TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH CHU NGỌC GIANG THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP THÍ NGHIỆM ĐỂ RÈN LUYỆN KỸ NĂNG TƯ DUY TRONG DẠY HỌC PHẦN CẢM ỨNG SINH HỌC 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LUẬN VĂN THẠC SĨ KH
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
CHU NGỌC GIANG
THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP THÍ NGHIỆM
ĐỂ RÈN LUYỆN KỸ NĂNG TƯ DUY
TRONG DẠY HỌC PHẦN CẢM ỨNG SINH HỌC 11
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN - 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
CHU NGỌC GIANG
THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP THÍ NGHIỆM
ĐỂ RÈN LUYỆN KỸ NĂNG TƯ DUY
TRONG DẠY HỌC PHẦN CẢM ỨNG SINH HỌC 11
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học Sinh học
Mã số: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS NGUYỄN ĐÌNH NHÂM
NGHỆ AN - 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tôi xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến thầy hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Đình Nhâm, thầy đã tận tình giúp
đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn Quý thầy, cô giáo bộ môn Lí luận và Phương pháp dạy học Sinh học, Khoa Sinh học, Phòng Đào tạo sau Đại học, Ban Giám hiệu Trường Đại học Vinh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, cơ quan, các đồng nghiệp và bạn
bè đã tạo điều kiện, động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Nghệ An, tháng 8 năm 2016
Chu Ngọc Giang
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả được trình bày trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào khác
Tác giả luận văn
Chu Ngọc Giang
Trang 5MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ vii
DANH MỤC CÁC HÌNH ix
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Giả thuyết khoa học 2
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
5 Đối tượng nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 3
7 Giới hạn đề tài 6
8 Cấu trúc luận văn 6
9 Những đóng góp mới của luận văn 6
10 Sơ lược tình hình nghiên cứu 6
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 10
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 10
1.1 Cơ sở lí luận của đề tài 10
1.1.1 Thí nghiệm và bài tập thí nghiệm 10
1.1.2 Kỹ năng học tập của học sinh 15
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 20
1.2.1 Thực trạng dạy- học Sinh học 20
1.2.2 Nguyên nhân của thực trạng dạy - học Sinh học nói trên 25
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 27
Trang 6CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP THÍ NGHIỆM ĐỂ RÈN LUYỆN MỘT SỐ KỸ NĂNG TƯ DUY TRONG DẠY - HỌC
PHẦN CẢM ỨNG SINH HỌC 11 - TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 28
2.1 Cấu trúc nội dung chương trình sinh học phần cảm ứng sinh học 11 - THPT và các kỹ năng tư duy cần rèn luyện cho học sinh 28
2.1.1 Cấu trúc, nội dung chương trình Sinh học phần cảm ứng sinh học 11-THPT có thể thiết kế bài tập thí nghiệm 28
2.1.2 Các kỹ năng tư duy cơ bản cần rèn luyện cho học sinh 31
2.2 Hệ thống bài tập thí nghiệm rèn luyện một số kỹ năng tư duy trong dạy học phần cảm ứng sinh học 11-THPT 32
2.2.1 Qui trình thiết kế bài tập thí nghiệm để rèn luyện kỹ năng tư duy cho học sinh 32
2.2.2 Hệ thống bài tập thí nghiệm rèn luyện một số kỹ năng tư duy cho học sinh trong dạy- học phần cảm ứng Sinh học 11 - THPT 33
2.3 Quy trình sử dụng bài tập thí nghiệm để rèn luyện một số kỹ năng tư duy trong dạy học phần cảm ứng sinh học 11-THPT 45
2.3.1 Quy trình chung 45
2.3.2 Sử dụng qui trình để rèn luyện một số kỹ năng tư duy cho học sinh 47
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 54
3.1 Mục đích thực nghiệm 54
3.2 Phương pháp thực nghiệm 54
3.2.1 Chọn trường thực nghiệm 54
3.2.2 Bố trí thực nghiệm: 54
3.2.3 Các bước thực nghiệm 54
3.2.4 Xử lý số liệu 54
3.3 Kết quả thực nghiệm 55
3.3.1 Kết quả thực nghiệm tại trường THPT Nam Đàn I 55
3.3.2 Kết quả thực nghiệm tại trường THPT Đặng Thúc Hứa 57
3.3.3 Kết quả thực nghiệm tại trường THPT Nguyễn Sỹ Sách 60
Trang 73.4 Nhận xết đánh giá hiệu quả của việc sử dụng bài tập thí nghiệm để rèn luyện một số kỹ năng tư duy thực nghiệm cho học sinh trong dạy -
học sinh học 62
3.4.1 Kết quả về mặt định lượng 62
3.4.2 Kết quả về mặt định tính 63
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 64
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 65
1 Kết luận 65
2 Kiến nghị 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67 PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Trang
Bảng:
Bảng 1.1 Kết quả điều tra về phương pháp giảng dạy của giáo viên 21
Bảng 1.2 Kết quả điều tra về phương pháp sử dụng bài tập thí nghiệm trong dạy học Sinh học ở các trường THPT 21
Bảng 1.3 Kết quả điều tra ý kiến của học sinh về các phương pháp giảng dạy của giáo viên 22
Bảng 1.4 Kết quả điều tra ý kiến của giáo viên về sự cần thiết của việc rèn luyện kỹ năng cho học sinh 23
Bảng 1.5 Kết quả điều tra thực trạng rèn luyện một số kỹ năng tư duy cho học sinh 23
Bảng 1.6 Kết quả điều tra về học tập của học sinh 24
Bảng 1.7 Kết quả điều tra ý kiến đánh giá của giáo viên về kỹ năng học tập của học sinh 25
Bảng 3.1 Bảng thống kê điểm số các bài kiểm tra 55
Bảng 3.2 Bảng phân phối tần suất 55
Bảng 3.3 Bảng phân phối tần suất lũy tích 55
Bảng 3.4 Bảng phân loại trình độ qua các lần kiểm tra 56
Bảng 3.5 Bảng tổng hợp các tham số đặc trưng 56
Bảng 3.6 Bảng thống kê điểm số các bài kiểm tra 57
Bảng 3.7 Bảng phân phối tần suất 58
Bảng 3.8 Bảng phân phối tần suất lũy tích 58
Bảng 3.9 Bảng phân loại trình độ qua các lần kiểm tra 58
Bảng 3.10 Bảng tổng hợp các tham số đặc trưng 59
Bảng 3.11 Bảng thống kê điểm số các bài kiểm tra 60
Bảng 3.12 Bảng phân phối tần suất 60
Bảng 3.13 Bảng phân phối tần suất lũy tích 60
Bảng 3.14 Bảng phân loại trình độ qua các lần kiểm tra 61
Bảng 3.15 Bảng tổng hợp các tham số đặc trưng 61
Bảng 3.16 Bảng tổng hợp các tham số đặc trưng của 3 trường THPT 62
Trang 10Biểu đồ:
Biểu đồ 3.1 Đường lũy tích - THPT Nam Đàn I 56 Biểu đồ 3.2 Đường lũy tích - THPT Đặng Thúc Hứa 58 Biểu đồ 3.3 Đường lũy tích - THPT Nguyễn Sỹ Sách 61
Sơ đồ:
Sơ đồ 2.1 Qui trình thiết kế bài tập thí nghiệm để rèn luyện kỹ năng
tư duy cho học sinh 32
