TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH ĐỖ VĂN BÌNH RÈN LUYỆN CHO HỌC SINH KĨ NĂNG GIẢI QUYẾT NHỮNG VẤN ĐỀ THỰC TIỄN TRONG DẠY HỌC PHẦN SINH HỌC VI SINH VẬT, SINH HỌC 10 Chuyên ngành: Lý luận và phương p
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
ĐỖ VĂN BÌNH
RÈN LUYỆN CHO HỌC SINH
KĨ NĂNG GIẢI QUYẾT NHỮNG VẤN ĐỀ THỰC TIỄN TRONG DẠY HỌC PHẦN SINH HỌC VI SINH VẬT,
SINH HỌC 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN - 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
ĐỖ VĂN BÌNH
RÈN LUYỆN CHO HỌC SINH
KĨ NĂNG GIẢI QUYẾT NHỮNG VẤN ĐỀ THỰC TIỄN TRONG DẠY HỌC PHẦN SINH HỌC VI SINH VẬT,
SINH HỌC 10
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học Sinh học
Mã số: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS PHAN ĐỨC DUY
NGHỆ AN - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là khách quan, trung thực và chưa từng công bố trong bất kì một công trình nghiên cứu khoa học nào khác
Nghệ An, tháng 8 năm 2016
Tác giả
Đỗ Văn Bình
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tốt Luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến: PGS TS Phan Đức Duy - Bí thư Đảng ủy - Trưởng khoa Sinh học Trường Đại học sư phạm Huế đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình làm luận văn
Quý thầy cô giáo là cán bộ quản lý, giảng viên Khoa đào tạo Sau đại học, Khoa Sinh học trường Đại học Vinh đã trực tiếp giảng dạy và đóng góp ý kiến trong quá trình chúng tôi thực hiện đề tài
Sự tạo điều kiện và giúp đỡ nhiệt tình của Ban Giám hiệu trường THPT Tuyên Hóa, các đồng chí trong tổ chuyên môn giúp tôi có được nhiều thời gian cho quá trình nghiên cứu và hoàn thành tốt phần thực nghiệm sư phạm với sự giúp đỡ trực tiếp của thầy giáo Phan Thanh Quang và cô giáo Hoàng Thị Hương
Sự động viên, khích lệ của các anh (chị), các bạn chuyên ngành Lý luận
và phương pháp giảng dạy bộ môn Sinh học lớp cao học khóa 22 và tất cả người thân trong gia đình đã giúp tôi vượt qua mọi khó khăn trong quá trình nghiên cứu đề tài để hoàn chỉnh luận văn này
Xin chân thành cảm ơn!
Nghệ An, tháng 8 năm 2016
Tác giả
Đỗ Văn Bình
Trang 5MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC 1
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC BẢNG, BIỂU 5
PHẦN I MỞ ĐẦU 6
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Mục đích nghiên cứu 7
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 7
4 Giả thuyết khoa học 7
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 8
6 Phương pháp nghiên cứu 8
7 Phạm vi nghiên cứu 9
8 Các đóng góp mới của đề tài 9
9 Cấu trúc luận văn 9
PHẦN II NỘI DUNG 10
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 10
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 10
1.1.1 Mối quan hệ biện chứng giữa thực tiễn với lý luận và nhận thức 10
1.1.2 Vấn đề thực tiễn và kĩ năng giải quyết vấn đề thực tiễn 16
1.1.3 Một số quan điểm về giải quyết vấn đề thực tiễn trong dạy học 20
1.1.4 Nguyên lý giáo dục và định hướng tăng cường giải quyết các vấn đề thực tiễn trong dạy học Sinh học 21
1.1.5 Vai trò và sự cần thiết của rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề thực tiễn trong dạy học Sinh học 24
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 25
1.2.1 Nguyên tắc xây dựng nội dung sinh học ở cấp THPT 25
Trang 61.2.2 Cấu trúc nội dung phần Sinh học vi sinh vật, Sinh học 10 27
1.2.3 Thực trạng các vấn đề thực tiễn trong phần Sinh học vi sinh vật, Sinh học 10 28
1.2.4 Thực trạng rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề thực tiễn cho học sinh trong dạy học phần Sinh học vi sinh vật, Sinh học 10 của giáo viên 30
Chương 2 RÈN LUYỆN CHO HỌC SINH KĨ NĂNG GIẢI QUYẾT NHỮNG VẤN ĐỀ THỰC TIỄN TRONG DẠY HỌC PHẦN SINH HỌC VI SINH VẬT, SINH HỌC 10 33
2.1 Một số vấn đề thực tiễn trong phần Sinh học vi sinh vật, Sinh học 10 33
2.1.1 Chủ đề: Dinh dưỡng, chuyển hoá vật chất và năng lượng ở vi sinh vật 33
2.1.2 Chủ đề: Quá trình tổng hợp và phân giải các chất ở vi sinh vật 36
2.1.3 Chủ đề: Lên men Êtilic và Lactic 38
2.1.4 Chủ đề: Sinh trưởng của vi sinh vật 41
2.1.5 Chủ đề: Sinh sản của vi sinh vật 42
2.1.6 Chủ đề: Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của VSV 43
2.1.7 Chủ đề: Cấu trúc các loại virut 46
2.1.8 Chủ đề: Sự nhân lên của virut trong tế bào chủ 47
2.1.9 Chủ đề: Virut gây bệnh, ứng dụng của virut 49
2.1.10 Chủ đề: Bệnh truyền nhiễm và miễn dịch 50
2.2 Các biện pháp rèn luyện kĩ năng giải quyết những vấn đề thực tiễn trong dạy học phần Sinh học vi sinh vật, Sinh học 10 53
2.2.1 Sử dụng câu hỏi - bài tập 53
2.2.2 Sử dụng bài tập tình huống 54
2.2.3 Sử dụng thí nghiệm thực hành 56
2.2.4 Sử dụng sơ đồ 58
2.3 Quy trình tổ chức cho học sinh rèn luyện kĩ năng giải quyết những vấn đề thực tiễn trong dạy học phần Sinh học vi sinh vật, Sinh học 10 59
Trang 72.4 Các tiêu chí đánh giá mức độ đạt được của kĩ năng 65
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 68
3.1 Mục đích thực nghiệm 68
3.2 Nội dung thực nghiệm 68
3.3 phương pháp thực nghiệm 69
3.3.1 Chọn trường, lớp thực nghiệm 69
3.3.2 Bố trí, tiến hành thực nghiệm 69
3.4 Xử lí kết quả thực nghiệm 70
3.4.1 Xử lý kết quả thực nghiệm 70
3.4.2 Kết quả các bài kiểm tra 72
3.4.3 Nhận xét chung 76
PHẦN III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81 PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC BẢNG, BIỂU Bảng:
Bảng 3.1 Phân phối thực nghiệm 72
Bảng 3.2 Phân phối tần suất 72
Bảng 3.3 Phân phối tần suất theo nhóm 72
Bảng 3.4 Các tham số đặc trưng 72
Bảng 3.5 Phân phối thực nghiệm 73
Bảng 3.6 Phân phối tần suất 73
Bảng 3.7 Phân phối tần suất theo nhóm 73
Bảng 3.8 Các tham số đặc trưng 74
Bảng 3.9 Phân phối thực nghiệm 74
Bảng 3.10 Phân phối tần suất 74
Bảng 3.11 Phân phối tần suất theo nhóm 75
Bảng 3.12 Các tham số đặc trưng 75
Bảng 3.13 Phân phối thực nghiệm 75
Bảng 3.14 Phân phối tần suất 76
Bảng 3.15 Phân phối tần suất theo nhóm 76
Bảng 3.16 Các tham số đặc trưng 76
Biểu: Biểu đồ 3.1 Phân phối tần suất mức điểm giữa lớp ĐC, TN 73
Biểu đồ 3.2 Phân phối tần suất mức điểm giữa lớp ĐC, TN 74
Biểu đồ 3.3 Phân phối tần suất mức điểm giữa lớp ĐC, TN 75
Biểu đồ 3.4 Phân phối tần suất mức điểm giữa lớp ĐC, TN 76
Trang 10PHẦN I MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong giai đoạn hiện nay, đất nước ta đang bước vào thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, bước đầu đã đạt được những thành quả quan trọng Phát triển
và ứng dụng công nghệ để nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm
có ưu thế cạnh tranh đang là vấn đề được đặt ra trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Để hiện thực hóa, công cuộc cải cách và đổi mới toàn diện phải được diễn ra đồng bộ trên tất cả mọi lĩnh vực Trong đó, giáo dục đào tạo có vai trò then chốt, quyết định, bởi vì chất lượng của giáo dục đào tạo quyết định đến chất lượng của nguồn nhân lực, chất lượng của con người Việt
Trong Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) khẳng định mục tiêu của giáo
dục đào tạo giai đoạn tiếp theo là “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và
đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” Trên cơ sở
đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ra Quyết định số 2653/QĐ-BGDĐT ngày 25 tháng 7 năm 2014 về việc Ban hành Kế hoạch hành động của ngành Giáo dục triển khai Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW [49]
