt động dạy học toán trong điều kiện hiện nay
8 Cấu trúc của đề tài
Trang 8B NỘI DUNG Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TÍCH HỢP
KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH THÔNG QUA VIỆC TỔ CHỨC
CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TOÁN LỚP 3
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Thuật ngữ kỹ năng sống (Life skill) được xuất hiện lần đầu tiên vào những năm 1960 bởi những nhà tâm lý học thực hành, coi đó như là khả năng quan trọng trong việc phát triển nhân cách Nhiều nhà giáo dục tại các nước phát triển cũng thấy được sự cần thiết phải giáo dục cho học sinh các khả năng giao lưu với thế giới xung quanh, khả năng ứng phó với điều kiện sống thay đổi nhanh chóng, lựa chọn quyết định khi cần thiết
Từ những năm 90 của thế kỉ XX, thuật ngữ kỹ năng sống xuất hiện một
số chương trình giáo dục của Quỹ cứu trợ Nhi đồng Liên Hợp Quốc Những nghiên cứu trong thời gian này nhằm thống nhất quan niệm chung về kỹ năng sống và đưa ra danh mục kỹ năng sống cơ bản cần có
1.1.1 Vấn đề giáo dục kỹ năng sống trên thế giới
1.1.1.1 Giáo dục kỹ năng sống tại Malaysia
Giáo dục kỹ năng sống ở Malaysia do Bộ Giáo dục Họ coi kỹ năng sống là môn kỹ năng của cuộc sống Và môn này được coi như một môn học
ở trường Tiểu học và THCS Mục tiêu cảu môn học này ở trường Tiểu học là cung cấp cho người học những kỹ năng thực tế cơ bản để họ có thể thực hiện các nhiệm vụ và có xu hướng kinh doanh
1.1.1.2 Giáo dục kỹ năng sống tại Indonesia
Tại Indonesia kỹ năng sống là những kỹ năng, kiến thức, thái độ giúp người học sống một cách độc lập Giáo dục kỹ năng sống sẽ
- Nâng cao cơ hội việc làm cho người học
- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực từ đó thúc đẩy việc thực hiện chính sách tự chủ của địa phương
Trang 9- Tạo ra chất lượng giáo dục cho người nghèo và người có hoàn cảnh đặc biệt
1.1.1.3 Giáo dục kỹ năng sống tại Ấn Độ
Kỹ năng sống được coi là khả năng giúp tăng cường sự lành mạnh về tinh thần và năng lực của con người, bao gồm những kỹ năng cơ bản như sau:
- Giải quyết vấn đề
- Tư duy phê phán
- Tư duy sáng tạo
- Kiên định và hài hòa
1.1.1.4 Giáo dục kỹ năng sống tại Nepal
Kỹ năng sống được coi như là một phương thức để ứng phó hay là những kỹ năng cần thiết để tồn tại Cách phân biệt kỹ năng sống cũng có những điểm khác biệt Chẳng hạn họ phân loại kỹ năng sống thành:
- Kỹ năng tồn tại: là những kỹ năng cần có để con người có thể tồn tại
- Kỹ năng chung: là những kỹ năng giúp con người tìm ra và giải quyết được những vấn đề của cuộc sống
- Kỹ năng dịch chuyển: là sự kết hợp của kỹ năng tồn tại kỹ năng chung và kỹ năng nghề nghiệp, giúp con người nhanh chóng thích ứng với việc phải chuyển sang nghề nghiệp mới
1.1.2 Vấn đề giáo dục kỹ năng sống trong nước
Thuật ngữ kỹ năng sống xuất hiện lần đầu tiên ở nhà trường phổ thông
Việt Nam từ những năm 1995 – 1996, thông qua dự án “Giáo dục KNS để bảo
Trang 10vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường ” do Quỹ Nhi đồng Liên Hợp quốc phối hợp với Bộ Giáo dục và
Đào tạo phối hợp cùng Hội Chữ Thập đỏ Việt Nam thực hiện Từ đó đến nay nhiều cơ quan, tổ chức trong nước và quốc tế đã tiến hành giáo dục KNS gắn với giáo dục các vấn đề xã hội như: Phòng chống ma túy, phòng chống buôn bán người, bảo vệ môi trường…Với định hướng giáo dục theo bốn trụ cột
chính học để biết, học để làm, học để tự khẳng định mình, học để chung sống
đã góp phần to lớn trong việc tiếp cận kỹ năng sống
Liên quan đến đề tài nghiên cứu, trong những năm gần đây đã có nhiều văn bản chỉ đạo của Đảng, của lãnh đạo các cấp thuộc ngành Giáo dục Điển hình có những công trình nghiên cứu của một số tác giả được thể hiện dưới nhiều hình thức như sách, đề tài nghiên cứu khoa học, các bài đăng trên tạp chí…vv Cụ thể như:
Giáo dục kỹ năng sống, NXB, ĐHSP năm 2007 của tác giả Nguyễn Thanh Bình
Kế hoạch số 307/KH – BGDĐT ngày 22/7/2008 của Bộ GD – ĐT về kế hoạch triển khai “ xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong các trường phổ thông giai đoạn 2008 – 2013 Trong đó rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh là nội dung thứ 3 trong 5 nội dung cơ bản của phong trào thi đua này
Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng các môn học ở Tiểu học lớp 1,2,3,4 và 5, NXB Giáo dục Việt Nam năm 2009 của Bộ Giáo dục và Đào tạo
Giáo dục kỹ năng sống trong các môn học ở trường Tiểu học (tài liệu dành cho giáo viên), NXB Giáo dục Việt Nam năm 2010 của Bộ Giáo dục và Đào tạo
Phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xuất bản năm 2001 của tác giả Phạm Minh Hạc
Kế hoạch 453/KH – BGDĐT, ngày 30/7/2010 về công tác tập huấn và triển khai tích hợp giáo dục kỹ năng sống trong các môn học và các hoạt động
Trang 11giáo dục ở Tiểu học, THCS và THPT trên toàn quốc
Đổi mới phương pháp quản lý lớp học bằng các biện pháp giáo dục tích cực, Hà Nội năm 2008 của tổ chức cứu trợ trẻ em Thụy Điển
Xây dựng môi trường học thân thiện với trẻ, Hà Nội năm 2008 của tổ chức cứu trợ trẻ em Thụy Điển
1.2 Các khái niệm liên quan đến đề tài
1.2.1 Tích hợp
Tích hợp là một khái niệm được sử dụng trong nhiều lĩnh vực, trong lĩnh vực khoa học giáo dục, khái niệm tích hợp xuất hiện từ thời khai sáng, dùng để chỉ một khái niệm giáo dục toàn diện con người, chống lại hiện tượng làm cho con người phát triển thiếu hài hòa, cân đối Tích hợp còn có nghĩa là thành lập một loại hình nhà trường mới, bao gồm các thuộc tính trội của các loại hình nhà trường vốn có