Sơ đồ 2.2 Qui trình sử dụng bài tập thí nghiệm rèn luyện kỹ năng tư
duy cho học sinh 46
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1 Thí nghiệm về sự sinh trưởng của cây đậu xanh 34
Hình 2.2 Thí nghiệm về hướng động 34
Hình 2.3 Thí nghiệm ở cây cải mầm 35
Hình 2.4 Thí nghiệm ở cây đậu xanh 35
Hình 2.5 Rễ ở chậu cây để nghiêng 36
Hình 2.6 Hiện tượng cuốn vòng 37
Hình 2.7 Thí nghiệm trồng đậu xanh trong chai 38
Hình 2.8 Thí nghiệm ở cây đậu đen 38
Hình 2.9 Thí nghiệm về tập tính của động vật 39
Hình 2.10 Thí nghiệm ở bồ câu và chuột bạch 40
Hình 2.11 Thí nghiệm hướng sáng ở cây đậu xanh 40
Hình 2.12 Thí nghiệm ở cây đậu đặt nằm ngang 41
Hình 2.13 Thí nghiệm ở cây đậu phộng dại 42
Hình 2.14 Thí nghiệm ở ốc sên 42
Hình 2.15 Dụng cụ và nguyên liệu cho thí nghiệm về hướng trọng lực và hướng nước ở thực vật 43
Hình 2.16 Thí nghiệm về hướng trọng lực ở thực vật 44
Hình 2.17 Dụng cụ thí nghiệm 45
Hình 2.18 Các chậu trồng đậu đỏ 47
Hình 2.19 Thí nghiệm ở ốc sên và em bé 49
Hình 2.20 Thí nghiệm trồng đậu trong chai nhựa 52
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Quan điểm chỉ đạo định hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo Nghị quyết 29 của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 8 khóa XI đã nêu rõ: [1] “…Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực
và phẩm chất người học Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn…” Đồng thời nghị quyết cũng nêu rõ: Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực.Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Đổi mới chương trình nhằm phát triển năng lực và phẩm chất người học, hài hòa đức, trí, thể, mỹ; dạy người, dạy chữ và dạy nghề Đổi mới nội dung giáo dục theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực, phù hợp với lứa tuổi, trình
độ và ngành nghề; tăng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn
Trên cơ sở các quan điểm chỉ đạo, việc hình thành và phát triển năng lực ở người học đã được xác định trong mục tiêu đổi mới giáo dục phổ thông sau 2015 Để góp phần chuẩn bị cho việc triển khai thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục phổ thông sau 2015 thì việc nghiên cứu thiết kế các hoạt động học tập ở các môn học và tổ chức dạy học theo hướng hình thành, phát triển năng lực người học là vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu Sinh học là bộ môn khoa học có nhiều nội dung kiến thức gắn với thực nghiệm, do đó dạy và
Trang 13học thực hành đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục của bộ môn Sinh học Tuy nhiên, thực trạng dạy và học bộ môn Sinh học trong nhiều trường phổ thông hiện nay chưa được giáo viên và học sinh chú trọng đúng mức, đồng thời điều kiện về trang thiết bị, cơ sở vật chất chưa được đáp ứng đầy đủ và chưa đảm bảo chất lượng để thực hiện đúng yêu cầu dạy học của bộ môn nhất là đối với việc dạy học thực hành
Đã có nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng bài tập vừa là phương tiện, vừa là phương pháp để tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh có hiệu quả Việc nghiên cứu xây dựng hệ thống các bài tập thí nghiệm và sử dụng chúng một cách hợp lý trong dạy học Sinh học ở trường phổ thông là một việc làm quan trọng nhằm cụ thể hóa mục tiêu phát triển năng lực thực nghiệm của người học, vừa góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn, vừa phát triển được năng lực chuyên biệt của bộ môn cho người học
Phần Cảm ứng - Sinh học 11 có nhiều nội dung phù hợp cho việc lựa chọn để xây dựng hệ thống bài tập thí nghiệm, đồng thời thuận lợi cho quá trình thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm chứng giả thuyết khoa học của đề tài
và nhằm từng bước cụ thể hóa cơ sở lý luận của đề tài vào thực tiễn dạy học
bộ môn Sinh học ở trường phổ thông
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Thiết
kế và sử dụng bài tập thí nghiệm để rèn luyện kỹ năng tư duy trong dạy học phần cảm ứng sinh học 11- THPT”
3 Giả thuyết khoa học
Nếu thiết kế và sử dụng bài tập thí nghiệm phù hợp nội dung, phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh trong học tập và sử dụng nó một cách hợp lý thì sẽ rèn luyện được kỹ năng tư duy cho học sinh và nâng cao chất
Trang 14lượng dạy - học Sinh học 11 nói riêng và Sinh học nói chung ở trường trung
học phổ thông
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài phải thực hiện được các nhiệm
vụ nghiên cứu sau:
4.1 Nghiên cứu lí luận và thực tiễn về bài tập thí nghiệm, vai trò và phương pháp sử dụng bài tập thí nghiệm, hệ thống các nhóm kỹ năng, kỹ năng nhận thức của học sinh
4.2 Nghiên cứu quy trình, nguyên tắc, kỹ thuật thiết kế các bài tập thí nghiệm 4.3 Thiết kế hệ thống các bài tập thí nghiệm nhằm rèn luyện một số kỹ năng tư duy cho học sinh trong dạy - học Sinh học 11 phần cảm ứng
4.4 Nghiên cứu qui trình sử dụng các bài tập thí nghiệm để rèn luyện một số kỹ năng tư duy cho học sinh trong dạy - học Sinh học 11 phần cảm ứng- trung học phổ thông
4.5 Thực nghiệm sư phạm để khảo sát khả năng giải và xử lý các bài tập thí nghiệm của học sinh, xác định hiệu quả rèn luyện một số kỹ năng tư duy của việc sử dụng các bài tập thí nghiệm
5 Đối tượng, khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: quy trình thiết kế và sử dụng bài tập thí nghiệm để rèn luyện kỹ năng tư duy cho học sinh trung học phổ thông
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học chương cảm ứng bằng việc
sử dụng các bài tập thí nghiệm nhằm rèn luyện kỹ năng tư duy cho học sinh
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
6.1.1 Nghiên cứu các tài liệu về chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng và nhà nước trong công tác giáo dục, các công trình nghiên cứu cải tiến dạy học hướng vào việc tổ chức hoạt động độc lập của học sinh, các tư liệu, sách báo, liên quan đến đề tài
6.1.2 Nghiên cứu các tài liệu về bài tập thí nghiệm để làm cơ sở cho việc thiết kế, phân loại bài tập và đưa vào giảng dạy để rèn luyện một số kỹ năng tư duy cho học sinh
Trang 156.1.3 Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến hệ thống các kỹ năng của học sinh trung học phổ thông làm cơ sở để xác định một số kỹ năng tư duy thực nghiệm cơ bản cần rèn luyện
6.2 Phương pháp chuyên gia
