LỜI CÁM ƠN Được sự phân công của Khoa Kinh tế - Trường Đại học Vinh và sự đồng ý của giáo viên hướng dẫn tôi đã thực hiện đề tài: “Hoàn thiện quản lý nhà nước của chính quyền địa phương
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
PHAN THỊ THANH PHƯƠNG
HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG CẤP TỈNH
VỀ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGHỆ AN - 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
PHAN THỊ THANH PHƯƠNG
HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG CẤP TỈNH
VỀ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 60.31.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
TS ĐINH TRUNG THÀNH
TS NGUYỄN THỊ MINH PHƯỢNG
NGHỆ AN - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi với sự hướng dẫn của TS Đinh Trung Thành và TS Nguyễn Thị Minh Phượng Kết quả, nội dung nghiên cứu nêu trong luận văn là chính xác, trung thực và không trùng lặp với các đề tài, công trình nghiên cứu khác Những số liệu trong bài nghiên cứu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo
Nghệ An, tháng 8 năm 2016
Tác giả
Phan Thị Thanh Phương
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Được sự phân công của Khoa Kinh tế - Trường Đại học Vinh và sự đồng
ý của giáo viên hướng dẫn tôi đã thực hiện đề tài: “Hoàn thiện quản lý nhà nước của chính quyền địa phương cấp tỉnh về quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An”
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo đã tận tình hướng dẫn, chỉ dạy trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và rèn luyện tại Trường Đại học Vinh Đặc biệt, xin chân thành cảm ơn giáo viên hướng dẫn TS Đinh Trung Thành và TS Nguyễn Thị Minh Phượng đã tận tình giúp tôi hoàn thành đề tài luận văn
Mặc dù đã cố gắng, song với kiến thức và kinh nghiệm còn hạn chế nên khó tránh khỏi những sai sót Rất mong nhận được những góp ý và chỉ dạy của quý thầy cô
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Nghệ An, tháng 8 năm 2016
Tác giả
Phan Thị Thanh Phương
Trang 5MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CÁM ƠN ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC HÌNH, BẢNG viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 3
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 6
7 Kết cấu của luận văn 6
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP 7
1.1 Lý luận về quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp 7
1.1.1 Quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp 7
1.1.2 Quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp 10
1.1.3 Vai trò của quản lý Nhà nước về quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp 13
1.2 Nội dung và các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý Nhà nước về quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp 15
1.2.1 Nội dung quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp 15
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp 19
1.3 Kinh nghiệm của một số tỉnh trong quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp và bài học kinh nghiệm đối với Nghệ An 21
1.3.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp của tỉnh Quảng Ninh 21
Trang 61.3.2 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất nông
nghiệp của tỉnh Thanh Hóa 24 1.3.3 Một số bài học kinh nghiệm quản lý nhà nước về quy hoạch sử
dụng đất nông nghiệp đối với Nghệ An 25 Kết luận chương 1 26
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ QUY HOẠCH
SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN 27 2.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội liên quan đến công tác quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An 27 2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 27 2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 33 2.1.3 Tình hình biến động, tăng giảm tổng diện tích đất đai của tỉnh
từ năm 2010 - 2015 36
2.2 Tình hình quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp
trên địa bàn tỉnh Nghệ An trong những năm qua 38 2.2.1 Thực trạng của quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất
nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An trong những năm qua 38 2.2.2 Những thành tựu và nguyên nhân trong quản lý nhà nước về
quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp ở Nghệ An 51 2.2.3 Một số hạn chế và nguyên nhân trong quản lý nhà nước về quy
hoạch sử dụng đất nông nghiệp ở Nghệ An 59 Kết luận chương 2 75
Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN 76 3.1 Quan điểm hoàn thiện quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An 76
Trang 73.1.1 Các cấp chính quyền địa phương phải tạo mọi điều kiện thuận
lợi để cho người dân tham gia xây dựng quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp 76 3.1.2 Quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp phải thực hiện mục tiêu cơ
bản là chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp và nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, coi đây là một mục tiêu quan trọng mà trong quản lý nhà nước về quy hoạch
sử dụng đất nông nghiệp cần phải hướng đến 77 3.1.3 Quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp phải thể hiện được yêu cầu
phát triển sản xuất nông nghiệp của người dân và không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực này 77 3.1.4 Tăng cường quản lý cập nhật thông tin và kịp thời điều chỉnh
quy hoạch, chú trọng làm tốt quy hoạch đối với những vùng sản xuất hàng hóa (cây con, sản phẩm, ngành nghề) 78 3.1.5 Hoàn thiện quản lý nhà nước.về sử dụng đất nông nghiệp phải
được tiến hành một cách đồng bộ và thống nhất trước mắt không mâu thuẫn về lâu dài 78 3.1.6 Cần tổ chức thanh kiểm tra kịp thời, nghiêm túc trong quá trình
thực hiện quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp 79 3.1.7 Không ngừng nâng cao trình độ, năng lực, phẩm chất của đội
ngũ cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về quy hoach sử dụng đất nông nghiệp 79 3.2 Một số giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp ở Nghệ An 80 3.2.1 Ban hành hệ thống các quy định có tính pháp lý về quy hoạch
sử dụng đất nông nghiệp 80 3.2.2 Tổ chức điều tra, khảo sát, đo đạc, rà xét, đánh giá lại toàn bộ
số lượng, chất lượng các dự án quy hoạch, chất lượng đất nông
Trang 8nghiệp, giải quyết tốt mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất
nông nghiệp với các quy hoạch khác trên địa bàn tỉnh Nghệ An 81
3.2.3 Đổi mới quy trình xây dựng quy hoạch, sử dụng các phương tiện kỹ thuật công nghệ trong quá trình xây dựng và quản lý quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp 87
3.2.4 Phân cấp quản lý nhà nước, kiện toàn tổ chức bộ máy và cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp ở các cấp 92
3.2.5 Nâng cao và tăng cường sự giám sát, kiểm tra của chính quyền địa phương đối với quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp 96
3.2.6 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục về thực hiện quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp 99
3.2.7 Đổi mới chính sách kinh tế vĩ mô đối với quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp 99
Kết luận chương 3 100
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 102
1 Kết luận 102
2 Một số kiến nghị 102
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 10hành chính 53Bảng 2.3 So sánh hiện trạng sử dụng đất và kế hoạch sử dụng đất trong
kỳ quy hoạch (Đến ngày 31/12/2015) 60Bảng 2.4 Kiểm kê diện tích đất đã chuyển mục đích sử dụng khác với
hồ sơ địa chính 65Bảng 2.5 Thống kê, kiểm kê diện tích đất theo mục đích được giao, được
thuê, được chuyển mục đích sử dụng nhưng chưa thực hiện (Đến ngày 31/12/2015) 66
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một nước nông nghiệp, với khoảng 70% dân số là nông dân
và sản xuất nông nghiệp đóng góp trên 15% vào GDP của cả ngước vì vậy vấn