Trong dạy học các bộ môn, tích hợp được hiểu là sự kết hợp, tổ hợp các nội dung từ các môn học, lĩnh vực học tập khác nhau thành một môn học mới hoặc lồng ghép các nội dung cần thiết thành những nội dung vốn có của môn học Ví dụ lồng ghép nội dung giáo dục môi trường vào trong dạy học Đạo Đức, Tự Nhiên Xã Hội,…, xây dựng môn học tích hợp từ các môn học truyền thống
Tích hợp là một trong những quan điểm giáo dục đã trở thành xu thế trong việc xác định nội dung dạy học trong nhà trường phổ thông và xây dựng chương trình môn học ở nhiều nước trên thế giới Quan điểm tích hợp được xây dựng trên cơ sở những quan niệm tích cực về quá trình học tập và quá trình dạy học
Việc thực hiện quan điểm tích hợp trong giáo dục và dạy học sẽ giúp phát triển những năng lực giải quyết những vấn đề phức tạp và làm cho việc học tập trở nên ý nghĩa hơn đối với học sinh so với việc các môn học các mặt giáo dục được thực hiện riêng lẻ Tích hợp là một quan điểm giáo dục nhằm nâng cao năng lực của người học, giúp đào tạo những người có đầy đủ phẩm
Trang 12chất và năng lực để giải quyết các vấn đề của cuộc sống hiện đại
Tích hợp là tư tưởng, là nguyên tắc, là quan điểm hiện đại trong giáo dục Hiểu đúng và làm đúng quá trình tích hợp có thể đem lại hiệu quả cụ thể đối với từng phân môn trong một thể thống nhất của các môn học ở Tiểu học
Tích hợp là quan điểm hòa nhập, được hình thành từ sự nhất thể hóa những khả năng, một sự quy tụ tối đa tất cả những đặc trưng chung vào một chỉnh thể duy nhất Khoa học hiện nay coi trọng tính tương thích, bổ sung lẫn nhau để tìm kiếm những quan điểm tiếp xúc có thể chấp nhận được để tạo nên tính bền vững của quá trình dạy học các môn học
Trong một số môn học, tư tưởng tích hợp được tiếp nhận với các mức
độ thấp và khác nhau như: lồng – ghép là đưa thêm nội dung cần học tương tự với môn học chính; tích hợp là sự kết hợp tri thức của nhiều môn học tạo nên môn học mới
Như vậy tích hợp là một phạm trù rất rộng đó là sự kết hợp giữa kiến thức với thực hành, giữa kiến thức với kỹ năng, kinh nghiệm với thực tiễn
1.2.2 Kỹ năng
Để hiểu rõ được thế nào là kỹ năng sống trước tiên ta phải tìm hiểu được thế nào là kỹ năng Thuật ngữ “ kỹ năng ” được sử dụng rất nhiều, nhất
là trong thời đại kinh tế hội nhập hiện nay Có rất nhiều định nghĩa khác nhau
về kỹ năng, các định nghĩa nghĩa này bắt nguồn từ việc nhìn nhận và quan niệm khác nhau của mỗi người
- A G Covaliop: Kỹ năng là phương thức thực hiện hành động phù hợp với mục đích và điều kiện của hành động
- A.V Petrovxki: Kỹ năng là sự vận dụng những tri thức, kĩ xảo đã có
để thực hiện những phương thức hành động phù hợp với mục đích đề ra
- Từ điển Tiếng Việt: Kỹ năng là khả năng ứng dụng tri thức khoa học vào thực tiễn
- Lưu Xuân Mới: Kỹ năng là biểu hiện kết quả hành động, trên cơ sở kiến thức đã có Kỹ năng là trí thức hành động
Trang 13- Bùi Văn Huệ: Kỹ năng là khả năng vận dụng tri thức, khái niệm, định nghĩa, định luật vào thực tiễn
Tuy nhiên hầu hết chúng ta đều thừa nhận kỹ năng được hình thành khi chúng ta áp dụng kiến thức vào thực tiễn Kỹ năng học được do quá trình lặp
đi lặp lại một hoặc một nhóm hành động nhất định nào đó Kỹ năng luôn có chủ đích và định hướng rõ ràng
Vậy kỹ năng là năng lực hay khả năng của chủ thể thực hiện thuần thục một hay một chuỗi hành động trên cơ sở hiểu biết ( kiến thức hoặc kinh nghiệm) nhằm tạo ra kết quả mong đợi
1.2.3 Kỹ năng sống
1.2.3.1 Khái niệm kỹ năng sống
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về kỹ năng sống:
Theo tổ chức Y Tế thế giới (Who): Kỹ năng sống là khả năng có hành vi thích ứng, tích cực, giúp các cá nhân có thể ứng xử có hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày
Theo UNESCO: Kỹ năng sống là năng lực của cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hằng ngày Đây là một quan niệm rất rộng, năng lực tham gia vào cuộc sống hằng ngày đều là kỹ năng sống
Quan niệm của UNESCO tiếp cận dưới bốn trụ cột của giáo dục
- Học để biết
+ Tư duy giải quyết vấn đề
+ Tư duy phê phán
Trang 14Như vậy kỹ năng sống là kỹ năng làm chủ bản thân và kỹ năng xã hội Nói cách khác kỹ năng sống là kỹ năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với người khác, với xã hội và kỹ năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống
Các kỹ năng sống không phải tự nhiên mà có, nó được hình thành trong quá trình học tập, rèn luyện…trong cuộc sống Quá trình hình thành kỹ năng sống diễn ra cả trong và ngoài hệ thống giáo dục Các kỹ năng sống không độc lập mà có mối quan hệ củng cố cho nhau
Ví dụ: Kỹ năng tư duy, sáng tạo – kỹ năng ra quyết định
Qua đó ta thấy rõ mỗi người đều cần có những kỹ năng nhất định để sống, khi xem xét nó trong ba mối quan hệ: con người với chính bản thân mình, con người với tự nhiên và con người với các mối quan hệ xã hội Dù nhìn ở bất cứ khía cạnh nào thì kỹ năng sống đều giúp chủ thể học chuyển dịch kiến thức từ những điều đã biết, đã nghĩ, đã học được trong sách vở… kể
cả những thái độ tư tưởng, tình cảm mới chỉ có được dưới dạng tiềm năng
