Vào thời gian nông nhàn, cộng đồng dân tộc vào rừng săn bắt thú, kiếm cá ngoài suối hay thu hái các loại lâm sản phụ như măng tre, rau rừng, mật ong,… Kiến thức sử dụng các loài thực vật
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÔ VĂN THANH
ĐA DẠNG CÁC LOÀI CÂY RỪNG ĂN ĐƯỢC CỦA NGƯỜI H’MÔNG VÀ NGƯỜI THÁI Ở XÃ TAM HỢP,
HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SỸ SINH HỌC
Nghệ An, 8/2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÔ VĂN THANH
LUẬN VĂN THẠC SỸ SINH HỌC
Giáo viên hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Anh Dũng
Nghệ An, 8/2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn tận tình, giúp
đỡ chu đáo của TS Nguyễn Anh Dũng, xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của quý thầy cô giáo bộ môn Thực vật, Khoa Sinh học, trường Đại học Vinh
Qua đây tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Sau đại học, Ban Chủ nhiệm khoa Sinh học; Ban lãnh đạo, các phòng chuyên môn, Vườn Quốc gia Pù Mát, Trạm Quản lý bảo vệ rừng Pù Mát, Trạm Quản lý rừng phòng hộ đóng tại xã Tam Hợp, UBND xã Tam Hợp và đặc biệt cảm ơn Ban Quản lý và nhân dân hai bản: Phà Lõm và Văng môn, đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới tất cả những người thân trong gia đình, bạn
bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài luận văn của mình
Tôi xin trân trọng cảm ơn! Nghệ An, tháng 8 năm 2016
Tác giả
Lô Văn Thanh
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Khái niệm, phân loại và giá trị của các loài cây rừng ăn được 3
1.1.1 Khái niệm cây rừng ăn được 3
1.1.2 Phân loại loài cây rừng ăn được 4
1.1.3 Giá trị các loài cây rừng ăn được 5
1.2 Tình hình nghiên cứu về các loài cây rừng ăn được trên thế giới 8
1.3 Các nghiên cứu về cây rừng ăn được ở Việt Nam 9
1.4 Tình hình nghiên cứu về cây rừng ăn được ở miền tây Nghệ An 12
1.5 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của khu vực nghiên cứu 15
1.5.1 Điều kiện tự nhiên 15
1.5.2 Điều kiện Kinh tế - Xã hội 19
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22 2.1 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 22
2.2 Nội dung nghiên cứu 22
2.3 Phương pháp nghiên cứu 22
2.3.1 Phương pháp kế thừa 22
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu 22
2.3.3 Phương pháp xác tên khoa học 23
2.3.4 Lập danh lục thành phần loài và chỉnh lý tên khoa học 24
2.3.5 Phương pháp đánh giá đa dạng thực vật 24
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 25
3.1 Đa dạng về các taxon phân loại 25
3.2 Đa dạng về mục đích sử dụng, nơi sống, dạng thân và bộ phận sử dụng 37
3.2.1 Đa dạng về mục đích sử dụng 37
3.2.2 Đa dạng về nơi sống 38
Trang 53.2.3 Đa dạng về dạng thân 39
3.2.4 Đa dạng về bộ phận thu hái 40
3.3 Hiện trạng khai thác, sử dụng cây rừng ăn được ở Tam Hợp 42
3.3.1 Tình hình khai thác, sử dụng cây rừng ăn được của người Thái ở Tam Hợp 42
3.3.2 Tình hình khai thác, sử dụng cây rừng ăn được của người H’mông ở Tam Hợp 44
3.3.3 Tình trạng khai thác cây rừng ăn được ở Tam Hợp 47
3.4 Các loài có giá trị và các đề xuất bảo tồn, phát triển 48
3.4.1 Nhóm loài trong danh mục ưu tiên bảo tồn 48
3.4.2 Các loài cây ăn được được khai thác phổ biến 49
3.4.3 Nhóm loài có giá trị kinh tế và có khả năng gây trồng 51
3.5 Khai thác và quản lý bền vững cây rừng ăn được 54
3.5.1 Nguyên nhân chính và các vấn đề tồn tại 54
3.5.2 Đề xuất các giải pháp khai thác và sử dụng bền vững các loài cây ăn được 54
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 56
1 Kết luận 56
2 Kiến nghị 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
PHỤ LỤC CÁC HÌNH ẢNH THU MẪU TẠI KHU VỰC NGHIÊN CỨU
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Phân bố về số lượng và tỷ lệ họ, chi, loài của các cây ăn được 24 Bảng 3.2 Các họ nhiều loài ăn được ở Tam Hợp 25 Bảng 3.3 Danh lục cây rừng ăn được của người H’mông và người
Thái ở xã Tam Hợp, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An
Tam Hợp
40
Bảng 3.8 Các loài cây ăn được trong Sách Đỏ Việt Nam 49 Bảng 3.9 Các loài cây ăn được được khai thác phổ biến ở Tam Hợp 49 Bảng 3.10 Các loài cây rừng ăn được có tại địa phương, có giá trị và
kết quả bình chọn về khả năng gây trồng tại địa phương
53
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang Hình 1.1 Bản đồ hành chính huyện Tương Dương……… 17 Hình 3.1 Tỷ lệ họ, chi, loài cây ăn được trong các ngành ……… 24 Hình 3.2 Tỷ lệ số lượt loài cây ăn được phân theo mục đích sử dụng 37 Hình 3.3 Tỷ lệ % số lượng loài được phân theo nơi sống………… 38 Hình 3.4 Tỷ lệ các nhóm cây ăn được phân nhóm theo dạng thân 40 Hình 3.5 Số loài cây ăn được ở Khu vực nghiên cứu phân nhóm theo
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Bộ KH&CN : Bộ Khoa học và Công nghệ
Bộ TN&MT : Bộ Tài nguyên và Môi trường
Bộ NN&PTNT : Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
FAO : Tổ chức lương thực, nông nghiệp của Liên hợp quốc HST : Hệ sinh thái
IUCN : International Union for Conservation of Nature and
Natural Resources (Tổ chức quốc tế về bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên thiên nhiên)
KBTTN : Khu bảo tồn thiên nhiên
KVNC : Khu vực nghiên cứu
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Rừng là nơi chứa đựng rất nhiều nguồn tài nguyên quí giá, cung cấp cho con người những nhu cầu thiết yếu như lương thực, thực phẩm, dược liệu và các nguyên liệu khác phục vụ cho các hoạt động phát triển Truyền thống của các nhóm người dân tộc thiểu số sống ở gần rừng là khai thác các loại tài nguyên rừng để sử dụng cho mọi mục đích trong cuộc sống của mình Tài nguyên rừng
là thức ăn, thuốc chữa bệnh, sợi dệt, vật liệu xây dựng, nguyên liệu đan lát đồ gia dụng, thuốc diệt côn trùng, ký sinh trùng, Trước sức ép ngày càng lớn của dân số và nhu cầu tiêu dùng, nguồn tài nguyên quí giá này đang ngày càng bị cạn kiệt do các hoạt động khai thác và sử dụng không bền vững của con người Những nỗ lực của chúng ta trong thời gian qua trong công tác bảo vệ và phát triển rừng chủ yếu nhằm vào động vật hoang dã và gỗ, trong khi đó nhiều sản phẩm không phải là gỗ như thức ăn, thuốc chữa bệnh và bồi bổ sức khỏe, sợi dệt, sợi đan lát, hương liệu, dầu nhựa, cây cảnh, hoa cảnh, lá gói, đã cung cấp cho con người một lượng lớn các sản phẩm có giá trị kinh tế và giá trị sử dụng thì lại chưa được quan tâm, bảo vệ và phát triển đúng mức
Khi các Vườn quốc gia, Khu bảo tồn được thành lập, nguồn tài nguyên gỗ
và động vật hoang dã được quản lý chặt chẽ hơn, người dân địa phương ít có cơ hội khai thác tài nguyên rừng, họ trở nên thiếu việc làm và thu nhập, ruộng nương ngày càng ít, dân số và nhu cầu ngày một tăng, làm sự phụ thuộc của họ vào rừng ngày càng lớn, đặc biệt là với các nhóm người dân tộc thiểu số Trong nhiều năm gần đây, họ khai thác các loại tài nguyên rừng không chỉ để phục vụ cho cuộc sống mà còn để bán, trong đó có nhiều loài rau, củ, quả, thân, lá, rễ của các loài cây rừng, đây không chỉ là thức ăn của người dân vùng trên mà còn