đề nông nghiệp ở Việt Nam luôn được Đảng và Nhà nước hết sức coi trọng Nông nghiệp đã mở đường trong quá trình đổi mới, tạo nền tảng, động lực cho tăng trưởng kinh tế và là nhân tố quan trọng bảo đảm sự ổn định kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước Đến nay, mặc dù sau 30 đổi mới, kinh tế nước ta đã phát triển khá toàn diện, song sản phẩm nông nghiệp vẫn là những sản phẩm chủ yếu tham gia vào hội nhập kinh tế thế giới Mục tiêu đặt ra là làm sao sử dụng hiệu quả các nguồn lực để nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp? Trong các nguồn lực thì đất nông nghiệp có vai trò và ý nghĩa đặc biệt quan trọng Làm thế nào để không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là vấn đề rất khó khăn, phức tạp đòi hỏi phải đáp ứng nhiều yêu cầu thực tiễn đang đặt ra Trong đó vấn đề hoàn thiện quản lý nhà nước về công tác quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp được coi là một trong những nội dung có tính cấp thiết và tất yếu khách quan nhằm làm cơ sở tiền đề cho việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Trong những năm qua, việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An đã từng bước đi vào nề nếp, góp phần tăng cường công tác quản lý nhà nước về đất đai, tạo nhiều điều kiện cho việc hoạch định những chính sách, định hướng phát triển kinh tế xã hội của các ngành và địa phương trong tỉnh Việc xác định cơ cấu sử dụng đất phù hợp với định hướng chuyển dịch của cơ cấu kinh tế đã góp phần tích cực phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của tỉnh
Theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI chỉ ra rằng cần phải có biện pháp, chính sách để bảo vệ đất nông nghiệp Cần tạo điều kiện
Trang 12để điều tiết việc sử dụng đất đạt hiệu quả cao theo hướng kéo dài thời gian sử dụng đất, tăng mức hạn điền, chấm dứt tình trạng chênh lệch giá khi chuyển đổi quỹ đất nông nghiệp sang các mục đích khác, tạo điều kiện để tập trung hóa ruộng đất mở rộng quy mô sản xuất Để làm được điều này hoàn toàn phụ thuộc vào công tác quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp Trong thời gian qua, đăc biệt từ năm 2010 đến nay, tỉnh Nghệ An bước đầu quan tâm, đầu tư công sức đến công tác quy hoạch đất đai nói chung và quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp nói riêng ở cả 3 cấp từ cấp xã, cấp huyện, cấp tỉnh; tổ chức thực hiện xây dựng và quản lý quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp theo nghị định 64/1993/ NĐ-CP của Chính phủ Quá trình quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp đã đạt được nhiều thành quả đáng kể, nâng cao được hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và tăng thu nhập cho nông dân trên địa bàn
Bên cạnh những hiệu quả kinh tế trước mắt đã đạt được, thì những quá trình sử dụng đất chưa hợp lý đã ảnh hưởng xấu đến việc sử dụng đất đai Vẫn còn những hạn chế, yếu kém, cụ thể như: chủ trương, chính sách, pháp luật hiện hành về đất đai còn một số nội dung chưa đủ rõ, chưa phù hợp; việc thể chế hoá còn chậm, chưa thật đồng bộ Chưa gắn kết quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội Tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về đất đai và các chính sách, pháp luật có liên quan chưa nghiêm; việc thực hiện công khai, minh bạch trong quản lý đất đai chưa tốt Tổ chức bộ máy, năng lực đội ngũ cán bộ về quản lý đất đai và các cơ quan liên quan còn nhiều bất cập, hạn chế Mặt khác, thiếu các phương án quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp chi tiết, thiếu các văn bản có tính chất pháp lý về các quy định, quy tắc, trong quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp
Quản lý nhà nước của chính quyền tỉnh Nghệ An về quy hoạch sử dụng đất là
một hợp phần trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, là một khâu không thể thiếu được trước khi đưa ra các chương trình, kế hoạch phát triển kinh
tế xã hội Để quản lý, sử dụng tài nguyên đất cho các ngành kinh tế trong thời
Trang 13gian trước mắt và lâu dài có hiệu quả và bền vững, việc nghiên cứu hoàn thiện quản lý nhà nước cấp tỉnh về quy hoạch sử dụng đất là việc làm rất cần thiết nhằm sử dụng quỹ đất một cách hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả, phù hợp với định hướng thúc đẩy kinh tế phát triển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Trong ý nghĩa đó, tác giả chọn vấn đề: Hoàn thiện quản lý nhà nước của chính quyền địa phương cấp tỉnh về quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn
tỉnh Nghệ An làm đề tài luận văn thạc sĩ kinh tế
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Công tác quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An được các cấp ủy, chính quyền quan tâm Hàng năm, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Nghệ An; Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Nghệ An đều có báo cáo, đánh giá tình hình quy hoạch và tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp ở trên địa bàn
Liên quan đến cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu, cũng đã
có một số văn bản pháp quy, các công trình nghiên cứu bàn về quy hoạch sử dụng đất và trong giới hạn nhất định đã phác thảo một số nét cơ bản có tính chất khái quát về quản lý nhà nước trong công tác quy hoạch sử dụng đất nói chung, quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp nói riêng Có thể nêu lên một số công trình tiêu biểu như:
- Luận án Tiến sỹ kinh tế của Trần Thế Ngọc (2010), "Chiến lược quản lý đất đai Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010”, Trường Đại học Kinh tế - Đại
học Quốc gia TP Hồ Chí Minh [31];
- Luận án tiến sỹ luật học của Nguyễn Quang Tuyến (2009) "Địa vị pháp
lý người sử dụng đất trong các giao dịch dân sự, thương mại về đất đai",
Trường Đại học Luật Hà Nội [45];
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước của PGS - Tiến sỹ Phạm Hữu
Nghị, Viện nghiên cứu địa chính - Tổng cục Địa chính: "Những quy định về chuyển quyền sử dụng đất” [32];
Trang 14- Tham luận số 03, “Tác động quy trình giao dịch đất đai đối với người nghèo áp dụng phương pháp DE SOTO” (2005), nghiên cứu về các quy trình giao dịch đất đai hiện hành, ảnh hưởng đến việc tiếp cận các nguồn vốn tín dụng
và phát triển kinh tế, đặc biệt của người nghèo của ngân hàng phát triển châu Á (ADB) [33];
- Nghiên cứu của tổ chức tư vấn: “Strengthening environmental Management and Land Administration Viet Nam- Sweden comporation Program (SEMLA)”, đánh giá đối với hệ thống Luật đất đai của Việt Nam: “Các báo cáo đánh giá hệ thống luật đất đai” [34];
- Luận văn “Phân cấp, phân quyền quản lý nhà nước về đất đai nhìn từ thực tiễn tỉnh Đồng Nai” của Nguyễn Hữu Lý [30];
- Luận văn “Hoàn thiện việc phân cấp trong lĩnh vực giao đất, cho thuê đất để thực hiện các dự án đầu tư” của Hoàng Ngọc Phương [36];
Các công trình trên tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau và đã đề cập đến nhiều khía cạnh về đổi mới và hoàn thiện quản lý nhà nước về đất đai và quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu
một cách chuyên biệt về vấn đề: Hoàn thiện quản lý nhà nước của chính quyền địa phương cấp tỉnh về quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An trong bối cảnh tái cơ cấu nông nghiệp trong điều kiện hội nhập quốc tế
Đây là một đề tài nghiên cứu khá mới mẻ dưới góc độ Kinh tế chính trị, không trùng lặp với các công trình khoa học đã công bố
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa lý luận và phân tích thực tiễn, mục đích nghiên cứu của đề tài là đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ các cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của nhà nước trong quá trình xây dựng quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp
Trang 15- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An trong những năm qua
- Đề xuất giải pháp nâng cao công tác quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn Nghệ An
