1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp quản lí công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên các ngành nông lâm ngư trường đại học vinh

99 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH ------ MAI XUÂN NGUYÊN MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÍ CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN CÁC NGÀNH NÔNG LÂM NGƯ TRƯỜNG ĐẠI HỌC V

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

- -

MAI XUÂN NGUYÊN

MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÍ CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN CÁC NGÀNH NÔNG LÂM NGƯ TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGHỆ AN – 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

- -

MAI XUÂN NGUYÊN

MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÍ CÔNG TÁC

GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO

SINH VIÊN CÁC NGÀNH NÔNG LÂM NGƯ TRƯỜNG

ĐẠI HỌC VINH

Chuyên ngành: Quản lí giáo dục

Mã số : 60.14.01.14

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS THÁI VĂN THÀNH

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:

- Thầy giáo PGS.TS Thái Văn Thành – Phó Hiệu trưởng trường Đại

học Vinh, đã giao đề tài, tận tình hướng dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất

cho tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

- Lãnh đạo Phòng Sau Đại học, Ban chủ nhiệm Khoa Giáo dục, cùng các

thầy giáo, cô giáo thuộc Bộ môn Quản lí Giáo dục trường ĐH Vinh đã giúp đỡ,

tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi hoàn thành luận văn này

Tôi cũng xin cảm ơn tất cả những người thân trong gia đình, Ban giám

hiệu Trường Đại học Vinh, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi

trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này

Nghệ An, tháng 06 năm 2016

Mai Xuân Nguyên

Trang 4

Giáo dục đạo đức nghề nghiệp

Rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp

QLGD QLNT

GD

ĐĐ ĐĐNN GDĐĐNN RLKNNN

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4

4 giả thuyết khoa học……… 4

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

6 Phạm vi nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Đóng góp mới của đề tài 4

9 Cấu trúc của luận văn 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN NÔNG LÂM NGƯ 6

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6

1.1.1 Trên thế giới 6

1.1.2 Ở Việt Nam 7

1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài 10

1.2.1 Sinh viên và Công tác quản lý sinh viên……… 10

1.2.2 Quản lí, quản lí giáo dục, quản lí nhà trường 15

1.2.3 Giáo dục, đạo đức, giáo dục đạo đức 20

1.2.4 Đạo đức nghề nghiệp và giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên các ngành Nông Lâm Ngư 25

1.2.5 Giải pháp và giải pháp quản lí công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên các ngành Nông Lâm Ngư 28

1.3 Một số vấn đề lí luận về quản lí công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên các ngành Nông Lâm Ngư 29

1.3.1 Ý nghĩa của việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên các ngành Nông Lâm Ngư 29

1.3.2 Đặc điểm chung của nghề Nông Lâm Ngư 34

Trang 6

1.3.3 Mục tiêu, nội dung, phương pháp, con đường giáo dục đạo đức nghề

nghiệp cho sinh viên các ngành Nông Lâm Ngư 34

1.3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc quản lí công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên các ngành Nông Lâm Ngư 43

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 47

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÍ CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN CÁC NGÀNH NÔNG LÂM NGƯ TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH 48

2.1 Khái quát về tình hình hoạt động và quy mô đào tạo của trường Đại học Vinh 48

2.2 Khái quát về điều tra thực trạng 51

2.2.1 Mục đích điều tra 51

2.2.2 Nội dung điều tra 51

2.2.3 Đối tượng điều tra 51

2.2.4 Phương pháp điều tra 52

2.3 Thực trạng công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên các ngành Nông Lâm Ngư trường Đại học Vinh 52

2.3.1 Nhận thức của cán bộ quản lí, giảng viên, sinh viên Nông Lâm Ngư trường Đại học Vinh và một số công ty 52

2.3.2 Thực trạng hoạt động giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên Nông Lâm Ngư trường Đại học Vinh 54

2.4 Thực trạng quản lí công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên các ngành Nông Lâm Ngư trường Đại học Vinh 55

2.4.1 Thực trạng xây dựng kế hoạch công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên các ngành Nông Lâm Ngư 58

2.4.2 Thực trạng tổ chức công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên các ngành Nông Lâm Ngư 59

2.4.3 Thực trạng chỉ đạo công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên các ngành Nông Lâm Ngư 60

Trang 7

2.4.4 Thực trạng kiểm tra, đánh giá công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho

sinh viên các ngành Nông Lâm Ngư 61

2.5 Đánh giá chung về thực trạng quản lý công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên các ngành Nông Lâm Ngư trường Đại học Vinh 62

2.5.1 Đánh giá thực trạng 62

2.5.2 Nguyên nhân thực trạng 63

2.5.3 Thuận lợi, khó khăn trong quản lý công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên các ngành Nông Lâm Ngư trường Đại học Vinh 64

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 65

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÍ CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN CÁC NGÀNH NÔNG LÂM NGƯ TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH 66

3.1.Nguyên tắc đề xuất giải pháp 66

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 66

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 66

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 67

3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 68

3.2 Một số giải pháp quản lí công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên các ngành Nông Lâm Ngư trường Đại học Vinh 68

3.2.1 Nâng cao nhận thức về đạo đức, văn hóa lối sống và đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên 68

3.2.2 Đưa đạo đức nghề nghiệp vào chương trình đào tạo 74

3.2.3 Tăng cường giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên qua hoạt động dạy học ở trên lớp 75

3.2.4 Tăng cường giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên qua hoạt động thực tập nghề 76

3.2.5 Tăng cường giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trong họat động ngoại khoá, họat động xã hội 77

Trang 8

3.2.6 Đẩy mạnh công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp trong hoạt động học

tập và sinh hoạt ở ký túc xá sinh viên 78

3.2.7 Đẩy mạnh công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp trong việc xây dựng chương trình đào tạo "kỹ năng mềm" cho sinh viên 79

3.2.8 Phát huy vai trò tự rèn luyện, tu dưỡng của sinh viên 80

3.3 Thăm dò sự cần thiết và tính khả thi của các giải pháp đề xuất 81

3.3.1 Mục đích thăm dò 81

3.3.2 Nội dung thăm dò 81

3.3.3 Phương pháp thăm dò 81

3.3.4 Kết quả thăm dò 82

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 83

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 84

1 Kết luận 84

2 Kiến nghị 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO 86

PHỤ LỤC ……… ….………… 88

Trang 9

Giáo dục và đào tạo là một hoạt động có tổ chức của xã hội, nhằm bồi dưỡng và phát triển các phẩm chất và năng lực con người cho mỗi công dân (cả

về tư tưởng, đạo đức, khoa học, sức khosẻ và nghề nghiệp) Trong quá trình giáo dục ở nhà trường, nhiệm vụ giáo dục tri thức luôn phải gắn với nhiệm vụ giáo dục đạo đức Thông qua “dạy chữ” để “dạy người”, giáo dục đạo đức là một khâu then chốt để giáo dục nhân cách con người Đạo đức là tổng hợp các qui tắc, tiêu chuẩn chỉ đạo mối quan hệ giữa con người với nhau trong một cộng đồng, một xã hội nói chung Cho dù ở giai đoạn nào của lịch sử thì nét chung của đạo đức vẫn là hướng tới cái thiện, chống lại cái ác, hướng tới quan hệ đẹp

đẽ giữa con người với con người, con người với tự nhiên và xã hội, đồng thời cũng khẳng định sự tu dưỡng, tự giáo dục của chính mỗi cá nhân Trong nền giáo dục từ xa xưa, ông cha ta vẫn rất đề cao và coi trọng giáo dục đạo đức của con người “Tiên học lễ, hậu học văn”, phải chăng “lễ” là đức dục, là nền tảng cho sự phát triển và tài năng của con người Lúc sinh thời Hồ Chủ Tịch rất quan tâm đến vấn đề giáo dục, rèn luyện đạo đức cho thế hệ trẻ Bác nói: “Có đức mà không có tài th́ì làm việc gì cũng khó, có tài mà không có đức là người vô dụng’’ Bác cũng chỉ rõ “Dạy cũng như học phải chú trọng cả Đức lẫn Tài Đức

Trang 10

là đạo đức cách mạng, đó là cái gốc rất quan trọng Công tác giáo dục đạo đức trong trường học là một bộ phận quan trọng có tính chất nền tảng của nhà trường XHCN” Như vậy Đức và Tài là hai phạm trù cơ bản để đánh giá nhân cách của một con người Cho nên để phát triển nhân cách phải hình thành, rèn luyện phẩm chất đạo đức, giá trị đạo đức phù hợp

Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã chỉ rõ phương hướng phát triển giáo dục – đào tạo giai đoạn 2011 – 2015 và chiến lược phát triển giáo dục 2011 -