là đặc sản được người miền xuôi ưa chuộng, ngày càng được bán nhiều trên thị trường Tuy nhiên, hiện trạng này có thể dẫn tới việc khai thác cạn kiệt và ảnh hưởng xấu đến các loài cây rừng ăn được
Trang 10Xã Tam Hợp nằm trong khu vực vùng đệm Vườn Quốc gia Pù Mát có cộng đồng dân tộc Thái, H’Mông, Tày pỏng sinh sống và gắn bó với rừng từ lâu đời Vào thời gian nông nhàn, cộng đồng dân tộc vào rừng săn bắt thú, kiếm cá ngoài suối hay thu hái các loại lâm sản phụ như măng tre, rau rừng, mật ong,… Kiến thức sử dụng các loài thực vật từ rừng làm thực phẩm của cộng đồng người dân tộc là sản phẩm kết tinh văn hóa và kinh nghiệm qua nhiều thế hệ gắn bó với rừng và thiên nhiên Tuy nhiên trong khi thu hái, người dân địa phương chưa chú ý đến khai thác bền vững dẫn đến nguồn tài nguyên giá trị này đang dần cạn kiệt Nhằm cung cấp những dữ liệu cơ bản về nguồn tài nguyên cây rừng ăn được, từ đó làm cơ sở đề xuất một số biện pháp bảo tồn và phát triển một số loài
có giá trị tại khu vực nhằm sử dụng hợp lý và phát triển bền vững tài nguyên rừng, góp phần cải thiện kinh tế hộ gia đình, tăng lượng hàng hóa trao đổi của huyện vùng biên giới huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An, tác giả đã thực hiện
đề tài “Đa dạng các loài cây rừng ăn được của người H ’ Mông và người Thái
ở xã Tam Hợp, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An”
2 Mục tiêu
Điều tra lập danh lục thực vật và đánh giá tính đa dạng các loài cây rừng
ăn được của người H’Mông và người Thái ở xã Tam Hợp, huyện Tương Dương,
từ đó đề xuất các giải pháp khai thác và phát triển bền vững một số loài giá trị
Trang 11
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Khái niệm, phân loại và giá trị của các loài cây rừng ăn được
1.1.1 Khái niệm cây rừng ăn được
Cây rừng ăn được là các loài thực vật hoang dại trong rừng, mọc trên đất
rừng được con người sử dụng làm thức ăn Cây rừng ăn được là một nhóm trong
6 nhóm lâm sản ngoài gỗ được phân chia theo công dụng [20], chúng hầu hết là các loài thực vật bậc cao có mạch, thường được người dân sống gần rừng thu hái
về dùng làm thức ăn
Việt Nam với 3/4 diện tích đất đai là rừng núi và hơn 12.000 loài thực vật bậc cao có mạch, rất nhiều loài cây đã được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau, phục vụ cho cuộc sống của con người Với nguồn tài nguyên vô cùng phong phú, Việt Nam là 1 trong 9 trung tâm đa dạng sinh học trên thế giới Ngoài giá trị to lớn là cung cấp các loại gỗ có giá trị kinh tế cao, nhiều loài cây còn được sử dụng làm lương thực, thực phẩm Những loài cây này được gọi là những cây ăn được, chúng đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống nhân dân, nhất là các dân tộc miền núi Một số loài cây trước đây được sử dụng như một loại lương thực, thực phẩm để cứu đói thì nay trở thành những món ăn đặc sản quý hiếm [6]
Các cây rừng ăn được bao gồm các loài cây cung cấp thân, lá, ngọn, hoa, quả, hạt, làm thức ăn hay cung cấp quả, hạt, củ, thân, làm lương thực Các loài cây ăn được thường chứa nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho nhu cầu hàng ngày và sức khỏe của con người Nó không những là nguồn cung cấp vitamin, chất khoáng, các nguyên tố vi lượng, năng lượng, chất đạm, chất xơ không thể thiếu đối với các hoạt động sinh lý bình thường của cơ thể con người, mà còn bảo vệ cho con người chống lại bệnh tật Các loại rau thuộc họ đậu, họ bí, họ cải, họ cúc, họ dâu tằm, thường giàu chất đạm, chất dinh dưỡng và vitamin, thậm chí, các loại rau thuộc họ đậu có thể thay thế cho nguồn đạm động vật Một
Trang 12số loại củ như khoai mài, khoai nưa, khoai ráp, hoàng tinh, giàu tinh bột, có thể dùng thay thế một phần lương thực trong bữa ăn hàng ngày Rau quả cũng là nguồn thức ăn cho chăn nuôi, nguyên liệu cho ngành công nghiệp thực phẩm (chế biến dầu thực vật, mứt, ô mai, nước quả, ) và còn để bồi bổ sức khỏe (Khoai mài, củ Hoàng tinh, Khoai môn, Khoai vạc, ) hoặc chữa bệnh (Môn thục, Hoài sơn, Riềng, Gừng, Sâm cau, Nghệ đen, ) [8] Các loại rau quả giàu vitamin, muối khoáng là nguồn bổ sung dinh dưỡng và những cây hoang dại ăn được là nguồn dinh dưỡng tự nhiên ở những nơi không có điều kiện gieo trồng
1.1.2 Phân loại loài cây rừng ăn được
Cây rừng ăn được theo Lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam có thể phân chia thành nhiều dạng khác nhau như dạng thân, mục đích sử dụng, bộ phận thu hái,
Cây rừng ăn được có thể được phân loại dựa vào dạng thân thành 5 nhóm:
- Dạng thân gỗ;
- Dạng dây leo;
- Dạng cây bụi nhỏ;
- Dạng thân củ;
- Dạng thân thảo hay cỏ
Hoặc có thể phân loại theo mục đích sử dụng thành 4 nhóm sau:
- Nhóm sử dụng làm gia vị;
- Nhóm là rau ăn và rau vị chua;
- Nhóm cho trái cây;
- Nhóm cho củ và tinh bột;
Cây rừng ăn được cũng có thể được phân loại dựa vào bộ phận thu hái thành 5 nhóm sau đây:
- Cây cho thu hái lá và ngọn non;
- Cây cho thu hái quả và hạt;
- Cây cho thu hái toàn thân, các bộ phận từ cuống lá, thân non,
- Cây cho thu hái hoa
Trang 13- Cây cho thu hái thân củ, củ, rễ
1.1.3 Giá trị các loài cây rừng ăn được
Người dân các vùng miền núi thường có cuộc sống gắn bó với rừng và dựa vào rừng, cây rừng được họ khai thác để phục vụ cho mọi nhu cầu sử dụng trong gia đình: dụng phổ biến nhất là để ăn (rau, củ, trái cây, gia vị, dầu ăn, ), làm thuốc chữa bệnh cho người và vật nuôi, làm thức ăn chăn nuôi, làm đồ dùng trong gia đình như mâm, ghế, bàn, váy, áo, chăn, gối, khăn, dùng trong xây dựng như làm nhà, lợp nhà, làm hàng rào, làm giàn cho cây leo, cột chống, Ngoài ra, cây rừng còn được sử dụng để làm giá thể trồng nấm, cải tạo đất, làm đẹp, làm các dụng cụ hoặc trò chơi trong lễ hội, làm dầu đốt, diệt côn trùng, dòi
bọ, săn bắt và đánh cá, Bình quân, các loại sản phẩm thu hái từ rừng chiếm từ 38% – 60% tổng thu nhập hàng năm của các hộ gia đình sống trong vùng đệm VQG Pù Mát [8]
Nhiều năm gần đây, cây rừng không chỉ được khai thác để phục vụ cho các nhu cầu tại chỗ của người dân miền núi mà nó còn trở thành hàng hóa, được mua bán ở nhiều nơi, làm gia tăng thu nhập cho nhiều người dân địa phương, trong đó
có nhiều loài rau, củ, quả và làm thuốc Các loài rau có giá trị và được người dân miền núi cũng như miền xuôi ưa dùng, có thể bán phổ biến, đó là: Rau sắng