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Không gian: địa bàn tỉnh Nghệ An
Thời gian: 5 năm (2010 - 2015)
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả sử dụng hai nhóm phương pháp là phương pháp luận trong nghiên cứu, phương pháp điều tra khảo sát và phương pháp thống kê
+ Phương pháp luận trong nghiên cứu
Cơ sở của phương pháp luận nghiên cứu quản lý quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp dựa trên phép biện chứng duy vật về nhận thức, thể hiện ở các điểm sau:
- Nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, phạm trù xã hội trong mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau ở trạng thái vận động
- Nhìn nhận sự phát triển như là sự chuyển hóa từ lượng thành chất
- Xem xét các sự kiện và hiện tượng trên quan điểm thống nhất các mặt đối lập nhau
- Phát hiện những cái mới, tiến bộ trong quá trình chuyển động và phát triển Trong nghiên cứu quản lý quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp còn sử
Trang 16dụng phương pháp tiếp cận hệ thống như là cơ sở phương pháp luận đồng thời cũng là phương pháp cụ thể trong quá trình thực hiện
+ Phương pháp điều tra khảo sát: Đây là phương pháp được ứng dụng để điều tra thu thập các số liệu, dữ kiện thông tin cần thiết phục vụ cho mục đích nghiên cứu
+ Phương pháp thống kê: Mục đích của việc sử dụng phương pháp thống
kê là nhằm phân nhóm toàn bộ các đối tượng điều tra có cùng chỉ tiêu, xác định các giá trị trung bình của chỉ tiêu, phân tích tương quan giữa các yếu tố
Về đối tượng nghiên cứu, phương pháp thống kê đề cập đến các vấn đề sau:
- Nghiên cứu tình hình quy hoạch sử dụng đất, cơ cấu đất nông nghiệp
- Phân tích đánh giá về việc quản lý, quy hoạch, sử dụng đất nông nghiệp
- Đánh giá các mối quan hệ và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các chỉ tiêu
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Đề tài đã hệ thống hoá một số vấn đề lý luận và thực tiễn trong quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp, qua đó làm rõ chức năng quản
lý của nhà nước cấp tỉnh về quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp
- Đề xuất các giải pháp có tính khả thi làm cơ sở tài liệu tham khảo cho các cơ quan quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp ở trên địa bàn tỉnh Nghệ An
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, luận văn được bố cục làm 3 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước về
quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất nông
nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Chương 3: Quan điểm và một số giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước
về quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Trang 17Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC VỀ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
1.1 Lý luận về quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp
1.1.1 Quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp
1.1.1.1 Đất nông nghiệp
Tại Việt Nam, đất nông nghiệp được định nghĩa là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng Đất nông nghiệp bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác [10]; [11]
Đất nuôi trồng thuỷ sản: Là đất được sử dụng chuyên vào mục đích nuôi, trồng thuỷ sản, bao gồm đất nuôi trồng nước lợ, mặn và đất chuyên nuôi trồng nước ngọt
Đất làm muối: Là đất các ruộng để sử dụng vào mục đích sản xuất muối
Đất nông nghiệp khác: Là đất tại nông thôn sử dụng để xây dựng nhà kính (vườn ươm) và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất, xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia
Trang 18súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép, đất để xây dựng trạm, trại nghiên cứu thí nghiệm nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm nghiệp, thủy sản, xây dựng cơ sở ươm tạo cây giống, con giống, xây dựng nhà kho, nhà của hộ gia đình, cá nhân để chứa nông sản, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, máy móc, công cụ sản xuất nông nghiệp [10]; [11]
1.1.1.2 Quy hoạch sử dụng đất
Quy hoạch sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật và pháp chế của nhà nước về tổ chức và sử dụng đất đầy đủ, hợp lý, khoa học và có hiệu quả cao nhất thông qua việc phân phối và tái phân phối quỹ đất cả nước, tổ chức sử dụng đất như một tư liệu sản xuất cùng với các tư liệu sản xuất khác gắn liền với đất nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội, tạo điều kiện bảo vệ đất và bảo vệ môi trường
Mặt khác, quy hoạch sử dụng đất còn là biện pháp hữu hiệu của nhà nước nhằm tổ chức lại việc sử dụng đất đai theo đúng mục đích, hạn chế sự chồng chéo gây lãng phí đất đai, tránh trình trạng chuyển mục đích tùy tiện, làm giảm sút nghiêm trọng quỹ đất nông lâm nghiệp Ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực, tranh chấp, lấn chiếm hủy hoại đất, phá vỡ cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm môi trường dẫn đến những tổn thất hoặc kìm hãm sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội và các hậu quả khó lường về bất ổn chính trị, an ninh quốc phòng ở từng địa phương, đặc biệt là trong giai đoạn chuyển dần sang nền kinh tế thị trường
Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một nội dung hết sức quan trọng trong công tác quản lý nhà nước về đất đai Nội dung này đã được đề cập đến từ lâu trong công tác quản lý nhà nước về đất đai Ngay từ Quyết định số 201/CP năm 1980 của Chính phủ, trong 7 nội dung quản lý nhà nước về đất đai
đã có nội dung thứ ba là "Quy hoạch việc sử dụng đất", đến Luật Đất đai 1987
và Luật Đất đai 1993 vẫn quy định nội dung thứ hai trong 7 nội dung quản lý nhà nước về đất đai là "Quy hoạch và kế hoạch hoá việc sử dụng đất" [13]
Trang 191.1.1.3 Quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp
Quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp là bản luận chứng khoa học về chủ trương phát triển và tổ chức không gian lãnh thổ hợp lý của sử dụng đất nông nghiệp Bao gồm: phân bổ quỹ đất nông nghiệp trong một vùng lãnh thổ nhất định và các mục đích sản xuất nông nghiệp phù hợp với tính chất tự nhiên, đặc tính thổ nhưỡng, địa hình, địa chất, thuỷ văn, chế độ nước, nhiệt độ, ánh sáng, thảm thực vật, các tính chất lý hoá tính , tạo ra định hướng cho việc sử dụng theo các mục đích khác nhau đáp ứng yêu cầu về lợi ích kinh tế - xã hội - môi trường của lãnh thổ Quá trình thực hiện quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp gắn
liền với quá trình phát triển kinh tế - xã hội
Quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp có nội dung rất phức tạp, bao gồm xác lập, phân bố hợp lý quỹ đất này sử dụng vào các ngành và trên mỗi vùng lãnh thổ và phân bố quỹ đất này vào sản xuất các loại cây trồng, vật nuôi và các hoạt động khác của sản xuất nông nghiệp Đồng thời trong quy hoạch phải xác định hướng đầu tư, biện pháp thâm canh tăng năng suất trên một đơn vị diện tích, đáp ứng các yêu cầu về hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường
Quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp có những đặc trưng sau:
- Là một quá trình động, có trọng điểm thay đổi theo từng thời kỳ, có nhiều phương án sử dụng khác nhau Vì thế, quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp phải điều chỉnh kịp thời cho phù hợp
- Là kết quả của quá trình nghiên cứu, đề xuất và lựa chọn các giải pháp khác nhau cho những nhiệm vụ khác nhau;
- Cần được cập nhật, thừa kế và phát triển;
Chất lượng quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp phụ thuộc vào hai quá trình:
- Lập quy hoạch phù hợp với điều kiện sinh thái tự nhiên, nhu cầu của thị trường và tiến hành sản xuất nông nghiệp theo quy hoạch có hiệu quả, tiết kiệm
và bền vững
- Nâng cao chất lượng quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp là việc hoàn thiện các tác nghiệp trong lập quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp nhằm tạo ra
