BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH NGUYỄN HOÀI PHONG MỘT SỐ GIẢI PHÁP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO Ở TRƯỜNG TRUNG CẤP NGHỀ ĐỒNG THÁP MƯỜI, TỈNH LONG AN
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN HOÀI PHONG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO
Ở TRƯỜNG TRUNG CẤP NGHỀ ĐỒNG THÁP MƯỜI,
TỈNH LONG AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN, 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN HOÀI PHONG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO
Ở TRƯỜNG TRUNG CẤP NGHỀ ĐỒNG THÁP MƯỜI,
TỈNH LONG AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.01.14 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Ngô Đình Phương
NGHỆ AN, 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn thạc sỹ “Một số giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đào tạo ở Trường trung cấp nghề Đồng Tháp Mười tỉnh Long An” được hoàn thành với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi đến PGS.TS Ngô Đình Phương, người thầy đã hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn
Với tình cảm chân thành, tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu, khoa giáo dục, phòng khoa học công nghệ và sau đại học trường đại học Vinh, đại học Kinh tế công nghiệp Long An, các thầy cô giáo và Hội đồng khoa học khoa quản lý giáo dục đã tham gia giảng dạy, tư vấn, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu luận văn
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ, quan tâm của cấp ủy chi bộ, Ban giám hiệu, các phòng, khoa, giáo viên của Trường trung cấp nghề Đồng Tháp Mười đã cung cấp thông tin, số liệu, góp ý trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi cũng không thể nào quên công ơn của gia đình, người thân và bạn bè đã động viên, khích lệ, giúp đỡ và ủng hộ về mọi mặt đồng thời chia sẻ, cảm thông với những khó khăn vất vả khi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Dù đã có nhiều cố gắng, song luận văn vẫn khó tránh khỏi những thiếu sót Tác giả mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô, hội đồng khoa học và những
ai quan tâm đến đề tài này để từ đó có thể hoàn thiện luận văn tốt hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Nghệ An, Ngày 04 tháng 06 năm 2016
Tác giả
Nguyễn Hoài Phong
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Giả thuyết khoa học 2
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Các phương pháp nghiên cứu 3
7 Đóng góp của đề tài 3
8 Cấu trúc của luận văn 4
CHƯƠNG 1CƠ SỞ LÝ LUẬN VIỆC ỨNG DỤNG CNTT TRONG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO Ở TRƯỜNG TRUNG CẤP NGHỀ 5
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
1.1.1 Trên thế giới 5
1.1.2 Tại Việt Nam 8
1.2 Một số khái niệm cơ bản 10
1.2.1 Đào tạo, đào tạo nghề 10
1.2.2 Công nghệ thông tin, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đào tạo 11
1.2.3 Giải pháp và giải pháp quản lý ứng dụng CNTT 14
1.3 Một số vấn đề ứng dụng CNTT trong trường trung cấp nghề 14
1.3.1 Quan điểm của Đảng, Nhà nước và ngành LĐTB&XH 14
1.3.2 Vai trò của CNTT trong quản lý đào tạo 16
1.3.3 Nội dung ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đào tạo ở trường trung cấp nghề 17
1.4 Yếu tố ảnh hưởng đến việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đào tạo ở trường trung cấp nghề 18
Trang 5Kết luận chương 1 19
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO Ở TRƯỜNG TRUNG CẤP NGHỀ ĐỒNG THÁP MƯỜI, TỈNH LONG AN 21
2.1 Khái quát về trường trung cấp nghề Đồng Tháp Mười, tỉnh Long An 21
2.1.1 Cơ cấu tổ chức 22
2.1.2 Đội ngũ giáo viên của trường trung cấp nghề Đồng Tháp Mười tỉnh Long An 23
2.1.3 Các chuyên ngành đào tạo 24
2.1.4 Định hướng và phát triển của trường trung cấp nghề Đồng Tháp Mười tỉnh Long An 26
2.2 Khái quát về khảo sát thực trạng 26
2.2.1 Mục đích khảo sát 26
2.2.2 Nội dung khảo sát 27
2.2.3 Phương pháp khảo sát 27
2.2.4 Đối tượng khảo sát 27
2.3.Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đào tạo ở trường trung cấp nghề Đồng Tháp Mười, tỉnh Long An 27
2.3.1 Đặt điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội và giáo dục nghề nghiệp ở Thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An 27
2.3.2 Thực trạng cơ sở vật chất cho ứng dụng công nghệ thông tin 33
2.3.3 Thực trạng trình độ công nghệ thông tin của đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên trường trung cấp nghề Đồng Tháp Mười 35
2.3.4 Thực trạng nhận thức về CNTT và ứng dụng CNTT vào quản lý đào tạo của cán bộ quản lý và giáo viên trường trung cấp nghề Đồng Tháp Mười 36
2.4 Đánh giá chung về thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đào tạo ở trường trung cấp nghề Đồng Tháp Mười, tỉnh Long An 40
2.4.1 Thuận lợi 40
Trang 62.4.2 Khó khăn 40
2.4.3 Những tồn tại và hạn chế 41
2.4.4 Nguyên nhân của tồn tại hạn chế 41
Kết luận chương 2 42
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO Ở TRƯỜNG TRUNG CẤP NGHỀ ĐỒNG THÁP MƯỜI, TỈNH LONG AN 43
3.1 Các nguyên tắc đề xuất giải pháp 43
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 43
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 43
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 44
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 45
3.2 Các giải pháp đề xuất 46
3.2.1 Giải pháp 1: Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng, lợi ích của việc ứng dụng CNTT trong quản lý đào tạo 46
3.2.2 Giải pháp 2: Lập kế hoạch chiến lược cho việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong quản lý đào tạo ở trường trung cấp nghề Đồng Tháp Mười 49
3.2.3 Giải pháp 3: Xây dựng kế hoạch tạo nguồn nhân lực có chất lượng về CNTT cho nhà trường 50
3.2.4 Giải pháp 4 :Tổ chức hội thảo, tập huấn, chia sẻ các nguồn tài nguyên mạng và các phương pháp quản lý ứng dụng CNTT trong quản lý đào tạo 54
3.2.5 Giải pháp 5 : Tăng cường các nguồn lực đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật tin học, hiện đại hoá trang thiết bị của trường 56
3.2.6 Giải pháp 6 : Tăng cường thanh tra, kiểm tra cơ sở hạ tầng CNTT trong quản lý đào tạo 59
3.2.7 Mối quan hệ giữa các giải pháp đề xuất 60
3.3 Khảo nghiệm tính cấp thiết và khả thi của các giải pháp được đề xuất 61 3.3.1 Khảo nghiệm, kết quả khảo nghiệm 61
Trang 73.3.2 Đánh giá kết quả khảo nghiệm 67
Kết luận chương 3 68
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 69
1 Kết luận 69
2 Khuyến nghị 71
2.1 Đối với Bộ LĐTB&XH 71
2.2 Đối với Sở LĐTB&XH 71