Trang 15trong mỗi cá thể Trở thành những hành động trong thực tế theo cách làm hiệu quả, mang tính chất xây dựng nhằm giúp mỗi người có thể phát triển hài hòa, góp phần xây dựng xã hội lành mạnh phát triển bền vững Kỹ năng sống không phải là năng lực cá nhân bất biến trong mọi thời đại mà là những năng lực thích nghi cho mỗi thời đại mà cá nhân đó sống Kỹ năng sống vừa mang tính cá nhân vừa mang tính xã hội (sự phát triển xã hội, truyền thống văn hóa của gia đình, cộng đồng, dân tộc)
Kỹ năng sống trong phạm vi lứa tuổi học sinh Tiểu học thường gắn liền với phạm trù kiến thức, kỹ năng và thái độ mà học sinh được rèn luyện trong quá trình giáo dục Tổng hợp kết quả giáo dục từ bài học trên lớp và từ những hoạt động ngoài giờ lên lớp, học sinh hình thành một số kỹ năng cơ bản phù hợp Những kỹ năng này bao giờ cũng gắn cụ thể với một nội dung giáo dục nhất định như: bảo vệ môi trường, an toàn giao thông, lòng nhân ái, truyền thống tôn sư trong đạo…
1.2.3.2 Phân loại kỹ năng sống
Có nhiều cách phân loại kỹ năng sống:
Theo tổ chức Y Tế thế giới gồm 3 nhóm kỹ năng:
- Nhóm kỹ năng tự nhận thức gồm các kỹ năng:
+ Tự nhận thức bản thân: Bao gồm sự nhìn nhận bản thân, tính tình, mặt mạnh, mặt yếu, ước muốn của chúng ta cũng như những điều mà chúng
ta không thích Ý thức về bản thân giúp chúng ta nhận ra stress hay tình trạng
bị áp lực để ứng phó kịp thời Ý thức về bản thân là một tiền đề quan trọng để truyền thông và giao tiếp có hiệu quả cũng như để thấu cảm với người khác
+ Kỹ năng sáng tạo: góp phần vào việc lấy quyết định và giải quyết vấn
đề bằng cách giúp chúng ta xem xét các biên pháp khác nhau và suy nghĩ về các hậu quả của việc ta hành động hay không hành động
+ Kỹ năng ra quyết định: giúp chúng ta chọn những quyết định tích cực liên quan đến cuộc sống của chúng ta
+ Kỹ năng giải quyết vấn đề: Giúp ta xử lý những khó khăn gặp phải
Trang 16một cách tích cực nhất những vấn đề gặp phải nếu không qua tâm giải quyết
sẽ gây ra stress, dẫn theo những xáo trộn về cuộc sống và sức khỏe
+ Kỹ năng tư duy
+ Kỹ năng xác định giá trị
+ Kỹ năng tự đặt mục tiêu
- Nhóm kỹ năng liên quan đến cảm xúc gồm các kỹ năng:
+ Kỹ năng nhận biết và chịu trách nhiệm về cảm xúc của mình
+ Kỹ năng kiềm chế và kiểm soát được cảm xúc
+ Kỹ năng tự giám sát – tự điều chỉnh cảm xúc của các nhân
- Nhóm kỹ năng xã hội gồm các kỹ năng:
+ Kỹ năng giao tiếp và truyền thông: Giúp con người thiết lập và duy trì các mối quan hệ một cách tích cực
+ Kỹ năng cảm thông: là khả năng hình dung hoàn cảnh sống của người khác Cảm thông chúng ta chấp nhận người kia dù họ rất khác với chúng ta Điều này sẽ giúp cải thiện các mối tương tác xã hội Đồng thời cảm thông còn giúp chúng ta có thái độ phù hợp với những người cần sự giúp đỡ của chúng
ta
+ Kỹ năng thích ứng với cảm xúc của người khác: Đó là cách nhìn nhận cảm xúc nơi ta và người khác, ý thức rằng cảm xúc ảnh hưởng đến hành vi như thế nào và có khả năng ứng phó với cảm xúc một cách phù hợp
+ Kỹ năng chia sẻ, kỹ năng hợp tác
+ Kỹ năng gây thiện cảm
Theo Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc ( UNICEF) kỹ năng sống gồm có 3 nhóm sau:
- Nhóm kỹ năng tự nhận thức và sống với chính mình, nhóm này gồm: + Kỹ năng tự nhận thức và đánh giá bản thân
+ Kỹ năng xây dựng mục tiêu cuộc sống
+ Kỹ năng bảo vệ bản thân
+ Kỹ năng kiên định
Trang 17+ Kỹ năng đương đầu với cảm xúc
+ Kỹ năng đương đầu với căng thẳng…
- Nhóm kỹ năng nhận thức và sống với người khác, nhóm này có các
kỹ năng:
+ Kỹ năng thiết lập quan hệ
+ Kỹ năng hợp tác và làm việc nhóm: Biểu lộ sự tôn trọng với sự đóng góp và phong cách riêng của người khác Đồng thời biết đánh giá khả năng và
sự đóng góp của bản thân cho nhóm
+ Kỹ năng thương lượng: Đây không chỉ là thương lượng với người khác mà còn thương lượng với chính bản thân mình Để thương lượng với người khác một cách có hiệu quả, người ta cần biết rõ mình muốn gì trong cuộc sống, nắm chắc các giá trị và niềm tin của bản thân để có thể nói không với những hành vi có hại hay những cám dỗ có nguy cơ cao
+ Kỹ năng đứng vững trước những áp lực tiêu cực
- Nhóm kỹ năng ra quyết định và làm việc có hiệu quả:
- Nhóm kỹ năng chung: nhóm này gồm những kỹ năng cơ bản mà mỗi
cá nhân có thể có để thích ứng với cuộc sống chung bao gồm các kỹ năng: Kỹ năng nhận thức, kỹ năng liên quan đến cảm xúc và các kỹ năng cơ bản về xã hội
- Nhóm kỹ năng chuyên biệt:
Nhóm này gồm các kỹ năng được thể hiện trong các lĩnh vực cụ thể của đời sống xã hội như: các kỹ năng về sức khỏe và dinh dưỡng, kỹ năng liên quan đến giới và giới tính, kỹ năng về các vấn đề xã hội như ma túy, HIV/ AIDS, các kỹ năng liên quan đến môi trường thiên nhiên, các vấn đề bạo lực,
Trang 18rủi ro, những kỹ năng liên quan đến cuộc sống gia đình, môi trường cộng đồng, hòa bình và giải quyết xung đột, phòng tránh buôn bán trẻ em và phụ nữ…
Tổ chức ESCAP (Hội đồng kinh tế xã hội châu Á Thái Bình Dương của Liên Hợp Quốc) phân loại kỹ năng sống thành 3 dạng:
- Kỹ năng sống để phát triển cá nhân
- Kỹ năng sống để tạo mối quan hệ với người khác
- Kỹ năng công nghệ theo đề nghị của các đại diện trẻ tại một hội nghị
Họ nhấn mạnh đến kỹ năng công nghệ thông tin
Theo giáo dục Việt Nam, kỹ năng sống gồm 3 nhóm
+ Các kỹ năng nhận biệt và sống với chính mình: Tự nhận thức, xác định giá trị, ứng phó căng thẳng, tìm kiếm sự hỗ trợ, tự tin, tự trọng