Trang 20tính phù hợp cao nhất giữa phướng án sử dụng của quy hoạch với thực tiễn khai thác sử dụng đất và tạo ra tính hiệu lực cao của quy hoạch trong thực hiện, thúc đẩy người sử dụng tự giác thực hiện đúng quy hoạch Quy hoạch sử dụng dất nông nghiệp là sản phẩm của tư duy, là kết quả nghiên cứu khoa học về sử dụng đất theo các điều kiện nguồn lực, xu thế phát triển nông nghiệp tại một địa bàn lãnh thổ trong khoảng thời gian nhất định [13]; [15]
1.1.2 Quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp
1.1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp
Quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp là quá trình Nhà nước sử dụng hệ thống các công cụ, chính sách, pháp luật và các quy định để quản lý, kiểm tra, giám sát các hoạt động liên quan đến công tác quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp nhằm khai thác, sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả, thúc đẩy nông nghiệp phát triển toàn diện và bền vững
Thực tế cho thấy, quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp là một trong những nội dung quan trọng đối với quản lý nhà nước về nông nghiệp Nó không những thể hiện tính pháp lý và quyền sử dụng đất theo pháp luật mà nó còn thể hiện tính khoa học và nghệ thuật trong quá trình thực hiện Điều đó đòi hỏi nhà nước phải làm tốt chức năng của mình về lĩnh vực này nhằm sử dụng nguồn đất nông nghiệp có hiệu quả cao hơn
Trong thực tiễn khi quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp thường nảy sinh yêu cầu xây dựng quy hoạch chuyên ngành nhưng không làm thay các quy hoạch chuyên ngành đối với các công trình cơ sở hạ tầng gắn liền với đất như:
hệ thống giao thông, mạng lưới thuỷ lợi, hệ thống các điểm dân cư Để đảm bảo thống nhất giữa quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp và các công trình trên, cần dựa trên cơ sở dự báo sử dụng đất chung của vùng Trong phương án quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp, các công trình liên quan tới đất (như hệ thống giao thông, thuỷ lợi, điểm dân cư ) được thể hiện dưới dạng sơ đồ phân bố và
xử lý số liệu theo các chỉ tiêu tổng quát Trên cơ sở sơ đồ phân bố, khi có nhu
Trang 21cầu sẽ xây dựng dự án quy hoạch chuyên ngành theo từng công trình riêng biệt (thiết kế lại mạng lưới tưới tiêu, các trạm bơm, mạng lưới đường, quy hoạch các điểm dân cư nông thôn )
Như vậy, các vấn đề liên quan đến việc sử dụng hợp lý đất nông nghiệp được thực hiện theo tuần tự từ quy hoạch tổng thể sử dụng đất nông nghiệp đến các dự án quy hoạch chuyên ngành sẽ cho phép giải quyết cụ thể các vấn đề về
sử dụng đất (trồng trọt, tưới tiêu, cơ giới hoá ) trên cơ sở áp dụng các tiến bộ và thành tựu của khoa học kỹ thuật
Chính vì đất nông nghiệp là điều kiện của sản xuất, là cơ sở không gian
để phát triển các ngành kinh tế quốc dân, nên mọi vấn đề về sử dụng hợp lý đất đai ở các cấp độ khác nhau (dự báo, phương án quy hoạch, dự án quy hoạch chuyên ngành ) đều liên quan đến các lĩnh vực như: năng lượng, công nghiệp, giao thông, xây dựng và đặc biệt là dự báo việc phát triển và phân bố lực lượng sản xuất
Việc xây dựng quy hoạch tổng thể sử dụng đất này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, mang tính chất tổng hợp, dựa trên cơ sở của các tài liệu khảo sát chuyên ngành, đưa ra định hướng phân bố và tạo điều kiện thuận lợi về mặt không gian để thực hiện các quyết định về sử dụng đất trong giai đoạn trước mắt, hoàn thiện về các chỉ tiêu kỹ thuật vào tạo cơ sở pháp lý cho việc sử dụng đất
Quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế
mà còn thể hiện rõ tính kỹ thuật cũng như ý nghĩa pháp lý Các quyết định về quy hoạch sử dụng đất vừa là cơ sở không gian để bố trí các công trình, vừa là căn cứ kỹ thuật để lập kế hoạch đầu tư chi tiết
Xem xét mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp và quản lý đất này cho thấy: các tài liệu về thống kê số lượng, chất lượng đất cũng như việc đăng ký đất phục vụ cho việc lập quy hoạch sử dụng nó Ngược lại, cơ cấu đất được tạo ra trong quá trình quy hoạch sử dụng là cơ sở để thống kê đất đai Các
Trang 22số liệu về phân hạng đánh giá đất cũng được sử dụng để lập quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất đai Quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp toàn quốc, cấp vùng
và cấp tỉnh là quy hoạch chiến lược, dùng để khống chế vĩ mô và quản lý kế hoạch sử dụng đất Quy hoạch cấp huyện phải phù hợp và hài hoà với quy hoạch cấp tỉnh Quy hoạch cấp huyện là giao điểm giữa quy hoạch quản lý vĩ mô và vi
mô, quy hoạch cấp xã là quy hoạch vi mô và làm cơ sở để thực hiện quy hoạch thiết kế chi tiết
1.1.2.2 Căn cứ pháp lý
- Căn cứ Luật Đất đai năm 2013; Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai; Luật Đất đai năm 2003; Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai; Chỉ thị số 618/CT-TTg ngày 15/5/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2010; Thông tư
số 08/2007/TT-BTNMT ngày 02/8/2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thống kê, kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất; Công văn số 1539/TCQLĐĐ-CĐKTK ngày 26/10/2009 của Tổng cục Quản lý đất đai về việc hướng dẫn nghiệp vụ kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2010 và các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ của Bộ Tài nguyên và Môi trường; UBND tỉnh Nghệ An đã ban hành các Văn bản tổ chức thực hiện
- Các Nghị quyết Đảng: Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm
2020, chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn; Nghị quyết 26/NQ-TW ngày
05 tháng 8 năm 2008 Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành TW khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và Nghị quyết số 24/2008/NQ - CP ngày 28/10/2008 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 BCH TW Đảng Khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới đến năm 2020 và hướng đến năm 2030
Trang 23- Các văn bản pháp luật làm căn cứ thực hiện lập quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp gồm: Điều 18 - Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về: “Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả"; Luật Đất đai năm 2003, Nghị định 181/2004/NĐ-CP của Chính phủ về thi hành luật đất đai năm 2003, Luật Đất đai năm 2013; Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai, Nghị định 69/2009/NĐ-CP của Chính phủ quy định bổ sung quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ
và tái định cư; Nghị định 42/2012/NĐ-CP ngày 11/5/2012 của Chính phủ về Quản lý, sử dụng đất trồng lúa; Thông tư 19/2009/TT-BTNMT Quy định chi tiết
về việc lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Công văn
số 429/TCQLĐĐ-CQHĐĐ hướng dẫn về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Chỉ thị số 01/CT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc tăng cường công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Văn bản số 2778/BTNMT-TCQLĐĐ của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc triển khai lập quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 2011 - 2015
1.1.3 Vai trò của quản lý Nhà nước về quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp
Trong quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp sự quản lý của Nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đề ra định hướng quy hoạch và kiểm soát việc thực hiện sử dụng đất nông nghiệp Những vai trò cụ thể của Quản lý Nhà nước trong quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp thể hiện chủ yếu ở các mặt:
Thứ nhất, Nhà nước đảm bảo cho việc quy hoạch đúng theo hướng đảm
bảo sử dung đất nông nghiệp một cách có hiệu quả Vai trò này xuất phát từ quy định của Luật pháp về đất đai: Nhà nước là đại diện của chủ sở hữu toàn dân đối với đất đai, Nhà nước thực hiện phân bổ đất đai vào các mục đích sử dụng trong nông nghiệp sao cho đảm bảo lợi ích của người sử dụng và toàn xã hội Mối quan hệ chủ yếu về đất nông nghiệp là mối quan hệ giữa Nhà nước (chủ sở hữu ruộng đất) với các chủ thể sử dụng đất (cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội,