(Melientha suavis), rau Bò khai (Erythropalum scandens), hoa chuối (Musa sp.), Rau dớn (Diplazium esculentum), Rau bợ (Marsilea quadrifolia), Rau dệu (Alternanthera sessilis), Dền gai (Amaranthus spinosus), Dền cơm (Amaranthus lividus), rau Càng cua (Peperomia pellucida), Hu lá hẹp (Trema angustifolia), Đỏ ngọn (Cratoxylum pruniflorum), các loại măng của Vầu ngọt (Indosasa crassiflora), Vầu đắng (Indosasa sinica), Giang (Ampelocalamus patellaris), nứa (Neohouzeaua dullooa), quả Trám trắng (Canarium album), Trám đen (Canarium tramdenum), Khoai môn (Calocasia esculenta), Củ mài (Diospyros permisilis); các loại hạt bùi béo như: Cà ổi ấn độ (Castanopsis indica), Cà ổi lá đa (Castanopsis tesselata), Cà ổi bắc bộ (Castanopsis tonkinensis), Cà ổi gai
Trang 14(Castanopsis triluboides), Sồi đá (Lithocarpus corneus), Giẻ quả vát (Lithocarpus truncatus),… [18]
Nhiều loại cây rừng có giá trị cao hiện nay đã được người dân chủ động gây trồng để cung cấp nguồn lương lượng, thực phẩm cho gia đình và ở một số nơi
là để bán Một số loài đã được trồng để thu hái như: Mét (Dendrocalamus barbatus), Tai chua (Garcinia cova), Dọc (Garcinia multiflora), Sung (Ficus racemosa), Vả (Ficus auriculata), Trám đen (Canarium tramdenum), Trám trắng (Canarium album), Sấu (Dracontomelon duperreanum), Dâu da xoan (Allospondias lakonensis), Dâu da đất (Baccaurea ramiflora), Me rừng (Phyllanthus emblica), Thị (Diospyros decandra), Cọ bắc bộ (Livistona
duperreanum), Dâu da xoan (Allospondias lakonensis), Vả (Ficus auriculata), Ngái (Ficus hispida), Sung (Ficus racemosa), Quýt gai (Atalantia buxifolia), Cơm rượu (Glycosmis pentaphylla), Nhãn rừng (Dimocarpus fumatu), Vải rừng (Nephelium cuspidatum), Vải guốc (Xerospermum noronhianum), Trám đen (Canarium tramdenum),… [10]
Nhiều loài hiện nay đã trở thành các loài rau, củ, quả đặc sản và là hàng hóa hoặc món ăn bán cho khách du lịch ở nhiều vùng miền núi, như: quả xoay
(Dialium cochinchinense), hạt dẻ (Castanopsis sp.), Rau sắng (Melientha suavis), rau Bò khai (Erythropalum scandens), hoa chuối (Musa sp.), Rau dớn (Diplazium esculentum), rau Càng cua (Peperomia pellucida), Vầu đắng (Indosasa sinica), Trám đen (Canarium tramdenum), Khoai môn (Calocasia esculenta), Củ mài (Diospyros permisilis),…
Bên cạnh các giá trị về kinh tế thì cây rừng ăn được còn có vai trò rất quan trọng đối với xã hội, chúng tạo nguồn thu nhập cho người dân trong các vùng đệm của các Vườn Quốc gia (VQG), khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) duy trì được cuộc sống của họ (đặc biệt là vào những năm hạn hán mất mùa) khi các sản phẩm
gỗ và động vật hoang dã không được phép khai thác nữa Ngoài ra, khai thác các loại sản phẩm của rừng mà không phải là gỗ còn góp phần giải quyết việc làm và
Trang 15tạo thu nhập cho rất nhiều người dân miền núi Theo các nghiên cứu về việc khai thác và quản lý tài nguyên rừng ở vùng miền núi phía Tây Nghệ An cho thấy: hầu hết các hộ gia đình đều tham gia khai thác, sử dụng các cây rừng ăn được trong vùng lõi và đệm của VQG, KBTTN, trong đó có nhiều loài đã trở thành đặc sản, được người dân thành thị tin dùng bởi sự an toàn, thơm ngon và có giá trị dinh dưỡng [4]
Vai trò của rừng, đặc biệt là rừng nhiệt đới đối với vấn đề an ninh môi trường và đời sống nhân loại đã được thấy rõ ở mức độ toàn cầu hay từng vùng Rừng không chỉ điều hoà khí hậu, hạn chế thiên tai, bảo vệ đất, nước mà còn là nơi chứa đựng sự đa dạng sinh học, các nguồn tài nguyên di truyền, là cái nôi của nhiều nền văn hoá nhân loại [25] Về mặt sinh thái học, vai trò của các loại cây thân thảo, thân bụi, thân leo hay thân gỗ trong hệ sinh thái rừng là rất khác nhau, một số các loài cây gỗ lớn mọc tự nhiên, khi trưởng thành sẽ tạo nên tầng tán và hình thành tầng vượt tán, đây là tầng cây rất quan trọng, mang đặc tính của hệ sinh thái rừng, quyết định vai trò phòng hộ của rừng và sự hình thành nên các tầng dưới Chu kì sống của các loài này dài, nếu khai thác kiệt tầng cây này tức là đã phá huỷ hệ sinh thái, phải mất một thời gian rất dài để rừng phục hồi Trong khi đó, các loại cây còn lại được phân bố ở tầng dưới của tầng cây gỗ, có chu kỳ đời sống cá thể phần lớn là ngắn, do vậy chúng có thể nhanh chóng được tái sinh và phục hồi lại mật độ của quần thể khi khai thác hợp lý [30] Với các đặc điểm trên, sự khai thác sản phẩm gỗ thường dẫn đến sự phá huỷ rất lớn Trong khi đó, khai thác các loại rau, củ, quả, ăn được từ rừng có thể mang lại các giá trị lớn nhưng vẫn có thể giữ được cấu trúc và vai trò sinh thái quan trọng của rừng [29]
Một qui luật tất yếu được nhiều quốc gia trên Thế giới phải công nhận và
áp dụng đó là "Quyền hưởng dụng cây", đó là "một tập hợp những quyền hạn
mà tổ chức hay cá nhân nào đó được pháp luật cho phép hưởng lợi và sử dụng
có mức độ với những loài cây mà họ bảo vệ" [17], như vậy, muốn người dân tham gia tự nguyện vào việc bảo vệ và phát triển rừng thì buộc phải cho họ thấy
Trang 16và hưởng những lợi ích mà rừng mang lại, ngoài môi trường trong lành ra họ còn được hưởng những lợi ích hữu hình, mang lại không chỉ tinh thần mà cả vật chất cho họ Các sản phẩm ăn được thu hái từ cây rừng là một trong những nguồn lợi từ rừng mà họ có thể khai thác để vừa có giá trị kinh tế lại vừa có thể đảm bảo chức năng cơ bản của rừng chính [14]
Bên cạnh đó, thu hái các sản phẩm ăn được từ cây rừng còn mang lại cho người dân nguồn thức ăn và thu nhập thường xuyên hơn, không đòi hỏi đầu tư, hoặc đầu tư ít, ngắn ngày dễ dàng để người dân các vùng miền núi, vùng sâu kinh tế đang nghèo khó có thể có cơ hội để khai thác tốt và lựa chọn phát triển các loại đặc sản này Đây cũng có thể là một hình thức làm kinh tế để người dân địa phương "lấy ngắn nuôi dài" khi họ đầu tư vào trồng rừng hoặc trồng cây lâu năm
1.2 Tình hình nghiên cứu về các loài cây rừng ăn được trên thế giới
Thực vật ăn được trên trên thế giới rất đa dạng và phong phú, đặc biệt là ở các nước nhiệt đới, nơi tập trung sự giàu có của hệ sinh thái, trong đó các nước Đông Nam Á đã nắm giữ một phần năm diện tích rừng nhiệt đới của thế giới Các nhà khoa học đã thống kê được 287.655 loài thực vật, trong số đó có 258.650 là loài thực vật có hoa, 16.000 loài rêu, 11.000 loài dương xỉ và 8.000 loài tảo trên thế giới, riêng ở các nước Đông Nam Á, có khoảng 25.000 loài thực vật bậc cao có mạch [25] Sự phong phú và đa dạng của các loài sinh vật và các
hệ sinh thái của vùng nhiệt đới đã tạo nên sự phong phú của lâm sản ngoài gỗ (LSNG) Các rừng rậm nhiệt đới mặc dù chỉ chiếm 7% bề mặt đất của trái đất nhưng nắm giữ hơn một nửa số loài của thế giới và chiếm 2/3 con số ước tính 250.000 loài thực vật có mạch của thế giới hay 45% các loài thực vật có mạch của thế giới [22]
Ở khu vực Đông Nam Á cũng đã có rất nhiều công trình của các tác giả nghiên cứu về cây rừng ăn được từ những năm 1990 đăng trong “Tài nguyên thực vật Đông Nam Á”, như các tác giả: R C K Chung & Purwaningsh [32],
C C De Guzman & R A Reglos [31], P C M Jansen [33], Lucie Widowati
