Trong khi đó, sự hiểu biết của người bệnh về THA còn chưa cao, người bệnh không biết rằng THA là bệnh hầu hết không có triệu chứng cơ năng, số người biết mình bị THA còn quá thấp và
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
_
TRỊNH HUY DŨNG
MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH LÝ, SINH HÓA, HUYẾT HỌC CỦA BỆNH NHÂN CAO HUYẾT ÁP TRƯỚC VÀ SAU KHI ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN
ĐA KHOA TỈNH THANH HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC SINH HỌC
Nghệ An - 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
_
TRỊNH HUY DŨNG
MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH LÝ, SINH HÓA, HUYẾT HỌC CỦA BỆNH NHÂN CAO HUYẾT ÁP TRƯỚC VÀ SAU KHI ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN
ĐA KHOA TỈNH THANH HÓA
Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm
Mã số: 60.42.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
TS.BS NGUYỄN QUANG TRUNG
Nghệ An - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng đã được xác nhận của cơ sở nghiên cứu và chưa từng công bố
Người thực hiện
Trịnh Huy Dũng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ về mọi mặt của các cơ quan, đơn vị, các thầy cô giáo, các nhà khoa học, gia đình và bạn bè đồng nghiệp
Tôi xin trân trọng cảm ơn: Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau Đại học, khoa Sinh học - Trường Đại học Vinh đã tạo điều kiện cho tôi học tập và nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô bộ môn trường Đại học Vinh đã truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong suốt quá trình học tập
Tôi xin cảm ơn Ban Giám đốc, các khoa phòng Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hóa đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và nghiên cứu
Đặc biệt tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và lòng kính trọng tới
TS.BS.Nguyễn Quang Trung - Giám đốc Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An đã trực
tiếp hướng dẫn tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu để tôi hoàn thành luận văn này
Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn giúp đỡ, động viên, chia sẻ những khó khăn, thuận lợi cùng tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Tác giả
Trịnh Huy Dũng
Trang 5
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC……… iii
DANH MUC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu đề tài 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Khái niệm huyết áp và tăng huyết áp 3
1.1.1 Định nghĩa về tăng huyết áp 3
1.1.2 Phân loại huyết áp 3
1.2 Thực trạng tăng huyết áp 5
1.2.1 Trên Thế giới 5
1.2.2 Ở Việt Nam 6
1.3 Tác hại của tăng huyết áp 7
1.4 Triệu chứng tăng huyết áp 9
1.5 Các yếu tố liên quan đến tăng huyết áp 10
1.5.1 Ăn mặn 11
1.5.2 Uống rượu bia 12
1.5.3 Hút thuốc lá, thuốc lào 12
1.5.4 Thừa cân, béo phì 13
1.5.5 Rối loạn mỡ máu 14
1.5.6 Di truyền 15
1.5.7 Căng thắng, lo âu quá mức 17
1.5.8 Ít vận động thể lực 17
1.6 Biện pháp điều trị 18
1.6.1 Chế độ ăn uống 19
1.6.2 Bỏ hút thuốc lá 21
1.6.3 Tăng vận động thể lực 22
1.6.4 Thư giãn tinh thần 22
CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Đối tượng nghiên cứu 23
2.2 Thời gian nghiên cứu 23
Trang 62.3 Địa điểm nghiên cứu 23
2.4 Tư liệu dùng cho nghiên cứu 23
2.5 Các chỉ tiêu nghiên cứu 23
2.5.1 Một số yếu tố liên quan 23
2.5.2 Chỉ tiêu sinh lý 23
2.5.3 Chỉ tiêu sinh hóa máu 24
2.5.4 Chỉ tiêu huyết học 24
2.6 Phương pháp nghiên cứu 24
2.6.1 Thiết kế nghiên cứu 24
2.6.2 Phương pháp chọn mẫu 24
2.6.3 Tổ chức nghiên cứu 25
2.6.4 Các bước tiến hành nghiên cứu 25
2.7 Thu thập và xử lý số liệu 27
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 28
3.1 Tỷ lệ giới 28
3.2 Tỷ lệ tuổi 28
3.3 Nghề nghiệp 29
3.4 Một số triệu chứng cơ năng trước và sau điều trị 30
3.5 HATT và HATTr của bệnh nhân trước và sau điều trị 35
3.6 Các chỉ số sinh hoá máu 37
3.6.1 Axit uric 37
3.6.2 Ure 40
3.6.3 Creatinin 41
3.6.4 Cholesterol 43
3.6.5 HDL-C 44
3.6.6 LDL-C 46
3.6.7 Triglycerit 47
3.6.8 Glucose 49
3.7 Các chỉ số huyết học 50
3.7.1 Hồng cầu 50
3.7.2 Tiểu cầu 51
3.7.3 Bạch cầu 51
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54 PHỤ LỤC
Trang 7DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
HATTr : Huyết áp tâm trương
BMI : Body mass index (chỉ số khối cơ thế)
n : Số lượng đối tượng nghiên cứu
(Joint National Committee) HDL-C : High densitylipo protein cholesterol LDL-C : Low densitylipo protein cholesterol
: :
Tryglyceride Waist Hip Ratio (Tỷ số vòng bụng/vòng mông) Vòng bụng
Vòng mông
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Trang
Bảng
Bảng 1.1 Phân độ tăng huyêt áp của WHO /ISH-1999 ở người lớn tuổi 4
Bảng 1.2 Phân loại THA theo JNC VII-2003 4
Bảng 1.3 Tổn thương cơ quan đích do tăng huyết áp 8
Bảng 1.4 Phân loại BMI theo WHO 13
Bảng 1.5 Phân loại BMI dành cho người Châu Á theo IDI & WPRO 14
Bảng 1.6 Chế độ ăn DASH 21
Bảng 3.1 Những triệu chứng cơ năng trước điều trị 31
Bảng 3.2 Những triệu chứng cơ năng sau điều trị một tháng 31
Bảng 3.3 Những triệu chứng cơ năng sau điều trị hai tháng 31
Bảng 3.4 Những triệu chứng cơ năng sau điều trị ba tháng 32
Bảng 3.5 Những triệu chứng cơ năng sau điều trị bốn tháng 32
Bảng 3.6 Những triệu chứng cơ năng sau điều trị năm tháng 33
Bảng 3.7 Những triệu chứng cơ năng sau điều trị sáu tháng 33
Bảng 3.8 HATT của bệnh nhân trước và sau điều trị 35