Theo lộ trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo, có thể đến năm 2018 bắt đầu áp dụng dạy học theo chương trình SGK mới đối với HS khối đầu cấp của 3 cấp học: Tiểu học, Trung học cơ sở, THPT Hiện nay, công tác dạy học ở các nhà trường đang dần có những chuyển biến theo tinh thần đổi mới Hoạt động dạy học không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ kiến thức mà phải phát triển được năng lực nhận thức và năng lực hành động của người học Đặc biệt là năng lực vận dụng kiến thức để giải quyết những vấn đề thực tiễn trong đời sống, nhằm xây dựng lớp thế hệ tương lai mai sau sống chủ động
Trang 11hơn, tác động hợp lý vào thực tiễn tự nhiên và xã hội để ngày càng phát triển bền vững hơn
Lớp 10 - HS đầu cấp THPT với những chuyển biến mạnh về tâm sinh
lý lứa tuổi, nên việc phát triển năng lực nhận thức và hành động có ý nghĩa to lớn để đạt được mục tiêu của cấp học
Sinh học là môn khoa học thực nghiệm, kiến thức sinh học phải được hình thành trên cơ sở quan sát và thực nghiệm [1], từ đó được ứng dụng để nâng cao chất lượng đời sống sinh hoạt của con người Trong chương trình Sinh học 10 nói riêng, phần Sinh học VSV là phần kiến thức có tính ứng dụng thực tiễn cao và rất sát thực với đời sống Vì vậy, tổ chức dạy học để phát triển cho HS năng lực vận dụng kiến thức VSV để giải quyết những vấn đề thực tiễn là có ý nghĩa rất thiết thực
Xuất phát từ cơ sở đó, chúng tôi chọn đề tài: “Rèn luyện cho học sinh
kĩ năng giải quyết những vấn đề thực tiễn trong dạy học phần Sinh học vi sinh vật, Sinh học 10”
2 Mục đích nghiên cứu
Xác định các phương pháp, biện pháp dạy học để rèn luyện cho HS KN giải quyết những vấn đề thực tiễn trong dạy học phần Sinh học VSV, Sinh học 10 nhằm phát triển năng lực cho HS
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các vấn đề thực tiễn liên quan trong phần học Sinh học VSV, Sinh học 10
3.2 Khách thể nghiên cứu
Quá trình tổ chức cho HS vận dụng kiến thức để giải quyết những vấn đề thực tiễn trong phần Sinh học VSV, Sinh học 10 để hình thành KN cho HS
4 Giả thuyết khoa học
Nếu hệ thống hóa được những vấn đề thực tiễn trong phần Sinh học VSV, Sinh học 10 và tổ chức hợp lý cho HS vận dụng kiến thức đã học để giải quyết sẽ góp phần giúp HS hình thành KN và nâng cao chất lượng dạy học bộ môn
Trang 125 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến đề tài
- Phân tích cấu trúc nội dung phần Sinh học VSV, Sinh học 10
- Tìm hiểu KN giải quyết những vấn đề thực tiễn trong dạy học phần Sinh học VSV, Sinh học 10
- Thiết kế các biện pháp để rèn luyện cho HS KN giải quyết những vấn
đề thực tiễn trong dạy học phần Sinh học VSV, Sinh học 10
- Thiết kế giáo án để tổ chức dạy học nhằm rèn luyện cho HS KN giải quyết những vấn đề thực tiễn trong dạy học phần Sinh học VSV, Sinh học 10
- Xây dựng các tiêu chí để đánh giá mức độ hình thành ở HS KN giải quyết những vấn đề thực tiễn trong dạy học phần Sinh học VSV, Sinh học 10
- TN sư phạm để đánh giá hiệu quả của những biện pháp đã đề xuất
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Thu thập, đọc, phân tích, tổng hợp các tài liệu liên quan làm tiền đề cho việc nghiên cứu cơ sở lý luận của các phương pháp, biện pháp dạy học nhằm hình thành ở HS KN giải quyết những vấn đề thực tiễn trong dạy học phần Sinh học VSV, Sinh học 10
6.2 Phương pháp điều tra
- Tiến hành điều tra trong HS, kết hợp với dự giờ trên lớp và phỏng vấn một số GV dạy sinh học tại một số trường THPT trên địa bàn tỉnh Quảng Bình để tìm hiểu thực trạng thiết kế các biện pháp rèn luyện cho HS
KN giải quyết những vấn đề thực tiễn trong dạy học phần Sinh học VSV, Sinh học 10, cũng như mức độ tích cực và sự hứng thú của HS khi học tập phần này
- Điều tra chất lượng học tập của HS thông qua sổ điểm và kết hợp trao đổi với GV bộ môn
Trang 136.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Tổ chức TN sư phạm để xác định hiệu quả của các biện pháp rèn luyện KN cho HS đã được đề xuất
- Xây dựng tiêu chí đánh giá KN, đo mức độ đạt được của KN theo tiêu chí
7 Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề thực tiễn trong dạy học phần Sinh học VSV, Sinh học 10
- Khảo sát thực tế trên địa bàn một số trường THPT tỉnh Quảng Bình
8 Các đóng góp mới của đề tài
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận của phương pháp, biện pháp dạy học rèn luyện cho HS KN giải quyết những vấn đề thực tiễn trong dạy học
- Nêu lên những vấn đề thực tiễn cần giải quyết trong dạy học phần Sinh học VSV, Sinh học 10
- Xây dựng quy trình và hình thành các biện pháp dạy học để rèn luyện cho HS KN giải quyết những vấn đề thực tiễn trong dạy học phần Sinh học VSV, Sinh học 10
9 Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm 3 phần:
Phần I Mở đầu
Phần II Nội dung
Gồm 3 chương:
- Chương1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
- Chương 2 Rèn luyện cho học sinh kĩ năng giải quyết những vấn đề thực tiễn trong dạy học phần Sinh học vi sinh vật, Sinh học 10
- Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Phần III Kết luận và kiến nghị
Trang 14PHẦN II NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1 Mối quan hệ biện chứng giữa thực tiễn với lý luận và nhận thức
1.1.1.1 Khái niệm thực tiễn, lý luận, nhận thức
* Khái niệm thực tiễn
- Thuật ngữ thực tiễn trong một số tài liệu ngôn ngữ khoa học:
Theo từ điển Tiếng Việt, “Thực tiễn” là “những hoạt động của con người, trước hết là lao động sản xuất, nhằm tạo ra những điều kiện cần thiết cho sự tồn tại của xã hội (nói tổng quát)” [39]
Từ điển HS định nghĩa: “Thực tiễn” là “toàn bộ những hoạt động của con người để tạo ra những điều kiện cần thiết cho đời sống xã hội bao gồm các hoạt động sản xuất, đấu tranh giai cấp và thực nghiệm khoa học; không có thực tiễn thì không có lý luận khoa học” [31]
- Quan niệm thực tiễn trong triết học:
Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho thực tiễn là hoạt động vật chất - cảm tính, mang tính lịch sử, có mục đích của con người nhằm cải tạo tự nhiên và
xã hội
Từ quan niệm của triết học duy vật biện chứng, thực tiễn có ba đặc trưng sau:
Thứ nhất, thực tiễn không phải là tất cả hoạt động của con người mà
chỉ là những hoạt động vật chất - cảm tính Đó là những hoạt động mà con người phải sử dụng công cụ vật chất, lực lượng vật chất tác động vào các đối tượng vật chất để làm thay đổi chúng
Thứ hai, thực tiễn là những hoạt động có tính lịch sử - xã hội Nghĩa là
hoạt động thực tiễn là hoạt động của con người, diễn ra trong xã hội với sự
Trang 15tham gia của đông đảo người, và trải qua những giai đoạn phát triển lịch sử nhất định
Thứ ba, thực tiễn là hoạt động có tính mục đích - nhằm trực tiếp cải tạo
tự nhiên và xã hội phục vụ con người tiến bộ Đặc trưng này nói lên tính mục đích, tính tự giác của hoạt động thực tiễn
Có ba hình thức thực tiễn cơ bản:
Thứ nhất, sản xuất vật chất Đó là những hoạt động sản xuất ra của cải
vật chất thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng và trao đổi của con người
Thứ hai, những hoạt động chính trị - xã hội, hoạt động cải tạo các quan
hệ chính trị - xã hội
Thứ ba, hoạt động TN khoa học Đây là hình thức đặc biệt, bởi lẽ, trong
TN khoa học, con người chủ động tạo ra những điều kiện nhân tạo để vận dụng thành tựu khoa học, công nghệ vào nhận thức và cải tạo thế giới
Ba hình thức thực tiễn này, liên hệ, tác động, ảnh hưởng lẫn nhau, trong
đó sản xuất vật chất đóng vai trò quyết định, hai hình thức kia có ảnh hưởng quan trọng tới sản xuất vật chất
* Khái niệm lý luận
Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng, lý luận là hệ thống những tri thức được khái quát từ kinh nghiệm thực tiễn, phản ánh những mối liên hệ bản chất, tất nhiên, mang tính quy luật của các sự vật hiện tượng trong thế giới và được biểu đạt bằng hệ thống nguyên lý, quy luật, phạm trù
Trang 16* Khái niệm nhận thức
Theo quan điểm triết học Mác - Lênin, nhận thức là quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người, có tính tích cực, năng động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn [17], [43]