Trang 17[31], Marfu ah Wardani [32], N Mulyati Rahaya và S K, Halijah Ibrahim [4], Những nghiên cứu này đã quan tâm nhiều đến các loài cây cho dầu béo, cây làm thuốc, một số ít đề cập đến giá trị dinh dưỡng của các cây rừng ăn được
Trên thế giới, nhóm cây rừng ăn được thường cùng được nghiên cứu cùng với các các loại LSNG vì cây rừng ăn được là 1 trong 6 nhóm LSNG
1.3 Các nghiên cứu về cây rừng ăn được ở Việt Nam
Việt Nam với 3/4 diện tích đất đai là rừng núi và hơn 12.000 loài thực vật bậc cao có mạch Trong số các loài này, nhân dân ta đã sử dụng hàng ngàn loài
để phục vụ cho các nhu cầu khác nhau của cuộc sống, trong đó có các cây làm lương thực và thực phẩm Hiện nay, tuy mức sống của nhân dân ta đã được nâng lên, nhưng nhu cầu sử dụng cây cỏ trong đời sống còn rất lớn, theo thống kê của UNESCO (1999), ở vùng nông thôn và miền núi của các nước đang phát triển, các sản phẩm làm lương thực, thực phẩm có nguồn gốc thực vật chiếm tỷ lệ 90%
- 93% [12]
Ở nước ta, từ xưa đến nay, nhiều tác giả đã rất dày công trong việc sưu tầm
và ghi chép những cây cỏ có ích và được con người sử dụng, như: Tuệ Tĩnh, Lê Quý Đôn, Phạm Đình Hổ, Hải Thượng Lãn Ông, mặc dù các nghiên cứu này tập trung chủ yếu vào cây làm thuốc, nhưng trong đó cũng tập hợp được nhiều thông tin về các cây ăn được
Khi người Pháp thiết lập chính quyền thực dân ở Đông Dương, họ đã áp dụng vào nghề rừng Đông Dương phương thức quản lý châu Âu và tiến hành các nghiên cứu khoa học kĩ thuật Kết quả của những chuyến khảo sát nghiên
cứu tài nguyên rừng do A Chevalier được đúc kết trong tài liệu “Những ghi
chép về những sản phẩm chủ yếu của Đông Dương” (Notes sur les principaux
produits de l’Indochine - Saigon 1900), và trong các tài liệu khoa học như “Gỗ Đông Dương” của A Chevalier; “Các sản vật của Đông Dương” (Catalogue des produits de L’Indochine) của Crévost, Ch và cộng sự; “Thực vật chí Đông Dương” của Lecomte (1907-1952) chủ biên; “Rừng ở Đông Dương” (La forêt
en Indochine) của Guibier H., 1941 và nhiều tài liệu khác Năm 1931, nhiều loại
Trang 18sản phẩm ăn được khai thác từ rừng Đông Dương đã được nghiên cứu và giới thiệu tại triển lãm Paris, thời gian sau đó có nhiều nghiên cứu sâu hơn
Từ sau năm 1954, các nhà khoa học Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về cây rừng và các sản phẩm của chúng hơn Nhiều nghiên cứu về cây làm thuốc, cây lấy gỗ, cho sợi, cho tinh dầu, dầu béo, và cây cho lương thực, thực phẩm,
Các nghiên cứu tập trung vào cây rừng ăn được chưa nhiều, nhưng ở Việt Nam với đối tượng này có thể kể ra một số nghiên cứu sau đây Nghiên cứu sớm nhất về rau rừng là của Nguyễn Nghĩa Thìn trong cuốn sách “Một số rau dại ăn được ở Việt Nam” được xuất bản bởi Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân vào năm
1994 Năm 1989, Võ Văn Chi đã cho xuất bản cuốn Cây rau làm thuốc Từ năm 1999 – 2005, Võ Văn Chi và Trần Hợp đã xuất bản cuốn “Cây cỏ có ích ở Việt Nam” gồm 4 tập, đã giới thiệu trên 6.000 loài cây có ích gồm 11 nhóm có ích, trong đó có 4 nhóm: cây làm lương thực, cây làm thực phẩm, cây làm gia vị
và cây làm nước uống là những cây ăn được Năm 2005, Võ Văn Chi đã giới thiệu cuốn “Cây rau, trái đậu dùng để ăn và làm thuốc”, trong đó có 231 loài rau
và đậu cùng với giá trị và công dụng của chúng đã được giới thiệu đầy đủ và súc tích [10]
Năm 2005, Trần Thị Hằng và cộng sự đã công bố nghiên cứu “ Thực vật rừng ở VQG Bù Gia Mập được sử dụng làm thức ăn cho người dân vùng đệm” ghi nhận tại Vườn quốc gia Bù Gia Mập có 65 loài thực vật có giá trị làm rau ăn được thuộc 51 chi, 46 họ Trong đó, ngành Ngọc lan có 63 loài (49 chi, thuộc 44 họ), ngành Dương xỉ có 2 loài (2 chi, thuộc 2 họ) Các họ thực vật có nhiều loài thực vật làm rau ăn được là: họ Hòa thảo (Poaceae) có 10 loài; họ Dâu tằm (Moraceae) có 8 loài; họ Thầu dầu (Euphobiaceae), họ Trám (Anacardiaceae) có
6 loài; họ Đậu (Fabaceae), họ Bứa (Clusiaceae), họ Tiêu (Piperaceae) có 3 loài
Năm 2009, Nguyễn Quốc Đạt và Lưu Hồng Trường cũng đã giới thiệu nghiên cứu “Đánh giá nhanh về tài nguyên thực vật rừng ăn được và các vấn đề liên quan ở khu Bảo tồn thiên nhiên Takóu”, đã thống kê được 79 loài, 64 chi,
Trang 19thuộc 43 họ thực vật bậc cao có mạch, trong đó ngành Mộc lan (Magnoliaphyta)
có 75 loài (61 chi thuộc 40 họ), chiếm hơn 93% tổng số loài thực vật ăn được được ghi nhận Ngành Dây gắm (Gnetophyla) có 2 loài của 1 chi thuộc 1 họ thực vật, chiếm 3% Ngành Thông đất (Lycopodiophyta) có 1 loài 1 chi thuộc 1
họ và ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) có 1 loài 1 chi thuộc 1 họ
Gần đây, đã có một số nghiên cứu về cây rừng ăn được của các tỉnh phía Bắc như: “Những dẫn liệu ban đầu về nhóm cây ăn được trong hệ thực vật tỉnh Phú Thọ” của Nguyễn Quốc Bình, Ninh Khắc Bảy, Lê Đồng Tấn vào năm 2013, nghiên cứu này đã sử dụng phương pháp kế thừa, phương pháp điều tra thực vật học và phương pháp điều tra cộng đồng (PRA), đã thống kê được trong hệ thực vật tỉnh Phú Thọ có 225 loài cây ăn được thuộc 77 họ, 3 ngành thực vật Trong
đó cây được sử dụng làm rau có 113 loài thuộc 96 chi 48 họ, cây cho quả ăn được 115 loài 77 chi 36 họ và cây có thể làm lương thực có 10 loài thuộc 7 chi 5
họ Nghiên cứu này cũng đã tuyển chọn được 8 loài cây ăn được triển vọng có
giá trị kinh tế để phát triển trồng trọt bao gồm: Rau sắng (Melientha suavis), Bò khai (Erythropalum scandens), Giổi xanh (Michelia mediocris), Chuối phấn vàng (Musa paradisiaca), Trám trắng (Canarium album), Trám đen (Canarium tramdenum), Khoai môn (Calocasia esculenta), Củ mài (Diospyros permisilis)
Cũng vào năm 2013, Lê Thái Hùng và Ngô Tùng Đức đã công bố
“Nghiên cứu tính đa dạng và sử dụng tài nguyên rau rừng ở khu vực miền núi A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế” trong Tạp chí Khoa học Đại học Huế Kết quả phân loại đã xác định được 107 loài thuộc 92 chi và 55 họ thực vật hoang dại được người dân sử dụng làm rau ăn Nguồn tài nguyên rau rừng được xác định theo tính đa dạng bao gồm (i) dạng sống: dạng thân gỗ (29,9%), dạng dây leo (15%), dạng cây bụi nhỏ (9,3%), dạng thân củ (6,5%) và dạng thân thảo hay cỏ (39,3%); (ii) nhóm sử dụng: gia vị (27 loài), rau ăn (73 loài) và rau vị chua (15 loài); (iii) bộ phận sử dụng: lá và ngọn non (58,7%); quả và hạt (19,0%), toàn thân (11,1%) và sử dụng các bộ phận từ cuống lá, thân non, hoa và thân củ (11,2%) [20]
Trang 201.4 Tình hình nghiên cứu về cây rừng ăn được ở miền tây Nghệ An