Trang 24các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp, hộ gia đình, nông dân ) Để thực hiện quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp Nhà nước đã tạo điều kiện pháp lý và đầu tư hạ tầng cần thiết trên diện tích đất quy hoạch để các chủ sử dụng đất có đủ điều kiện thuận lợi đầu tư vào ruộng đất để sản xuất nông nghiệp nhằm tăng giá trị canh tác trên từng đơn vị diện tích Do vậy sự quản lý của nhà nước đối với quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp có vai trò đảm bảo cho quá trình sử dụng loại đất này có hiệu quả trên cơ sở khai thác tiềm năng, lợi thế của nó trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp
Thứ hai, đất nông nghiệp do nhiều chủ thể sử dụng khác nhau như: nông
hộ, trang trại, doanh nghiệp, cơ quan nhà nước Muốn các tổ chức này cùng sử dụng đất theo định hướng quy hoạch thì sự quản lý của Nhà nước trong thực hiện quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp là bắt buộc Thực tế, từng chủ sử dụng đất chỉ sử dụng theo mục đích cá nhân mà không mang tính chiến lược, tổng thể, dài hạn, do đó Nhà nước ban hành các chính sách có mục đích thúc đẩy việc các chủ sử dụng đất thực hiện các biện pháp sử dụng đất có hiệu quả theo quy hoạch như: đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, thực hiện các biện pháp bảo vệ, cải tạo đất trong quá trình sử dụng
Thứ ba, sản xuất nông nghiệp gắn liền với đất nông nghiệp, đó là tính giới
hạn, tính cố định, không thể thay thế Mà ngày càng nhiều diện tích đất nông nghiệp bị chuyển đổi sang các mục đích sử dụng khác như: xây dựng nhà ở, xây dựng đô thị, khu công nghiệp, căn cứ quốc phòng an ninh, xây dựng điện đường trường trạm Do đó, quản lý Nhà nước đối với quy hoạch và thực hiện quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp có ý nghĩa đảm bảo cho việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất hợp lý, mang tính chiến lược, bền vững
Thứ tư, sản xuất nông nghiệp diễn ra trên không gian rộng và trên nhiều
địa hình khác nhau, chịu sự chi phối mạnh bởi các điều kiện khác nhau về sinh thái, hạ tầng như khí hậu, giao thông, thuỷ lợi, và các điều kiện khác phục vụ cho sản xuất nông nghiệp Hơn nữa từng chủ thể sử dụng đất có liên hệ rất mật
Trang 25thiết với nhau trong quá trình canh tác, như mùa vụ, tưới tiêu, bảo vệ thực vật mang tính liên vùng, toàn khu vực, thậm chí mang tính quốc gia Trên góc độ này thì vai trò của nhà nước là đảm bảo giải quyết những vấn đề về mang tính hệ thống, liên hệ giữa các vùng, khu vực và quốc gia của sản xuất nông nghiệp
Hoàn thiện quản lý nhà nước về công tác quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp được coi là một trong những nội dung có tính cấp thiết và tất yếu khách quan nhằm làm cơ sở tiền đề cho việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Quy hoạch và kế hoạch hoá đất đai có ý nghĩa to lớn trong công tác quản
lý và sử dụng đất đai Đảm bảo việc sử dụng đất đai hợp lý, tiết kiệm, đạt các mục đích nhất định và phù hợp với các quy định của Nhà nước Đồng thời, giúp cho Nhà nước dễ dàng quản lý, theo dõi, giám sát được quá trình sử dụng đất Quy hoạch và kế hoạch hoá đất đai là công việc của tất cả các cơ quan quản lý đất đai và các tổ chức, cá nhân sử dụng đất của Nhà nước
Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một nội dung hết sức quan trọng trong công tác quản lý nhà nước về đất đai
1.2 Nội dung và các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý Nhà nước về quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp
1.2.1 Nội dung quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp
Quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp là một trong những nội dung quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn tài nguyên này Năm 2013, Luật đất đai sửa đổi ra đời, mở ra nhiều điểm sáng mới cho việc thực hiện các thủ tục liên quan đến đất đai, tạo thuận tiện cho người dân khi làm các thủ tục liên quan đến đất đai Ngoài vấn đề quy định những điểm mới, luật đất đai 2013 còn giữ lại những nguyên tắc cốt lõi, đặc biệt là vấn
để quản lý đất đai, nhà nước luôn thống nhất quản lý Nội dung chủ yếu được thể hiện như sau:
- Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ
chức thực hiện văn bản đó trong quá trình tổ chức xây dựng, thực hiện quy
Trang 26hoạch sử dụng đất nông nghiệp ở các cấp Trong quá trình quản lý nhà nước, sản phẩm của các cơ quan quản lý nhà nước là các quyết định quản lý, đó là các quyết định thành văn (văn bản hóa) Văn bản có một vai trò to lớn trong quá trình quản lý, vì văn bản đảm bảo thông tin cho hoạt động quản lý, truyền đạt các quyết định quản lý, là công cụ để xây dựng hệ thống pháp luật
- Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính Khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện đất
và bản đồ quy hoạch sử dụng đất; điều tra, đánh giá tài nguyên đất trạng sử dụng Phân vùng hợp lý diên tích đất nông nghiệp cho nhu cầu phát triển kinh tế
xã hội Hình thành hệ thống cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp phù hợp với cơ cấu kinh tế, khai thác tiềm năng đất nông nghiệp Đảm bảo hiệu quả giữa 3 lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường
- Xác định mục đích yêu cầu và thực hiện nguyên tắc, phương pháp quản
lý của nhà nước về quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp Kiểm tra kiểm soát nội
dung chuyển đổi mục đích sử dụng đất Tổ chức điều tra, khảo sát, thẩm định, phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp, trong đó: quy định thẩm quyền của các cấp về việc phê duyệt quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp Thực hiện thống kê, kiểm kê đất đai, xây dựng hệ thống thông tin đất đai Phân cấp quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp
- Xây dựng và quản lý quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp; công khai quy
hoạch; kêu gọi đầu tư thực hiện quy hoạch; tiến hành giao đất cho các cơ quan,
tổ chức, hộ gia đình trực tiếp sử dụng theo Nghị định 64/CP và Nghị định số 85/1999/NĐ-CP Quản lý kinh phí đầu tư xây dựng quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp, kế hoạch hoá nguồn chi phí đầu tư cho việc điều tra, khảo sát
- Tăng cường thanh tra, kiểm tra xử lý nghiêm minh các trường hợp vi
phạm trong quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp trước, trong và sau khi thực hiện quy hoạch
Quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp là hệ thống quy
Trang 27hoạch nhiều cấp Ngoài lợi ích chung của cả nước, mỗi vùng, mỗi địa phương tự quyết định những lợi ích cục bộ của mình Vì vậy, để đảm bảo thống nhất khi xây dựng và triển khai quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp phải tuân thủ các thể chế hành chính hiện hành của Nhà nước Hệ thống quản lý hành chính của nước
ta được phân chia thành 4 cấp: toàn quốc (bao gồm cả cấp vùng), cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã Tuỳ thuộc vào chức năng, nhiệm vụ của mỗi cấp để quy định chức năng quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp có nội dung
và ý nghĩa khác nhau Lập quy hoạch tiến hành theo trình tự từ trên xuống, và sau đó được bổ sung hoàn chỉnh từ dưới lên Quản lý nhà nước về quy hoạch sử dung đất nông nghiệp của các cấp đều là cơ sở và cho quản lý nhà nước của các cấp chính quyền Quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp cấp dưới là căn cứ để điều chỉnh các quy hoạch vĩ mô
Quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp của cả nước là chỗ dựa của quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp cấp tỉnh, được xây dựng căn cứ vào nhu cầu của nền kinh tế quốc dân, kế hoạch dài hạn phát triển kinh tế - xã hội, trong đó xác định phương hướng, mục tiêu và nhiệm