2020 nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, là ‘‘ nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt coi trọng giáo dục lý tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo,

kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội,… Đẩy mạnh đào tạo nghề theo nhu cầu phát triển của xã hội; có cơ chế và chính sách thiết lập mối liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp với cơ sở đào tạo Xây dựng và thực hiện các chương trình, đề án đào tạo nhân lực cho các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, nâng cao tỉ lệ lao động qua đào tạo’’

1.2 Về mặt thực tiễn

Trong xu thế hội nhập quốc tế, trong xu hướng toàn cầu hoá diễn ra trên mọi mặt của đời sống xã hội đã có ảnh hưởng tích cực đến tầng lớp sinh viên Một bộ phận lớn sinh viên đã nhận thức đúng đắn việc học tập và tu dưỡng đạo đức Tuy nhiên cùng với xu hướng hội nhập, mặt trái của nó cũng len lỏi, xâm nhập vào tầng lớp sinh viên, khiến cho một bộ phận sinh viên sa sút về đạo đức,

mờ nhạt về lí tưởng và hoài bão ước mơ Những tệ nạn xã hội đã gây không ít tác hại đối với sinh viên làm ảnh hưởng tới chất lượng, uy tín của các nhà trường Thực tế công tác giáo dục đạo đức ở các trường đại học chưa được quan tâm đúng mức Việc giáo dục đạo đức cho sinh viên mặc dù đã được chú ý nhưng chưa đổi mới thường xuyên, nội dung nghèo nàn, thực hiện chưa đồng

bộ Quá trình đào tạo trường Đại học Vinh nói chung và khoa Nông Lâm Ngư

Trang 11

nói riêng cũng nặng về trang bị, cung cấp kiến thức khoa học chưa chú ý rèn luyện kĩ năng nghề nghiệp và những phẩm chất đạo đức của người sinh viên Để đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo, chúng ta cần quan tâm hơn nữa đến việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên thông qua các môn học và các hoạt động

Trường Đại học Vinh là một trong 16 trường được Chính phủ đầu tư xây dựng thành trường đại học trọng điểm quốc gia, có uy tín của cả nước - nơi cung cấp phần lớn nguồn nhân lực cho sự phát triển giáo dục, kinh tế - xã hội của vùng Hiện tại, Trường Đại học Vinh đang đào tạo bậc đại học hệ chính quy và

hệ vừa làm vừa học (trước đây gọi là hệ tại chức) Sinh viên Trường Đại học Vinh đến từ hơn 50 tỉnh thành trong cả nước và nhiều nước trong khu vực (chủ yếu là Trung Quốc, Lào, Thái Lan, ) Trải qua hơn nửa thế kỷ xây dựng và phát triển, Trường Đại học Vinh đã đào tạo được hơn 70.300 giáo viên, cử nhân khoa học, kỹ sư Với quy mô phát triển lớn mạnh đó, , thì việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên của trường nói chung và sinh viên ngành Nông Lâm Ngư nói riêng là rất cần thiết Là một người trực tiếp đảm nhận công việc quản lí sinh viên khoa Nông Lâm Ngư, tôi luôn nhận thức được vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách cho sinh viên, đào tạo sinh viên vừa có kiến thức và trình

độ chuyên môn nghiệp vụ cao, vừa phải có đạo đức tốt Đặc biệt là giúp các giáo sinh yên tâm với nghề mình đã chọn, để họ có thể trở thành những người kỹ sư nông nghiệp, cử nhân kinh tế nông nghiệp vừa có Đức, vừa có Tài, gắn bó cả đời mình với sự nghiệp phát triển nền nông nghiệp của đất nước

Với những lý do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu “Một số giải pháp quản

lý công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên các ngành Nông Lâm Ngư trường Đại học Vinh” làm đề tài luận văn tốt nghiệp

2 Mục đích nghiên cứu

Đề xuất một số giải pháp quản lí công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên các ngành Nông Lâm Ngư trường Đại học Vinh, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường

Trang 12

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu: Công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên các ngành Nông lâm ngư

32 Đối tượng nghiên cứu: Một số giải pháp quản lí công tác giáo dục đạo

đức nghề nghiệp cho sinh viên các ngành Nông Lâm Ngư trường Đại học Vinh

4 Giả thuyết khoa học

Nếu đề xuất được một số giải pháp có tính khoa học và khả thi, thì có thể nâng cao hiệu quả quản lý công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên

các ngành Nông Lâm Ngư trường Đại học Vinh

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lí công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên các ngành Nông Lâm Ngư

5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lí công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên các ngành Nông Lâm Ngư trường Đại học Vinh

5.3 Đề xuất một số giải pháp quản lí công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên các ngành Nông Lâm Ngư trường Đại học Vinh

6 Phạm vi nghiên cứu

Sinh viên các ngành Nông Lâm Ngư trường Đại học Vinh

7 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi sử dụng các nhóm phương pháp nghiêu cứu chủ yếu sau đây:

7.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận: Tập hợp, phân loại tài liệu, nghiên cứu các tài liệu, văn bản của Đảng, của Nhà nước, của ngành giáo dục và các luận văn, luận án có liên quan để tổng thuật, xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài

7.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Khảo sát, điều tra tình hình thực tiễn, đàm thoại, phỏng vấn, thu thập thông tin, hỏi ý kiến chuyên gia 7.3 Nhóm các phương pháp thống kê toán học: Xử lý số liệu

8 Đóng góp mới của đề tài

Trang 13

- Luận văn góp phần hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về quản lí công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên khoa Nông Lâm Ngư trường Đại học Vinh

- Luận văn cũng khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên các ngành Nông Lâm Ngư trường Đại học Vinh, chỉ ra những ưu điểm và những bất cập, tồn tại của công tác này trong thời gian qua

- Trên cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn tại trường Đại học Vinh, luận văn đề xuất một số giải pháp có tính khoa học và khả thi về việc quản lí công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên, nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức nghề nghiệp và giáo dục toàn diện của trường

9 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lí công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp

cho sinh viên các ngành Nông Lâm Ngư

Chương 2: Thực trạng quản lí công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho

sinh viên các ngành Nông Lâm Ngư trường Đại học Vinh

Chương 3: Một số giải pháp quản lí công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp

cho sinh viên các ngành Nông Lâm Ngư trường Đại học Vinh

Trang 14

Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội được hình thành rất sớm trong lịch

sử phát triển nhân loại và được mọi xã hội, mọi giai cấp, mọi thời đại quan tâm Trong bất cứ xã hội nào, thời đại nào cũng đều tồn tại mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với xã hội Tuỳ theo trình độ phát triển xã hội mà những lợi ích của cá nhân phù hợp ít hay nhiều với lợi ích của xã hội Giáo dục đạo đức cho con người là vấn đề đã được đặt ra từ xa xưa và luôn được đổi mới

để thích ứng với thực tiễn của thời đại

Khổng Tử (551- 479) là người sáng lập ra thuyết đạo đức của Nho giáo

Theo ông Nhân- Nghĩa là giường cột của đạo đức, nhân nghĩa được đánh giá theo

hành vi Bàn về vấn đề vai trò của Nho giáo đối với đời sống xã hội và giáo dục, tác giả Quang Đạm đã viết: “Nho giáo đã có những cố gắng to lớn bền bỉ, có những cống hiến tích cực trong việc khuyên bảo dạy dỗ cho con người yêu thương đồng loại, cho con người có quan hệ tốt với nhau: Đạo đức Nhân - Nghĩa- Lễ- Trí - Tín và Hiếu lễ tuy có phần mơ hồ do hạn chế của những điều kiện lịch

sử đương thời, đều biểu thị rõ tinh thần và ý chí tốt lành thiết tha mong muốn làm

cho con người tránh được, bớt được đau khổ”[10]

Ở phương tây, trước công nguyên có nhiều nhà triết học quan tâm đến vấn

đề đạo đức Nhà triết học Xôcrát (470-399) hướng triết học vào việc giáo dục con người sống có đạo đức Ông cho rằng: “Nguyên nhân sâu xa của hành vi có hay không có đạo đức là do nhận thức” Arixtốt thì xem đạo đức và chính trị là triết học về con người Đạo đức là cái thiện của cá nhân, còn chính trị là cái thiện của xã hội Sau này trên thế giới có nhiều triết gia, nhiều nhà giáo dục khác

Trang 15

bàn về vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức Trong đó phải kể đến nhà sư phạm

lỗi lạc người Tiệp Khắc J.A.Komenxky (1592- 1670) Theo ông : “ Việc trau dồi đức hạnh cần phải bắt đầu từ lúc còn thơ, trước khi tâm hồn bị hoen ố” và “ Đức hạnh của người có thể trau dồi được bằng cách luôn luôn xử sự chân chính’’ Trong các phương pháp giáo dục sinh động của mình, ông đề cao giáo

dục động cơ và hành vi đạo đức

Những thập kỉ gần đây, vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, nhà giáo dục Có thể kể đến các công trình sau:

- Năm (1977- 1978), trung tâm nghiên cứu khoa học về thanh niên của Bungari trong chương trình nghiên cứu về vấn đề giáo dục đạo đức cho thanh niên đã đề cập nhiều đến vấn đề định hướng giá trị cho thanh niên trong đó có giá trị đạo đức

- Năm 1979 Nhà xuất bản Matxcơva xuất bản cuốn “Giáo dục đạo đức học sinh - những vấn đề lí luận” của N.I Bônđưrép đề cập đến vấn đề lí luận giáo

dục đạo đức cộng sản chủ nghĩa cho thanh niên

- Năm (1986 - 1987) theo đề nghị của UNESCO đã có cuộc điều tra quốc tế

về giá trị đạo đức của con người chuẩn bị bước vào thế kỉ XXI nhằm mục đích nghiên cứu các vấn đề về giá trị đạo đức và giáo dục về giá trị đạo đức Đáng kể

đến là tài liệu “Giá trị trong hành động” của trung tâm Canh tân và công nghệ

giáo dục thuộc tổ chức Bộ trưởng Giáo dục Đông Nam Á, xuất bản năm 1992 Tài liệu trình bày về vấn đề đưa giáo dục giá trị vào nhà trường và cộng đồng các nước Inđônêxia, Philíppin, Malaysia và Thái Lan

1.1.2 Ở Việt Nam

Ở Việt Nam đã có hơn một trăm cuốn sách về giáo dục đạo đức Nội dung sách dạy làm người và bổn phận của mỗi người đối với xã hội, cách giao tiếp trong xã hội, thể hiện qua các tựa đề sách như: Huấn nữ ca ; Thơ dạy làm dâu ; Gia huấn ca ; Phong hoá tập ; Phong hoá lễ nghi; Tập lễ phép; Phải trái ở đời; Lời

Trang 16

mẹ dạy con; Đạo đức và luân lí; Mấy lời khuyên học trò…Trong số những tác giả viết loại sách này phải kể đến cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh

Cụ Phan Bội Châu khi viết “Khổng đăng học”, cụ đã rút ra 6 tính tốt cần rèn luyện gọi là lục ngôn: Nhân, Trí, Tín, Trực, Dũng, Cương Trong thời đại

ấy việc giáo dục 6 đức tính đó có tác dụng như sự rèn luyện bản lĩnh cho con người

Cụ Phan Chu Trinh trong bài “Đạo đức và luân lí” đã tìm ra sức mạnh cho

dân cho nước ở sức mạnh đạo đức, nhân cách, bản lĩnh con người Theo Cụ từ xưa đến nay bất cứ dân tộc nào đã đứng cạnh tranh hơn thua với các dân tộc trên thế giới thì chẳng những thuần nhờ sức mạnh mà thôi mà phải nhờ có đạo đức làm gốc nữa Nhất là dân tộc nào đã bị té nhào xuống nay muốn đứng lên khỏi bị người ta đi lên trên thì lại phải có một nền đạo đức vững chắc hơn dân tộc đang giàu mạnh hơn mình

Sau này, chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã nghiên cứu về vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức Tư tưởng đạo đức của Người cụ thể và gần gũi với mọi đối

tượng Đối với trẻ thơ, Bác chỉ mong chúng “…biết ăn biết ngủ, biết học hành

là ngoan” Với thiếu niên, nhi đồng, Bác dạy thành 5 điều Bác dạy mỗi công

dân nói chung phải tuân theo pháp luật, kỉ luật lao động, giữ gìn trật tự, hăng hái lao động sản xuất, tiết kiệm,… Đối với các chiến sĩ trong quân đội, Bác dạy phải

“Trung với nước, hiếu với dân , nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” Đối với lực lượng công an, Bác dạy thành 6 điều theo 6 mối quan hệ với bản thân, với đồng sự, với chính phủ, với nhân dân, với công việc và với cả kẻ địch Còn đối với người Đảng viên, cán

bộ, Bác dạy phải “cần, kiệm, liêm, chính, chí, công, vô tư” Tư tưởng đạo đức

của Bác Hồ thật gần gũi, dễ hiểu, dễ thực hiện nhưng cũng rất chặt chẽ, toàn diện và sâu sắc Bên cạnh đó cũng có một số tác giả khác nghiên cứu về đạo đức trong mối quan hệ với văn hoá, giá trị truyền thống, lối sống…như Vũ Khiêu, Trần Ngọc Thêm, Trần Văn Giàu, …

Trang 17

Trong những năm gần đây, vấn đề đạo đức trong xã hội hiện tại và vấn đề giáo dục đạo đức, tư tưởng chính trị, lối sống cho thế hệ trẻ trở thành mối quan tâm của xã hội Nhiều nhóm tác giả đã đi sâu nghiên cứu theo các đề tài khoa học cấp nhà nước về định hướng giá trị, lối sống, đạo đức, … Có thể kể đến một

số công trình sau:

-“Giá trị - Định hướng giá trị nhân cách và giáo dục giá trị” thuộc đề tài

khoa học cấp nhà nước mã số KX- 07- 04(1995) Các tác giả trình bày về hệ thống thang bậc giá trị, sự hình thành định hướng giá trị nhân cách cũng như việc giáo dục giá trị Trong đó khía cạnh phẩm chất đạo đức trong nhân cách được coi là giá trị đích thực, cao quí của con người, của mỗi cá nhân mà xã hội đang đòi hỏi, mong đợi Các tác giả cũng nhấn mạnh phải coi trọng cả việc kế thừa những giá trị truyền thống lẫn giá trị hiện đại trong việc giáo dục giá trị cho thế hệ trẻ

- “Về phát triển toàn diện con người thời kì công nghiệp hóa hiện đại hóa”

thuộc đề tài khoa học cấp nhà nước do Giáo sư- Viện sĩ Phạm Minh Hạc chủ trì,

mã số KHXH 04-04(2001) Trong đó dành hẳn một chương (chương7) nói về định hướng chiến lược xây dựng đạo đức con người Việt Nam, các tác giả trình bày thực trạng đạo đức, nêu rõ mục tiêu giáo dục đạo đức trong giai đoạn hiện nay cũng như việc đề ra các giải pháp giáo dục đạo đức cho con người Việt Nam thời kì Công nghiệp hóa hiện đại hóa

Tóm lại, đã có nhiều công trình khoa học trong và ngoài nước đề cập đến vấn đề giáo dục đạo đức, nhưng nghiên cứu về đạo đức và giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên các ngành Nông Lâm Ngư thì rất ít Đặc biệt trong điều kiện toàn cầu hoá, thế giới có nhiều biến động, sự hội nhập của các nền văn hoá trên thế giới, một số hiện tượng tiêu cực đang xuất hiện ngày càng nhiều trong ngành giáo dục đã có ảnh hưởng không nhỏ tới một bộ phận sinh viên Chính vì thế việc nghiên cứu về giải pháp quản lí công tác giáo dục đạo đức

Trang 18

nghề nghiệp cho sinh viên Nông Lâm Ngư trường Đại học Vinh là hết sức cần thiết, và đây cũng là một vấn đề mới mẻ chưa có ai nghiên cứu

1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài

1.2.1 Sinh viên và Công tác Quản lý sinh viên

b Sinh viên có nhiệm vụ:

- Thực hiện nhiệm vụ học tập theo mục tiêu, chương trình và kế hoạch giáo dục của nhà trường;

- Kính trọng nhà giáo, cán bộ quản lý, công nhân viên của nhà trường và

cơ sở giáo dục khác; tuân thủ pháp luật của nhà nước; thực hiện nội quy, điều lệ nhà trường

- Rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh cá nhân và bảo vệ môi trường

- Giữ gìn và bảo vệ tài sản nhà trường

- Tham gia lao động công ích và hoạt động xã hội ở địa ương

- Góp phần xây dựng, bảo vệ và phát huy truyền thống của nhà trường, cơ

sở giáo dục khác [15]

c Quyền, nghĩa vụ và những hành vi sinh viên không được làm:

* Quyền của sinh viên:

- Được nhận vào học đúng ngành nghề đã đăng ký dự tuyển nếu đủ các

điều kiện trúng tuyển theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo và nhà trường

- Được nhà trường tôn trọng và đối xử bình đẳng; được cung cấp đầy đủ thông tin cá nhân về việc học tập, rèn luyện theo quy định của nhà trường; được

Trang 19

nhà trường phổ biến nội quy, quy chế về học tập, thực tập, thi tốt nghiệp, rèn luyện, về chế độ chính sách của Nhà nước có liên quan đến sinh viên

- Được tạo điều kiện trong học tập và rèn luyện, bao gồm:

+ Được sử dụng thư viện, các trang thiết bị và phương tiện phục vụ các hoạt động học tập, thí nghiệm, nghiên cứu khoa học, văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao;

+ Được tham gia nghiên cứu khoa học, thi sinh viên giỏi, thi Olympic các môn học, thi sáng tạo tài năng trẻ;

+ Được chăm lo, bảo vệ sức khoẻ theo chế độ hiện hành của Nhà nước; + Được đăng ký dự tuyển đi học ở nước ngoài, học chuyển tiếp ở các trình

độ đào tạo cao hơn theo quy định hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo;

+ Được tạo điều kiện hoạt động trong tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội Sinh viên Việt Nam, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam; tham gia các tổ chức tự quản của sinh viên, các hoạt động xã hội có liên quan ở trong và ngoài nhà trường theo quy định của pháp luật; các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể thao lành mạnh, phù hợp với mục tiêu đào tạo của nhà trường;

+ Được nghỉ học tạm thời, tạm ngừng học, học theo tiến độ chậm, tiến độ nhanh, học cùng lúc hai chương trình, chuyển trường theo quy định của quy chế

về đào tạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo; được nghỉ hè, nghỉ tết, nghỉ lễ theo quy định

- Được hưởng các chế độ, chính sách ưu tiên theo quy định của Nhà nước; được xét nhận học bổng do các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tài trợ; được miễn giảm phí khi sử dụng các dịch vụ công cộng về giao thông, giải trí, tham quan viện bảo tàng, di tích lịch sử, công trình văn hoá theo quy định của Nhà nước

Trang 20

- Được trực tiếp hoặc thông qua đại diện hợp pháp của mình kiến nghị với nhà trường các giải pháp góp phần xây dựng nhà trường; được đề đạt nguyện vọng và khiếu nại lên Hiệu trưởng giải quyết các vấn đề có liên quan đến quyền, lợi ích chính đáng của sinh viên

- Được xét tiếp nhận vào ký túc xá theo quy định của trường Việc ưu tiên khi sắp xếp vào ở ký túc xá theo quy định tại Quy chế công tác HSSV nội trú của Bộ Giáo dục và Đào tạo

- Sinh viên đủ điều kiện công nhận tốt nghiệp được nhà trường cấp bằng tốt nghiệp, bảng điểm học tập và rèn luyện, hồ sơ sinh viên, các giấy tờ có liên quan khác và giải quyết các thủ tục hành chính

- Được hưởng chính sách ưu tiên của Nhà nước trong tuyển dụng vào các

cơ quan Nhà nước nếu tốt nghiệp loại giỏi, rèn luyện tốt và được hưởng các chính sách ưu tiên khác theo quy định về tuyển dụng cán bộ, công chức, viên chức [6]

* Nghĩa vụ của sinh viên:

- Chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các quy chế, nội quy, điều lệ nhà trường

- Tôn trọng nhà giáo, cán bộ và nhân viên của nhà trường; đoàn kết, giúp

đỡ lẫn nhau trong quá trình học tập và rèn luyện; thực hiện tốt nếp sống văn minh

- Giữ gìn và bảo vệ tài sản của nhà trường; góp phần xây dựng, bảo vệ và phát huy truyền thống của nhà trường

- Thực hiện nhiệm vụ học tập, rèn luyện theo chương trình, kế hoạch giáo dục, đào tạo của nhà trường; chủ động tích cực tự học, nghiên cứu, sáng tạo và

tự rèn luyện đạo đức, lối sống

Trang 21

- Thực hiện đầy đủ quy định về việc khám sức khoẻ khi mới nhập học và khám sức khoẻ định kỳ trong thời gian học tập theo quy định của nhà trường

- Đóng học phí đúng thời hạn theo quy định

- Tham gia lao động và hoạt động xã hội, hoạt động bảo vệ môi trường phù hợp với năng lực và sức khoẻ theo yêu cầu của nhà trường

- Chấp hành nghĩa vụ làm việc có thời hạn theo sự điều động của Nhà nước khi được hưởng học bổng, chi phí đào tạo do Nhà nước cấp hoặc do nước ngoài tài trợ theo Hiệp định ký kết với Nhà nước, nếu không chấp hành phải bồi hoàn học bổng, chi phí đào tạo theo quy định

- Tham gia phòng, chống tiêu cực, gian lận trong học tập, thi cử và các hoạt động khác của sinh viên, cán bộ, giáo viên; kịp thời báo cáo với khoa, phòng chức năng, Hiệu trưởng nhà trường hoặc các cơ quan có thẩm quyền khi phát hiện những hành vi tiêu cực, gian lận trong học tập, thi cử hoặc những hành vi

vi phạm pháp luật, vi phạm nội quy, quy chế khác của sinh viên, cán bộ, giáo viên trong trường

- Tham gia phòng chống tội phạm, tệ nạn ma tuý, mại dâm và các tệ nạn xã hội khác [6]

* Các hành vi sinh viên không được làm:

- Xúc phạm nhân phẩm, danh dự, xâm phạm thân thể nhà giáo, cán bộ, nhân viên nhà trường và HSSV khác

- Gian lận trong học tập như: quay cóp, mang tài liệu vào phòng thi, xin điểm; học, thi, thực tập, trực hộ người khác hoặc nhờ người khác học, thi, thực tập, trực hộ; sao chép, nhờ hoặc làm hộ tiểu luận, đồ án, khoá luận tốt nghiệp; tổ chức hoặc tham gia tổ chức thi hộ hoặc các hành vi gian lận khác

- Hút thuốc, uống rượu, bia trong giờ học; say rượu, bia khi đến lớp

Trang 22

- Gây rối an ninh, trật tự trong trường hoặc nơi công cộng

- Tham gia đua xe hoặc cổ vũ đua xe trái phép

- Đánh bạc dưới mọi hình thức

- Sản xuất, buôn bán, vận chuyển, phát tán, tàng trữ, sử dụng hoặc lôi kéo người khác sử dụng vũ khí, chất nổ, các chất ma tuý, các loại hoá chất cấm sử dụng, các tài liệu, ấn phẩm, thông tin phản động, đồi trụy và các tài liệu cấm khác theo quy định của Nhà nước; tổ chức, tham gia, truyền bá các hoạt động

mê tín dị đoan, các hoạt động tôn giáo trong nhà trường và các hành vi vi phạm đạo đức khác

- Thành lập, tham gia các hoạt động mang tính chất chính trị trái pháp luật;

tổ chức, tham gia các hoạt động tập thể mang danh nghĩa nhà trường khi chưa được Hiệu trưởng cho phép [6]

d Vị trí, vai trò của sinh viên trong quá trình đào tạo:

Sinh viên là nhân vật trung tâm trong các học viện, đại học, các trường đại học, cao đẳng Trọng tâm hoạt động của bộ máy chính quyền, các tổ chức Đảng, Đoàn, Hội Sinh viên trong nhà trường dưới sự chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng với sự phối hợp chặt chẽ của các Ban, Ngành ở TW, của các cấp ủy đảng và chính quyền địa phương đều hướng vào nhiệm vụ chính trị quan trọng nhất của các trường là giáo dục, rèn luyện sinh viên

Công tác sinh viên trong các trường đào tạo là một trong những công tác trọng tâm của hiệu trưởng Hiệu trưởng các trường đào tạo chịu trách nhiệm tất

cả các khâu trong công tác sinh viên, tạo điều kiện để sinh viên thực hiện đầy đủ quyền và nghĩ vụ của mình

Làm tốt công tác sinh viên có ý nghĩa tiên quyết đối với việc thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ của nhà trường

1.2.1.2 Công tác quản lý sinh viên

Trang 23

Quản lý sinh viên là cách thức tác động (tổ chức, điều khiển, chỉ huy) hợp quy luật của chủ thể quản lý (ở đây gồm có nhà trường, gia đình, xã hội, trong đó vai trò nhà trường là quan trọng nhất) đến sinh viên trong và ngoài trường học làm cho nhà trường vận hành đạt hiệu quả mong muốn và đạt được các mục tiêu đề ra

Công tác quản lý sinh viên, dưới khía cạnh là những phương diện hoạt động công ích của nhà trường nhằm quản lý, tư vấn, hướng dẫn, trợ giúp sinh viên thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình trong quá trình học tập tại trường

Công tác quản lý sinh viên bao gồm tất cả tiện ích do nhà trường cung cấp nhằm tạo điều kiện cho sinh viên thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình từ khi trúng tuyển vào trường cho đến khi ra trường; từ hoạt động học tập của sinh viên cho đến hoạt động rèn luyện đạo đức, nhân cách, thể chất; từ việc sinh viên thực

hiện những quy định bắt buộc cho đến việc chủ động, tích cực thực hiện trong điều kiện cho phép sinh viên lựa chọn, yêu cầu