Gặp gỡ trao đổi với những người giỏi về lĩnh vực mình nghiên cứu, lắng nghe sự tư vấn của các chuyên gia để giúp việc định hướng triển khai nghiên cứu đề tài Các chuyên gia có thể là các giáo sư, tiến sĩ am hiểu về lĩnh vực mình nghiên cứu, một số tổ trưởng chuyên môn hoặc một số giáo viên có kinh nghiệm…
6.3 Phương pháp điều tra cơ bản
Điều tra về thực trạng của việc rèn luyện kỹ năng cho học sinh và việc
sử dụng các bài tập thí nghiệm trong dạy học Sinh học ở nhà trường phổ thông
- Đối với giáo viên:
+ Sử dụng phương pháp Anket: Dùng phiếu điều tra để lấy số liệu về thực trạng dạy học bộ môn Sinh học
+ Tham khảo giáo án của một số giáo viên
+ Dự giờ của một số giáo viên
- Đối với học sinh:
+ Sử dụng phiếu điều tra để điều tra hứng thú học tập bộ môn Sinh học của học sinh
6.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm bằng phương pháp thực nghiệm chéo
ở 3 trường trung học phổ thông ở tỉnh Nghệ An Trong đó mỗi trường chọn 2 lớp khối 11 (1 lớp thực nghiệm; 1 lớp đối chứng) Các lớp đối chứng và thực nghiệm có sĩ số gần bằng nhau, có trình độ và chất lượng học tập ngang nhau
- Trong quá trình thực nghiệm, chúng tôi kết hợp với giáo viên bộ môn
ở các trường để thảo luận và thống nhất nội dung, phương pháp giảng dạy, kiểm tra đánh giá
- Các lớp thực nghiệm: Giáo án được thiết kế theo phương pháp sử dụng bài tập thí nghiệm đã đề xuất Các lớp đối chứng: Giáo án được
Trang 16thiết kế theo phương pháp của giáo viên đang dạy (không sử dụng bài tập thí nghiệm)
- Các lớp TN và ĐC ở mỗi khối lớp của mỗi trường được cùng một giáo viên giảng dạy, đồng đều về thời gian, nội dung kiến thức và bài kiểm tra đánh giá
6.5 Phương pháp thống kê toán học nhằm xử lí kết quả nghiên cứu
Sử dụng một số công cụ toán học để xử lý các kết quả điều tra và kết quả thực nghiệm sư phạm Các tham số sử dụng để xử lý:
- Hệ số biến thiên Cv%: Biểu thị mức độ biến thiên trong nhiều tập hợp
X
n n
n n S
2 1
2 2 2 2 1 1
S n S n
S và S22 là phương sai của mỗi phương án
Trang 17Sau khi tính được td, ta so sánh với giá trị t được tra trong bảng phân phối Student với mức ý nghĩa = 0,05 và bậc tự do f = n1 + n2 - 2
Nếu td t: Sự khác nhau giữa X1và X2 là có ý nghĩa thống kê
Nếu td<t: Sự khác nhau giữa X1 và X2 là không có ý nghĩa
7 Giới hạn đề tài
Bài tập thí nghiệm (viết tắt của bài tập thực hành thí nghiệm) bao gồm bài tập thực hành xác định mẫu vật, bài tập thực hành quan sát, bài tập thực hành thí nghiệm Trong khuôn khổ của luận văn, chúng tôi chỉ nghiên cứu, thiết kế và sử dụng các bài tập thực hành thí nghiệm để rèn luyện kỹ năng phân tích thí nghiệm, kỹ năng so sánh kết quả thí nghiệm, kỹ năng phán đoán- suy luận kết quả thí nghiệm, kỹ năng thiết kế - đề xuất phương án thí nghiệm trong dạy học Sinh học phần cảm ứng sinh học 11- THPT
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Thiết kế và sử dụng bài tập thí nghiệm để rèn luyện một số
kỹ năng tư duy cho học sinh trong dạy học Sinh học phần cảm ứng sinh học 11- THPT
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
9 Những đóng góp mới của luận văn
9.1 Xây dựng được các bài tập thí nghiệm nhằm rèn luyện một số kỹ năng tư duy cho học sinh
9.2 Sử dụng các bài tập thí nghiệm đã thiết kế để rèn luyện một số kỹ năng tư duy cho học sinh
10 Sơ lược tình hình nghiên cứu
10.1 Trên thế giới
Phương pháp thực nghiệm được xây dựng ở thế kỷ XVII và rất có hiệu quả trên con đường đi tìm chân lý Ông tổ xây dựng phương pháp này chính
Trang 18là Galile - nhà vật lí học Ông cho rằng “Muốn hiểu biết thiên nhiên phải trực tiếp quan sát thiên nhiên, phải làm thí nghiệm, phải hỏi thiên nhiên chứ không hỏi Aristôt hoặc kinh thánh ” Về sau, các nhà khoa học khác đã kế thừa phương pháp đó và xây dựng nó cho hoàn chỉnh hơn Phương pháp này được thâm nhập vào nhiều ngành khoa học tự nhiên cũng như các ngành khoa học
xã hội khác
Nghiên cứu phương pháp thực hành trong dạy học không phải là một vấn đề mới Ngay sau khi Galile xây dựng phương pháp thực nghiệm, J.A Konmenxki, một nhà sư phạm lỗi lạc của thế kỷ XVII đã đưa ra những biện pháp dạy học bắt học sinh phải tìm tòi suy nghĩ để nắm được bản chất của các
sự vật hiện tượng, trong đó có phương pháp thực hành thí nghiệm J J Ruxo cũng cho rằng phải hướng học sinh tích cực tự giành lấy kiến thức bằng cách tìm hiểu, khám phá và sáng tạo
Vận dụng phương pháp thực hành vào dạy học đã được nhiều nhà giáo dục trên thế giới quan tâm nghiên cứu như: B.P Exipop, M.A Danilop, M.N Scattin, I.F Kharlamov, I.I Samova, M.N Veczelin (Nga), Skinner (Mỹ), Okon (Ba Lan) Skinner (1904-1990) trong tác phẩm “Công nghệ dạy học” (1968) đã cho rằng: dạy học là quá trình tự khám phá, và ông đã đưa ra mô hình dạy học khám phá bằng việc sử dụng thí nghiệm thực hành
Dạy học bằng phương pháp thực hành thí nghiệm đã được sử dụng ở nhiều nước tiên tiến trên thế giới từ (Anh, Pháp Mỹ, Đức ), bắt đầu từ đầu thế kỷ XX và phát triển rầm rộ từ nửa sau của thế kỷ này Ở Pháp vào những năm 1980-1990, đã có nhiều trường sử dụng phương pháp thực hành thí nghiệm trong dạy học và được xem là phương pháp trọng tâm của các môn khoa học tự nhiên ở các trường trung học Năm 1980, ông Pie Giôliô Quiri - Viện trưởng viện hàn lâm Pháp đã khởi xướng phương pháp Lamap - “bàn tay nặn bột”, bắt nguồn từ thực trạng xuống cấp của sinh viên các ngành khoa học tự nhiên Với phương pháp này Viện hàn lâm mong muốn mang đến một cơ hội để người học tiếp cận khoa học bằng các bài học thực tiễn
Trang 19chứ không phải các bài giảng thuần túy lí thuyết Theo phương pháp này, lớp học được chia thành nhiều nhóm (4 học sinh/ nhóm) Mỗi nhóm được giao các tài liệu và các yêu cầu khác nhau liên quan đến các bài học Căn cứ vào yêu cầu, các nhóm sẽ lựa chọn các vật dụng cần thiết cho việc thực hành thí nghiệm Các vật dụng thường đơn giản dễ tìm Các nhóm sẽ thảo luận cách thức thực hiện các bài thí nghiệm, trình bày các hiểu biết mà mình khám phá được Trong suốt quá trình các nhóm làm việc, giáo viên chỉ đóng vai trò là người quan sát hướng dẫn
Tại một số nước châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Malaysia, bộ Giáo dục và đào tạo các nước này cũng đã đưa phương pháp Lamap vào chương trình học chính khóa trong trường phổ thông [26, 28, 31]
10.2 Trong nước