Nghệ An là một tỉnh có diện tích rừng lớn, phong phú và chứa đựng nhiều cây có ích Các khu rừng chạy dọc theo dải Trường Sơn và nhiều huyện miền núi được đánh giá là một trong những trung tâm về đa dạng sinh học Tài nguyên thực vật được tập trung chủ yếu ở vùng Tây Bắc và Tây Nam Nghệ An, nơi đây có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống lâu đời như Thái, Thổ (bao gồm các nhóm Cuối, Mọn, Ly Hà và Tày Poọng), H’Mông, Ơ đu và tộc người Đan Lai, Cuộc sống của người dân chủ yếu dựa vào rừng, từ vật liệu xây dựng và làm đồ gia dụng đến lương thực, thực phẩm và cây thuốc đều được khai thác từ rừng Đặc biệt, người dân nơi đây đã tích lũy nhiều kinh nghiệm quí báu trong cách sử dụng cây rừng làm thuốc, cũng bởi vậy, đã có nhiều nghiên cứu về cây làm thuốc được công bố [28]
Tại vùng miền Tây Nghệ An, các nghiên cứu về thực vật, động vật và đa dạng sinh học được bắt đầu một cách qui mô và chính thức từ năm 1995, khi Dự
án “Lâm nghiệp xã hội và bảo tồn thiên nhiên” do cộng đồng Châu Âu tài trợ chính bắt đầu triển khai ở các huyện miền núi Tây Nam Nghệ An và Dự án
“Quản lý bền vững lưu vực sông Cả” do Đan Mạch tài trợ chính triển khai ở vùng núi Tây Bắc Nghệ An
Tại khu vực VQG Pù Mát đã có một số nghiên cứu khảo sát qui mô về đa dạng động thực vật Năm 2001, kết quả điều tra khảo sát về đa dạng sinh học ở toàn bộ khu vực VQG Pù mát đã được công bố, trong đó có đa dạng về thực vật gồm 1.144 loài thuộc 545 chi, 159 họ củac 6 ngành thực vật bậc cao có mạch [16] Trong khoảng thời gian từ 2003 – 2005, các tác giả Nguyễn Nghĩa Thìn [28], Đào Thị Minh Châu [7], Nguyễn Anh Dũng [9], đã tiến hành nhiều nghiên cứu về thực vật bậc cao có mạch và thực vật có ích
Nghiên cứu về đa dạng thực vật ở quy mô lớn nhất trong khu vực miền tây Nghệ An là nghiên cứu của Nguyễn Nghĩa Thìn và Nguyễn Thanh Nhàn năm 2004 [29], các tác giả đã tiến hành nhiều cuộc điều tra, nghiên cứu về thực
vật trên toàn bộ khu vực vùng lõi, vùng đệm VQG Pù Mát và công bố cuốn "Đa
Trang 21dạng thực vật Vườn quốc gia Pù Mát", thống kê được 2.494 loài thuộc 931 chi,
202 họ của 6 ngành, trong đó hệ thực vật ở vùng lõi có 1.483 loài, chiếm 59,46% tổng số loài của cả vùng; tác giả cũng đã công bố có tới 1.509 loài cây
có ích trong khu vực nghiên cứu, trong đó số cây làm thuốc chiếm tới 44,31% (1.105 loài) và số cây lấy gỗ chiếm 17,08% (426 loài), số cây làm lương thực, thực phẩm chiếm 14,72% (367 loài); trong đó thống kê 37 loài có tên trong Sách
Đỏ Việt Nam và 20 loài trong Danh lục Đỏ quốc tế [29]
Năm 2009, Nguyễn Thanh Nhàn và Nguyễn Văn Sinh đã công bố nghiên
cứu “Đa dạng thực vật núi cao tại Vườn Quốc gia Pù Mát”, trong đó khẳng định
tính đa dạng của thực vật núi cao ở VQG Pù Mát với sự xuất hiện của 5/6 ngành
chính của thực vật bậc cao có mạch Sự phân bố của các taxon chủ yếu tập trung
trong ngành Hạt kín (Angiospermae) với 492 loài (chiếm 90,8%), 222 chi (chiếm 86,7%) và 94 họ (chiếm 83,9%) tổng số các loài, chi và họ của toàn hệ Dương xỉ (Polypodiophyta) là ngành chiếm vị trí tương đối với 36 loài (6,6%), 23 chi (9,0%),
11 họ (9,8%) tổng số các loài, chi và họ toàn hệ Trong 542 loài cây có ích, nhóm cây làm thuốc chiếm 26,0%, nhóm cây lấy gỗ chiếm 22,0% tổng số loài và các nhóm cây khác chiếm tỷ lệ không đáng kể, đặc biệt có đến 68 loài thực vật nằm
trong Sách Đỏ Việt Nam và Danh lục Đỏ thế giới cần được bảo tồn [25]
Tại KBTTN Pù Huống, một số nghiên cứu về cây rừng ăn được cũng đã được thực hiện Năm 2006, Phan Quang Tiến, Nguyễn Nghĩa Thìn và Nguyễn Thị Kim Thanh đã thực hiện “Đánh giá nguồn tài nguyên LSNG tại vùng đệm KBTTN Pù Huống, Nghệ An”, cho thấy nơi đây có tới 609 loài LSNG thuộc
423 chi của 143 họ thuộc 4 ngành Thông đất, Dương xỉ, Hạt trần và Hạt kín Phân tích và đánh giá tính đa dạng sinh học cho thấy có 10 họ giàu nhất với 208 loài, chiếm 43,21% và 36 họ có từ 5 loài trở lên với 400 loài, chiếm 65,79% và 6 chi có từ 5-8 loài, chiếm 6,40% tổng số loài Tổng số 609 loài LSNG được phân loại thành 7 nhóm công dụng khác nhau, trong đó, nhóm cây thuốc chiếm 455 loài, tiếp đến nhóm cây ăn được 143 loài (gồm: 76 loài làm rau và gia vị, 55 loài
có quả ăn được và 12 loài cho bột ăn); nhóm cây làm cảnh có 69 loài; nhóm cây
Trang 22thủ công mỹ nghệ có 27 loài, nhóm cây dầu béo có 18 loài, nhóm cây hương liệu
14 loài; nhóm cây cho tanin và thuốc nhuộm có 9 loài [30]
Các nghiên cứu riêng biệt về cây rừng ăn được ở miến Tây Nghệ An nói chung và khu vực Tương Dương nói riêng chưa có, nhưng đã có một số nghiên cứu về LSNG tại khu vực 3 huyện Con Cuông, Anh Sơn và Tương Dương – là vùng đệm của VQG Pù mát như: Nghiên cứu "Phát triển và sử dụng hiệu quả một
số LSNG tại vùng đệm VQG Pù Mát", 2003 Đề án này được xây dựng trong chương trình “Bảo tồn có sự tham gia” của Bộ phận quản lý VQG thuộc khuôn khổ Dự án Lâm nghiệp xã hội và bảo tồn thiên nhiên (SFNC) của Ngô Trực Nhã
và các cộng sự ở Trường đại học Vinh thực hiện Đề án này xác định một số loài
là LSNG có khả năng phát triển ở vùng dự án để tạo ra hàng hoá đáp ứng cho nhu cầu của thị trường nguyên liệu sản xuất hương nhang và cây thuốc Nam
Năm 2005, Nguyễn Anh Dũng và cộng sự đã công bố nghiên cứu về “Tài nguyên lâm sản phi gỗ ở vùng đệm VQG Pù Mát - những vấn đề tồn tại trong khai thác và quản lý” đã thống kê các loài khai thác và bị thu mua phổ biến để xuất khẩu trái ngạch sang Trung Quốc; hiện trạng khai thác bừa bãi, suy giảm nhanh, có thể dẫn đến cạn kiệt các loài cây rừng có giá trị; những nguyên nhân
và đề xuất một số giải pháp khắc phục
Năm 2012, Đào Thị Minh Châu và cộng sự nghiên cứu về “Sự phụ thuộc vào tài nguyên rừng của người Thái ở Khu vực khe Thơi, vùng đệm Vườn Quốc Gia Pù Mát” đã cho thấy mức độ phụ thuộc và thu nhập của người Thái ở xã Tam Quang, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An phụ thuộc phần lớn vào việc khai thác tài nguyên rừng, từ việc thu hái củi, thức ăn gia súc, thuốc chữa bệnh đến các loại thức ăn, phần lớn từ rừng tự nhiên Năm 2014, Đào Thị Minh Châu, Trần Minh Hợi, Trần Huy Thái đã công bố “Đa dạng các nhóm lâm sản ngoài gỗ được khai thác từ Vườn Quốc gia Pù Mát - Nghệ An” đã cho thấy có tới 1.508 loài thuộc 741 chi, 182 họ của 6 ngành thực vật bậc cao có mạch, gồm: nhóm cây sợi có 99 loài (6,56%); nhóm cây ăn được có 366 loài (24,27%); nhóm cây thuốc có 1.192 loài (79,05%); nhóm cho tinh dầu, nhựa có 136 loài
Trang 23(9,02%), nhóm cho tanin, thuốc nhuộm có 68 loài (4,51%); nhóm cây cảnh và cây khác có 300 loài (19,89%)
Như vậy chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu riêng và cụ thể về các loài cây rừng ăn được, việc khai thác và quản lý các loài cây rừng ăn được có giá trị trong khu vực VQG Pù Mát nói riêng và khu vực miền Tây Nghệ
An nói chung nhằm đề xuất các giải pháp cho bảo tồn và phát triển bền vững
1.5 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của khu vực nghiên cứu
1.5.1 Điều kiện tự nhiên
Tương Dương là huyện miền núi cao, nằm về phía Tây Nam của tỉnh Nghệ An, cách thành phố Vinh khoảng 200 km, cách cửa khẩu Nậm Cắn khoảng
90 km, vị trí địa lý: 18o
58' - 19o39' vĩ độ bắc và 104o