Bảng 3.9 HATTr của bệnh nhan trước và sau điều trị 35
Bảng 3.10 So sánh kết quả kiểm soát HA với một số tác giả 37
Bảng 3.11 Sự biến đổi về acid uric trước và sau điều trị 37
Bảng 3.12 Sự biến đổi về ure huyết trước và sau điều trị 40
Bảng 3.13 Số bệnh nhân tăng về creatinin trước và sau điều trị 41
Bảng 3.14 Sự biến đối về cholesterol trước và sau điều trị 43
Bảng 3.15 Sự biến đổi về nồng độ HDL-C trước và sau điều trị 44
Bảng 3.16 Sự biến đổi về nồng độ LDL-C trước và sau điều trị 46
Bảng 3.17 Sự biến đổi về triglycerit trước và sau điều trị 47
Bảng 3.18 Sự biển đổi về glucose trước và sau điều trị 49
Bảng 3.19 Sự biến đổi về hồng cầu trước và sau điều trị 50
Bảng 3.20 Sự biến đổi về tiểu cầu trước và sau điều trị 51
Bảng 3.21 Sự biến đổi về bạch cầu trước và sau điều trị 51
Trang 9Biểu đồ
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ phân bố về giới 28
Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ tuổi trong nhóm nghiên cứu 28
Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ phân bổ nghề nghiệp 29
Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ BN có biểu hiện lâm sàng 30
Biểu đồ 3.5 Số BN có triệu chứng cơ năng trước và sau điều trị 34
Biểu đồ 3.6 Số bệnh nhân tăng huyết áp trước và sau điều trị 36
Biểu đồ 3.7 Tỷ lệ kiểm soát huyết áp sau điều trị 36
Biểu đồ 3.8 Số BN tăng acid uric trước và sau điều trị 38
Biểu đồ 3.9 Số BN tăng Ure huyết trước và sau điều trị 40
Biểu đồ 3.10 Số BN tăng Creatinin huyết trước và sau điều trị 42
Biểu đồ 3.11 Số BN tăng Cholesterol trước và sau điều trị 43
Biểu đồ 3.12 Số BN tăng Triglycerit trước và sau điều trị 47
Biểu đồ 3.13 Số BN tăng Glucose trước và sau điều trị 49
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tăng huyết áp là bệnh phổ biến trên thế giới cũng như ở Việt Nam, là mối
đe dọa rất lớn đối với sức khỏe của con người, là nguyên nhân gây tàn phế và tử vong hàng đầu ở người cao tuổi Theo Tổ chức Y tế Thế giới trong số các trường hợp mắc bệnh và tử vong do tim mạch hàng năm có khoảng 35-40% nguyên nhân
do THA [54]
Tỉ lệ bệnh tăng huyết áp rất cao và có xu hướng tăng rất nhanh không chỉ ở nước có nền kinh tế phát triển mà cả ở các nước đang phát triển Bệnh THA gây một số những biến chứng nguy hiểm như: tai biến mạch máu não, suy tim, suy mạch vành, suy thận… phải điều trị lâu dài cần phải sử dụng thuốc và phương tiện
kỹ thuật đắt tiền Chính vì thế bệnh tăng huyết áp không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bản thân người mắc bệnh mà còn là gánh nặng cho gia đình
và xã hội
Theo Tổ chức Y tế Thế giới WHO tỷ lệ tăng huyết áp năm 2000 là 26,5%
và ước tính đến năm 2025 sẽ là 29,2% và mỗi năm sẽ gây chết 7,1 triệu người tương đương 4,5% gánh nặng bệnh tật toàn cầu [53]
Việc điều trị bệnh THA hiện nay rất đa dạng như từ các bệnh viện công lập, phòng khám tư nhân, đơn thuốc truyền tay, các phương pháp người dân tự mách nhau, cho đến bệnh nhân tự điều trị Trong khi đó, sự hiểu biết của người bệnh về THA còn chưa cao, người bệnh không biết rằng THA là bệnh hầu hết không có triệu chứng cơ năng, số người biết mình bị THA còn quá thấp và đa số chưa có hiểu biết về bệnh nên dẫn tới việc không điều trị hoặc điều trị không đầy đủ
Trên thực tế việc phát hiện bệnh nhân THA tại cộng đồng gặp rất nhiều khó khăn, hầu hết bệnh nhân chỉ biết mình bị THA khi đã đến khám tại bệnh viện qua những lần khám sức khỏe hay vô tình biết mình bị THA khi đi khám những bệnh khác THA là bệnh khi điều trị đòi hỏi phải có sự liên tục, kéo dài, giám sát chặt
Trang 11chẽ Khi bệnh nhân nhập viện, điều trị thời gian dài như vậy sẽ gây nhiều khó khăn như: thời gian nằm viện của bệnh nhân kéo dài, tình trạng quá tải bệnh nhân, gây tốn kém cho gia đình bệnh nhân… nhưng nếu điều trị ngoại trú có kết quả tốt
sẽ có rất nhiều lợi ích cho bệnh nhân, gia đình và xã hội
Đã có một số công trình nghiên cứu về bệnh cao huyết áp trên thế giới cũng như ở Việt Nam Tuy nhiên, ở Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hóa chưa có công trình nào nghiên cứu về thực trạng bệnh tăng huyết áp, cũng như là các thay đổi về chỉ số sinh học trước và sau điều trị tại đây Vì vậy, chúng tôi quyết định chọn đề
tài nghiên cứu là: “Một số chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa, huyết học của bệnh nhân
cao huyết áp trước và sau khi điều trị ngoại trú tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa”
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 Khái niệm huyết áp và tăng huyết áp
Huyết áp là áp lực máu cần thiết tác động lên thành động mạch nhằm đưa máu đến nuôi dưỡng các mô trong cơ thể Huyết áp tâm thu là áp lực động mạch lúc tim bóp đạt mức cao nhất, ở người bình thường huyết áp tâm thu dao động
từ 90-120mmHg Huyết áp tâm trương là huyết áp thấp nhất cuối thời kỳ tâm trương, ở người bình thường tăng huyết áp tâm trương giao động từ 50 - 80mmHg [7], [19]
Huyết áp trung bình (HATB) là áp suất tạo ra với dòng máu chảy liên tục và có lưu lượng bằng với cung lượng tim
Hiệu áp hay áp lực máu là hiệu số giữa HATT và HATTr [19]
1.1.1 Định nghĩa về tăng huyết áp
Theo WHO - ISH (Tổ chức Y tế Thế giới và Hội tăng huyết áp quốc tế): một người được gọi là tăng huyết áp khi huyết áp tâm thu ≥ 140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương ≥ 90 mmHg, hoặc đang điều trị bằng thuốc hạ áp hàng ngày hoặc có ít nhất 2 lần được bác sỹ chẩn đoán là THA [35], [54]