1.2.2 Quản lí, quản lí giáo dục, quản lí nhà trường

1.2.2.1 Quản lí

Quản lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm định hướng, tổ chức,

sử dụng các nguồn lực và phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất

Quản lý là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất trong các hoạt động của con người Quản lý là gì? Người quản lý cần làm gì và làm như thế nào? Đó là những câu hỏi mà hầu hết những người làm công tác quản lý từng tự hỏi ít nhất một lần

Quản lý vừa là một nghệ thuật, vừa là một khoa học Đó là nghệ thuật làm cho người khác (nhân viên) làm việc hiệu quả hơn những điều bản thân họ sẽ làm được nếu không có bạn Còn khoa học chính là cách bạn làm thế nào để

Trang 24

thực hiện được nghệ thuật quản lý Lên kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và giám sát là bốn điều căn bản trong khoa học đó

Quản lý được định nghĩa là một công việc mà một người lãnh đạo học suốt đời không thấy chán và cũng là sự khởi đầu của những gì họ nghiên cứu Quản

lý được giải thích như là nhiệm vụ của một nhà lãnh đạo thực thụ, nhưng không phải là sự khởi đầu để họ triển khai công việc Như vậy, có bao nhiêu nhà lãnh đạo tài ba thì có bấy nhiêu kiểu định nghĩa và giải thích về quản lý

Bản thân khái niệm quản lý có tính đa nghĩa nên có sự khác biệt giữa nghĩa rộng và nghĩa hẹp Hơn nữa, do sự khác biệt về thời đại, xã hội, chế độ, nghề nghiệp nên quản lý cũng có nhiều giải thích, lý giải khác nhau Cùng với sự phát triển của phương thức xã hội hoá sản xuất và sự mở rộng trong nhận thức của con người thì sự khác biệt về nhận thức và lý giải khái niệm quản lí càng trở nên

rõ rệt Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều học giả trong

và ngoài nước theo trường phái quản lý học đã đưa ra giải thích không giống nhau về quản lý Cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về quản

lý Đặc biệt là kể từ thế kỷ 21, các quan niệm về quản lý lại càng phong phú Các trường phái quản lý học đã đưa ra những định nghĩa về quản lý như sau:

- Tailor: "Làm quản lý là bạn phải biết rõ: muốn người khác làm việc gì và hãy chú ý đến cách tốt nhất, kinh tế nhất mà họ làm "

- Fayel: "Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát ấy”

- Hard Koont: "Quản lý là xây dựng và duy trì một môi trường tốt giúp con người hoàn thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định"

- Peter F Druker: "Suy cho cùng, quản lý là thực tiễn Bản chất của nó không nằm ở nhận thức mà là ở hành động; kiểm chứng nó không nằm ở sự logic mà ở thành quả; quyền uy duy nhất của nó là thành tích"

Trang 25

- Peter F Dalark: "Định nghĩa quản lý phải được giới hạn bởi môi trường bên ngoài nó Theo đó, quản lý bao gồm 3 chức năng chính là: Quản lý doanh nghiệp, quản lý giám đốc, quản lý công việc và nhân công"

Chủ trương của Peter F Dalark là giới hạn doanh nghiệp từ góc độ xã hội, lấy quản lý làm chức năng chính của doanh nghiệp Vì thế, quản lý trở thành chức năng và vai trò của tổ chức xã hội, nó cũng sẽ thông qua các doanh nghiệp góp phần xây dụng chế độ xã hội mới để đạt được mục tiêu lý tưởng là "một xã hội tự do và phát triển" Nếu không có quản lý hiệu quả thì doanh nghiệp không thể tồn tại và từ đó không thể xây dựng một xã hội tự do và phát triển

Ngày nay thuật ngữ quản lý trở nên phổ biến và chưa có định nghĩa thống nhất Tuy có nhiều định nghĩa về quản lý khác nhau, song chúng đều có những dấu hiệu chủ yếu sau:

- Quản lý bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có mục tiêu xác định rõ ràng

- Quản lý thể hiện mối quan hệ giũa hai bộ phận chủ thể quản lý và đối tượng quản lý, đây là quan hệ ra lệnh – phục tùng, không đồng cấp và có tính bắt buộc

- Quản lý bao giờ cũng là quản lý con người

- Quản lý là sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với quy luật khách quan

- Quản lý xét về mặt công nghệ là sự vận động của thông tin

- Quản lý có khả năng thích nghi giữa chủ thể với đối tượng quản lý và ngược lại

Về Mục tiêu của quản lý: Là cần tạo dựng một môi trường mà trong đó mỗi con người có thể hoàn thành mục đích của mình, của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất

Về đối tượng của quản lý: Là các quan hệ quản lý, tức là quan hệ giữa người và người trong quản lý, quan hệ giữa chủ thể và đối tượng quản lý

Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội

và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích đề ra Sự tác động

Trang 26

của quản lý phải bằng cách nào đó để người bị quản lý luôn luôn hồ hởi, phấn khởi đem hết năng lực và trí tuệ để sáng tạo ra lợi ích cho bản thân, cho tổ chức

và cho cả xã hội

1.2.2.2 Quản lí giáo dục

Nhà nước quản lý mọi hoạt đỏng của xá hội, trong đó có hoạt động giáo dục Nhà nước quản lý giáo dục thông qua tập hợp các tác động hợp quy luật được thể chế hóa bằng pháp luật của chủ thể quản lý, nhằm tác động đến các phân hệ quản lý để thực hiện mục tiêu giáo dục mà kết quả cuối cùng là chất lượng, hiệu quả đào tạo thế hệ trẻ

Đã có nhiều nghiên cứu về quản lý nói chung cho nên cũng có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý giáo dục:

Theo M.I.Kônđacôp: QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ quản lý ở các cấp khác nhau, đến tất cả các mắt xích của hệ thống(từ Bộ đến trường) nhằm mục đích đảm bảo việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của

xã hội cũng như các quy luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lý

Theo P.V.Khuđôminxky (nhà lý luận xô viết): QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và có mục đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến các khâu của hệ thống (từ Bộ đến trường) nhằm mục đích đảm bảo việc giáo dục Cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, bảo đảm sự phát triển toàn diện

và hài hòa của họ

Theo Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: Quản lý là hệ thống những tác động

có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục đến mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất

Trang 27

Từ những quan niệm trên chúng ta có thể khái quát rằng: Quản lý giáo dục

là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng giáo dục nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội Trong hệ thống giáo dục, con người giữ vai trò trung tâm của mọi hoạt động Con người vừa là chủ thể vừa là khách thể quản lý Mọi hoạt động giáo dục và QLGD đều hướng vào việc đào tạo và phát triển nhân cách thế hệ trẻ, bởi vậy con người là nhân tố quan trọng nhất trong QLGD

Tóm lại, vấn đề cơ bản của quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên ở trường Đại học là quản lý nhà trường vì nhà trường là cơ sở giáo dục, nơi

tổ chức thực hiện mục tiêu giáo dục Khi nghiên cứu về nội dung khái niệm quản lý giáo dục thì khái niệm trường học hiểu là tổ chức cơ sở mang tính nhà nước – Xã hội trực tiếp làm công tác giáo dục - Đào tạo thế hệ trẻ cho tương lai của đất nước

1.2.2.3 Quản lí nhà trường

Quản lý nhà trường là quản lý giáo dục được thực hiện trong phạm vi xác định của một đơn vị giáo dục nhà trường, nhằm thực hiện nhiệm vụ giáo dục thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội.Theo Giáo sư Nguyễn Ngọc Quang “

Quản lý trường học là tập hợp những tác động tối ưu ( cộng tác, tham gia, hỗ trợ, phối hợp, huy động, can thiệp…) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và cán bộ khác, nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp vào do lao động xây dựng vốn tự có Hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ Thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch

đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới” [21, tr.43]

Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “Quản lý trường học là lao động của các

cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức lao động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục

để nâng cao chất lượng GD&ĐT trong nhà trường” [23, tr 35]

Trang 28

Có thể khẳng định rằng, trong phạm vi trách nhiệm của mình, quản lý nhà

trường là thực hiện đường lối giáo dục tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục với thế hệ trẻ và với từng học sinh, sinh viên

Đối với giáo dục Đại học, trong Luật Giáo dục có một điều quan trọng nhất về cơ chế quản lý mới đối với GDĐH là khẳng định quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội (trong Luật gọi là tự chịu trách nhiệm) của trường đại học Như đã nói, việc quản lý GDĐH nước ta đang ở trong một thời kỳ chuyển tiếp Quy luật chung của thời kỳ chuyển tiếp là tồn tại đan xen cả hai cơ chế quả lý cũ và mới,

và có một cuộc đấu tranh về mọi mặt để dần dần xóa bỏ cơ chế quản lý cũ, khẳng định cơ chế quản lý mới