+ Các kỹ năng nhận biết và sống với người khác: Giao tiếp, giải quyết mâu thuẫn, thương lượng, từ chối, bày tỏ sự cảm thông, hợp tác…
+ Các kỹ năng ra quyết đinh một cách có hiệu quả: Tư duy phán đoán, sáng tạo, giải quyết vấn đề, ra quyết định
Một số quan niệm khác cho răng kỹ năng sống bao gồm:
+ Kỹ năng cứng (25%) (IQ) khả năng học vấn, bằng cấp, chuyên môn + Kỹ năng mềm (75%) (EQ) thuộc trí tuệ cảm xúc, nét tính cách, ứng
- Truyền thông hiệu quả
- Giao tiếp giữa người với người
- Ý thức về bản thân
Trang 19- Khả năng thấu cảm
- Ứng phó với cảm xúc
- Ứng phó với stress
1.2.3.3 Giáo dục kỹ năng sống
Giáo dục kỹ năng sống được hiểu theo nghĩa rộng, hẹp khác nhau ở cấp
độ xã hội và cấp độ nhà trường Ở cấp độ nhà trường, khái niệm giáo dục kỹ năng sống nêu ra quá trình tổng thể được thực hiện thông qua các hoạt động giáo dục
Giáo dục kỹ năng sống là một quá trình với những hoạt động giáo dục
cụ thể nhằm tổ chức, điều khiển để học sinh biết cách chuyển dịch kiến thức (cái mà học sinh biết) và thái độ giá trị (cái học sinh suy nghĩ, cảm thấy tin tưởng) thành hoạt động thực tế (làm gì và làm cách nào) một cách tích cực mang tính chất xây dựng
Giáo dục kỹ năng sống là giúp trẻ nâng cao năng lực để tự lựa chọn những giải pháp khác nhau Quyết định phải xuất phát từ trẻ Vì thế giáo dục
kỹ năng sống không phải là để nói cho trẻ biết thế nào là đúng thế nào là sai như ta thường làm Cũng không phải là rao truyền những lời hay ý đẹp để chúng vào tai này rồi ra tai kia Các phương pháp cổ điển như giảng bài, đọc chép sẽ thất bại hoàn toàn vì chúng chỉ cung cấp thông tin, mà từ thông tin và nhận thức đến thay đổi hành vi thì khoảng cách còn rất lớn Vì thế học phải hết sức gần gũi với cuộc sống hay ngay trong cuộc sống Nội dung phải xuất phát từ chính nhu cầu và kinh nghiệm của trẻ Trẻ cần có điều kiện để cọ xát các ý kiến khác nhau, trao đổi kinh nghiệm, tập tành, thực hành, áp dụng Trẻ phải tham gia chủ động vì có thế trẻ mới thay đổi hành vi
Như vậy giáo dục kỹ năng sống là yếu tố không thể thiếu được trong giáo dục, kể cả giáo dục chính quy và giáo dục không chính quy
1.3 Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học
1.3.1 Mục tiêu giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học
Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học là một trong những yếu
Trang 20tố góp phần hoàn thiện mục tiêu giáo dục của thế kỉ XXI “học để biết, học để
làm, học để tự khẳng định và học để cùng chung sống” Trước sự phát triển và
yêu cầu của xã hội ngày càng cao việc giáo dục kỹ năng sống là hết sức cần thiết cho học sinh Tiểu học Trang bị cho các em những kỹ năng cần thiết để
có thể ứng phó với các biến đổi của môi trường và các vấn đề của xã hội Bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng, thái độ cho các em Qua đó rèn luyện cho các em những đức tính, hành vi tốt, loại bỏ những hành vi xấu Cảm nhận thế giới xung quanh một cách sâu sắc và biết bày tỏ tình cảm thái độ của bản thân dưới cái nhìn cá nhân, không bị chi phối bởi những yếu tố có thể gây ảnh hưởng xấu đến các em Từ những kỹ năng sống mà các em học được có thể giúp các em tự bảo vệ chính bản thân mình và phát huy khả năng trong những điều kiện có thể
1.3.2 Đặc điểm tâm lý của học sinh lớp 3
1.3.2.1 Đặc điểm về nhận thức
Tri giác của học sinh Tiểu học còn mang tính đại thể, ít đi sâu vào chi tiết và mang tính không ổn định Ở đầu tuổi Tiểu học, tri giác thường gắn với hành động trực quan, đến cuối tuổi Tiểu học tri giác mang tính xúc cảm, trẻ thích quan sát các sự vật hiện tượng có màu sắc sặc sỡ, hấp dẫn, tri giác của trẻ đã mang tính mục đích, có phương hướng rõ ràng, có chủ định Tư duy của trẻ mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế ở tư duy trực quan hành động Tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trừu tượng Hoạt động phân tích, tổng hợp còn sơ đẳng
Tưởng tượng của các em còn đơn giản, chưa bền vững và dễ thay đổi Cuối cấp Tiểu học, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện và bị chi phối bởi tình cảm, cảm xúc, những hình ảnh, sự vật, hiện tượng xung quanh cuộc sống của các em
Chú ý không chủ định phát triển, chú ý có chủ định còn hạn chế và thiếu tính bền vững Sự phát triển của chú ý gắn liền với sự phát triển của các hoạt động học tập Trí nhớ trực quan hình tượng phát triển hơn trí nhớ từ ngữ,
Trang 21lôgic
1.3.2.2 Đặc điểm về nhân cách
Lứa tuổi học sinh Tiểu học có những biến đổi quan trọng trong các điều kiện sinh hoạt, học tập và lao động của trẻ, do đó đặc điểm về tâm lý được thể hiện qua các hoạt động nhận thức, tình cảm, cảm xúc có nhiều thay đổi
Tính cách của các em chưa ổn định, thích bắt chước hành vi, cử chỉ của những người xung quanh Thích được người lớn khen, động viên Về mặt tình cảm, thái độ ứng xử trong sinh hoạt học tập của các em không ổn định Các
em thường hay thay đổi tâm trạng, hay xúc động, tình cảm mỏng manh, chưa sâu sắc Các phẩm chất như tính độc lập, sự kiềm chế tự chủ còn thấp vì do trình độ thể lực, sinh hoạt còn bị tác động, ảnh hưởng trực tiếp của cha mẹ, thầy giáo
1.3.3 Yêu cầu giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học
Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Giáo dục gắn với thực tế