03' - 104o55' kinh độ đông Huyện có tổng chiều dài đường ranh giới với nước CHDCND Lào là 68 km, đi qua địa bàn 4 xã, trong đó có xã Tam Hợp
Địa hình huyện Tương Dương dốc, khá hiểm trở, phức tạp, nhiều núi cao bao bọc, tạo nên nhiều thung lũng nhỏ hẹp Độ cao trung bình 650 - 750 m, hình thành 2 mái núi lớn nghiêng về phía sông Cả Độ cao thấp dần về phía hạ lưu sông Cả Địa hình của Tương Dương có thể được phân ra 3 dạng sau: Dạng địa hình thung lũng bằng phân bố rải rác ở một số bãi bồi dọc theo các con sông và khe suối lớn, địa hình dạng này có diện tích ít, chiếm khoảng 0,002% diện tích
tự nhiên; Dạng địa hình đồi chiếm khoảng 21% diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu ở các vùng dọc tuyến Quốc lộ 7A và nằm ở các triền núi, phần lớn là dạng đồi lượn sóng, có độ cao 300 -700 m; Dạng địa hình núi: Chiếm 79% diện tích
tự nhiên, trong đó có khoảng 59% núi thấp từ 750 -1.700 m, núi cao trên 1.700
m chiếm 20%, có đỉnh cao nhất là đỉnh Pù Hủn (núi Mào Gà xã Nhôn Mai cao 2.138 m) Địa hình này đã gây khó khăn cho sản xuất nông, lâm nghiệp và xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, sinh hoạt và phát triển kinh tế xã hội
Huyện Tương Dương nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa của Bắc trung bộ, chịu ảnh hưởng nặng nề của gió Tây Nam về mùa hạ và gió mùa Đông Bắc về mùa đông Nhiệt độ bình quân năm 23o
C-24oC, tháng 7 có nhiệt độ nóng
Trang 24nhất gần 40o
C, tháng 1 có nhiệt độ bình quân thấp nhất 17,5oC Tổng số giờ nắng từ 1.500-1.700 giờ/năm và số ngày nắng từ 170-200 ngày/năm Lượng mưa bình quân năm 1.800-2.000 mm, tuy lượng mưa lớn nhưng tập trung chủ yếu từ tháng 8 đến tháng 10, nên vào các tháng này trên địa bàn thường xảy ra lũ lụt Độ ẩm tương đối bình quân năm 81%-86%
Huyện Tương Dương chịu ảnh hưởng của hai loại gió chính: Gió mùa Tây Nam xuất hiện từ tháng 4 đến tháng 9, mỗi đợt kéo dài 2-3 ngày, có khi vài tuần Đây là loại gió khô nóng làm ảnh hưởng xấu đến quá trình sinh trưởng, phát triển cây trồng, thường gây nên hạn hán vào vụ hè thu Gió mùa Đông Bắc xuất hiện từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau và thường hanh khô, ít mưa, gió rét Hàng năm trên địa bàn thường chịu ảnh hưởng từ 2 đến 3 cơn bão, cường độ tương đối mạnh, kèm theo mưa to, lũ quét, sạt lở đất; lốc xoáy thường xảy ra cục bộ vào giai đoạn giao mùa như hè sang thu Mùa bão thường trùng với mùa mưa lũ (tháng 8 đến tháng 10), chủ yếu tập trung vào tháng 7, tháng 8
và tháng 9
Hệ thống sông suối trên địa bàn tương đối dày, nguồn nước chủ yếu được cung cấp từ sông Nậm Nơn, sông Nậm Mộ, sông Chà Hạ và các khe, suối Mực nước ngầm tương đối cao, bình quân 3,0-3,5m Hầu hết các nguồn nước được khai thác, tận dụng thuận lợi cho việc sản xuất và sinh hoạt hằng ngày Tuy nhiên trong mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau vẫn còn có vùng bị hạn trong thời gian ngắn
Trên địa bàn Tương Dương, đất chủ yếu là Feralit màu vàng đỏ, vàng xám hoặc vàng với các nhóm đất chính sau: Nhóm đất có thành phần cơ giới nhẹ, tầng đất mỏng đến trung bình, đất tơi xốp, thường có màu vàng, nhiều đá lẫn, đá nổi Nhóm đất có kết cấu hạt mịn màu vàng đỏ đến đỏ vàng, kết cấu ổn định, khả năng thấm nước kém, giữ nước tốt, độ phì cao, rất thích hợp cho cây rừng phát triển, phân bố chủ yếu ở vùng đồi và núi thấp Nhóm đất có kết cấu hạt thô thành phần cơ giới từ nhẹ đến trung bình, đất thường tơi xốp dễ bị xói mòn, rửa trôi, tầng mùn thường mỏng (<15 cm), hàm lượng mùn thấp, đất thường có màu
Trang 25vàng xám, vàng nhạt Diện tích đất tự nhiên toàn huyện là 281.129,57 ha, chiếm 17,04% diện tích tự nhiên tỉnh Nghệ An và là huyện có diện tích tự nhiên lớn nhất Tương Dương có diện tích đất trống đồi trọc còn rất lớn Đây là quỹ đất cần được đưa vào khai thác trồng rừng, đảm bảo tăng độ che phủ, góp phần chống rửa trôi, hạn chế lũ
Hình 1.1 Bản đồ hành chính huyện Tương Dương
Tương Dương có diện tích rộng lớn về đất rừng với nhiều loại động, thực vật phong phú Tổng diện tích đất lâm nghiệp hiện có 249.076,9 ha, trong đó rừng phòng hộ 93.546,7 ha, rừng đặc dụng 39.530,8 ha, rừng sản xuất 115.999,3 ha Cùng với sự phong phú của thực vật, động vật ở đây cũng khá đa dạng Hiện có 64 loài có vú và 120 loài chim, trong đó có nhiều loại động vật có giá trị bảo tồn gen như khỉ, sóc, gấu, hổ, đặc biệt là Voọc xám đã được ghi vào sách đỏ Việt Nam
Rừng tự nhiên của huyện được chia thành 2 kiểu: Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới tập trung ở những vùng thấp dọc theo thung lũng sông Cả, chủ yếu là rừng thứ sinh; Rừng kín nửa rụng lá mưa ẩm nhiệt đới: Chiếm hầu hết các
Trang 26khu rừng ở Tương Dương, có độ cao từ 900m trở xuống Cây rừng nhỏ hơn, tầng thấp (20-30m) Trong đó có rừng của VQG Pù Mát và KBT TN Pù Huống
Xã Tam Hợp nằm ở phía Tây - Tây Nam tỉnh Nghệ An là một xã Biên giới của huyện Tương Dương có toạ độ địa lý 19o35’12’’- 19o53’38’’ vĩ độ Bắc,
104o11’37’’ - 104o13’02’’ kinh độ Đông Phía bắc của xã giáp xã Thạch Giám, Phía nam giáp Lào, Phía đông giáp xã Tam Đình và phía Tây giáp xã Lưu Kiền
Địa hình của xã khá phức tạp đất đai chủ yếu là đồi núi có các dãy núi với
độ dốc cao và bị chia cắt bởi nhiều khe suối, nên giao thông đi lại sản xuất và giao lưu hàng hoá trong những năm qua gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt vào những tháng ngày mùa mưa lũ Tuy nhiên hiện nay đang xây dựng đường giao thông từ xã Tam Thái đi xã Tam Hợp và xây dựng các đường làng theo chương trình nông thôn mới để tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất Lâm nghiệp, trồng
và chăm sóc, bảo vệ rừng và khoanh nuôi tự nhiên, khai hoang ruộng nước
Tam Hợp là xã nằm trong vùng khí hậu chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Nam, chịu ảnh hưởng chính bởi gió mùa Đông bắc lạnh giá và gió Tây Nam (gió Lào) khô hạn Chính vì vậy mà xã Tam Hợp nói riêng và huyện Tương Dương nói chung chịu ảnh hưởng trực tiếp của vùng khí hậu Tây Nam Nghệ An, được phân thành 2 mùa rõ rệt đó là mùa mưa và mùa khô, mùa mưa thường từ tháng 4 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 của năm sau Nhiệt độ trung bình biến đổi từ 21o
C – 25oC có 6 tháng nhiệt độ vượt quá 23oC, có những tháng cao điểm nhiệt độ cao nhất lên đến 30o
C- 41oC, ngược lại có tháng nhiệt độ thấp nhất xuống đến 6o
C- 8oC, mùa đông giá lạnh và có sương muối
Chế độ mưa: Lượng mưa bình quân trong năm đạt 1.450 mm nhưng phân
bố không đều theo không gian và thời gian Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 7,
8, 9 và kết thúc vào tháng 10 Thời gian này thường gây ra lũ ống, lũ quét và lốc
Chế độ gió: Do chịu ảnh hưởng của khí hậu khô hạn về mùa nắng nóng bởi gió Tây Nam nên từ tháng 4 đến tháng 7 thường gây khô hạn ảnh hưởng rất lớn cho việc tưới tiêu, sản xuất nông lâm nghiệp, bảo vệ và phát triển rừng