Ở Việt Nam, có rất nhiều nhà lí luận dạy học nghiên cứu về phương pháp thí nghiệm thực hành, nhằm cải tiến phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức như: Nguyễn Ngọc Quang, Đinh Quang Báo, Nguyễn Đức Thành, Nguyễn Văn Duệ, Trần Bá Hoành, Trịnh Nguyên Giao, Lê Văn Lộc, Nguyễn Cương, Nguyễn Đức Thâm Việc sử dụng phương pháp thực hành trong giảng dạy để phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh đã thu hút một số tác giả nghiên cứu như:
Trần Sinh Thành, Đặng Quang Khoa, (2003) với đề tài “Hình thành kỹ năng phán đoán cho sinh viên sư phạm kỹ thuật, thông qua dạy học thực hành”
Cao Cự Giác (2004) - Trường Đại học Sư phạm Vinh có bài viết “Phát triển khả năng tư duy và thực hành thí nghiệm qua các bài tập hóa học thực nghiệm” (Tạp chí giáo dục số 88- 2004)) Theo tác giả, việc sử dụng bài tập thực nghiệm không chỉ cung cấp kiến thức, củng cố kiến thức mà còn rèn luyện được các kỹ năng tư duy và thao tác thực hành
Nguyễn Thị Liên, “Khai thác sử dụng bài tập thí nghiệm nhằm phát huy tính tích cực sáng tạo của học sinh trong dạy học phần Quang học lớp 7 Trung học sơ sở”- Luận văn thạc sĩ, Đại học Sư phạm Huế, 2004 Theo tác giả, một
Trang 20trong những yếu tố tăng cường tính tích cực sáng tạo của học sinh là sử dụng các bài tập thí nghiệm
Cao Ngọc Sằng (2005), “Nghiên cứu sử dụng thí nghiệm hóa học theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh trong dạy học phần Vô cơ
ở trường trung học phổ thông”- Luận văn thạc sĩ, Đại học Sư phạm Huế
Nguyễn Thị Dung- Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội có bài “Tích cực hóa hoạt động học tập trong giờ thực hành củng cố môn Sinh học ở phổ thông” (Tạp chí Giáo dục số 6 - 2006) Tác giả cho rằng với quan niệm dạy học mới hiện nay, việc tích cực hoạt động học tập trong giờ thực hành củng
cố cần được coi trọng, bằng cách tạo điều kiện cho học sinh tự lực tìm con đường chứng minh cho các vấn đề được học
Nguyễn Tiến Dũng, (2007) với đề tài “Tác dụng của bài tập thí nghiệm trong dạy học vật lí ở trường phổ thông”
Đào Thị Thơm, (2012) với đề tài “Thiết kế và sử dụng bài tập thực nghiệm trong dạy học phần sinh học vi sinh vật – THPT” [9 - 10, 12, 19, 24, 27]
Như vậy, việc sử dụng phương pháp thực hành thí nghiệm trong dạy học đã được nghiên cứu và chú ý từ rất sớm Tuy nhiên, việc sử dụng bài tập thí nghiệm để rèn luyện các kỹ năng học tập của học sinh còn rất hạn chế Vì vậy, việc đi sâu nghiên cứu lý luận, thiết kế và sử dụng các bài tập thí nghiệm để rèn luyện kỹ năng tư duy cho học sinh trong dạy học Sinh học là rất cần thiết
Trang 21KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Cơ sở lí luận của đề tài
1.1.1 Thí nghiệm và bài tập thí nghiệm
1.1.1.1 Thí nghiệm
Sinh học là môn khoa học thực nghiệm gắn liền với thí nghiệm và thực hành Thí nghiệm trong dạy học sinh học có thể tiến hành trên lớp, ở phòng thí nghiệm, vườn trường, ở nhà…có thể do giáo viên biễu diễn hoặc do học sinh thực hiện Thí nghiệm vừa là phương tiện, vừa là nguồn cung cấp kiến thức mới có vai trò quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển tư duy, sáng tạo của học sinh
Thí nghiệm là một trong những phương pháp quan trọng nhất để tổ chức học sinh nghiên cứu các hiện tượng sinh học vì:
- Thí nghiệm là mô hình đại diện cho hiện thực khách quan, là nguồn cung cấp thông tin, là điểm xuất phát cho quá trình nhận thức của học sinh
- Thí nghiệm là cầu nối giữa lí thuyết và thực tiễn, là dạng rút gọn của quá trình nghiên cứu khoa học
- Thí nghiệm là phương tiện duy nhất giúp học sinh hình thành kỹ năng, kỹ xảo thực hành và tư duy khoa học
- Thí nghiệm giúp học sinh nắm vững kiến thức lí thuyết đầy đủ, vững chắc hơn nhờ đi sâu tìm hiểu bản chất của các hiện tượng, quá trình sinh học [2, 15]
1.1.1.2 Bài tập thí nghiệm
* Định nghĩa
Theo Nguyễn Đức Thâm bài tập thực hành thí nghiệm (bài tập thí nghiệm) là bài tập đòi hỏi học sinh khi giải phải làm thí nghiệm, qua đó hình thành nên các kiến thức và rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo
Trang 22Nguyễn Thượng Chung cho rằng, bài tập thí nghiệm là bài tập đòi hỏi học sinh phải vận dụng một cách tổng hợp các kiến thức lí thuyết và thực nghiệm, các kỹ năng hoạt động trí óc và chân tay để tự mình giải quyết vấn
đề, đề ra phương án, lựa chọn phương tiện, tiến hành thí nghiệm…nhằm rút ra kết luận khoa học [10, 26]
Trong dạy học Sinh học, bài tập thí nghiệm được sử dụng khi nghiên cứu các quá trình sinh lí, ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái lên sinh vật Học sinh tự mình khám phá ra những điều mới mẻ từ tác động chủ ý của các
em lên đối tượng thí nghiệm, qua đó kích thích hứng thú học tập, tạo sự say
mê, niềm tin yêu khoa học Các em thấy được vai trò của con người trong việc chinh phục cải tạo tự nhiên
1.1.1.3 Vai trò của bài tập thí nghiệm
Bài tập thí nghiệm giữ vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo, trong việc hình thành nhân cách của học sinh và phát huy được tính tự giác, tự lực, sáng tạo của học sinh, cụ thể:
- Qua bài tập thí nghiệm, học sinh có điều kiện tự tìm mối quan hệ giữa cấu trúc và chức năng, giữa hiện tượng và bản chất, giữa nguyên nhân và kết quả, do đó giúp các em nắm vững tri thức, phát triển các khái niệm
- Bài tập thí nghiệm tạo sự tò mò, ham hiểu biết của học sinh trong quá trình học tập Trong khi lập các phương án để tiến hành thí nghiệm, học sinh thường dự đoán quá trình xảy ra của hiện tượng hay kết quả thí nghiệm Nếu kết quả đúng như dự kiến làm cho học sinh tin tưởng vào sự phù hợp giữa lí thuyết và thực nghiệm Nếu thí nghiệm xảy ra không đúng như dự đoán sẽ gây nên sự ngạc nhiên, thu hút các em tìm lời giải thích Đây chính là các yếu
tố gây nên các tình huống có vấn đề trong tư duy, kích thích sự tò mò ham hiểu biết của học sinh, tạo niềm tin và hứng thú học tập
- Bài tập thí nghiệm tạo điều kiện cho học sinh quan sát, tiếp xúc sử dụng các thiết bị thí nghiệm nên nó là phương pháp có ưu thế nhất để rèn luyện các thao tác tư duy, các kỹ năng, kỹ xảo bộ môn và ứng dụng tri thức
Trang 23vào đời sống Do đó, nó là điều kiện tốt nhất để thực hiện nguyên lý học đi đôi với hành, đáp ứng yêu cầu giáo dục kỹ thuật tổng hợp
- Bài tập thí nghiệm còn có tác dụng rèn luyện đức tính tự lực, cẩn thận,