Muốn có được các kỹ năng sống phải cho các em hoạt động gắn liền với thực tế Không thể hình thành kỹ năng cho các em bằng lý thuyết suông, hay chỉ giảng giải mà không gắn vào các tình huống cụ thể Vì thế trong quá trình giáo dục kỹ năng sống cho các em giáo viên cần phải xây dựng các tình huống gắn liền trong cuộc sống thực tiễn để các em có thể trải nghiệm và thực hành
Trang 22mối quan hệ với người khác Chính vì thế có rất nhiều kỹ năng sống được tạo
ra nhờ sự tương tác với những người xung quanh
- Giáo dục quy trình
Giáo dục kỹ năng sống không thể hình thành trong một ngày, hai ngày
mà đó là cả quá trình: nhận thức - hình thành thái độ - thay đổi hành vi Chính
vì thế trong quá trình giáo dục kỹ năng sống cho các em nếu bỏ qua giai đoạn nào thì kết quả giáo dục sẽ không theo kết quả mong muốn
- Giáo dục thay đổi hành vi
Kết quả cuối cùng của giáo dục kỹ năng sống đó chính là thay đổi hành
vi Học sinh biết sử dụng thuần thục các kỹ năng học được thể hiện qua hành
vi thực hiện Đó chính là việc các em biết ứng phó trước các thay đổi của môi trường sống và các mối quan hệ trong xã hội, thực hiện được các hành vi tích cực, loại bỏ hành vi tiêu cực
- Thời gian, môi trường giáo dục
Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học thực hiện càng sớm càng tốt Cần tạo môi trường giáo dục phù hợp cho các em để các em có thể phát huy hết khả năng của mình
1.3.4 Nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học
Kỹ năng sống đối với học sinh Tiểu học là một hành trang sống vô cùng quan trọng, giúp các em bước vào cuộc sống một cách vững vàng và tự tin Chính vì thế dựa theo nghiên cứu phân tích kinh nghiệm thực tế và thực trang giáo dục, nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học bao gồm:
1.3.4.1 Kỹ năng tự nhận thức
Kỹ năng tự nhận thức là con người hiểu về chính bản thân mình như cơ thể, tư tưởng, các mối quan hệ xã hội của bản thân, biết nhìn nhận, đánh giá đúng về tình cảm, tiềm năng, điểm mạnh, điểm yếu của bản thân, quan tâm và luôn ý thức được mình đang làm gì, kể cả nhận ra lúc bản thân đang thấy căng thẳng Tự nhận thứcc là một kỹ năng sống cơ bản của con người, là nền tảng
Trang 23để con người giao tiếp, ứng xử phù hợp và hiệu quả với người khác cũng như
có thể cảm thông được với người khác
1.3.4.2 Kỹ năng xác định giá trị
Kỹ năng xác định giá trị là khả năng con người hiểu rõ được những giá trị của bản thân mình Kỹ năng xác định giá trị có ảnh hưởng lớn đến quá trình ra quyết định của mỗi người kỹ năng này còn giúp người khác biết tôn trọng người khác, biết chấp nhận rằng người khác có những giá trị và niềm tin khác
1.3.4.3 Kỹ năng kiểm soát cảm xúc
Là khả năng con người nhận biết cảm xúc của mình trong một tình huống nào đó và hiểu được ảnh hưởng của cảm xúc với bản thân và người khác như thế nào Đồng thời biết điều chỉnh và thể hiện cảm xúc một cách phù hợp
1.3.4.4 Kỹ năng ứng phó với căng thẳng
Kỹ năng ứng phó với căng thẳng là khả năng con người bình tĩnh, sẵn sàng đón nhận những tình huống căng thẳng như là một phần tất yếu của cuộc sống, là khả năng nhận biết được sự căng thẳng, hiểu được nguyên nhân, hậu quả của căng thẳng cũng như biết cách suy nghĩ và ứng phó một cách tích cực khi bị căng thẳng
1.3.4.5 Kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ
Là khả năng nhận biết được nhu cầu cần giúp đỡ, biết địa chỉ hỗ trợ đáng tin cậy, biết tìm đến các địa chỉ đó và bày tỏ nhu cầu cần giúp đỡ một cách phù hợp để có được những lời khuyên, sự can thiệp cần thiết để tháo gỡ, giải quyết những vấn đề, tình huống của mình, đồng thời là cơ hội để chúng ta chia sẻ, giải bày khó khăn, giảm bớt được căng thẳng tâm lý do bị dồn nén cảm xúc
1.3.4.6 Kỹ năng thể hiện sự tự tin
Có niềm tin vào bản thân, tự hài lòng với bản thân, tin rằng mình sẽ là một người có ích, tích cực, có niềm tin vào tương lai, cảm thấy có nghị lực để
Trang 24hoàn thành các nhiệm vụ Giúp bản thân giao tiếp có hiệu quả hơn, lạc quan hơn trong cuộc sống
1.3.4.7 Kỹ năng giao tiếp
Là khả năng có thể bày tỏ ý kiến của bản thân theo hình thức nói, viết hoặc sử dụng ngôn ngữ cơ thể phù hợp với hoàn cảnh và văn hóa đồng thời biết tôn trọng, lắng nghe ý kiến của người khác ngay cả khi bất đồng quan điểm
1.3.4.8 Kỹ năng lắng nghe tích cực
Thể hiện sự tập trung chú ý và quan tâm lắng nghe ý kiến hoặc phần trình bày của người khác, biết cho ý kiến phản hồi mà không vội đánh giá, đồng thời đối đáp hợp lý trong quá trình giao tiếp
1.3.4.9 Kỹ năng thể hiện sự cảm thông
Là khả năng có thể hình dung và đặt mình trong hoàn cảnh của người khác, giúp chúng ta hiểu và chấp nhận người khác vốn là những người rất khác mình, qua đó chúng ta có thể hiểu rõ cảm xúc và tình cảm của người khác và cảm thông với hoàn cảnh, nhu cầu của họ
1.3.4.10 Kỹ năng thương lượng
Là khả năng trình bày, suy nghĩ, phân tích và giải thích, đồng thời có thảo luận để đạt được một sự điều chỉnh và thống nhất về cách suy nghĩ, cách làm hoặc một vấn đề gì đó
1.3.4.11 Kỹ năng giải quyết mâu thuẫn
Là khả năng con người nhận thức được nguyên nhân gây mâu thuẫn và giải quyết những mâu thuẫn đó với thái độ tích cực, không dùng bạo lực, thỏa mãn được nhu cầu và quyền lợi các bên và giải quyết mối quan hệ các bên một cách hòa bình
1.3.4.12 Kỹ năng hợp tác
Là khả năng các nhân biết chia sẻ trách nhiệm, cam kết cùng làm việc
có hiệu quả với các thành viên khác trong nhóm
1.3.4.13 Kỹ năng tư duy phê phán