Trang 27Tổng diện tích đất tự nhiên của xã Tam Hợp là 23.210,31 ha, không có sự thay đổi, chỉ có sự biến động về cơ cấu đất đai Là một xã thuần nông và thuộc
huyện miền núi nên diện tích đất nông - lâm nghiệp đến 22.270,33 ha
1.5.2 Điều kiện Kinh tế - Xã hội
Theo số liệu điều tra tại Chi cục thống kê huyện Tương Dương tính đến năm 2015, trên địa bàn huyện Tương Dương có 06 dân tộc chính đang sinh sống gồm: Thái (chiếm 70,1 %), Kinh (chiếm 8,8 %), Khơ Mú (chiếm 12,9 %), H.Mông (chiếm 5,7 %), Ơ Đu (chiếm 1,2 %), Tày Pỏng (chiếm 1,0 %), dân tộc khác (chiếm 0,3 %)
Tổng số dân số có 69.367 người, 16.280 hộ Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên bình quân hàng năm tương đối cao, đây là một thách thức về sức ép lương thực, việc làm
Tổng số lao động có 27.294 người, chiếm 39,35% dân số, trong đó lao động Nông nghiệp chiếm 95%
Diện tích đất sản xuất nông nghiệp ít, không cung cấp đủ lương thực mà còn sản xuất lúa nương rãy, chăn nuôi chủ yếu trâu, bò, lợn, dê, gà, cá, vịt chưa có nhiều hộ thu nhập ổn định Nhìn chung sản xuất nông nghiệp chỉ đáp ứng 80% nhu cầu lương thực, thực phẩm trên địa bàn
Công tác xóa đói giảm nghèo trên địa bàn huyện còn chậm Số hộ giàu, khá 6.212 hộ, chiếm 38,2 % toàn huyện; Số hộ cận nghèo 2.316 hộ, chiếm 14,2% toàn huyện; Số hộ nghèo 7.752 hộ, chiếm 47,6% toàn huyện
Thu nhập bình quân đầu người 1.441.667đ/người/tháng, mức thu nhập còn thấp nên đời sống của người dân trên địa bàn huyện còn rất nhiều khó khăn
Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng huyện Tương Dương:
Giao thông: Mạng lưới giao thông trên địa bàn huyện phát triển, hiện nay
đường ô tô đã đi được 17/17 xã Tuy nhiên một số thôn bản đường giao thông còn gặp nhiều khó khăn, chủ yếu đường đất, thường bị sạt lở vào mùa mưa
Thủy lợi: Hệ thống kênh mương tưới tiêu đã được xây dựng thông qua các
Chương trình, Dự án của Nhà nước tại các xã có diện tích sản xuất lúa nước lâu năm Diện tích mới khai hoang, nhỏ lẻ chưa có hệ thống kênh mương thủy lợi
Trang 28Nước sinh hoạt: Trong những năm gần đây nhờ có chương trình 134, 135
hầu hết các xã đã có công trình nước tự chảy phục vụ sinh hoạt
Điện công nghiệp: Trên địa bàn huyện có 03 nhà máy thủy điện lớn
(Thủy điện Khe bố, Thủy điện Bản vẽ, thủy điện Nậm Nơn), hầu hết các thôn bản có giao thông thuận lợi đều đã có điện lưới
Y tế, giáo dục: Mạng lưới y tế cơ sở đã được củng cố đáp ứng nhu cầu
khám chữa bệnh, tuy nhiên trình độ y sỹ, y tá còn chưa đồng đều, dụng cụ, trang thiết bị còn thiếu, lạc hậu Hệ thống trường học đã được nâng cấp sửa chữa, cải tạo, tuy nhiên một số trường học ở vùng sâu đã bị xuống cấp
Dịch vụ, thương mại: Tại các xã đều có các chợ phục vụ đầy đủ các nhu
cầu thiết yếu, cụm xã được đầu tư xây dựng chợ để thu gom và mua bán các loại nông sản, đồ thủ công mỹ nghệ địa phương
Xã Tam Hợp là xã miền núi thuần nông do vậy tỷ trọng sản xuất Nông - Lâm - Ngư nghiệp chiếm tới 80% trong tổng giá trị sản xuất kinh tế của xã Tổng thu năm 2015 là 23.840 triệu đồng/năm trên tổng giá trị sản xuất là 29.800 triệu đồng, còn lại TTCN-Xây dựng chiếm 15%, Dịch vụ -Thương mại chiếm 5%
Theo Chi cục thống kê huyện Tương Dương (2015) thì trên địa bàn xã Tam Hợp có 476 hộ, 2168 khẩu và 926 lao động Mật độ dân số trung bình là 8 người/km2 Thành phần dân tộc: Thái chiếm 32%; Kinh chiếm 2%; Mông chiếm 34,1%; Tày Pọong chiếm 30,8% và Khơ Mú chiếm 0,2%
Trong những năm qua trên địa bàn xã đã và đang thực hiện các chương trình, dự án như: Trồng rừng sản xuất tập trung thuộc nguồn vốn của huyện, trồng rừng Dự án Jica, trồng rừng thay thế nương rẫy Duy trì và bảo vệ tốt 8.071,67 ha rừng sản xuất, 14.198,66 ha rừng phòng hộ, vốn rừng hiện có, tiếp tục trồng và bảo vệ diện tích rừng trồng sản xuất tập trung theo nguồn vốn của huyện, trồng rừng thay thế nương rẫy Thực hiện tốt công tác trồng rừng nguyên liệu, trồng rừng theo chương trình dự án trồng rừng thay thế nương rẫy trong những năm tiếp theo Khoanh nuôi bảo vệ tốt diện tích rừng phòng hộ đầu nguồn hiện có
Trang 29Chăn nuôi ở xã Tam Hợp chủ yếu là chăn thả gia súc tập trung, thường thả trâu bò vào trong rừng, chính vì vậy việc chăn thả trâu bò của đồng bào gặp nhiều khó khăn Nhất là vào mùa mưa lũ, giá rét và mùa có các loại dịch bệnh thì không kiểm soát được dịch bệnh, do đó thường hay gặp rủi ro cao
Trang 30CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Các loài cây rừng ăn được thuộc các ngành thực vật bậc cao có mạch, được người H‘Mông và người Thái khai thác để sử dụng
Xã Tam Hợp, huyện Tương Dương tỉnh Nghệ An có 5 bản, nghiên cứu này chỉ tiến hành khảo sát và thu mẫu tại 2 bản: bản Phá Lỏm (bản người H‘Mông) và bản Văng Môn (bản người Thái)
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Lập danh lục các loài cây rừng ăn được mà người H‘Mông và người Thái ở xã Tam Hợp, huyện Tương Dương khai thác, sử dụng;
- Đánh giá sự đa dạng của các loài cây rừng về dạng thân, nơi sống và bộ phận thu hái;
- Xác định các loài cây rừng ăn được quí hiếm (thuộc Sách Đỏ 2007), các loài cần bảo vệ, các loài chịu sức ép lớn của việc khai thác và sử dụng, các loài
có giá trị, có thể gây trồng và phát triển
- Đề xuất các biện pháp khai thác và sử dụng bền vững một số loài cây rừng ăn được có giá trị ở huyện Tương Dương
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp kế thừa
Thống kê các kết quả nghiên cứu đã có về thực vật và các loài thực vật có giá trị sử dụng, về tình tình hình khai thác, sử dụng và quản lý các loại tài nguyên thực vật rừng tại vùng nghiên cứu Từ đó có các thông tin và số liệu tổng quan và lựa chọn được phương pháp tiến hành điều tra, thu mẫu, đánh giá phù hợp
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu
* Phương pháp phỏng vấn hộ dựa vào Bảng câu hỏi dựng sẵn
Lựa chọn bản Văng Môn và bản Phà Lỏm, là 2 bản đại diện cho 2 nhóm dân tộc H’Mông và Thái Tại mỗi bản, lấy ngẫu nhiên 30 hộ để phỏng vấn về
Trang 31tình hình khai thác, sử dụng các loài cây ăn được mà họ thu hái từ rừng Tổng cộng có 60 người đại diện cho 60 hộ được phỏng vấn
* Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn, đánh giá có sự tham gia
Phương pháp này được sử dụng để đánh giá thực trạng khai thác, sử dụng, buôn bán và quản lý các loài cây rừng ăn được của người dân địa phương thông qua quan sát, hỏi đáp và thảo luận nhóm Cách làm là mời 15 người dân hiểu biết nhất về các loài cây rừng ăn được trong mỗi bản đến họp nhóm cùng cán bộ lâm nghiệp xã, cán bộ nông lâm huyện để thảo luận, trao đổi về các kết quả đã thống kê được qua phỏng vấn hộ, về tình hình khai thác, buôn bán, quản lý và khả năng gây trồng, phát triển một số loài cây rừng ăn được giá trị tại địa phương
* Điều tra thực địa và thu thập các mẫu thực vật