2.3 Đối với Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng, các cán bộ quản lý trường trung cấp nghề Đồng Tháp Mười 71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Thống kê số lượng cán bộ, giáo viên và nhân viên trường trung cấp nghề Đồng Tháp Mười 24 Bảng 2.2: Thống kê số nghề đào tạo trình độ trung cấp nghề trường trung cấp nghề Đồng Tháp Mười 24 Bảng 2.3: Thống kê số nghề đào tạo trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề thường xuyên trường trung cấp nghề Đồng Tháp Mười 25 Bảng 2.4 Thống kê kết quả tuyển sinh các cơ sở dạy nghề tỉnh Long An 32 Bảng 2.5 Thống kê trình độ CNTT của cán bộ giáo viên Trường trung câp nghề Đồng Tháp Mười 36 Bảng 2.6 Kết quả xin ý kiến đánh giá của Ban giám hiệu, cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên về nhận thức ứng dụng CNTT trong quản lý đào tạo ở trường trung câp nghề Đồng Tháp Mười 36 Bảng 2.7 Kết quả xin ý kiến đánh giá của Ban giám hiệu, cán bộ, giáo viên, nhân viên về tình hình ứng dụng CNTT trong quản lý đào tạo ở trường trung câp nghề Đồng Tháp Mười 38
Trang 9DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TĂT
Lao động thương binh và xã hội LĐTB&XH
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Về mặt lý luận: Xuất phát từ xu thế hội nhập và toàn cầu hoá Việc tiếp
nhận những công nghệ mới trong đó công nghệ thông tin là yếu tố khách quan và tất yếu để khẳng định sự phát triển của một quốc gia Giáo dục nghề nghiệp không nằm ngoài quy luật đó, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục nghề nghiệp thể hiện sự lớn mạnh về khoa học, về công nghệ, về kinh tế… của một đất nước Một đất nước muốn phát triển nhanh và bền vững thì nền kinh tế tri thức phải được ưu tiên hàng đầu Công nghệ thông tin đã làm thay đổi căn bản bức tranh của nền kinh tế tri thức đó
Bước vào thế kỷ XXI, Việt Nam là thành viên thứ 50 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Do đó, việc đào tạo nguồn nhân lực có tay nghề cao đối với Việt Nam là chìa khóa để phát triển kinh tế Đây là nhiệm vụ to lớn
và là thách thức cho ngành giáo dục Việt Nam và ngành Lao động – Thương binh và Xã hội trước xu thế hội nhập của đất nước
Để đáp ứng yêu cầu hội nhập WTO; đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, giáo dục thực sự phải đi trước, đón đầu
và đổi mới Và để hoàn thành sứ mệnh của mình, các nhà quản lý giáo dục từ trung ương đến địa phương hơn ai hết phải hiểu tầm quan trọng của CNTT với công tác giáo dục và phải có những giải pháp quản lý hiệu quả để việc ứng dụng CNTT trở thành một nhiệm vụ trọng tâm, chủ yếu và tất yếu
Như vậy, việc quản lý ứng dụng CNTT trong quản lý giáo dục đào tạo góp phần thực hiện đổi mới giáo dục đào tạo nói chung, và dạy nghề nói riêng hiện nay, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho người học
Về mặt thực tiễn: Xuất phát từ thực tế tại tỉnh Long An việc ứng dụng công
nghệ thông tin trong dạy nghề còn hạn chế và gặp nhiều khó khăn làm cho chất lượng giáo dục nghề nghiệp chưa được nâng cao.Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy nghề trở thành nhu cầu cấp bách, không thể thiếu trong việc đổi mới
Trang 11phương pháp quản lý của Trường Trung Cấp Nghề Đồng Tháp Mười Điều này đòi hỏi sự chỉ đạo đúng đắn của Sở LĐTB&XH Long An; là định hướng để Trường Trung Cấp Nghề Đồng Tháp Mười đưa ứng dụng công nghệ thông tin trong quản
lý trường nghề thành công Trên thực tế đã có nhiều nghiên cứu về ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý các hoạt động giáo dục nghề nghiệp nhưng hiện chưa
có công trình khoa học nào được nghiên cứu và ứng dụng tại địa bàn tỉnh Long An
Từ việc nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn nói trên, xuất phát từ yêu cầu khách quan và tính cấp thiết về bài toán ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đào tạo ở Trường Trung Cấp Nghề Đồng Tháp Mười, tác giả tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Một số giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đào tạo ở trường trung cấp nghề Đồng Tháp Mười, tỉnh Long An”
2 Mục đích nghiên cứu
- Đề xuất một số giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đào tạo nhằm nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp ở Trường trung cấp nghề Đồng Tháp Mười
3 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đào tạo
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đào tạo ở trường trung cấp nghề Đồng Tháp Mười
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đào tạo ở Trường Trung câp nghề Đồng Tháp Mười
4 Giả thuyết khoa học
Có thể nâng cao hiệu quả quản lý đào tạo ở Trường trung cấp nghề Đồng
Tháp Mười nếu đề xuất và thực hiện được các giải pháp ứng dụng CNTT có cơ
sở khoa học, có tính khả thi, phù hợp với điều kiện thực tiễn của nhà trường
Trang 125 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về công nghệ thông tin và ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đào tạo
5.2 Đánh giá thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đào tạo ở trường trung cấp nghề Đồng Tháp Mười
5.3 Đề xuất một số giải pháp quản lý của Sở LĐTB&XH Long An nhằm tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đào tạo ở trường trung cấp nghề Đồng Tháp Mười, tỉnh Long An
6 Các phương pháp nghiên cứu
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin lý luận để xây dựng
cơ sở lý luận của đề tài Thuộc nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận có các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
Phương pháp phân tích - tổng hợp tài liệu;
Phương pháp khái quát hoá các nhận định độc lập
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin thực tiễn để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài Thuộc nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận có các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
Phương pháp điều tra;
Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục;
Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động;
Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
6.3 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phần mềm SSR để xử lý số liệu thu được
7 Đóng góp của đề tài
- Hệ thống hóa vấn đề lý luận về ứng dụng CNTT trong quản lý đào tạo ở trường trung cấp nghề
Trang 13- Đề xuất 6 giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đào tạo nhằm cải thiện thực trạng vừa phân tích
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục nghiên cứu, luận văn được trình bày trong 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản
lý đào tạo ở trường trung cấp nghề
Chương 2: Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đào
tạo ở trường trung cấp nghề Đồng Tháp Mười, tỉnh Long An
Chương 3: Một số giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý
đào tạo ở trường trung cấp nghề Đồng Tháp Mười, tỉnh Long An
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VIỆC ỨNG DỤNG CNTT TRONG
QUẢN LÝ ĐÀO TẠO Ở TRƯỜNG TRUNG CẤP NGHỀ
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nền kinh tế thế giới đang bước vào giai đoạn nền kinh tế tri thức Vì vậy việc nâng cao hiệu quả chất lượng giáo dục và đào tạo, dạy nghề sẽ là yếu tố sống còn và quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia Việc áp dụng những công nghệ mới vào lĩnh vực quản lý trong đó có CNTT chính là một trong những giải pháp nâng cao chất lượng dạy nghề Điều này đặt ra vấn đề cho các nhà quản