1.1.1.2 Mối quan hệ biện chứng giữa thực tiễn với lý luận và nhận thức 1.1.1.2.1 Mối quan hệ biện chứng giữa thực tiễn với lý luận
* Vai trò của thực tiễn đối với lý luận
Thực tiễn là cơ sở, động lực của nhận thức, lý luận Thông qua và bằng
hoạt động thực tiễn của con người tác động vào sự vật làm cho sự vật bộc lộ thuộc tính, tính chất, quy luật Trên cơ sở đó con người có hiểu biết về chúng Nghĩa là thực tiễn cung cấp “vật liệu” cho nhận thức Không có thực tiễn thì không thể có nhận thức
Thực tiễn luôn đặt ra nhu cầu, nhiệm vụ đòi hỏi nhận thức phải trả lời Nói khác đi, chính thực tiễn là người đặt hàng cho nhận thức phải giải quyết Trên cơ sở đó thúc đẩy nhận thức phát triển Ví dụ, dịch cúm gà H5N1 đặt ra cho nhân loại nhiệm vụ nghiên cứu chế tạo văcxin cho loại dịch cúm này
Thực tiễn còn là nơi rèn luyện giác quan của con người Các cơ quan cảm giác được rèn luyện sẽ tạo ra cơ sở cho chủ thể nhận thức hiệu quả hơn, đúng đắn hơn
Thực tiễn còn là cơ sở chế tạo công cụ, máy móc hỗ trợ con người nhận thức hiệu quả hơn Ví dụ: Kính thiên văn, máy vi tính,.v.v.đều được sản xuất, chế tạo trong sản xuất vật chất Nhờ những công cụ, máy móc này mà con người nhận thức sự vật chính xác hơn, đúng đắn hơn Trên cơ sở đó thúc đẩy nhận thức phát triển
Thực tiễn là mục đích của nhận thức, lý luận Nhận thức của con người
bị chi phối bởi nhu cầu sống, nhu cầu tồn tại Ngay từ thủa mông muội, để sống con người phải tìm hiểu thế giới xung quanh, tức là để sống, con người phải nhận thức Nghĩa là ngay từ khi con người xuất hiện trên Trái Đất, nhận thức của con người đã bị chi phối bởi nhu cầu thực tiễn
Trang 17Những tri thức, kết quả của nhận thức chỉ có ý nghĩa đích thực khi được vận dụng vào thực tiễn phục vụ con người Nói khác đi, chính thực tiễn
là tiêu chuẩn đánh giá giá trị của tri thức - kết quả của nhận thức
Nếu nhận thức không vì thực tiễn mà vì cá nhân, vì chủ nghĩa hình thức, chủ nghĩa thành tích thì nhận thức sớm muộn sẽ mất phương hướng
Thực tiễn là tiêu chuẩn kiểm tra sự đúng sai của nhận thức, lý luận
Theo triết học duy vật biện chứng, thực tiễn là tiêu chuẩn khách quan của chân lý Bởi lẽ, chỉ có thông qua thực tiễn, con người mới “vật chất hóa” được tri thức, “hiện thực hóa” được tư tưởng Thông qua quá trình đó, con người có thể khẳng định chân lý, bác bỏ sai lầm Phải hiểu thực tiễn là tiêu chuẩn chân
lý một cách biện chứng, nghĩa là nó vừa có tính tuyệt đối, vừa có tính tương đối Tính tuyệt đối thể hiện ở chỗ, thực tiễn ở những giai đoạn lịch sử cụ thể
là tiêu chuẩn khách quan duy nhất có thể khẳng định chân lý, bác bỏ sai lầm Tính tương đối thể hiện ở chỗ, bản thân thực tiễn luôn vận động, biến đổi phát triển Cho nên, khi thực tiễn đổi thay thì nhận thức cũng phải đổi thay cho phù hợp Nghĩa là những tri thức đã đạt được trước đây hiện nay vẫn phải được kiểm nghiệm thông qua thực tiễn
* Vai trò của lý luận đối với thực tiễn
Lý luận đóng vai trò soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo thực tiễn Nhờ những
đặc trưng ưu trội so với tri thức kinh nghiệm mà lý luận có vai trò hết sức to lớn đối với hoạt động thực tiễn của con người Lý luận khoa học, thông qua hoạt động thực tiễn của con người góp phần làm biến đổi thế giới khách quan
và biến đổi chính thực tiễn
Lý luận khoa học góp phần giáo dục, thuyết phục, động viên, tập hợp quần chúng để tạo thành phong trào hoạt động thực tiễn rộng lớn của đông
đảo quần chúng
Lý luận đóng vai trò định hướng, dự báo cho hoạt động thực tiễn, giúp
hoạt động thực tiễn bớt mò mẫm, vòng vo, chủ động, tự giác hơn
Tóm tại, giữa thực tiễn và lý luận có mối quan hệ biện chứng không thể
tách rời, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Thống nhất giữa lý luận và thực
Trang 18tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin Thực tiễn không
có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông” [17], [43]
1.1.1.2.2 Mối quan hệ biện chứng giữa thực tiễn với nhận thức
* Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
Thực tiễn là cơ sở, nguồn gốc, động lực của nhận thức:
Con người muốn tồn tại thì phải lao động sản xuất để tạo ra những sản phẩm phục vụ cho con người, muốn lao động sản xuất con người phải tìm hiểu thế giới xung quanh Vậy, hoạt động thực tiễn tạo ra động lực đầu tiên để con người nhận thức thế giới
Trong hoạt động thực tiễn, con người dùng các công cụ, các phương tiện để tác động vào thế giới, làm thế giới bộc lộ những đặc điểm, thuộc tính, kết cấu, quy luật vận động; con người nắm bắt lấy các đặc điểm thuộc tính đó, dần dần hình thành tri thức về thế giới
Trong hoạt động thực tiễn, con người dần tự hoàn thiện bản thân mình, các giác quan của con người ngày càng phát triển Do đó, làm tăng khả năng nhận thức của con người về thế giới
Trong bản thân nhận thức có động lực trí tuệ Nhưng suy cho cùng thì động lực cơ bản của nhận thức là thực tiễn Trong hoạt động thực tiễn con người đã vấp phải nhiều trở ngại, khó khăn và thất bại Điều đó buộc con người phải giải đáp những câu hỏi do thực tiễn đặt ra Ănghen nói: Chính thực tiễn đã “đặt hàng” cho các nhà khoa học phải giải đáp những bế tắc của thực tiễn (ngày càng nhiều ngành khoa học mới ra đời để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn như khoa học vật liệu mới, khoa học đại dương, khoa học vũ trụ,.v.v.)
Trong hoạt động thực tiễn, con người chế tạo ra các công cụ, phương tiện có tác dụng nối dài các giác quan, nhờ vậy làm tăng khả năng nhận thức của con người về thế giới
Trang 19Thực tiễn là mục đích của nhận thức:
Mục đích của mọi nhận thức không phải vì bản thân nhận thức, mà vì thực tiễn nhằm cải biến giới tự nhiên, biến đổi xã hội vì nhu cầu của con người Mọi lý luận khoa học chỉ có ý nghĩa khi nó được ứng dụng vào thực tiễn
Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý:
Làm sao để nhận biết được nhận thức của con người đúng hay sai? Tiêu chuẩn để đánh giá cuối cùng không nằm trong lý luận, trong nhận thức
mà ở thực tiễn Khi nhận thức được xác nhận là đúng, nhận thức đó sẽ trở thành chân lý
Tuy nhiên, cũng có trường hợp không nhất thiết phải qua thực tiễn kiểm nghiệm mới biết nhận thức đó là đúng hay sai, mà có thể thông qua quy tắc logic vẫn có thể biết được nhận thức đó là thế nào Nhưng xét đến cùng thì những nguyên tắc đó cũng đã được chứng minh từ trong thực tiễn
Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý vừa có tính tuyệt đối lại vừa có tính tương đối: Tuyệt đối là ở chỗ: Thực tiễn là tiêu chuẩn khách quan để kiểm nghiệm chân lý, thực tiễn có khả năng xác định cái đúng, bác bỏ cái sai; tương đối ở chỗ: Thực tiễn ngay một lúc không thể khẳng định được cái đúng, bác
bỏ cái sai một cách tức thì Hơn nữa, bản thân thực tiễn không đứng yên một chỗ mà biến đổi và phát triển liên tục, nên nó không cho phép người ta hiểu biết bất kỳ một cái gì hóa thành chân lý vĩnh viễn
* Tác động của nhận thức đến thực tiễn
Nhận thức khoa học vận dụng vào một hệ thống các phương pháp nghiên cứu và sử dụng cả ngôn ngữ thông thường và thuật ngữ khoa học để diễn tả sâu sắc bản chất và quy luật của đối tượng trong nghiên cứu Vì thế, nhận thức khoa học ngày càng có vai trò to lớn trong hoạt động thực tiễn, đặc biệt trong thời đại khoa học, công nghệ hiện đại
Điểm xuất phát trực tiếp của nhận thức là thực tiễn Con người có nhu cầu tất yếu khách quan là phải giải thích thế giới và cải tạo thế giới nên con người tác động vào các sự vật hiện tượng bằng các hoạt động thực tiễn của mình Sự tác
Trang 20động đó làm cho các sự vật, hiện tượng bộc lộ những thuộc tính, những mối liên