tỉ mỉ, kiên trì, ý chí và nhân cách, mang lại cho người học niềm say mê học tập Qua đó có thể phát hiện, bồi dưỡng học sinh có năng khiếu về bộ môn Sinh học
- Qua việc giải bài tập thí nghiệm, các quan niệm sai lệch, các thao tác
tư duy chưa hoàn thiện của học sinh được bộc lộ, từ đó có biện pháp thích hợp
để khắc phục
- Khi giải bài tập thí nghiệm, học sinh có thể lựa chọn các dụng cụ khác nhau, giải theo các phương án khác nhau, gây ra sự tranh luận sôi nỗi trong lớp học, tạo không khí sư phạm tốt, rèn luyện cho học sinh kỹ năng diễn đạt
và năng lực giao tiếp [10, 15, 19]
1.1.1.4 Phân loại bài tập thí nghiệm
a, Dựa vào hình thức giải các bài tập thí nghiệm
Bài tập thí nghiệm có thể dùng nhiều hình thức khác nhau:
Hình thức 1: Sử dụng các dụng cụ thí nghiệm, hóa chất cần thiết để
làm thí nghiệm
Hình thức 2: Bài tập chỉ được giải bằng lí thuyết (mang tính chất thực
nghiệm tưởng tượng)
Hình thức 3: Bài tập bằng hình vẽ (dùng hình vẽ để mô tả cách lắp đặt
thí nghiệm, hoặc từ hình vẽ cho trước phân tích các khả năng phù hợp…)
Trong dạy học Sinh học, nên ưu tiên sử dụng hình thức 1, vì đây là bài tập mang tính chất thực hành
Ở hình thức 2 và 3, học sinh dưới sự hướng dẫn của giáo viên tham gia thiết kế, mô tả, đề xuất phương án thí nghiệm trên giấy và bút (bằng lời hoặc bằng hình vẽ); hoặc xem xét tính hợp lí của cách thiết kế cũng như các diễn biến và kết quả thí nghiệm….từ đó rút ra kết luận Loại bài tập này được sử dụng trong trường hợp thiếu thiết bị thí nghiệm, thời tiết xấu không tiến hành
Trang 24thí nghiệm được, hoặc sử dụng trong khâu kiểm tra đánh giá… (Gọi là bài tập thực hành thí nghiệm tư duy trên giấy và bút)
Việc vận dụng bài tập thí nghiệm tư duy trên giấy và bút, tuy học sinh không có điều kiện học tập và rèn luyện các thao tác thí nghiệm, nhưng ưu điểm chính của phương pháp là đòi hỏi học sinh phải tư duy tích cực mới có thể hiểu được thí nghiệm, trả lời được các câu hỏi, bài tập để tìm ra được kết luận cần thiết Vì vậy hình thức thí nghiệm tư duy không chỉ vận dụng trong dạy và học Sinh học ở các nước đang phát triển, kinh tế khó khăn mà ngay cả
ở các nước phát triển hình thức này cũng được vận dụng [6, 29]
b, Dựa vào các giai đoạn của quá trình dạy học
+ Bài tập thí nghiệm hình thành kiến thức mới
Trong khâu nghiên cứu bài học mới, bài tập thí nghiệm được dùng như
là một bài tập tình huống, bài tập nhận thức, đặt ra vấn đề mới mà khi giải xong học sinh sẽ lĩnh hội được kiến thức mới và hình thành nên kỹ năng mới Học sinh phải tự mình tiến hành thí nghiệm, quan sát hiện tượng, phân tích thí nghiệm…để rút ra kết luận có giá trị nhận thức mới Vai trò của giáo viên là hướng dẫn học sinh phân tích kết quả, tìm ra mối quan hệ nhân quả bằng các câu hỏi định hướng Bài tập này thường đưa ra trước khi nghiên cứu một nội dung mới, vấn đề mới
+ Bài tập thí nghiệm củng cố - hoàn thiện kiến thức
Các bài tập thí nghiệm được sử dụng trong khâu hoàn thiện kiến thức thường được tiến hành sau khâu dạy bài mới, vào cuối tiết học, giờ thực hành, ngoại khóa, ôn tập cuối chương, cuối học kì hoặc ôn tập cuối năm…Các bài tập này có tác dụng lớn trong việc chính xác hóa các khái niệm, tăng cường tính vững chắc, tính hệ thống các kiến thức và rèn luyện kỹ năng kỹ xảo Trong đó, việc xác lập các mối quan hệ giữa các biểu tượng về sự vật hiện tượng cụ thể với các khái niệm trừu tượng có vai trò quan trọng
+ Bài tập thí nghiệm kiểm tra đánh giá
Trong dạy học Sinh học, việc kểm tra đánh giá được tiến hành thường xuyên và định kì với nhiều hình thức: kiểm tra miệng, viết, trắc nhiệm khách
Trang 25quan…Công việc kiểm tra đó cũng có thể thực hiện thông qua các bài tập thí nghiệm vì vừa có tác dụng kiểm tra được kiến thức, vừa kiểm tra được kỹ năng, vừa sinh động hấp dẫn đối với học sinh [2, 15, 22, 29]
c, Để hình thành, phát triển kĩ năng tư duy cho học sinh
+ Bài tập rèn luyện kỹ năng phân tích thí nghiệm
Đối với bài tập này yêu cầu học sinh phải phân tích được mục đích của các thí nghiệm, các điều kiện tiến hành thí nghiệm, kết quả thí nghiệm, trên
cơ sở đó giải thích được kết quả của các thí nghiệm đã tiến hành Từ đó rút ra được kiến thức cơ bản cần khám phá
+ Bài tập rèn luyện kỹ năng so sánh kết quả thí nghiệm
Phân tích được các thí nghiệm tiến hành, so sánh sự giống nhau và khác nhau về kết quả giữa các thí nghiệm hoặc giữa thí nghiệm và đối chứng, giải thích được vì sao có sự giống nhau và khác nhau đó Rút ra kết luận về kiến thức
+ Bài tập rèn luyện kỹ năng phán đoán kết quả thí nghiệm
Học sinh phải phân tích các điều kiện thí nghiệm, các hiện tượng (nếu có) để đưa ra các phán đoán về kết quả thí nghiệm Đưa ra được lí do vì sao
có sự phán đoán đó.Làm thí nghiệm để kiểm chứng các phán đoán
+Bài tập rèn luyện kỹ năng thiết kế thí nghiệm
Học sinh trình bày được mục đích thí nghiệm, dụng cụ và vật liệu tiến hành thí nghiệm, mô tả được cách tiến hành thí nghiệm hoặc cách thức bố trí thí nghiệm, tiến hành thí nghiệm và giải thích được kết quả thí nghiệm Đối với dạng bài tập này học sinh có thể đưa ra nhiều phương án thí nghiệm khác nhau nhưng nếu đúng đều có thể chấp nhận, đây là một trong số các bài tập
phát huy được tính sáng tạo của học sinh một cách có hiệu quả
Tóm lại, bài tập thí nghiệm cung cấp cho học sinh cả kiến thức, cả phương thức giành lấy kiến thức và mang lại niềm vui trong học tập của sự phát hiện Do đó, bài tập thí nghiệm vừa là mục đích, vừa là nội dung, vừa là phương pháp dạy học hiệu nghiệm nhằm phát huy tính tích cực sáng tạo của
Trang 26học sinh và rèn luyện được các kỹ năng kỹ xảo cần thiết Bài tập thí nghiệm
có tác dụng toàn diện về cả 3 mặt: giáo dục, giáo dưỡng, giáo dục kỹ thuật tổng hợp, đáp ứng được yêu cầu đổi mới phương pháp dạy và học hiện nay
1.1.2 Kỹ năng học tập của học sinh
1.1.2.1 Kỹ năng
Có nhiều quan điểm khác nhau về kỹ năng nhưng tựu trung lại, bất kì
kỹ năng nào cũng dựa trên cơ sở lý thuyết - đó là kiến thức Mỗi kỹ năng chỉ được biểu hiện thông qua một nội dung, tác động của kỹ năng lên nội dung chúng ta sẽ đạt được mục tiêu đặt ra
Mục tiêu = Kỹ năng x Nội dung [16]
1.1.2.2 Kỹ năng học tập
Kỹ năng học tập là khả năng của con người thực hiện có kết quả các hành động học tập phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh nhất định, nhằm đạt tới mục đích, nhiệm vụ đề ra