vụ sử dụng đất cả nước nhằm điều hoà quan hệ sử dụng đất giữa các ngành, các tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương Đề xuất các chính sách, biện pháp để khai thác, sử dụng, bảo vệ và nâng cao hệ số sử dụng đất, điều chỉnh cơ cấu sử dụng đất và thực hiện quy hoạch
Quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp cấp tỉnh có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng và cần thiết trong hệ thống quy hoạch sử dụng đất, nhằm đưa công tác quản lý đất đai có nề nếp, mang lại hiệu quả trên nhiều mặt cho đất nước và xã hội Quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp cấp tỉnh do UBND tỉnh trực tiếp chỉ đạo công tác xây dựng và được Chính phủ trực tiếp phê duyệt, xây dựng căn cứ và quy hoạch sử dụng đất đai toàn quốc và quy hoạch vùng Cụ thể hoá các chỉ tiêu chủ yếu của quy hoạch toàn quốc kết hợp với đặc điểm đất đai và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong phạm vi tỉnh mình Nội dung chủ
Trang 28yếu của quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp cấp tỉnh gồm:
+ Xác định phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu sử dụng đất nông nghiệp toàn tỉnh
+ Điều hoà nhu cầu sử dụng đất nông nghiệp của các ngành, xử lý mối quan hệ giữa khai thác sử dụng, cải tạo và bảo vệ đất
+ Đề xuất định hướng, cơ cấu, các chỉ tiêu và phân bố sử dụng đất nông nghiệp của tỉnh cũng như các biện pháp để thực hiện quy hoạch
Trong hệ thống 4 cấp lập quy hoạch sử dụng đất thì cấp tỉnh có vị trí trung tâm và là khung sườn trung gian giữa vĩ mô và vi mô, giữa tổng thể và cụ thể, giữa Trung ương và địa phương
Quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp cấp huyện là xây dựng trên cơ sở định hướng của quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh nhằm giải quyết các mâu thuẫn về quan hệ đất đai căn cứ vào đặc tính nguồn tài nguyên đất, mục tiêu dài hạn phát triển kinh tế - xã hội và các điều kiện cụ thể khác của các huyện, thị (điều hoà quan hệ sử dụng đất trong phát triển xây dựng, đô thị và phát triển nông - lâm nghiệp)
+ Đề xuất các chỉ tiêu và phân bố sử dụng các loại đất Xác định các chỉ tiêu khống chế về đất nông nghiệp đối với quy hoạch ngành và xã phường trên phạm vi của huyện Nội dung quản lý nhà nước quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp cấp huyện bao gồm:
+ Xác định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp cơ bản sử dụng đất nông nghiệp của huyện
+ Xác định quy mô, cơ cấu và phân bố sử dụng đất nông nghiệp của các ngành
+ Xác định phạm vi và phân bố đất nông nghiệp sử dụng cho các công trình hạ tầng, cho các xã trong huyện
Quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp cấp xã: Xã là đơn vị hành chính cấp cơ sở (cấp cuối cùng), các loại văn bản nghiên cứu tiền kế
Trang 29hoạch hầu như không có (từ trước tới nay chưa có quy hoạch phát triển kinh
tế-xã hội của tế-xã) Theo tinh thần của Luật đất đai năm 1993, tài liệu quy hoạch sử dụng đất đai cấp xã cho thời hạn 5 - 10 năm có tính pháp quy và sẽ là văn bản duy nhất mang tính tiền kế hoạch Quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp cấp xã là quy hoạch vi mô là khâu cuối cùng của hệ thống quản lý
về quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp được xây dựng dựa trên khung chung các chỉ tiêu định hướng sử dụng đất đai của huyện
+ Xác định mục tiêu chung, mục tiêu cụ thể và các giải pháp sử dụng đất nông nghiệp cho từng mục đích trên địa bàn xã
+ Xác định nhu cầu và cân đối quỹ đất nông nghiệp cho từng mục đích sử dụng, từng dự án
+ Xác định cụ thể vị trí phân bố, hình thể, diện tích và cơ cấu sử dụng từng khoanh đất cho các mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, khu dân cư, hệ thống cơ sở hạ tầng như đường giao thông, kênh mương thuỷ lợi, lưới điện, bưu chính viễn thông, y tế, văn hoá, giáo dục, thể thao các dự án và các công trình chuyên dùng khác
Quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp được thể hiện 4 cấp thực hiện theo nguyên tắc kết hợp từ trên xuống và từ dưới lên Tuy nhiên,
do yêu cầu của thực tiễn đôi khi phải thực hiện độc lập, hoặc đồng thời sau đó sẽ chỉnh lý khi điều kiện cho phép
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp
Công tác quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp chịu tác động bởi nhiều nhân tố sau:
1.2.2.1 Nhân tố khách quan
Đặc điểm địa hình, khí hậu, điều kiện thổ nhưỡng
+ Địa hình: sự khác nhau giữa các diện tích đất về địa hình, địa mạo, độ cao, độ dốc và sự xói mòn mặt đất thường dẫn tới sự khác nhau của sản xuất
Trang 30nông nghiệp, từ đó ảnh hưởng tới quy hoạch, bố trí các ngành sản phẩm nông nghiệp
+ Khí hậu: ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và điều kiện sinh hoạt của con người, ảnh hưởng đến sự phân bố, sinh trưởng và phát triển của cây trồng do đó ảnh hưởng tới quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp
+ Thổ nhưỡng: thổ nhưỡng (đất) là lớp vật chất tơi xốp ở bề mặt lục địa, được đặc trưng bởi độ phì Là lớp vỏ chứa vật chất tơi xốp này nằm ở bề mặt các lục địa - nơi tiếp xúc với khí quyển, thạch quyển và sinh Độ phì của đất quyết định khả năng cung cấp nước, khí, nhiệt và các chất dinh dưỡng cần thiết cho thực vật sinh trưởng và phát triển Vì thế phụ thuộc vào chất lượng của thổ nhưỡng mà ảnh hưởng tới quá trình quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp để sao cho khai thác được tối đa lợi thế của thổ nhưỡng
1.2.2.2 Nhân tố chủ quan
+ Các chính sách của Nhà nước
Cơ chế chính sách đang ngày một hoàn thiện, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho hoạt động sản xuất nông nghiệp Từ Luật đất đai 1993, Luật đất đai 1998 và mới đây nhất là Luật đất đai sửa đổi 2003 Sự thay đổi trong cơ chế chính sách đòi hỏi sự quản lý nhà nước sao cho phù hợp Luôn bám sát để hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện sử dụng đất cho hoạt động sản xuất nông nghiệp
+ Điều kiện kinh tế - xã hội
Điều kiện kinh tế xã hội quyết định đến mục đích sử dụng đất nông nghiệp, nó tạo ra căn cứ để xác định phương hướng sử dụng đất nông nghiệp, sản xuất gì và tiêu thụ sản phẩm như thế nào Như vậy, điều kiện kinh tế xã hội tạo tiền đề cho việc quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp
+ Nhận thức của đối tượng sử dụng đất
Nhận thức của người dân và các tổ chức về việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp là điều kiện rất quan trọng để cho việc quản lý nhà nước
về lĩnh vực này tiến hành được thuận lợi và có hiệu quả
Trang 31Đa số người dân chỉ nhìn thấy lợi ích trước mắt, lợi ích cá nhân, chứ chưa
có sự nhìn nhận về lợi ích lâu dài, lợi ích xã hội; do vậy cũng nhiều sai phạm trong quá trình khai thác sử dụng đất nông nghiệp như: đốt nương phá rừng làm rẫy, canh tác trên đất dốc, tự ý chuyển đổi mục đích sử dụng đất, làm phá vỡ tiến trình sử dụng đất khoa học và bền vững
+ Nguồn nhân lực
Yếu tố nhân lực luôn đóng một vai trò tối quan trọng trong mọi hoạt động quản lý Nguồn nhân lực ảnh hưởng mạnh tới chất lượng quy hoạch và thực hiện quy hoạch, nếu nguồn nhân lực chất lượng cao thì sản phẩm quy hoạch làm ra sẽ bao quát đầy đủ các vấn đề sẽ nảy sinh trong quá trình thực hiện quy hoạch và sẽ lường trước được những biến động trong tương lai
Bộ máy cán bộ quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp đòi hỏi phải có trình độ chuyên ngành, trình độ tổng hợp liên ngành mới giải quyết được những vấn đề trong quy hoạch đang đặt ra
+ Công cụ kỹ thuật, tài chính
Nhân tố này tạo ra điều kiện để lập quy hoạch có căn cứ khoa học và thực hiện đúng các định hướng đã quy định Với sự hỗ trợ của các công cụ kỹ thuật
và tài chính việc quản lý quy hoạch sẽ nhanh chóng, chính xác và thuận lợi hơn
do đó nó ảnh hưởng tới chất lượng của công tác quản lý và thực hiện quy hoạch
1.3 Kinh nghiệm của một số tỉnh trong quản lý nhà nước về quy hoạch
sử dụng đất nông nghiệp và bài học kinh nghiệm đối với Nghệ An