hệ và quan hệ khác nhau giữa chúng, đem lại những tài liệu cho nhận thức, giúp cho nhận thức nắm được các quy luật vận động và phát triển của thế giới Từ đó
ta thấy nhận thức đóng vai trò trong giải thích, phân tích, tư duy, tổng hợp cho những hoạt động thực tiễn trong thế giới khách quan
Nếu nhận thức không có được những tri thức đúng đắn và sâu sắc về thế giới thì chứng tỏ thực tiễn sai lệch Nếu tuyệt đối hóa vai trò của thực tiễn
mà không có nhận thức thì sẽ rơi vào chủ nghĩa thực dụng và kinh nghiệm chủ nghĩa
Thực tiễn mà không có lý luận khoa học, tư duy của nhận thức, cách mạng của khoa học soi sáng thì nhất định sẽ biến thành mù quáng
Khi đã có những nhận thức đúng đắn từ thực tiễn ta đã đạt được những tiêu chuẩn của chân lý
Nhận thức là quá trình biện chứng của sự phản ánh thế giới khách quan trong ý thức của con người, trên cơ sở thực tiễn Nhận thức là nơi tổng kết, đúc kết thực tiễn ban đầu Nhưng đó chưa là điểm kết thúc của quá trình nhận thức mà nhận thức tiếp tục phải tiến tới thực tiễn
Để đi đến thực tiễn phải trải qua các giai đoạn của nhận thức Đó là quá trình bắt đầu từ nhận thức cảm tính đến nhận tức lý tính Cho thấy nhận thức
là con đường dẫn tới thực tiễn [17], [43]
1.1.2 Vấn đề thực tiễn và kĩ năng giải quyết vấn đề thực tiễn
Cần lưu ý rằng vấn đề của người này chưa chắc đã là vấn đề của người khác
Trang 21Vấn đề có thể là một hiện tượng của tự nhiên hoặc là một sự kiện/tình huống đã, đang hoặc có thể sẽ diễn ra trong thực tế và chứa đựng những điều cần được lý giải [47]
Như vậy, ta có thể hiểu vấn đề thực tiễn là những sự vật, hiện tượng xảy ra trong thực tế tự nhiên và đời sống sản xuất, sinh hoạt của con người cần được xem xét, nghiên cứu, giải quyết để phục vụ cho nhu cầu, lợi ích con người và có những hành động hợp lý để bảo vệ tự nhiên
1.1.2.2 Kĩ năng giải quyết vấn đề thực tiễn
* Khái niệm KN và KN giải quyết vấn đề thực tiễn
Trong Tâm lí học có hai quan niệm về KN:
Quan niệm thứ nhất chú trọng khía cạnh cách thức hành động, coi việc nắm được cách thức hành động là có kĩ năng Đại diện cho quan niệm này là các tác giả: Ph.N.Cônôbôlin, V.A.Crutetxki, V.X.Cudin, A.G.Covaliôp, V.A.Crutetxki cho rằng kĩ năng là phương thức thực hiện hoạt động đã được con người nắm vững
Quan niệm thứ hai coi KN không đơn thuần là mặt kĩ thuật của hành động mà còn là một biểu hiện năng lực của con người Đại diện cho quan niệm này có N.Đ.Lêvitốp, K.K.Platônốp, A.V.Pêtrôpxki, F.K.Kharlamốp KN theo quan niệm này vừa có tính ổn định, lại vừa có tính mềm dẻo, tính linh hoạt và tính mục đích Chẳng hạn, A.V.Pêtrôpxki xem KN là năng lực sử dụng các tri thức, các dữ kiện hay khái niệm đã có, năng lực vận dụng chúng
để phát hiện những thuộc tính bản chất của sự vật và giải quyết thành công những nhiệm vụ lí luận hay thực hành xác định [12]
Trong Lí luận dạy học, KN thường được quan niệm là khả năng của con người thực hiện có hiệu quả hành động tương ứng với các mục đích và điều kiện trong đó hành động xảy ra KN bao giờ cũng có tính khái quát và được sử dụng trong những tình huống khác nhau [1]
Về bản chất, các quan niệm trên về KN không mâu thuẫn nhau Sự khác nhau là ở chỗ mở rộng hay thu hẹp phạm vi triển khai của một KN hành động trong các tình huống, công việc khác nhau
Trang 22KN có thể được định nghĩa như sau:
KN là khả năng của con người thực hiện một cách có hiệu quả một
công việc nào đó để đạt được mục đích đã xác định bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức hành động phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và phương tiện nhất định [27]
Như vậy, KN giải quyết vấn đề thực tiễn là khả năng vận dụng có mục
đích và sáng tạo những kiến thức thu nhận được trong quá trình học tập để giải quyết những vấn đề thực tiễn xảy ra trong tự nhiên và đời sống sản xuất, sinh hoạt của con người
* Cấu trúc của KN
Hầu hết các tác giả đều xác định KN gồm có ba yếu tố:
- Tri thức về phương thức thực hiện các thao tác, hành động và tri thức
về đối tượng hành động
- Mục đích và nhiệm vụ mà hành động phải thực hiện
- Hệ thống các thao tác, các hành động và các phương tiện tương ứng Như vậy, KN chứa đựng trong nó cả tri thức về hành động, mục đích hành động và thao tác hành động Tuỳ theo từng loại KN mà các thành phần trên tham gia vào cấu trúc đó ở những mức độ khác nhau [27]
* Sự hình thành KN
KN được hình thành thông qua việc kết hợp giữa hành động, sự nhận thức về mục tiêu hành động và giữa mức độ thực hiện hành động
Những KN hình thành trước đó làm nền tảng để hình thành KN mới Như vậy, KN được hình thành bằng con đường luyện tập, tạo khả năng cho con người thực hiện hành động không chỉ trong những điều kiện quen thuộc mà cả trong những điều kiện thay đổi KN bậc thấp được hình thành lần đầu tiên qua các hoạt động đơn giản Khi KN đạt tới thành thạo, khéo léo thì trở thành kĩ xảo và khi có tri thức kết hợp với kĩ xảo sẽ nảy sinh
KN bậc cao [27], [41]
Trang 23* Phân loại KN
Trong các tài liệu, KN được phân loại theo những tiêu chí khác nhau, đáng chú ý là những cách phân loại và xem xét vấn đề KN dưới đây
Người ta phân biệt KN nguyên sinh với KN thứ sinh:
- KN nguyên sinh là KN được hình thành lần đầu qua các hành động
đơn giản là cơ sở để hình thành kĩ xảo (cầm, nắm, kéo, đẩy,.v.v.)
- KN thứ sinh là KN bậc cao, được hình thành trên cơ sở tri thức và kĩ
xảo cũ đã có từ trước
Người ta cũng phân biệt hai nhóm KN lao động:
- KN kĩ thuật - công nghệ riêng, khác nhau ở từng lĩnh vực lao động,
nghề nghiệp cụ thể khác nhau, ví dụ các KN của nghề hàn khác các KN của nghề tiện; nghề dạy học có những KN riêng khác với những KN của nghề bác sĩ,.v.v
- KN lao động chung, có ở mọi hình thái lao động Có ba loại KN lao
động chung cơ bản, đó là: KN lập kế hoạch; KN tổ chức lao động và KN kiểm tra và điều chỉnh hoạt động lao động Giống như việc lập kế hoạch gắn liền với việc tổ chức lao động, trong quá trình lao động, việc kiểm tra cũng gắn liền với việc điều chỉnh hoạt động lao động Tất nhiên, chúng có
vị trí không giống nhau và có những hình thức khác nhau ở các hình thái lao động khác nhau
Ngày nay, người ta cũng thường đề cập nhiều đến KN cốt lõi
KN cốt lõi là KN có tính chất chung, cơ bản mà bất cứ người lao động
nào cũng phải có trong năng lực của mình, nó tập trung vào khả năng áp dụng
kiến thức và KN, kĩ xảo một cách tích hợp trong các tình huống lao động thực
tế Có thể kể đến những KN cốt lõi sau đây:
- Các KN thông tin: Đó là khả năng thu thập, phân tích, đánh giá, sàng
lọc và lựa chọn, trình bày thông tin và các ý tưởng dùng cho hàng loạt mục đích thực tế khác nhau
Trang 24- Các KN giao tiếp: Đó là khả năng giao tiếp có hiệu quả với những người
khác thông qua lời nói, chữ viết và các phương tiện biểu thị không bằng lời
- Các KN lập kế hoạch và tổ chức triển khai các hoạt động: Chúng tập
trung vào việc lập kế hoạch, tổ chức và tự quản lí, bao gồm khả năng hoàn thành nhiệm vụ với mức độ độc lập nhất định, việc kiểm tra, theo dõi sự thực hiện của chính mình, bảo đảm được sự giao tiếp có hiệu quả, báo cáo và ghi chép về các quá trình và các kết quả đạt được
- Các KN hợp tác: Đó là khả năng hợp tác, phối hợp có hiệu quả với các
cá nhân riêng rẽ và trong nội bộ nhóm, bao gồm việc đề ra được những mục đích chung, sự quyết định về việc phân, giao nhiệm vụ, công việc, giám sát việc đạt được mục đích, yêu cầu, kiểm tra chất lượng của sản phẩm cuối cùng
- Các KN sử dụng toán học: Chúng tập trung vào khả năng lựa chọn, áp
dụng và vào việc sử dụng các tư tưởng, phương pháp và kỹ thuật toán học để hoàn thành nhiệm vụ, công việc trong phạm vi rộng lớn các tình huống lao
động nghề nghiệp thực tế
- Các KN giải quyết vấn đề: Chúng tập trung vào việc giải quyết vấn đề