lý là: Làm thế nào để thúc đẩy việc ứng dụng CNTT trong quản lý? Chính vì vậy vấn đề nghiên cứu các giải pháp để thúc đẩy ứng dụng CNTT trong quản lý đã thực sự phát triển rộng khắp trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng ( Theo tạp chí PCWORLDVN)
1.1.1 Trên thế giới
Trên thế giới, các nước có nền giáo dục phát triển đều chú trọng đến việc ứng dụng CNTT như: Nước Phần Lan, Mỹ, Australia, Canađa, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Để ứng dụng CNTT được như ngày nay các nước này đã trải qua rất nhiều các chương trình quốc gia về tin học hoá cũng như ứng dụng CNTT vào các lĩnh vực khoa học kỹ thuật và trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là ứng dụng vào khoa học công nghệ và giáo dục Họ coi đây là vấn đề then chốt của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, là chìa khoá để xây dựng và phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tăng trưởng nền kinh tế để xây dựng
và phát triển nền kinh tế tri thức, hội nhập với các nước trong khu vực và trên toàn thế giới Vì vậy, họ đã thu được những thành tựu rất đáng kể trên các lĩnh vực như: Điện tử, sinh học, y tế, giáo dục,
Cộng hòa Pháp: Một chính sách quốc gia đầu tiên mang tên Plan de Cancul đề
xuất vào giữa những năm 60 dưới thời Tổng thống Đờ Gôn (De Gaullé)
Trang 15Nhật Bản: xây dựng chương trình Quốc gia có tên: “Kế hoạch một xã hội
thông tin – mục tiêu quốc gia đến năm 2000” đã được công bố từ những năm 1972
Tại Philippin: Kế hoạch CNTT Quốc gia (NTTP) của Philippin công bố
năm 1989 xác định một chiến lược chung nhằm đưa CNTT phục vụ việc phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong những năm 90
Năm 1981 Singapore thông qua một đạo luật về Tin học hóa Quốc gia
quy định ba nhiệm vụ: Một là, thực hiện việc tin học hóa mọi công việc hành chính và hoạt động của Chính phủ Hai là, phối hợp GD&ĐT tin học Ba là, phát triển và thúc đẩy công nghiệp dịch vụ tin học ở Singapore Một Ủy ban máy tính Quốc gia (NCB) được thành lập để chỉ đạo công tác đó
Năm 1980 chính sách tin học của Đài Loan đã được công bố và “Kế
hoạch 10 năm phát triển CNTT ở Đài Loan” đã đề cập đến cấu trúc tổ chức của CNTT trong nước và những nội dung mà chính phủ cần làm để phát triển CNTT, tiếp tục khả năng cạnh tranh thành công trên thị trường thế giới
Ở Hàn Quốc, các hoạt động về chính phủ điện tử và ứng dụng CNTT
được phân biệt: Các dự án có liên quan đến nhiều Bộ, Ngành, địa phương được xem như là dự án chính phủ điện tử được sử dụng ngân sách tập trung Các dự
án ứng dụng CNTT được tiến hành bởi từng Bộ, Ngành, địa phương sử dụng ngân sách chi thường xuyên hoặc “Quỹ Thúc Đẩy” CNTT do Bộ Thông tin và Truyền thông quản lý Tương ứng, có hai cơ quan chỉ đạo và điều phối: Ban thúc đẩy tin học hóa và Ban đặc biệt về chính phủ điện tử thuộc Ban đổi mới chính phủ của Tổng thống Ban thúc đẩy tin học hóa có nhiệm vụ trông coi và khai thông các chính sách, kế hoạch và dự án để tạo điều kiện thúc đẩy Hàn Quốc thành một xã hội thông tin tiên tiến Ban này có trách nhiệm trông coi các chức năng về tin học hóa, khởi xướng và hiệu đính kế hoạch các chiến lược về tin học hóa và các kế hoạch triển khai liên quan, điều phối việc xây dựng các dự
án và các chính sách, xây dựng và sử dụng siêu xa lộ thông tin quốc gia, đưa ra các giải pháp quản lý và vận hành các nguồn tài chính, đánh giá hiệu quả của
Trang 16các chính sách và hoạt động về CNTT
Mặc dù ở Việt Nam cũng có 2 tổ chức tương đương là Ban chỉ đạo Quốc gia
về CNTT và Ban chỉ đạo về cải cách hành chính nhưng có thể thấy ở Hàn Quốc những điểm khác biệt quan trọng đảm bảo hoạt động có hiệu quả và thực chất:
+ Có sự tham gia trực tiếp, thường xuyên và thực sự từ các cấp lãnh đạo cao cấp nhất (tổng thống, thủ tướng, các bộ trưởng, thứ trưởng)
+ Có bộ máy tổ chức chuyên nghiệp với chức năng rõ ràng và hoạt động thực
sự, không chỉ họp rồi chỉ đạo không có nghiên cứu chuẩn bị như ở Việt Nam
+ Có các cơ quan chuyên nghiệp mạnh như Cục Tin học hoá quốc gia hỗ trợ về kỹ thuật và triển khai các hoạt động thực thi Sau khi các ban chỉ đạo đã
có kết luận, sẽ có người chịu trách nhiệm thực hiện và báo cáo Các nội dung kỹ thuật cần ý kiến chỉ đạo đã có một bộ máy chuyên nghiệp chuẩn bị kỹ càng Đáng chú ý là Cục Tin học hoá quốc gia tuy trực thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông nhưng vẫn hỗ trợ về kỹ thuật cho Bộ nội vụ, làm cầu nối cho các nội dung chính phủ điện tử và ứng dụng CNTT, đảm bảo tính thống nhất về hệ thống
+ Các vấn đề chuyên sâu đều được đưa ra nghiên cứu và thảo luận kỹ tại các tiểu ban trước khi tổng hợp xin ý kiến các ủy viên hoặc đưa ra thảo luận tại phiên họp toàn thể
(Theo tin “Chính phủ điện tử Hàn Quốc” trên tạp chí PCWorldVN cập nhật ngày 01/4/2008)
Ở Australia vào tháng 3 năm 2000, Hội đồng Bộ trưởng đã ủng hộ
hướng đi được trình bày trong tài liệu “Cơ cấu chiến lược cho nền kinh tế thông tin”, tài liệu này bao gồm hai mục tiêu giáo dục trường học bao quát cho nền kinh tế thông tin, đó là:
Một là: Tất cả mọi học sinh sẽ rời trường học như những người sử dụng tin cậy, sáng tạo và hiệu quả những công nghệ mới, bao gồm CNTT và viễn thông, và những học sinh này cũng ý thức được tác động của những ngành công nghệ này lên xã hội
Trang 17Hai là: Tất cả các trường đều hướng tới việc kết hợp CNTT và viễn thông vào trong hệ thống của họ, để cải thiện khả năng học tập của học sinh, để đem lại nhiều cơ hội học tập hơn cho người học và làm tăng hiệu quả của việc thực tập kinh doanh của họ”
(Theo “Cơ cấu chiến lược cho nền kinh tế thông tin” ở Australia của tạp chí PCWorldVN)
1.1.2 Tại Việt Nam
Qua các nghiên cứu đều khẳng định ý nghĩa của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đào tạo và vai trò quan trọng của các giải pháp quản lý Qua đó tôi cũng đề xuất một số kiến nghị với các cấp quản lý như Bộ LĐTB&XH, Sở LĐTB&XH trong việc triển khai một số giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đào tạo tại các trường thuộc phạm vi quản lý
Ở Việt Nam cũng đã có chương trình quốc gia về CNTT (1996-2000) và
Đề án thực hiện về CNTT tại các cơ quan Đảng (2003-2005) ban hành kèm theo Quyết định 47 của Ban Bí thư trung ương Đảng Mặt khác, tại các cơ quan quản
lý nhà nước đã có Đề án tin học hoá quản lý hành chính nhà nước (2001-2005) ban hành kèm theo Quyết định số: 112/2001/QĐ - TTg ngày 25/7/2001 của Thủ tướng Chính phủ về giáo dục,
Chỉ thị 58/CT - TƯ ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nêu rõ việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác GD&ĐT Bộ trưởng Bộ GD&ĐT
đã ra Chỉ thị 29/2001/CT-BGD ĐT, ngày 30/7/2001, nêu rõ: “Tập trung phát triển mạng máy tính phục vụ GD&ĐT, kết nối internet đến tất cả các cấp quản
lý và cơ sở giáo dục, hình thành một mạng giáo dục (EduNet) nhằm tăn cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong giai đoạn 2001-2005 Các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu, tìm hiểu học tập các nước về quản lý ứng dụng CNTT trong hệ thống giáo dục để áp dụng ở Việt Nam nhưng không nhiều Trong hai năm 2003-2004, việc nghiên cứu quản lý và ứng dụng CNTT trong hệ