Trong hệ thống kỹ năng học tập, có những kỹ năng khái quát chung cho mọi môn học (kỹ năng chung) và có những kỹ năng đặc thù cho môn học
Đối với học sinh trung học phổ thông (THPT), có hệ thống kỹ năng học tập chung như sau:
1 Các kỹ năng học tập phục vụ chức năng nhận thức liên quan đến việc thu thập, xử lí, sử dụng thông tin: Kỹ năng làm việc với sách giáo khoa, kỹ năng quan sát, kỹ năng tiến hành thí nghiệm, kỹ năng phân tích- tổng hợp, kỹ năng so sánh, kỹ năng phán đoán- suy luận, kỹ năng khái quát hóa, kỹ năng vận dụng các kiến thức đã học…
2 Các kỹ năng học tập phục vụ chức năng tổ chức, tự điều chỉnh quá trình học tập liên quan đến việc quản lí phương tiện học tập, thời gian, sự hỗ trợ từ bên ngoài và chất lượng: Kỹ năng tự kiểm tra, tự đánh giá, kỹ năng tự điều chỉnh…
3 Các kỹ năng phục vụ chức năng tương tác trong học tập hợp tác: Kỹ năng hợp tác, kỹ năng học nhóm….[5, 13]
Trang 27Trong hệ thống kỹ năng trên, chúng tôi quan tâm đến việc xây dựng và thiết kế các bài tập thí nghiệm để rèn luyện một số kỹ năng tư duy trong nhóm
Tổng hợp là sự liên kết các yếu tố riêng lẽ đã biết thành cái toàn bộ Sản phẩm của sự tổng hợp không phải là cái toàn bộ ban đầu mà là cái toàn
bộ đã được nhận thức tới các yếu tố, các mối quan hệ giữa các yếu tố trong sự thống nhất của chúng
Phân tích và tổng hợp là hai mặt của một quá trình thống nhất Phân tích là cơ sở của tổng hợp, được tiến hành theo hướng dẫn đến sự tổng hợp
Sự tổng hợp diễn ra trên cơ sở sự phân tích Phân tích và tổng hợp nhiều khi xen kẽ nhau Phân tích càng sâu bao nhiêu thì sự tổng hợp càng đầy đủ bấy nhiêu, tri thức, sự vật, hiện tượng càng phong phú bấy nhiêu.[2, 26]
Phân tích - tổng hợp trong Sinh học thường được dùng để phân tích cấu tạo, cơ quan…, phân tích thí nghiệm, phân tích cơ chế, quá trình Trong giới hạn của luận văn, chúng tôi chỉ chú ý kỹ năng phân tích thí nghiệm Sinh học
Kỹ năng phân tích thí nghiệm là kỹ năng phân tích các yếu tố cấu thành nên thí nghiệm, các điều kiện thí nghiệm, sự tương tác giữa các yếu tố thí nghiệm
để tạo ra kết quả thí nghiệm, qua đó rút ra được kết luận phù hợp, giải thích được các kết quả thí nghiệm
b, Kỹ năng so sánh
Trong nhận thức cùng với sự hiểu biết về sự vật, hiện tượng là cái gì và như thế nào, còn phải hiểu sự vật hiện tượng này không giống sự vật hiện tượng khác ở chỗ nào thì phải sử dụng đến phương pháp so sánh
So sánh là sự phân tích những điểm giống nhau và khác nhau giữa các đối tượng, nhằm phân loại sự vật hiện tượng thành các loại khác nhau
Trang 28Tùy mục đích mà phương pháp so sánh có thể nặng về tìm sự giống nhau hay khác nhau So sánh điểm khác nhau chủ yếu dùng trong phân tích,
so sánh điểm giống nhau thường dùng trong tổng hợp
Trong thực nghiệm về Sinh học người ta thường dùng cách so sánh có đối chứng, nghĩa là so sánh kết quả của hai đối tượng cùng loại, có đặc điểm hoặc sự tác động trái ngược nhau
Qua so sánh giúp học sinh phân biệt, hệ thống hóa và củng cố các khái niệm [3, 2]
c, Kỹ năng phán đoán- suy luận
Theo từ điển Tiếng Việt, phán đoán là sự xét đoán, nhận định
Phán đoán là một hình thức của tư duy trừu tượng nhằm xác nhận hay phủ nhận mối quan hệ bản chất của các sự vật, hiện tượng được phản ánh
Kỹ năng phán đoán là năng lực sử dụng các dữ kiện, các tri thức hay khái niệm thuộc lĩnh vực chuyên môn đã có; năng lực vận dụng chúng để phát hiện ra các thuộc tính bản chất của các sự vật hiện tượng; đưa ra những xét đoán hoặc nhận định nhằm giải quyết các nhiệm vụ lí luận hay thực hành xác định
Suy luận cũng là một hình thức của tư duy Từ một hay nhiều phán đoán đã có, rút ra được một phán đoán mới theo các quy tắc logic xác định
Bất kì suy luận nào cũng gồm tiền đề, kết luận và lập luận Tiền đề (phán đoán xuất phát) là phán đoán chân thực từ đó rút ra phán đoán mới Kết luận là phán đoán mới thu được bằng con đường logic từ các tiền đề Cách thức logic rút ra kết luận từ các tiền đề gọi là lập luận
Quan hệ suy diễn logic giữa các tiền đề và kết luận được quy định bởi mối quan hệ các tiền đề về mặt nội dung Nếu các phán đoán không có sự liên
hệ về mặt nội dung thì không thể lập luận để rút ra kết luận
Căn cứ vào cách thức lập luận, suy luận được chia thành suy luận diễn dịch và suy luận quy nạp Suy luận diễn dịch là suy luận trong đó lập từ cái chung đến cái riêng, cái đơn nhất Suy luận quy nạp là suy luận trong đó lập
từ cái riêng, cái đơn nhất đến cái chung
Trang 29Trong dạy học bằng phương pháp thí nghiệm, cần phải chú ý rèn luyện
tư duy bằng phương pháp suy luận quy nạp [5, 23, 25]
d, Kỹ năng thiết kế thí nghiệm
Thí nghiệm là phương pháp cơ bản đặc trưng cho hoạt động nghiên cứu và dạy học Sinh học Thí nghiệm là mô hình nhân tạo mô phỏng các quá trình cơ chế sinh học để qua đó con người hiểu biết bản chất của hiện tượng, của đối tượng sống Các hiện tượng sinh học thường xảy ra đồng thời làm khó khăn cho việc xác định các mối quan hệ phức tạp tạo nên hiện tượng đó, trong đó mối quan hệ nguyên nhân - kết quả có ý nghĩa nhận thức quan trọng nhất Để nhận thức chúng, chủ thể nhận thức phải chủ động trên cơ sở giả thiết khoa học tách ra từng hiện tượng nghiên cứu, để rồi sau đó lại đặt
nó vào hệ thống các hiện tượng vốn có của sự vật giúp ta hiểu được nó một cách đầy đủ hơn
Khi thiết kế thí nghiệm học sinh có thể dựa vào các dụng cụ, thiết bị thí nghiệm đã cho sẵn, hoặc có thể tự nghĩ ra dụng cụ thiết bị để thiết kế một thí nghiệm nhằm kiểm tra một phán đoán, một mệnh đề nào đó [2, 15]
Trong dạy học Sinh học việc rèn luyện cho học sinh tự mình đề xuất các phương án thí nghiệm, tự bố trí thí nghiệm và tự giải thích thí nghiệm là một vấn đề rất quan trọng Qua đó, giúp các em phát huy được tính sáng tạo, tính tự lập trong học tập và nghiên cứu khoa học
1.1.2.4 Rèn luyện kỹ năng cho học sinh
Theo Geoffrey Petty (1998) qui trình rèn luyện một kỹ năng gồm có
8 bước:
Bước 1: Giải thích - Giáo viên giúp học sinh hiểu vì sao phải có kỹ
năng đó? Vị trí của kỹ năng đó trong hoạt động nghề nghiệp tương lai? Kỹ năng đó liên quan đến kiến thức lí thuyết nào đã học? Có thể kiểm tra thăm dò học sinh đã biết chút ít gì về kỹ năng sắp học hay chưa?