như là một quá trình Trong nghĩa rộng của nó, KN giải quyết vấn đề bao gồm
cả việc xác định được bản chất của các vấn đề và đưa ra được các chiến lược phù hợp để giải quyết vấn đề
- Các KN sử dụng công nghệ: Đó là khả năng sử dụng các quá trình, hệ
thống công nghệ, trang thiết bị, nguyên vật liệu và khả năng di chuyển kiến thức và KN vào các tình huống mới [23], [27], [41]
1.1.3 Một số quan điểm về giải quyết vấn đề thực tiễn trong dạy học
Trong lĩnh vực Giáo dục và Đào tạo, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người có quan điểm và hành động chiến lược vượt tầm thời đại Về mục đích việc học, Bác xác định rõ: Học để giúp dân cứu nước; học để làm việc Còn về phương pháp học tập (là một nội dung của mục đích học) Người xác định: Học phải gắn liền với hành; học tập suốt đời; học ở mọi nơi, mọi lúc, mọi người Quan điểm này được Người nhấn mạnh: “Học để hành: Học với hành phải đi đôi
Trang 25Học mà không có hành thì vô ích Hành mà không học thì không trôi chảy” [33] Đồng chí Trường Chinh cũng đã nêu: “Dạy tốt là khi giảng bài phải liên hệ với thực tiễn, làm cho HS dễ hiểu, dễ nhớ và có thể áp dụng điều mình
đã học vào công tác thực tiễn được”
Theo Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn, trong dạy học không nên đi theo con đường sao chép lí luận ở đâu đó rồi nhồi cho người học, vì học như vậy là kiểu học sách vở Nên theo con đường có một lí luận hướng dẫn ban đầu rồi bắt tay hoạt động thực tiễn, dùng thực tiễn này mà củng cố lí luận, kế thừa có phê phán lí luận của người khác, rồi lại hoạt động thực tiễn, cứ thế theo mối quan hệ qua lại giữa lí luận và thực tiễn mà đi lên [37]
1.1.4 Nguyên lý giáo dục và định hướng tăng cường giải quyết các vấn đề thực tiễn trong dạy học Sinh học
1.1.4.1 Nguyên lý giáo dục
Luật Giáo dục nước ta (năm 2005) xác định: “Hoạt động giáo dục phải được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội” [24]
1.1.4.2 Định hướng tăng cường giải quyết các vấn đề thực tiễn trong dạy học Sinh học
Để đáp ứng được phương pháp “Dạy học Sinh học gắn với thực tế bộ môn theo hướng dạy học tích cực” thì phải nói đến vị trí, vai trò của các ứng dụng sinh học trong thực tiễn cuộc sống hàng ngày Nếu các kiến thức thực tiễn được sử dụng theo đúng mục đích sẽ là nguồn học khai thác, tìm tòi phát hiện kiến thức, giúp phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo, phát huy năng lực nhận thức và tư duy khoa học Sinh học
Ứng dụng sinh học vào thực tế cuộc sống là một yếu tố đặc trưng trong hoạt động dạy học, giữ vai trò cơ bản trong việc thực hiện các nhiệm vụ dạy học Sinh học ở trường phổ thông [36]
Trang 26Đối với HS THPT các em chưa có nhiều định hướng nghề nghiệp cho tương lai nên ý thức học tập các bộ môn chưa cao, các em chỉ thích môn nào mình học có kết quả cao hoặc thích GV nào thì thích học môn đó Người GV dạy sinh học phải biết nắm tâm lý và đặc điểm lứa tuổi của HS, trong đó phương pháp dạy học bằng cách khai thác các hiện tượng, ứng dụng sinh học thực tiễn trong tự nhiên và trong đời sống hàng ngày để các em thấy môn Sinh học rất gần gũi với các em GV phải tổ chức được các hoạt động tự lực học tập cho HS theo những định hướng sau:
Tổ chức hoạt động hướng dẫn HS học tập theo hướng tích hợp:
Với sự bùng nổ của các thành tựu khoa học trong các lĩnh vực: Vật lí, Sinh học, Hóa học.v.v nên chương trình đào tạo cũng được phân chia thành các mảng kiến thức tương đối tách rời, cô lập với những khái niệm chi tiết khó nhớ Xu hướng hiện nay trong dạy học sinh học nói riêng và trong các lĩnh vực khoa học nói chung, người ta cố gắng trình bày cho HS thấy mối quan hệ hữu cơ của các lĩnh vực không những của Sinh học với nhau mà còn giữa các ngành khoa học khác nhau như: Sinh học, Toán học, Vật lí,.v.v Khi dạy kiến thức sinh học bất kể từ lĩnh vực nào: Sinh học TB, Sinh học VSV, Di truyền học,.v.v đều liên quan đến kiến thức Vật lí, Hóa học hay nhiều hiện tượng thiên nhiên, hoặc kiến thức thành phần hóa học của TB: gluxit, lipit, prôtêin,.v.v đều liên quan đến kiến thức hóa học, nên khi sử dụng những câu hỏi mở rộng theo hướng tích hợp sẽ làm cho HS chủ động tìm tòi câu trả lời, đồng thời thấy được sự liên hệ giữa các môn học với nhau
Ví dụ: Khi học Hóa học ta giải thích hiện tượng: Tại sao nước một số sông hồ có màu đen? Đó là do H2S trong nước ao kết hợp với Fe để tạo thành FeS kết tủa, thì với Sinh học các em sẽ hiểu rõ hơn trong các môi trường kị khí như bùn trong các ao, sông, hồ một số VSV phân giải chất hữu cơ bắt nguồn từ xác thực vật, vận chuyển ion và electron đến chất nhận electron cuối cùng là
SO4
được gọi là hô hấp sunphat Quá trình hô hấp này tạo ra khí H2S, khí này kết hợp với Fe có trong ao tạo ra FeS làm nước ao có màu đen [47]
Trang 27Tuy nhiên để dạy theo cách tích hợp như trên, người GV phải biết chọn những vấn đề quan trọng, mấu chốt nhất của chương trình để giảng dạy còn phần kiến thức dễ hiểu nên hướng dẫn HS về nhà đọc SGK hoặc các tài liệu tham khảo Ngoài ra GV phải chọn lựa các hiện tượng thực tiễn phù hợp với nội dung bài học mới làm tăng hứng thú, say mê học tập, tìm hiểu bộ môn trong HS
Nếu người GV kết hợp tốt phương pháp dạy học tích hợp sử dụng các hiện tượng, ứng dụng thực tiễn, ngoài giúp HS chủ động, tích cực say mê học tập còn lồng ghép được các nội dung khác nhau như: bảo vệ môi trường, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe con người thông qua các kiến thức thực tiễn đó Đây cũng là hướng đi mà ngành giáo dục nước ta đang đẩy mạnh trong các năm gần đây
Tổ chức hoạt động hướng dẫn HS cách thiết lập sự liên hệ các nội dung học với thực tiễn đời sống:
HS thấy hứng thú và dễ ghi nhớ bài hơn nếu trong quá trình dạy và học
GV luôn có định hướng liên hệ thực tế giữa các kiến thức SGK với thực tiễn đời sống hàng ngày Rất nhiều kiến thức sinh học có thể liên hệ được với các hiện tượng tự nhiên xung quanh chúng ta
Ví dụ: Tại sao dưa cà muối lại bảo quản được lâu? HS giải thích được: Khi muối dưa cà, axit lactic do VK lactic tiết ra cùng với nồng độ muối cao kìm hãm sinh trưởng của các VSV khác, đặc biệt là VSV gây thối rau quả [30]
Tổ chức hoạt động hướng dẫn HS thông qua các tình huống giả định bằng các câu hỏi có liên quan đến thực tiễn đời sống:
Trong quá trình dạy học nếu ta chỉ áp dụng một kiểu dạy thì HS sẽ nhàm chán GV có thể áp dụng nhiều phương pháp dạy học lồng ghép vào nhau, trong đó hình thức giảng dạy bằng cách đưa ra các tình huống giả định kèm vào các phương pháp dạy để HS tranh luận vừa phát huy tính chủ động, sáng tạo của HS vừa tạo được môi trường thoải mái để các em trao đổi từ đó giúp HS thêm yêu thích môn học hơn
Trang 28
Ví dụ: Khi học bài: Ảnh hưởng của các yếu tố hóa học đến sinh trưởng của VSV, Sinh học 10, GV có thể đặt câu hỏi: Vì sao muốn bảo quản thịt cá người ta có thể bảo quản bằng cách ướp muối [8]? HS sẽ nhanh chóng trả lời
đó là do muối đã ức chế sự phát triển của VSV trong thịt, cá [9] Tuy nhiên nếu hỏi vì sao muối lại có khả năng ức chế VSV thì HS không dễ giải thích được: Muối làm tăng cao áp suất thẩm thấu, rút nước trong TB VK là tác nhân gây hỏng thực phẩm và làm TB đó chết [9]
Những câu hỏi hoặc những tình huống mang tính thách đố như vậy
sẽ kích thích HS học tập và thi đua nhau tìm câu trả lời Các em sẽ nhớ kiến thức lâu hơn
1.1.5 Vai trò và sự cần thiết của rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề thực tiễn trong dạy học Sinh học
1.1.5.1 Vai trò của rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề thực tiễn trong dạy học Sinh học
Việc lồng ghép các vấn đề, bài tập thực tiễn vào trong quá trình dạy và học, trước hết tạo điều kiện cho việc học và hành gắn liền với thực tế, tạo cho