Tăng huyết áp nếu không được điều trị đúng và đầy đủ sẽ có rất nhiều biến chứng nặng nề, thậm chí có thể gây tử vong hoặc để lại các di chứng ảnh hưởng đến sức khỏe, sức lao động của người bệnh và trở thành gánh nặng cho gia đình và
xã hội như: Tai biến mạch máu não, suy tim, suy mạch vành,…
1.1.2 Phân loại huyết áp
Phân loại THA đã có thay đổi qua những thời kỳ nhưng hiện nay hầu hết người ta sử dụng cách phân loại của JNC VII “Ủy ban phòng chống huyết áp Hoa Kỳ” ngoài ra WHO/ISH cũng cho cách phân loại tương tự, chỉ khác nhau đôi chút
về thuật ngữ, tại Việt Nam cách phân loại THA cũng dựa trên cách phân loại của
Trang 13WHO/ISH và JNC
Bảng 1.1 Phân độ tăng huyêt áp của WHO /ISH-1999 ở người lớn tuổi [53]
Bảng 1.2 Phân loại THA theo JNC VII-2003 [43]
Theo JNC VII chỉ có 2 độ phân chia THA, trong đó gọi là độ 2 khi HATT
>160 mmHg hoặc HATTr >100 mmHg, không có nhóm HA tối ưu, nhóm bình thường, nhóm bình thường cao được gộp chung vào một nhóm mới là nhóm tiền THA [40], [45]
Ngoài ra theo hội Viện tim mạch Việt Nam còn có một số định nghĩa khác [37]:
- Tăng huyết áp tâm thu đơn độc: Là khi huyết áp tâm thu có xu hướng tăng
≥ 140mmHg và huyết áp tâm trương có xu hướng < 90mmHg
- Tăng huyết áp tâm trương đơn độc (thường gặp ở người trung niên): Là
Trang 14khi huyết áp tâm thu < 140 mmHg và huyết áp tâm trương ≥ 90 mmHg
- Tăng huyết áp áo choàng trắng không hiệu ứng: Một số biểu hiện thường tăng huyết áp tại bệnh viện hoặc phòng khám bác sĩ trong khi huyết áp hàng ngày hoặc đo 24h bình thường
- Tăng huyết áp ẩn dấu hoặc tăng huyết áp lưu động đơn độc: Ít gặp là tình trạng huyết áp bình thường tại phòng khám và tăng huyết áp ở những nơi khác
- Tăng huyết áp giả tạo: Thường ở những người lớn tuổi, Động mạch nuôi
cơ ngoại biên trở lên cứng nên băng quấn phải có áp lực cao hơn để nén lại
Trước đây đã có xu hướng cho rằng tăng huyết áp tâm trương là quan trọng hơn, đến năm 1984 Tổ chức Y tế Thế giới đã khẳng định huyết áp tâm thu cũng là một yếu tố đe dọa quan trọng không kém so với huyết áp tâm trương vì dễ gây nên tai biến chảy máu não [47]
1.2 Thực trạng tăng huyết áp
1.2.1 Trên Thế giới
Theo báo cáo về sức khỏe hàng năm của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2002 đã được nhấn mạnh rằng “Tăng huyết áp - kẻ giết người số một” [53] Theo ước tính của y tế Thế giới (WHO) có khoảng 1,5 tỉ người trên thế giới bị tăng huyết
áp Một thống kê tại Hoa Kỳ năm 2006 cũng cho thấy có khoảng 74,5 triệu người
Mỹ bị tăng huyết áp, tức là cứ khoảng 3 người lớn lại có một người bị tăng huyết
áp, con số này ngày càng tăng nhanh chóng với những biến chứng nặng nề ảnh hưởng đến bệnh nhân, gia đình và xã hội [1], [35]
THA được ước tính gây ra 7,5 triệu ca tử vong trên toàn Thế giới [54] Trên khu vực của WHO, tỷ lệ THA cao nhất là ở châu Phi, chiếm 46% cho cả hai giới cộng lại Tỷ lệ THA thấp nhất trong khu vực của WHO là châu Mỹ, chiếm 35% cho cả hai giới Trong tất cả các khu vực của WHO, những người đàn ông có tỷ lệ THA cao hơn một chút so với phụ nữ Sự khác biệt này chỉ có ý nghĩa thống kê ở châu Mỹ và châu Âu [53], [54]
Trang 15Nghiên cứu tại Hoa Kỳ cho thấy, hầu như hai phần ba nam giới lớn tuổi THA, tần suất này ở nữ giới lớn tuổi còn cao hơn Người da đen không phải gốc Tây Ban Nha có tỷ lệ THA (80%) cao hơn người da trắng (64%) trong giai đoạn 2003-2006 [25], [55] Hiện nay, bệnh THA ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của 65 triệu người lớn ở Mỹ [46]
Có 7,5 triệu người bị THA tại Canada, cứ 5 người Canada là có 1 người bị THA Trong số những người bị THA thì cứ 3 người lại có 1 người có huyết áp không kiểm soát được, đặc biệt là những người có nguy cơ mắc bệnh thận và bệnh tiểu đường [42]
Theo số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới, tỷ lệ tăng huyết áp ở các nước tuy có khác nhau nhưng đều rất cao: Đài Loan 28%, Hà Lan 37%, Hoa Kỳ 24% [54]
Những nước khác theo Wolf - Maier & CS công bố năm 2003 thì ở Ý là 37,7% ở Thụy Điển là 38,4%, ở Phần lan là 48,7%, ở Tây Ban Nha là 46,8% còn ở Đức là 55,3% [44] Năm 1999 số lượt người đi khám do tăng huyết áp là chiếm 4,2% tổng số lượt người khám tại Mỹ [54]
1.2.2 Ở Việt Nam
Thực trạng về tình hình kiểm soát THA tại Việt Nam và hiểu biết của người dân là rất đáng quan ngại Đa số người bị THA không biết mình bị bệnh, hoặc biết bệnh nhưng không điều trị, hoặc điều trị nhưng thất thường và không đúng cách Năm 2002, Viện Tim mạch quốc gia điều tra 5012 người từ 25 tuổi trở lên ở 4 tỉnh thành phía bắc Việt Nam (Nghệ An, Hà Nội, Thái Bình và Thái Nguyên) phát hiện được 818 người bị THA (chiếm 16,3%), trong đó chỉ có 94 người là dùng thuốc (tức là 100 người bị bệnh chỉ có 11 người điều trị) và tỷ lệ HA được khống chế tốt
là 2% (tức là 100 người bị bệnh chỉ có 2 người đạt được mục tiêu điều trị, còn lại
98 người không biết mình bị bệnh, hoặc biết bệnh nhưng không điều trị, hoặc điều trị nhưng thất thường và không đúng cách) [37] Đó là những con số rất đáng báo động, là nguyên nhân của các biến chứng nặng nề có thể xảy ra do THA, tỷ lệ mắc
Trang 16và tử vong do bệnh tim mạch ở nước ta rất cao, chiếm vị trí hàng đầu trong mô hình bệnh tật của cả nước
Tại Nghệ An: Nhóm tác giả do GS Phạm Gia Khải chủ trì điều tra dịch tể học và các vùng duyên hải Nghệ An lứa tuổi từ 16 trở lên tỷ lệ tăng huyết áp là 16,72% (2001 - 2002) [17]