Trang 25Là khả năng phân tích một cách khách quan và toàn diện các vấn đề, sự vật, hiện tượng xảy ra Giúp con người có thể đưa ra những quyết định, những tình huống phù hợp
1.3.4.14 Kỹ năng tư duy sáng tạo
Là khả năng nhìn nhận và giải quyết vấn đề theo một cách mới, với ý tưởng mới, theo phương thức mới, cách sắp xếp và tổ chức mới Là khả năng khám phá và kết nối mối quan hệ giữa các khái niệm, ý tưởng, quan niệm, sự việc, độc lập trong suy nghĩ
1.3.4.15 Kỹ năng ra quyết định
Là khả năng của cá nhân biết quyết định lựa chọn phương án tối ưu để giải quyết vấn đề hay tình huống gặp phải trong cuộc sống một cách kịp thời
có hiệu quả
1.3.4.16 Kỹ năng giải quyết vấn đề
Là khả năng của cá nhân biết quyết định lựa chọn phương án tối ưu và hành động theo phương án đã chọn để giải quyết vấn đề hoặc tình huống gặp phải trong cuộc sống
1.3.4.17 Kỹ năng kiên định
Là khả năng con người nhận thức được những gì mình muốn và lí do dẫn đến sự mong muốn đó Là khả năng tiến hành các bước cần thiết để đạt được những gì mình muốn trong những hoàn cảnh cụ thể, dung hòa được giữa quyền, nhu cầu của mình với quyền, nhu cầu của người khác
1.3.4.18 Kỹ năng đảm nhận trách nhiệm
Là khả năng con người thể hiện sự tự tin, chủ động và ý thức cùng chia
sẻ công việc với các thành viên khác trong nhóm Khi đảm nhận trách nhiệm cần dựa trên những điểm mạnh, tiềm năng của bản thân, đồng thời tìm kiếm thêm sự giúp đỡ cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ
1.3.4.19 Kỹ năng đạt mục tiêu
Là khả năng con người biết đề ra mục tiêu cho bản thân trong cuộc sống cũng như lập kế hoạch để thực hiện được mục tiêu đó
Trang 261.3.4.20 Kỹ năng quản lý thời gian
Là khả năng con người biết sắp xếp các công việc theo thứ tự ưu tiên, biết tập trung vào việc giải quyết các công việc trọng tâm trong một thời gian nhất định Đây là một trong những kỹ năng quan trọng góp phần vào sự thành công của cá nhân, của nhóm
1.3.4.21 Kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin
Là khả năng con người có được những thông tin cần thiết, đầy đủ, khách quan, chính xác, kịp thời
Nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong nhà trường phổ thông tập trung vào các kỹ năng tâm lý – xã hội là những kỹ năng được vận dụng trong những tình huống hằng ngày để tương tác với người khác và giải quyết hiệu quả những vấn đề, những tình huống của cuộc sống Việc hình thành những kỹ năng này không loại bỏ mà ngược lại phải gắn kết và song hành với việc hình thành các kỹ năng học tập như: đọc, viết, tính toán…
1.4 Tổ chức các hoạt động dạy học toán cho học sinh lớp 3
1.4.1 Khái quát về môn Toán lớp 3
Môn Toán Tiểu học nói chung và môn Toán lớp 3 nói riêng là một môn học quan trọng trong nhà trường Tiểu học Nó có vai trò hết sức to lớn trong việc giúp học sinh phát triển các năng lực và phẩm chất trí tuệ Do tính chất trừu tượng, khái quát cao, sự suy luận logic chặt chẽ, Toán học có khả năng hình thành ở người học trí tưởng tượng, năng lực tư duy chính xác Môn Toán lớp 3 là một môn học thống nhất, tích hợp các nội dung giáo dục Toán học và các nội dung giáo dục khác, với số học là nội dung trọng tâm và là hạt nhân của môn Toán lớp 3 Toán 3 có 4 mạch nội dung: Số học ( bao gồm số và phép tính, một số yếu tố đại số và yếu tố thống kê đơn giản); Đại lượng và đo đại lượng; Yếu tố hình học; Giải toán có lời văn Bốn mạch nội dung này được tích hợp với nhau tạo thành môn học thống nhất về cơ sở khoa học và cấu trúc nội dung Các nội dung giáo dục khác (về tự nhiên xã hội, về dân số, môi trường, về an toàn giao thông…) được tích hợp vào các nội dung toán
Trang 27học trong quá trình dạy học và thực hành, đặc biệt là giải các bài toán có lời văn Toán 3 củng cố và phát triển các nội dung của Toán 1, Toán 2 Bước đầu
hệ thống hóa, hoàn thiện kiến thức và kỹ năng cơ bản của môn Toán trong giai đoạn các lớp 1,2,3 chuẩn bị cho học sinh chuyển sang giai đoạn học tập
và phát triển tiếp theo ở các lớp 4,5
1.4.2 Tổ chức các hoạt động dạy học toán cho học sinh lớp 3
Để phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh, trong quá trình dạy học giáo viên phải biết tổ chức các hoạt động một cách linh hoạt để kích thích hứng thú, khả năng học tập của các em Việc tổ chức các hoạt động dạy học một cách phù hợp và hiệu quả là yếu tố hết sức quan trọng góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Trong quá trình dạy học Toán lớp 3 có rất nhiều cách
tổ chức các hoạt động để các em lĩnh hội kiến thức một cách triệt để, hiệu quả
và rèn luyện cho các em được những kỹ năng hết sức cần thiết
Tổ chức các hoạt động dạy học Toán cho học sinh lớp 3 gồm:
Tổ chức dạy học trên lớp
Tổ chức dạy học Toán trên lớp cho học sinh lớp 3 thực chất là cho các
em làm việc với sách giáo khoa, phiếu kiểm tra, phiếu giao việc, hệ thống câu hỏi bài tập
- Tổ chức cho học sinh làm việc với sách giáo khoa Toán lớp 3
Sách giáo khoa Toán lớp 3 là phương tiện học tập chủ đạo của học sinh, trong giờ học chúng ta cần dành một khoảng thời gian để học sinh làm việc với sách giáo khoa phát hiện kiến thức cần cung cấp
Làm việc với sách giáo khoa là một trong những yêu cầu cơ bản đối với quá trình học tập môn Toán lớp 3 Bởi lẽ mọi kiến thức cần hình thành, hệ thống bài tập thực hành luyện tập đều do sách giáo khoa cung cấp Những hình vẽ hay mô hình có trong sách giáo khoa đều gắn với kiến thức các em cần học Việc sắp xếp trang trí các bài các mục trong sách giáo khoa cũng là điều kiện để học sinh học tập cách trình bày cẩn thận gọn gàng