Bước 2: Làm chi tiết - Học sinh được xem trình diễn mẫu một cách
chi tiết, chính xác để có một mô hình bắt chước Cần tạo cho học sinh nắm bắt
Trang 30những chi tiết mấu chốt của kỹ năng như cho băng hình quay chậm hoặc dừng lại, giáo viên đặt câu hỏi gợi mở để học sinh phát hiện ra những chi tiết quan trọng nhất
Bước 3: Sử dụng kinh nghiệm mới học -Học sinh thử làm theo mẫu
được xem
Bước 4: Kiểm tra và hiệu đính - Giáo viên tạo cơ hội để học sinh tự
kiểm tra phát hiện những chỗ là sai của chính mình và biết cần hiệu chỉnh ở chỗ nào Giáo viên cần giám sát, giúp đỡ nếu học sinh không tự phát hiện được, đặc biệt là các kỹ năng phức tạp
Bước 5: Hỗ trợ trí nhớ - Học sinh cần có những phương tiện ghi nhớ
điểm then chốt, ví dụ phiếu ghi tóm tắt, tờ rơi ghi sơ đồ các thao tác, băng ghi
âm, ghi hình
Bước 6: Ôn tập và sử dụng lại - Đây là việc cần thiết để củng cố
những kỹ năng đã học được
Bước 7: Đánh giá - Là khâu do người đào tạo thực hiện để xem học
sinh đã đạt yêu cầu hay chưa Việc đánh giá phải trung thực để phát hiện đúng những người đã đạt yêu cầu để người dạy và người học đều an tâm với kết quả đào tạo, đồng thời phải phát hiện đúng những người chưa đạt yêu cầu để
có trách nhiệm đào tạo bổ sung
Bước 8: Thắc mắc - Giáo viên cần tạo điều kiện cho học sinh nêu câu
hỏi khi học sinh có nhu cầu cần hỏi Cơ hội nhất là ở giai đoạn “tập sử dụng
kỹ năng”, khi đó giáo viên nên đi lại trong lớp kiểm tra các thao tác thực hành
kỹ năng của học sinh và trả lời thắc mắc cho các em [16]
1.1.2.5 Các yêu cầu khi sử dụng bài tập thí nghiệm để rèn luyện một số
kỹ năng tư duy cho học sinh
- Phải phù hợp với nội dung chương trình, bài học
- Gần gũi với đời sống thực tiễn của học sinh
- Phải phù hợp với trình độ học sinh
- Các dụng cụ, thiết bị thí nghiệm đơn giản, dễ tìm, các thao tác thí nghiệm không quá khó
Trang 31- Tạo khả năng để học sinh đưa ra nhiều giải pháp khi giải bài tập
- Rèn luyện được một kỹ năng nào đó
- Khắc sâu một kiến thức lí thuyết nhất định
Khi xây dựng các bài tập thí nghiệm cần chú ý:
+ Xác định được chủ đề của bài tập thí nghiệm
+ Xác định được mục đích dạy học thông qua bài tập thí nghiệm
+ Nội dung của bài tập thí nghiệm: Nội dung của bài tập cần phải đầy
đủ thông tin, dữ kiện, yếu tố cấu thành thí nghiệm để phân tích và giải quyết bài tập
+ Nhiệm vụ học sinh cần giải quyết [6, 19]
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
Để có cơ sở thực tiễn của đề tài, chúng tôi tiến hành quan sát sư phạm, tham khảo giáo án, dự giờ, trao đổi ý kiến với một số giáo viên bộ môn, dùng phiếu thăm dò ý kiến của giáo viên, phiếu điều tra học sinh ở một số trường THPT của tỉnh Nghệ An nhằm thu thập số liệu cụ thể về thực trạng dạy và học Sinh học ở trường THPT hiện nay
1.2.1 Thực trạng dạy- học Sinh học
1.2.1.1 Thực trạng giảng dạy của giáo viên
Chúng tôi sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến của 28 giáo viên THPT ở huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An Kết quả thăm dò thu được
Trang 32Bảng 1.1 Kết quả điều tra về phương pháp giảng dạy của giáo viên
TT Phương pháp
Mức độ sử dụng Thường
xuyên Không t xuyên Không sử dụng
Qua bảng 1.1 chúng tôi nhận thấy, việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực còn ở mức hạn chế, đặc biệt là phương pháp dạy học có sử dụng thí nghiệm để kích thích tính tích cực hoạt động độc lập và sáng tạo
của học sinh
Bảng 1.2 Kết quả điều tra về phương pháp sử dụng bài tập
thí nghiệm trong dạy học Sinh học ở các trường THPT
Phương pháp sử dụng
Thường xuyên
Không t.xuyên Ít sử dụng
Không sử dụng
Trang 33Qua bảng 1.2, chúng tôi nhận thấy đa số giáo viên thường xuyên sử dụng bài tập thí nghiệm ở khâu củng cố - hoàn thiện kiến thức Còn ở khâu nghiên cứu bài học mới và khâu kiểm tra đánh giá hầu như chưa được chú trọng thực hiện (có 78,6% giáo viên không sử dụng bài tập thực hành thí nghiệm ở khâu nghiên cứu kiến thức mới và 67,9% không sử dụng cho khâu kiểm tra đánh giá)
1.2.1.2 Ý kiến của học sinh về các phương pháp giảng dạy của giáo viên
Để có sự đánh giá khách quan, chúng tôi dùng phiếu điều tra để điều tra
450 học sinh ở 3 trường của huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An và thu được
số liệu như sau:
Bảng 1.3 Kết quả điều tra ý kiến của học sinh về các
phương pháp giảng dạy của giáo viên
nghiệm chưa được quan tâm đúng mức
Trang 341.2.1.3 Ý kiến của giáo viên về sự cần thiết của việc rèn luyện các kỹ năng học tập cho học sinh
Chúng tôi dùng phiếu điều tra để điều tra 28 giáo viên ở 7 trường THPT của huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An và thu được số liệu như sau:
Bảng 1.4 Kết quả điều tra ý kiến của giáo viên về sự cần thiết
của việc rèn luyện kỹ năng cho học sinh
1.2.1.4 Thực trạng việc rèn luyện một số kỹ năng tư duy cho học sinh
Bảng 1.5 Kết quả điều tra thực trạng rèn luyện
một số kỹ năng tư duy cho học sinh
Rất thường xuyên Thường xuyên Thỉnh thoảng Chưa bao giờ
Qua bảng 1.4 và 1.5, chúng tôi nhận thấy hầu hết giáo viên đều nhận thức được sự cần thiết của việc rèn luyện kỹ năng cho học sinh Tuy nhiên thực trạng rèn luyện một số kỹ năng tư duy cho học sinh của một số giáo viên chưa thật sự đồng bộ và chưa có giải pháp hợp lí đối với vấn đề này
1.2.1.5 Thực trạng học tập của học sinh
Chúng tôi tiến hành điều tra thực trạng biểu hiện tính tích cực học tập của học sinh đối với bộ môn Sinh học ở 3 trường ở tỉnh Nghệ An: THPT Nam Đàn 1, THPT Nguyễn Sỹ Sách, THPT Đặng Thúc Hứa với số lượng học sinh điều tra là 450 học sinh
Trang 35Bảng 1.6 Kết quả điều tra về học tập của học sinh
D Không có tác dụng tốt với nghề nghiệp sau này 25 19,9
A Nghe giảng, ghi chép, xây dựng bài 185 41,1
B Nghe giảng, ghi chép, không xây dựng bài 235 52,2
C Nghe giảng, không ghi chép, thỉnh thoảng nói
B Thí nghiệm do đại diện học sinh của lớp làm,
C Thí nghiệm do học sinh tự làm, tự nghiên cứu 253 56,2
D Thí nghiệm tưởng tượng do thầy giáo nêu ra, học sinh nghiên cứu và rút ra kết luận 60 13,3
Trang 36Qua bảng 1.6 chúng tôi nhận thấy rằng phần lớn các em học sinh ở một
số trường trung học phổ thông của huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An yêu thích bộ môn Sinh học (54,4%), có 28% không yêu thích bộ môn Sinh học và một phần nhỏ chưa khẳng định được có yêu thích hay không (17,6%)
Về hoạt động trong giờ học Sinh học: đa số các em còn thụ động trong các giờ học Sinh học, không tham gia phát biểu xây dựng bài và không tập trung
Về giờ học Sinh học yêu thích nhất: phần lớn các em đều yêu thích giờ học có sử dụng các phương tiện trực quan như: thí nghiệm, sơ đồ, máy tính, máy chiếu Đối với phương pháp thí nghiệm, hầu hết các em đều thích sử dụng thí nghiệm do bản thân tự làm và tự nghiên cứu Điều đó chứng tỏ rằng các em đều mong muốn bản thân được chủ động trong việc khám phá kiến thức và tìm kiếm kiến thức mới
Bảng 1.7 Kết quả điều tra ý kiến đánh giá của giáo viên
về kỹ năng học tập của học sinh
và cần thiết
1.2.2 Nguyên nhân của thực trạng dạy - học Sinh học nói trên
* Về phía giáo viên