Theo một nghiên cứu của Trần Phi Hùng nghiên cứu tình hình THA và một
số yếu tố liên quan ở người dân từ 25-64 tuổi tại quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ năm 2012 Kết quả: tỷ lệ THA chung 24,1% trong đó nam là 28,7% và nữ là 19,9% Độ tuổi càng cao tỷ lệ THA càng cao Người uống rượu bia bị THA cao hơn 1,5 lần so với những người không uống rượu bia Những người có hút thuốc lá
bị THA cao hơn 1,8 lần so với những người không hút thuốc lá, những người ăn mặn bị THA cao hơn 2,53 lần so với những người không ăn mặn Người có bệnh ĐTĐ bị THA nhiều hơn 9,85 lần so với những người không bị bệnh ĐTĐ Người
có tiền sử gia đình THA bị THA cao hơn 3,44 lần so với người bị THA không có tiền sử gia đình THA [14]
Một nghiên cứu khác về tỷ lệ tăng huyết áp và các yếu tố liên quan ở tuổi lao động tại tỉnh Hậu Giang năm 2010 của Nguyễn Thanh Tùng Đối tượng là người dân >18 tuổi Kết quả cho thấy tỷ lệ THA chung là 16,2%, tỷ lệ THA theo giới: Nam 17,3%, nữ 15,3%; tỷ lệ THA tăng dần theo độ tuổi; tỷ lệ THA của lao động chân tay 13,3%, lao động trí ốc 20,8% và không khả năng lao động 29,55; người có trình độ học vấn thấp có khuynh hướng THA cao hơn người có trình độ học vấn cao [36]
Theo một nghiên cứu gần đây nhất của Viện Tim mạch Việt Nam tại 8 tỉnh thành phố của nước ta, tỉ lệ tăng huyết áp của những người có độ tuổi từ 25 trở lên
là 25,1%, nghĩa là cứ 4 người trưởng thành thì có 1 người bị tăng huyết áp [37]
1.3 Tác hại của tăng huyết áp
Hai cơ chế gây hại của bệnh THA là tổn thương do chính huyết áp gây ra đến các cơ quan đích và thông qua thúc đẩy bệnh lý xơ vữa động mạch xuất hiện
Trang 17sớm và nhanh, hậu quả là các biến chứng di chứng do tăng huyết áp, chết sớm hoặc chết đột ngột, giảm chất lượng sống rõ rệt Giữa chỉ số huyết áp và tỉ lệ bệnh tật tử vong do bệnh tim mạch có mối tương quan mạnh mẽ, liên tục, phân cấp, bền
bỉ và độc lập [35] Khoảng 30% người bị tăng huyết áp có biến chứng của xơ vữa động mạch và trên 50% có tổn thương cơ quan đích do chính tăng huyết áp gây ra
Bảng 1.3 Tổn thương cơ quan đích do tăng huyết áp
Mạch máu Giãn do phình, xơ vữa động mạch chủ, đau khập khễnh cách hồi
Tim Cấp tính: Phù phối cấp, nhồi máu cơ tim
Mạn tính: Bệnh mạch vành có biểu hiện lâm sàng, suy tim
Tại vùng Châu Á - Thái Bình Dương, dựa trên sổ liệu 15 nước với mẫu 600.000 người lớn Martiniuk & CS thấy rằng 66% bệnh tim mạch các loại là do tăng huyết áp gây ra, cụ thể bệnh tim thiếu máu cục bộ là 4% - 28% ở nam và 8%
Trang 18- 39% ở nữ, tương tự xuất huyết não 18% - 66% và 15% - 49% còn nhồi máu não
Năm 2001 ước tính tại Anh kê 90 triệu toa thuốc điều trị tăng huyết áp giá trị 840 triệu bảng, chiếm 15% tổng chi phí thuốc chăm sóc sức khỏe ban đầu [52] Chi phí chữa tăng huyết áp chiếm 7,5% tổng chi phí trực tiếp sức khỏe tại Nam Phi
1.4 Triệu chứng tăng huyết áp
Tổ chức Y tế Thế giới đã gọi bệnh tăng huyết áp là “kẻ giết người số một”,
“kẻ giết người thầm lặng” Nhiều bệnh nhân bị huyết áp cao mà không hề biết, cứ để huyết áp cao một thời gian dài từ đó không được điều trị kịp thời, khi điều trị thì đã có những biến chứng đáng tiếc, đấy chính là một lý do khiến Tổ chức Y tế Thế giới đã gọi bệnh THA là “kẻ giết người thầm lặng” [1]
Bệnh nhân bị THA ở người lớn đa số đều không có triệu chứng gì cho tới khi phát hiện ra bệnh Hay gặp nhất đau đầu vùng chẩm và hai bên thái dương, ngoài ra có thể có hồi hộp, mệt, khó thở, mờ mắt, tê đầu chi, ù tai , một số các triệu chứng khác tuỳ thuộc vào nguyên nhân hoặc biến chứng của THA [1]
Ba trong số 15 triệu chứng thường gặp nhất ở trẻ tăng huyết áp chưa điều trị
là nhức đầu (42%), khó ngủ (27%) và mệt mỏi ban ngày (26%) và giảm rõ sau 4-6 tháng điều trị, lần lượt 6,2%, 1,5% và 10% [1]
Như vậy có thể hiểu rằng “thầm lặng” trong tăng huyết áp là không biểu lộ triệu chứng, không gây khó chịu cho người bệnh và ít người biết và khi tăng huyết
Trang 19áp có triệu chứng thì đồng nghĩa biến chứng đã ở giai đoạn muộn màng
1.5 Các yếu tố liên quan đến tăng huyết áp
Trong số những người bị tăng huyết áp được chia làm hai loại:
Tăng huyết áp nguyên phát
Chiếm tới 90-95% số người bị THA
- Bệnh tim mạch: Bệnh hẹp co động mạch chủ, hẹp nơi xuất phát động mạch thận, hở van động mạch chủ [21]
- Do thuốc: Các hormone ngừa thai, cam thảo, ACTH, corticoid, ciclosporin, các chất gây chán ăn, các IMAO
- Nhiễm độc thai nghén: Một số trường hợp có thai do bệnh lý ở rau thai,
từ tháng thứ 7-8 có thực thể có tai biến THA đồng thời có phù, nước tiểu có protein [21]
Hơn 90% bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát, mỗi bệnh nhân lại có những yếu tố và cơ chế hình thành bệnh không giống nhau Nhìn chung là một cơ địa có tính di truyền có thể kết hợp với những bất thường về chuyển hóa như nhạy cảm với muối ăn, không dung nạp hydrat cacbon, giảm nhạy cảm với insulin, tăng axit uric máu và bệnh goutte, béo phì và tăng lipid máu
Có một số yếu tố rất dễ dẫn đến tăng huyết áp nguyên phát: Yếu tố môi trường sống, chế độ ăn uống quá nhiều Na, uống nhiều rượu bia, béo phì, thiếu vận động thể lực, hút thuốc lá, căng thẳng thần kinh, di truyền
Trang 201.5.1 Ăn mặn
Muốn sống được, cơ thể con người ta cần có muối, nhưng ăn quá nhiều muối sẽ làm ứ nước trong cơ thể, tăng khối lượng tuần hoàn và HA cũng tăng lên Một số nghiên cứu điều tra khấu phần ăn từng vùng, các nhà nghiên cứu thấy rằng vùng nào ăn nhiều muối thì có tỷ lệ THA cao hon Như vậy, lượng muối ăn hàng ngày quá cao là một nguyên nhân gây THA trong các quần thể