Trang 18thống giáo dục ở Việt Nam đã được được nhiều đơn vị quan tâm hơn Gần đây các hội nghị, hội thảo hay trong các đề tài nghiên cứu khoa học về CNTT và giáo dục đều có đề cập đến vấn đề quản lý ứng dụng CNTT trong giáo dục và khả năng áp dụng vào môi trường đào tạo ở Việt Nam như:
* Hội thảo nâng cao chất lượng đào tạo tại Đại học Quốc gia Hà Nội trong năm 2000
* Hội thảo khoa học quốc gia lần thứ nhất về nghiên cứu phát triển và ứng dụng CNTT và truyền thông ICT 2/2003
* Hội thảo khoa học quốc gia lần thứ hai về nghiên cứu phát triển và ứng dụng CNTT và truyền thông ICT 9/2004
* Hội thảo khoa học “Nghiên cứu và triển khai E-learning” do viện CNTT ( Đại học Quốc gia Hà Nội) và khoa CNTT (Đại học Bách khoa Hà Nội) phối hợp tổ chức đầu tháng 3/2005 là hội thảo khoa học về ứng dụng trong hệ thống giáo dục đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam
* Hội thảo quốc gia về CNTT&TT lần thứ IV vừa diễn ra tại thành phố Huế với chủ đề : “CNTT và sự nghiệp giáo dục – y tế” là: làm thế nào để thúc đẩy mạnh
mẽ hoạt động ứng dụng CNTT nhằm phục vụ một cách hiệu quả nhất cho sự phát triển của giáo dục trong điều kiện nguồn lực còn hạn chế của chúng ta
* Hội thảo khoa học toàn quốc về CNTT&TT: “Các giải pháp công nghệ
và quản lý trong ứng dụng CNTT&TT vào đổi mới phương pháp dạy học” do trường ĐHSP Hà Nội phối hợp với dự án Giáo dục đại học tổ chức từ 9-10/12/2006 Nội dung hội thảo gồm các chủ đề chính sau:
- Các giải pháp về công nghệ trong đổi mới phương pháp dạy (phổ thông, đại học và trên đại học): công nghệ tri thức, công nghệ mã nguồn mở, các hệ nền
và công cụ tạo nội dung trong e-learning, các chuẩn trao đổi nội dung bài giảng, công nghệ trong kiểm tra đánh giá,
- Các giải pháp, chiến lược phát triển ứng dụng CNTT&TT vào đổi mới phương pháp dạy học: chiến lược phát triển, kinh nghiệm quản lý, mô hình tổ
Trang 19chức trường học điện tử, mô hình dạy học điện tử,
- Các kết quả và kinh nghiệm của việc ứng dụng CNTT trong dạy học: xây dựng và sử dụng phần mềm dạy học, kho điện tử,
Trong các hội thảo, các nhà khoa học, các nhà quản lý đã mạnh dạn đưa ra các vấn đề nghiên cứu vị trí tầm quan trọng, ứng dụng và phát triển CNTT đặc biệt là các giải pháp thúc đẩy ứng dụng CNTT trong giáo dục
Từ các phân tích trên, tác giả nhận thấy ứng dụng CNTT trong trong quản
lý đào tạo ở trường Trung cấp nghề Đồng Tháp Mười là một vấn đề cấp thiết nhưng chỉ được nghiên cứu dưới góc độ hẹp Thực tế ở Việt Nam việc đưa CNTT vào quản lý các hoạt động nhà trường nói chung và quản lý quản lý đào tạo nói riêng còn tồn tại nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu giải quyết Vì thế tác giả đã đi sâu nghiên cứu vấn đề này trong phạm vi trường trường Trung cấp nghề Đồng Tháp Mười thuộc Thị xã Kiến Tường - tỉnh Long An nhằm hy vọng
đề xuất được một số giải pháp quản lý góp phần nâng cao hiệu quả đào tạo trong trường trung cấp nghề hiện nay
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Đào tạo, đào tạo nghề
1.2.1.1 Đào tạo
“Đào tạo là làm cho con người trở thành người có năng lực theo những
tiêu chuẩn nhất định”
Theo từ điển Bách khoa Việt nam thì: “ Đào tạo là quá trình tác động đến một
con người, làm cho người đó lãnh hội và nắm thông tin tri thức kỹ năng kỹ xảo một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khà năng nhận sự phân công nhất định góp phần của mình vào sự phát triển của xã hội, duy trì phát triển nền văn minh của nhân loại Về cơ bản đào tạo là giảng dạy và học tập trong nhà trường, gắn bó với giáo dục đạo đức nhân cách” [11]
1.2.1.2 Đào tạo nghề
Theo giáo trình kinh tế lao động của trường Đại học kinh tế quốc dân thì
Trang 20khái niệm đào tạo nghề được tác giả trình bày là :” Đào tạo nguồn nhân lực là
quá trình trang bị kiến thức nhất định về chuyên môn nghiệp vụ cho người lao
động, để họ có thể đảm nhận được một số công việc nhất định”
Theo tài liệu của bộ LĐTB&XH xuất bản năm 2002 thì khái niệm đào tạo
nghề được hiểu :” Đào tạo nghề là hoạt động nhằm trang bị cho người lao động
những kiến thức, kỹ năng và thái độ lao động cần thiết để người lao động sau
khi hoàn thành khoá học được một nghề trong xã hội
1.2.2 Công nghệ thông tin, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản
lý đào tạo
1.2.2.1 Khái niệm công nghệ, CNTT
a) Khái niệm công nghệ
Theo quan điểm truyền thống: “Công nghệ là tập hợp các phương pháp,
quy trình, kỹ năng, kỹ thuật, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn
lực thành sản phẩm”
Theo quan điểm hiện đại: Công nghệ là tổ hợp của bốn thành phần có tác
động qua lại với nhau, cùng thực hiện bất kỳ quá trình sản xuất và dịch vụ nào:
- Thành phần trang thiết bị, bao gồm: các thiết bị, máy móc, nhà xưởng,
- Thành phần kỹ năng và tay nghề: Liên quan đến kỹ năng nghề nghiệp
của từng người hoặc của từng nhóm người
- Thành phần thông tin: Liên quan đến các bí quyết, các quá trình, các
phương pháp, các dữ liệu, các bản thiết kế
- Thành phần tổ chức: Thể hiện trong việc bố trí, sắp xếp và tiếp thị
b) Khái niệm CNTT
Công nghệ thông tin: là thuật ngữ dùng để chỉ các ngành khoa học và công
nghệ liên quan đến thông tin và quá trình xử lý thông tin Như vậy, “CNTT là một hệ
thống các phương pháp khoa học, công nghệ, phương tiện, công cụ, bao gồm chủ
yếu là các máy tính, mạng truyền thông và hệ thống các kho dữ liệu nhằm tổ chức,
lưu trữ, truyền dẫn và khai thác, sử dụng có hiệu quả các thông tin trong mọi lĩnh vực
Trang 21hoạt động kinh tế, xã hội, văn hóa,… của con người”
Công nghệ thông tin được phát triển trên nền tảng của các công nghệ Tin học - Điện tử - Viễn thông và Tự động hóa CNTT nghiên cứu về các khả năng
và các giải pháp, tức là nghiêng về công nghệ theo nghĩa truyền thống Khi nói
“CNTT” là hàm ý muốn nói tới nghĩa kỹ thuật công nghệ Còn Tin học thì nghiên cứu về cấu trúc và tính chất, vì thế tin học gần gũi với cách hiểu là môn khoa học, hay môn học CNTT là lĩnh vực khoa học rộng lớn nhưng có nhiều chuyên ngành hẹp Như trong toán học có các phân môn số học, đại số, hình học phẳng, hình học không gian, Trong vật lý có các phân môn nhiệt học, cơ học, điện học, quang học và lượng tử, thì tin học cũng có các phân môn là khoa học máy tính, kỹ thuật sửa chữa máy tính, công nghệ phần mềm, mạng máy tính, quản trị mạng v.v…
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: Công nghệ thông tin (tiếng Anh là: Information technology gọi tắt là IT) là ngành ứng dụng công nghệ quản lý và xử lý thông tin, là ngành sử dụng máy tính và phần mềm máy tính
để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền và thu nhập thông tin