- Đa số giáo viên đã quá quen thuộc với phương pháp dạy học truyền thống thuyết trình, giảng giải Do vậy khi sử dụng phương pháp phát huy tính tích cực của học sinh phần lớn tỏ ra lúng túng Nhiều giáo viên chưa quan tâm đến phương pháp thí nghiệm và sử dụng bài tập thí nghiệm trong giảng dạy Sinh học Một phần do năng lực thực hành của giáo viên còn hạn chế, phần
Trang 37khác trang thiết bị thực hành thí nghiệm ở nhiều trường còn thiếu hụt trầm trọng, chưa có nhân viên phụ trách thí nghiệm chuyên trách
- Có một số giáo viên dạy chưa hấp dẫn, ít tạo điều kiện để cho học sinh phát biểu xây dựng bài, tạo cho các em thụ động trong học tập, chưa phát huy được tính tích cực hoạt động độc lập của học sinh
- Nhiều giáo viên chưa thật sự chú trọng việc rèn luyện kỹ năng học tập cho học sinh, dẫn đến kỹ năng học tập của học sinh vẫn còn ở mức trung bình
* Về phía học sinh
- Năng lực thực hành của nhiều học sinh còn hạn chế, không đồng đều
Vì vậy việc tổ chức giờ dạy có sử dụng bài tập thí nghiệm gặp không ít khó khăn, nên giáo viên ngại khai thác
- Nhiều học sinh chưa có phương pháp học tập phù hợp nên cảm thấy khó học
* Nguyên nhân khách quan
- Môn Sinh chỉ được vận dụng để thi Đại học khối B hoặc một số trường Cao đẳng, Trung cấp, nên khó chọn nghề, chọn trường để thi so với các môn tự nhiên khác Vì vậy các em chỉ xem môn Sinh là môn phụ và không dành thời gian, công sức để đầu tư học tập như các môn khác
- Do phân phối chương trình chưa hợp lí, có nhiều tiết học có thể sử dụng thí nghiệm thực hành thì chứa đựng khối lượng kiến thức khá lớn, nên việc sử dụng thí nghiệm thực hành rất khó thực hiện
- Chế độ thi cử còn nặng về lý thuyết, chưa quan tâm đến thí nghiệm thực hành Các dạng bài tập thí nghiệm chưa được đưa vào trong kiểm tra - đánh giá, có chăng chỉ trong các kì thi học sinh giỏi
- Loại bài tập thí nghiệm đòi hỏi cần nhiều công đoạn, đầu tư cần nhiều thời gian công sức hơn so với các loại bài tập khác Việc giải bài tập này khá phức tạp, đòi hỏi giáo viên phải có trình độ chuyên môn, có năng lực xử lí tình huống tốt và năng lực thực hành vững vàng
- Nhà trường chưa chú trọng việc mua sắm thiết bị thí nghiệm và chưa khuyến khích được giáo viên tích cực sử dụng thiết bị dạy học
Trang 38KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Từ nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài cho thấy:
- Bài tập thí nghiệm có ý nghĩa rất lớn về cả 3 mặt: giáo dục, giáo dưỡng và kỹ thuật tổng hợp đối với học sinh
- Bài tập thí nghiệm có thể sử dụng ở khâu nghiên cứu bài học mới, củng cố và kiểm tra đánh giá
- Qua khảo sát thực trạng dạy - học ở các trường trung học phổ thông cho thấy: việc sử dụng bài tập thí nghiệm trong dạy học của giáo viên còn hạn chế, việc rèn luyện các kỹ năng tư duy chưa thật sự chú trọng
Từ những vấn đề trên, chúng tôi thấy việc nghiên cứu, thiết kế các bài tập thí nghiệm rèn luyện một số kỹ năng tư duy cho học sinh là một trong những biện pháp góp phần tích cực hóa hoạt động nhận thức và rèn luyện được các kỹ năng học tập cho học sinh
Như vậy, qua chương này chúng tôi đã làm sáng tỏ được vai trò và phương pháp sử dụng bài tập thí nghiệm, làm sáng tỏ khái niệm về kỹ năng,
kỹ năng học tập và hệ thống hóa được một số kỹ năng nhận thức Đây là những cơ sở lí luận soi đường để chúng tôi sưu tầm, xây dựng các bài tập thí nghiệm, sử dụng các bài tập thí nghiệm phù hợp Đồng thời cũng qua chương này, chúng tôi đã bổ sung và làm sáng tỏ một số kỹ năng tư duy cần rèn luyện cho học sinh như: kỹ năng phân tích thí nghiệm, so sánh kết quả thí nghiệm, phán đoán kết quả thí nghiệm, thiết kế thí nghiệm; các yêu cầu của bài tập thực hành rèn luyện một số kỹ năng tư duy cho học sinh Phân tích được thực trạng và nguyên nhân của thực trạng dạy - học Sinh học, trên cơ sở đó thấy được tính cấp thiết của việc xây dựng các bài tập thực hành rèn luyện các kỹ năng tư duy thực nghiệm cho học sinh
Trang 39CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP THÍ NGHIỆM ĐỂ RÈN LUYỆN MỘT SỐ KỸ NĂNG TƯ DUY TRONG DẠY - HỌC PHẦN CẢM ỨNG
SINH HỌC 11 -TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
2.1 Cấu trúc nội dung chương trình sinh học phần cảm ứng sinh học 11-THPT và các kỹ năng tư duy cần rèn luyện cho học sinh
2.1.1 Mục tiêu dạy học phần cảm ứng
* Cảm ứng ở thực vật
- Nêu được khái niệm cảm ứng
- Nêu được khái niệm hướng động
- Nêu được các kiểu hướng động
- Phân biệt được ứng động sinh trưởng và ứng động không sinh trưởng Cho ví dụ cụ thể
- Nêu được vai trò của cảm ứng đối với thực vật
- Làm được một số thí nghiệm về hướng động
* Cảm ứng ở động vật
- Phân biệt được đặc điểm cảm ứng của động vật so với thực vật
- Trình bày được sự tiến hóa trong các hình thức cảm ứng ở các nhóm động vật có trình độ tổ chức khác nhau (làm rõ các mức độ tiến hóa)
- Nêu được khái niệm điện sinh học, phân biệt được khái niệm điện tĩnh
và điện động
- Mô tả được sự dẫn truyền xung thần kinh trên sợi trục (có bao mieelin
và không bao miêlin) và chuyển xung thần kinh qua xinap
- Nêu được khái niệm tập tính ở động vật
- Nêu các dạng tập tính chủ yếu ở động vật
- Phân biệt được tập tính bẩm sinh và tập tính học được
- Trình bày được một số ứng dụng của tập tính vào thực tiễn đời sống
- Phân biệt được một số hình thức học tập ở động vật
Trang 402.1.2 Cấu trúc, nội dung chương trình Sinh học phần cảm ứng sinh học 11-THPT có thể thiết kế bài tập thí nghiệm
Trong cả 2 bộ SGK sinh học 11 (bộ nâng cao và cơ bản) các kiến thức
về tính cảm ứng của sinh vật được trình bày khá logic và đầy đủ ở chương II: Cảm ứng Tính cảm ứng của sinh vật được làm tương đối rõ ở hai phần:
Phần A: Cảm ứng ở thực vật
Nghiên cứu các hình thức cảm ứng ở thực vật: Hướng động, Ứng động
và vai trò của chúng trong đời sống thực vật, thực hành hướng động
Phần B: Cảm ứng ở động vật
Nghiên cứu tính cảm ứng ở động vật ở tổ chức thần kinh từ thấp đến cao, từ hệ thần kinh dạng lưới → dạng chuỗi hạch → dạng ống, sự hình thành điện thế nghỉ, điện thế hoạt động và sự lan truyền xung thần kinh, quá trình truyền tin qua xináp, tập tính của động vật, thực hành xem phim về tập tính của động vật
* Đặc điểm cấu trúc, nội dung chương trình sinh học 11- THPT
* Về cấu trúc - nội dung
- Nội dung chương trình sách giáo khoa sắp xếp theo trật tự các cấp độ
tổ chức sống thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Sinh học 10 nghiên cứu các khái niệm, cơ chế, quá trình sinh học ở cấp độ tế bào và sinh học vi sinh vật Sinh học 11 nghiên cứu các cơ chế, quá trình sinh học xảy ra ở cấp
độ cơ thể Sinh học 12 nghiên cứu các quá trình ở cấp độ quần thể và trên quần thể
- Sinh học 11 nghiên cứu các khái niệm, cơ chế, quá trình sinh học ở cấp độ cơ thể Nghiên cứu bốn đặc trưng cơ bản của một cơ thể sống: chuyển hóa vật chất và năng lượng, Cảm ứng, Sinh trưởng và phát triển và Sinh sản.Ở mỗi đặc trương sống nghiên cứu của cả giới động vật và giới thực vật Cách sắp xếp như vậy giúp học sinh có cái nhìn rõ hơn về sự sống cấp cơ thể cũng như có thể nhìn thấy rõ rằng dù tiến hóa theo chiều hướng nào thì một cơ thể