Người dân ở vùng ven biển có tỷ lệ THA cao hơn so với người dân ở vùng đồng bằng và miền núi Ở những gia đình có tiền sử THA, có thói quen ăn nhiều chất muối ngay từ khi còn nhỏ sẽ có nguy cơ THA khi trưởng thành Chế độ ăn giảm bớt chất muối là một biện pháp quan trọng để điều trị cũng như phòng bệnh THA Nhiều nghiên cứu đã chứng minh nếu thực hiện chế độ ăn nhạt dưới 6 gam muối mỗi ngày có thể làm giảm được HATB từ 4 đến 8 mmHg [12], [37]
Nghiên cứu của Trần Phi Hùng cho thấy những người ăn mặn hơn những người khác trong gia đình bị THA cao hơn 2,53 lần so với những người không có
ăn mặn với p = 0,001 [14]
Việc ăn giảm muối sẽ làm giảm huyết áp ở bất kỳ lứa tuổi nào Nghiên cứu của Holma & cs trên 500 trẻ em sơ sinh Hà Lan trong 6 tháng: Nhóm uống sữa có giảm muối thì gần 50% có huyết áp giảm 2,lmmHg tại 6 tháng tuổi so với nhóm trẻ dùng sữa bình thường và huyết áp ở nhóm trẻ đầu vẫn giảm kéo dài sau 15 năm bất kể lượng muối ăn, ở lứa tuổi trung niên Mac Gregor & cs nghiên cứu thấy lượng muối giảm trung bình (VD 80 mmol /ngày) thì huyết áp giảm, tiếp tục giảm khi càng giảm muối và giảm kéo dài cho đến khi còn giữ chế độ giảm muối
Ở người trên 60 tuổi thì huyết áp giảm khi muối giảm rõ ràng hơn bất luận huyết áp ban đầu, với mức giảm muối trung bình huyết áp giảm 7,2/3,2 mmHg sánh ngang mức giảm huyết áp trong các thử nghiệm dùng thuốc lợi tiểu thiazide, Theo dõi 18 tháng trên các đối tượng 30 - 54 tuổi có huyết áp tâm trương 80 - 89 mmHg thấy huyết áp giảm 1,4/0,9 mmHg khi bài xuất Natri giảm l00mmol/ngày Nhìn chung ăn giảm muối trung bình làm giảm huyết áp ở người
Trang 21tăng huyết áp là 7,11/3,88 mmHg (P<0,001 đối với cả huyết áp tâm thu và cả huyết áp tâm trương) [39], [44]
1.5.2 Uống rượu bia
Người uống nhiều bia, rượu quá mức cũng là nguy cơ gây bệnh tim mạch nói chung và THA nói riêng, đối với người dùng thuốc điều trị huyết áp việc uống rượu, bia quá mức sẽ làm mất tác dụng của thuốc và làm bệnh THA càng tiến triển mạnh hơn
Chỉ số huyết áp và tỷ lệ mắc tăng huyết áp có liên hệ rõ ràng với việc uống rượu, bia quá mức, các nghiên cứu Bắc Mỹ Châu Âu, Úc và Nhật đều nhất quán như vậy [52]
Nghiên cứu của Trần Phi Hùng nghiên cứu người từ 25-64 tuổi tại Cần Thơ năm 2012, những người uống rượu, bia có tỷ lệ THA cao hơn 1,5 so với người không uống rượu bia [14]
Theo nghiên cứu Nurses Health Study trên 58000 phụ nữ không bị tăng huyết áp theo dõi 4 năm cho thấy ai uống trên 35g cồn/ngày thì nguy cơ tăng huyết áp tăng gấp 50% Người uống rượu nhiều (trên 2 lần/ngày) có tần suất cao huyết áp tăng 1,5-2 lần Mối liên quan giữa rượu và huyết áp cao đặc biệt chú ý khi dùng rượu >5 lần/ngày [39]
1.5.3 Hút thuốc lá, thuốc lào
Trong khói thuốc gồm nhiều chất khác nhau, người ta tìm đến 4000 chất Nhưng những chất chính tai hại nhất là nicotin, oxitcacbon và các chất gây ung thư Nicotin có trong thuốc lá kích thích hệ thần kinh giao cảm làm co mạch ngoại
vi gây tăng huyết áp, Nhiều nghiên cứu ghi nhận khi người hút một điếu thuốc lá
có thể làm THA tối đa, còn gọi là HATT lên tới 11 mmHg và huyết áp tối thiểu, còn gọi là HATTr lên tới 9 mmHg và kéo dài trong khoảng thời gian từ 20 đến 30 phút Vì vậy, nếu trong sinh hoạt hàng ngày không hút thuốc lá, thuốc lào cũng là một biện pháp phòng bệnh tăng huyết áp [11]
Theo thống kê của Phạm Thị Tâm, Lê Minh Hữu và cộng sự tại thành phố
Trang 22Cần Thơ năm 2011, tỷ lệ người hiện đang hút thuốc lá là 51,4%, có 13,2% đã bỏ thuốc lá, thường gặp nhiều nhất là 15-24 tuổi 23% [30]
Tác giả Lê Triều Minh nghiên cứu ở người cao tuổi tại thành phố Vĩnh Long cho thấy người hút thuốc lá có nguy cơ tăng huyết áp cao Hút thuốc lá càng nhiều thì nguy cơ tăng huyết áp càng cao (p < 0,001) [24]
Nghiên cứu của Trần Đỗ Trinh điều tra dịch tễ học bệnh tăng huyết áp, tỉ lệ hút nhiều (>8 điếu /ngày) cao hơn ở người bình thường nhưng nếu hút dưới số lượng đó thì không khác nhau Các thống kê dịch tễ học còn cho thấy ở nam giới hút một bao thuốc/ngày, tỉ lệ tử vong tăng 70% và nguy co bị động mạch vành tăng gấp 3-5 lần so với những người không hút thuốc [31]
1.5.4 Thừa cân, béo phì
Trọng lượng của cơ thể con người có mối quan hệ khá tương đồng với bệnh tăng huyết áp Người béo phì hoặc người có tăng trọng lượng cơ thể theo tuổi cũng có thể làm tăng nhanh huyết áp Vì vậy, chế độ làm việc, ăn uống hợp lý, luyện tập thể dục, thể thao thường xuyên sẽ tránh được dư thừa trọng lượng cơ thể [12], [37]
Đánh giá và phân loại BMI theo tiêu chuẩn của WHO:
Bảng 1.4 Phân loại BMI theo WHO [53]
Trang 23Đánh giá và phân loại BMI dành riêng cho người Châu Á:
Bảng 1.5 Phân loại BMI dành cho người Châu Á theo IDI & WPRO
1.5.5 Rối loạn mỡ máu
Được gọi là rối loạn mỡ máu khi có rối loạn một hoặc nhiều thành phần sau: tăng Cholesterol toàn phần, tăng Triglicerit, giảm HDL-C (Hight density Lopoprotein - cholesterol), giảm Apoprotein AI, Tăng Apoprotein B [6]
Chuẩn đoán rối loạn lipid máu khi:
Cholesterol toàn phần: >5,2mmol/l, Triglicerit: >1,88 mmol/l, HDL-C:
Trang 24Một phân tích lượng lipid máu tại chỗ trên 3128 bệnh nhân không đái tháo đường, chưa có biến chứng (2425 nữ và 757 nam) có mặt tại thành phố Patna - Ấn Độ Trong khoảng từ 1992 - 1998 được so sánh với nhóm đổi chứng 4131 người Kết quả: Cholesterol toàn phần trung bình có tăng nhẹ (nhưng có ý nghĩa thống kê với (p<0,05) ở những người có tăng huyết áp (191,8 mg/dl so với 190,1 mg/dl) so với nhóm đối chứng và tỉ lệ cholesterol HDL toàn phần trung bình cũng cao hơn (4,56 so với 4,48) ở những người tăng huyết áp (p<0,05) vì theo hướng dẫn của chương trình giáo dục cholesterol quốc gia 1069 (chiếm 33,6%) bệnh nhân có cholesterol ở mức lớn hơn 200mg/dl ở những người trong nhóm tăng huyết áp Tỉ
lệ cholesterol HDL toàn phần không bình thường (>4,5) xuất hiện trong 1600 (50,3%) ở người có tăng huyết áp kết quả này chỉ ra rằng tỉ lệ cholesterol HDL toàn phần không bình thường là phổ biến hầu hết ở những người tăng huyết áp chưa có biến chứng có rối loạn lipid máu ở mức độ khác nhau [49]
Nguyễn Bích Hà nghiên cứu trên 118 bệnh nhân bị bệnh tim mạch cho thấy cholesterol tăng trong 44% bệnh nhân nhồi máu cơ tim, 51,9% số bệnh nhân tăng huyết áp
Nguyễn Đào Dũng (2003) khảo sát rối loạn lipit máu ở 63 bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát điều trị nội trú tại khoa Tim mạch Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Thuận là so sánh với nhóm đối chứng 37 người trên 30 tuổi không bị tăng huyết áp, với điều kiện không có những tình trạng sinh lí và bệnh lí ảnh hưởng đến rối loạn lipid máu Theo đó rối loạn lipid máu bệnh nhân tăng huyết áp chiếm 49,2% có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tất cả các chỉ số lipid máu giữa nhóm tăng huyết áp và nhóm đối chứng (p<0,05) và có liên quan chặt chẽ giữa tăng huyết áp rối loạn lipid máu và bệnh xơ vữa động mạch [6]
Trang 25người mà tiền sử gia đình có người thân bị bệnh THA thì cần phải cố gắng loại
bỏ các yếu tố nguy cơ THA, như vậy mới có khả năng có thể phòng tránh được bệnh THA
Có thể nói yếu tố di truyền đóng vai trò nổi bật trong sự tiến triển tăng huyết áp vô căn
Năm 2000, Sichieri R., Siquera K.s, Pereia R.A đã tiến hành một nghiên cứu về yếu tố di truyền ở các đối tượng là người lớn tuổi tại thủ đô Riode Janero City (Brazil) Đối tượng nghiên cứu là 2802 người trưởng thành được đo huyết áp, kích thước cơ thể Kết quả cho thấy sự tương quan giữa dòng họ, người thân đến tăng huyết áp [50]
Nghiên cứu insulin ở những đối tượng có nguy cơ tăng huyết áp do di truyền Trong số 30 người có huyết áp bình thường, tuổi từ 18 - 35 có hai người họ hàng bị tăng huyết áp vô căn và trong số 30 người khác cùng tuổi và giới có hai người họ hàng có huyết áp bình thường Đối tượng bao gồm cả người bị đái tháo đường và béo phì Kết quả cho thấy huyết áp tâm trương 24 giờ ở nhóm nghiên cứu cao hơn so với nhóm đối chứng (78,l mmHg so với 70,0 mmHg) Kết luận đối tượng nghiên cứu có yếu tố di truyền mạnh dễ bị tăng huyết áp tự phát, có biểu hiện tăng huyết áp tâm trương hơn so với những người có họ hàng không bị tăng huyết áp
Năm 1989 - 1992 GS Trần Đỗ Trinh điều tra dịch tễ học bệnh tăng huyết áp ở Việt Nam Khi so sánh 909 cặp của hai nhóm tăng huyết áp và người bình thường thì thấy tỉ lệ người tăng huyết áp có người trong gia đình bị cáo huyết áp hơn nhóm đối chứng, đặc biệt là đối với cha mẹ và anh chị em (p<0,001) [31]
Năm 1999, GS Phạm Gia Khải &CS, nghiên cứu trên 1221 trường hợp tăng huyết áp có 188 trường hợp có người trong gia đình bị tăng huyết áp gồm: Bố bị tăng huyết áp, 80/188 (42,55%), mẹ bị tăng huyết áp 71/188 (37,76%), anh chị em ruột, cô, gì, chú, bác bị tăng huyết áp 37/188 (19,68%) Kết quả cho thấy có mối liên quan chặt chẽ giữa yếu tố tiền sử gia đình và tăng huyết áp [16]
Trang 261.5.7 Căng thắng, lo âu quá mức
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh được những người bị căng thẳng thần kinh, lo âu quá mức hay bị stress sẽ làm tăng nhịp tim Vì vậy, mỗi người cần rèn luyện cho mình tính tự lập, kiên nhẫn và luôn luôn biết làm chủ bản thân trước mọi vấn đề xảy ra trong cuộc sống Nếu thực hiện được vấn đề này thì có thể hạn chế tối đa những căng thẳng, lo âu, stress xảy ra đối với mình, đồng thời đây cũng chính là một biện pháp phòng bệnh tăng huyết áp
Các bác sĩ đều biết rằng khi suy nghĩ hoặc khi xúc động, huyết áp bao giờ cũng tăng lên
Ở Pháp người ta đã nghiên cứu huyết áp của 57 sinh viên trường Y có huyết áp bình thường, phải thuyết trình 20 phút trước các thầy Trước khi thuyết trình huyết áp của họ là 125/70, nhưng ngay khi bắt đầu thuyết trình huyết áp của họ vọt lên tới 160/90 có người lên tới 200/100 Thuyết trình xong, huyết áp trở về con số
cũ 120/70 Rõ ràng, căng thẳng thần kinh đã đưa huyết áp lên cao Nếu những căng thẳng đó kéo dài hoặc lặp đi lặp lại nhiều lần, huyết áp có thể cao thường xuyên, đó là bệnh tăng huyết áp Đối với những người huyết áp đã cao hơn bình thường, thì khi căng thắng thần kinh sẽ làm tăng huyết áp lên nhiều hơn nữa [11]
1.5.8 Ít vận động thể lực
Người ít vận động thể lực hay có lối sống tĩnh tại cũng được xem là một nguy cơ của bệnh THA Việc vận động thể lực hàng ngày đều đặn trong khoảng thời gian từ 30 đến 45 phút sẽ mang lại lợi ích rõ rệt trong biện pháp làm giảm nguy cơ bệnh tim mạch nói chung và bệnh THA nói riêng [12], [26]
Theo nghiên cứu của Trần Văn Sang, nghiên cứu trên đối tượng người cao tuổi tại huyện An Phú, tỉnh An Giang, có mối liên quan giữa đi bộ/xe đạp và tăng huyết áp Có mối liên quan giữa số ngày đi bộ/xe đạp ≥ 30 phút/tuần và tăng huyết
áp với p < 0,05 [29]