HS sự hứng thú, hăng say trong học tập
Xây dựng thái độ học tập đúng đắn, phương pháp học tập chủ động, tích cực, sáng tạo; kích thích lòng ham học, ham hiểu biết; phát triển năng lực
tự học, năng lực vận dụng kiến thức vào cuộc sống
Giúp cho HS có được những hiểu biết về hệ tự nhiên và hoạt động của
nó, tác động của nó đối với cuộc sống của con người
HS nắm được những ảnh hưởng của những hoạt động của con người lên hệ tự nhiên Từ đó, HS ý thức được hoạt động của bản thân trong cuộc sống, đặc biệt là đối với vấn đề môi trường
Xây dựng cho HS những KN quan sát, thu nhập thông tin và phân tích thông tin, dần hình thành phương pháp nghiên cứu khoa học
Phát triển KN nghiên cứu thực tiễn và KN tư duy để giải thích các hiện tượng thực tiễn, luôn chủ động trong cuộc sống
Trang 29Nuôi dưỡng nhận thức và các quan niệm đúng đắn về các hiện tượng trong tự nhiên và cuộc sống
Phát triển sự đánh giá thẫm mỹ
Vấn đề, bài tập về các hiện tượng tự nhiên và trong thực tiễn đời sống, sản xuất của con người làm cho HS thấy sự vận động không ngừng của Sinh học Giải thích được các hiện tượng, vấn đề, bài tập đó, HS sẽ yêu thích môn Sinh học hơn
Vấn đề về môi trường hiện nay đang trở thành vấn đề cấp bách và mang tính toàn cầu Môn Sinh học có nhiệm vụ và có nhiều khả năng giáo dục cho HS ý thức bảo vệ môi trường Cần tích hợp nội dung về bảo vệ môi trường vào việc dạy học Sinh học Thông qua đó, rèn luyện văn hóa lao động (lao động có tổ chức, có kế hoạch, gọn gàng, ngăn nắp, sạch sẽ nơi làm việc)
Giáo dục trí dục kết hợp hữu cơ với giáo dục phẩm chất đạo đức, ý thức
Có khả năng vận dụng các kiến thức, KN vào cuộc sống, công việc
Có ý thức trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, xã hội và thế giới tự nhiên; ý thức nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.2.1 Nguyên tắc xây dựng nội dung Sinh học ở cấp THPT
Mục tiêu đào tạo của nhà trường phổ thông là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đào tạo những con người lao động tự chủ, năng động sáng tạo, có năng lực giải quyết vấn đề, tự lo được việc làm, lập nghiệp
và thăng tiến trong cuộc sống Vì vậy trong xây dựng nội dung dạy học Sinh học phải đảm bảo các nguyên tắc: khoa học hợp trình độ, hệ thống và liên tục,
tư tưởng, thực tiễn,.v.v
Trang 30* Tính khoa học hợp trình độ
Tính khoa học biểu hiện ở nội dung chương trình phù hợp với khoa học hiện đại, trình bày những tri thức Sinh học theo một hệ thống logic chặt chẽ, nội dung tinh giản, lựa chọn những tri thức cơ bản nhất, tinh chắc nhất để cung cấp cho HS, không đưa những sự kiện mà khoa học chưa kiểm nghiệm một cách chặt chẽ vào nội dung chương trình
Hợp trình độ là tính vừa sức, phù hợp trí lực và tâm lý, phù hợp với sự chuẩn bị học tập của HS Hợp trình độ thể hiện ở chỗ lựa chọn nội dung dạy học Sinh học phù hợp trình độ nhận thức, vốn kinh nghiệm, đặc điểm lứa tuổi
và điều kiện sinh hoạt chung của cả lớp cũng như ở từng HS Ngoài ra còn thể hiện qua việc tính toán, cân nhắc đến hoàn cảnh, điều kiện thiết bị học tập của trường, của địa phương, của đất nước Sự phù hợp với quỹ thời gian cho phép đối với từng nội dung cụ thể cũng là biểu hiện của hợp trình độ
Nội dung Sinh học xây dựng hợp trình độ mới gây hứng thú học tập, kiến thức trở nên có ý thức vững chắc, từ đó biến thành niềm tin, thế giới quan
* Tính hệ thống và liên tục
Tính hệ thống của nội dung quy định sự sắp xếp các sự kiện, các khái niệm, quy luật Sinh học thành những phần riêng, nghiên cứu các đối tượng riêng và các qui luật chung Tính hệ thống còn biểu hiện ở chỗ sắp xếp các sự kiện, hiện tượng đi từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ TB đến mô, đến cơ quan, cơ thể,.v.v
Tính liên tục là nghiên cứu các đối tượng sinh vật phải đi từ tổng hợp
sơ bộ đến phân tích chi tiết và sau đó là tổng hợp sâu sắc, từ hiện tượng đến bản chất
Trang 31trong sinh học, xây dựng nhân cách cho HS HS không ỷ lại, trông chờ, thụ
động, mê tín dị đoan trong quan hệ, trong cách sống
* Tính thực tiễn
Ðây là nguyên tắc liên hệ giữa lý luận với thực tiễn Khi nghiên cứu các
sự kiện và quy luật của sinh giới, HS không chỉ biết giải thích một cách khoa học các hiện tượng thiên nhiên trên quan điểm duy vật mà còn tập ứng dụng các tri thức về các qui luật của sinh giới vào công tác thực hành thí nghiệm và lao động sản xuất nông nghiệp, vào rèn luyện, bảo vệ thân thể
Tóm lại, đảm bảo tính thực tiễn tức là nội dung dạy học phải gắn liền với
đời sống sản xuất Ðây là yêu cầu cấp bách của nền giáo dục phổ thông [1]
1.2.2 Cấu trúc nội dung phần Sinh học vi sinh vật, Sinh học 10
Phần Sinh học VSV là phần kiến thức được nghiên cứu sau khi HS đã
có cái nhìn tổng quát về thế giới sống và tìm hiểu những đặc trưng cơ bản của một tổ chức sống ở cấp TB Do phần kiến thức này mang tính đặc thù và có tính ứng dụng thực tế cao, gần gũi hằng ngày với đời sống lao động, sinh hoạt của con người nên được tách thành một phần riêng để được nghiên cứu kỹ lưỡng hơn nhằm rèn luyện và bồi dưỡng những KN cần thiết cho HS và giúp
HS có thể giải quyết những vấn đề thực tế xảy ra trong đời sống lao động, sinh hoạt do hoạt động sống của VSV tạo ra, đồng thời cũng cố niềm tin vững chắc về khoa học bộ môn và tạo được sự hứng thú, say mê, tìm tòi, sáng tạo trong đời sống thực tiễn cho HS
Nội dung kiến thức phần Sinh học VSV gồm 3 chương được sắp xếp theo một trình tự logic hệ thống:
Chương I Chuyển hóa vật chất và năng lượng ở VSV
Trong chương này HS sẽ được tìm hiểu phương thức dinh dưỡng, sự chuyển hóa vật chất, năng lượng và quá trình tổng hợp, phân giải các chất của VSV làm cơ sở khoa học cho những ứng dụng thực tế về hoạt động sống của VSV vào đời sống của con người Sự chuyển hóa vật chất, năng lượng là nền tảng cho sự sinh trưởng và sinh sản của VSV
Trang 32Chương II Sinh trưởng và sinh sản của VSV
Nội dung chương này đề cập đến sự sinh trưởng của quần thể VSV trong những môi trường nuôi cấy khác nhau và các hình thức sinh sản của VSV cũng như sự ảnh hưởng của các yếu tố môi trường đến sự sinh trưởng của quần thể VSV để từ đó hình thành ở HS ý thức và thái độ đúng đắn về sự tác động hợp lý vào môi trường để điều khiển sự sinh trưởng của quần thể VSV theo chiều hướng có lợi cho con người
Chương III VR và bệnh truyền nhiễm
Kiến thức của chương giúp HS tìm hiểu về đặc điểm cấu tạo, phương thức sống và các con đường lây nhiễm của VR, những tác hại và lợi ích của
VR mang lại để từ đó có những ứng dụng vào thực tiễn đời sống nhằm phục
vụ tốt hơn nhu cầu, lợi ích và chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho con người
1.2.3 Thực trạng các vấn đề thực tiễn trong phần Sinh học vi sinh vật, Sinh học 10
Một trong những nguyên tắc chỉ đạo trong xây dựng nội dung chương trình Sinh học THPT là phải đảm bảo “tính thực tiễn” Về cơ bản chương trình Sinh học THPT đã đáp ứng nguyên tắc này Trong nội dung của chương trình Sinh học 10, phần Sinh học VSV có tính thực tiễn rất cao, gần gũi với
HS trong đời sống hằng ngày Tuy nhiên, những vấn đề thực tiễn liên quan đến hoạt động sống của VSV được đề cập trong nội dung phần này còn rất hạn chế Cụ thể:
SGK Sinh học 10 chương trình chuẩn: Chương I “Chuyển hóa vật chất
và năng lượng ở VSV” có hai bài lý thuyết với năm câu hỏi lệnh liên hệ thực tiễn, đó là: “Hãy lấy ví dụ về VSV cho từng loại hô hấp mà em biết”, “Bình đựng nước thịt và bình đựng nước đường để lâu ngày, khi mở nắp có mùi giống nhau không? Vì sao?”, “Em hãy kể những thực phẩm được sản xuất bằng cách sử dụng VSV phân giải prôtêin”, “Theo em thì trong làm tương và làm nước mắm, người ta có sử dụng cùng một loại VSV không? Đạm trong tương và trong nước mắm từ đâu ra?”, “Em hãy kể những thực phẩm đã sử