Ở Việt Nam, khái niệm CNTT được hiểu và định nghĩa trong Nghị quyết số 49/CP của Chính phủ ký ngày 04/08/1993 về “Phát triển CNTT ở nước ta trong những năm 90”: CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông nhằm tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm tàng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội
Theo luật CNTT số 67/2006/QH11 ngày 29/6/2006 điều 4 giải thích: CNTT
là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số
Theo tác giả Đặng Danh Ánh, đến nay CNTT đã phát triển qua ba giai đoạn: Giai đoạn 1, từ khi máy tính ra đời năm 1943 đến những năm 60,70 của thế kỷ 20 - đây là giai đoạn khởi đầu của CNTT; giai đoạn 2 những năm 80, giai
Trang 22đoạn tin học hóa các ngành kinh tế quốc dân và xã hội; giai đoạn 3 của CNTT là internet hóa, được bắt đầu từ những năm 90 của thế kỷ 20
Có thể nói, sự phát triển nhanh chóng của CNTT và đặc biệt là của mạng internet hiện nay vừa tạo ra một điều kiện hết sức thuận lợi đồng thời cũng là một đòi hỏi cấp thiết đối với GD&ĐT nói chung, phương pháp dạy nghề và quản lý trong mỗi nhà trường, của mỗi thầy cô giáo nói riêng phải đổi mới mạnh
mẽ theo hướng tích hợp và sử dụng triệt để những thế mạnh của CNTT vào dạy nghề và quản lý
1.2.2.2 Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đào tạo
Theo Luật công nghệ thông tin số 67/2006/QH11, ngày 29/6/2006: “Ứng dụng CNTT là việc sử dụng CNTT vào các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này”
Ứng dụng CNTT trong giáo dục là một yêu cầu đặt ra trong những chủ trương chung của Đảng và Nhà nước về đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội Ứng dụng CNTT trong giáo dục còn là một điều tất yếu của thời đại, như ông Peter Van Gils, chuyên gia dự án CNTT trong giáo dục và quản lý nhà trường (ICTEM) khẳng định: Chúng ta đang sống trong một xã hội mà ta gọi là một xã hội tri thức hay một xã hội thông tin Điều này có nghĩa rằng những sản phẩm đầu ra mang tính công nghiệp cho xã hội của chúng ta
đã mất đi cái tầm quan trọng của nó Thay vào đó là những “dịch vụ” và “những sản phẩm tri thức” Trong một xã hội như vậy, thông tin đã trở thành một loại hàng hóa cực kỳ quan trọng Máy vi tính và những vấn đề liên quan đã đóng một vai trò chủ yếu trong việc lưu trữ và truyền tải thông tin và tri thức Thực tế này yêu cầu các nhà trường phải đưa các kỹ năng công nghệ vào trong chương trình giảng dạy
và quản lý của mình Một trường học mà không có CNTT là một nhà trường không quan tâm gì tới các sự kiện đang xảy ra trong xã hội
Việc ứng dụng CNTT trong giáo dục bao gồm hai lĩnh vực: ứng dụng
Trang 23CNTT trong quản lý và ứng dụng CNTT trong dạy học Thực tiễn việc ứng dụng CNTT trong quản lý hiện nay đã trở nên phổ biến Điều kiện cơ sở vật chất, hạ tầng CNTT - viễn thông đang thay đổi một cách nhanh chóng là một cơ hội rất lớn cho một phương pháp giáo dục hiện đại, một nền giáo dục tiên tiến với vai trò nòng cốt của CNTT Nó đòi hỏi công tác quản lý phải có những giải pháp thích hợp để phát huy hết những lợi thế mà CNTT mang lại cho việc quản lý của chúng ta hiện nay
1.2.3 Giải pháp và giải pháp quản lý ứng dụng CNTT
* Giải pháp
Theo Đại từ điển Tiếng Việt thì “Giải pháp” có nghĩa là: cách giải quyết một vấn đề, tìm giải pháp cho từng vấn đề” [26, tr 727]
Như vậy, nói đến giải pháp là nói đến phương pháp giải quyết một vấn đề
cụ thể nào đó, là cách thức tác động nhằm thay đổi, chuyển biến một hệ thống, một quá trình, một trạng thái nhất định, nhằm đạt được mục đích hoạt động Giải pháp càng thích hợp, càng tối ưu thì những vấn đề đặt ra càng được giải quyết nhanh chóng Nhưng để có các giải pháp tốt cần phải xuất phát trên những cơ sở
lý luận và cơ sở thực tiễn tin cậy
* Giải pháp quản lý ứng dụng CNTT
Giải pháp quản lý ứng dụng CNTT là đưa ra các giải pháp để quản lý
việc ứng dụng CNTT trong nhà trường
1.3 Một số vấn đề ứng dụng CNTT trong trường trung cấp nghề
1.3.1 Quan điểm của Đảng, Nhà nước và ngành LĐTB&XH
Nhân loại đang bước vào một thời đại mới, thời đại mà thông tin, tri thức trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, thời đại của xã hội thông tin và nền kinh
tế tri thức được hình thành trên cơ sở phát triển và ứng dụng rộng rãi CNTT và truyền thông Cuộc cách mạng thông tin cùng với quá trình toàn cầu hóa đang ảnh hưởng sâu sắc đến mọi lĩnh vực trong đời sống kinh tế - xã hội, đưa con người chuyển nhanh từ xã hội công nghiệp sang xã hội thông tin, từ kinh tế công nghiệp
Trang 24sang kinh tế tri thức, ở đó năng lực cạnh tranh phụ thuộc chủ yếu vào năng lực sáng tạo, thu thập, lưu trữ, xử lý và trao đổi thông tin
Xu thế biến đổi to lớn đó đang đặt ra cho mọi quốc gia những cơ hội và thách thức to lớn Nắm bắt cơ hội, với ý chí và quyết tâm cao, có sự chỉ đạo trực tiếp, kịp thời, sâu, sát của Đảng, của Nhà nước chúng ta có thể tăng cường năng lực, tận dụng tiềm năng CNTT, chuyển dịch nhanh cơ cấu nhân lực và cơ cấu kinh tế - xã hội theo hướng xây dựng một xã hội thông tin, kinh tế dựa trên tri thức, góp phần quan trọng rút ngắn quá trình CNH-HĐH đất nước
Trong xu thế biến động mạnh mẽ của cuộc cách mạng thông tin, Đảng, Chính phủ, Bộ GD&ĐT, Bộ LĐTB&XH, Sở LĐTB&XH, UBND tỉnh Long An
đã có nhiều văn bản chỉ đạo và xác định CNTT là một trong các động lực quan trọng nhất của sự phát triển Cụ thể:
- Hiến pháp nước CNXHCN Việt Nam năm 1992 đã ghi rõ: "Giáo dục và Đào tạo là quốc sách hàng đầu"
- Chỉ thị số 58-CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng
dụng và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH đã chỉ ra rằng “Ứng dụng và phát triển CNTT ở nước ta nhằm góp phần giải phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của toàn dân tộc, thúc đẩy công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và hiện đại hoá các ngành kinh tế, tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả cho quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, đảm bảo an ninh, quốc phòng và tạo khả năng đi tắt đón đầu để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá” [5]
- Nghị định 49/CP của Chính phủ cũng nêu rõ: “Cần nhanh chóng đào tạo chính quy một đội ngũ chuyên viên lành nghề trong lĩnh vực CNTT, giáo dục phổ cập về CNTT trong trường trung học, phổ biến kiến thức về CNTT trong xã hội, đồng thời tăng cường áp dụng CNTT trong bản thân ngành Giáo dục và Đào tạo” Tin học hóa quản lý giáo dục vừa là nhiệm vụ phải
Trang 25thực hiện đồng thời cũng là biện pháp để thực hiện tốt nhất, hiệu quả nhất công tác quản lý giáo dục
- Chỉ thị số 29/2001/CT-BGD&ĐT ngày 30/7/2001 của Bộ Trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong ngành giáo dục
- Công văn số 12966/BGD&ĐT-CNTT ngày 10/12/2007 của Bộ GD&ĐT
về việc đẩy mạnh triển khai một số hoạt động về CNTT;
1.3.2 Vai trò của CNTT trong quản lý đào tạo
Những thành tựu của khoa học công nghệ nữa cuối thế kỷ 20 đang làm thay đổi hình thức và nội dung các hoạt động kinh tế, văn hóa và xã hội của loài người Một số quốc gia phát triển đã bắt đầu chuyển từ văn minh công nghiệp sang văn minh thông tin Các quốc gia đang phát triển tích cực áp dụng những tiến bộ mới của khoa học công nghệ, đặc biệt CNTT để phát triển và hội nhập CNTT là một trong các động lực quan trọng nhất của sự phát triển, cùng với một