Nghiên cứu của Huỳnh Văn Cỏn tại huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang năm 2010, người ít vận động thể lực bị THA cao gấp 1,5 lần người vận động thể
Trang 27lực thường xuyên với OR = 1,5 và p < 0,001 [4]
Những người dân sống tại thành thì có nguy cơ mắc THA cao gấp 2,1 lần
so với nông thôn Mức sống cao, chi phí sinh hoạt cao, khẩu phần ăn nhiều thức
ăn chế biến sẵn áp lực môi trường làm việc và sinh hoạt trong đô thị, cơ cấu dân cư là những yếu tố lý thuyết giải thích cho nguy cơ tăng huyết áp So với nông thôn, dân cư vùng thành thị có tỷ lệ làm việc chân tay ít hơn, tỷ lệ quá cân, béo phì, béo bụng thậm chí chiều cao và cân nặng trung bình cao hơn hẳn, tỷ lệ uống rượu, căng thẳng trong cuộc sống cao hơn hẳn [18]
1.6 Biện pháp điều trị
Mực đích điều trị là khi đạt được huyết áp mục tiêu (<140/90 mmHg) và ngăn ngừa được các biến chứng tim mạch cũng như tổn thương cơ quan đích (đột quị, thiếu máu não thoáng qua, sa sút trí tuệ, phì đại thất trái, suy tim, nhồi máu cơ tim, cơn đau thắt ngực, bệnh mạch máu ngoại vi, xuất huyết hoặc xuất tiết võng mạc, phù gai, suy thận )
Nguyên tắc
- Thay đổi lối sống, môi trường sống (chế độ ăn, vận động, tinh thần …)
- Loại trừ yếu tố nguy cơ gây ra THA (yếu tố có thể thay đổi được)
- Dùng thuốc (theo chỉ định của bác sỹ)
Trang 28Ngoài ra bệnh nhân nên kiểm tra sức khỏe định kỳ, đặc biệt kiểm tra một số xét nghiệm như: phân tích nước tiểu, xét nghiệm hóa sinh, thành phân lipid máu: cholesterol toàn phần, HDL-C, LDL-C, triglycerit, điện giải máu - đặc biệt là kali, acid uric máu, creatinine máu, siêu âm tim, điện tâm đồ
Điều trị hạ áp đến mức mục tiêu <140/90 sẽ làm giảm đột quỵ 35-40%, giảm suy tim 50%
Bên cạnh dùng thuốc phải chú ý cả đến các biện pháp khác như chế độ ăn uống, chế độ luyện tập, chế độ sinh hoạt và công tác, giải quyết tốt các yếu tố đe dọa làm bệnh dễ tiến triển xấu Tất cả bệnh nhân đang dùng thuốc hạ huyết áp đều cần được nhắc nhở thay đổi lối sống mỗi khi tái khám
Nghiên cứu của Sack & CS và của Cook & CS về vai trò ảnh hưởng của ăn giảm natri lên tình trạng huyết áp và biến cố tim mạch ngắn hạn và dài hạn.Các thử nghiệm cho thấy rằng ăn nhiều muối (trên 14g/ngày) sẽ gây THA, trong khi ãn
ít muối (dưới lg/ngày) gây giảm HA động mạch [41], [48]
Theo WHO (1990) nên ăn dưới 6g/ngày [53] Hạn chế muối trong khẩu phần ăn hàng ngày là một trong những biện pháp dễ nhất để phòng ngừa THA và cách điều trị mà không phải dùng thuốc tốt nhất Việt Nam ở vùng nhiệt đới, với trên 3000 km bờ biển, nhân dân ở các vùng ven biển này chủ yếu là lao động thuần tuý nên họ có thói quen ăn mặn Vì vậy, tác động của chế độ ăn gây ra THA ở nước ta có thể là tác nhân có ý nghĩa
Một nghiên cứu ở tỉnh Nghệ An là nơi người dân hay ăn mặn, mỗi ngày
Trang 29trung bình ăn 13,9g muối, thì tỷ lệ THA 17,9%, còn người dân ở Hà Nội ăn nhạt hơn, chỉ có 10,5g muối thì chỉ có 10,6% bị THA [17], [22] Một số nghiên cứu cho thấy: vùng ven biển ăn mặn có tỷ lệ THA cao rõ hơn ở vùng đồng bằng và miền núi Một điều tra dịch tễ học: So sánh 1128 và 909 cặp đôi giữa nhóm THA và nhóm đối chứng thấy rằng, tỷ lệ số người ăn mặn THA cao hơn rõ rệt so với nhóm những người bình thường [28]
Ở Nhật Bản, sau khi vận động nhân dân ăn ít muối, tỷ lệ mắc bệnh chảy máu não giảm 40%, tắc mạch não giảm 24,6%
Nghiên cứu của Katz.A., Rosenthal T., Maoz c tại Israel về hiệu quả của chế độ muối khoáng tác động lên HA 24 giờ ở người lớn tuổi THA: Chế độ ăn muối hàng ngày được điều chỉnh cho ít Na và tăng K, Mg trong 6 tháng Một máy đo HA tự động đo HA cứ 20 phút một làn vào ban ngày và 30 phút một lần vào ban đêm Nghiên cứu được làm trước và sau 6 tháng bắt đầu chế độ ăn này Kết quả giảm ăn Na và tăng ăn cả K và Mg có thể có tác dụng trong việc khống chế THA
Năm 2004, Viện Y học Hoa Kỳ đưa ra mức Na 1,5g/ngày là mức trung bình
đủ để bổ sung dinh dưỡng Hiện tại lượng muối ăn ở các nước Phương Tây là 7-15g/người/ngày Người Mỹ nam ăn Na 4,5g/ngày, nữ 3,3g/ngày, Việt Nam 18-22g/người/ngày Trong khi ở các vùng biển hay các nơi còn nghèo mức độ này lại tăng lên gấp 2-3 lần
Kali giúp giảm huyết áp Một nghiên cứu của bác sĩ George w (Đại học Y khoa Vermont, Mỹ) cho thấy, trong 100 bệnh nhân cao huyết áp dùng kali có 30 người hạ được huyết áp sau hai tuần Sau 8 tuần con số này là 70 người Nên ăn nhiều trái cây, khoai tây, cá để tăng lượng Kali
Bệnh nhân THA không nên uống rượu bia và các đồ uống có cồn Đã có nhiều nghiên cứu về chỉ số HA và mức độ uống rượu bia đều nhất quán rằng: bệnh nhân uống rượu bia với chỉ số HA có mối quan hệ tỉ lệ thuận rõ ràng [37], [39], [52]
Trang 30Rối loạn lipid máu là yếu tố nguy cơ độc lập chính của bệnh động mạch vành Do đó kiêng mỡ và nếu cần điều trị bằng thuốc giảm lipid máu giữ vai trò quan trọng ở bệnh nhân THA
Nghiên cứu DASH thực hiện trên 412 bệnh nhân, phân phối ngẫu nhiên
ra hai nhóm: nhóm ăn bình thuờng và nhóm ăn theo chế độ dinh duỡng DASH (nhiều rau, trái cây, ít mỡ bão hòa kèm theo thực phẩm từ sữa giảm béo) Cả hai nhóm còn đuợc phân ra các nhóm nhỏ có chế độ natri cao trung bình và thấp Kết quả cho thấy chế độ ăn giảm muối (l00mmol/ngày) và chế độ ăn DASH đều giảm HA HA giảm mạnh hơn khi đồng thời vừa theo chế độ ăn DASH vừa giảm natri [51]
Rau 4-5 Cà chua, khoai tây, đậu, cà rốt, cải
xanh, rau bí, bắp cải
Giàu kali, magie
và chất xơ