Từ kết quả thống kê được ở trên, một số người dân địa phương am hiểu về rừng được lựa chọn để cùng tiến hành đi rừng và thu mẫu thực vật Mẫu được thu theo 6 tuyến dọc theo các khe mà người dân thường đi rừng, sau đó mở rộng
ra khu vực rừng ở 2 bên khe
Tuyến 1 từ bản Văng Môn theo khe Pạc Peo;
Tuyến 2 từ bản Văng Môn theo khe Mọn;
Tuyến 3 từ bản Văng Môn theo khe Cọ Khương;
Tuyến 4 từ bản Phà Lõm theo khe Phá Lõm;
Tuyến 5 từ bản Phà Lõm theo khe Chà Lạp;
Tuyến 6 từ bản Phà Lõm theo khe Thẩm Poong;
Điều tra, thu thập mẫu vật theo phương pháp của Nguyễn Nghĩa Thìn, 2007 [26] Tổng số có 198 mẫu của 163 loài cây rừng ăn được của toàn khu vực nghiên cứu đã được thu và làm tiêu bản
2.3.3 Phương pháp xác tên khoa học
Dựa vào các phương pháp hình thái so sánh, nhận diện và xác định nhanh tại chỗ, thu mẫu và so sánh hình thái tại phòng thí nghiệm Tài liệu định loại chính là “Cây cỏ Việt Nam” (3 tập) của Phạm Hoàng Hộ [14] và “Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam” của Nguyễn Tiến Bân [1]
Trang 322.3.4 Lập danh lục thành phần loài và chỉnh lý tên khoa học
Danh lục thành phần loài được sắp xếp họ, chi theo Brummitt, 1992 Chỉnh lý tên khoa học và sắp xếp Danh lục các loài cây rừng ăn được theo theo tài liệu “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” (tập 1, 3) của Nguyễn Tiến Bân [2] Xác định các loài quí, hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng theo Sách Đỏ Việt Nam (2007)
2.3.5 Phương pháp đánh giá đa dạng thực vật
Xác định chi nhiều loài, tính tỷ lệ % số loài các chi đó so với toàn bộ số loài của cả hệ thực vật So sánh với công trình đã nghiên cứu ở các khu vực khác nhau
Hình 2.1 Bản đồ khu vực nghiên cứu và thu mẫu
Trang 33Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Đa dạng về các taxon phân loại
Kết quả điều tra cây rừng ăn được của người dân ở xã Tam Hợp, huyện Tương Dương, bước đầu xác định được 163 loài, thuộc 116 chi, 57 họ (bảng 3.1) Mặc dù các loài cây ăn được xuất hiện trong 2 ngành nhưng số lượng loài chủ yếu thuộc về ngành Ngọc lan (Magnoliophyta), chiếm 98,16%, trong đó phần lớn số loài thuộc về lớp Ngọc lan (Magnoliopsida), chiếm 73,01% tổng số loài
Bảng 3.1 Phân bố về số lượng và tỷ lệ họ, chi, loài của các cây rừng ăn được
Magnoli Magnoliopsida 42 73,68 86 74,14 119 73,01 -ophyta Liliopsida 12 21,05 27 23,28 41 25,15
Hình 3.1 Tỷ lệ họ, chi, loài cây rừng ăn được trong các ngành
Trong ngành Dương xỉ (Polypodiophyta), có 3 loài mà người dân địa phương thường lấy ngọn non làm rau ăn và để bán, gọi là Rau dớn hoặc Rau dún, loài còn
Trang 34lại được gọi là Rau vi Ngành Ngọc lan cũng cung cấp nhiều loại rau có giá trị,
được cả người dân miền xuôi ưa chuộng, như: Rau sắng (Meliantha suavis), Dây hương (Erythropalum scandens),… Ngoài ra còn có nhiều loại quả có giá trị, như Xoài (Mangifera indica), Sấu (Dracontomelon duperreanum), Hồng bì (Clausena lansium), Trám đen (Canarium tramdenum),… Nhiều loại hạt dùng để ăn hoặc làm gia vị thơm, ngon như: Dẻ (Fagaceae sp.), Giổi lông (Michelia balansae (DC.) Dandy),… Các loại hoa có thể ăn ngon, như: hoa Ban (Bauhinia variegata), hoa Chuối (Musa sp.),… Các loại củ có nhiều tinh bột và ngon bổ như: Khoai sọ (Colocasia esculenta), Khoai mài (Dioscorea depauperata), Khoai vạc (Dioscorea alata),…
Các họ nhiều loài
Kết quả thống kê các loài cây ăn được nhiều nhất ở khu vực nghiên cứu với
9 họ chiếm 15,79% tổng số họ nhưng với 74 loài chiếm 45,40% tổng số loài, được thể hiện qua bảng 3.3
Bảng 3.2 Các họ nhiều loài cây rừng ăn được ở Tam Hợp
Trang 35Bảng 3.3 Danh lục cây rừng ăn được của người H’mông và người Thái ở xã Tam Hợp, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An
7 Bouea poilanei Evr Thanh trà Thanh trà R G Q, Ng RAU, QUA
8 Buchanaria lucida Blume Xoài giả Xoài rừng chí cun đà R G Q QUA
9 Choerospondias axillaris (Roxb.) Burtt et Hill Lát xoan Hiển pả Cho chờ R, Nr G Q, Ng RAU, QUA
10 Dracontomelon duperreanum Pierre Sấu trắng Mạc cù Chí mai cu R G Q, Ng RAU, QUA
11 Mangifera foetida Lour Muỗm Có muộng mến Chí gầu từ R G Q QUA
Trang 3612 Pegia sarmentosa (Lecomte) Hand.-Mazz Xoài lửa Xoồm ho chừa chí khổi từ R G Q QUA
13 Spondias lakoensis Pierre Dâu da xoan Mạc hò Chí chờ R G Q QUA
15 Hydrocotyle chevalieri (Chern.) Tardieu Má mơ sa pa Phắc nọc Lỏ và Nr, Vs Th Th, L RAU
16 Hydrocotyle nepalense Hook Rau má lá to Phắc nọc Lỏ và song R, Nr, Vs Th Th, L RAU
17 Hydrocotyle sibthorpioides Lam Rau má mỡ Phắc nọc Lỏ và Vr, Vs Th Th, L RAU
18 Sanicula elata Buch – Ham ex D.Don Cần núi Mạ hảy pả Vr, Vs Th Th, L RAU
19 Aralia armata (Wall ex G Don) Seem Đinh lăng gai Có hú DN, Nr B L, R RAU
20 Trevesia palmata (Roxb ex Lindl.) Visan Đu đủ rừng Co hổng pả DN, Nr B L, R RAU
22 Artemisia carvifolia Buch.-Ham ex Roxb thanh cao ngò Thanh hao Xú chỉ Vs Th L RAU, GVI
23 Artemisia vulgaris L Ngải cứu nhà cứu, cỏ
ngải sún rì Nr Th Th,L RAU
24 Bidens pilosa L Rau bộ binh Tra công Dn, Nr Th Ng RAU
25 Blumea lacera (Burm.f.) DC Cải trời Có hôi Pủ hu Nr Th Ng RAU
26 Blumea lanceolaria (Roxb.) Druce Xương sông Xương xông Rau kì Nr Th L RAU
27 Blumea megacephala (Rand.) Chang et Tsiang Đại bi đầu to phắc phà bò nho hồng Dn, Nr Th L, Ng RAU
28 Crassocephalum crepidioides (Benth.) S
Moore Rau tàu bay Ă là măng Trò nga
hỏng R, Nr Th L, Ng RAU
29 Enydra fluctuans Lour Rau ngổ trâu Có phắc ngổ Rùa dế đề R, Nr, Vs Th L, Ng RAU
Trang 3730 Erechtites hieracifolia (L.) Raf Hoàng thất lá hẹp Trỏ trò Dn, Nr Th L, Ng RAU
31 Gynura barbaraefolia Gagnep Kim thất cải Phắc cụt hong Nr Th L, Ng RAU
32 Gynura procumbens (Lour.) Merr Dây chua lè bơ lô Nr, R Th L, Ng RAU
33 Gynura pseudo-china (L.) DC Kim thất giả Nhà cồn chằm Nr, R Th L, Ng RAU
34 Lactuca indica L Diếp dại Soi hóng cày Bắc pha Nr, R Th L, Ng RAU
35 Oroxylum indicum (L.) Kurz Núc nác Có mạc quao Chín tẩu tà Nr, R G Q RAU, QUA
36 Radermachera ignea (Kurz) Steen Rà đẹt lửa Đọc Pịp Đọc pịp R G Q, Ho RAU, QUA
37 Bursera serrata Wall ex Colebr Trám Trám R G Q RAU, QUA
38 Canarium album (Lour.) Raeusch Trám trắng Có cuờm háo R G Q RAU, QUA
39 Canarium tramdenum Dai et Yakovl Trám đen Có cuườm nắm R G Q RAU, QUA
40 Bauhinia variegata L Hoa ban Có bọc bán Pà vủa chá R, Nr G Ho RAU
41 Caesalpinia mimosoides Lamk Vang trinh nữ Có phóng căm R, Nr L Ng, Ho RAU
42 Dialium cochinchinense Pierre Xoay, Kiền kiền Mạ nhì bè R, Nr G Q QUA
43 Sacara dives Pierre Vàng anh Có cả mạ R, Nr G L, Q RAU, QUA
44 Cleome gynandra L Màn màn hoa trắng màn màn R, Nr Th Ng RAU
45 Crateva magna (Lour.) DC Bún to co cụm R, Nr L Ng RAU
46 Crateva religiosa Forst f Bún bắc cụm R, Nr G L, Ng RAU
47 Lonicera japonica Thunb Kim ngân mạc cả nói vả R, Nr L Ho, L RAU, NUC
48 Cardiopteris lobata R Br Rau mướp rừng mạc tệt chí chài R, Nr L L, Ng RAU