số ngành công nghệ cao khác đang làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của thế giới hiện đại
CNTT trở thành một yếu tố then chốt làm thay đổi các hoạt động kinh tế và
xã hội của con người trong đó có giáo dục nghề nghiệp Nhờ việc ứng dụng CNTT,
đa phương tiện đang ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong quá trình quản lý ở nhiều nước trên thế giới Ứng dụng và phát triển CNTT vào quản lý đào tạo sẽ tạo
ra một bước chuyển cơ bản trong quá trình cập nhật kịp thời và thường xuyên các tiến bộ khoa học công nghệ trong nội dung chương trình đào tạo
CNTT giữ một ví trí quan trọng trong quản lý với những lý do chủ yếu sau đây:
- Những yếu tố cơ bản của CNTT và kỹ năng sử dụng máy vi tính là các
bộ phận không thể thiếu của con người trong thời đại mới, đáp ứng những yêu cầu của khoa học công nghệ trong kỷ nguyên thông tin, nền kinh tế tri thức
- Những yếu tố của CNTT còn có thể góp phần phát triển con người
Trang 26- Máy vi tính, với tư cách là một công cụ của CNTT một tiến bộ của khoa học công nghệ cũng cần được sử dụng trong quá trình dạy nghề và quản lý đào tạo để nâng cao chất lượng giáo dục
CNTT có vai trò rất quan trọng trong việc quản lý đào tạo CNTT là công
cụ hỗ trợ đắc lực ở tất cả các khâu, các nội dung công tác của người quản lý, từ việc lập kế hoạch, xếp thời khóa biểu, lịch công tác đến việc thanh kiểm tra, thống kê, đánh giá, xếp loại,
1.3.3 Nội dung ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đào tạo ở trường trung cấp nghề
Việc ứng dụng CNTT trong quản lý đào tạo được các địa phương, các trường tiếp nhận với các mức độ khác nhau tùy thuộc vào điều kiện, nhận thức, năng lực khác nhau của mỗi trường Một vấn đề quan trọng nữa đi theo cho việc ứng dụng CNTT là điều kiện về cơ sở vật chất, máy tính
Việc ứng dụng CNTT trong quản lý đào tạo ở trường hiện nay còn lẻ tẻ, thiếu tính hệ thống “mạnh ai nấy làm” ở mức độ tự phát
Ứng dụng CNTT trong quản lý đào tạo là việc sử dụng CNTT trong quản
lý một cách có mục đích, có kế hoạch của người quản lý tác động đến tập thể cán bộ, giáo viên và những lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm huy động họ tham gia, cộng tác, phối hợp trong các hoạt động của nhà trường giúp quá trình dạy học, giáo dục đạt được tối ưu các mục tiêu đề ra
Việc ứng dụng CNTT trong quản lý đào tạo là công việc, là nhiệm vụ của các nhà quản lý giáo dục nói chung và của mỗi nhà quản lý các cơ sở giáo dục đào tạo nói riêng Quản lý là lãnh đạo, chỉ đạo, điều khiển một tổ chức bằng cách vạch ra mục tiêu cho tổ chức đồng thời tìm kiếm các giải pháp, cách thức tác động vào tổ chức sao cho tổ chức ấy đạt được mục tiêu đề ra Chức năng và nhiệm vụ quản lý phải làm là thuộc tính của nó, quản lý gồm 4 chức năng chính sau đây:
- Hoạch định: Là vạch ra mục tiêu cho bộ máy, sắp xếp các bước đi, các
Trang 27công việc phải làm để tiến tới mục tiêu
- Tổ chức: Là thiết kế bộ máy, sắp xếp công việc, sắp xếp con người, ai làm gì và làm như thế nào
- Điều hành: Là điều khiển tác động vào con người và các mối quan hệ để con người tích cực hoạt động
- Kiểm tra: Là giám sát hoạt động của cấp dưới để điều chỉnh kịp thời các công việc quản lý
Nói đến hoạt động ứng dụng CNTT trong quản lý đào tạo là nói đến việc:
- Ứng dụng CNTT trong quản lý quản lý nhân sự (giáo viên và học sinh)
- Ứng dụng CNTT trong công tác văn thư lưu trữ
- Ứng dụng CNTT trong công tác quản lý thư viện
- Ứng dụng CNTT trong công tác quản lý của cán bộ quản lý
- Ứng dụng CNTT trong công tác quản lý thời khoá biểu
- Ứng dụng CNTT trong công tác quản lý điểm học sinh
- Ứng dụng CNTT trong công tác quản lý thanh tra nội bộ
- Ứng dụng CNTT trong quản lý công tác tuyển sinh
- Ứng dụng CNTT trong quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả đào tạo
- Ứng dụng CNTT trong quản lý các nguồn lực, cơ sở vật chất
- Ứng dụng CNTT trong quản lý quản lý tài chính
1.4 Yếu tố ảnh hưởng đến việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đào tạo ở trường trung cấp nghề
1.4.1 Chủ trương, cơ chế chính sách về ứng dụng CNTT trong giáo dục nói chung và dạy nghề nói riêng
Với quan điểm coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, Đảng, Nhà nước ta đã
có rất nhiều chủ trương chính sách quan tâm, ưu đãi đối với sự nghiệp GD-ĐT của nước nhà Điều đó thể hiện qua các nghị quyết, chỉ thị, quyết định, về ứng dụng CNTT trong quản lý giáo dục Đây là căn cứ để các cấp quản lý giáo dục quán triệt và cụ thể hóa bằng các văn bản hướng dẫn thực hiện Đây cũng là cơ
Trang 28sở để các nhà quản lý giáo dục hoạch định chiến lược, xây dựng kế hoạch về phát triển ứng dụng CNTT trong quản lý giáo dục cho phù hợp với yêu cầu phát triển của nhà trường trong từng thời kỳ
1.4.2 Năng lực và trình độ tin học của đội ngũ cán bộ, giáo viên trong trường trung cấp nghề
Hiệu quả của công tác ứng dụng CNTT trong quản lý đào tạo chịu ảnh hưởng trực tiếp từ trình độ tin học, năng lực, phẩm chất của đội ngũ cán bộ quản
lý và giáo viên Do vậy, quản lý ứng dụng CNTT phải có những giải pháp thích hợp Bản thân người cán bộ quản lý và giáo viên phải có trình độ tin học, năng lực thực
1.4.3 Các điều kiện phục vụ công tác ứng dụng CNTT trong quản lý đào tạo
Để công tác ứng dụng CNTT trong quản lý mang lại hiệu quả cao thì phải gắn liền với các điều kiện đảm bảo về cơ sở vật chất, trang thiết bị, hệ thống thông tin phục vụ cho việc triển khai kế hoạch; về các nguồn lực được huy động
để thực hiện các giải pháp ứng dụng CNTT trong quản lý, Đây không phải là những yếu tố quyết định trực tiếp đến hiệu quả quản lý ứng dụng CNTT trong quản lý nhưng nó là những điều kiện hỗ trợ, luôn tác động qua lại bổ sung cho nhau góp phần nâng cao hiệu quả quản lý
Nhà quản lý cần nhận thức đầy đủ về vai trò của từng yếu tố, phối kết hợp linh hoạt giữa các yếu tố nhằm đạt kết quả tối đa nhất trong quá trình quản lý
Kết luận chương 1
Qua việc nghiên cứu lịch sử vấn đề và một số khái niệm công cụ cơ bản, một số đặc trưng chủ yếu của ứng dụng CNTT trong quản lý đào tạo ở trường trung cấp nghề Đồng Tháp Mười Trên cơ sở lý luận của việc nghiên cứu các giải pháp ứng dụng CNTT trong quản lý đào tạo ở trường trung cấp nghề Đồng Tháp Mười tác giả có thể kết luận như sau:
Trang 29- Mục đích phát triển giáo dục đào tạo nước ta hiện nay là phải nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo Một trong những vấn đề trăn trở của ngành giáo dục
và ngành lao động thương binh xã hội là: làm thế nào để CNTT thực sự góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo? Làm thế nào để nhanh chóng đào tạo đội ngũ lao động có trình độ cao và tay nghề giỏi để đáp ứng nhu cầu xã hội, thúc đẩy phát triển nền kinh tế xã hội theo xu thế hội nhập khu vực và thế giới?