Trái cây 4-5 Táo, chuối, nho, cam, dưa tây, đào Giàu kali, magne
và chất xơ Chế phẩm từ
Chọn phần nạc của thịt đỏ, gà,
cá
Nguồn cung cấp protein và magie Quả hạch, hạt,
1.6.2 Bỏ hút thuốc lá
Trang 31Không nên sử dụng thuốc lá dưới bất kỳ hình thức nào Hút thuốc làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch lên gấp 2-3 lần [15], [12] Khi hít khói thuốc vào cơ thể sẽ gây ra một số tác động ngay lập tức lên tim và mạch máu Khói thuốc gây THA cấp tính và THA dao động Hút thuốc còn giảm tác dụng của các thuốc điều trị THA [20]
Khi bắt đầu ngưng dùng thuốc thì nguy cơ mắc các bệnh do dùng thuốc đã giảm đáng kể, đối với những người ngưng hút thuốc sau 5 năm nguy cơ mắc bệnh giảm gần bằng với người không dùng thuốc [8]
Người hút thuốc lá cần được nhắc nhở nhiều lần và dứt khoát với việc ngừng hút thuốc lá
1.6.3 Tăng vận động thể lực
Tăng vận động thể lực giúp hạ huyết áp, đồng thời giảm các bệnh tim mạch hoặc nội khoa khác (đột quị, bệnh động mạch vành, đái tháo đường) Cần có sự thường xuyên trong tập luyện Mỗi ngày nên tập luyện thể lực như: đi bộ nhanh, đạp xe, chạy trên thảm lăn ít nhất 30 phút tất cả các ngày trong tuần Sự tập luyện đều đặn như vậy sẽ làm giảm được huyết áp từ 4-9 mmHg [11]
1.6.4 Thư giãn tinh thần
Mỗi người cần rèn luyện cho mình tính tự lập, kiên nhẫn và luôn luôn biết làm chủ bản thân trước mọi vấn đề xảy ra trong cuộc sống Nếu thực hiện được vấn đề này thì có thể hạn chế tối đa những căng thẳng, lo âu, stress xảy ra đối với mình, đồng thời đây cũng chính là một biện pháp phòng bệnh tăng huyết áp
Trang 32CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu 40 bệnh nhân bị tăng huyết áp chưa có biểu hiện suy tim ở độ tuổi từ 60 trở xuống được quản lý và điều trị ngoại trú tại bệnh viện Đa Khoa tỉnh Thanh Hóa từ tháng 1 đến tháng 8 năm 2016
Chẩn đoán tăng huyết áp dựa theo tiêu chuẩn JNC VII (2003)
2.2 Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu những bệnh nhân đến khám và điều trị ngoại trú tại Bệnh viện
Đa Khoa tỉnh Thanh Hóa từ tháng 1 năm 2016 đến tháng 8 năm 2016 bằng chế độ
ăn uống, tập luyện và dùng thuốc theo chỉ định của bác sỹ
2.3 Địa điểm nghiên cứu
Tại bệnh viện Đa Khoa tỉnh Thanh Hóa
2.4 Tư liệu dùng cho nghiên cứu
- Bệnh án theo dõi diễn biến của bệnh qua các lần khám
- Máy tính có phần mềm quản lý bệnh nhân
- Máy đo huyết áp dùng ở bệnh viện
- Các máy siêu âm, điện tâm đồ, máy X quang, các xét nghiệm hoá sinh, huyết học thực hiện tại bệnh viện Đa Khoa tỉnh Thanh Hóa
2.5 Các chỉ tiêu nghiên cứu
2.5.1 Một số yếu tố liên quan
- Tuổi, giới
- Nghề nghiệp
2.5.2 Chỉ tiêu sinh lý
- HATT, HATTr
Trang 33- Một số biểu hiện lâm sàng thường gặp: đau đầu, chóng mặt, mất ngủ, hồi hộp…
2.5.3 Chỉ tiêu sinh hóa máu
- Định lượng các thành phần lipid máu: Cholesterol, LDL-C, HDL-C, TG
- Định lượng glucose máu lúc đói
- Định lượng Acid uric
- Định lượng Ure huyết
- Định lượng Creatinin huyết
2.5.4 Chỉ tiêu huyết học
- RBC
- PLT
- WBC
2.6 Phương pháp nghiên cứu
2.6.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang trong 6 tháng
2.6.2 Phương pháp chọn mẫu
Chọn có chủ động, không ngẫu nhiên Mẫu được chọn phải đồng đều và phù hợp với các tiêu chí đặt ra
2.6.2.1 Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân
+ Gồm 40 bệnh nhân THA ≤60 tuổi (đúng theo tiêu chuẩn xác định có THA của JNC VII-2003)
+ Được quản lý, theo dõi và điều trị có kiểm soát tại đơn vị quản lý bệnh THA, Khoa khám bệnh, Bệnh viện Đa Khoa tỉnh Thanh Hóa
+ Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu
+ Đến khám bệnh tại bệnh viện Đa Khoa tỉnh Thanh Hóa từ tháng 1 đến tháng 8 năm 2016
2.6.2.2 Tiêu chuấn loại trừ bệnh nhân khỏi nghiên cứu
- Tăng huyết áp nặng, ác tính, THA tiến triến
Trang 34- Tăng huyết áp thứ phát
- Bệnh nhân có biểu hiện suy tim
- Không đồng ý tham gia nghiên cứu
+ Máy đo huyết áp cơ được dùng tại bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa
- Tư thế đo HA:
+ Bệnh nhân ngồi thẳng thoải mái trên ghế có tựa lưng trong 10-15 phút, tay kê ở mức ngang tim
+ Bệnh nhân được ở phòng ấm, yên lặng
- Phương pháp tiên hành:
+ Mở vòng bít theo hình tròn và luồn vào bắp tay của bệnh nhân sao cho khoảng cách mép dưới của vòng bít cách khuỷu tay 2 - 3 cm Vòng bít phải đặt
Trang 35chính xác sao cho vạch dấu của vòng bít đặt cùng hướng với mạch máu, vòng sắt không được đặt nằm trên mạch máu vì sẽ dẫn đến kết quả đo bị sai lệch
+ Kéo nhẹ đầu vòng bít qua vòng sắt quanh bắp tay Siết vòng bít bằng khóa dán với lực vừa phải
+ Gắn ống nghe lên tai để nghe được mạch đập trong quá trình đo huyết áp + Nắm lấy quả bóng cao su bên tay phải và bơm vòng bít lên, cần bóp căng khóa tay đến khi tạo được áp lực đến khoảng 20-30mm thủy ngân cao hơn huyết áp Lới lỏng từ từ bộ truyền động bên tay trái và để lực nén khí trong vòng bít giảm nhẹ, kiểm tra vòng bít khi thực hiện thao tác như vậy
+ Đến khi có thể nghe rõ nhịp đập của tim, đọc chính xác giá trị được chỉ rõ trên vòng bít giá trị này tương đương với áp xuất tâm thu hoặc một huyết áp tối đa
+ Khi áp suất không khí tiếp tục giảm, âm thanh nhịp đập của tim sẽ không còn nghe thấy nữa Giá trị này được ghi lại tại thời điểm sự liên kết này không còn nghe rõ sẽ cho huyết áp tâm trương hoặc hoặc áp suất tối thiểu
+ Lặp lại 2 lần lấy kết quả trung bình
2 Đánh giá các dấu hiệu sinh lý:
Hỏi bệnh nhân các dấu hiệu sinh lý thường gặp nào trong thời gian mắc bệnh