Trong những năm qua, khả năng tổ chức giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên ở trường Đại học và quản lý vẫn là một điểm yếu lớn của khá nhiều trường đại học, phổ biến trong khối đại học, liên quan đến việc thiết kế bộ máy

và hệ thống văn bản pháp chế sao cho khoa học, đồng bộ và có hiệu quả Tiếp đến, cần thúc đẩy khả năng tổ chức và quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên ở trường Đại học, đồng thời, không thể xao lãng mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý để dần thay thế cán bộ quản lý nước ngoài trong các dự án hợp tác quốc tế Khía cạnh thứ ba là phát triển khả năng tổ chức và quản lý hoạt động đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực Đa ngành là một hướng đào tạo liên hoàn, phối kết giữa các nhu cầu về chuyên ngành đào tạo của nhà trường Bối cảnh hội nhập quốc tế cũng đòi hỏi công tác quản lý hoạt động đào tạo quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên phải tự điều chỉnh về vai trò

và nội dung quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp Sự điều chỉnh đó thể hiện qua hoạt động quản lý bằng các chính sách vĩ mô

1.2.3 Giáo dục, đạo đức, giáo dục đạo đức

1.2.3.1 Giáo dục

Trang 29

Về cơ bản, các giáo trình về giáo dục ở nước ta đều trình bày “Giáo dục là

xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử -

xã hội của các thế hệ loài người ”

Định nghĩa trên nhẫn mạnh đến sự truyền đạt và lĩnh hội giữa các thế hệ, nhấn mạnh đến yếu tố dạy học, Jonh Dewey, triết gia về giáo dục có ảnh hưởng

lớn nhất về vấn đề giáo dục Mỹ trong thế kỉ XX, còn cho rằng “xã hội không chỉ tồn tại nhờ truyền dạy, mà còn tồn tại chính trong quá trình truyền dạy ấy”

Ở Việt Nam, theo từ điển Tiếng Việt thông dụng – Nxb Giáo dục -1998,

khái niệm giáo dục được giải nghĩa là “Tác động có hệ thống để con người có thêm năng lực và phẩm chất cần thiết” Giáo dục hiểu theo nghĩa rộng là hoạt

động (hay là quá trình) chuyển giao hệ thống tri thức, kinh nghiệm xã hội của thế hệ này cho các thế hệ tiếp theo nhằm hình thành và phát triển nhân cách, đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của đời sống xã hội trong tưng giai đoạn lịch

sử Theo nghĩa hẹp, giáo dục gắn liền với quá trình hình thành và phát triển hệ thống nhà trường (giáo dục nhà trường) là hoạt động giáo dục có mục đích và nội dung xác định cho từng bặc học và loại hình trường, được thực hiện một cách có kế hoạch, có hệ thống trong khuôn khổ tổ chức nhà trường Giáo dục ban đầu được thực hiện một cách đơn giản, trực tiếp ngay trong lao động và trong cuộc sống, ở mọi lúc, mọi nơi Khi xã hội ngày càng phát triển lên, kinh nghiệm xã hội được đúc kết nhiều hơn, yêu cầu của xã hội đối với con người ngày càng cao hơn, các loại hình xã hội ngày càng mở rộng hơn thì giáo dục theo phương hướng trực tiếp không còn phù hợp mà đòi hỏi phải có một phương thức giáo dục khác có hiệu quả hơn Giáo dục gián tiếp theo phương thức nhà trường, được thực hiện một cách chuyên biệt ra đời và ngày càng phát triển đáp ứng nhu cầu ngày càng tốt nhu cầu xã hội Do đó, xã hội ngày càng phát triển, giáo dục ngày càng trở nên phức tạp hơn và mang tính chuyên biệt hơn Sự phát triển đó là do yêu cầu tất yếu của xã hội và do những sức mạnh to lớn của giáo

Trang 30

dục tạo ra sự phát triển của xã hội Vai trò của giáo dục đối với sự phát triển về mọi mặt của xã hội thì không ai có thể phủ nhận về nó

Hình thành nhân cách là quá trình phát triển con người về mặt sinh lí, tâm

lí và mặt xã hội, mang tính chất tăng trưởng về lượng và biến đổi chất Qua trình này diễn ra do ảnh hưởng của các nhân tố bên trong (bẩm sinh, di truyền, tính tích cực của chủ thể ) và các nhân tố bên trong (ảnh hưởng của hoàn cảnh tự nhiên và hoàn cảnh xã hội, tác động giáo dục), do ảnh hưởng của các tác động tự phát, ngẫu nhiên (tác động bên trong, bên ngoài chưa được kiểm soát, điều khiển được) Quá trình này làm biến đổi đứa trẻ với những tư chất vốn có của con người thành một nhân cách

Giáo dục là một hiện tượng xã hội, việc dẫn dắt người khác vượt ra khỏi cái hiện tại để vươn tới cái tương lai là việc làm có tính mục đích rõ ràng Việc này cũng được hoạch định và thực hiện một cách có tổ chức với sự tham gia của cả cộng đồng theo những phân công lao động chặt chẽ (nhiều khi được chuyên môn hóa) Hơn nữa, trong quá trình thực hiện những hoạt động như hoạt động giáo dục, con người luôn kiểm tra, đánh giá để điều chỉnh sao cho kế hoạch đặt ra đạt được kết quả tốt nhất Như thế giáo dục là hiện tượng

xã hội, là hiện tượng xẩy ra không phải ngẫu nhiên, nó có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, có kiểm tra đánh giá và được sự tham gia của cả cộng

đồng [1]

1.2.3.2 Đạo đức

Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội luôn được mọi giai cấp, trong mọi thời đại quan tâm Đạo đức là phép ứng xử có nhân phẩm giữa người này với người khác Đạo đức luôn luôn là mối quan hệ hai chiều, là một thể chế đặc thù của xã hội nhằm điều chỉnh các hành vi của con người trong các lĩnh vực của đời sống xã hội Đạo đức là phương thức xác lập mối quan hệ giữa cá nhân và

xã hội, giữa lợi ích xã hội và lợi ích cá nhân

C.Mác cho rằng:

Trang 31

“ Đạo đức chính là lực lượng bản chất của con người trong sự phát triển của nó theo hướng ngày càng đạt tới giá trị đích thực của cái thiện”

Theo ông, bất luận trong mối quan hệ xã hội nào thì đạo đức cũng là quan

hệ thực sự người, là sự phản ánh tồn tại xã hội cho nên mỗi hình thái kinh tế - xã hội hay mỗi giai đoạn lịch sử đều định hình những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức tương ứng Trong đó, ngoài những giá trị chung, nó còn hàm chứa các nét đặc thù Đó là cơ sở hình thành các thang bậc đạo đức của mỗi giai đoạn lịch sử hoặc mỗi hình thái kinh tế-xã hội nhất định Đạo đức theo nghĩa hẹp là luân lí, là những chuẩn mực ứng xử trong quan hệ của con người Theo nghĩa rộng, khái niệm đạo đức liên quan chặt chẽ với phạm trù chính trị , pháp luật, lối sống Có rất nhiều khái niệm về đạo đức, có thể kể đến các khái niệm sau:

Từ điển xã hội học NXB thế giới Hà Nội 1993- Nguyễn Khắc Viện (Chủ biên):

“Đạo đức bao gồm những chuẩn mực hành vi đạo đức của con người theo hướng thiện, tránh hướng ác Mỗi một xã hội, mỗi một nhóm xã hội và mỗi cá nhân có thể lí giải cái thiện (đạo đức) và cái ác (vô đạo đức) theo những cách khác nhau, tuỳ thuộc vào quan niệm sống và lợi ích của mình”

Theo Trần Hậu Kiểm :

“Đạo đức là tổng hợp những nguyên tắc, qui tắc, chuẩn mực xã hội nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình vì lợi ích xã hội, hạnh phúc của con người trong mối quan hệ giữa con người và con người, giữa cá nhân và tập

thể hay toàn xã hội”

Gần đây trong cuốn : “Về phát triển toàn diện con người thời kì HĐH” các tác giả đưa ra khái niệm đạo đức theo nghĩa rộng:

CNH-“Đạo đức là thành phần cơ bản của nhân cách, phản ánh bộ mặt nhân

cách của một cá nhân đã được xã hội hoá” [18, tr.153]

Như vậy trong các định nghĩa về đạo đức nêu trên đều đề cập đến các khía cạnh sau:

Trang 32

- Đạo đức là hình thái ý thức xã hội phản ánh quan hệ giữa cá nhân với xã hội, với người khác và chính mình

- Đạo đức bao gồm hệ thống các giá trị, quy tắc, chuẩn mực xã hội

- Đạo đức là phương thức điều chỉnh hành vi của con người

Tóm lại, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, bao gồm hệ thống các nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực Căn cứ vào hệ thống các nguyên tắc chuẩn mực đó để đánh giá hành vi của cá nhân là hành vi đạo đức hay phi đạo đức Hoặc cá nhân lựa chọn và điều chỉnh cách ứng xử của mình cho phù hợp với yêu cầu của xã hội và cộng đồng

1.2.3.3 Giáo dục đạo đức

Theo tác giả Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt:

“Giáo dục đạo đức là quá trình biến đổi hệ thống các chuẩn mực đạo đức

từ những đòi hỏi bên ngoài, bên trong của cá nhân thành niềm tin, nhu cầu, thói quen của người được giáo dục.”