- Ứng dụng CNTT trong quản lý đào tạo là một trong những lời giải của bài toán nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo và dạy nghề
- Các giải pháp ứng dụng CNTT trong quản lý đào tạo là một trong những yếu tố quan trọng, quyết định để nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo và đặc biệt
ở trường trường trung cấp nghề Đồng Tháp Mười
Trang 30CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
TRONG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO Ở TRƯỜNG TRUNG CẤP NGHỀ
ĐỒNG THÁP MƯỜI, TỈNH LONG AN
2.1 Khái quát về trường trung cấp nghề Đồng Tháp Mười, tỉnh Long An
Trường Trung cấp nghề Đồng Tháp Mười trực thuộc sở Lao động Thương binh và Xã hội Tỉnh Long An Tiền thân là Trường dạy nghề Đồng Tháp Mười, được thành lập theo quyết định số 3890/QĐUB ngày 25/10/2001 của UBND Tỉnh Long An, trường chính thức hoạt động vào cuối năm 2003 đầu năm 2004 Năm 2007 Trường được nâng cấp lên thành Trường Trung cấp nghề Đồng Tháp Mười theo quyết định số 78/QĐ-UBND ngày 09/01/2007 của UBND Tỉnh Long
An Trường đóng trên địa bàn Phường 3 – Thị xã Kiến Tường – Tỉnh Long An, cách thành phố Tân An 70km Trường Trung cấp nghề Đồng Tháp Mười có nhiệm vụ tổ chức đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch
vụ ở trình độ Trung cấp nghề, sơ cấp nghề và dạy nghề cho lao động nông thôn nhằm trang bị cho người học năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khỏe, đạo đức nghề nghiệp, ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong công nghiệp, tạo điều kiện cho học viên có khả năng tìm việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn nhằm đáp ứng yêu cầu thị trường lao động
Từ khi thành lập nhà trường liên tục mở rộng các nghề đào tạo nâng cao chất lượng đào tạo Cho đến nay nhà trường đang tập trung đào tạo với các nghề
cơ bản có trình độ trung cấp, sơ cấp như công nghệ ôtô, cắt gọt kim loại, hàn, cơ điện nông thôn, kỹ thuật sữa chữa lắp ráp máy tính, điện công nghiệp, điện tử dân dụng, thú y, bảo vệ thực vật, kế toán doanh nghiệp, công tác xã hội và nhiều ngành nghề sơ cấp như sữa chữa xe gắn máy, hàn, tiện, kỹ thuật xây dựng, điện dân dụng, thú y, may công nghiệp Công tác tuyển sinh đào tạo và tư vấn giới thiệu việc làm luôn được đầu tư trọng điểm Từ khi thành lập trường trung cấp
Trang 31nghề Đồng Tháp Mười đến nay, cơ sở hạ tầng, các trang thiết bị phục vụ dạy học của nhà trường đã được đầu tư xây dựng một cách tương đối hoàn chỉnh theo các dự án của Ủy ban nhân dân tỉnh, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
- KHOA ĐIỆN – ĐIỆN TỬ
-KHOA KẾ TOÁN TIN HỌC
- KHOA NÔNG NGHIỆP
Trang 32* Tổ chức bộ máy của trường: Tổng số cán bộ viên chức, nhân viên hợp đồng là 77 người Trong đó biên chế 70 người, hợp đồng là 07 người, có 16 nữ
a Ban giám hiệu: gồm có 01 Hiệu trưởng và 02 phó Hiệu trưởng
- Khoa Điện - Điện tử
- Khoa Kế toán - Tin học
- Khoa Khoa học cơ bản
- Khoa Nông nghiệp
2.1.2 Đội ngũ giáo viên của trường trung cấp nghề Đồng Tháp Mười tỉnh Long An
Trường trung cấp nghề Đồng Tháp Mười thành lập từ năm 2007 tiền thân là trường dạy nghề Đồng Tháp Mười với mục tiêu đào tạo nhân lực trình độ trung cấp nên hầu hết giáo viên được tuyển có trình độ từ các trường cao đẳng, đại học sư phạm kỹ thuật, một số giáo viên được tuyển từ các trường đại học kỹ thuật phải được bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm dạy nghề Hàng năm nhà trường lên kế hoạch tuyển dụng bổ sung đội ngũ giáo viên để đáp ứng yêu cầu và quy mô đào tạo
Trang 33Bảng 2.1: Thống kê số lượng cán bộ, giáo viên và nhân viên trường trung cấp
Giáo viên biên chế trực
tiếp giảng dạy (kể cả
SL (người)
Tỷ lệ (%) SL
(người)
Tỷ lệ (%)
(Nguồn: phòng Tổng hợp – Trường Trung cấp nghề Đồng Tháp Mười cung cấp)
2.1.3 Các chuyên ngành đào tạo
07 Kỹ thuật sửa chữa lắp ráp máy tính 40480101
Trang 34* Trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề thường xuyên
Bảng 2.3: Thống kê số nghề đào tạo trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề thường
xuyên trường trung cấp nghề Đồng Tháp Mười
6 Sửa chữa động cơ xăng
7 Sửa chữa động cơ dầu
16 Kỹ thuật trồng cây kiểng
17 Nuôi thủy sản nước ngọt
18 Kỹ thuật nuôi và phòng trị bệnh ccho trâu, bò
19 Kỹ thuật nuôi heo
20 Kỹ thuật nuôi gia cầm
21 Tin học văn phòng
22 Đồ họa máy tính
Trang 352.2 Khái quát về khảo sát thực trạng
2.2.1 Mục đích khảo sát
Thu thập thông tin về việc ứng dung CNTT trong quản lý đào tạo ở trường trung cấp nghề Đồng Tháp Mười tỉnh Long An Từ đó đưa ra các giải pháp ứng dụng CNTT trong quản lý đào tạo tại trường
Trang 362.2.2 Nội dung khảo sát
- Ứng dụng CNTT trong quản lý quản lý nhân sự (giáo viên và học sinh)
- Ứng dụng CNTT trong công tác văn thư lưu trữ
- Ứng dụng CNTT trong công tác quản lý thư viện
- Ứng dụng CNTT trong công tác quản lý của cán bộ quản lý
- Ứng dụng CNTT trong công tác quản lý thời khoá biểu
- Ứng dụng CNTT trong công tác quản lý điểm học sinh
- Ứng dụng CNTT trong công tác quản lý thanh tra nội bộ
- Ứng dụng CNTT trong quản lý công tác tuyển sinh
- Ứng dụng CNTT trong quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả đào tạo
- Ứng dụng CNTT trong quản lý các nguồn lực, cơ sở vật chất
- Ứng dụng CNTT trong quản lý quản lý tài chính
2.2.3 Phương pháp khảo sát
Điều tra gián tiếp: Tiến hành gửi phiếu điều tra đến cán bộ quản lý, giáo viên đánh giá rồi gửi lại theo đúng nội dung và thời gian
2.2.4 Đối tượng khảo sát
Cán bộ quản lý, giáo viên trường trung cấp nghề Đồng Tháp Mười tỉnh Long An
2.3.Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đào tạo ở trường trung cấp nghề Đồng Tháp Mười, tỉnh Long An
2.3.1 Đặt điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội và giáo dục nghề nghiệp ở Thị
xã Kiến Tường, tỉnh Long An
2.3.1.1 Điều kiện tự nhiên
Thị xã Kiến Tường nằm ở trung tâm của khu vực Đồng Tháp Mười của tỉnh Long An, cách thành phố Tân An 70km về phía nam Phía Đông giáp huyện Mộc Hóa; phía Tây giáp huyện Tân Hưng; phía Nam giáp huyện Tân Thạnh; phía Bắc giáp huyện Kôngpôngrồ, tỉnh Vrây-viêng Vương quốc Campuchia
Trang 37Thị xã Kiến Tường với 20.428,20 ha diện tích tự nhiên, 64.589 nhân khẩu, mật độ 316 người/km² và có 08 đơn vị hành chính cấp xã, gồm (3 phường, 5 xã): Phường 1, phường 2, phường 3, xã Thạnh Trị, xã Bình Tân, xã Bình Hiệp, xã Tuyên Thạnh, xã Thạnh Hưng Trên địa bàn thị xã có 06 dân tộc sinh sống (Kinh, Hoa, Khơ-me, Nùng, Mường, Thái), số nhân khẩu các dân tộc Hoa, Khơ-
me, Nùng, Mường, Thái chiếm khoảng 0,0083%/tổng nhân khẩu trên địa bàn thị