Trong quá trình dạy học môn Toán lớp 3 giáo viên phải tổ chức cho các
Trang 28em làm việc thường xuyên với sách giáo khoa từ việc quan sát hình vẽ, đọc yêu cầu các bài tập, dựa vào sách giáo khoa để trả lời các câu hỏi
Làm việc với sách giáo khoa cũng góp phần tích cực vào việc rèn các
kỹ năng cho các em như kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin, kỹ năng tư duy sáng tạo
Ví dụ như khi giáo viên yêu học sinh đọc bài tập trong sách giáo khoa
để thực hiện thì học sinh bắt buộc phải làm việc với sách giáo khoa, khi nghiên cứu kỹ đề bài buộc các em phải xử lý các thông tin đã cho để tiến hành giải quyết được bài tập đề ra
- Tổ chức cho học sinh làm việc với phiếu kiểm tra phiếu giao việc Trong quá trình dạy học Toán lớp 3, tổ chức cho các em làm việc với phiếu kiểm tra và phiếu giao việc là hết sức cần thiết Phiếu kiểm tra phiếu giao việc thường được sử dụng ở các bước: kiểm tra bài cũ, tìm hiểu bài mới, luyện tập, vận dụng kiến thức vừa học
Ví dụ: Trong bài “Bảng nhân 7” khi hình thành bảng nhân để khắc sâu thêm kiến thức giáo viên yêu cầu học sinh hoàn thành phiếu học tập sau
Em hãy hoàn thành bảng nhân sau
- Tổ chức cho học sinh làm việc với hệ thống câu hỏi
Để học sinh lĩnh hội được kiến thức trong quá trình dạy học môn Toán
Trang 29lớp 3 việc cho học sinh làm việc với các câu hỏi là hết sức quan trọng Thông qua trả lời các câu hỏi mà giáo viên đưa ra học sinh có thể nắm chắc được kiến thức, tái hiện lại được các vấn đề của bài học Đây cũng là một con đường hình thành các kỹ năng cho các em như kỹ năng trình bày vấn đề, kỹ năng tự tin, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng tư duy
Ví dụ: Trong bài “ Tìm số chia” ở bài tập 2
Tìm x:
a) 12 : x = 2
b) 42 : x = 6
c) 27 : x = 3
Với bài tập này giáo viên đưa ra hệ thống câu hỏi như sau
+ Bài tập yêu cầu chúng ta làm gì?
+ x là thành phần gì trong phép chia?
+ Muốn tìm số chia ta làm thế nào?
Việc sử dụng hệ thống câu hỏi như thế này học sinh sẽ dễ dàng nhận thấy được vấn đề cần giải quyết và sẽ thực hiện một cách hiệu quả
Tổ chức hoạt động học ở nhà
Ngoài việc tổ chức các hoạt động học tập trên lớp thì việc tổ chức hoạt động học ở nhà cũng là một yếu tố cần thiết để đạt hiệu quả cao trong quá trình dạy học môn Toán cho học sinh lớp 3 Vì thời gian hoạt động trên lớp rất hạn chế nên việc hình thành các kỹ năng là rất khó đối với các em Giao nhiệm vụ cho các em về nhà tự học giúp các em nắm vững khắc sâu hơn kiến thức đã học Thông qua việc học tập ở nhà các em ý thức được việc học, sắp xếp thời gian học tập hợp lý Các em có điều kiện nghiên cứu kỹ các vấn đề
đã học ở trên lớp Trong quá trình làm bài các em rèn được thói quen cẩn thận, chắc chắn, thực hiện đến nơi đến chốn các nhiệm vụ học tập
Trong quá trình tổ chức hoạt động học ở nhà đối với môn Toán lớp 3 thì việc phối hợp với phụ huynh là rất cần thiết Cùng với giáo viên, phụ huynh sẽ là lực lượng giáo dục đặc biệt đối với các em, kiểm tra, giúp đỡ các
Trang 30em trong những tình huống, những bài tập khó Hướng dẫn các em thực hiện các thao tác một cách hợp lý nhât
1.5 Một số vấn đề về tích hợp kỹ năng sống trong tổ chức các hoạt động dạy học toán cho học sinh lớp 3
1.5.1 Mục đích tích hợp các kỹ năng sống trong tổ chức các hoạt động dạy học Toán lớp 3
- Củng cố khắc sâu kiến thức của môn Toán, mở rộng thêm kiến thức
để nâng cao tầm hiểu biết của các em, bên cạnh đó cung cấp cho các em một
số kiến thức xã hội như: dân số, tự nhiên xã hội…
- Bước đầu hình thành cho học sinh một số kỹ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi lớp 3 như: Kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng xác định thời gian, kỹ năng tư duy sáng tạo, kỹ năng ra quyết định…
- Bồi dưỡng tình yêu toán học cho các em, niềm say mê, sức sáng tạo của các em đối với môn Toán Từ đó giúp các em xác định được vai trò quan trọng của môn Toán
- Thông qua việc tổ chức các hoạt dộng dạy học toán rèn luyện cho các
em những kỹ năng sống cơ bản Tạo điều kiện để các em có cơ hội thực hành, trải nghiệm trong quá trình học tập
1.5.2 Quá trình tích hợp các kỹ năng sống trong tổ chức hoạt động dạy học toán cho học sinh lớp 3
1.5.2.1 Giáo dục kỹ năng sống thông qua nội dung Toán lớp 3
Thời lượng: 5 tiết/ tuần x 35 tuần = 175 tiết
a Số học
Phép nhân và phép chia trong phạm vi 1000
- Củng cố các bảng nhân với 2,3,4,5 (tích không quá 50) và các bảng chia 2,3,4,5 ( số bị chia không quá 50) Bổ sung cộng trừ các số có 3 chữ số
có nhớ không quá 1 lần
- Lập các bảng nhân với 6,7,8,9,10 (tích không quá 100) và các bảng chia với 6,7,8,9,10 ( số bị chia không quá 100)
Trang 31- Hoàn thiện các bảng nhân và bảng chia
- Nhân chia ngoài bảng trong phạm vi 1000: nhân số có 2,3 chữ số với
số có 1 chữ số có nhớ không quá 1 lần, chia số có 2,3 chữ số cho số có 1 chữ
số Chia hết và chia có dư
- Thực hành tính: tính nhẩm trong phạm vi các bảng tính; nhân nhẩm
số có 2 chữ số với số có 1 chữ số không nhớ; chia nhẩm số có 2 chữ số với số
có 1 chữ số không có số dư ở từng bước chia Củng cố về cộng, trừ, nhân, chia trong phạm vi 1000 theo mức độ đã xác định
- Làm quen với biểu thức số và giá trị biểu thức