1.3.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp của tỉnh Quảng Ninh
Giảm dần đất nông nghiệp
Theo quy hoạch được Chính phủ phê duyệt, cơ cấu đất nông nghiệp của Quảng Ninh được điều chỉnh giảm đáng kể so với cơ cấu hiện trạng Với tổng diện tích tự nhiên 610.235 ha, Quảng Ninh có hiện trạng đất nông nghiệp chiếm 460.119
ha, chiếm 77,35% cơ cấu sử dụng đất Tuy nhiên, theo quy hoạch sử dụng đất đến
Trang 32năm 2020, diện tích đất nông nghiệp giảm xuống còn 445.226 ha, chỉ còn chiếm 72,96% trong cơ cấu Cụ thể, với đất trồng lúa hiện trạng tính đến năm 2010, Quảng Ninh có 28.531 ha nhưng theo quy hoạch được phê duyệt đến năm 2020 diện tích đất nông nghiệp giảm còn 25.000 ha Đất trồng cây lâu năm từ 15.227 ha giảm xuống còn 11.446 ha Việc điều chỉnh diện tích đất nông nghiệp sẽ theo hướng giảm dần trong kế hoạch sử dụng đất ở 2 phân kỳ 2010 -2015 và 2015 -
2020 Trong phân kỳ đầu tiên đã được Chính phủ phê duyệt, diện tích đất nông nghiệp giảm tương ứng theo từng năm: 2012 (459.639 ha), 2013 (456.965 ha),
2014 (454.956 ha), 2015 (450.582 ha)… Tuy nhiên, với việc điều chỉnh đất nông nghiệp giảm dần đến năm 2020 sẽ tạo ra sức ép cho phát triển kinh tế nông nghiệp
Do vậy, để giải toả sức ép này, trong định hướng phát triển nông nghiệp thời gian tới của tỉnh được tập trung ứng dụng công nghệ cao, công nghệ sạch để có thể gia tăng khối lượng nông sản trong sản xuất, bảo đảm phát triển bền vững
Mở rộng đất phi nông nghiệp, đô thị
Có thể khẳng định, việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã giúp cho cơ cấu sử dụng đất được chuyển đổi phù hợp với quá trình chuyển đổi
cơ cấu kinh tế, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất trong nông nghiệp, nông thôn phù hợp với nền kinh tế hàng hoá thì việc mở rộng đất phi nông nghiệp, đô thị là một xu thế tất yếu trong quá trình phát triển của tỉnh Theo hiện trạng sử dụng đất năm 2010 đất phi nông nghiệp là 83.795 ha, chiếm 13,73% cơ cấu; đến năm 2020, sẽ tăng lên 130.510 ha, chiếm 21,39% cơ cấu sử dụng đất Theo Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ninh tới năm 2020, tỉnh chú trọng tới việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, ưu tiên tập trung cho các ngành công nghiệp, thương mại, dịch vụ, sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp với hàm lượng khoa học công nghệ cao trong sản phẩm, những ngành kinh tế biển có lợi thế Do đó, tỉnh sẽ được ưu tiên đầu tư cơ sở hạ tầng để thu hút đầu tư Trong giai đoạn 2010 - 2015, toàn tỉnh có 11 KCN với diện tích 11.736ha Trong đó, 4 KCN là Cái Lân, Việt Hưng, Hải Yên, Đông Mai đang
Trang 33triển khai xây dựng cơ sở hạ tầng và đã cho nhà đầu tư thứ cấp thuê lại đất Các KCN đi vào hoạt động về cơ bản được đầu tư đồng bộ hạ tầng kỹ thuật cấp điện, nước, thoát nước và hệ thống xử lý nước thải tập trung Diện tích lấp đầy đạt trên 55% 3 KCN Hoành Bồ, Cảng biển Hải Hà giai đoạn 1 và KCN Phương Nam đang trong giai đoạn giải phóng mặt bằng và tiến hành các thủ tục đầu tư 4 KCN còn lại đang thu hút, kêu gọi các nhà đầu tư nghiên cứu đầu tư
Theo quy hoạch đến năm 2020, Chính phủ cho phép Quảng Ninh điều chỉnh tăng diện tích đất khu công nghiệp từ 1.281 ha lên 9.308 ha vào năm 2020 Theo đó, diện tích đất khu công nghiệp sẽ tăng dần tương ứng theo các năm trong 2 phân kỳ sử dụng đất đã được phê duyệt: Năm 2011 (1.281ha), năm 2012 (2.045 ha), năm 2013 (2.590 ha), năm 2014 (2.224 ha), năm 2015 (4.044 ha) Cũng trong định hướng đến năm 2020, diện tích đất ở đô thị cũng được Chính phủ cho phép điều chỉnh tăng dần theo tốc độ đô thị hoá của Quảng Ninh, từ 5.396 ha lên 8.069 ha vào năm 2020 Tuy vậy, do dân số của tỉnh có sự chuyển dịch nhanh từ nông thôn sang thành thị nên nhiều điểm dân cư nông thôn sẽ chuyển thành khu dân cư đô thị và một số được tái định cư thực hiện các dự án phát triển cũng sẽ khiến đất ở đô thị tăng nhanh, đất ở nông thôn chuyển dần sang đất ở đô thị… Với việc phân bổ đất dân cư như trên sẽ tạo điều kiện cho phát triển kinh tế, tiền đề cho đô thị hoá mạnh mẽ trên địa bàn tỉnh Ngoài ra, theo quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất phân kỳ đầu tiên, các phương án quy hoạch sử dụng đất trên các lĩnh vực như đất quốc phòng, an ninh, trụ sở cơ quan, văn hoá - xã hội, xử lý chất thải, giao thông, thuỷ lợi, năng lượng… cũng đã được tính đến
Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm thời
kỳ đầu 2010 - 2015 tỉnh Quảng Ninh góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư, tăng nguồn thu từ đất, nâng cao hiệu quả hơn nữa vai trò quản lý nhà nước về đất đai Qua đó, đáp ứng nhu cầu sử dụng đất cho chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
Trang 341.3.2 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp của tỉnh Thanh Hóa
Theo Nghị quyết số: 74/NQ-CP về quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020
và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2010 - 2015) tỉnh Thanh Hóa vừa được Chính phủ ban hành hôm nay (12/11), đến năm 2020 diện tích đất nông nghiệp của tỉnh
là 863.555 ha, chiếm 77,57% tổng diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh
Theo quy hoạch, đến năm 2020, tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh Thanh Hóa là 1.113.194 ha, trong đó 138.700 ha là đất trồng lúa, chiếm 16,06% diện tích đất nông nghiệp; diện tích đất trồng cây lâu năm là 39.494 ha toàn tỉnh Chiếm tỷ lệ nhiều nhất trong đất phi nông nghiệp là đất phát triển hạ tầng với 34,65%, tương đương 63.300 ha; đất khu công nghiệp 5.104 ha chiếm 2,79% Giai đoạn từ năm 2011 - 2020, Thanh Hóa sẽ chuyển mục đích sử dụng 18.813
ha đất nông nghiệp chuyển sang phi nông nghiệp
Chính phủ yêu cầu UBND tỉnh Thanh Hóa căn cứ vào Nghị quyết, tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, rà soát quy hoạch của các ngành, lĩnh vực trong tỉnh có sử dụng đất cho thống nhất với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của tỉnh đã được Chính phủ phê duyệt
Bên cạnh đó, xác định và công bố công khai đất lúa, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng cần bảo vệ nghiêm ngặt; thực hiện quản lý, sử dụng đất trồng lúa theo đúng quy định tại Nghị định số 42/2012/NĐ-CP ngày 11/5/2012 của Chính phủ
về quản lý, sử dụng đất trồng lúa
Đồng thời chủ động thu hồi đất theo quy hoạch và kế hoạch, trong đó cần phải thu hồi cả phần diện tích đất bên cạnh công trình kết cấu hạ tầng, vùng phụ cận để tạo nguồn vốn cho phát triển, tạo quỹ đất đầu tư công trình hạ tầng kỹ thuật và xã hội Đồng thời, ưu tiên cho người bị thu hồi đất được giao đất hoặc mua nhà trên diện tích đất đã thu hồi mở rộng (tái định cư tại chỗ) theo quy định của pháp luật
Đẩy mạnh việc đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất
Trang 35Khuyến khích sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả, khắc phục tình trạng bỏ hoang đất
đã giao và cho thuê
Đẩy nhanh tiến độ sắp xếp lại cơ sở nhà đất thuộc sở hữu nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước trong đó có nông, lâm trường, đơn vị an ninh, quốc phòng; di dời các nhà máy, xí nghiệp sản xuất gây ô nhiễm ra khỏi khu vực trung tâm các đô thị Kiểm soát chặt chẽ việc bảo vệ môi trường đối với khu, cụm công nghiệp, khu đô thị hiện có, khu đô thị mới ngay từ khâu lập quy hoạch
Chính phủ yêu cầu UBND tỉnh Thanh Hóa tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc quản lý, sử dụng đất đai theo quy hoạch nhất là khu vực chuyển mục đích sử dụng để tập trung cho phát triển kinh tế và chuyển đổi cơ cấu kinh
tế theo hướng phát triển dịch vụ, đô thị để tăng nguồn thu cho ngân sách; ngăn chặn kịp thời các vi phạm và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất; kiên quyết không giải quyết giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất không theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; xử lý các trường hợp đã được giao đất, cho thuê đất nhưng không sử dụng hoặc sử dụng trái mục đích