xã Các tôn giáo chính ở thị xã gồm: Phật giáo, Thiên chúa giáo, Tin lành, Cao đài, Hòa Hảo chiếm 0.09% dân số toàn thị xã
Thị xã Kiến Tường có nhiều ngành nghề thủ công như: Nghề đóng ghe, nghề đương đệm bàng, nghề làm mắm, ủ nước mắm, nghề đương các dụng cụ bắt cá…đã tồn tại rất lâu và nuôi sống người dân Kiến Tường nằm trong khu đất trung tâm của vùng Đồng Tháp Mười, đất trũng ngập nước hằng năm
Kiến Tường có khí hậu chia làm 2 mùa rõ rệt: Mùa nắng và Mùa mưa Hàng năm, Kiến Tường đều phải chịu ảnh hưởng của lũ lụt trên hệ thống sông Vàm Cỏ
Tài nguyên: Đất đai chủ yếu là đất phèn, thích hợp cho trồng lúa và tràm Nước ngọt quanh năm được cung cấp bởi sông Vàm Cỏ Tây và một số kênh rạch thông với sông Tiền
Thị xã Kiến Tường có tổng số 22 cơ sở giáo dục đóng trên địa bàn, bao gồm 1 trường Trung cấp nghề, 1 trường trung học phổ thông, 1 Trung tâm giáo dục thường xuyên-kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp, 5 trường Trung học cơ sở, 1 trường Tiểu học &Trung học cơ sở, 6 trường tiểu học và 7 trường Mầm Non Thị xã Kiến Tường có 1 bệnh viện đa khoa với quy mô 150 giường bệnh, 1 Trung tâm y tế, 1 phòng y tế trực thuộc ủy ban nhân dân thị xã và 8 trạm y tế xã
- phường Đội ngũ y, bác sĩ có tay nghề cao và có những thiết bị kỹ thuật cao để chữa trị những căn bệnh hiểm nghèo, góp phần giảm tải cho cơ quan y tế tuyến trên.Thị xã Kiến Tường là trung tâm của khu vực Đồng Tháp Mười về nhiều mặt, trong đó kinh tế đóng vai trò chủ đạo trong sự phát triển chung của toàn
Trang 38khu vực Đồng Tháp Mười Thị xã có cửa khẩu quốc tế Bình Hiệp để giao thương hàng hóa với Vương quốc Campuchia, có tuyến quốc lộ 62 chạy qua giúp cho việc vận chuyển hàng hóa thuận lợi hơn Chợ Mộc Hóa cũ đang có quy hoạch nâng cấp thành trung tâm thương mại Kiến Tường nguy nga tráng lệ, đóng vai trò đầu tàu cho ngành dịch vụ không chỉ của thị xã Kiến Tường mà còn
là đầu tàu cho toàn vùng Đồng Tháp Mười Hàng hóa bày bán trong chợ rất đa dạng, được cung cấp chủ yếu từ thị trường đầu mối thành phố Hồ Chí Minh nên giá cả hợp lý và phong phú Trên địa bàn Thị xã có tuyến quốc lộ 62, tỉnh lộ
831, tuyến lộ liên xã Tuyên Thạnh - Thạnh Hưng, Bình Hiệp - Thạnh Trị Về giao thông đường thủy có các tuyến kênh mương chằng chịt và sông Vàm Cỏ Tây chảy qua, là điều kiện thuận lợi cho việc giao thương, trao đổi hàng hóa với các địa phương trong và ngoài khu vực
2.3.1.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội
Năm 2015, bên cạnh một số thuận lợi cơ bản, thị xã Kiến Tường-tỉnh Long An cũng gặp nhiều khó khăn, thách thức Thời tiết diễn biến phức tạp, nắng nóng kéo dài; thị trường tiêu thụ một số sản phẩm nông nghiệp tiếp tục gặp khó khăn; tình hình căng thẳng khu vực biên giới; các dự án lớn trên địa bàn triển khai giải phóng mặt bằng cùng một lúc… đã tác động ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh, đời sống nhân dân và công tác chỉ đạo, điều hành; sự
nỗ lực của cả hệ thống chính trị và nhân dân trong thị xã nên tình hình kinh tế -
xã hội trên địa bàn cơ bản ổn định và có mặt phát triển
Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu chủ yếu như sau:
- Tổng giá trị sản xuất năm 2015 đạt 2.731,3 tỷ đồng, đạt 105,2% kế hoạch, tăng 17,8 so cùng kỳ Trong đó, khu vực I đạt 1.292,9 tỷ tăng 15,4%; khu vực II đạt 496,3 tỷ tăng 21,4%; khu vực III đạt 942,1 tỷ tăng 19,4%
- Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực: khu vực I chiếm tỷ trọng 47%; khu vực II chiếm 18%; khu vực III chiếm 34%
Trang 39- GDP bình quân đầu người năm 2015: 49,5 triệu đồng/người/năm (kế hoạch 50 triệu đồng/người/năm, năm 2014 là 47 triệu đồng/người/năm)
- Sản lượng lương thực 181.470 nghìn tấn đạt 102,2 kế hoạch tăng 16% so với cùng kỳ
- Kim ngạch xuất khẩu 6.203.712 USD, giảm 3,9% so với năm 2014
- Giá trị sản xuất thương mại – dịch vụ đạt 941,9 tỷ đạt 100,3% so kế hoạch, tăng 19,4% so với cùng kỳ
- Giá trị sản xuất hàng nông, lâm, thủy sản đạt 1.292.9 tỷ, đạt 109,4% kế hoạch, tăng 15,4% so với cùng kỳ
- Giá trị sản xuất ngành công nghiệp – xây dựng đạt 496,3 tỷ, đạt 104,4%
kế hoạch, tăng 21,4% so với cùng kỳ
- Tổng thu ngân sách trên địa bàn 123,9 tỉ đồng, đạt 114% kế hoạch thị xã
- Tỉ lệ học sinh học tiểu học đúng độ tuổi 99,8% (kế hoạch 99,8%)
- Tỉ lệ trẻ độ tuổi 5 ra lớp mẫu giáo, phổ cập Tiểu học, THCS đúng độ tuổi đạt 100%
- Tỉ lệ học sinh hoàn thành cấp THCS đạt 99,9%
- Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên 0,7% (kế hoạch dưới 1,1%)
- Giảm tỉ lệ hộ nghèo còn 2,98% (kế hoạch dưới 3%)
- Tỉ lệ suy dinh dưỡng trẻ em cân nặng theo tuổi dưới 10,7% (kế hoạch 10,7%)
- Tỉ lệ lao động qua đào tạo 48,86% (kế hoạch 48,84%)
- Giải quyết việc làm 2,535 lao động (kế hoạch 2.500 lao động), đạt 101,4%
Trang 40- Tỉ lệ bảo hiểm y tế toàn dân 74,58% (kế hoạch 71,77%)
- Tỉ lệ hộ dân nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh 98% (kế hoạch 98%)
- Tỉ lệ hộ dân thành thị sử dụng nước hợp vệ sinh 99,4% (kế hoạch 99%)
- Tỉ lệ thu gom chất thải rắn ở đô thị 93% (kế hoạch 93%)
2.3.1.3 Tình hình đào tạo nghề của tỉnh Long An
a Thuận lợi
- Công tác dạy nghề được Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh quan tâm chỉ đạo, cùng sự phối hợp có hiệu quả của hệ thống chính trị trong việc đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật, đào tạo nghề cho lao động nông thôn để phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội, chuyển dịch cơ cấu lao động và xây dựng nông thôn mới
- Các cơ sở dạy nghề được Trung ương và địa phương quan tâm chỉ đạo, đầu
tư về cơ sở vật chất, thiết bị và đội ngũ giáo viên nên chất lượng dạy nghề từng bước được nâng lên, đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp, thị trường lao động
- Công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên dạy nghề được cấp trên quan tâm tổ chức thực hiện theo hướng chuẩn hóa
để góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nghề
- Có sự phối hợp chặt chẽ với các sở, ngành, đoàn thể và các huyện, thị
xã, thành phố trong việc tổ chức triển khai công tác dạy nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh
b Khó khăn
- Mặc dù được Trung ương và Tỉnh quan tâm đầu tư nhưng vẫn còn một
số cơ sở dạy nghề thiếu cơ sở vật chất, thiết bị so với quy mô đào tạo; các dự án xây dựng cơ sở dạy nghề công lập triển khai chậm, chưa đảm bảo tiến độ đã được phê duyệt
- Bộ máy tổ chức cán bộ quản lý, giáo viên hiện có của các CSDN chưa tương xứng với quy mô đào tạo; một bộ phận giáo viên còn hạn chế về kỹ năng