- Giới thiệu thứ tự thực hiện các phép tính trong biểu thức số có đến 2 dấu phép tính, có hoặc không có dấu ngoặc
- Giải các bài tập có dạng: Tìm x biết a : x = b ( với a,b là số trong phạm vi đã học)
Giới thiệu các số trong phạm vi 100000, giới thiệu hàng nghìn, hàng vạn, hàng chục vạn
- Phép cộng và phép trừ có nhớ không liên tiếp và không quá 2 lần, trong phạm vi 100000 Phép chia số có đến 5 chữ số cho số có 1 chữ số (chia hết và chia có dư)
- Tính giá trị biểu thức các số có đến 3 dấu phép tính, có hoặc không
có dấu ngoặc
- Giới thiệu các phần bằng nhau của đơn vị
b Đại lƣợng và đo đại lƣợng
- Bổ sung và lập bảng các đơn vị đo độ dài từ mi-li-mét đến ki-lô-mét Nêu mối quan hệ giữa hai đơn vị liên tiếp nhau, giữa mét và ki-lô-mét, giữa mét và xăng-ti-mét, mi-li-mét Thực hành đo và ước lượng độ dài Giới thiệu đơn vị đo diện tích: xăng-ti-mét vuông
- Giới thiệu gam Đọc, viết, làm tính với các số đo theo đơn vị gam Giới thiệu 1kg = 1000 g
- Ngày , tháng, năm Thực hành xem lịch phút giờ Thực hành xem đồng
Trang 32hồ chính xác đến phút Tập ước lượng khoảng thời gian trong phạm vi 1 phút
- Giới thiệu về tiền Việt Nam, tập đổi tiền với các trường hợp đơn giản
- Giới thiệu bảng số liệu đơn giản
- Tập sắp xếp lại các số liệu của bảng theo mục đích, yêu cầu cho trước
e Giải toán có lời văn
- Giải các bài toán có 2 bước tính với các mối quan hệ trực tiếp và đơn giản
- Giải bài toán quy về đơn vị và các bài toán có nội dung hình học Như vậy qua việc nghiên cứu nội dung môn Toán lớp 3 ta nhận thấy, mỗi nội dung đều có thể tích hợp các kỹ năng sống khác nhau cho học sinh Dạy học số học rèn cho học sinh kỹ năng tính toán, trang bị cho các em kiến thức tính toán cơ bản là điều kiện cần thiết cho cuộc sống sau này Dạy học đại lượng và đo đại lượng cung cấp cho các em những kiến thức về bảng đơn
vị đo độ dài, thời gian, tiền Việt Nam Thông qua những nội dung này thì giáo viên có thể tích hợp cho các em những kỹ năng như đo đạc, ước lượng độ dài, chiều cao của các vật Quản lý thời gian của bản thân thông qua việc học về thời gian Làm quen với các loại tiền của Việt Nam, tổ chức thực hành mua bán giúp các em biết tiêu tiền hợp lý Đây chính là kỹ năng quản lý tài chính Dạy học yếu tố thống kê giúp các em làm quen với các bảng số liệu đơn giản,
Trang 33xác định các đơn vị có ở trong bảng và giá trị của chúng Từ đó rèn cho các
em kỹ năng xác định giá trị Dạy học giải toán có lời văn giúp các em rèn luyện khả năng trình bày, tư duy, sáng tạo Bên cạnh đó trong giải toán có lời văn còn tích hợp một số kiến thức về xã hội như dân số, an toàn giao thông… Đây chính là những kỹ năng sống cần thiết mà các em được tích hợp qua quá trình học toán Từ đó các em có thể vận dụng các kỹ năng này vào trong cuộc sống một cách linh hoạt
1.5.2.2 Giáo dục kỹ năng sống thông qua hình thức và phương pháp dạy học
Đối với dạy học môn Toán lớp 3 có rất nhiều phương pháp và hình thức
tổ chức dạy học khác nhau Mỗi phương pháp gắn liền với các hình thức dạy học cụ thể Thông qua các phương pháp và hình thức dạy học chúng ta có thể lồng ghép giáo dục các kỹ năng sống cho học sinh Đó chính là những kỹ năng mà các em học được từ việc tham gia các hoạt động học tập mà giáo viên tổ chức Các em có điều kiện trải nghiệm thực hành để rút ra cho bản thân những kỹ năng cần thiết cho cuộc sống của mình
Trong dạy học môn Toán nói chung và dạy học môn Toán lớp 3 nói riêng có một số phương pháp dạy học góp phần giáo dục kỹ năng sống cho các em như:
Trang 34hình thành kiến thức mới
Ví dụ khi dạy bài: Hình chữ nhật (SGK, Tr 84) giáo viên cần có đồ dùng trực quan là mô hình hình chữ nhật, hoặc hình vẽ hình chữ nhật để giới thiệu với học sinh Thông qua quan sát hình chữ nhật thì học sinh có phát hiện
ra được đặc điểm của hình
- Phương pháp gợi mở - vấn đáp
Phương pháp gợi mở vấn đáp trong dạy học toán là phương pháp dạy học trong đó giáo viên không trực tiếp đưa ra những kiến thức hoàn chỉnh mà
sử dụng một hệ thống câu hỏi hướng dẫn học sinh suy nghĩ lần lượt trả lời, từ
đó tiến tới những kiến thức, kỹ năng cần thiết
Trong dạy học môn Toán lớp 3 phương pháp gợi mở - vấn đáp được thực hiện trong các bước: kiểm tra kiến thức cũ, hình thành kiến thức mới, thực hành luyện tập Phương pháp này phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của các
em (vì nhìn chung đơn vị kiến thức trong mỗi tiết là nhỏ), nó giúp các em tập dượt suy nghĩ và diễn đạt khi trả lời câu hỏi, đặc biệt kiến thức được hình thành theo cách này giúp học sinh nhớ lâu Đây cũng chính là một cách rèn kỹ năng sống cho các em, kỹ năng trình bày vấn đề Thông qua việc trả lời các câu hỏi thì các em biết cách suy luận, tu duy và trình bày vấn đề theo cách hiểu cách sắp xếp của mình
Ví dụ: Trước khi học bài “bảng đơn vị đo độ dài” (SGK,tr45) giáo viên
có thể kiểm tra lại kiến thức cũ bằng các câu hỏi như sau:
+ Em hãy kể tên các đơn vị đo độ dài mà chúng ta đã học?
+ 1 đề - ca – mét bằng bao nhiêu mét, 1 héc – tô – mét bằng bao nhiêu
đề -ca – mét và bằng mấy mét?
Như vậy bằng cách đưa ra các câu hỏi để cho học sinh suy nghĩ trả lời thì giáo viên có thể biết được mức độ học bài của học sinh như thế nào, bên cạnh đó việc trả lời các câu hỏi cũng giúp các em rèn luyện được kỹ năng tái hiện lại vấn đề
- Phương pháp thực hành luyện tập