Trang 33dụng VK lactic lên men” hay chương II “Sinh trưởng và sinh sản của VSV” gồm ba bài lý thuyết nhưng chỉ có bốn câu hỏi lệnh liên hệ thực tiễn, đó là:
“Vì sao khi rửa rau sống nên ngâm trong nước muối hay thuốc tím pha loãng
5 - 10 phút?”, “Vì sao có thể giữ thức ăn tương đối lâu trong tủ lạnh?”, “Vì sao thức ăn chứa nhiều nước rất dễ bị nhiễm khuẩn?”, “Vì sao trong sữa chua hầu như không có VSV gây bệnh?” hoặc chương III “VR và bệnh truyền nhiễm” gồm bốn bài nhưng chỉ có bốn câu hỏi lệnh giúp HS liên hệ thực tiễn,
đó là: “Tại sao nhiều người không hay biết mình đang bị nhiễm HIV Điều đó nguy hiểm thế nào đối với xã hội?”, “Ba bệnh sốt rất phổ biến ở Việt Nam do muỗi là vật trung gian truyền bệnh gồm sốt rét, sốt xuất huyết và viêm não Nhật Bản Theo em bệnh nào là bệnh VR? Cần phải làm gì để phòng chống các bệnh này?”, “dựa vào các con đường lây nhiễm, muốn phòng tránh bệnh
do VR thì phải thực hiện những biện pháp gì?”, “Xung quanh ta có rất nhiều các VSV gây bệnh nhưng vì sao đa số chúng ta vẫn sống khỏe mạnh?” [8]
SGK Sinh học 10 chương trình nâng cao: Chương I “Chuyển hóa vật chất và năng lượng ở VSV” gồm ba bài lý thuyết nhưng chỉ có một câu hỏi lệnh duy nhất để HS liên hệ thực tiễn, đó là: “Hãy lấy một số ví dụ về VSV hóa dị dưỡng được sử dụng trong đời sống hằng ngày” hay chương II “Sinh trưởng và sinh sản của VSV” gồm bốn bài lý thuyết nhưng chỉ có bốn câu hỏi lệnh liên hệ thực tiễn, đó là: “Hãy nêu một số VK ưa axit thường gặp trong các thức ăn hằng ngày?”, “Trong tự nhiên, nhiều VK ưa trung tính tạo ra các chất thải có tính axit hoặc kiềm, vậy mà chúng vẫn sinh trưởng bình thường trong môi trường đó Hãy giải thích vì sao?”; “công nghiệp xà phòng bột và chất tẩy rửa sử dụng một số emzim VSV Các enzim này phải có đặc tính gì (ưa axit, ưa trung tính, ưa kiềm)? Vì sao?”, “Khi sinh trưởng trong môi trường nghèo dinh dưỡng (nhược trương), TB chất của VK sẽ rút nước từ bên ngoài vào làm TB căng lên TB VK có thể bị vỡ do áp suất thẩm thấu nội bào tăng lên hay không? Vì sao?” hoặc chương III “VR và bệnh truyền nhiễm” gồm bốn bài lý thuyết nhưng chỉ có năm câu hỏi lệnh giúp HS liên hệ thực tiễn, đó
Trang 34là: “Từ cách lây nhiễm của AIDS, hãy rút ra cách phòng tránh AIDS?”, “Hãy cho biết những dịch bệnh lớn nào do VR gây ra ở người và động vật?”, “Từ những kiến thức về VR kí sinh ở côn trùng, hãy đề xuất phương pháp sử dụng
VR để diệt côn trùng có hại?”, “Lấy ví dụ các bệnh truyền nhiễm theo các con đường trên và đề xuất cách phòng tránh” [45]
Như vậy, nếu trong quá trình giảng dạy phần Sinh học VSV, GV chỉ dừng lại ở việc giải quyết những câu hỏi lệnh trong SGK để giúp HS liên hệ thực tế thì chưa thể đáp ứng yêu cầu dạy học gắn liền với thực tiễn theo yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học và dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho người học của Bộ Giáo dục và Đào tạo Vì vậy, việc lựa chọn, bổ sung hợp lý những vấn đề thực tiễn xảy ra do hoạt động sống của VSV trong dạy học để giúp HS lý giải nhằm hạn chế tác hại và khai thác tối đa những lợi ích mà VSV mang lại cho đời sống lao động sản xuất, sinh hoạt của con người đồng thời hình thành ở HS KN giải quyết vấn đề thực tiễn thì mới có thể đạt được mục tiêu khi dạy học phần này
1.2.4 Thực trạng rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề thực tiễn cho học sinh trong dạy học phần Sinh học vi sinh vật, Sinh học 10 của giáo viên
Chương trình Sinh học THPT ở nước ta hiện nay (thể hiện thông qua nội dung SGK của các lớp 10, 11 và 12) bao gồm nhiều phần khác nhau như:
Di truyền học, TB học, Sinh học VSV,.v.v Mỗi phần được thể hiện bằng nhiều đơn vị kiến thức khác nhau, tương ứng với các cách tiếp cận kiến thức khác nhau Những tưởng rằng, với một khối lượng kiến thức đồ sộ như vậy, thực tế cuộc sống của các em sẽ vô cùng phong phú, các em hoàn toàn có khả năng làm chủ được kiến thức của mình, việc vận dụng kiến thức của các em trong đời sống thực tế ở chính gia đình của mình, việc giải thích những hiện tượng xảy ra hàng ngày xung quanh các em chỉ là “vấn đề đơn giản”,.v.v Nhưng điều đó đã không diễn ra trên thực tế như những gì chúng ta mong đợi Sau khi học xong chương trình Sinh học 10, nhiều HS còn ngỡ ngàng khi ăn sữa chua, các em không biết quy trình làm thế nào, thậm chí nhiều em
Trang 35còn chưa biết cả thành phần và tác dụng của nó
Với kiến thức về Sinh học phân tử, Sinh học TB, Sinh học VSV, ở trên lớp các em có thể mô tả một cách đầy đủ và chính xác về cấu trúc axit nuclêic, cấu trúc prôtêin, cấu trúc virut, nêu đúng những định nghĩa, khái niệm về sinh trưởng của VSV, cấu trúc các loại VR, bệnh truyền nhiễm,.v.v Thế nhưng, với những câu hỏi đại loại như: “Lấy thêm một số thí dụ ứng dụng trong thực tế về phân giải VSV, bệnh do VR,.v.v.”, cũng thực sự làm cho các em lúng túng Nhiều HS còn không thể giải thích được những hiện tượng rất gần gũi với đời sống: Tại sao khi muối dưa, cà nếu không để ráo nước trước khi muối thì dưa dễ bị nổi váng [34]? hay tại sao VR HIV chỉ lây
từ người này sang người khác mà không lây sang vật nuôi [30]?.v.v
Các kiến thức Sinh học về VSV lẽ ra phải là một trong các cơ sở tốt nhất để các em vận dụng vào thực tiễn, nhưng điều đó dường như vẫn còn “xa vời” đối với các em Quan sát bao bì một loại bột giặt thấy trong thành phần
có chứa enzim, chắc hẳn vẫn còn là một “điều lạ” đối với một bộ phận HS hiện nay! Tương tự như thế, chắc hẳn kiến thức về các quy luật, các khái niệm đối với HS phổ thông hiện nay có lẽ vẫn chỉ là nội dung các khái niệm, cách giải các bài tập,.v.v chúng còn “nằm yên” một cách khiêm tốn trên những trang vở, chúng tôi có cảm giác vẫn còn thiếu một cái gì đó để có thể “đánh thức” chúng dậy, làm cho chúng trở thành một trong những hành trang tốt trong cuộc sống của mỗi HS
Trao đổi vấn đề này với nhiều đồng nghiệp ở một số địa phương khác nhau, hầu như họ cũng có nhận định như vậy, thậm chí nhiều GV giảng dạy ở khu vực nông thôn, miền núi khó khăn hơn cho biết thực trạng trên còn có thể xấu hơn
Vậy, đâu là nguyên nhân đưa đến thực trạng đáng buồn trên và những nguyên nhân ấy bộc lộ dưới những hình thức nào? Để trả lời cho câu hỏi này, chúng tôi đã có những hoạt động cần thiết để xác định những nguyên nhân cơ bản của vấn đề Khái quát lại, những nguyên nhân đưa đến thực trạng trên đó là:
Trang 36Thứ nhất, Nhiều bài học trong chương trình dung lượng kiến thức
còn lớn Đây là nguyên nhân cơ bản và khách quan đầu tiên phải kể đến Theo quy định, thời gian của mỗi tiết học là 45 phút, với nội dung kiến thức tương đối nhiều, việc làm cho HS hiểu được kiến thức bài học thôi cũng đã là khó khăn, GV không còn đủ thời gian để liên hệ kiến thức mà
HS vừa lĩnh hội được với thực tế đời sống, hoặc nếu có liên hệ được thì cũng chỉ dưới hình thức liệt kê tên gọi của các sự vật, hiện tượng mà thôi
Thứ hai, việc giảng dạy kiến thức cho HS nói chung và kiến thức
sinh học nói riêng ở nhiều trường vẫn còn tiến hành theo lối “thông báo - tái hiện” Do những khó khăn nhất định, nhiều trường THPT chưa khuyến khích được GV đổi mới phương pháp dạy học, không tạo được cho họ những điều kiện tốt để có thể sử dụng các hình thức dạy học tiên tiến và do
đó lối “dạy chay” vẫn là cách dạy học ngự trị ở nhiều trường THPT
Thứ ba, nhiều GV chưa có sự chuẩn bị tốt nhất cho bài giảng, giáo án
còn thiên về cung cấp kiến thức giáo khoa một cách thuần túy, chưa coi trọng việc soạn và sử dụng bài giảng theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS, chưa chú trọng việc gắn kết giữa “lí luận và thực tiễn”, điều này làm cho HS khá thụ động trong việc lĩnh hội và vận dụng kiến thức, làm mất đi tính hứng thú học tập bộ môn, sự say mê tìm tòi, sáng tạo trong HS