Đạo đức bao giờ cũng gồm ý thức đạo đức, tình cảm và niềm tin đạo đức, hành vi đạo đức Do đó việc giáo dục đạo đức đều phải bao gồm cả ba mặt nhằm hình thành những con người có bộ mặt đạo đức phù hợp với yêu cầu của xã hội Trong nhà trường XHCN, giáo dục đạo đức cho học sinh là phát triển mặt đạo đức của nhân cách, là xây dựng các sản phẩm đạo đức XHCN trong mỗi cá nhân, là hoàn thành ý thức đạo đức, tình cảm đạo đức, hành vi và thói quen đạo đức của học sinh theo những nguyên tắc đạo đức cách mạng mà tấm gương sáng ngời là đạo đức của chủ tịch Hồ Chí Minh

Giáo dục đạo đức là bộ phận của nội dung giáo dục toàn diện con người, là quá trình kết hợp nâng cao nhận thức với hình thành thái độ, xúc cảm, tình cảm, niềm tin và hành vi thói quen đạo đức Giáo dục đạo đức phải gắn chặt với giáo dục tư tưởng chính trị Giáo dục tư tưởng chính trị có tác dụng xây dựng cơ sở thế giới quan Mác - Lê Nin và định hướng chính trị xã hội theo quan điểm và đường lối của Đảng cộng sản, cho ý thức và hành động đạo đức Ngoài ra giáo

Trang 33

dục đạo đức còn phải kết hợp với giáo dục pháp luật Giáo dục pháp luật có tác dụng củng cố và thúc đẩy việc thực hiện các yêu cầu đạo đức

1.2.4 Đạo đức nghề nghiệp và giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên các ngành Nông Lâm Ngư

1.2.4.1 Đạo đức nghề nghiệp

Nói tới khái niệm đạo đức nghề nghiệp là người ta muốn thu hẹp phạm vi của khái niệm đạo đức nói chung nhưng nó được cụ thể hoá và đặc trưng hoá cho từng nghề nghiệp nhất định

Đạo đức nghề nghiệp cũng có những nguyên tắc, chuẩn mực được dư luận

xã hội thừa nhận và quy định những hành vi ứng xử trong mối quan hệ xã hội Bản thân nó lại có những nét đặc thù riêng, phản ánh đầy đủ phẩm chất cần có của một ngành, một nghề cụ thể Đó là những qui tắc, chuẩn mực của một nghề nghiệp hoặc một nhóm nghề nghiệp nào đó, nó qui định những hành vi ứng xử của những cá nhân khi hoạt động trong lĩnh vực nghề nghiệp đó Khi những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức đó không được thực hiện hoặc thực hiện không đúng nó sẽ ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả trong hoạt động của chính hoạt động đó Mỗi một lĩnh vực nghề nghiệp đều có chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp chung: Ví dụ khi nói đến đạo đức của ngành y thì vấn đề “lương y như

từ mẫu” được coi là một chuẩn mực đạo đức của ngành này Trong thời kì chiến tranh, phẩm chất đạo đức “yêu xe như con, qúi xãng như máu” là phẩm chất đạo đức nghề nghiệp của người bộ đội lái xe thời kì đó Với những người làm công tác dịch vụ xã hội thì: “Vui lòng khách đến, vừa lòng khách đi” là biểu hiện đạo đức nghề nghiệp của họ Với lực lượng công an nhân dân thì phẩm chất đạo đức của họ phải đạt chuẩn theo 6 điều Bác Hồ dạy:

“Với tự mình phải cần, kiệm, liêm, chính

Với đồng sự phải thân ái giúp đỡ

Với chính phủ phải tuyệt đối trung thành

Với nhân dân phải kính trọng lễ phép

Trang 34

Với công việc phải tận tuỵ

Đối với địch phải cương quyết khôn khéo.”

Đối với người Đảng viên, cán bộ, Bác dạy phải “cần, kiệm, liêm, chính, chí, công, vô tư” Đối với ngành giáo dục, một khẩu hiệu chung cho các cấp học là: “Tất cả vì học sinh thân yêu” Đó chính là đạo đức nghề nghiệp của người thầy giáo

Đạo đức nghề nghiệp là thuật ngữ người ta gắn với những tiêu chuẩn hành

xử nhất định trong nghề Để cho bất cứ nghề nào được tôn trọng và tự tôn, những người làm nghề đó phải có và sống theo những chuẩn này Có người cho rằng một nghề chỉ có thể phát triển về tầm cỡ khi những người làm trong nghề

đó tôn trọng chính mình và có những đóng góp tích cực với tư cách là một nghề vào sự phát triển của xã hội Những chuẩn đạo đức nghề nghiệp đó có thể được dùng làm kim chỉ nam cho những người bước vào nghề Theo Claire Andre and Manuel Valasquez, ít năm trước đây, một nhà xã hội đã hỏi các doanh nhân câu hỏi: Đạo đức là gì?

- Đạo đức có liên quan tới cái mà linh cảm

- Đạo đức có liên quan tới tín ngưỡng tôn giáo

- Đạo đức là biết làm theo pháp luật

- Đạo đức là chuẩn hành vi mà xã hội ta chấp nhận

Vì vậy, đạo đức nghề nghiệp được xem như là một nội dung quan trọng của công tác giáo dục đạo đức nói riêng và công tác giáo dục đào tạo nói chung Tóm lại, từ nội hàm của khái niệm đạo đức nói chung và qua phân tích một

số đặc trưng về đạo đức của một vài nghề nghiệp, ta có thể hiểu:

Đạo đức nghề nghiệp là tổng hợp những nguyên tắc, qui tắc, những chuẩn mực đạo đức xã hội mang tính đặc thù của một bộ phận xã hội nhất định nhằm định hướng và điều chỉnh hành vi ứng xử và giải quyết những mối quan hệ giữa các thành viên và xã hội, nó còn chịu sự chế ước của pháp luật

1.2.4.2 Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên các ngành Nông Lâm Ngư

Trang 35

Công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trong các nhà trường

là hết sức quan trọng được các nhà trường chú ý và đặt song song với nhiệm vụ bồi dưỡng tri thức khoa học Thực chất của công tác này là công tác quản lí, giáo dục sinh viên trong quá trình học tập, rèn luyện tại nhà trường Đồng thời đưa hoạt động của nhà trường vào nề nếp, chính qui đáp ứng yêu cầu mà Đảng và Nhà nước đặt ra đó là “xã hội hoá công tác giáo dục” Do đó giáo dục đạo đức phải đạt những yêu cầu cơ bản sau:

- Giáo dục tư tưởng phẩm chất đạo đức cách mạng, lòng nhân ái cho sinh viên là nội dung xuyên suốt quá trình quản lí giáo dục sinh viên Yêu cầu này nhằm xây dựng niềm tin, bản lĩnh chính trị, sự tin tưởng trung thành vào đường lối lãnh đạo của Đảng, của ngành, của trường và khoa Giáo dục tình cảm đạo đức cách mạng và đạo đức nghề nghiệp trong sáng, lòng yêu nghề đam mê, tận tụy cần cù với công việc Đây là yếu tố tiên quyết, cốt lõi để xây dựng bản chất nhân cách người kỹ sư, cử nhân nông nghiệp trong tương lai Việc giáo dục đạo đức trong điều kiện hiện nay gặp không ít khó khăn bởi những tác động tiêu cực của lối sống thực dụng, vị kỉ khá phổ biến trong xã hội Từ đó ảnh hưởng đến môi trường giáo dục trong nhà trường

- Nhà trường cần giáo dục mục đích, động cơ học tập đúng đắn, tinh thần vượt khó, ý chí rèn luyện, sự đam mê sáng tạo trong học tập Đây là mặt quan trọng để giáo dục sinh viên có bản lĩnh chính trị và tri thức khoa học phục vụ cho công tác sau này