Định kỳ hằng năm, UBND tỉnh Thanh Hóa có báo cáo kết quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất với Bộ Tài nguyên và Môi trường
1.3.3 Một số bài học kinh nghiệm quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp đối với Nghệ An
Thứ nhất, kinh tế - xã hội phát triển rất nhanh do yêu cầu đẩy mạnh đô
thị hóa, công nghiệp hóa, chuyển đổi mạnh mẽ cơ cấu sử dụng đất nên nhu cầu
sử dụng đất tăng cao và rất đa dạng, làm tăng giá trị của đất đòi hỏi công tác quản lý đất đai nói chung, quy hoạch nói riêng phải hoàn chỉnh về lực lượng cũng như cơ chế, chính sách mới phù hợp để có thể quản lý tốt theo quy hoạch
và pháp luật
Thứ hai, qua thực tế quản lý, thực hiện quy hoạch sử dụng đất, có thể thấy
pháp luật đất đai hiện chưa ràng buộc các ngành, lĩnh vực và chính quyền địa
Trang 36phương tuân thủ quy hoạch sử dụng đất, đồng thời quy hoạch sử dụng đất dễ bị điều chỉnh theo yêu cầu của nhà đầu tư Do đó, cần có hướng dẫn cụ thể, chi tiết
về phương pháp luận để nâng cao luận chứng của tài liệu quy hoạch sử dụng đất, nâng cao tầm quan trọng của tài liệu quy hoạch trong công tác quản lý điều hành của chính quyền các cấp, đồng thời bổ sung quy định về chấp hành quy hoạch sử dụng đất
Thứ ba, tài liệu quy hoạch sử dụng đất cần xác định cụ thể các giải pháp
để bảm bảo tính khả thi của việc thực hiện theo quy hoạch
Thứ tư, phải nâng tầm cán bộ lập, theo dõi và thực hiện quy hoạch, đồng
thời bố trí đủ lực lượng cán bộ quy hoạch cho cấp huyện và cấp xã
Kết luận chương 1
Quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp là quá trình Nhà nước sử dụng hệ thống các công cụ, chính sách, pháp luật và các quy định để quản lý, kiểm tra, giám sát các hoạt động liên quan đến công tác quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp nhằm khai thác, sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả, thúc đẩy nông nghiệp phát triển toàn diện và bền vững Để tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với đất nông nghiệp theo đúng mục đích, quy hoạch được duyệt, ngăn chặn kịp thời và xử lý theo quy định của pháp luật các hành vi lấn chiếm, mua bán, hủy hoại, chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp trái phép, cần các sở, ngành, UBND tỉnh theo chức năng, nhiệm vụ được phân công tăng cường công tác quản lý nhà nước, bảo đảm đúng quy định của pháp luật; thực hiện nghiêm túc các quy hoạch được cấp có thẩm qưyền phê duyệt và các quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch phát triển nông nghiệp liên quan Các Sở, ngành, công bố công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, đẩy mạnh công tác đăng ký biến động và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp cho các hộ sau khi thực hiện xong công tác dồn điền, đổi thửa
Trang 37Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ QUY HOẠCH SỬ DỤNG
ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN
2.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội liên quan đến công tác quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An
và của cả khu vực Bắc Trung bộ
Trang 38Nghệ An nằm trong hành lang kinh tế Đông - Tây nối liền Myanma - Thái Lan - Lào - Việt Nam - Biển Đông theo đường 7 đến cảng Cửa Lò Nằm trên các tuyến du lịch quốc gia và quốc tế (tuyến du lịch xuyên Việt; tuyến du lịch Vinh - Cánh đồng Chum - Luôngprabang - Viêng Chăn - Băng Cốc và ngược lại qua Quốc lộ 7 và đường 8) Với vị trí như vậy, Nghệ An đóng vai trò quan trọng trong giao lưu kinh tế, thương mại, du lịch, vận chuyển hàng hoá với cả nước và các nước khác trong khu vực, nhất là các nước Lào, Thái Lan và Trung Quốc, là điều kiện thuận lợi để kêu gọi đầu tư phát triển kinh tế - xã hội [40]
2.1.1.2 Địa hình
Nằm ở Đông Bắc dãy Trường Sơn, Nghệ An có địa hình đa dạng, phức tạp, bị chia cắt mạnh bởi các dãy đồi núi và hệ thống sông, suối Về tổng thể, địa hình nghiêng theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, với ba vùng sinh thái rõ rệt: miền núi, trung du, đồng bằng ven biển Trong đó, miền núi chiếm tới 83% diện tích lãnh thổ Địa hình có độ dốc lớn, đất có độ dốc lớn hơn 8% chiếm gần 80% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, đặc biệt có trên 38% diện tích đất
có độ dốc lớn hơn 25% Đặc điểm địa hình trên là một trở ngại lớn cho việc phát triển mạng lưới giao thông đường bộ, đặc biệt là các tuyến giao thông vùng trung du và miền núi, gây khó khăn cho phát triển lâm nghiệp và bảo vệ đất đai khỏi bị xói mòn, gây lũ lụt cho nhiều vùng trong tỉnh Tuy nhiên, hệ thống sông ngòi có độ dốc lớn, với 117 thác lớn, nhỏ là tiềm năng lớn có thể khai thác để phát triển thuỷ điện và điều hoà nguồn nước phục vụ sản xuất và dân sinh [40]
2.1.1.3 Khí hậu
Nghệ An nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh và chia làm hai mùa rõ rệt: mùa hạ nóng, ẩm, mưa nhiều và mùa đông lạnh, ít mưa
+ Chế độ nhiệt:
Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 23 - 24o
C, tương ứng với tổng nhiệt năm
là 8.700oC Sự chênh lệch nhiệt độ giữa các tháng trong năm khá cao Nhiệt độ
Trang 39trung bình các tháng nóng nhất (tháng 6 đến tháng 7) là 33oC, nhiệt độ cao tuyệt đối 42,7oC; nhiệt độ trung bình các tháng lạnh nhất (tháng 12 năm trước đến tháng 2 năm sau) là 19oC, nhiệt độ thấp tuyệt đối - 0,5oC Số giờ nắng trung bình/năm là 1.500 - 1.700 giờ Tổng tích ôn là 3.500o
+ Chế độ gió:
Nghệ An chịu ảnh hưởng của hai loại gió chủ yếu: gió mùa Đông Bắc và gió phơn Tây Nam: Gió mùa Đông Bắc thường xuất hiện vào mùa Đông từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, bình quân mỗi năm có khoảng 30 đợt gió mùa Đông Bắc, mang theo không khí lạnh, khô làm cho nhiệt độ giảm xuống 5 -
10oC so với nhiệt độ trung bình năm Gió phơn Tây Nam thường xuất hiện ở Nghệ An vào tháng 5 đến tháng 8 hàng năm, số ngày khô nóng trung bình hằng năm là 20 - 70 ngày Gió Tây Nam gây ra khí hậu khô, nóng và hạn hán, ảnh hưởng không tốt đến sản xuất và đời sống sinh hoạt của nhân dân trên phạm vi toàn tỉnh
Trang 40+ Các hiện tượng thời tiết khác:
Là tỉnh có diện tích rộng, có đủ các dạng địa hình: miền núi, trung du, đồng bằng và ven biển nên khí hậu tỉnh Nghệ An đa dạng, đồng thời có sự phân hoá theo không gian và biến động theo thời gian Bên cạnh những yếu tố chủ yếu như nhiệt độ, lượng mưa, gió, độ ẩm không khí thì Nghệ An còn là một tỉnh chịu ảnh hưởng của bão và áp thấp nhiệt đới Trung bình mỗi năm có 2 - 3 cơn bão, thường tập trung vào tháng 8 và 10 và có khi gây ra lũ lụt
Nhìn chung, Nghệ An nằm trong vùng khí hậu có nhiều đặc thù, phân dị
rõ rệt trên toàn lãnh thổ và theo các mùa, tạo điều kiện cho nhiều loại cây trồng phát triển Khí hậu có phần khắc nghiệt, đặc biệt là bão và gió Tây Nam gây trở ngại không nhỏ cho sự phát triển chung, nhất là sản xuất nông nghiệp [40]
2.1.1.4 Thuỷ văn
Tỉnh Nghệ An có 7 lưu vực sông (có cửa riêng biệt), tuy nhiên 6 trong số này là các sông ngắn ven biển có chiều dài dưới 50 km, duy nhất có sông Cả với lưu vực 15.346 km2, chiều dài 361 km Địa hình núi thấp và gò đồi chiếm tỷ trọng lớn nên mạng lưới sông suối trong khu vực khá phát triển với mật độ trung bình đạt 0,62 km/km2
nhưng phân bố không đều trong toàn vùng Vùng núi có độ dốc địa hình lớn, chia cắt mạnh, mạng lưới sông suối phát triển mạnh trên 1 km/km2
, còn đối với khu vực trung du địa hình gò đồi nên mạng lưới sông suối kém phát triển, trung bình đạt dưới 0,5 km/km2 Tuy sông ngòi nhiều, lượng nước khá dồi dào nhưng lưu vực sông nhỏ, điều kiện địa hình dốc nên việc khai thác sử dụng nguồn nước sông cho sản xuất và đời sống gặp nhiều khó khăn.[40]
1.1.1.5 Đất đai - Thổ nhưỡng
Phân chia theo nguồn gốc hình thành thì có các nhóm đất như sau:
+ Đất thuỷ thành: Phân bố tập trung chủ yếu ở các huyện đồng bằng, ven biển, bao gồm 5 nhóm đất: đất cát; đất phù sa, dốc tụ; đất mặn; đất phèn mặn; đất bạc màu và biến đổi do trồng lúa
Chiếm vị trí quan trọng trong số này có 189.000 ha đất phù sa và nhóm