Thứ tư, tư duy đổi mới trong kiểm tra đánh giá của GV còn chậm, chưa
phù hợp với yêu cầu dạy học hiện đại và thực tiễn Nội dung các bài thi và kiểm tra ở nhiều trường phổ thông chủ yếu tập trung vào nội dung kiến thức
mà chưa có những câu hỏi mang tính vận dụng kiến thức vào thực tiễn, đây chính là một “khe hở” khá rộng, một nguyên nhân khá rõ để giải thích cho thực trạng nêu trên
Trang 37Chương 2 RÈN LUYỆN CHO HỌC SINH KĨ NĂNG GIẢI QUYẾT
NHỮNG VẤN ĐỀ THỰC TIỄN TRONG DẠY HỌC
PHẦN SINH HỌC VI SINH VẬT, SINH HỌC 10
2.1 Một số vấn đề thực tiễn trong phần Sinh học vi sinh vật, Sinh học 10
2.1.1 Chủ đề: Dinh dưỡng, chuyển hoá vật chất và năng lượng ở vi sinh vật
- Vấn đề 1: Trong ao, hồ nuôi tôm, cá nước trở nên xanh lam, có độ
quánh Sau một thời gian có hiện tượng tôm, cá bị chết Hãy giải thích và đề xuất biện pháp để khắc phục hiện tượng trên
Trả lời: Do sự phát triển mạnh của VK lam làm cho nước trở nên xanh
lam và có độ quánh Sự phát triển mạnh của VK lam, tạo một lớp màng trên mặt nước đã làm giảm sự khuếch tán của ôxi từ không khí xuống nước, làm giảm hàm lượng ôxi hòa tan trong ao, hồ Mặt khác VK lam phát triển mạnh
đã tạo ra một số độc tố trong môi trường Đây chính là hai nguyên nhân cơ bản làm tôm, cá bị chết
Để khắc phục hiện tượng này, cần sử dụng các chất hóa học thích hợp được sử dụng trong nông nghiệp để tiêu diệt VK lam hoặc sử dụng các biện pháp sinh học khác để hạn chế sự phát triển và tiêu diệt VK lam [47]
Áp dụng: Dạy sau mục “Các kiểu dinh dưỡng” của VSV
- Vấn đề 2: VK lactic phát triển trong hủ muối dưa cải làm cho cải trở
nên chua và thơm ngon hoặc nấm men phát triển trong bình chứa đường và hoa quả tạo nước sirô hoa quả thơm ngon Em hãy cho biết, những môi trường cho sự phát triển của VK lactic và nấm men thuộc kiểu môi trường nào? Giải thích
Trả lời: Hai loại môi trường này thuộc kiểu môi trường nuôi cấy bán
tổng hợp Vì hai môi trường này đều chứa các hợp chất tự nhiên có trong cải,
Trang 38hoa quả không biết rõ thành phần hóa học và các hợp chất hóa học đã biết thành phần (hàm lượng muối NaCl, đường mía - sucrôzơ)
Áp dụng: Dạy ở mục “Các loại môi trường cơ bản” trong nuôi cấy VSV
- Vấn đề 3: Trong tự nhiên, các gốc nitrit (NO2-) trong đất dễ biến thành nitrôsamin và điphênylnitrôsamin là những hợp chất gây ô nhiễm môi trường, là tác nhân gây ung thư Tuy nhiên, các gốc nitrit này có thể bị ôxi hóa để tạo thành gốc nitrat (NO3-) là dạng anion chứa nitơ cần thiết cho cây
trồng nhờ hoạt động của VK Nitrobacter [8] Đây là nhóm VSV hiếu khí
Hãy đề xuất các biện pháp bảo vệ môi trường và tăng năng suất cây trồng
nhờ VK Nitrobacter
Trả lời: Tăng cường xới xáo đất đai để tăng độ thông thoáng của đất
(tăng hàm lượng ôxi phân tử trong đất); tạo điều kiện thuận lợi cho sự sinh
trưởng và phát triển của VK Nitrobacter
Áp dụng: Dạy ở mục “Hô hấp hiếu khí” ở VSV
- Vấn đề 4: Ao hồ nuôi tôm, cá nhiều năm không nạo vét nên chứa
nhiều chất hữu cơ là tác nhân sinh ra khí H2S làm tôm, cá chết hàng loạt Trong tự nhiên, VK quang hợp không thải ôxi có khả năng ôxi hóa H2S và
cố định CO2 làm nước sạch hơn [8] Từ đó, hãy đề xuất các biện pháp để xử
lý nguồn nước ao nuôi và giảm thiểu hàm lượng H2S để tăng khả năng sinh trưởng và phát triển của tôm, cá góp phần tăng giá trị kinh tế trong nuôi trồng thủy sản
Trả lời: Tăng cường nạo vét ao, hồ nuôi để giảm hàm lượng chất hữu
cơ tích lũy từ đó giảm lượng khí H2S
Bổ sung VK quang hợp không thải ôxi vào ao hồ nuôi đồng thời tạo điều kiện cho sự phát triển tốt của loài VK này
Áp dụng: Dạy ở mục “Hô hấp kị khí” ở VSV
- Vấn đề 5: Trong thực tế, nhiều loại thực phẩm tiêu thụ hằng ngày của
con người mặc dù được bảo quản ở nơi thông thoáng hoặc đậy kín nhưng sau một thời gian lại bốc mùi hôi khó chịu Dựa vào kiến thức hô hấp ở VSV, hãy giải thích vấn đề trên
Trang 39Trả lời: Do quá trình hô hấp hiếu khí và hô hấp kị khí của VSV để
phân giải chất hữu cơ của thực phẩm tạo ra một số chất trung gian có mùi hôi
Áp dụng: Dạy sau mục “Hô hấp và lên men” ở VSV
- Vấn đề 6: Trong tự nhiên và trong cuộc sống con người, các chất hữu
cơ trong cơ thể động vật, thực vật nếu không được bảo quản tốt qua thời gian
sẽ bị phân huỷ triệt để đến khi không còn cơ chất làm giảm chất lượng và mất mát thực phẩm của con người Tuy nhiên, bằng phương pháp lên men con người có thể tạo ra nhiều loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao để phục vụ cho nhu cầu con người Bằng kiến thức hô hấp và lên men ở VSV, hãy giải thích sự khác biệt trên
Trả lời: Do bản chất của quá trình hô hấp ở VSV là phân giải chất hữu
cơ để thu năng lượng, tạo các sản phẩm vô cơ nghèo năng lượng thất thoát ra môi trường Trong khi, lên men là quá trình VSV phân giải không hoàn toàn chất hữu cơ, sản phẩm vẫn là những chất hữu cơ giàu năng lượng - là những thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao cho con người
Áp dụng: Dạy sau mục “Hô hấp và lên men” ở VSV
- Vấn đề 7: Khi đi gần các sông, hồ bẩn vào ngày nắng nóng, người ta
ngửi thấy mùi khai Vì sao?
Trả lời: Khi nước sông, hồ bị ô nhiễm nặng bởi các chất hữu cơ giàu
đạm như nước tiểu, phân hữu cơ, rác thải hữu cơ,.v.v thì lượng urê trong các chất hữu cơ này sinh ra nhiều Dưới tác dụng của men ureaza của các VSV, urê bị phân hủy tiếp thành CO2 và amoniac NH3 theo phản ứng:
(NH2)2CO + H2O = CO2 + 2NH3
NH3 sinh ra hòa tan trong nước sông, hồ dưới dạng một cân bằng động Như vậy khi trời nắng (nhiệt độ cao), NH3 sinh ra do các phản ứng phân hủy urê chứa trong nước sẽ không hòa tan vào nước mà bị tách ra bay vào không khí làm cho không khí xung quanh sông, hồ có mùi khai khó chịu [25]
Áp dụng: Dạy sau mục “Hô hấp và lên men” ở VSV
Trang 402.1.2 Chủ đề: Quá trình tổng hợp và phân giải các chất ở vi sinh vật
- Vấn đề 1: Insulin là hoocmôn điều trị bệnh tiểu đường Trước kia
phải mất 100kg tụy tạng mới sản xuất được 4 - 5g insulin Để chữa cho một người mắc chứng tiểu đường phải cần phủ tạng của 40 - 50 con bò [8] nên giá thành hoocmôn này rất đắt, hơn nữa có hàng trăm triệu người bị chứng tiểu đường Để giải quyết bài toán thực tế này, người ta nuôi cấy VK E.coli chuyển gen insulin trên quy mô công nghiệp Hãy giải thích
Trả lời: Vì E.coli có tốc độ sinh sản nhanh, trong quá trình nuôi cấy
E.coli sẽ tổng hợp hoocmôn insulin Trên quy mô công nghiệp lượng sinh khối insulin tạo ra sẽ rất lớn nên giá thành loại hoocmôn này sẽ hạ và đáp ứng được nhu cầu điều trị của nhiều người
Áp dụng: Dạy ở mục “Quá trình tổng hợp prôtêin” ở VSV
- Vấn đề 2: Quần áo bị ướt mồ hôi hoặc bị ẩm ướt lâu ngày mà không
kịp thời xử lý (giặt giũ và phơi khô) sẽ bị mốc Hãy giải thích
Trả lời: Vải áo quần là tổ hợp nhiều loại chất hữu cơ, đây là nguồn
chất dinh dưỡng của mốc Mốc sẽ tiết enzim phân hủy một số chất hữu cơ và phát triển trên bề mặt vải hình thành những tập đoàn làm xuất hiện các chấm đen trên vải [25]
Áp dụng: Dạy ở mục “Quá trình phân giải pôlisaccarit” ở VSV
- Vấn đề 3: Trong thực tiễn muối dưa, muối cà và muối rau, củ, quả
khác Sau một thời gian, những thực phẩm được muối sẽ có vị chua thơm ngon cho người sử dụng Hãy giải thích
Trả lời: Muối dưa, cà, rau, củ, quả là hình thức lên men lactic nhờ VK
lactic Trong quá trình ủ, VK lactic sẽ tiến hành lên men các chất hữu cơ có trong thực phẩm muối tạo axit lactic và nhiều loại axit amin, vitamin làm cho thực phẩm muối có vị chua và thơm ngon [30]
Áp dụng: Dạy ở mục “Lên men lactic” ở VSV
- Vấn đề 4: Khi chúng ta ủ kín cơm với bột men rượu trong nồi hoặc
trong hộp Sau 2 đến 3 ngày, khi mở nắp nồi hoặc nắp hộp thì ngửi thấy mùi rượu (êtanol) Hãy giải thích