- Giáo dục sinh viên xây dựng nề nếp, thói quen sống có kỉ luật, trật tự theo nội quy, quy chế của trường, kỉ cương của gia đình và pháp luật Yêu cầu mỗi sinh viên phải rèn luyện cho mình tác phong tự tin, nhanh nhẹn, có văn hoá, thích ứng với mọi hoạt động học tập và rèn luyện trong quan hệ xã hội Đồng thời phát hiện, bồi dưỡng những mặt tích cực, giáo dục khắc phục những mặt tiêu cực, lệch lạc trong hành vi đạo đức của sinh viên để có biện pháp giáo dục

và xử lí kịp thời

Trang 36

- Giáo dục sinh viên nêu cao ý thức trách nhiệm, ý thức tự giác trong học tập, trong việc chấp hành nghiêm chỉnh đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước

1.2.5 Giải pháp và giải pháp quản lí công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên các ngành Nông Lâm Ngư

1.2.5.2 Giải pháp quản lí công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên các ngành Nông Lâm Ngư

Giải pháp QL công tác GDĐĐNN là cách làm, các hành động cụ thể để nâng cao hiệu quả QL công tác giáo dục GDĐĐNN cho SV ở bất kì nhà trường nào cũng làm tốt hai nhiêm vụ “dạy chữ” và “dạy người” QL hoạt động GDĐĐ trong nhà trường là hướng tới việc phát triển toàn diện nhân cách cho người học Trong nhà trường đại học, nơi đào tạo ra nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao và có phẩm chất ĐĐ đáp ứng yêu cầu của hoạt động nghề nghiệp, để quản lí công tác GDĐĐNN cho SV, có nhiều hoạt động cùng xẩy ra đồng thời,

Trang 37

liên tục, kế thừa và phối hợp nhiều lực lượng, nhưng người thầy đóng vai trò quan trong nhất Hoạt động QL GDĐĐNN đòi hỏi người QL phải chủ động tổ chức cho các lực lượng giáo dục (nhà trường, gia đình, doanh nghiệp, xã hội) cùng nắm vững mục tiêu, yêu cầu nội dung, phương pháp GDĐĐ và GDĐĐNN cho sinh viên thông qua việc chủ động lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và hướng dẫn, tạo điều kiện tốt cho mọi lực lượng cùng tham gia và thực hiện tốt trách

là sinh viên cần hình thành đầy đủ những phẩm chất của người công dân nói chung trong các quan hệ với người khác, với xã hội cũng như với chính bản thân mình Đồng thời để có thể lao động tốt trong nghề nông nghiệp theo những đặc thù riêng, sinh viên nông nghiệp cần nhấn mạnh việc rèn luyện những phẩm chất đạo đức nổi trội cần thiết cho hoạt động của mình như sau:

* Thế giới quan khoa học

Hành trang cuộc sống của mỗi người luôn luôn cần tới những tri thức, trí tuệ sâu sắc Thế giới quan là hành trang không thể thiếu được trong hành trang trí tuệ ấy của mỗi người Nó là cái cần phải được từng người tự học hỏi, chăm

lo, đổi mới để có thể nhìn, hiểu và làm theo những luận điểm tổng quát góp phần

Trang 38

như một chiếc la bàn định hướng cuộc sống, làm cho cuộc sống thêm hiệu quả, hạnh phúc, thành đạt

Thế giới quan khoa học không phải là bản tính tự nhiên của con người, mà

nó được hình thành trong quá trình học tập của họ và dưới nhiều ảnh hưởng khác nhau Đó là quá trình học tập trong trường phổ thông, trường đại học và tự học suốt đời, trong quá trình học các môn khoa học thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên và công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn, đặc biệt là triết học

* Lí tưởng nghề nghiệp

Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai

để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩa rộng, còn bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản

Nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế của nhiều nước Trong nông nghiệp cũng có hai loại chính, việc xác định sản xuất nông nghiệp thuộc dạng nào cũng rất quan trọng:

- Nông nghiệp thuần nông hay nông nghiệp sinh nhai là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp có đầu vào hạn chế, sản phẩm đầu ra chủ yếu phục vụ cho chính gia đình của mỗi người nông dân Không có sự cơ giới hóa trong nông nghiệp sinh nhai

- Nông nghiệp chuyên sâu: là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp được chuyên môn hóa trong tất cả các khâu sản xuất nông nghiệp, gồm cả việc sử dụng máy móc trong trồng trọt, chăn nuôi, hoặc trong quá trình chế biến sản phẩm nông nghiệp Nông nghiệp chuyên sâu có nguồn đầu vào sản xuất lớn, bao gồm cả việc sử dụng hóa chất diệt sâu, diệt cỏ, phân bón, chọn lọc, lai tạo giống, nghiên cứu các giống mới và mức độ cơ giới hóa cao Sản phẩm đầu ra chủ yếu dùng vào mục đích thương mại, làm hàng hóa bán ra trên thị trường hay xuất khẩu Các hoạt động trên trong sản xuất nông nghiệp chuyên sâu là sự cố gắng tìm mọi cách để

Trang 39

có nguồn thu nhập tài chính cao nhất từ ngũ cốc, các sản phẩm được chế biến từ ngũ cốc hay vật nuôi

Là nước nông nghiệp với nhiều lợi thế từ các sản phẩm nhiệt đới nhưng để biến tiềm năng đó thành hiện thực, làm động lực cho phát triển nền nông nghiệp hàng hóa lớn, sản phẩm có khả năng cạnh tranh thì việc đầu tư vào quá trình đào tạo nguồn nhân lực là cần thiết Nhóm ngành nông – lâm – ngư nghiệp ở Việt Nam đang chiếm lực lượng lao động lớn nhất (xấp xỉ 50%) nhưng thiếu lao động có trình độ

Theo Bộ Nông nghiệp và PTNT, nhu cầu nhân lực khu vực nông nghiệp, nông thôn là rất lớn, mỗi năm cả nước cần tới trên 1 triệu lao động, nhưng đội ngũ cán

bộ làm nông nghiệp, nông thôn chỉ có khoảng 9% có trình độ đại học, cao đẳng; 39,4% trung cấp và 9,8% sơ cấp Trước đây, một số ngành học thuộc khối nông nghiệp không hấp dẫn nhưng tương lai đây sẽ là nghề tạo ra cơ hội việc làm lớn nhất

Theo TS Nguyễn Thị Thanh – Trưởng khoa Nông Lâm Ngư Trường Đại học Vinh, cho biết các ngành nông học, kinh tế nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản hiện đang rất thiếu nhân lực so với nhu cầu xã hội “ngay khi các em chưa ra trường, các công ty lớn đã đặt hàng” Không những dễ xin việc làm, sinh viên các ngành này cũng có cơ hội thăng tiến khá cao Theo thống kê của khoa Nông Lâm Ngư, có xấp xỉ 20% sinh viên từ khi thành lập khoa đến nay hiện đã là trưởng - phó phòng tại các cơ quan, công ty, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh và trong cả nước

* Lòng yêu nghề

Bất kỳ ngành nghề nào cũng có đặc thù riêng của nó Đối với kỹ sư của những ngành khác như điện, xây dựng thường công việc chỉ có ở một địa điểm, một công trình hoặc luân chuyển theo sự chỉ đạo của cấp trên, công việc khá bị động Đối với ngành kỹ sư nông nghiệp cũng vậy, nó cũng có những đặc thù riêng đòi hỏi người hành nghề không chỉ có ý chí, bản lĩnh vững vàng mà

Trang 40

còn phải có tấm lòng để thấu hiểu nỗi vất vả, những lo lắng của bà con nông dân Bên cạnh đó, không ngừng học hỏi để có kiến thức sâu rộng về các cây trồng, về mùa vụ, sâu bệnh, đặc biệt là phải tâm huyết với nghề

* Lòng nhân ái

Trong cấu trúc đạo đức của một con người không thể không kể đến lòng nhân ái, đó là cái gốc của đạo đức, là cơ sở để con người làm điều thiện Nghề nông nghiệp lại càng cần thiết hơn Nông nghiệp sản xuất ra các thực phẩm, hàng hóa phục vụ cho con người Người làm nông nghiệp có lòng nhân ái, sẽ giúp xã hội chúng ta phát triển hơn, không phải lo vấn nạn ”thực phẩm bẩn” như bây giờ

Đức tính trung thực là hết lòng với mọi người, là thật thà, là ngay thẳng Người có đức tính trung thực là người luôn nói đúng sự thật, không làm sai lệch

sự thật, ngay thẳng, thật thà, là người luôn được mọi người tin tưởng Nói cách khác, Trung thực là một phẩm chất đạo đức thể hiện được sự thống nhất giữa tư tưởng và hành động, nhận thức và việc làm; giữa tư tưởng đạo đức và hành vi đạo đức của mỗi người, mỗi cán bộ đảng viên, công chức Đức tính trung thực là một trong những đức tính đáng quý mà mọi người cần phải có, Hồ Chí Minh coi

Ngày đăng: 27/08/2021, 10:42

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w